1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Danh tuong Viet Nam Tap 4

104 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Danh tướng trong sự nghiệp đấu tranh chống ách đô hộ của phong kiến Trung Quốc
Tác giả Nguyễn Khắc Thuần
Trường học Nhà Xuất Bản Giáo Dục
Thể loại Sách
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,28 MB

Nội dung

Năm 767 nhờ có công đi c ứu Kinh Lược Sứ (tương đương với chức đứng đầu An Nam Đô Hộ Phủ) là Trương Bá Nghi nên Cao Chính B ình m ới được trao chức n ày.. Phần lớn đất đai của huyện T[r]

(1)

Tên sách : DANH TƯỚNG VIỆT NAM (TẬP 4)

DANH TƯỚNG TRONG SỰ NGHIỆP ĐẤU TRANH CHỐNG ÁCH ĐÔ HỘ CỦA PHONG KIẾN

TRUNG QUỐC

Tác giả : Nguyễn Khắc Thuần

Nhà xuất Giáo dục 06/2005

Khổ 13 x 19 Số trang : 276

Số hóa : hoi_ls

TRÊN HIỂU THIÊN VĂN, DƯỚI THÔNG ĐỊA LÝ, GIỮA RÕ NHÂN SỰ, COI NGƯỜI BỐN

PHƯƠNG NHƯ ANH EM MỘT NHÀ ĐÓ LÀ TƯỚNG CỦA TẤT CẢ THIÊN HẠ, KHƠNG AI

CĨ THỂ ĐỊCH NỔI.

(2)

LỜI NÓI ĐẦU

Bạn đọc yêu quí !

Đây tập thứ tư sách năm tập mang lên gọi chung DANH TƯỚNG VIỆT NAM Tương tự tập trước, tập thứ tư có tên gọi riêng, Danh tướng

nghiệp đấu tranh chống ách đô hộ phong kiến Trung Quốc Hẳn hầu hết bạn đọc rõ rằng lịch sử Việt Nam có hai thời kì bị triều đại phong kiến Trung Quốc đô hộ (1)

- Thời kì thứ năm 179 trước Công nguyên (TCN, năm An Dương Vương bị Triệu Đà đánh bại) năm 905 (năm Khúc Thừa Dụ thành lập quyền độc lập tự chủ),

tổng cộng 1000 năm Sử thường gọi thời Bắc thuộc Tất nhiên ai đồng ý, tính phổ biến thơng dụng khái niệm thời Bắc thuộc

thực tế phủ nhận được.

- Thời kì thứ hai năm 1407 (năm nhà Hồ đại bại trước xâm lược nhà Minh) chấm dứt vào năm 1427 (năm chiến tranh giải phóng vĩ đại Lê Lợi khởi xướng lãnh

đạo kết thúc toàn thắng), tổng cộng 20 năm Sử thường gọi thời thuộc Minh.

Tập thứ tư xin trân trọng giới thiệu bạn đọc gần xa đời, nghiệp

cống hiến lớn lao bậc danh tướng hai thời kì bị hộ nói Nếu đơn giản

xếp theo diễn tiến thời gian Lam Sơn thuộc phạm vi thời kì thứ hai, xét quy mô, đặc trưng tầm vóc Lam Sơn lại có vị trí hồn tồn khác hẳn, vậy, chúng tơi đã dành trọn tập hai để giới thiệu Danh tướng Lam Sơn không xếp chung với danh tướng

của thời thuộc Minh.

Đặc điểm chung nghiệp bậc danh tướng giới thiệu tập thứ tư

không số họ có may mắn chứng kiến thắng lợi trọn vẹn bền lâu

Trước sau, sớm muộn có khác tất anh dũng ngã xuống chiến đấu ngoan cường với quân cướp nước Mỗi đời thông điệp trang nghiêm khí

phách hiên ngang, ý chí quật cường tâm giành lại cho độc lập chủ

quyền đất nước Họ tinh hoa lịch sử tinh hoa sau Chủ

tịch Hồ Chí Minh đúc kết thành lời tun bơ thật đanh thép : "Không! Chúng ta hi sinh tất cả,

chứ định không chịu nước, định khơng chịu làm nơ lệ"(2) Họ tảng lịch sử giàu sức thuyết phục chân lí "khơng có q độc lập tự do"(3) So với danh tướng giới thiệu ba tập đầu, danh tướng tập thứ tư đều chịu chung thiệt thịi lớn, hệ thống tư liệu cịn ỏi Phải đến gần bốn

thế kỉ sau thời Bắc thuộc kết thúc, sử học nước nhà thức đời Các sử gia

lỗi lạc hệ tiên khởi dù cầm bút với trọn vẹn tâm chí khơng viết

nhiều đầy đủ Dưới thời thuộc Minh, hàng loạt di sản văn hoá vơ giá tổ tiên

ta (trong có nhiều sách vở) bị kẻ thù huỷ hoại tịch thu, hậu khổ công sưu tầm

suốt bao kỉ mà tìm lại phần nhỏ Thực tình mà nói, kho thư tịch

cổ Trung Quốc khơng phải nhỏ có khơng nội dung liên quan tới nước ta Nhưng xét chất chung tất thư tịch cổ phản ánh ý chí xâm lăng đô hộ Trung Quốc nước ta Chân dung đấng hào kiệt dám cảm vùng lên "khuấy nước chọc trời" dám làm cho "kinh thiên động địa" bị sử gia Trung Quốc

tìm cách bóp méo sức xuyên tạc Trong điều kiện đặc biệt khó khăn vậy, việc tìm kiếm tư liệu khó, việc đối sánh, xác minh chỉnh lí tài liệu lại cịn khó hơn.

Để dựng lại (dù gian lược) lí lịch đời bậc danh tướng nghiệp đấu tranh

chống ách hộ phong kiến Trung Quốc ngồi sử dã sử, chúng tơi cố gắng

khai thác thêm hai nguồn tư liệu quan trọng khác, thần tích văn học dân gian Thần tích

(3)

được quan trọng hiểu được, qủa thật không dễ dàng chút Tương tự như vậy, văn học dân gian có ngơn ngữ diễn đạt riêng văn học dân gian, phải cẩn trọng

tìm tịi suy gẫm may phát cốt lõi thật lịch sử ẩn chứa kín đáo Tóm lại, khối lượng cơng việc vừa lớn lại vừa đầy khó khăn, cho nên, sức lực

trí lực cá nhân nhà giáo hưu lâu thật khó đủ để hoàn tất ý nguyện Xuất phát từ thực tế đó, tác giả xin bạn đọc gần xa ân cần cho chỗ bất

cập sách.

Khi tập thứ tư bắt đầu khởi thảo tập thứ tập thứ hai DANH TƯỚNG

VIỆT NAM tái đến lần thứ tám, tập thứ ba vừa tái tới lần thứ sáu Đó thực hạnh phúc nghề nghiệp lớn lao mà tác gia may mắn có Tự đáy

lịng mình, tác giả xin chân tình bày tỏ lịng biết ơn bạn đọc gần xa (những người hào hiệp động viên cổ vũ cho tác gia nhiều hình thức khác nhau), chân thành cảm ơn

Nhà xuất Giáo dục ưu dành cho tác giả ân cần chăm sóc tình cảm thật

nồng hậu.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 11 năm 2004

NGUYỄN KHẮC THUẦN

-

(1) Thực ra, suy cho cịn có lúc quyền tự chủ nước ta bị sụp đổ xâm lăng Trung Quốc (ví dụ

quyền Khúc Thừa Mỹ bị quân Nam Hán đánh đổ vào năm 930), thời gian bị độc lập ta không đáng kể dấu ấn đô hộ Trung

Quốc mờ nhạt, sử thường nói Việt Nam có hai thời kì bị phong kiến Trung Quốc hộ.

(2) Hồ Chí Minh : Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ( in tác phẩmĐỘC LẬP TỰ DO, VÌ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, Nxb Sự thật, Hà Nội 1975 Trang 61).

(3) Hồ Chí Minh : Lời kêu gọi đồng bào chiến sĩ nước (in tác phẩmĐỘC LẬP TỰ DO, VÌ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, Nxb Sự

(4)

Chương thứ nhất

DANH TƯỚNG TRONG CUỘC CHIẾN ĐẤU BỀN BỈ VÀ NGOAN CƯỜNG,

CHỐNG CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN TRUNG QUỐC ĐÔ HỘ

(từ năm 179 TCN đến năm 905)

I BỐI CẢNH LỊCH SỬ MỚI

Thế thượng thiên tân hòa nạn khổ

Mạc thất khước tự quyền

Hồ Chí Minh(1)

1 ÂU LẠC BỊ TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC VÀ ĐÔ HỘ :

Vào cuối thời Tây Chu(2), một nhân vật tên Trọng(3)đã lập nước Tần Sự kiện này xảy vào

năm 841 TCN Sau sáu kỉ tồn truyền nối 34 đời, từ nước chư hầu bình

thường nằm phía tây nhà Tây Chu (sau nhà Đơng Chu)(4), nước Tần đã trở thành một

trong số bảy nước chư hầu mạnh nhất, sử thường gọi Chiến Quốc thất hùng (5) Cuối cùng,

chính nước Tần tiêu diệt chư hầu, thống Trung Quốc lập

đế chế hùng mạnh, nhà Tần Người đặt nến móng cho đời nhà Tần

Tần Trang Tương Vương (tức Tử Sở)(6), nhưng, người thức khai sinh đế chế Tần lại

Tần Thuỷ Hoàng (7)

-

(1) Đây hai câu đầu II : Cảnh binh đảm chư đồng hành(Lính gác khiêng heo đi) rút từ tậpNHẬT KÍ TRONG TÙ Hai câu

có nghĩa : cõi đời có đến ngàn điều đắng cay vạn điều đau khổ, chẳng có đắng cay đau khổ quyền tự do.

(2) Nhà Tây Chu thành lập năm 1027 TCN bị diệt vong vào năm 771 TCN.

(3) Lúc này, người Trung Quốc có tên chưa có họ Tần Trọng (như ghi chép thư tịch Trung Quốc) họ tên mà chỉ có nghĩa ơng Trọng đất Tần

(4) Lịch sử nhà Chu gồm hai giai đoạn khác Giai đoạn thứ Tây Chu (từ năm 1027 TCN đến năm 771 TCN) giai đoạn thứ hai

Đông Chu (từ năm 770 TCN đến năm 256 TCN).

(5) Nhà Đông Chu sử cũ chia làm hai chặng khác Chặng thứ (từ năm 770 TCN đến năm 476 TCN) gọi thời Xuân Thu, chặng

thứ hai (từ năm 475 TCN dấn năm 256 TCN) gọi thời Chiến Quốc Thời Chiến Quốc thời tranh hùng tranh bá bảy nước mạnh, Tần,

Sở, Ngụy, Tề, Triệu, Yên Hàn

(6) Tần Trang Tương Vương vua đời thứ 33 nước Tần, làm vua từ năm 249 TCN đến năm 247 TCN.

(7) Thư tịch cổ Trung Quốc thường gọi Tần Thuỷ Hoàng (vị Hoàng Đế nhà Tần) Triệu Dinh Chính thực Dinh Chính cũng chưa có họ Thân sinh Dinh Chính Tử Sở phải làm tin nước Triệu sinh Dinh Chính nước Triệu, nhân cho Dinh

Chính lấy họ Triệu.

Năm 221 TCN, tức sau vừa lập đế chế Tần xưng Tần Thuỷ Hồng, Tần

Thuỷ Hồng huy động đơng đảo tướng lĩnh với hàng chục vạn quân, ạt đánh xuống

vùng Lĩnh Nam, mở dầu cho Nam chinh tàn bạo chưa thấy(1) Nền độc lập non trẻ

của nhà nước Văn Lang bé nhỏ bị uy hiếp cách nghiêm trọng.Trước diễn biến nguy

hiểm tình vậy, đơng đảo binh sĩ Văn Lang tình nguyện tiến lên phía Bắc, sát cánh

với nhân dân vùng Lĩnh Nam chiến đấu chống kẻ thù chung Cuộc hợp lực để chống trả liệt

ngoan cường đầy hiệu khiến cho 50 vạn quân Tần bị sa lầy, nhận xét

nhà sử học Tư Mã Thiên : “Lúc bấy giờ, nhà Tần phía Bắc mắc hoạ với người Hồ, phía Nam

thì mắc hoạ với người Việt, đóng binh đất vơ dụng, tiến khơng được, thối khơng xong,

(5)

Tần Thuỷ Hồng liền sai Nhâm Ngao Triệu Đà đem thêm mười vạn quân xuống Lĩnh Nam

Chính hai viên tướng kẻ vạch mưu kế đánh xuống Văn Lang hòng chặn đứng

chi viện Văn Lang vùng Lĩnh Nam Năm 214 TCN, từ Tượng Quận, quân Tần mở

những công dội vào lãnh thổ Văn Lang Lúc giờ, Hùng Vương tỏ bất

lực trước thử thách cam go này, nhân dân ta phải tự tổ chức lấy chiến đấu

mình Hồi Nam Vương Lưu An cho biết :“Người Việt vào rừng, với cầm thú, không

chịu quân Tần bắt” "họ cử người tuấn kiệt lên làm tướng, đánh phá quân Tần” Kết họ : "Đại phá quân Tần, giết chết Đồ Thư”(3) Năm 210 TCN,

Tần Thuỷ Hoàng qua đời, nhà Tần buộc phải huỷ bỏ Nam chinh Trong truyền thuyết dân

gian ta có chuyện Lý Thân tức Lý Ơng Trọng Có lẽ Lý Thân số

những "người tuấn kiệt” chiến đấu gian nguy (4) Thành quả lớn kháng

chiến chống Tần thay Văn Lang quốc gia Âu Lạc mạnh mẽ (năm 208

TCN) chuyển giao quyền lực tự nhiên từ Hùng Vương sang An Dương Vương

-

(1) Về Nam chinh này, thư tịch cổ Trung Quốc HOÀI NAM TỬ (của Hồi Nam Vương Lưu An), SỬ KÍ (của Tư Mã Thiên), TIỀN HÁN THƯ (của Ban Cố) có chép đến.

(2) Tư Mã Thiên : SỬ KÍ TƯ MÃ THIÊN, Quyển 112. (3) Hồi Nam Vương Lưu An : HỒI NAM TỬ.

(4) Chuyện Lý Ông Trọng Vũ Quỳnh chép LĨNH NAM CHÍCH QI Ngồi thần tích Đức Thánh Chèm Từ Liêm huyện Lý Thiên

Vương tích chép chuyện rõ

Tư Mã Thiên cho hay : “kịp Tần Thủy Hồng chết thiên hạ lên chống"(1) và, số người "thiên hạ lên chống” ấy, vùng trung nguyên nhà Tần

mạnh lực Lưu Bang(2), ở khu vực phía Nam của nhà Tần thì hùng hậu

vẫn lực Triệu Đà (3) Cùng năm 206 TCN, Lưu Bang lập nhà Hán cịn Triệu

Đà lập nước Nam Việt Nhìn từ góc độ thực lực Lưu Bang mạnh

Triệu Đà Trong mối tương quan lực khơng có lợi vậy, đường

Triệu Đà phải tìm cách mở rộng lãnh thổ để bước xoá dần khoảng cách lực với Lưu

Bang Nước Âu Lạc láng giềng trở thành mục tiêu bành trướng Triệu Đà Năm 183 TCN, tức

ngay vừa xưng Đế, Triệu Đà cho quân tràn xuống Âu Lạc, nhưng, tất công

của Triệu Đà trước sau bị chặn đứng Quân dân Âu Lạc kiên cường, thành Cổ Loa vững

chắc, kế sách chống đỡ An Dương Vương có hiệu quả, cho nên, quân Nam Việt xâm

lăng buộc phải rút lui Thấy đè bẹp Âu Lạc vũ lực Triệu Đà tìm biện pháp

để đặt cho trai Trọng Thuỷ kết hôn với gái An Dương Vương Mị Châu Sau

đó, Triệu Đà lại khôn khéo thuyết phục Trọng Thuỷ đến rể kinh thành

Cổ Loa Cuộc hôn nhân khiến cho An Dương Vương Mị Châu mơ hồ, cảnh giác

Năm 179 TCN, Triệu Đà bất ngờ cho quân ạt công vào Âu Lạc An Dương Vương bị đại

bại hộ quyền phong kiến Trung Quốc nước ta bắt đầu thiết lập

kể từ Trả giá cho mơ hồ cảnh giác An Dương Vương trình liên tục

chiến đấu hi sinh tài sản xương máu hệ, kéo dài đằng

đẵng đến ngàn năm (từ năm 179 TCN đến năm 905) Chuyện nỏ thần mãi lưu

truyền học lớn lịch sử :

Tôi kể ngày xưa, chuyện Mị Châu,

Trái tim lẫm chỗ để đầu.

Nỏ thần vô ý trao tay giặc,

Nên nỗi đồ đắm biển sâu.

(Tố Hữu)

- (1) Mã Thiên : SỬ KÍ TƯ MÃ THIÊN, Quyển 112

(2) Lưu Bang tức Hán Cao Tổ lập nhà Tiền Hán năm 206 TCN, Vương năm (206 TCN - 202 TCN), ngơi Hồng Đế năm (202 TCN - 195 TCN) năm 195 TCN, hưởng thọ 61 tuổi (256 TCN - 195 TCN)

(6)

Từ năm 179 TCN đến năm 905, Âu Lạc liên tiếp bị triều đại Phong kiến Trung Quốc đô hộ (1)

Đành triều đại có bước thăng trầm khơng phải lúc chúng kiểm

soát Âu Lạc cách chặt chẽ, đại thể, liệt kê danh

sách triều đại cụ thể sau :

1 Nam Việt : Triệu Đà lập vào năm 206 TCN, truyền tất 95 năm (từ năm 206 TCN

đến năm 111 TCN) với đời nối trị Năm 179 TCN, Nam Việt đánh tan quyền

An Dương Vương thống trị Âu Lạc liên tục 68 năm (từ năm 179 TCN đến năm 111 TCN)

2 Tiền Hán (cũng tức Tây Hán) : Lưu Bang (tức Hán Cao Tổ) lập vào năm 206 TCN,

truyền 214 năm (từ 206 TCN đến năm 08) với 13 đời nối trị Năm 111 TCN, nhà Tiền

Hán lật nhào đồ Nam Việt thay Nam Việt thống trị Âu Lạc liên tục 119

năm (từ năm 111 TCN đến năm 08)

3 Nhà Tân : Vương Mãng lập năm 08, truyền 17 năm với hai đời nối trị Nhà

Tân thay nhà Tiền Hán thống trị Âu Lạc 17 năm (từ năm 08 đến năm 25)

4 Hậu Hán (cũng tức Đông Hán) : Lưu Tú (tức Hán Quang Vũ) lập năm 25 (sau tiêu

diệt nhà Tân), truyền 195 năm với 13 đời nối trị Nhà Hậu Hán thay nhà Tân

thống trị Âu Lạc 195 năm (từ năm 25 đến năm 220)

5 Nhà Ngô : Tôn Quyền (Ngô Đại Đế) lập năm 222, truyền 58 năm với đời nối

trị Ngơ ba nước thời hỗn chiến Ngơ-Thục-Ngụy (sử thường gọi thời Tam

Quốc) Trên danh nghĩa nhà Ngơ thay Hậu Hán (tức Đông Hán) thống trị Âu Lạc liên tục

trong 58 năm (từ năm 222 đến năm 280)

6 Nhà Tấn : Tư Mã Viêm (Tấn Vũ Đế) lập năm 265 phải đến năm 280 thực

nắm quyền chi phối phần lớn lãnh thổ Trung Quốc Tuy không liên tục nhà Tấn

truyền 155 năm với 15 đời nối trị Trên danh nghĩa nhà Tấn thay nhà Ngơ

thống trị Âu Lạc liên tục 140 năm (từ 280 đến 420) Lịch sử nhà Tấn có hai thời kì

khác nhau, Tây Tấn (265-316) Đông Tấn (317-420)

7 Nam triều : triều vùng phía Nam Trung Quốc hỗn chiến Nam-Bắc triều (420 -581) Nam triều gồm có tất triều : Tống (420-479), Tề (479-502), Lương (502-557) Trần

(557-589) (2) Trên danh nghĩa thì Nam triều đã thay nhà Tấn thống trị Âu Lạc liên tục 122

năm (từ năm 420 đến năm 542)

8 Nhà Tuỳ : Dương Kiên (Tuỳ Văn Đế) lập năm 581, truyền 37 năm (581-618) với ba

đời nối trị Nhà Tuỳ đánh bại Lý Phật Tử, chiếm nước Vạn Xn thiết lập

quyền hộ 16 năm (từ năm 602 đến năm 618)

9 Nhà Đường : Lý Uyên (Đường Cao Tổ) lập năm 618, truyền 289 năm (618-907) với

tất 21 đời nối trị Trên danh nghĩa, nhà Đường thay nhà Tuỳ thống trị nước ta

287 năm (từ năm 618 đến năm 905)(3)

Như từ năm 179 TCN đến năm 905, Âu Lạc bị triều đại phong kiến Trung Quốc đô

hộ Trong khoảng thời gian dài đằng đẵng ngàn năm đó, có khơng lần nhân

dân Âu Lạc cảm vùng lên đấu tranh có khơng lần giành độc lập,

nhưng nhìn chung tất thời gian ngắn ngủi Gần đây, sở phân

tích "lực li tâm trị” guồng máy quyền hộ Âu Lạc với quyền

triều đình phong kiến trung ương Trung Quốc, số nhà sử học (cả

nước) nêu kết luận mẻ đáng lưu ý, lịch sử Việt Nam khơng

có ngàn năm bị Bắc thuộc, mà thời gian thực Bắc thuộc theo nghĩa từ

(7)

sử thực tế khiến cho nhiều guồng máy quyền hộ thiết lập

đất nước ta khơng cịn phản ánh ngun vẹn ý chí triều đình phong kiến trung ương bên

Trung Quốc nữa, nhưng, khơng phải quyền phản ánh ý chí tâm

nguyện xã hội Âu Lạc Cho nên, vấn đề khung niên đại cụ thể thời Bắc thuộc cần

được xác định lại cho thật đúng, nói gần toàn thời gian kéo dài

ngàn năm (từ năm 179 TCN đến năm 905) thời Âu Lạc độc lập chủ quyền lại hồn

tồn xác Nói khác hơn, cho có khơng lúc quyền hộ đất Âu Lạc không

thật Trung Quốc mà vội vã kết luận quyền

người Âu Lạc Ở đâu của ai hai khái niệm hoàn toàn khác

-

(1) Niên đại tồn triều đại ghi niên đại danh nghĩa, niên đại thực tế có khác chút Về thứ cụ thể

triều đại, xin vui lòng tham khảo thêm Nguyễn Khắc Thuần : CÁC ĐỜI ĐẾ VƯƠNG TRUNG QUỐC, Nxb Giáo dục, 2002 Sách tái

lần thứ nhất.

(2) Nhà Trần tồn lay lắt thêm năm cục diện Nam-Bắc triều kể hồn tồn kết thúc kể từ năm 581 - năm

nhà Tuỳ dựng lên

(3) Đến năm 907 nhà Đường hồn tồn sụp đổ, hộ nhà Đường đất nước ta bị xố bỏ từ năm 905.

2 CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ CỦA PHONG KIẾN TRUNG QUỐC

a) Về trị :

Chính sách chủ yếu nhất, bao trùm xuyên suốt phong kiến Trung Quốc tìm đủ

mọi cách để nhằm xố bỏ đến tận gốc dấu ấn độc lập chủ quyền in đậm

tâm khảm hệ nhân dân ta Đất đai Âu Lạc bị coi phận lãnh thổ

Trung Quốc cắt đặt thành đơn vị hành chánh :

- Thời thuộc Tiền Hán (206 TCN-08) : Đất đại Nam Việt Âu Lạc nhà Tiền Hán gộp

lại gọi chung Giao Châu Giao Châu quản lãnh quận, đất Âu Lạc chia làm

quận Giao Chỉ, Cửu Chân Nhật Nam Tuy có ba quận Âu Lạc lại có vị trí quan

trọng tồn cõi Giao Châu Bấy giờ, chức quan đứng đầu Giao Châu Thứ Sử chức

quan đứng đầu quận Thái Thú Xét cấp bậc chức Thái Thú nhỏ chức Thứ Sử,

nhưng, Thái thú kẻ trực tiếp nắm quyền sinh sát dân

+ Đất đai quận giao Chỉ thời Tiền Hán tương ứng với vùng từ tỉnh Ninh Bình trở

Bấy giờ, quận Giao Chỉ có tất 10 huyện với 746.237 suất đinh(1)

+ Đất đai quận Cửu Chân thời Tiền Hán tương ứng với tỉnh Thanh Hố khu vực

phía Bắc tỉnh Nghệ An Quận Cửu Chân có tất huyện với 166.113 suất đinh(2)

+ Đất đai quận Nhật Nam tương ứng với vùng từ Nghệ An trở vào Nam (3) Quận

quản lãnh huyện với 69.485 suất đinh(4)

- Thời thuộc Tấn (280 - 420) : Địa giới tồn cõi Giao Châu bị thu nhỏ lại, có phần

của Nam Việt cũ cộng với Âu Lạc gọi Giao Châu Phần chia lại thành quận(5),

là :

+ Hợp Phố : (quản lãnh 06 huyện)

+ Giao Chỉ : (quản lãnh 14 huyện)

+ Tân Xương : (quản lãnh 06 huyện)

(8)

+ Cửu Chân : (quản lãnh 07 huyện)

+ Cửu Đức : (quản lãnh 08 huyệt)

+ Nhật Nam : (quản lãnh 05 huyện)

- Thời thuộc Nam triều (420 - 542) : Lưu Dục (Tống Vũ Đế : 420-422) cắt đặt đơn

vị hành chánh, theo đất đai Âu Lạc cũ từ chỗ có ba quận chia lại thành tám

quận Tám quận : Giao Chỉ, Long Biên, Vũ Bình, Cửu Chân, Cửu Đức, Nhật Nam, Nghĩa

Xương quận thư tịch cổ Trung Quốc chép khuyết danh nên chưa rõ quận

nào

-

(1) Ban C (Trung Quốc) :TIỀN HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.

(2) Ban C (Trung Quốc) : Sách dẫn.

(3) Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, vùng cực Nam quận Nhật Nam vào khoảng đèo Hải Vân, có lan sang chút Quảng Nam Cũng có người nói cực Nam quận Nhật Nam kéo đến đến Phú Yên ngày nay, nhiên, sức thuyết phục ý kiến không cao

(4) Ban C (Trung Quốc) : sách dẫn.

(5) Phòng Kiều (Trung Quốc) :TẤN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.

- Thời thuộc Tuỳ (602 - 618) : Toàn bộ đất đai Âu Lạc cũ nhà Tuỳ chia thành bảy

quận địa giới tên gọi quận có khác so với triều đại trước

Theo ghi chép thư tịch cổ Trung Quốc tên gọi số hộ dân cụ thể quận

sau (1) :

+ Giao Chỉ : (quản lãnh huyện với 30.056 hộ)

+ Cửu Chân : (quản lãnh huyện với 16.135 hộ)

+ Nhật Nam : (quản lãnh huyện với 9.915 hộ)

+ Tị Ảnh : (quản lãnh huyện với 1.815 hộ)

+ Hải Âm : (quản lãnh huyện với 1.100 hộ)

+ Lâm Ấp : (quản lãnh huyện với 1.220 hộ)

+ Ninh Việt : Chưa rõ số huyện số hộ

- Thời thuộc Đường : Vào năm 622, triều đình Lý Uyên (Đường Cao Tổ : 618-626) bãi bỏ

toàn hệ thống quận huyện cũ lập Giao Châu Đơ hộ Phủ Năm 679, triều đình Lý Trị (tức

Đường Cao Tông : 649-683) đổi Giao Châu Đô Hộ Phủ thành An Nam Đô Hộ Phủ Bấy giờ, An

Nam Đô Hộ Phủ lãnh 12 châu vùng đồng 41 châu vùng rừng núi trung du (gọi

châu Ki Mi - châu ràng buộc lỏng lẻo) Danh sách 12 châu vùng đồng cụ thể sau(2) : + Giao Châu + Phong Châu

+ Trường Châu + Ái Châu

+ Diễn Châu + Phúc Lộc Châu

+ Hoan Châu + Lục Châu

+ Vũ An Châu + Vũ Nga Châu

+ Thang Châu + Chi Châu

Trong 12 châu đồng nói trên, có bốn châu thuộc lãnh thổ Trung Quốc, : Vũ An

Châu, Vũ Nga Châu, Thang Châu Chi Châu Về châu Ki Mi, tiếc thống kê

được danh sách dựa theo ghi chép thư tịch cổ chưa xác định vị trí cụ thể so với

(9)

+ Bàng Châu + Long Vũ Châu

+ Tư Nông Châu + Tân An Châu

+ Lâm Tây Châu + Vũ Định Châu

+ Long Châu + Tư Lăng Châu

+ Môn Châu + Phàn Đức Châu

+ An Đức Châu + Nam Đăng Châu

+ Quy Hoá Châu + Tây Nguyên Châu

+ Vũ Vân Châu + Tư Quách Châu

+ Đô Kim Châu + Thử Châu

+ Lộc Châu + Dư Châu

+ Kim Long Châu + Đức Hoá Châu

+ Kim Quách Châu + Quận Châu

+ Cam Đường Châu + Quy Châu

+ Lạng Châu + Bình Nguyên Châu

+ Nam Bình Châu + La Phục Châu

+ Kha phú Châu + Lang Mang Châu

+ Đề Thượng + Vạn Kim Châu

+ Vi Châu + Kim Bưu Châu

+ Vũ Lục Châu + Tín Châu

+ Tây Bình Châu + Thiêm Lăng Châu + Thượng Tư Châu

Từ sau năm 619, nhà Đường tiến hành chia đặt lại đơn vị hành chánh nhiều lần nữa,

nhưng, thay đổi không lớn nên không cần thiết phải liệt kê Như với việc xoá hẳn

quốc hiệu liên tiếp cho chia đặt lại đơn vị hành chánh, triều đại phong kiến Trung Quốc

đã bộc lộ rõ ý định thủ tiêu hoàn toàn độc lập nhân dân ta, biến nước ta

thành địa phương Trung Quốc Có thấy hết chất xấu xa mưu đồ trị thấy hết tài phi phàm bậc danh tướng thời Bắc thuộc -

người ưu tú biết khơi dậy ý thức cội nguồn xã hội ngỡ vĩnh viễn bị chôn

vùi

Để tăng cường sức mạnh trị cho quyến đô hộ, luật pháp Trung Quốc nghiễm

nhiên áp dụng Âu Lạc Thứ luật pháp áp đặt hồn tồn xa lạ ln ln giai cấp

thống trị coi vũ khí lợi hại chúng toàn thể xã hội ta lúc

-

(1) Ngụy Trưng (Trung Quốc) :TUỲ THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư quán.

(2) Âu Dương Tu - Tống Kỳ (Trung Quốc) :TÂN ĐƯỜNG THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.

(3) Âu Dương Tu - Tống Kỳ (Trung Quốc) :TÂN ĐƯỜNG THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.

b) Về quân sự

Chính sách quan trọng xuyên suốt triều đại phong kiến Trung Quốc đô hộ

sẵn sàng đàn áp phong trào đấu tranh nhân dân ta cách đẫm máu Để thực

chính sách này, hai biện pháp lớn quyền đô hộ gấp rút tiến hành Một xây

dựng hệ thống thành luỹ thật dày đặc Vì lẽ mà vào năm 40, Hai Bà Trưng đánh tan

quân đô hộ nhà Đông Hán chiếm 65 thành trì Hai trì đội quân thường

trực thật hùng hậu Đầu thời Đơng Hán, dù tồn cõi Âu Lạc cũ có khoảng triệu suất

đinh(1)nhưng tổng số qn đội thường trực quyền hộ đã lên tới tổng số 12.000 tên

Các triều đại phong kiến Trung Quốc sau nhà Đông Hán tâm trì lực lượng

quân đội thường trực hùng hậu tương tự Cũng cần nói thêm rằng, quân đội thường trực

đã đông mà cần tiến hành đàn áp khởi nghĩa nào, quyền hộ

ở Âu Lạc lại cịn nhanh chóng nhận thêm đơng đảo viện binh triều đình trung ương điều

(10)

- Năm 43, triều đình Hán Quang Vũ (25-57) sai Mã Viện đem 20.000 quân đàn áp nghĩa binh

của Hai Bà Trưng (2)

- Năm 248, triều đình Ngô Đại Đế (229-252) sai Lục Dận đem 8.000 quân đàn áp nghĩa binh

của Bà Triệu(3)

- Nhà Lương (502-557) đàn áp khởi nghĩa Lý Bí nhà Đường (618-907) đàn áp

các khởi nghĩa Lý Tự Tiên Đinh Kiến, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng hay Dương

Thanh điều động lực lượng cứu viện có quân số áp đảo

Nhìn chung, quyền hộ quyền qn Rất nhiều quan hộ

những tướng lĩnh trực tiếp cầm quân giàu kinh nghiệm trận mạc Sức mạnh

quyền đô hộ xây dựng chủ yếu dựa vào sức mạnh vũ khí lực lượng vũ

trang Các biện pháp thống trị mang nặng kiểu cách quân

-

(1) Vào cuối thời Tây Hán, tổng hợp số theo chép củaBan C (Trung Quốc) trongTIỀN HÁN THƯ(Sách dẫn) ba quận

Giao Chỉ, Cửu Chân Nhật Nam có tất 918.835 suất đinh Từ cuối Tây Hán đến đầu Đông Hán khoảng thời gian ngắn, cho nên, chúng

tơi ước đốn tồn cõi Âu Lạc lúc có khoảng triệu suất đinh.

(2) Lịch Đạo Nguyên (Trung Quốc) :THỦY KINH CHÚ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán Ngoài số qn đơng đảo này, Mã Viện

cịn mang theo đến 2.000 xe, thuyền có loại lớn nhỏ nữa.

(3) Trần Thọ (Trung Quốc) :TAM QUỐC CHÍ (Ngơ Chí) Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.

c) Về kinh tế

Chính sách chung tất triều đại phong kiến Trung Quốc đô hộ sức vơ vét tài

nguyên cải đất nước ta Phương thức thực phổ biến lâu dài chúng

chính thu cống phẩm Từ quý nhất, nhất, tốt đẹp

gì bình thường thiết thực bị coi sản phẩm buộc phải cống nạp Ở

vùng rừng núi trung du, gỗ q, khống sản, hương liệu, chim lạ thú Ở vùng đồng

bằng, đặc sản nơng nghiệp thủ cơng nghiệp Ở vùng ven biển hải đảo,

các loại hải sản quý, san hô, ngọc trai Ngồi ra, thân người (nhất thợ thủ công

lành nghề, tráng đinh khoẻ mạnh phụ nữ) nằm danh sách loại cống phẩm

thiết phải có Để có phục vụ cho việc thu cống phẩm, quyền đô hộ tiến hành kê

biên hộ thống kê dân đinh Ngay thời Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà), tổng số dân đinh

của riêng hai quận Giao Chỉ Cửu Chân ghi rõ 400.000 người Từ thời Hán trở đi, tất

cả đặc sản ln ý vơ vét nhiều Xin nêu vài ví dụ cụ thể :

- Nhà Hán đặt hai chức quan mới, Tu Quan (chuyên thu hoa thứ thực phẩm

ngon) Quất Quan (chuyên thu quýt quýt)

- Hán Vũ Đế (141-87 TCN) cho quan lại sang Giao Chỉ để thu giống quý đem Trung

Quốc trồng Chính Hán Vũ Đế Cho xây Phù Lệ Cung(cung điện có vườn dành riêng để trồng

cây vải lấy từ Giao Chỉ về) nhưng, trồng 100 chẳng chốc, 100 chết

- Vào năm 262, Ngô Cảnh Đế (258-264) buộc dân ta phải nạp 3000 chim công, khiến cho

thiên hạ ai oán hận

Từ thời Đường trở đi, phép Tô - Dung - Điệu áp dụng Tô phần sản phẩm nông nghiệp

mà dân đinh cày ruộng cơng phải đóng góp Dung số ngày làm không công (chủ yếu

là tạp dịch) mà tất người phải thực Điệu số sản phẩm thủ công mà xã hội ta phải

dâng tiến (thường quy theo giá tương ứng với tơ lụa)

Về hình thức, phép Tơ - Dung - Điệu chưa rạch rịi chế độ thuế khố

như có phần tiến việc thu cống phẩm, nhiên, hình thức Về thực chất

(11)

thu cống phẩm Mức đóng góp nhân dân mà ngày trở nên nặng nề Đây nguyên nhân trực tiếp nguyên nhân sâu xa dẫn đến bùng nổ hàng loạt

cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ

d) Về xã hội

Vào thời Bắc thuộc, hàng loạt người Trung Quốc tìm đường di cư đến nước ta Họ

những lí riêng điều đáng nói quyền hộ tỏ thống

trong sách chung tạo điều kiện thuận lợi cho di cư Nếu cần phân loại

để dễ theo dõi chia dân Trung Quốc di cư đến nước ta thời Bắc thuộc

thành ba nhóm :

- Nhóm thứ nhất gồm đơng dân nghèo Trung Quốc, khơng chịu nối ách áp bóc

lột nặng nề giai cấp phong kiến thống trị nên họ đành phải từ bỏ quê cha đất tổ để kiếm

sống Một phận không nhỏ nhóm thứ định cư Âu Lạc bị Việt

hoá, họ tự nhận người Việt thực tế cho thấy phần lớn số họ sống đầy

trách nhiệm với xứ sở tất người Việt khác Đại diện tiêu biểu cho nhóm thứ

nhất có lẽ Lý Bí (hay Lý Bơn)

- Nhóm thứ hai gồm đội ngũ Nho sĩ Trung Quốc bất đắc chí nên tự tìm đường đến

Âu Lạc coi Âu Lạc đất dung thân Vào thời nhà Hán, có lúc: "Danh sĩ nhà Hán tìm

đường lánh nạn đến nước la đông ước chừng trăm người"(1) Nhân vật xứng đáng đại diện cho nhóm thứ hai có lẽ Sĩ Nhiếp (đến lánh nạn vào khoảng cuối kỉ II) Sĩ Nhiếp người

Thương Ngô, đỗ Mậu Tài (tức Tú Tài), thời gian sau đến lánh nạn, Sĩ Nhiếp nhà Hậu

Hán bổ làm Thái Thú quận Giao Chỉ

- Nhóm thứ ba gồm nhà tu hành Phật giáo Đạo giáo, họ dừng chân Âu Lạc để

quảng bá đức tin Khơng người số họ gắn bó phần lớn đời tu hành với

lãnh thổ với nhân dân Âu Lạc Về đại diện tiêu biểu cho nhà tu hành Phật giáo, chúng

ta kể đến Thiền Sư Vô Ngôn Thông, người đến Âu Lạc vào năm 820 khai sáng dịng Thiền Tơng Vô Ngôn Thông (2) Về đại diện tiêu biểu cho nhà tu hành theo Đạo giáo, kể đến Đổng Phụng Cát Hồng Đổng Phụng người Phúc Kiến, đến Âu Lạc vào

khoảng cuối kỉ II Chính Đổng Phụng người cứu Sĩ Nhiếp thoát khỏi bạo bệnh Cát

Hồng (284-364)(3) tác giả của BÃO PHÁC TỬ NỘI NGOẠI THIÊN - một tác phẩm có giá trị

của Đạo giáo Cho người thuộc nhóm thứ ba biết trọn đời hi sinh cho lí tưởng

tu hành sống thực tiễn họ tham gia cách tự nhiên vào trình

bước làm thay đổi đần kết cấu xã hội người Việt

Về xã hội, điều quan trọng khơng phải q trình khơng ngừng thay đổi kết cấu mà

chính q trình liên tục phân hố phân cực diễn ngày sâu sắc Bấy giờ, hai cực đối

kháng hình thành ngày khơng thể dung hợp với Cực thứ bao gồm gần

toàn xã hội người Việt bị nước, bị áp bị bóc lột nặng nề Cực thứ hai gồm tất

quân cướp nước bè lũ tay sai tham tàn Từ hai cực đối kháng gay gắt này, hai dòng lịch sử

hoàn toàn khác chất đồng thời xuất tồn Dòng thứ làdòng Bắc

thuộc, dòng phản ánh chất bành trướng xâm lăng tàn bạo, dòng bộc lộ rõ ràng tham vọng

thiết lập trì cho hộ tất triều đại phong kiến Trung Quốc đối

với tồn cõi Âu Lạc Dịng thứ hai dịng chống Bắc thuộc, dòng phản ánh tinh thần quật khởi

ngoan cường toàn thể xã hội người Việt u nước, dịng bừng bừng khí tâm xả thân

cứu nước hàng loạt hệ khác nhau, dịng kết tinh khí phách hiên ngang thể

trong lời Hai Bà Trưng :

Một xin rửa nước thù,

(12)

Đây hai dịng bật nhất, hai dòng xuyên suốt Nắm diễn tiến

chung hai dòng có nghĩa nắm nội dung mang tính chất

nhất lịch sử thời Bắc thuộc Với ý nghĩa tập sách mang tên chung

DANH TƯỚNG VIỆT NAM, tập thứ xin dừng lại phần việc chủ yếu giới thiệu

cuộc đời nghiệp tướng lĩnh xuất chúng, đại biểu sáng giá dòng

lịch sử thứ hai - dòng chống Bắc thuộc Mỗi người sinh lớn lên thời điểm khác

nhau điểm chung tất người ưu tú chỗ : họ sống đời

mà danh thơm lưu truyền mãi đến muôn đời

- (1) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỷ, 3, tờ 8-b)

(2) Về dịng Vơ Ngơn Thơng, xin vui lòng tham khảo thêm : Nguyễn Khắc Thuần : ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ VĂN HÓA VIỆT NAM (Tập II), Nxb

Giáo dục.

(3) Về nhân vật Cát Hồng, xin vui lòng tham khảo thêm : Nguyễn Khắc Thuần : ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ VĂN HÓA VIỆT NAM (Tập II), Nxb

Giáo dục.

II - HAI BÀ TRƯNG - HAI BẬC NỮ DANH TƯỚNG ĐẦU TIÊN CĨ CƠNG GIƯƠNG CAO

NGỌN CỜ CHỐNG CHỦ NGHĨA BÀNH TRƯỚNG ĐẠI HÁN

Chị em nặng lời nguyền

Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân

Ngàn Tây nối phong trần

Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên Hồng quần nhẹ bước chinh yên

Đuổi Tô Định dẹp yên biên thành

(Đại Nam quốc sử diễn ca)

1 GỐC TÍCH HAI BÀ TRƯNG TRONG GHI CHÉP CỦA THƯ TỊCH CỔ

Thư tịch cổ nước ta có chép chuyện Hai Bà Trưng bộĐẠI VIỆT SỬ LƯỢC Sách

này cho hay : "Trưng Trắc người huyện Mê Linh, gái quan Lạc Tướng vùng Trưng

Trắc lấy chồng người huyện Chu Diên, tên Thi Sách Người vợ tính hùng dũng, (Thi sách)

làm việc có sai phạm nên bị Thái Thú Tô Định dùng pháp luật để trừng trị Trưng Trắc giận quá,

bèn với em gái Trưng Nhị khởi binh Phong Châu, đánh phá quận huyện Dân hai

quận Cửu Chân Nhật Nam hưởng ứng Bà chiếm 65 thành ngồi phía Nam

nhà Hán tự lập làm Vua, đóng huyện Mê Linh"

Thư tịch cổ thứ hai nước ta có chép chuyện Hai Bà Trưng ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN

THƯ Tiến Sĩ Ngô Sĩ Liên sử thần thời Lê biên soạn Sách có đoạn đáng

ý :

- "Năm Kỉ Hợi, đời Hán Quang Vũ Lưu Tú, niên hiệu Kiến Vũ năm thứ 15,Thái Thú quận Giao Chỉ là Tơ Định, tàn tạo tham lam, Trưng Nữ Vương liền dấy binh để đánh(1)

"(Vua) tên quý Trắc, họ Trưng, nguyên họ Lạc, gái Lạc Tướng huyện Mê Linh (Phong Châu), vợ Thi Sách huyện Chu Diên Thi Sách Lạc Tướng Con hai nhà Lạc Tướng kết hôn với nhau".

"Mùa xuân, tháng (năm Canh Tí 40-NKT), Vua khổ Thái Thú Tơ Định dùng pháp luật trói

buộc, lại thù Tơ Định giết chồng mình, với em gái Nhị binh đánh hãm trị sở châu (Tô) Định chạy nước Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam Hợp Phố hưởng ứng (Trưng Trắc) lấy 65 thành tự lập làm Vua, xưng họ Trưng".

(13)

vế lí lịch đời Hai Bà Trưng sau :

- Hai Bà người họ Trưng mà nguyên lại họ Lạc

- Quê quán : huyện Mê Linh

- Thành phần gia đình : cha Lạc Tướng huyện Mê Linh

- Trưng Trắc vợ Thi Sách mà Thi Sách trai Lạc Tướng huyện Chu Diên

- Thái Thú Tô Định tham lam tàn bạo, giết chết Thi Sách nên Trưng Trắc với Trưng Nhị

khởi binh đánh cho đại bại Hai Bà giành thắng lợi, chiếm 65 thành xưng Vương

Sau ĐẠI VIỆT SỬ LƯỢC ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ, thư tịch cổ ta KHÂM ĐỊNH

VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC số dã sử khác chép chuyện Hai Bà Trưng

nhưng nói chung khơng có mẻ Thư tịch cổ Trung Quốc (ví dụ HẬU HÁN THƯ

chẳng hạn) có vài dịng Hai Bà Trưng khơng bàn đến gốc tích Hai Bà

Đọc thư tịch cổ viết Hai Bà Trưng, cảm giác thường có hầu hết người :

chừng tất dừng lại mức độ sơ nhắc nhở kiện gắn liền với Hai Bà

Trưng chưa đủ để làm thoả mãn ý nguyện hiểu biết hậu hai nhân vật lịch sử kiệt

xuất Sự bất giản lược thư tịch cổ khiến cho người đọc lấy làm tiếc Khơng cịn

cách khác, phương pháp phổ biến giới sử học đại kết hợp chặt chẽ việc

phân tích xử lí thư tịch cổ với việc tổ chức khảo sát bình diện ngày rộng để tìm

kiếm thêm tài liệu có liên quan đến Hai Bà Trưng Hai nguồn tài liệu nhà sử

học đặc biệt ý, tờ thần tích truyền thuyết dân gian

-

(1) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 3, tờ 1-b) Tác giả xin thích thêm : Hán Quang Vũ (Lưu Tú) người khai sáng nhà Hậu Hán (cũng tức Đông Hán : 25-220), 32 năm (25-57), năm 57, hưởng thọ 63 tuổi (06 TCN-57) Trong thời gian ngôi, Hán

Quang Vũ sử dụng hai niên hiệu, Kiến Vũ (25-56) Kiến Vũ Trung Nguyên (56-57)

2 GIẢI MÃ MỘT CÁCH ĐẶT TÊN

Tất thư tịch cổ khẳng định Trưng Trắc Trưng Nhị hai chị em người họ Trưng

(mà họ Trưng lại nguyên họ Lạc) thực tế họ Trưng họ Lạc khơng có

ở nước ta Vả chăng, vào năm đầu Cơng ngun tồn xã hội người Việt

chỉ có tên chưa có họ (1) Như vấn đề quan trọng còn lại có lẽ là tìm cách giải mã

ý nghĩa tên gọi Hai Bà Trưng

Theo chúng tơi, việc giải mã thực trở lại với đất quê

hương Hai Bà Như nói, Hai Bà gái Lạc Tướng Mê Linh (2) Đất Mê Linh

nguyên thuộc Văn Lang(3), vào thời Tây Hán (206 TCN-08) đổi gọi là Phong Châu, thời Hậu Hán (25-220) số 12 huyện(4) quận Giao Chỉ Thời thuộc Ngô (220-280), đất Mê Linh thuộc quận Tân Hưng Đến thời Tấn (280-420) Tân Hưng đổi thành Tân Xương Mê

Linh số huyện (5) của quận Tân Xương lập Dưới thời Tuỳ (602-618), đất Vạn

Xuân(6) cộng với phần lãnh thổ thuộc vương quốc người Chăm chia lại thành

quận (7), Mê Linh thuộc quận Giao Chỉ Năm 679, quyền hộ nhà Đường tiến hành

chia đặt lại đơn vị hành chính, đất Mê Linh thuộc Phong Châu (là số 12 châu

vùng đồng trung du An Nam Đô Hộ Phủ) (8 Dưới thời Đinh (968-980), thời Tiền Lê

(980-1009) thời Lý (1010-1225) đất Mê Linh phần thuộc Phong Châu phần

thuộc Quốc Oai Châu Sang thời Trần (1226-1400), đất Mê Linh thuộc Lộ Quốc Oai (rồi Trấn Quốc

Oai) Thời Hậu Lê, Mê Linh thuộc Thừa Tuyên Sơn Tây Dưới thời nhà Nguyễn, đất Mê Linh thuộc

tỉnh Sơn Tây Tỉnh có phủ phân phủ(9) Mê Linh thuộc phân phủ Vĩnh Tường Bấy

giờ, phân phủ Vĩnh Tường quản lĩnh hai huyện Yên Lãng Yên Lạc Đất Mê Linh chủ yếu

thuộc huyện Yên Lãng

Đất Mê Linh tương ứng với khu vực lãnh thổ rộng lớn kéo dài từ Ba Vì đến Tam

Đảo, tức vùng tiếp giáp Hà Nội, Hà Tây, Vĩnh Phúc Phú Thọ Đây nơi phát tích

(14)

cũng đất dựng nghiệp Hùng vương trung tâm trị nhà nước Văn Lang - nhà nước lịch sử nước nhà Về kinh tế, Mê Linh coi đất tổ nghề trồng

dâu nuôi tằm

-

(1) Có thuyết nói rằng, thân mẫu Hai Bà Trưng Trần Thị Đoan, nhưng, sức thuyết phục thuyết thấp Chúng tơi cho sự tự ý thêm thắt người đời sau.

(2) Chữtrong tên quê hương Hai Bà đọc Mi Bởi lẽ này, nhiều người phiên âm Mi Linh Tuy nhiên, cách phiên âm phổ biến xưa Mê Linh

(3) Văn Lang số 15 hợp thành nhà nước Văn Lang, gồm có : Văn Lang, Giao Chỉ, Tân Hưng, Dương Tuyền, Vũ Định, Vũ Ninh,

Chu Diên, Phúc Lộc, Ninh Hải, Lục Hải, Cửu Chân, Hoài Hoan, Cửu Đức, Việt Thường Bình Văn.

(4) Theo Phạm Việp (Trung Quốc) trongHẬU HÁN THƯ (Quận quốc chí) mười hai huyện thuộc quận Giao Chỉ gồm có : Long Biên, Luy Lâu,

An Định, Câu Lậu, Mê Linh, Khúc Dương, Bắc Đới, Kê Từ, Tây Vu, Chu Diên, Phong Khê Vọng Hải.

(5) Theo Phịng Kiều (Trung Quốc) trongTẤN THƯ sáu huyện quận Tân Xương (mới lập) gồm có : Mê Linh, Gia Ninh, Ngô Định, Lâm Tây, Tây Đạo Phong Sơn.

(6) Vạn Xuân quốc hiệu Lý Nam Đế đặt từ năm 544.

(7) Sáu quận : Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Tị Ảnh, Hải Âm Lâm Ấp.

(8 Mười hai châu gồm có : Giao Châu, Trường Châu, Phong Châu, Ái Châu, Diễn Châu, Phúc Lộc Châu, Hoan Châu, Lục Châu, Vũ An Châu, Vũ

Nga Châu, Thang Châu Chi Châu

(9) Năm phủ tỉnh Sơn Tây : Quảng Oai, Quốc Oai, Vĩnh Tường, Lâm Thao Đoan Hùng Một phân phủ phân phủ Vĩnh Tường.

Thực ra, từ sơ kì thời đồ đá mới1, cư dân tiền sử đất nước ta đã biết tới kĩ thuật

đan lát với trình độ cao Đến trung kì thời đồ đá 2, nghề dệt xuất Tất nhiên,

sợi dệt lúc đầu khai thác chủ yếu từ vỏ Sang thời sơ sử, nghề trồng dâu, nuôi tằm

dệt lụa khai sinh mà người tơn làm tổ sư nghề Thiều Hoa -

những người gái Hùng Vương Truyền thuyết dân gian kể : "Công Chúa Thiều Hoa

người xinh đẹp, lại có biệt tài hiểu nói chuyện với mn lồi Ngày vào rừng chơi ngày mn lồi lại nơ nức chào đón Chim hót cho nghe, bướm bay lượn khoe

màu cho cô vui mắt Một ngày nọ, nhân ngày hội lồi bướm, Cơng Chúa Thiều Hoa vào rừng Hơm đó, Thiều Hoa thấy lồi bướm nâu xấu xí lặng lẽ đậu cành quan sát chứ không bay lượn lồi bướm khác Nghe Cơng Chúa Thiều Hoa hỏi, bướm nâu

bèn trả lời :

- Em khơng thích bay lượn Khơng giống tất loài bướm khác, em đẻ trứng

trứng nở thành sâu chẳng nở thành bướm Sâu ăn dâu không phá hoại mùa màng Ăn dâu nhả sợi óng ánh đẹp

Bướm nâu vừa kể vừa bay dẫn đường cho Thiều Hoa Cơng Chúa đến nơi có nhiều

dâu Ở đó, say mê ngắm sợi nhỏ óng ánh sâu lại thành

cuốn, treo khắp rừng dâu Và cô thận trọng gỡ sợi mỏng mảnh ra, đan thành vải đem may thành áo, khiến cho trông thấy phải ưa Từ đấy, Thiều Hoa Công Chúa đặt tên cho loài bướm nâu bướm ngài, trứng bướm ngài đẻ gọi trứng ngài, lồi sâu nở từ trứng ngài gọi tằm sợi óng ánh tằm nhả gọi sợi tơ Vải dệt

từ sợi tơ gọi lụa Để có thật nhiều lụa, Thiều Hoa Công Chúa tâu xin cha Hùng Vương cho di dân đến bãi đất ven sông Hồng để làm nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa Chính người đã lập làng lụa Cổ Đô lừng danh3

Thật ra, kho tàng truyền thuyết dân gian, Thiều Hoa Công Chúa người

nhất mà số khơng người tôn làm tổ sư nghề dệt, nhưng, điều

đáng nói phần lớn bậc tơn làm tổ sư nghề dệt người Mê Linh

người quê vùng kế cận đất Mê Linh Nói khác hơn, quê hương Hai Bà Trưng quê

hương nghễ trồng dâu, ni tằm, dệt lụa Ở đó, loại trứng ngài tốt gọi là trứng

chắc, loại gọi là trứng nhì Tương tự vậy, tổ kén tốt gọi

là kén chắc, tổ gọi là kén nhì Thuở xưa, mà chữ Hán chưa

truyền bá chưa có điều kiện để thấm sâu vào nhận thức xã hội xu hướng chung

cách đặt tên người giản dị mộc mạc, thể rõ gắn bó thiết tha với sống đời

thường Từ thực tế sinh động xu hướng đặt tên chung này, suy luận Hai

Bà Trưng thuộc lớp người hoàn tồn chưa có họ mà tên gọi mang âm

hưởng thân quen nghễ trồng dâu, nuôi tằm, dệt luạ4 Những chữ trứng vàtrứng

(15)

em tuổi tác Sau, tên gọi Hai Bà phiên âm Hán Việt thành Trưng Trắc Trưng Nhị Như nói, xu hướng đặt tên người theo cách cịn tiếp tục

duy trì lâu dài vùng chữ Hán chưa có điều kiện để thấm sâu vào nhận thức xã

hội Khảo sát cách đặt tên người số địa phương, chúng tơi cịn thấy rõ dấu ấn điều

này Ví dụ :

- Cha mẹ làm ruộng thường đặt tên : Trần Văn Cày, Trần Văn Bừa, Trần Thị Liềm,

Trần Thị Hái

- Cha mẹ làm nghề thợ mộc thường đặt tên : Lê Văn Dùi, Lê Văn Đục, Lê Thị Bào, Lê Thị Cưa

- Cha mẹ làm nghề thợ rèn thường đặt tên : Ngơ Văn Bễ, Ngơ Văn Đe, Ngơ Thị Lị, Ngô Thị Than

Giữa mênh mông đời, chịu trách nhiệm tên gọi hay dở cả,

nhưng, phải chịu trách nhiệm hành trạng Ranh giới tốt

và xấu, anh hùng phản bội, cao thượng thấp hèn bắt nguồn từ ý thức

năng lực chịu trách nhiệm hành trạng

Tóm lại, Trưng Trắc Trưng Nhị khơng phải họ tên suy đốn sử cũ, Hai Bà

Trưng nguyên người họ Lạc số thư tịch cổ ghi Thời Hai Bà

thời dân ta chưa có họ Ngay Trung Quốc, đến bậc Thiên Tử thấy thư tịch

cổ Trung Quốc chép đầy đủ họ tên từ thời nhà Chu 5 Tuy nhiên, tượng chưa

phải thật phổ biến : Sau đó, Hồng Đế Trung Quốc Tần Thuỷ

Hoàng chưa có họ theo nghĩa từ 6

Các dòng họ lịch sử nước ta xuất muộn Trung Quốc bối cảnh chung

đó, nhân vật sống đầu Công nguyên Trưng Trắc Trưng Nhị, chưa có họ

cũng lẽ tự nhiên Một loạt tướng lĩnh Hai Bà Trưng, người sát cánh

chiến đấu đầy hiệu với Hai Bà lập nên công trạng lớn : Ả Di, Ả Tắc, Thánh Thiên,

Bát Nàn, Cư Ơng, Đơ Dương, Ích Xương, Ơng Trọng người hoàn toàn chưa

có họ

- (1) Với văn hoá tiêu biểu Bắc Sơn (nay thuộc tỉnh Lạng Sơn).

(2) Với văn hoá tiêu hiểu Bàu Tró (nay thuộc tỉnh Quảng Bình)

(3) Xin vui lòng tham khảo thêm : Nguyễn Khắc Thuần - TRÔNG LẠI NGÀN XƯA (tập 2- phần Lược truyện bậc tổ sư, Nxb Giáo dục.1998

Làng Cổ Đô xưa thuộc xã Cổ Đô, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây

(4) Theo thần tích làng Lâu Thượng (nay thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) gia đình Hai Bà Trưng chuyên làm nghề trồng dâu, nuôi

tằm, dệt lụa Ở đó, tổ kén tốt gọi kén chắc, kén gọi kén nhì, loại trứng ngài tốt gọi trứng chắc, loại

hơn gọi trứng nhì Vì lẽ cha mẹ đặt tên cho Hai Bà ChắcNhì Theo thần tích làng Hạ Lơi Trưng Trắc Trưng Nhi

hai chị em sinh đơi.

(5) Xin vui lịng tham khảo thêm : Nguyễn Khắc Thuần : CÁC ĐỜI ĐẾ VƯƠNG TRUNG QUỐC, Nxb Giáo dục, 2002 Sách tái lần

thứ nhất.

(6) Cha Tần Thủy Hồng Tử Sở, phải làm tin nước Triệu nên lấy họ Triệu thực khơng phải người họ Triệu.

3 Q HƯƠNG, GIA ĐÌNH VÀ NHỮNG TRANG LÍ LỊCH ĐẦU TIÊN

Tác phẩm sử học cổ nước ta lưu giữ ĐẠI VIỆT SỬ LƯỢC viết

: "Trưng Trắc người huyện Mê Linh" BĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ ghi rõ : "Trưng Trắc của Lạc tướng huyện Mê Linh" Và, bộKHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC

viết tương tự Nói cách khác, thư tịch cổ ghi rõ quê quán Hai Bà Trưng huyện Mê

Linh Như trình bày trên, đất Mê Linh xưa rộng lớn, vậy, sinh quán cụ thể Hai Bà

vùng ? Về vấn đề này, kết khảo sát thực tế cung cấp cho

những chi tiết mang tính bổ sung đáng ý, theo q nội Hai Bà làng Hạ Lơi

(16)

Hạ Lôi nguyên xưa làng huyện Yên Lãng, thuộc phân phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn

Tây 1 Sau năm 1975, có lúc làng thuộc huyện Mê Linh (Hà Nội) Nay, làng Hạ Lôi thuộc

huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc Hạ Lơi làng có truyền thống trồng dâu, nuôi

tằm dệt lụa lâu đời Thân sinh Hai Bà Lạc Tướng huyện Mê Linh Sấy giờ,

hầu tất Lạc Tướng xuất thân từ đội ngũ quý tộc lạc cũ thân sinh Hai Bà

cũng hậu duệ đội ngũ Nhìn chung thời Bắc thuộc, quyền đô hộ

triều đại phong kiến Trung Quốc hồn tồn xố bỏ guồng máy nhà nước Âu Lạc

nhưng chúng chưa thể chi phối tất hoạt động tổ chức xã hội sở

Trong bối cảnh đó, dư âm quyền lực đội ngũ quý tộc cũ cịn cao, vậy, ngồi uy tín cá nhân lớn lao mình, Hai Bà Trưng cịn may mắn thừa hưởng uy tín cha

Tuy qua đời sớm lĩnh khí khái Lạc Tướng Mê Linh có ảnh hưởng sâu sắc

đối với gái

Làng Nam Nguyễn thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây Truyền thuyết dân gian tờ thần

tích khẳng định làng Nam Nguyễn quê ngoại Hai Bà Trưng Làng Nam

Nguyễn có Miếu Mèn nơi thờ bà Man Thiện - thân nẫu Hai Bà 2, có Mả Dạ (hay Mộ Da)

tương truyền mộ bà Man Thiện Trong tiếng Việt cổ,Dạ từ dùng để người phụ nữ lớn

tuổi mà kính trọng, trái nghĩa với Ẩu từ dùng để người phụ nữ trẻ tuổi mà bị coi

thường Ở huyện Ba Vì, ngồi Miếu Mèn Mả Dạ đình làng Nam Nguyễn nơi kính thờ

bà Man Thiện Hai Bà Trưng số tướng lĩnh Hai Bà Hạ Lôi Nam Nguyễn ngày hai làng thuộc hai tỉnh khác khoảng cách hai làng lại không xa Xưa, Hạ

Lôi Nam Nguyễn thuộc Phong Châu (cách khoảng vài chục năm, hai thuộc Hà

Nội) Như nói, thân sinh Hai Bà Trưng hậu duệ quý tộc lạc cũ

Từ đô hộ nuôi mưu toan biến nước ta thành quận huyện Trung Quốc, nhà Hán đặt

các chức Huyện Lệnh Huyện Thừa trao chức cho khơng q tộc lạc cũ Tuy

nhiên, dân đương thời thường gọi theo chức danh mang đậm dấu ấn tình cảm sâu sắc Lạc

Tướng Từ thực tế này, suy luận thân sinh Hai Bà Trưng có lẽ nguyên

Huyện Lệnh (hoặc Huyện Thừa) huyện Mê Linh giàu cơng đức nên dân yêu

quý gọi Lạc Tướng

Cũng theo truyền thuyết dân gian nhiều tờ thần tích thân mẫu Hai Bà Trưng

là cháu chắt nhiều đời bên ngoại Hùng Vương Lúc giờ, chế độ phụ quyền gia đình phụ

hệ thiết lập khẳng định cách chắn từ lâu trước đó, ảnh

hưởng dịng họ ngoại (nhất dòng họ ngoại thuộc hàng giàu quyền ảnh hưởng xã hội

rộng lớn dòng Hùng Vương) mạnh mẽ Nguồn gốc xuất thân đủ để thân mẫu

của Hai Bà Trưng dân đương thời bày tỏ kính trọng Và nữa, điều đáng nói bà

Man Thiện nuôi dạy hai người gái theo tiêu chí đánh giá đại đạo làm

người đặc biệt Nhờ nuôi dạy người mẹ khả kính ấy, tố chất anh hùng liên

tục nhen nhúm tình cảm nhận thức Hai Bà Trưng : thiết tha yêu nước

và thương nòi, sục sơi lịng căm thù giặc, bừng bừng tinh thần thượng võ ý thức ni chí để

tập hợp bốn phương thiên hạ vùng dậy cứu nước cứu dân3 Các sử Trung Quốc

cũng phải thừa nhận thực tế Hai Bà Trưng thư tịch cổ cua Trung Quốc mô tả "rất

hùng dũng", "can đảm dũng lược"4 Ở chừng mực định đó, nói

rằng thân mẫu Hai Bà Trưng linh hồn trình chuẩn bị khởi nghĩa Biệt

danh Man Thiện giản dị đủ để hàm chứa thái độ thực cảm phục trân

trọng hậu Bà Hiện chưa rõ Trưng Trắc Trưng Nhị sinh vào năm nào,

cứ vào kiện lớn đời Hai Bà, ước đốn Hai Bà sinh vào

khoảng cuối thời nhà Tân 5 Trước dựng cờ khởi nghĩa (năm 40), Trưng Trắc đã kết hôn

Chồng Trưng Trắc tên Thi Sách 6, trai của Lạc Tướng huyện Chu Diên Vào đầu thời

Hậu Hán, địa giới huyện Chu Diên vùng ngày tương ứng với khu vực kéo dài từ

huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây đến huyện Từ Liêm Hà Nội Như vậy, đất đai

huyện Chu Diên tiếp giáp với đất đai huyện Mê Linh Đây hai huyện lớn, nằm án ngữ

(17)

hai gia đình Lạc Tướng Chu Diên Mê Linh dẫn đến liên kết tự nhiên chặt chẽ

giữa hai huyện có tiềm lực mạnh mẽ khiến cho quyền hộ nhà Hậu Hán

đương thời dù hồi cường thịnh cảm thấy thật lo sợ Đây vừa thuận lợi

rất to lớn lại vừa khó khăn nặng nề Hai Bà Trưng nghiệp phát động

nhân dân khắp cõi vùng lên khuấy nước chọc trời Thuận lợi nhân dân (mà trước hết nhân dân hai huyện Chu Diên Mê Linh) sẵn sàng đồng lòng ủng hộ Hai Bà, khó khăn

qn hộ thừa biết diễn tiến tất yếu việc nên định chủ động đối phó

- (1) Xin vui lòng tham khảo mục2.Giải mã một cách đặt tên (cũng thuộc phần II này)

(2) Hai chữMan Thiện có lẽ khơng phải tên gọi mà vinh hiệu, nghĩa người man di tốt Đời sau kính phục mà gọi chăng? (3) Truyền thuyết dân gian vùng Hà Tây có chuyện Đỗ Năng Tế, theo Đỗ Năng Tế người vùng thuộc huyện Quốc Oai, khoẻ mạnh,

nhiều mưu đặc biệt giỏi võ nghệ Bà Man Thiện mời Đỗ Năng Tế dạy cho hai người gái (Tác giả xin thích

thêm rằng, việc bà Man Thiện mời thầy dạy võ nghệ cho điều phù hợp với tất truyền thuyết khác, cịn nhân vật có đầy đủ họ và tên Đỗ Năng Tế người đời sau thêm vào cho dễ nghe thời Hai Bà Trưng, dân ta chưa có họ).

(4) Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.

(5) Nhà Tân Vương Mãng lập năm 08 tồn trước sau tổng cộng 17 năm (từ năm 08 đến năm 25), truyền nối hai đời Trong suốt

thời gian tồn tại, nhà Tân thay nhà Tiền Hán để đô hộ nước ta.

(6) Hầu hết thư tịch cổ ta Trung Quốc chép tên chồng Trưng Trắc Thi Sách, cóLịch Đạo Nguyên (Trung Quốc)

trong THUỶ KINH CHÚ (Quốc Học Cơ Bản Tùng Thư, Thương Vụ Ấn Thư Quán) chép làThi Tờ 62, 37 củaTHUỶ KINH CHÚ viết

: Chu Diên Lạc Tướng tử danh Thi, sách Mê Linh Lạc Tướng nữ danh Trưng Trắc vi thê Câu dịch trai Lạc Tướng

Chu Diên tên Thi hỏi cưới gái Lạc Tướng Mê Linh tên Trưng Trắc làm vợ Chữsách phải dịch hỏi cưới, dịch thành tên (Thi) Sách Tuy nhiên sách này, theo cách gọi quen thuộc phổ biến vốn có từ muôn dời mà chép tên chồng Trưng Trắc Thi Sách

DỰNG CỜ XƯỚNG NGHĨA

Một nhân vật lừng danh lịch sử Trung Quốc Hán Quang Vũ Hán Quang Vũ

tên thật Lưu Tú, cháu đời Lưu Bang (tức Hán Cao Tổ, người sáng lập nhà Tiền Hán

vào năm 206 TCN) Lưu Tú sinh năm 06 TCN, lật đổ nhà Tân khai sinh nhà Hậu Hán (cũng

tức Đơng Hán) vào năm 25, ngơi Hồng Đế 32 năm (25-57), năm 57, hưởng thọ 63 tuổi

Thời Hán Quang Vũ, ảnh hưởng Trung Quốc bốn phương rộng lớn mạnh mẽ

Bởi lẽ này, sử sách Trung Quốc không ngớt lời ca ngợi Hán Quang Vũ Dựa vào uy đó,

bọn quan lại hộ Âu Lạc sức tìm đủ cách để vơ vét tài nguyên cải Nổi bật

nhất số tên đô hộ tham tàn Tơ Định 1

Theo ghi chép củaĐƠNG QUAN HÁN KÍ Thái Thú Tơ Định tên khắc nghiệt,

mượn cớ nghiêm giữ phép nước để tìm cách hà hiếp dân lành "thấy tiền giương mắt lên,

thấy địch cụp mắt xuống"2 Lo sợ trước nhân dễ có khả dẫn đến liên kết

chặt chẽ Chu Diên Mê Linh, Tô Định giết chết Thi Sách hi vọng với địn phủ đầu

ấy, quyền hộ nhanh chóng triệt tiêu hồn tồn mầm mống phản kháng

nhất định bùng lên vùng đất trung tâm vốn có tiềm lực mạnh mẽ 3 Nhưng, Tô Định

và quân đô hộ nhà Hậu Hán nhầm Bà Man Thiện gấp rút chuẩn bi khởi

nghĩa lớn Quyết tâm bà Man Thiện Hai Bà Trưng nhận cổ vũ

ủng hộ mạnh mẽ xã hội Từ đất Mê Linh, bão lửa quật khởi nhanh chóng hình

thành Dân bốn phương nườm nượp kéo Mê Linh để tề tựu cờ cứu nước

Hai Bà Trưng Truyền thuyết dân gian vùng Hà Tây số dã sử cho hay rằng, trước

quả cảm phất cờ khởi nghĩa Hai Bà Trưng long trọng tổ chức hội thề lớn.tại vùng

Hát Môn 4 Theo THIÊN NAM NGỮ LỤC trước ba quân tướng sĩ, Hai Bà tuyên thệ tâm thực cho bốn mục tiêu :

Một xin rửa nước thù,

Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng Ba kẻo oan ức lòng chồng,

Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh

Về hội thi tổ chức đất Hát Mơn, Hồng Giáp Ngơ Thì Sĩ (1725-1780) 5 viết : "Khi

(18)

nói :

- Việc binh phải tòng quyền, giữ lễ làm cho dung nhan xấu xí có khác làm giảm

nhuệ khí, cho nên, ta mặc đẹp để làm cho quân hùng tráng Vả chăng, lũ giặc

trông thấy, lịng khơng n nên nhụt bớt chí khí chiến đấu, ta thêm phần dễ

thắng

Mọi người nghe vái tạ mà nói họ khơng thể nghĩ kịp cách nghĩ Bà" 6 -

(1) Tô Định làm Thái thú Giao Chỉ từ năm 34, tức năm sau nhà Hậu Hán dựng lên (2) Phạm Việp (Trung Quốc) : HẬU HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.

(3) Về nhân vật Thi Sách,THỦY KINN CHÚ Lịch Đào Nguyên (Trung Quốc) viết Thi Sách với Hai Bà Trưng khởi xướng

và lãnh đạo khởi nghĩa chống ách thống trị nhà Hậu Hán Tuy nhiên, phần lớn thư tịch cổ (của ta Trung Quốc), đặc biệt hàng loạt truyền thuyết dân gian khẳng định Tô Định giết Thi Sách trước Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa.

(4) Hát Môn : cửa sông Hát, thuộc xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây

(5) Ngơ Thì Sĩ (thân sinh Tiến Sĩ Ngơ Thì Nhậm) người làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, thôn Tả Thanh Oai, xã Tả Thanh Oai,

huyện Thanh Trì, Hà Nội, đỗ Hoàng Giáp năm 1766, làm quan trải phong dần tới chức Đốc Đồng, Ngơ Thì Sĩ tác giả loạt tác phẩm

rất có giá trị :ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TIỀN BIÊN, VIỆT SỬ TIÊU ÁN, NGỌ PHONG VĂN TẬP, ANH NGÔN THI TẬP, NGHỆ AN THI TẬP, HẢI ĐƠNG CHÍ LƯỢC

(6) VIỆT SỬ TIÊU ÁN - Trưng Nữ Vương.

Tháng năm 40, tức sau hội thề Hát Môn Hai Bà hạ lệnh xuất quân Lực lượng

ban đầu chưa thực hùng hậu khí tâm chiến đấu sục sơi bừng bừng

Mục tiêu mục tiêu lớn nghĩa quân công vào trị sở tên Thái

Thú Tô Định Từ quê hương Mê Linh mình, Hai Bà Trưng thúc quân ạt tiến thẳng Long

Biên, tới đâu nghĩa quân nhanh chóng đè bẹp phản kháng lực lượng qn hộ tới đó,

thế qn thác đổ, khơng cách ngăn cản Một khí đánh giặc cứu nước

bừng bừng khắp nơi :

Ngàn Tây phong trần, Ầm ầm binh mã tới gần Long Biên 1

Từ bất ngờ đến khiếp đảm Tô Định phải hốt hoảng bỏ trị sở mà cao chạy xa bay Một số

truyền thuyết dân gian cịn kể : "Tơ Định phải cạo tóc, cạo râu, vất bỏ ấn tín mà chạy" 2

Chính sử Trung Quốc phải buộc thừa nhận thực tế thảm hại : "Năm Kiến Vũ

thứ 16 (tức năm 40-NKT), người gái Giao Chỉ Trưng Trắc em gái Trưng Nhị làm

phản, đánh phá sở trị quận Trưng Trắc gái Lạc Tướng huyện Mê Linh, người

hùng dũng, vợ Thi sách huyện Chu Diên Thái Thú Giao Chỉ Tô Định dùng pháp luật trói

buộc, Trưng Trắc phẫn nộ, mà làm phản Người Man, người Lý Cửu Chân, Nhật Nam Hợp Phố tề hưởng ứng (Trưng Trắc) gồm chiếm 65 thành tự lập làm Vua Thứ

sử Thái Thú Giao Chỉ cịn giữ mạng sống mà thơi" 3

Các sử ta xưa dành lời trang trọng để chép chiến đấu

của nghĩa quân Hai Bà Trưng Tiến Sĩ Ngô Sĩ Liên sử thần thời Lê viết : "Tháng hai, mùa

xuân năm Canh Tí, niên hiệu Kiến Vũ năm thứ 16 (tức năm 40 -NKT), Vua khổ Thái Thú Tơ

Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù (Tơ) Định giết chồng mình, với em (Trưng)

Nhị binh đánh hãm trị sở châu (Tô) Định phải tháo chạy nước Các quận Nam Hải,

Cửu Chân, Nhật Nam Hợp Phố hưởng ứng, lấy 65 thành Lĩnh Nam, tự lập làm Vua." 4

Quốc Sử Quán triều Nguyễn viết : "Lúc bấy Thái Thú Tô Định cai trị tham lam tàn bạo;

giết chồng Bà Bà với em gái Trưng Nhị dấy quân, đánh hãm vào châu lị Tô Định phải bỏ chạy Nam Hải Quân Bà đến đâu gió lướt đến Các tộc người Man, người Lý Cửu Chân, Nhật Nam Hợp Phố đầu tề hưởng ứng Bà lấy lại dẹp yên

(19)

đều bảo tồn thân thơi" 5

Bấy giờ, khơng phải có quan qn hộ nhà Hậu Hán mà triều đình nhà Hậu

Hán phải hoảng hốt, bị động lúng túng Mãi đến hai năm trời sau thắng lợi vang dội

của Hai Bà Trưng, triều đình Hán Quang Vũ đủ bình tĩnh để chuẩn bị kế hoạch xua quân sang

đàn áp Đúng sử gia xưa nói, nhờ chí ủng hộ nhân dân khắp

cõi, nhờ phân tích sắc bén đốn thật xác Hai Bà Trưng"dựng nước dễ trở

bàn tay", ngược lại, nhà Hậu Hán từ chỗ bất ngờ đến bất lực, hồn tồn chịu bó tay

trong thời gian dài Đó hội thuận lợi để Hai Bà Trưng xưng Vương

và nhanh chóng xây dựng quyền độc lập tự chủ

- (1) Lê Ngô Cát - Phạm Đình Tối : ĐẠI NAM QUỐC SỬ DIỄN CA

(2) Bấy giờ, tục lệ phổ biến người Việt cạo tóc Tô Định phải bắt chước làm theo cho dễ chạy trốn Về tục

lệ phổ biến này, xin vui lòng tham khảo thêm : Nguyễn Khắc Thuần - ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ VĂN HÓA VIỆT NAM (Tập 1), Nxb Giáo dục,

2004 Tập có tên gọi riêng Từ thành tố nội sinh đến những văn minh đặc sắc (3) Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.

(4) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ(Ngoại kỉ, 3, tờ a-b)

(5) KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên, 2, tờ 10) Tất thư tịch cổ ta nói Hai Bà Trưng chiếm

65 thành Tuy nhiên, theo ghi chép củaHẬU HÁN THƯ số thư tịch cổ huyện có thành Ở Nam Việt Âu Lạc có tất

7 quận với 56 huyện thành cụ thể sau :

- Giao Chỉ : 12 thành - Cửu Chân : 05 thành - Nhật Nam : 05 thành - Hợp Phố : 05 thành - Nam Hải : 07 thành - Thương Ngô : 11 thành

- Uất Lâm : 11 thành

Như vậy, số 65 thành có nhầm lẫn dó Tuy nhiên, điều đáng nói Hai Bà Trưng giành lại thành mà chỗ nhân dân tồn cõi tề đứng phía Hai Bà

5 BA NĂM GÁNH VÁC SƠN HÀ

Ngay sau đập tan toàn guồng máy quyền hộ nhà Hậu Hán, Trưng Trắc

xưng Vương, sử gọi thời trị Bà thời Trưng Nữ Vương 1 Như vậy, sau Thục Phán thì Trưng

Trắc nhân vật thứ hai lịch sử nước ta thức 2 xưng Vương Đây kiện có ý

nghĩa quan trọng mà nói theo cách nói tác giả LỊCH SỬ VIỆT NAM (tập 1)3

đây "sự phủ định hiên ngang" đối với mưu đồ chủ nghĩa đại Hán

Thư tịch cổ chép việc Trưng Trắc xưng Vương vào mùa xuân năm Canh Tí (tức năm 40)

mà khơng cho biết vương hiệu quốc hiệu niên hiệu Có lẽ lúc giờ, vấn

đề quan trọng hàng đầu "lập lại nghiệp xưa họ Hùng", cịn như tất có liên

quan khác chưa vội nghĩ tới Về đất đóng Trưng Vương, sử cũ nói rõ Mê Linh :

Đơ kì đóng cõi Mê Linh,

Lĩnh Nam riêng triều đình nước ta4

Như nói, Mê Linh tên gọi huyện lớn, kinh đô Trưng Nữ Vương có

thể xây dựng phần nhỏ đất huyện Mê Linh Theo chúng tơi,

đó làng Hạ Lôi, quê nội Hai Bà, trị sở cũ thân sinh Hai Bà Lạc Tướng Mê Linh

Tuy nhiên, truyền thuyết mà dân gian cịn truyền tụng, đất Mê Linh khơng cịn lưu

giữ dấu tích vật chất kinh Trưng Nữ Vương

Chính quyền Trưng Nữ Vương có lẽ quyền đội ngũ tướng lĩnh - người

từng sát cánh chiến đấu với Hai Bà Trưng lập nhiều công lao Không thư tịch cổ

nào cho biết kết cấu tên chức danh cụ thể guồng máy quyền Trưng Nữ

Vương, nhiên thống lời kể kho tàng truyền thuyết đủ phép

(20)

lệ không nhỏ Trong truyền thuyết dân gian, nữ quan cao cấp Hai Bà Trưng

thường gọi Công Chúa (ví dụ Bát Nàn Cơng Chúa, Thánh Thiên Cơng Chúa, Lê Chân

Cơng Chúa ) Cũng có nhiều ý kiến cho tước hiệu Hai Bà Trưng thức

phong tặng, song, điều chưa có để bảo đảm chắn Theo chúng tơi có lẽ

cũng vinh hiệu người đời sau kính trọng mà thêm vào Dưới vài

số đội ngũ quan lại quyền Trưng Nữ Vương :

- Trong phạm vi ba tỉnh Hà Tây, Vĩnh Phúc Phú Thọ có đến 75 tướng Hai Bà Trưng, gồm

56 nam 19 nữ

- Theo thống kê Chi hội Văn nghệ dân gian tỉnh Vĩnh Phú (nay tách thành hai tỉnh Vĩnh

Phúc Phú Thọ) tồn tỉnh Vĩnh Phú cũ có đến 62 tướng Hai Bà Trưng, gồm có 30 nam 32 nữ

- Riêng khu vực thuộc Hà Nội có tới 25 tướng Hai Bà Trưng, gồm 18 nam

và nữ 5

Tất nhiên, nữ tướng sau trở thành nữ quan ngược lại,

không phải bất nữ quan xuất thân nữ tướng, nhưng, có mặt đơng nữ

quan guồng máy quyền Trưng Nữ Vương điều có thật Nói khác hơn, thân cấu

trúc quyền Trưng Nữ Vương thể rõ vai trị vị trí người phụ nữ

Những người chứng tỏ ý chí tài nghiệp giành độc lập đến lại tiếp tục

thể lĩnh tâm nghiệp giữ độc lập

Một vài thư tịch cổ Trung Quốc cho biết quyền Trưng Nữ Vương thu thuế

hai quận Giao Chỉ Cửu Chân 6 Có lẽ quận Nhật Nam xa nên việc quản lí

quyền Trưng Nữ Vương khơng chặt chẽ hai quận Giao Chỉ Cửu Chân Từ câu ghi

chép ngắn gọn này, suy đốn khởi nghĩa Hai Bà Trưng giành thắng lợi

trên phạm vi địa lí rộng lớn, tương ứng với đất đai Nam Việt Âu Lạc

cũ, quyền Trưng Nữ Vương gần quản lí vùng lãnh thổ chừng

tương ứng với cương vực Văn Lang - Âu Lạc cũ Dấu ấn cố quốc An Dương Vương

xa Vua Hùng in sâu nhận thức Hai Bà Trưng, nhận thức

phổ biến xã hội đương thời

Là quyền non trẻ, đời bối cảnh trình độ phát triển nói chung cịn

thấp đặc biệt tình phải thường xuyên sẵn sàng đối phó với

công đàn áp nhà Hậu Hán, cống hiến triều đình Trưng Nữ Vương với ý nghĩa

chính sách trị nước hiệu biến đối tích cực cụ thể diện mạo quốc gia tất

nhiên cịn khiêm nhượng.Tuy nhiên, công lao khơi dậy thổi bùng lên lửa quật

cường quyền Trưng Nữ Vương toàn thể cộng đồng người Việt ngàn đời bất

diệt Từ ánh sáng lửa thiêng liêng này, ý thức dân tộc phận xã hội

từng bước xây dựng củng cố, để sở dân tộc thực hình

thành Khác với nhiều khu vực giới, quy định riêng hoàn cảnh lịch

sử, dân tộc Việt Nam đợi đến thời cận đại bắt đầu hình thành, ngược lại

khai sinh từ sớm, từ thời kỳ đầu lịch sử dựng nước giữ nước Nhìn góc độ

rất đặc biệt này, cống hiến quyền Trưng Nữ Vương lại có thêm ý nghĩa khác

lớn lao Sách không dám lạm bàn đến vấn đế phương pháp luận sử học, chúng tới

chỉ xin nhấn mạnh thêm khía cạnh cụ thể rằng, từ nghiệp Hai Bà Trưng, ý

thức dân tộc phận xã hội bước đầu nâng cao, tảng đời

dân tộc dã xuất Nói theo sách nói Lê Ngơ Cát Phạm Đình Tối sự báo phục lại bá vương :

Ba năm gánh vác sơn hà,

(21)

-

(1) Truyền thuyết dân gian nói hai chị em Trưng Trắc Trưng Nhị xưng Vương, tất thư tịch cổ nói có Trưng

Trắc xưng Vương.

(2) Cũng nhiều nhà nghiên cứu khác, đồng ý với ý kiến cho chữVương Hùng Vương thực đời sau tự ý thêm vào Việc thức xưng Vương bắt đầu có từ Thục Phán (An Dương Vương) mà thơi.

(3) Sách Nxb Đại học Trung học chuyên nghiêp ấn hành, Hà Nội 1983

(4) Lê Ngơ Cát - Phạm Đình Tối : ĐẠI NAM QUỐC SỬ DIỄN CA

(5) Dẫn lại tác giảLỊCH SỬ VIỆT NAM (tập 1) Sách dẫn, trang 266

(6) Lịch Đạo Nguyên (Trung Quốc) :THUỶ KINH CHÚ Quốc Học Cơ Bản Tùng Thư, Thương Vụ Ấn Thư Quán.

(7) ĐẠI NAM QUỐC SỬ DIỄN CA

6 KẾT CỤC CỦA MỘT CUỘC ĐỌ SỨC KHÔNG CÂN XỨNG

Mãi đến hai năm sau ngày đại bại thảm hại Thái Thú Tơ Định, triều đình Hán Quang Vũ

mới đủ bình tĩnh tâm để xua quân đàn áp Thực lúc giờ, nhà Hậu Hán

đang gặp phải số khó khăn, ví dụ :

- Những dậy liên tiếp nhân dân Trung Quốc Thanh Châu, Từ Châu, U Châu Kí Châu (bốn châu thuộc hai tỉnh Sơn Đông Hà Bắc Trung Quốc)

- Cuộc khởi binh lớn Lý Quảng cầm đầu vùng Hoãn Thành (nay thuộc tỉnh An Huy

Trung Quốc)

- Những đấu tranh nông dãn Trung Quốc Ích Châu (nay thuộc tỉnh Vân Nam

Trung Quốc)

Nhưng, chưa phải tất nguyên nhân, chưa phải tất nguyên

nhân sâu xa Điều bận tâm Hán Quang Vũ sức mạnh toàn thể nhân

dân Âu Lạc Hai Bà Trưng tập hợp lãnh đạo Nếu không cân nhắc kĩ, thất bại

công đàn áp Hai Bà Trưng (nếu xảy ra) dẫn đến loạt phản ứng dây

chuyền bất lợi cho quyền nhà Hậu Hán non trẻ1 Xuất phát từ thực tế này,

Hán Quang Vũ có hai định quan trọng Một xuống chiếu cho quyền địa

phương, quyền địa phương phía Nam Trung Quốc, giáp giới với Âu Lạc phải

tích cực "sắm sửa xe thuyền, sửa sang cầu đường để thơng miền khe núi tích trữ lương

thực" 2 Hai sai viên lão tướng đày dạn kinh nghiệm trận mạc, khét tiếng tàn bạo và thiện chiến Mã Viện làm tổng huy lực lượng gồm khoảng hai vạn tên đàn áp Lúc giờ, Mã Viện

tuy 58 tuổi cịn cường tráng Chính Mã Viện kẻ đàn áp đẫm máu khởi

binh nơng dân vùng Hỗn Thành Lý Quảng cầm đầu Mùa hè năm Nhâm Dần (tức năm

42) 3, cuộc đàn áp với quy mô lớn và quyết tâm cao triều đình Hán Quang Vũ bắt đầu : - Nắm quyến tổng huy quân Đông Hán Phục Ba Tướng Quân Mã Viện4

- Đệ Nhất Phó Tướng Phiêu Kị Tướng Qn Đồn Chí, trực tiếp trông coi đơn vị thuỷ

binh 5

- Đệ Nhị Phó Tướng Lưu Long6

Thư tịch cổ Trung Quốc7 cho hay, triều đình Hán Quang Vũ đã huy động đến 20.000 quân,

xe thuyền lớn nhỏ 2.000 đông đảo dân phu phục dịch Tất cánh quân thuỷ

của giặc tập trung Hợp Phố8để phối hợp hành quân tác chiến với Nhưng, giặc

chưa kịp tràn xuống Âu Lạc Phó Tướng Phiêu Kị Tướng Qn Đồn Chí chết9 Trước tình

huống đó, Mã Viện đành phải trực tiếp huy hai đạo quân thuỷ tiến thẳng vào khu vực Cổ

Loa vùng phụ cận So với quân số Hai Bà Trưng rõ ràng thực lực lượng

áp đảo Như nói 10, vào cuối thời nhà Tiền Hán, quận Giao Chỉ có 746.237 suất đinh, quận

Cửu Chân có 166.113 suất đinh quận Nhật Nam có 69.485 suất đinh, tổng cộng ba quận

(22)

nghĩa giành quyền) trước sau cách khoảng thời gian ngắn, cho

nên, số suất đinh tăng lên không đáng kể Cứ giả dụ (dẫu thực tế khơng thể thế)

rằng tất suất đinh lính thử thách Trưng Nữ Vương cam go

Quân sĩ Trưng Nữ Vương có nghĩa đặc biệt có tinh thần chiến đấu cao,

nhưng kinh nghiệm chiến đấu non kém, tổ chức bước đầu sơ sài,

trang bị cịn q thơ sơ, trình độ võ nghệ thấp, cho nên, lực hiệu trận

mạc chưa thể sánh với đội quân quy đông đảo thiện chiến nhà Hậu Hán Mã Viện

cầm đầu Nói khác hơn, đọ sức hồn tồn khơng cân xứng

- (1) Nhà Hậu Hán (hay Đông Hán) thành lập năm 25, đến 15 năm.

(2) Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.

(3) Về thời điểm bắt đầu đàn áp này, thư tịch cổ Trung Quốc chép không đồng Ngay tác phẩm HẬU HÁN THƯ,

Phạm Việp tỏ bất Chúng dựa vào chi tiết Mã Viện phong làm Phục Ba Tướng Quân vào tháng năm 42 để viết trên.

(4) Mã Viện Hán Quang Vũ phong làm Phục Ba Tướng Quân Chức vụ quan trọng trước 150 năm (năm 112 TCN) có người triều đình Hán Vũ Đế (141 TCN - 87 TCN) phong Lộ Bác Đức.

(5) Đồn Chí kẻ với Mã Viện cầm quân đàn áp Lý Quảng giết hại sinh linh Hoãn Thành

(6) Lưu Long nguyên Thái Thú Nam Quận (vùng Hồ Bắc Trung Quốc ngày nay) phạm gian dối nên bị bãi chức, đến đây, ra làm quan Trước xuất quân, Lưu Long phong làm Trung Lang Tướng.

(7) Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ Sách dẫn.Lịch Đạo Nguyên (Trung Quốc) :THUỶ KINH CHÚ, Sách dẫn.

(8 Hợp Phố thuộc tỉnh Quảng Đông Trung Quốc.

(9) HẬU HÁN THƯnói Đồn Chí chết bệnh nhiên truyền thuyết dân gian đặc biệt theo thần tích đình Ngọc Lâm (đình thuộc

huyện n Dũng, tỉnh Bắc Giang) Thánh Thiên Công Chúa chủ động đem quân lên đánh phá giặc Hợp Phố, khiến cho Đồn Chí phải chống đỡ mệt mỏi Cuối lâm bệnh mà mất.

(10) Xin vui lòng tham khảo thêm tiểu mụca - Về trị, mục2 - Chính sách thống trị phong kiến Trung Quốc thuộc phần

củaChương thứ nhất

Từ kinh đô Mê Linh, Trưng Nữ Vương hạ lệnh cho đơng đảo qn sĩ ạt tiến thẳng

về vùng Cổ Loa 1 vùng hồ Lãng Bạc2để nghênh chiến với hi vọng chặn đứng công Mã Viện Và, trận ác chiến diễn khu vực Bấy mùa hè

nóng nực, thời tiết miền nhiệt đới khắc nghiệt góp phần gây cho qn Mã Viện khơng

những khó khăn Chính Mã Viện phải cơng khai thừa nhận :"Lúc ta

Lãng Bạc Tây Vu, giặc chưa bị tiêu diệt mà trời nước lụt, mây mù, khí độc

bốc lên ngùn ngụt, ngẩng đầu trơng lên thấy đến chim diều hâu bay phải rơi

xuống nước mà chết."3 Tuy gặp nhiều khó khăn nhờ có qn đơng và kinh nghiệm dồi Mã Viện đẩy lùi tất đợt công quân sĩ Hai Bà Tổn thất lực

lượng Trưng Nữ Vương nặng nề tình khơng cho phép Hai Bà kéo dài đối đầu đầy

bất lợi khu vực Cổ Loa - Lãng Bạc Trưng Nữ Vương định lui quân khu vực

Cấm Khê 4để tính kế tổ chức phịng ngự và chiến đấu lâu dài

Từ vùng Cổ Loa - Lãng Bạc, Tô Định nhân đà thắng thúc quân tiến gấp đến Cấm Khê Tại

đây, chúng vấp phải sức chống cự bền bỉ, ngoan cường lợi hại quân sĩ

Trưng Nữ Vương Tuy nhiên, chí lớn tâm cao quân sĩ Hai Bà không đủ để bù cho

thua thực lực, kết cục tất yếu đọ sức không cân xứng Mã Viện

thắng, Hai Bà Trưng anh dũng hi sinh chiến trường Về chết oanh liệt Hai Bà

Trưng, phần lớn tài liệu ta nói Hai Bà nhảy xuống sông tự tử :

Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo, Chị em thất phải liều với sơng 5

Các sử Trung Quốc (tất nhiên chép theo lối khoa trương thiến thắng chúng)

đều nói Hai Bà bị tướng giặc Mã Viện bắt sống bị chặt lấy đâu đưa kinh đô nhà

Hán Lạc Dương6 Truyền thuyết dân gian vùng Hà Tây, Vĩnh Phúc Phú Thọ kể Hai Bà “lên núi”, “xuống nước” “hoá” (những từ khác qua đời) vào ngày mồng

Tám tháng Ba năm Quý Mão (tức năm 43) 7 Tuy nhiên, dù tạ theo

cách sử sách (của ta Trung Quốc) xưa ghi chép hay truyền thuyết kể lại

chúng ta hồn tồn nói Hai Bà Trưng anh dũng hi sinh chiến trường Hai

(23)

Hùng” Trong những lễ hội tưởng niệm Hai Bà Trưng nghĩa sĩ Hai Bà, hệ xưa

thường kiêng kị dùng vật dụng có màu đỏ cho màu máu, màu gợi nhớ nỗi

đau thương vô hạn dân tộc ta trước đàn áp dã man Mã Viện

- (1) Nay thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.

(2) Trước nhiều người nhầm tưởng Lãng Bạc Hồ Tây Theo chúng tơi Lãng Bạc vùng đất trũng, tương ứng với đất đai huyện phía Đơng nam Bắc Ninh, tiếp giáp với Hà Nội, Hưng Yên Hải Dương.

(3) Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán Tác giả xin thích thêm rằng, Tây Vu khu vực tương ứng với Từ Sơn Tiên Du tỉnh Bắc Ninh.

(4) Cấm Khê tương ứng với vùng thung lũng Suối Vàng chân núi Vua Bà (thuộc dãy Ba Vì) Vùng lưng dựa núi, mặt trông

ba dịng sơng lớn sơng Đà, sơng Hồng sơng Đáy, lại có đường hiểm thơng vào Cửu Chân Đây vùng đệm đồng Bắc Bộ với Trung

Bộ, thuận tiện cho việc tổ chức phịng ngự lâu dài

(5) Lê Ngơ Cát - Phạm Đình Tối : ĐẠI NAM QUỐC SỬ DIỄN CA

(6) Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán Tác giả xin dược thích thêm rằng,

thân HẬU HÁN THƯ chép không thống Ở phần Lưu Long truyện nói Lưu Long bắt dược Trưng Nhị cửa Cấm Khê ở phần Mã Viện truyện lại nói Mã Viện giết chết Trưng Trắc Trưng Nhị chặt đầu đưa Lạc Dương.

(7) Ở đền thờ Hai Bà Trưng xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây, lễ hội để tưởng niệm Hai Bà tổ chức vào ngày 8-3

nay, nước tổ chức tưởng niệm Hai Bà Trưng vào ngày Ở Đồng Nhân (Hà Nội) có đền thờ Hai Bà Trưng Lễ tắm tượng đền

được tổ chức vào ngày mồng tháng hàng năm Viện lẽ đền Đồng Nhân lịng Thủ Đơ nên có người đề nghị lấy ngày mồng tháng làm ngày tưởng niệm Hai Bà Trưng thức chung cho nước Tuy nhiên ý kiến khơng nhận đồng tình xã hội.

7 MN ĐỜI CỊN MÃI DANH THƠM

Sau đàn áp cách đẫm máu toàn lực lượng Hai Bà Trưng, tương truyền, Mã Viện

mượn cớ tịch thu vũ khí nhân dân để gom góp vật đồng làm giàu cho

mình làm thêm hai việc Một đúc ngựa theo mẫu mã Mã Viện vẽ

Truyền thuyết nói Mã Viện tên sành giống ngựa, cần nghe tiếng hí khơng

thơi đốn giống ngựa sinh vùng ngày chạy

bao nhiêu dặm Hai đúc trụ đồng, có khắc ghi cơng trạng lời

đe doạ xấc xược gồm vỏn vẹn có sáu chữ Hán (phiên âm) sau :“Đồng trụ chiết, Giao

chỉ diệt”(cột đồng mà gãy, Giao Chỉ nòi) Cũng tương truyền, người Giao Chỉ có

việc qua chỗ cắm cột đồng công khai bày tỏ thái độ phản kháng rõ ràng

bằng cách lấy đá ném vào Một người ném nhiều người ném, đời ném nhiễu đời ném,

cứ kéo dài mãi, kết cuối cột đồng với lời đe doạ ngạo mạn ngơng cuồng

của Mã Viện hồn tồn bị chơn vùi, khiến khơng cịn tìm thấy

Cột đồng Mã Viện vĩnh viễn bị chơn vùi lịng đất sâu, ngược lại, tiếng thơm

nghiệp cứu nước hai chị em Trưng Trắc Trưng Nhị tồn bất diệt với giang sơn yêu

quý

Những đại bút ngàn xưa trang trọng dùng lời hùng tráng,

tốt đẹp kiêu hãnh để viết đời nghiệp phi thường Hai Bà Trưng Dưới

đây vài trích lục đoạn đánh giá cụ thể rút từ sử xưa :

“Trưng Trắc, Trưng Nhị đàn bà, hô tiếng mà quận Cửu Chân, Nhật Nam Hợp Phố

cùng 65 thành Lĩnh Ngoại tề hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ trở bàn tay Xem đủ biết hình đất Việt ta đủ để dựng nghiệp bá vương” “Trong

khoảng 1000 năm, bọn đàn ông biết cúi đầu bó tay làm tơi tớ cho phương Bắc, há chẳng

xấu hổ với hai chị em họ Trưng đàn bà hay ? Ôi, gọi tự vứt bỏ vậy."1 "Họ Trưng giận Thái Thú nhà Hán bạo ngược, vung tay hô tiếng mà quốc thống nước ta cơ hồ khơi phục, khí khái anh hùng há có lúc dựng nước xưng vương đâu" "Đàn bà mà có đức hạnh kẻ sĩ, khí chất anh dũng khoảng trời đất khơng thân mà có thể Bọn đại trượng phu há chẳng nên ni dựng lấy khí phách thẳng đại ư" 2

“Hai Bà Trưng thuộc phái quần thoa, mà hăng hái tâm khởi nghĩa, làm chấn động triều đình nhà Hán Dẫu lực yếu không gặp thời thế, đủ để làm phấn

(24)

làm mọi, thật mặt dày mày dạn đáng chết thẹn thay” 3

“Than ôi, hồng nhan trẻ đẹp xưa có người nghiệp bị chôn vùi, nhưng, từ Nữ

Oa làm việc động trời đến có Hai Bà Trưng mà thôi” 4

Trên khắp đất nước ta, đền thờ Hai Bà Trưng dựng lên nhiều nơi5, tên của Hai Bà

Trưng trân trọng đặt cho hàng loạt đường phố của.các thành phố, thị xã thị trấn

Ngay đất Trung Quốc, đền thờ Hai Bà Trưng dựng lên hậu duệ

người tham gia khởi nghĩa Hai Bà khởi xướng lãnh đạo. 6

Như toàn tiến trình giữ nước trường kì gian khổ, Hai Bà Trưng bậc nữ

danh tướng có cơng giương cao cờ chống chủ nghĩa bành trướng đại Hán Sự

nghiệp Hai Bà để lại dấu ấn sâu sắc tình cảm nhận thức lịch sử

chống xâm lăng anh dũng ngoan cường dân tộc ta, mở trang sử hào hùng

truyền thống “anh hùng - bất khuất - trung hậu - đảm đang” phụ nữ Việt Nam Chừng

hai câu kết vịnh ảnh O du kích nhỏ Tố Hữu cịn có ý nghĩa lời tổng kết

gọn gàng truyền thống đặc biệt :

Ra thế, to gan béo bụng, Anh hùng đâu phải mày râu -

(1) Lời bàn Bảng Nhãn Lê Văn Hưu, dẫn từĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 3, tờ 3-a) (2) Lời bàn Tiến Sĩ Ngô Sĩ Liên, dẫn từĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 3, tờ 3-b 4-a)

(3) Lời phê sử gia Quốc Sử Quán triều Nguyền, dẫn từKHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên, 2, tờ

12)

(4) Hoàng Giáp Ngơ Thì Sĩ : VIỆT SỬ TIÊU ÁN

(5) Chỉ tính riêng hai tỉnh Vĩnh Phúc Phú Thọ có tới 51 địa điểm thờ Hai Bà Trưng tướng lĩnh Hai Bà Tương tự thế,

tính riêng Hà Nội có tới 24 địa điểm thờ Hai Bà Trưng tướng lĩnh Hai Bà

(6) Ví dụMiếu Bà Trắc (tức miếu thờ bà Trưng Trắc) phía Nam hồ Động Đình (nay thuộc tỉnh Hồ Nam Trung Quốc).

Phụ lục 1

DANH SÁCH CÁC BẬC NỮ TƯỚNG CỦA HAI BÀ TRƯNG

Tiểu dẫn :Dưới danh sách bảy chục nữ tướng mà theo lời kể truyền thuyết dân

gian ghi chép số thần tích người sát cánh chiến đấu ngọn cờ Hai Bà Trưng Để có danh sách mang ý nghĩa tổng hợp bước đầu này, kết

nghiên cứu riêng mình, chúng tơi trân trọng đối chiếu với kết khảo sát

nhiều cá nhân, quan đơn vị khác Như trình bày trên, họ tên tước hiệu số

nữ tướng có giá trị để tham khảo thêm khơng phải thông tin thực chuẩn

xác Tên tất vị nữ tướng danh sách tổng hợp xếp theo thứ

tự vần chữ tiếng Việt đại.

01 Ả Huyền

02 Ả Chàng (Lê Ngọc Trinh)

03 Ả Lan

04 A Lã Nàng Dê

05 Ả Lự Đề Nương

06 Ả Long Nương

07 Ả Nang

08 Ả Nương

09 Bà Bỉ

10 Bà Bạo 11 Bà Dưỡng

12 Bà Liệt

(25)

14 Bình Phu Nhân Nguyễn Thị 15 Cao Liên Nương

16 Cung Cai Đại Vương Hoàng Hậu

17 Diệu Tiên Phu Nhân

18 Đại Liệu 19 Đạm Nương 20 Đàm Ngọc Nga

21 Đào Phương Dung Công Chúa 22 Đinh Bạch Nương

23 Đinh Tiết Nương

24 Đỗ Thị Dung

25 Đức Bà Y

26 Hồ Hác

27 Hồ Đề ( Đào Nương Công Chúa )

28 Hồng Nương

29 Hồng Thiên Bảo

30 Hoàng Ả Các

31 Hoàng Phu Nhân Đào Thị

32 Hồng Tư Cực Nương Cơng Chúa

33 Lê Chân Cơng Chúa 34 Lê Thị Hoa

35 Loan Hồng 36 Nàng A 37 Nàng Nội 38 Nàng Nước

39 Nàng Quế 40 Nàng Quỳnh

41 Nàng Tía

42 Ngọc Loan Công Chúa

43 Ngọc Quang Công Chúa 44 Ngọc Trân Đào Hoa 45 Nguyễn Đào Nương

46 Nguyên Nga Phương Dung Công Chúa

47 Nguyệt Hoa Công Chúa

48 Nguyệt Đê

49 Nguyệt Nga Công Chúa (Trần Thị Nga)

50 Nguyệt Thai

51 Nha Tam Nương Công Chúa

52 Phật Nguyệt Công Chúa

53 Phạm Nguyệt Nga Công Chúa

54 Phương Anh Phu Nhân

55 Phùng Ả Tú

56 Quách A 57 Quốc Nương

58 Quý Loan

59 Sa Lăng

60 Tạ Thị Tần

61 Tạ Vĩnh Gia 62 Thanh Nương

63 Thánh Thiên Công Chúa 64 Thiều Hoa Công Chúa 65 Thương Cát

66 Thu Liên

(26)

68 Tứ Hồng Nương

69 Trần Nang

70 Trần Thị Nguyệt

71 Trương Phương Dung Công Chúa

72 Vĩnh Hoa

73 Vĩnh Huy Công Chúa

74 Xà Nương Công Chúa

75 Xuân Nương

Phụ lục 2

TIỂU TRUYỆN VỀ MỘT SỐ TƯỚNG LĨNH XUẤT SẮC CỦA HAI BÀ TRƯNG

Tiểu dẫn :Ai nói rằng, người tài người có khả khơi dậy sử

dụng tất tài người khác Nếu lấy câu làm tiêu chí để xét thật

trong năm đầu Cơng ngun, Hai Bà Trưng người tài giỏi Hai Bà

Trưng vị tướng lĩnh sát cánh chiến đấu đầy hiệu bên cạnh Hai Bà Họ

các bậc đồng nghiệp trân trọng giới thiệu cơng trình khác Chúng tơi đánh giá

rất cao giá trị công trình Tuy nhiên, tác giả DANH TƯỚNG VIỆT NAM (Tập 4)

cũng muốn đứa tinh thần có diện mạo riêng, vậy, mạnh dạn thử

nghiệm viết phần Phụ lục theo cách riêng Sau nhiều năm cần mẫn tiến hành khảo sát thực tế, thu tập lượng truyền thuyết thần tích khơng nhỏ Và,

dưới phần phản ánh kết khảo sát riêng Như nói, phần phản

ánh "một cách làm riêng " chừng mực có ý nghĩa bổ sung không trái ngược

hay phản bác thành người trước Cuối cùng, danh sách Các tướng lĩnh xuất sắc

của Hai Bà Trưng trôn trọng giới thiệu xếp theo thứ tự vần chữ

tiếng Việt đại.

1 Ả Chàng (hay Ngọc Trinh Công Chúa)

Ngọc Trinh tức Lê Ngọc Trinh hay Ả Chàng Hai tên gọi đầu có lẽ người đời sau kính

cẩn đặt cho, tên gọi phổ biến Ả Chàng Theo thần tích đền Lũng

Ngoại (cũng tức đền Lũng Ngòi, thuộc xã Lũng Hồ, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc)

thì Ả Chàng em ruột Ả Chạ (cịn có tên khác Ngọc Thanh) Hai chị em tiếng xinh

đẹp khoẻ mạnh

Cha mẹ chẳng may nối qua đời sớm, Ả Chạ có nhan sắc người nên bị quan hộ

địa phương bắt làm thiếp sau chưa mất, Ả Chàng tức giận, tập hợp lực

lượng để chống quan lại nhà Hậu Hán Binh sĩ Tô Định qua khu vực Lũng Ngoại

cũng bị Ả Chàng bất ngờ công Giặc phải bao phen thất trận, lịng ốn ức chưa

biết đối phó cách

Khi tin Hai Bà Trưng phát động khởi nghĩa Hát Môn, Ả Chàng liền đem quân theo Nhờ

lập nhiều công lao nên sau dẹp yên Tô Định, Ả Chàng Trưng Nữ Vương phong làm

Công Chúa, chức Đại Tướng Khi Mã Viện đem quân sang đàn áp, Ả Chàng huy chiến

đấu dũng cảm Gò May (nay thuộc xã Lũng Hoà, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc)

Tương truyền, có lần hăng hái xơng trận gươm bị rơi, Ả Chàng liễn cởi dải

thắt lưng, cột đá vào đầu để làm vũ khí, vung lên đánh cho đám giặc đông phải hoảng sợ

mà bỏ chạy tán loạn Nhưng sức tàn lực kiệt, Ả Chàng đành phải nhảy xuống đầm sen lớn

Gò May mà tuẫn tiết Năm Ả Chàng 20 tuổi Nhân dân địa phương tôn tập đền

thờ Ả Chàng Lũng Ngoại nói

(27)

Ả Nang tức Trần Nang Đầu Công nguyên, quan đô hộ nhà Hậu Hán Tô Định

quá tham lam tàn ác nên ai oán hận Nhiều khởi nghĩa bùng nổ, đó,

lớn mạnh khởi nghĩa Hai Bà Trưng Theo thần tích đền Tuyền Liệt (nay

thuộc huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc) lúc giờ, Ả Nang chồng Hùng Bảo tập hợp

được hai trăm người chia làm hai đội quân, tình nguyện chiến đấu cờ Hai

Bà Trưng Sau đánh đuổi Tô Định, Trưng Nữ Vương phong cho Hùng Bảo làm Hộ Quốc

Cơng cịn Ả Nang phong làm Công Chúa Hai người lại đất Tuyền Liệt tổ

chức khai hoang mở mang điền sản Lúc Mã Viện đem quân sang đàn áp, hai vợ chồng Hùng

Bảo Ả Nang nhận lệnh Trưng Nữ Vương, trực tiếp huy nhiều trận đánh lớn, gây cho giặc

nhiều tổn thất nặng nề Nhưng sau Trưng Nữ Vương thua trận Lãng Bạc, Hùng Bảo Ả

Nang phải chịu thất bại Hai vợ chồng anh dũng hi sinh khu vực cách Tuyền Liệt không

xa

3 Bát Nàn Công Chúa

Theo truyền thuyết dân gian vùng Phú Thọ Bát Nàn cịn có tên khác Thục Nương1, người

trang Phượng Lâu (nay xã Phượng Lâu, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ) Theo thần tích xã

Phượng Lâu Bát Nàn người tiếng nết na xinh đẹp Lớn lên, Bà gia đình hứa gả

cho chàng trai người trang Phượng Lâu

Thái Thú Tô Định nghe tiếng Bà, sai người tới hỏi Bà làm thiếp Bị từ chối, Tơ Đinh liền bí

mật giết chết cha Bà sai quân đến tận trang Phượng Lâu để bắt Bà cho Vì uất ức,

Bát Nàn chém chết nhiều quân sĩ Tô Định chạy trang Tiên La (nay thuộc

huyện Phong Châu) Ở đấy, nhờ ủng hộ nhân dân nên Bát Nàn tổ chức lực lượng

vùng dậy chống ách đô hộ nhà Hậu Hán

Năm 40, vừa phát động khởi nghĩa, nghe tin Bát Nàn người chí hướng với

lại có sẵn lực lượng tay Hai Bà Trưng liền cho người tới mời hợp sức Bát Nàn

đồng ý kể từ đó, Bà trải bao phen trực tiếp cầm quân tả xung hữu đột, đánh cho quân

đô hộ Hậu Hán thất điên bát đảo Nhờ có cơng lớn, Bà Trưng Nữ Vương phong Công Chúa,

chức Đại Tướng trao quyền huy quân tiên phong đóng trang Tiên La Khi Mã Viện

đem quân sang đàn áp, Bát Nàn chiến đấu anh dũng gây cho địch tổn thất lớn,

nhưng thua lẫn lực Bát Nàn buộc phải thua trận tuẫn tiết

trang Tiên la

4 Đào Nương Công Chúa

Đào Nương Công Chúa tức Đề Nương Công Chúa hay Hồ Đề, người trang Đông Cao (nay

thuộc xã Đông Cao, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc), sau di cư đến động Lão Mai (nay thuộc

huyện Mê Linh) Theo thần tích trang Đơng Cao Đào Nương người tiếng xinh đẹp

và võ nghệ cao cường, chưa đầy hai mươi tuổi phục lũ ngựa bất kham

bắt sống voi trắng chéo ngà động Lão Mai

Nhân lịng ốn giận nhân dân quyền đô hộ nhà Hậu Hán, lại thù Tô Định giết

hại cha mình, Đào Nương rời trang Đông Cao đến cư ngụ động Lão Mai Tại đây, nhân

dân động Lão Mai vùng lân cận hết lòng ủng hộ, Đào Nương tập hợp lực lượng để

nhau đánh đuổi quân đô hộ Nghĩa quân Đào Nương đánh cho Tơ Định nhiều trận hiểm hóc,

khiến cho Tô Định căm tức

Đến năm 40, hưởng ứng lời kêu gọi Hai Bà Trưng Đào Nương đem quân theo Nhờ

giàu tài lòng dũng cảm thấy, Đào Nương Trưng Nữ Vương phong làm Đào

Nương Công Chúa trao chức Phó Ngun Sối Sau Trưng Nữ Vương qua đời, Đào Nương

(28)

Công Chúa bí mật thăm mộ Trưng Nữ Vương, chẳng ngờ bị Mã Viện phát truy đuổi

riết Đào nương Cơng Chúa phóng ngựa chạy đến sồng Nguyệt Đức (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh)

rồi tuẫn tiết

5 Lê Chân Cơng Chúa

Theo ghi chép của thần tích đền Nghè ở An Biên (nay thuộc quận Lê Chân, thành phố Hải

Phịng) Lê Chân vốn q vùng thuộc huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Cha mẹ bị Tô

Định hãm hại nên Lê Chân phái uất hận bỏ xứ mà đến đất An Biên Chính Lê Chân người

đứng tổ chức khai hoang lập làng vào năm Bà 19 tuổi

Cũng An Biên, Lê Chân lập đội dân binh gồm đủ nam lẫn nữ Ngoài nhiệm vụ bảo vệ

cho dân làng, đội dân binh An Biên chủ động tổ chức trận công bất ngờ vào lực

lượng quân đô hộ Tô Định tức tối tỏ lúng túng kế sách đối phó Khi

Hai Bà Trưng khởi nghĩa, Lê Chân đem toàn quân sĩ theo Năm Bà 22

tuổi Quân giặc sợ tài thao lược Bà, chúng gọi Bà Đơng Hải Kình Ngư (con cá kình

biển Đông) Lê Chân nữ tướng xuất sắc Hai Bà Trưng, Trưng Nữ

Vương phong làm Lê Chân Công Chúa Và, hầu hết tướng lĩnh khác Hai Bà

Trưng, Lê Chân Công Chúa anh dũng hi sinh chiến đấu chống đàn áp tàn

khốc Mã Viện

-

(1) Truyền thuyết nói Bát Nàn có họ tên đầy đủ Vũ Thị Thục điều người đời sau tự ý thêm vào đầu Công nguyên, người Việt chưa có họ.

6 Lê Thị Hoa

Một lần nữa, họ tên đầy đủ vị nữ tướng có lẽ hậu (những người soạn thảo

thần tích) tự ý thêm vào Theo ghi chép của thần tích đền Thượng Linh (huyện Vụ Bản, tỉnh

Nam Định) Lê Thị Hoa sinh trưởng Năm 19 tuổi, Bà kết hôn với chàng niên

cùng quê, tiếng có tài, tên Mai Tiến Sau 11 năm chung sống với Mai Tiến, Bà sinh hạ

được tất bốn người trai, vậy, nhan sắc Bà mặn mịi Tơ Định biết liền

gọi chồng Bà tận Gia Lâm trao cho chức quan để dễ bề chiếm đoạt Bà Không thể từ chối được,

Mai Tiến buộc phải nhận chức đến nơi bị Tơ Định lập mưu đẩy vào chỗ phải phạm

tội bị giết Lê Thị Hoa liền dẫn người vào trú ngụ khu vực thôn Ngũ Kiện, xã

Nga Thiện, huyện Nga Sơn, anh Thanh Hóa Tại đây, Bà sức tổ chức khẩn hoang lập làng không ngừng chiêu mộ lực lượng để chờ hội trả thù cho chồng

Khi Bà tổ chức khẩn hoang khu vực thuộc Nga Sơn Hát Mơn, Hai Bà Trưng

chính thức phát động khởi nghĩa Cơ hội trả thù cho chồng đến, Bà liễn đem tồn lực lượng

của gồm 2.000 người Bắc hăng hái tham gia Sau đánh đuổi Tơ Định, Bà từ

chối hình thức khen thưởng Trưng Nữ Vương, xin trở lại với vùng Nga Sơn để tiếp tục

tổ chức khẩn hoang Năm 43, Mã Viện đem đại binh sang đàn áp Một lần nữa, Bà lại đem lực

lượng chống trả liệt Nhưng, thành nhỏ chẳng thể ngăn

bão lớn, nghĩa binh Bà phải chịu thất bại Bà anh dũng hi sinh Nga Sơn - quê

hương thứ hai Hiện nay, xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn có đền thờ Bà với đơi câu

đối phản ánh rõ lí tưởng Bà :

Thệ báo Tô cừu, Bắc khấu Nghĩa phù Trưng chủ, phục Nam bang.

(29)

Thề trả mối thù với Tô Định, trừ khử giặc Bắc, Giữ nghĩa phị Trưng Vương, khơi phục nước Nam

7 Nái Sơn (hay An Bình Cơng Chúa)

Theo thần tích đền Liễn Sơn (nay thuộc huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc) Nái Sơn cịn có tên khác nàng Quý Loan Nàng vốn quê khu vực thuộc huyện Chí Linh (tỉnh Hải Dương),

sau di cư đến trang Tinh Luyện (nay thuộc huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc) Nái Sơn

tiếng xinh đẹp, nết na, hiểu biết nhiều khoẻ mạnh, lại giỏi võ nghệ

Nghe tin Hai Bà Trưng chiêu mộ lực lượng để chuẩn bị khởi nghĩa đánh đuổi quân đô hộ nhà

Hậu Hán, Nái Sơn hồ hởi vượt đường xa dặm dài tìm đến Mê Linh Tại đây, Nái Sơn dược Hai

Bà Trưng tiếp đãi ân cần sau kết nghĩa làm chị em Hai Bà giao cho Nái Sơn chiêu

dụ bậc hào kiệt tuyển mộ quân sĩ Tương truyền Nái Sơn mời gọi dược bốn bậc hào kiệt

và tuyển mộ 500 nghĩa dũng Trước khởi nghĩa, Hai Bà Trưng tin cậy trao cho Nái Sơn chức Nội Thị Tướng Quân, ngày đêm hầu cận Hai Bà Sau Tô Định bị nghĩa quân ta đánh

cho tan tác, Trưng Nữ Vương đứng tác hợp cho Nái Sơn với Đinh Tướng Quân nên vợ

nên chồng, tình chị em kết nghĩa Nái Sơn với Trưng Nữ Vương mà trở nên sâu

sắc Bấy giờ, Nái Sơn Trưng Nữ Vương phong làm An Bình Cơng Chúa

Lúc Mã Viện đem qn tới đàn áp, Nái Sơn sát cánh chiến đấu bên cạnh Trưng Nữ Vương

Lãng Bạc Cấm Khê tương truyền, Nái Sơn người chôn cất Trưng Nữ Vương trước

đến lượt tuẫn tiết nước Đến thờ Nái Sơn dựng lên hầu khắp địa phương Nái

Sơn sống chiến đấu

8 Nàng A (hay Khâu Ni Công Chúa)

Trong số tướng lĩnh Hai Bà Trưng, có nữ tướng đặc biệt, Nàng A - vị nữ

tướng vốn xuất thân nhà tu hành theo Phật giáo Theo thần tích đền Nhật Chiêu (nay

thuộc huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc) Nàng A vốn gái xinh đẹp chịu thương chịu

khó (theo tờ thần tích này, Nàng A có chép Quách A)

Bấy giờ, bọn tay sai nhà Hậu Hán định bắt Nàng A dâng nạp cho quan đô hộ để lấy thưởng, Nàng

A đành bỏ làng vào núi để tu, để tạm lánh bọn ác quỷ Từ đó, Nàng A có đạo hiệu Ni cô

Khâu Ni Nơi Ni cô Khâu Ni tu hành chùa Huyền Cổ Vào thời ấy, quân đô hộ thi

ức hiếp dân lành, chúng tàn ác chưa thấy, người người oán giận, đến bậc tu hành từ

bi Khâu Ni chịu đựng Khâu Ni liền bí mật tập hợp người giàu

lòng yêu nước tâm giết giặc để sẵn sàng chờ hội vùng lên

Được tin Hai Bà Trưng riết chuẩn bị lực lượng cho khởi nghĩa lớn, Khâu

Ni đem tồn lực lượng mắt Hai Bà Hai Bà Trưng vui mừng, liền

phong cho Khâu Ni làm Tả Tướng Và, Tả Tướng Khâu Ni vị tướng có

cơng lớn trận đánh định vào thành Luy Lâu (Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), khiến

cho tướng giặc Tô Định bị đại bại, phải vất bỏ ấn tín, cạo râu, cạo tóc mà tháo chạy Trung

Quốc Nhờ cơng lao này, Nàng Trưng Nữ Vương phong làm Khâu Ni Công Chúa cho

cai quản vùng đất tương ứng với Yên Lạc (Vĩnh Phúc)

Nhưng, sau ngày đại thắng chưa Khâu Ni Công Chúa lâm bệnh qua đời Để

khắc ghi công trạng ân đức Khâu Ni Công Chúa, nhân dân nhiều địa phương thuộc

tỉnh Vĩnh Phúc lập đền thờ Bà

(30)

Theo thần tích đền Minh Nơng (cịn có tên gọi khác đền Kẻ Lú), xã Minh Phương, huyện Hạc

Trì (nay thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) Nàng Nội cháu gọi Thi Sách (chồng

Trưng Trắc) bàng ruột Vì căm giận ách thống trị tàn bạo quân đô hộ nhà Hậu Hán, thân

sinh Nàng Nội Thi Sách dự tính tổ chức nhân dân dậy đấu tranh, kế hoạch

bị bại lộ nên hai anh em bị Tô Định giết hại Để tránh trả thù, hai mẹ Nàng Nội

buộc phải tạm lánh sang phía hữu ngạn sơng Hồng Nhưng, đến chưa thân

mẫu Nàng Nội lo lắng buồn rầu nên qua đời

Khi nghe tin Hai Bà Trưng phát động khởi nghĩa, Nàng Nội hăm hở xin theo Nhờ dũng cảm,

mưu trí có tài tổ chức Nàng Nội nhanh chóng Hai Bà Trưng tin cậy, giao cho huy

lực lượng lớn Binh lính quyền huy Nàng Nội đánh thắng giặc nhiều trận lớn

ngay q hương mình, khiến chúng phải kính nể gọi Nàng Nội "Nữ thần Bạch Hạc” Dưới

thời Trưng Nữ Vương, Nàng Nội phong làm Nhập Nội Bạch Hạc Thuỷ Công Chúa

Trưng Nữ Vương tin cậy giao phó nhiều trọng trách khác triều đình Truyền thuyết

vùng Bạch Hạc kể Nàng Nội có vinh dự với Trưng Nhị huy việc xây

dựng nhiều thành luỹ khu vực Bạch Hạc

Khi Mã Viện đem quân sang đàn áp, Nàng Nội tướng huy quân đội Trưng Nữ Vương

khu vực Bạch Hạc Bà chiến đấu ngoan cường gây cho giặc nhiều tổn thất nặng nề

nhưng cuối đành phải chịu thất bại Bà anh dũng hi sinh Bạch Hạc lúc tuổi đời

mới vừa đôi mươi Để mãi tôn vinh ghi nhớ công đức to lớn Bà, nhân dân địa phương

đã lập đền thờ Bà Minh Nông

10 Nàng Nước (hay Trung Dũng Đại Tướng Quân)

Theo thần tích đền Hồng Xá (nay thuộc xã Kiêu Kị, huyện Gia Lâm, Hà Nội) Nàng Nước Ni cô, danh Đào Nương Đào Nương vốn quê làng Kiệt Đặc (nay thuộc huyện

Chí Linh, tỉnh Hải Dương) Vì Đào Nương chẳng may Nàng Nước vừa chào đời,

cho nên, Nàng Nước người phụ nữ tốt bụng làng Hồng Xá đem ni dưỡng Bà

chính người phụ nữ tìm thày truyền dạy cho Nàng Nước tinh thần thượng võ ý chí đánh

đuổi quân xâm lăng, giành lại độc lập cho đất ước Khi Nàng Nước vừa đến tuổi trưởng thành

mẹ ni qua đời Bấy giờ, đất nước điêu linh, dân tình khốn khổ, qn hộ nhà Hậu Hán

thì tác oai tác qi khắp nơi

Nhân lịng người ốn hận sục sôi, Nàng Nước kêu gọi nhân dân cầm vũ khí đánh đuổi quân

thù Khi Hai Bà Trưng phát động khởi nghĩa, Nàng Nước liền đem tồn lực lượng

hợp sức với Hai Bà để chống kẻ thù chung Nhờ can đảm mưu lược, Nàng Nước liên

tiếp lập nhiễu cơng lao, đó, quyền Trưng Nữ Vương phong làm Trung Dũng

Đại Tướng Quân

Khi Mã Viện đem đại binh tới đàn áp, Nàng Nước sát cánh chiến dấu liên tục bên cạnh Hai Bà

Trưng, có mặt trận ác chiến Lãng Bạc sau lại có mặt trận ác chiến thứ

hai Cấm Khê Cuối cùng, quân tan yếu Nàng Nước tuẫn tiết với Hai Bà Trưng

Cấm Khê

11 Nàng Quỳnh (hay Quỳnh Nương Công Chúa) Nàng Quế (hay Quế Nương Cơng

Chúa)

Theo thần tích Miếu Cây Quân Miếu Cây Sấu (nay thuộc huyện Chiêm Hố, tỉnh Tun Quang) Nàng Quỳnh Nàng Quế hai chị em sinh đôi, hai khoẻ mạnh xinh

đẹp Lúc mười tuổi, hai chị em giỏi cung kiếm

(31)

Hán, ai chờ có hội thuận tiện để vùng dậy đánh đuổi quân thù Lúc

giờ, quê nhà Nàng Quỳnh Nàng Quế có khởi nghĩa nhỏ

người gái tên Nàng Xuân phát động lãnh đạo Cả hai nàng hăng hái tham gia

cuộc khởi nghĩa

Khi Hai Bà Trưng kêu gọi nhân dân đứng lên đánh đổ quyền Tơ Định, Nàng Xuân

với Nàng Quỳnh Nàng Quế hồ hởi dẫn quân theo Nàng Quỳnh Nàng Quế chiến đấu

rất gan dạ, lập nhiều công lao, Trưng Nữ Vương phong làm Cơng Chúa, Tiên Phong

Phó Tướng (Chánh Tướng lúc Công Chúa Thiều Hoa)

Lúc triều đình nhà Hậu Hán sai Phục Ba Tướng Quân Mã Viện đem đại binh sang đàn áp, với

Công Chúa Thiều Hoa, Nàng Quỳnh Nàng Quế Trưng Nữ Vương giao trách nhiệm

huy lực lượng quân sĩ đánh giặc khu vực Luy Lâu (nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc

Ninh)

Tại đây, cánh quân Nàng Quỳnh Nàng Quế chiến dấu ngoan cường liên tiếp

gây cho Mã Viện tổn thất to lớn Theo lời kể truyền thuyết dân gian sau đó,

Nàng Quỳnh Nàng Quế anh dũng hi sinh chưa rõ vị trí cụ thể

12 Nàng Trăng (hay Nguyệt Điện Công Chúa)

Theo ghi chép của thần tích đền Tây Cốc (nay thuộc huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ) Nàng

Trăng gái đẹp người đẹp nết, khoẻ mạnh linh lợi, võ nghệ cao cường

mưu, thiên hạ khó bì kịp Với người nghèo khổ bị ức hiếp, Nàng Trăng ln sẵn lịng che

chở, với kẻ bất nhân bạc ác, Nàng Trăng khơng dung tha Tuổi cịn trẻ

Nàng Trăng thực chỗ dựa tin cậy dân vùng rộng lớn (Trong tờ thần tích nói

trên, có chỗ chép Nàng Trăng Đàm Ngọc Nga Nhưng họ tên đầy đủ

hậu yêu kính mà tự ý đặt cho)

Bấy giờ, quan đô hộ nhà Hậu Hán Tô Định khét tiếng tham lam tàn bạo, dân khắp cõi

phải chịu cảnh lầm than, Nàng Trăng ngày đêm lo nghĩ cách cứu giúp dân lành Nàng tự

chiêu tập hai trăm tráng sĩ, nơi đâu có tiếng kêu oan nàng có mặt để

trừng trị kẻ ác

Được tin Hai Bà Trưng dựng cờ xướng nghĩa Hát Môn Nàng Trăng liền đem tất tráng sĩ

mình với Hai Bà Nàng Hai Bà tin cậy, phong làm Tiền Đạo Tả Tướng Quân, lại ban cho

hiệu Nguyệt Điện Nàng Trăng đội quân Nàng huy chiến đấu dũng cảm góp

phần to lớn vào thắng lợi chung khởi nghĩa Nhưng tiếc sau ngày đại thắng, Nàng

Trăng lâm bệnh qua đời Để bày tỏ lịng đặc biệt kính trọng thương tiếc không nguôi,

nhân dân địa phương thuộc hai tỉnh Vĩnh Phúc Phú Thọ xây dựng nhiều đền

thờ Nàng Trăng

13 Nàng Xuân (hay Đông Cung Công Chúa)

Theo thần tích đền Kẻ Xoan (nay thuộc tỉnh Phú Thọ) Nàng Xuân vốn gái Châu

Mục châu Đại Man Đất quê hương Bà huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang Bà người có

khi chất mạnh mẽ, giỏi võ nghệ cương trực người

Dưới ách đô hộ tàn bạo Thái Thú Tô Định, Bà người thành lập

dân binh kêu gọi nhân dân vùng dậy đấu tranh Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa, Nàng Xuân

đem tồn lực lượng (trong có hai nữ tướng xuất sắc Nàng Quỳnh Nàng Quế)

theo Nàng Xuân Hai Bà Trưng tin cậy, giao quyền huy lực lượng nghĩa binh đóng

ở khu vực tỉnh Phú Thọ ngày (Nhiều người cho rằng, kiêng kị chữ Xuân - tên Nàng

(32)

Nhờ có nhiều công lao, Nàng Xuân Trưng Nữ Vương phong làm Đông Cung Công Chúa,

chức Nhập Nội Trưởng Quản Quân Cơ Trong trận ác chiến chống đàn áp tàn khốc quân

Mã Viện, Nàng Xuân anh dũng hi sinh khu vực thuộc tỉnh Phú Thọ

14 Ông Cai

Theo thần tích Miếu Mèn (ở làng Nam Nguyễn, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây - tức quê ngoại

Hai Bà Trưng) ơng Cai người đàn ơng mạnh khoẻ, có khí khái, giàu lịng yêu nước

và giỏi võ nghệ Cũng hầu hết người đương thời, ông căm giận quân đô hộ nhà Đông

Hán

Năm 40, nghe tin Hai Bà Trưng truyền hịch kêu gọi nước cầm vũ khí đứng dậy đánh đuổi

Tơ Định, ơng Cai hăng hái tham gia Chính ông tập hợp 300 trai tráng, lập thành

đơn vị có đội ngũ chỉnh tề Nhưng, tự tìm đến đại doanh Hai Bà để liên hệ

trước, thấy từ lãnh tụ đến tướng lĩnh cao cấp đông đảo quân sĩ đàn bà gái, thế,

ơng hạ lệnh cho tất nghĩa dũng phải hóa trang thành gái !

Đội quân ông Cai chiến đấu dũng cảm lập nhiều công lao, nhưng, phải

đến tồn thắng, ơng Cai khai rõ thật đến lúc giờ, Hai Bà Trưng biết

đội quân giả gái Mặc dầu vậy, Trưng Nữ Vương khen ngợi phong cho ông Cai đến

chức Đại Tướng Sau, ông Cai hi sinh chiến đấu chống lực lượng đàn áp Mã

Viện

15 Thánh Thiên Cơng Chúa

Thần tích đình Ngọc Lâm (nay đình thuộc huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang) cho hay :

Thánh Thiên Công Chúa cịn có biệt danh Nàng Chủ Nàng Chủ có cá tính mạnh mẽ

là người có uy, mười sáu tuổi, mồ côi cha lẫn mẹ, dân làng

nể phục, đồng lịng tơn Nàng làm Nữ Chủ tặng cho Nàng biệt danh Nàng Chủ

Bấy giờ, bọn đô hộ Hậu Hán tham tàn, ai căm tức trông chờ có hội vùng

lên diệt thù Hiểu ý nguyện dân, Nàng Chủ thành lập đội quân lớn truyền

hịch khởi nghĩa Quân đô hộ nhiều phen đến đàn áp (trong có lần đích thân Tơ Định

huy) tiêu diệt nghĩa quân Nàng, ngược lại, bị quân sĩ

Nàng đánh cho thất điên bát đảo Bấy giờ, vùng đất rộng lớn, đại thể tương ứng với

tỉnh Bắc Giang phần tỉnh Bắc Ninh ngày Nàng Chủ nắm quyền chi phối

Khi Hai Bà Trưng kêu gọi nhân dân nước vùng lên đánh đuổi Tô Định, Nàng Chủ đem lực

lượng theo về, Hai Bà Trưng mà nhanh chóng trở nên mạnh mẽ

Nàng Chủ Trưng Nữ Vương phong làm Thánh Thiên Công Chúa trao cho nhiều trọng

trách

Truyền thuyết kể rằng, Mã Viện đem đại binh nhà Hậu Hán sang đàn áp, Thánh Thiên

Cơng Chúa chủ động đem lực lượng tiến đến tận Hợp Phố để đánh chặn Mã Viện

thế chịu nhiều tổn thất Sau, Thánh Thiên Công Chúa anh dũng hi sinh chiến đấu

bảo vệ quyền Trưng Nữ Vương Hiện nay, Thánh Thiên Cơng Chúa thờ đình

Ngọc Lâm (Yên Dũng, Bắc Giang)

(33)

Theo thần tích đền Hiền Quan (xã Hiền Quan, huyện Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ) Thiều Hoa

là người sinh trưởng sách Lăng Xương, trấn Hưng Hoá, sau chuyển đến định cư xã Hiền

Quan (Lăng Xương thuộc xã Trung Nghĩa, huyện Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ) Năm mười sáu

tuổi, Thiều Hoa mồ côi cha lẫn mẹ phải chịu cực khổ trăm bề, cơm chẳng no,

áo chẳng bạo lành 1 Ngay từ lúc còn trẻ, Thiếu Hoa đã nổi tiếng gan và rất có tài

săn Nhờ nhà sư tận tâm dạy nên chẳng bao lâu, Thiều Hoa giỏi võ nghệ,

chẳng đủ sức để tự vệ mà cịn có khả cứu giúp người khác Dân làng ai

cũng yêu quý Thiều Hoa

Khi Hai Bà Trưng kêu gọi nước vùng lên Thiều Hoa nhanh chóng tập hợp lực lượng sau

đó hăng hái đem năm trăm nghĩa sĩ theo Hai bà Trưng liễn phong cho Thiều

Hoa làm Tiên Phong Hữu Tướng giao trách nhiệm huy trận đánh định với giặc Luy

Lâu Thiều Hoa lập cơng lớn, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung, lẽ đó, Trưng Nữ Vương phong làm Đông Cung Công Chúa Sau, Thiều Hoa Công Chúa anh dũng hi sinh trận

ác chiến chống đàn áp Mã Viện

-

(1) Bởi lẽ này, đền thờ Thiều Hoa thường có rổ đựng vải vụn, ý muốn nhắc nhở thời gái khốn khổ Thiều Hoa.

III - TRIỆU THỊ TRINH - NỮ DANH TƯỚNG KIỆT XUẤT CỦA SỰ NGHIỆP ĐÁNH ĐUỔI QUÂN NGÔ

Đầu voi phất cờ vàng

Sơn thôn cõi chiến tràng xông pha Chông gai một sơn hà

Dù chiến tử còn hiển linh

(Đại Nam quốc sử diễn ca)

1 NHỮNG TRANG BI THƯƠNG MỚI CỦA LỊCH SỬ

Sau thất bại Trưng Nữ Vương, trả thù đẫm máu chưa thấy diễn

khắp cõi, đặc biệt khu vực quận Giao Chỉ Hàng vạn người bị giết bị bỏ đày viễn xứ

Chính sử Trung Quốc cơng khai thừa nhận tội ác :

- Chỉ tính riêng quận Cửu Chân, nơi cách xa trung tâm khởi nghĩa Hai Bà Trưng,

Mã Viện giết đến 5.000 người

- Hơn 300 tuỳ tướng Hai Bà Trưng bị Mã Viện bắt đày sang tận Linh Lăng1

Việc trả thù tàn bạo cịn kéo dài nhiều năm sau Khơng khí nghi kị chết chóc bao trùm

lên khắp miền đất nước Bấy giờ, nhà Hậu Hán tâm xoá dư âm quyền lực đội

ngũ quý tộc lạc cũ cách đưa người Trung Quốc sang nắm giữ quyền đến tận cấp

huyện bãi bỏ hoàn toàn quy định cũ việc dùng Lạc Tướng trông coi huyện Chế

độ trực trị hà khắc quan lại nhà Hậu Hán nhanh chóng thiết lập khẳng định Trong

điều kiện khó khăn chồng chất vậy, phong trào đấu tranh nhân dân địa phương

thuộc quận Giao Chỉ cũ buộc phải tạm thời lắng xuống, nhưng, thay vào trỗi dậy

mạnh mẽ phong trào khu vực phía Nam mà đặc biệt quận Nhật Nam Theo ghi

chép sử Trung Quốc2 tính riêng kỉ II, vùng Nhật Nam liên tiếp bị

chấn động dội vùng dậy có quy mô lớn sau :

(34)

Chính quyền hộ nhà Hậu Hán phải huy động đông đảo quân sĩ quận huyện khác tới đàn áp lâu dập tắt

- Năm 136 : dân Tượng Lâm mà đông đảo người Chăm lại tề dậy, đánh cho

bọn quan lại đô hộ nhà Hậu Hán phen thất điên bát đảo

- Năm 137 : Một bạo động lớn nhân dân quận Nhật Nam nổ Nhiều quan lại đô

hộ nhà Hậu Hán bị giết chết, Thứ Sử Phàn Diễn phải huy động đến 10.000 quân đàn

áp liên tiếp năm trời Cuộc bạo động khiến cho triều đình Hán Thuận Đế

phải hốt hoảng3

- Năm 144 : ủng hộ nhân dân quận Cửu Chân, nhân dân quận Nhật Nam lại lên,

tấn công vào tất trị sở bọn đô hộ Một lần nữa, nhà Hậu Hán phải dùng nhiều thủ đoạn

xảo quyệt khác đè bẹp

- Năm 190 : Dưới lãnh đạo Khu Liên 4, dân vùng Tượng Lâm quận Nhật Nam (mà chủ

yếu người Chăm) tổ chức khởi nghĩa lớn Họ giết Thứ Sử nhà Hậu

Hán Chu Phù bọn quan lại nhà Hậu Hán huyện Năm 192, Khu Liên lên làm vua,

vương quốc người Chăm 5được dựng lên kể từ đó.

Như nói, từ kỉ II, tức kể từ thời trị Hán Hồn Đế (146 -167) trở đi,

sự nhà Hậu Hán ngày rối ren Sang thời Hán Linh Đế (168 -189), nguy sụp đổ hoàn

toàn nhà Hậu Hán thể ngày rõ Bọn hoạn quan bọn quyền thần (mà

đứng đầu Đống Trác) hoành hành Tháng 10-220, Hán Hiến Đế bị giết, nhà Hậu Hán

đến cáo chung Trung Quốc lâm vào thời kì hỗn chiến loạn lạc nghiêm trọng, sử

gọi thời Tam Quốc Đây thời tranh hùng liệt ba tập đoàn lớn :

1 Ngô tức Đông Ngô (222-280) : Tôn Quyền (tức Ngô Đại Đế) dựng lên Nước Ngô

của họ Tôn tồn trước sau tổng cộng 58 năm, truyền nối đời Lãnh thổ nước Ngơ

phía Đơng Nam Trung Quốc Kinh đô ban đầu nước Ngô Vĩnh Xương, sau chuyển

Kiến Nghiệp (nay Nam Kinh Trung Quốc)

2 Thục (221-263) : Lưu Bị (tức Thục Chiêu Liệt Đế) dựng lên với lãnh thổ chủ yếu vùng Tứ

Xuyên Trung Quốc ngày Kinh đô nước Thục Thành Đơ (ở phía Bắc Tứ Xun)

Nước Thục họ Lưu tồn trước sau tổng cộng 42 năm, truyền nối hai đời

3 Ngụy (220-265) : Tào Phi (tức Ngụy Văn Đế) dựng lên Lãnh thổ nước Ngụy toàn

khu vực rộng lớn phía Bắc Trung Quốc Kinh đô nước Ngụy Lạc Dương Nước Nguy

họ Tào tồn trước sau tổng cộng 45 năm, truyền nối đời

Trong số ba nước tranh hùng thời Tam Quốc, nhà Ngô thay nhà Hậu Hán đô hộ nước

ta Để có đủ sức người sức cung đốn cho hỗn chiến tàn khốc này, nhà Ngô tiến

hành bóc lột nhân dân ta tệ chưa thấy.Trong ngàn năm nước, không

triều đại phong kiến Trung Quốc để lại dấu ấn đô hộ tàn bạo đến mức khủng khiếp nhà

Ngô Cho nên tâm khảm bất diệt tất hệ nhân dân ta, nói đến giặc phương

Bắc căm giận mà gọi giặc Ngơ, hãn tràn sang

xâm lược nước ta, quốc hiệu chúng

Đối với đất Giao Châu đánh giá chung quyền nhà Ngơ "đất rộng, người đơng, hình

thế hiểm trở độc hại, dân xứ thường hay làm loạn, khó cai trị", cho nên, sách bao

trùm nhà Ngơ phải “dùng binh uy để ức hiếp" Bởi sách bao trùm này, nhà Ngô

bắt hàng ngàn đinh tráng nước ta, đem xích lại dẫn sang đất Ngơ để bắt làm lính chiến

Chính sử Trung Quốc phải thừa nhận : "Giặc Ngơ hình bạo ngược, thứ

(35)

Thời bị nhà Ngô thống trị thời bi thương dân tộc ta, thời nhân dân ta bị thống trị khắc

nghiệt bị vơ vét tham tàn, thời kẻ thù thắng tay đàn áp cách đẫm máu, thời nặng nề

không khí chết chóc điêu linh Nhưng nhìn góc độ khác hơn, thời thuộc Ngơ

là thời tầng lớp nhân dân ta anh dũng vùng lên, thời ngân vang khúc tráng ca đánh giặc cứu nước

Trong lịch sử đấu tranh chống ách đô hộ giành độc lập cho nước nhà, đỉnh cao

kỉ I khu vực Giao Chỉ đỉnh cao kỉ II vùng Nhật Nam, đỉnh cao kỉ III lại

là quận Cửu Chân Thực ra, từ cuối kỉ II, nhân dân Cửu Chân phối hợp

chặt chẽ với nhân dân Nhật Nam đấu tranh chống ách thống tri nhà Hậu Hán

Chính họ góp phần khơng nhỏ vào q trình tạo lập nên vương quốc người Chăm (năm

192) Tuy nhiên, chói lọi kỉ III khởi nghĩa trung tâm quận Cửu Chân

Triệu Thị Trinh phát động lãnh đạo

-

(1) Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.

(2) Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.

(3) Hán Thuận Đế (125- 144) Hoàng Đế thứ nhà Hậu Hán Theo ghi chép Phạm Việp (Trung Quốc) HẬU HÁN THƯ giờ,

Hán Thuận Đế phải triệu tất Công, Khanh trăm quan họp để bàn kế sách ứng phó Nhiều người đề nghị phải huy động 40.000 quân tinh nhuệ đàn áp mong bình định được, Đại Tướng Lý Cố đưa lí khơng nên đem đại quân đi, theo Lý Cố "Nay Nhật Nam quân ít, lương cạn, giữ chẳng mà đánh chẳng xong", cho nên, tốt phải dùng kể kết hợp dụ dỗ,

mua chuộc với li gián “Phải chiêu mộ dân Man làm lính để chúng tự đánh lẫn Ta nên chở vàng lụa tới cấp cho chúng Kẻ làm kế

phản gián, lấy đầu giặc nên phong cho tước Hầu cắt đất mà thưởng cho" Rốt cuộc, Hán Thuận Đế nghe theo kế hoạch hiểm độc Lý Cố.

(4) Trong thư tịch cổ, Khu Liên có chép Khu Quỳ, Khu Đạt hay Khu Vương Có lẽ tương tự Hùng Vương lịch sử người Việt Khu Liên tên người mà phiên âm Hán Việt từkurung (trong số ngơn ngữ có vùng Đơng Nam

Á, kurung có nghĩa tộc trưởng hay người đứng đầu) Về lên gọi vương quốc Khu Liên lập nên, thư tịch cổ Trung Quốc chép Lâm

Ấp.Lịch Đạo Nguyên (Trung Quốc) trongTHUỶ KINH CHÚ giải thích Lâm Ấp Tượng Lâm, sau bỏ chữTượngđi mà gọi Lâm

Ấp Tuy nhiên, có ý kiến cho hai chữ Lâm Ấp phiên âm tên tộc người, tộc Krom hay Prum - tộc người chủ yếu

bộ lạc Dừa.

(5) Trong cộng đồng 54 dân lộc anh em Việt Nam, có dân tộc Chăm với nhóm (đó : Chăm Bà-la-môn, Chăm Ba-ni, Chăm Islam và Chăm Hơ-roi) mà địa bàn cư trú chủ yếu vùng Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây

Ninh An Giang

(6) Trần Thọ (Trung Quốc) :TAM QUỐC CHÍ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.

2 HUYỀN THOẠI VỀ TUỔI TRẺ CỦA TRIỆU THỊ TRINH

Khác với Hai Bà Trưng, Triệu Thị Trinh thuộc hệ người có họ - họ Triệu Triệu Thị

Trinh (cịn có tên gọi khác Triệu Trinh Nương, Nàng Trinh Bà Triệu) sinh

trưởng làng Cẩm Trướng, huyện Quân Yên (cũng tức huyện Quan Yên), quận Cửu Chân

Vào thời nhà Nguyễn, làng Cẩm Trướng thuộc xã Cẩm Trướng (cịn có tên khác xã Cẩm Cầu)

huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hố Ngày nay, làng thuộc xã Định Cơng, huyện Yên Định, tỉnh

Thanh Hoá Theo truyền thuyết Bà sinh ngày 2-10-226 Quê hương Bà Triệu

quê hương hai anh em Khương Công Phụ Khương Cơng Phục , người có công

khai mạch đại khoa Nho học cho Thanh Hố nói riêng nước nói chung 1 Bà Triệu năm 248, 22 tuổi Triệu Thị Trinh em gái Huyện Lệnh Triệu Quốc Đạt, cha mẹ chẳng

may qua đời sớm nên Triệu Thị Trinh với anh trai Trước dựng cờ khởi nghĩa Bà Triệu có

đến ba tiếng

Một tiếng xinh đẹp, một vẻ đẹp kiêu sa thánh thiện Đương thời ai thấy Triệu Trinh Nương xinh đẹp, nói :"Đẹp làm vợ quan để trở bà bà nọ, ấm thân đời chứ" Nhưng Triệu Trinh Nương

chẳng khơng thèm làm vợ quan mà cịn khảng khái để lại cho đời câu nói đầy khí

anh hùng : "Tơi muốn cưỡi gió mạnh, đạp sóng dữ, chém cá tràng kình ngồi biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, cởi ách nô lệ cho nhân dân không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta"2 Tuy nhiên, thư tịch cổ Trung Quốc (và một số thư tịch cổ ta đã chép lại mà không cân nhắc) dung nhan Bà Triệu mơ tả có phần khác Điều

(36)

Hai là, tiếng can đảm mưu trí người Truyền thuyết dân gian kể rằng, vùng

Cẩm Trướng hồi có voi trắng ngà dữ, lại phá hoại mùa

màng, ai phải sợ Để trừ mối hại cho dân, Bà Triệu rủ chúng bạn vây bắt voi

trắng ngà Bà lùa voi xuống vùng đầm lầy dũng cảm nhảy lên đầu voi, sau kiên

nhẫn tìm cách khuất phục Con voi trắng ngà khét tiếng rốt phải

ngoan ngoãn theo lời Bà sau trở thành người bạn chiến đấu thân cận trung thành Bà

Ba tiếng thẳng thắn không dung tha kẻ xấu Truyền thuyết dân gian

Bà Triệu vùng Thanh Hoá kể rằng, chị dâu Bà Triệu (vợ Triệu Quốc Đạt) người phụ

nữ lăng loàn 3, bởi vậy, Bà Triệu tức giận, giết chết chị dâu riêng tại rừng Bồ Điền,

khu rừng sau đổi rừng Phú Điền (nay thuộc làng Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc,

tỉnh Thanh Hố)4 Đây nơi Bà Triệu tụ họp nghĩa quân phát động chiến

đấu một với quyền hộ nhà Ngơ

Khi Bà Triệu bước vào tuổi xuân hỗn chiến Tam Quốc (Ngô, Thục Ngụy)

đang hồi liệt Để giữ vững tương quan lực với hai nước lại, đặc biệt

để tạo may làm thay đổi cục diện theo hướng ngày có lợi cho mình, nhà Ngơ

đã tìm đủ cách để vơ vét sức người sức vùng đất mà chúng nắm quyền

cai trị Mâu thuẫn xã hội bên toàn thể nhân dân Âu Lạc bị nước bị thống trị tàn

bạo với bên quyền đô hộ nhà Ngô ngày trở nên gay gắt Nhân lòng căm

phẫn nhân dân nhân hội trung tâm phong trào đấu tranh chống nhà Hán

chuyển dịch dần Cửu Chân, từ đất quê hương mình, Bà Triệu phát động lãnh đạo

một khởi nghĩa lớn

-

(1) Cả hai anh em Khương Công Phụ Khương Công Phục đỗ Tiên Sĩ thời Đường Đức Tông (779- 805) Hai anh em sang Trung Quốc, dốc chí học tập thi đỗ Tiến Sĩ Đây hai người Việt đỗ Tiến Sĩ đầu tiên, đỗ giáo dục thi cử Nho học nước ta chưa khai sinh.

(2) Truyền thuyết Bà Triệu vùng Thanh Hoá ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ (Thanh Hố tỉnh - tập hạ) chép tương tự.

(3) Cũng có truyền thuyết nói rằng, chị dâu Bà Triệu kẻ phản bội mật báo cho quân Ngô biết kế hoạch chuẩn bị khởi nghĩa

của hai anh em Triệu Quốc Đạt Triệu Thị Trinh Triệu Quốc Đạt bị giết Triệu Thị Trinh Trước đến Phú Điền, Triệu Thị Trinh giết chết chị dâu để cảnh cáo tất kẻ ni lịng phản trắc.

(4) Bởi lẽ nhiều người lầm tưởng sinh quán Bà Triệu Đó chưa nói rằng, huyện Ninh Hoá (cũng tức Yên Hoá) huyện Gia

Viễn, tỉnh Ninh Bình có đền thờ Bà Triệu nên thư tịch cổ có lúc nhầm tưởng quê hương Bà Triệu.

3 VUNG GƯƠM RA TRẬN

Truyền thuyết dân gian vùng huyện Hậu Lộc (tỉnh Thanh Hố) có chuyện Núi đá biết nói

độc đáo, theo vào đêm vắng nọ, triền đá núi Tùng Phú Điền có

tiếng dõng dạc cất lên :

Có Bà Triệu tướng,

Vâng mệnh trời ta.

Trị voi ngà, Dựng cờ mở nước.

Lệnh truyền sau trước,

Theo gót Bà Vương.

Người người nghe lời ấy, tin đá núi Tùng biết nói Lời đá núi

coi lời sấm ngôn, lời thiêng liêng chuyển tải mệnh trời, Bà Triệu Thiên Tướng giáng trần,

là người tay huy trăm họ vùng dậy cứu nước cứu dân Bởi niềm tin sâu sắc ấy, nhân

dân khắp nơi nườm nượp kéo theo với Bà Triệu Núi Tùng từ trở thành nơi tụ nghĩa

và đến sau thiên hạ vỡ lẽ rằng, trước thức phát động khởi nghĩa, Bà Triệu bí mật sai người thân tín leo lên núi Tùng, khoét đá thành hang nhân đêm tối, nấp kín

trong hang đá mà đọc thật to câu sấm ngơn nói 1 Đặt bối cảnh chung thời cổ

(37)

bí nhằm tập hợp cố kết lực lượng điều thường thấy Cách làm Bà Triệu

một thông lệ thường thấy Tất nhiên, mưu tạo kiện đầy vẻ

huyền bí, dù hồn hảo đầy sức thuyết phục đến đâu thay cho q trình

xây dựng uy tín tự thân hồn tồn có thật Bà Triệu Nhân dân khắp cõi đương thời đến với

Bà Triệu trước hết chủ yếu uy tín tự thân hồn tồn có thật Bà

Phần lớn thư tịch cố nói tồn cơng lao chuẩn bị phát động lãnh đạo

cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ nhà Ngô vào năm 248 Bà Triệu, nhưng, có vài

truyền thuyết dân gian số thư tịch cổ lại nói Bà Triệu thực người kế tục

nghiệp dở dang anh trai Bà - Huyện Lệnh Triệu Quốc Đạt Tài liệu thư tịch, ghi chép điều

này rõ có lẽ Quốc Sử Qn triều Nguyễn Theo :"Khi ta nội thuộc nhà Ngô, các quan Thú mục phần nhiều lo bóc lột, dân khơng chịu nổi, (Triệu) Quốc Đạt

liền binh chống lại Được lâu, ơng mất, dân chúng thấy Bà người có tướng tài, tơn Bà

làm Chúa để cầm cự với quân Ngô." 2 Song, cứ lời kể hầu hết truyền thuyết dân gian thì

rất Triệu Quốc Đạt khơng phải người khởi xướng ông người ủng hộ

một cách đắc lực đầy hiệu tinh thần lẫn vật chất cho em gái chiến

đấu chống quân Ngô Và, ông qua đời trước khởi nghĩa phát triển đến đỉnh cao

Năm 248, từ chân núi Tùng khu vực Phú Điền (nay thuộc xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh

Thanh Hoá), Bà Triệu hạ lệnh xuất quân, loạt công liệt vào lị sở quân

Ngô quận Cửu Chân Đời truyền : "Bà Triệu trận, chân guốc ngà, đầu đội nón ngà,

lưng thắt dải lụa, ngực che yếm vàng, cưỡi bành voi, dáng mạo thật oai phong lẫm liệt."3 Bà Triệu nghĩa sĩ đồng lịng tơn làm Nhụy Kiều Tướng Quân 4 Và thề cùng Bà chiến đấu đến với quân Ngô

Nghe tin Bà Triệu dựng cờ xướng nghĩa đông đảo nhân dân khắp địa phương mà trước

hết quận Cửu Chân nô nức xin theo Đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ sức lực tài

nghệ có cao thấp khác tất lòng đánh giặc cứu nước Lực lượng

nghĩa quân Bà Triệu mà phát triển nhanh Ca dao Thanh Hố có câu :

Ru con, ngủ cho lành

Để mẹ gánh nước rửa bành voi Muôn coi lên núi mà coi, Coi Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng.

Túi gấm cho lẫn túi hồng,.

Têm trầu cánh kiến cho chồng quân.

Khu vực núi Tùng nhanh chóng trở thành đại doanh nghĩa quân Bà Triệu Dưới chân

núi Tùng thung lũng nhỏ, bao bọc dải núi đá vôi thấp Đây cửa ngõ phía Bắc

của đồng Thanh Hố, lại nằm gần biển nên có vị trí thuận tiện cho phòng thủ lẫn

lúc tổ chức phản công Hiện thung lũng nhỏ chân núi Tùng cịn có địa danh :

- Đồng Vườn Hoa(đại doanh Bà Triệu)

- Đồng Xoắn Ốc (một thành kiên cố huy nghĩa quân)

- Đồng Lăng Chúa (nơi có mộ Bà Triệu)

Sát bên núi Tùng núi Chung Chinh, dấu tích cịn lại nơi mờ nhạt

nhưng người ta cịn sơ hình dung vị trí bảy đồn luỹ cổ mà nhân dân địa

phương cho lực lượng nghĩa quân Bà Triệu xây dựng nên Tại bảy đồn luỹ cổ này, đời truyền

rằng Bà Triệu trực tiếp huy ba chục trận ác chiến với giặc Ngơ Đây

một địa phương truyền tụng nhiều truyền thuyết Bà Triệu Trước Bà

Triệu phát lệnh khởi nghĩa, kẻ đứng đầu quyền hộ nhà Ngô nước ta Thứ Sử Lữ

(38)

mưu kế vỗ về", tin cậy đánh giá cao, nên phong cho Lữ Đại làm Trấn Nam Tướng

Quân, tước Phiên Ngung Hầu5 Nhưng, guồng máy thống trị Lữ Đại cầm dầu chẳng làm

dược ngồi tàn ác Lữ Đại trở thành kẻ thù không đội trời chung tầng lớp nhân dân

ta, thành đối tượng tiêu diệt Bà Triệu

Bởi thực lo sợ, giặc dã tung toàn lực lượng ạt đánh mạnh vào quận Cửu Chân với hi

vọng nhanh chóng đè bẹp nghĩa quân Bà Triệu, dù cố mình,

chúng khơng thể thực dược điều Để chia rẽ nghĩa quân, giặc xảo quyệt

phong cho Bà Triệu đến chức Lệ Hải Bà Vương (nữ vương xinh đẹp vùng ven biển), song, Bà không chút xao động Để mua chuộc Bà Triệu, giặc bí mật sai tay chân thân tín tới gặp

hứa cung cấp cho Bà thật nhiều tiền bạc, song, Bà chẳng chút tơ hào Sau nửa năm

trời trực tiếp đối địch nửa năm trời liên tiếp chịu nhiều thất bại đau đớn, nghe

tới việc phải đàn áp Bà Triệu binh lính giặc lại lo lắng đến bạt vía kinh hồn Bởi vậy, đương

thời có thơ :

Hoành qua đương hổ dị,

Đối diện Bà Vương nan.

Nghĩa :

Vung gươm đánh cọp xem dễ,

Đối mặt Bà Vương khó sao.

Bùng lên trước hết chủ yếu khu vực quận Cửu Chân ảnh hưởng mạnh mẽ

to lớn khởi nghĩa Bà Triệu lại nhanh chóng lan rộng khắp Giao Châu,

sử Trung Quốc thừa nhận : "Cả Giao Châu chấn động"6 Bấy giờ, triều đình Ngơ

Đại Đế lấy việc Giao Châu làm mối lo hàng đầu Một kế hoạch đàn áp có quy mơ lớn,

quyết tâm bình định Giao Châu gấp rút xây dựng.Thử thách nghĩa quân Bà Triệu

thế mà trở nên cam go

-

(1) Truyền thuyết có lẽ người đời sau hư cấu nên, cốt để cắt nghĩa nhân dân khắp nơi lại nơ nức tụ họp với với Bà Triệu nhanh

đông Thực tế Bà Vương hay Lệ Hải Bà Vương tước hiệu mà nhà Ngô dùng để mua chuộc Bà Triệu sau nhiều lên đàn áp bất thành chứ có thời kì Bà Triệu cịn chuẩn bị khởi nghĩa.

(2) ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ (Thanh Hoá tỉnh Tập hạ) Tác giả xin thích thêm quan Thú mục tức quan lại đứng đầu địa phương cấp quận.

(3) Truyền thuyết dân gian Bà Triệu vùng Thanh Hố

(4) Cũng có tài liệu nói tên gọi Nhuỵ Kiều Tướng Quân (vị nữ tướng quân đẹp yêu kiều) quan Ngô đặt cho Bà Triệu, nhưng, số

tài liệu chiếm tỉ lệ ít.

(5) Dẫn ý từ ghi chép ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 3-b) (6) Trần Thọ (Trung Quốc) : TAM QUỐC CHÍ (Ngơ chí).

4 NGÀN NĂM, THANH KIẾM DÀI CÙNG MẶT TRỜI SÁNG MÃI

Xin mượn lời dịch câu thơ chữ Hán Thiên thu trường kiếm nhật quang1làm tiêu đề

cho đoạn kết phần viết Bà Triệu - người phụ nữ lập nên huân nghiệp lịch sử

nước nhà Mặt Trời Mặt Trăng còn, giang sơn dân tộc cịn tên tuổi bất khuất

và gươm đúc chí đại định Bà Triệu toả sáng

Nhưng, trước bàn đoạn kết đời Bà Triệu, có lẽ cần trở lại với thực

trạng nhà Ngô chiến đấu khu vực núi Tùng kỉ III Bấy giờ, nguy sụp

đổ hồn tồn quyền hộ xuất ngày rõ điều xảy ra, nhà Ngơ

thật khó tồn trước công hai kẻ thù Thục Ngụy Xuất phát từ

nhận thức Ngơ Đại Đế buộc phải điều viên tướng thuộc hàng lừng danh đàn

(39)

Binh qua trải nhiêu ngày, Mới sai Lục Dân sang thay phiên thần 2

Lục Dận cháu tướng Lục Tốn - viên lão tướng Ngô Đại Đế tin cậy Trước lên

đường, Lục Dận dược Ngô Đại Đế phong làm Thứ Sử Giao Châu, hàm An Nam Hiệu Uý Nhà Ngô

giao cho Lục Dận 8.000 quân nhiều tuỳ tướng trải thử thách nhiều lần xuất trận

khác Đó cố gắng cuối cùng, cố gắng cao chúng Đến Giao Châu, Lục

Dận quyền thống lãnh tất lực lượng qn Ngơ có mặt từ trước tham gia

những đàn áp nghĩa quân Bà Triệu Đến Giao Châu, Lục Dận có hai định hệ

trọng Một tiếp tục thực mưu đồ mua chuộc, đối tượng Bà Triệu

mà đội ngũ tì tướng, người huy đơn vị nhỏ lực lượng bà Triệu Lục Dận

đã lập luận rằng, chúng mua chuộc người tài cao đức trọng

như Bà Triệu Nhưng, Bà Triệu trở nên hùng mạnh chung quanh Bà quyền Bà

cịn có biết người khác mà nhìn chung khả nhận thức chưa thể sánh với Bà Mua chuộc người chặt đứt dần vây cánh Bà Triệu

đẩy Bà Triệu vào cơ, đến đó, Bà Triệu khơng cịn đối thủ đáng sợ Đời truyền rằng,

bởi thủ đoạn xảo quyệt này, Lục Dận khuất phục hàng trăm tì tướng Bà Triệu

ngót năm vạn dân Hai bình tĩnh bí mật cho quân thám để điều tra cho mặt

mạnh mặt yếu Bà Triệu, tức theo tinh thần lời dạy binh pháp Trung Quốc cổ

:"Tri bỉ, tri kỉ, bách chiến bách thắng" (biết người, biết ta, trăm trận trăm thắng) 3 Và, sờ

những tin tức mà chúng cất công thu lượm được, kết luận cuối Lục Dận Bà Triệu

là "ái khiết, ơ" (thích sẽ, lịch lãm nhã nhặn, ghét bẩn thỉu, vô lễ khiếm nhã)

Từ kết luận cuối này, Lục Dận tổ chức đàn áp theo kiểu nham nhở chưa thấy Sử cũ

chép :"Lục Dận dị biết đặc tính Bà Triệu ưa ghét bẩn thỉu, bên nghĩ

một kế cho hạ lệnh xuất quân Khi Bà Triệu cưỡi voi vung gươm trận thấy tất qn Ngơ trần truồng mà cầm giáo xơng thẳng phía Bà, chẳng khác lũ điên cuồng

rồ dại Bà Triệu thẹn chín người, căm tức Bà đành phải lui quân

ngọn núi khác khu vực Bồ Điền Sau, Bà hoá Năm Bà 23 tuổi "4

Nói khác hơn, theo lời ghi chép Bà Triệu thua trận giữ duyên

đằm thắm, hiền thục nết na người gái, giặc Ngô thắng tiếng xấu

nham nhở cịn với muôn đời Tiếng xấu trở nên nặng nề sau đó, để thoả

lịng căm giận, giặc khơng ngừng tìm cách bơi nhọ Bà Triệu Chúng gọi Bà Triệu là Triệu Ẩu Trong tiếng Việt cổ, nếu Dạ từ dùng để người phụ nữ lớn tuổi mà kính trọng,

ngược lại, Ẩu từ dùng để người gái trẻ tuổi mà bị coi thường

Trong nhiều thư tịch cổ Trung Quốc (và sau vài thư tịch cổ ta chép

lại), Bà Triệu có chân dung khác thường : "Tiếng nói nghe tiếng chng lớn, thân

cao chín thước, vú dài ba thước, lưng rộng mười ôm, ngày nhanh 500 dặm"5

Thực ra, tổng số huyền thoại người phụ nữ có lực hành trạng khác thường

trong kho tàng văn học dân gian khơng phải ít, truy tận nguyên tất

cả huyễn thoại góp phần chứng tỏ bất lực hoàn toàn giai cấp thống trị tàn

bạo trước sức mạnh phản kháng liệt xã hội người phụ nữ cầm đầu

Huyền thoại li kì Bà Triệu có lẽ nằm xu hướng phản ánh tận nguyên rõ

ràng

Trái với ghi chép thư tịch cổ, chân dung Bà Triệu tình cảm nồng hậu hệ

nhân dân ta thể qua truyền thuyết dân gian, có vẻ đẹp thánh thiện mà thật

đoan trang, thuỳ mị với người dũng mãnh với kẻ thù thật xứng đáng với

vinh hiệu Nhụy Kiều Tướng Quân Lúc giờ, dù xuất phát điểm qn Ngơ có chứa chất

lừa mị xảo quyệt đến mức độ chúng hoàn toàn

định sử dụng mĩ hiệu Lệ Hải đặt trước tước vị Bà Vương để phong cho Bà

(40)

về tổng thể rõ ràng Quốc Sử Quán triều Nguyễn hoàn tồn có lí hạ bút viết Lời phê

rằng : "Con gái nước ta có nhiều người hùng dũng lạ thường Bà Triệu Ẩu thật xứng người sánh

vai với Hai Bà Trưng Xem há có phải Trung Quốc có đàn bà danh tiếng

chuyện Thành Phu Nhân Nương Tử Quân mà Bắc sử chép đâu Nhưng, nói vú dài ba

thước thật quái gở đáng buồn cười lắm."6

Ở khu vực núi Tùng, mộ Bà Triệu đời nối đời trân trọng gìn giữ, đền thờ Bà Triệu

đã gần hai chục kỉ qua nghi ngút khói hương Tên tuổi nghiệp Bà Triệu trở

nên bất diệt với vạn cổ thử giang sơn (muôn đời sông núi này) 7 mãi toả sáng sử sách kí ức hệ nhân dân yêu nước :

Tùng sơn nắng quyện mây trời,

Dấu chân Bà Triệu rạng ngời sử xanh.

-

(1) Nguyên tác Hán văn tác giả VỊNH SỬ

(2) Lê Ngơ Cát - Phạm Đình Tối : ĐẠI NAM QUỐC SỬ DIỄN CA Tác giả xin thích thêm : thay phiên thần thay quan đô hộ,

chỉ việc Ngô Đại Đế cách chức Thứ Sử Giao Châu Lữ Đại mà trao chức cho Lục Dận.

(3) Tôn T (Trung Quốc) :TÔN TỬ BINH PHÁP (4)ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ (Thanh Hố tỉnh, Tập hạ).

(5) ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ (Thanh Hố tỉnh, Tập hạ).

(6) KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC(Tiền biên, 3, tờ 9) Tác giả xin thích thêm : Theo TỪ HẢI TỪ ĐIỂN (Trung Quốc) Thành Phu Nhân vinh hiệu dân khu vực thành Tương Dương đặt cho bà Hàn Thị thân mẫu tướng quân Chu

Tự, người Trung Quốc đời Tấn (265-420) Bà tự vạch kế hoạch trực tiếp huy thực việc tu bổ thành, giúp đánh lui dược tướng giặc Phù Phi, giữ vững thành Tương Dương.Nương Tử Qn vinh hiệu Cơng Chúa Bình Dương, gái Đường Cao Tổ (618

-626) Lúc Đường Cao Tổ khởi binh chống lại nhà Tuỳ, Bình Dương Cơng Chúa với chồng Sài Thiệu, chiêu mộ trực tiếp cầm quân giúp cha đánh đổ nhà Tuỳ Riêng bà thủ lĩnh vạn tinh binh Vì lẽ này, Bình Dương Công Chúa sử sách Trung Quốc tặng cho vinh hiệu

Nương Tử Quân

(7) Chữ Trần Quang Khải cảm khái ông viết sau trận đại thắng quân Mông Nguyên xâm lược nước ta lần thứ hai (1285).

IV - DANH TƯỚNG LÝ BƠN - VỊ HỒNG ĐẾ ĐẦU TIÊN CỦA LỊCH SỬ, NGƯỜI KHAI SINH RA NƯỚC VẠN XUÂN

Cứu dân đã quyết lời thề

Văn thần võ tướng ứng kì đều ra Tiêu Tư nghe gió chạy xa

Đơng Tây mn dặm quan hà quét Vạn Xuân đặt quốc danh

Cải nguyên Thiên Đức, đô thành Long Biên

(Đại Nam quốc sử diễn ca)

1 TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC TỪ SAU THẤT BẠI CỦA BÀ TRIỆU ĐẾN GIỮA THẾ KỈ VI

Nhà Ngô đàn áp lực lượng nghĩa binh Bà Triệu sau đó,

nhà Ngô bắt đầu rối ren Năm 252 (tức năm sau Bà Triệu qua đời) Ngô Đại Đế

cũng mất1 Con út Ngô Đại Đế Tôn Lượng (tức Ngô Cối Kê) 2được lên nối

được năm bị phế Tơn Lượng phẫn chí mà tự tử Thay cho Tôn Lượng Tôn Hưu3 (tức

Ngô Cảnh Đế) Tôn Hưu bọn quyền thần mà cầm đầu Thừa

Tướng Tơn Sâm Đời trị thứ tư (cũng đời cuối nhà Ngô) - Ngô Mạt Đế - cịn

hư vị Nhà Ngơ tiếp tục tồn năm 280 nhà Ngơ mạnh mà

cả ba nước tham gia hỗn chiến Tam Quốc liệt đương thời hoàn toàn kiệt

quệ bị diệt vong 4 Nền thống Trung Quốc thời nhà Tấn thực

rất tạm bợ mong manh Nội chiến không bị dập tắt mà liên tiếp bùng

nổ dội khắp nơi, sử sách Trung Quốc gọi là thời Thập Lục Quốc 5, thời

(41)

ách đô hộ triều đại phong kiến Trung Quốc nước ta có phần nới lởng Ở

sự nới lỏng quan đầu não bọn hộ triều đình trung ương trải hàng

loạt xung đột ác liệt triền miên không cịn đủ tiềm lực để hăng

trước

Để tránh loạn lạc tham tàn tập đoàn thống trị đương thời, người Trung Quốc

thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác tự tìm đường di cư đến nước ta ngày đông Qua

họ, tin tức bất ổn Trung Quốc (nhất là thời Thập Lục Quốc) dồn dập truyền đến

với bọn quan qn hộ điều góp phần quan trọng vào q trình thúc giục

chúng thực kế sách xoa dịu nhằm dễ bễ tiến hành việc xây dựng mưu đồ cát Một số nhà

sử học gọi là lực li tâm trị Các quyền hộ trước sau có khác

tất gặp ý định khơn khéo tìm cách tách dần khỏi triều đình trung ương để mặc

sức tự tung tự tác thủ lợi cho riêng thân Nói cách khác, chúng có phần nới tay khơng phải

vì chúng dưng trở nên nhân đức mà tự xét thấy có lí chủ quan khiến

chúng chưa cần thiết (và chưa thể) xiết chặt Tuy tất phần

cội nguồn lắng dịu tạm thời phong trào đấu tranh giành độc lập từ sau thất bại

Bà Triệu (năm 248) gần kỉ VI có lẽ Nhưng, quân cướp nước

cũng quân cướp nước số hồn cảnh đặc biệt đó, chúng tạm thời từ

bỏ số tham vọng định đó, ngoại trừ sách vơ vét cải thẳng tay đàn áp

mọi phản kháng Đó lí chủ yếu sâu xa dẫn đến bột phát số

phong trào đấu tranh đương thời

Bấy giờ, khắp ba quận Nhật Nam, Cửu Chân Giao Chỉ, vùng dậy nhân dân

vẫn tiếp tục nổ nhìn chung quy mô không lớn ảnh hưởng không mạnh mẽ

Đó chưa nói rằng, đặc trưng chống đối quyền phong kiến Trung Quốc hộ

trong giai đoạn lịch sử cụ thể phong phú đa dạng, việc nghiên cứu để xác định

cho thật tính chất phong trào dễ dàng Tuy nhiên, lần theo

những trang ghi chép thư tịch cổ, kể tên số khởi nghĩa tương đối

nổi bật sau :

Khởi nghĩa Lữ Hưng năm 262, chống ách đô hộ nhà Ngô Khởi nghĩa Triệu Chỉ năm 299 chống ách đô hộ nhà Tấn

Cuộc phản kháng Lương Thạc từ năm 317 đến năm 323 triều đình nhà Tấn

Cuộc cơng vào quyền hộ Giao Châu năm 411 huy Lư Tuần (vốn

là thủ lĩnh khởi nghĩa Trung Quốc, thua trận chạy sang Giao Châu) đông đảo

nhân dân Giao Châu ủng hộ

Cuộc công vào quyền hộ Giao Châu năm 412 huy Lư Kinh Đạo

(vốn thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân Trung Quốc, thua trận mà chạy sang Giao

Châu) nhân dân Giao Châu ủng hộ mạnh mẽ

Cuộc khởi nghĩa năm 468 Thứ Sử Giao Châu (người địa) Lý Trường Nhân

cầm đầu

Chi li ra, tiếp tục kể thêm số khởi nghĩa phong

trào đấu tranh khác, nói, tất có quy mơ nhỏ, phạm vi mức độ

ảnh hưởng chừng mực Điều đáng ý có lẽ đỉnh cao phong trào

đấu tranh giành độc lập có xu hướng chuyển dịch dần quận Giao Chỉ phía Bắc Đó

là tảng thuận lợi cho nảy sinh khởi nghĩa lớn Lý Bôn cầm đầu, nổ

vào kỉ VI

(42)

(1) Ngô Đại Đế tên thật Tôn Quyền (182-252), Vương năm (221-228), ngơi Hồng Đế 23 năm (229-252), năm 252, hưởng thọ 70

tuổi.

(2) Tôn Lượng (243-260), lên lúc 11 tuổi, Vương năm (252-258), bị quyền thần Thừa Tướng Tơn Sâm phế truất, phẫn chí mà tự tử vào năm 260, hưởng dương 17 tuổi

(3) Tôn Hưu (235-264), trai thứ sáu Tôn Quyền anh ruột Tôn Lượng Tôn Hưu năm (258-264), năm 264, hưởng dương 29 tuổi.

(4) Nước Ngụy họ Tào thành lập năm 220, bị diệt vong vào năm 265 Nước Thục họ Lưu thành lập năm 221, bị diệt vong vào năm 263.

(5) Thời Thập Lục quốc thời tồn tranh giành 16 nước Gồm có : Tiền Triệu (304-329); Thành Hán (304-347); Tiền Lương

(314-376); Hậu Triệu (319-351); Tiền Yên (337-370); Tiền Tần (350-394); Hậu Tần (384-417); Hậu Yên (384-407); Tây Tần (385 -431); 10 Hậu Lương (386-403); 11 Nam Lương (397-414); 12 Nam Yên (398-410); 13 Tây Lương (400-421); 14 Hạ (407-431); 15 Bắc Yên (407-436); 16 Bắc Lương (401-439) Nói khác hơn, nhà Tấn nước lớn số nhiều nước Trung Quốc lúc mà thôi

(6) Cục diện Nam - Bắc Triều năm 420 kết thúc vào năm 581.Nam Triều gồm triều bốn dòng họ nối trị

họTống(của họ Lưu : 420-479), T (của họ Tiêu : 479-502),Lương (cũng họ Tiêu khác chi : 502-557) Trần (của họ Tơn : 557 -589) Bắc Triều gồm có tất triều năm dịng họ nối trị Cụ thể sau :Bắc Ngụy(của họ Thát-bạt : 386-534), Đông Ngụy (của

họ Nguyên : 534-550), Tây Ngụy (cũng họ Thát-bạt : 534-557), Bắc Tề (của họ Cao : 550-577) Bắc Chu (của họ Vũ : 557-581) Thời

Nam-Bắc Triều, triều Nam Triều (trừ triều Trần) đô hộ nước ta.

2 ĐƠI DỊNG VỀ TIỂU SỬ CỦA LÝ BƠN TRƯỚC NGÀY KHỞI NGHĨA

Tác phẩm lịch sử sử học Việt Nam chép Lý Bôn ĐẠI VIỆT SỬ LƯỢC1nhưng tác phẩm chép Lý Bơn vỏn vẹn có dịng sơ sài Lý Bôn chép Nguyễn

Bôn 2 Như cố gắng bù đắp đầy thiện chí và chân tình, tác giả bộĐẠI VIỆT SỬ

KÍ TỒN THƯ dành hẳn kỉ (Tiền Lý kỉ - kỉ nhà Tiền Lý) để chép Tiền Lý Nam Đế tức

Lý Bôn Về nguồn gốc xuất thân Lý Bôn, sách viết : "Hồng Đế họ Lý, h Bơn, người

Long Hưng, tổ tiên người Bắc, cuối thời Tây Hán khổ nạn đánh dẹp nên lánh sang đất

phương Nam, đời thành người Nam"3 Theo lời ghi chép Long Hưng quê

hương Lý Bôn, nhưng, Long Hưng thuộc vùng ? Điểm lại cơng trình

cơng bố, chúng tơi thấy có hai cách lí giải khác nhau, đó, có cách lí giải hồn tồn

sai Hai cách khác :

- Cách thứ nhất cho Long Hưng tên phủ, dựa theo ghi chép của VIỆT ĐIỆN U

LINH 4 một số nhà nghiên cứu nói rõ thêm rằng quê Lý Bơn thuộc huyện Thái Bình, phủ Long

Hưng, từ suy ra, quê hương Lý Bơn thuộc tỉnh Thái Bình Những người giải thích theo

cách dựa vào khác, hai làng Tử Các Các Đơng (huyện Thái Thuỵ, tỉnh

Thái Bình) 5 có lập đền thờ Lý Bơn Xin nói cách giải thích này hồn tồn sai huyện Thái Bình xưa khơng phải tỉnh Thái Bình ngày Vả chăng, hai làng Tử Các Các Đông

hai làng lập, đất hai làng thời Lý Bơn biển, khơng thể có dân nên khơng thể nói q Lý Bơn

- Cách thứ hai vào câu ghi chép trong GIẢ ĐẠM KÍ : "Từ An Nam (Tống

Bình - Hà Nội) qua Giao Ch (Từ Liêm- Hồi Đức), Thái Bình, 100 dặm đến Phong

Châu" những người chủ xướng khẳng định "Vậy, Thái Bình thuộc đất Sơn Tây cũ" 6 Về

bản, đồng ý với cách lí giải thứ hai, nhiên, xin bổ sung thêm số tư liệu mà

chúng tơi khai thác Theo chúng tơi thời Bắc thuộc, việc dựa vào thư tịch cổ

Trung Quốc để xem xét vấn đề cần thiết, tinh thần đó,

chúng tơi xin giới thiệu thêm số tư liệu địa lí học lịch sử có nguồn gốc từ thư tịch cổ

Trung Quốc Việt Nam sau :

- VIỆT ĐIỆN U LINH viết Lý Bơn q Thái Bình (Thái Bình nhân) khơng viết

ở huyện Thái Bình (Thái Bình huyện nhân) lời lí giải hai cách nói trên Trong TÂN

ĐƯỜNG THƯ, Âu Dương Tu Tống Kỳ (Trung Quốc) có nói đến thành cũ có tên

thành Thái Bình, theo thành nằm địa phận huyện Phong Khê Huyện

được thành lập vào đầu Công nguyên, sở chia đặt lại huyện Tây Vu7 Như là thành cũ

Thái Bình địa phận huyện Phong Khê (mới tách từ huyện Tây Vu) khác hẳn với Thái

Bình tên số 10 huyện quận Giao Chỉ thời thuộc Hán8 Sau phân tích thêm ghi chép số thư tịch cổ Trung Quốc, cho rằng, đất đai huyện Thái Bình xưa

(43)

- Sau Ngơ Quyền (năm 944), quyền trung ương họ Ngô bị khủng hoảng nghiêm

trọng, lực địa phương nhân lên khắp nơi, đất nước lâm vào cảnh nội chiến loạn li

chưa thấy Bấy giờ, nước có 12 Sứ quân (sử gọi loạn 12 Sứ quân) số 12

Sứ quân Nguyễn Khoan Sứ quân Nguyễn Khoan xưng Nguyễn Thái Bình nhiều nhà

nghiên cứu cho rằng, Thái Bình tên thành cũ Thái Bình nói Xưa, việc

lấy tên quê làm hiệu cho tượng phổ biến Nay xã Minh Tân, huyện Mê Linh,

tỉnh Vĩnh Phúc9 vẫn còn đền thờ Sứ quân Nguyễn Khoan Ắt hẳn Sứ quân Nguyễn Khoan

đúng Thái Bình nhân, tức đồng hương với Lý Bôn Thực ra, Sứ quân

Nguyễn Khoan thờ làng Vĩnh Mỗ (nay thuộc xã Cao Xá, huyện Phong Châu, tỉnh Phú

Thọ) khu chủ yếu Sứ quân Nguyễn Khoan quê hương

của ông

-

(1) Cũng tức VIỆT SỬ LƯỢC - tác phẩm khuyết danh Xin vui lòng tham khảo dịch củaNguyễn Gia Tườngdo Nguyễn Khắc Thuần hiệu đính viết lời bạt Nxb Tp Hồ Chí Minh 1992.

(2) Do viết vào thời Trần nên ĐẠI VIỆT SỬ LƯỢC nhiều tác phẩm đương thời khác tuân theo điền lệ riêng nhà Trần đổi

tất người họ Lý thành họ Nguyễn.

(3) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, Tiền Lý kỉ, 4, tờ 14-b) Tác giả xin thích thêm vấn đề Một để phân biệt với nhân

vật Lý Phật Tử người lợi dụng hôn nhân để lật đổ quyền Triệu Việt Vương (tức Triệu Quang Phục) giành quyền đứng đầu nhà nước

Vạn Xuân cuối kỉ VI, thư tịch cổ thường gọi Lý Bôn Tiền Lý Nam Đế Lý Phật Tử Hậu Lý Nam Đế Hai Hán tự, chữBơn đọc , Lý Bơn nhiều người đọc Lý Bí Ba khái niệm người Bắc dùng để người Trung Quốc, người Nam

người Việt Bốn thời Tây Hán năm 206 TCN chấm dứt vào năm 08, tồn trước sau tổng cộng 214 năm với 13 đời nối trị (4) Triệu Việt Vương Lý Nam Đế truyện (truyện Triệu Việt Vương Lý Nam Đế) Tác phẩm coi Lý Tế Xuyên Về vấn đề

này, xin vui lòng tham khảo thêm Nguyễn Khắc Thuần - ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ VĂN HOÁ VIỆT NAM (tập 1), Nxb Giáo dục 2004.

(5) Theo ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ(Nam Định tỉnh) vào thời Nguyễn xã Hậu Tái (huyện Thư Trì) xã Tử Đường (huyện Thụy

Anh)

(6) Phan Huy Lê- Trần Quốc Vượng-Hà Văn Tấn-Lương Ninh : LỊCH SỬ VIỆT NAM, tập 1, Nxb Đại học Trung học chuyên nghiệp Hà Nội 1983 Trang 404-405

(7) Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ (Mã Viện truyện) chép rằng, Mã Viện tâu xin triều đình Hán Quang Vũ (25-57) chia đất

huyện Tây Vu làm hai huyện Vọng Hải Phong Khê (8 Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ Sách dẫn.

(9) Xã thời Nguyễn thuộc làng Vĩnh Mộ, huyện Vĩnh Lạc, trấn Sơn Tây.

Nói dịng họ Lý Bơn"được đời thành người Nam" có đến ba thực tế đáng lưu ý Một

chưa thấy tài liệu nói Lý Bơn nhận người phương Bắc Hai thư tịch cổ

của Trung Quốc 1đều gọi Lý Bôn là“Giao Châu thổ nhân"(người đất Giao Châu) là “Giao

Châu thổ hào" (hào trưởng đất Giao Châu) Và thứ ba, quan trọng chỗ Lý Bôn

cống hiến tất đời nghiệp cho chiến đấu một cịn độc

lập tự chủ nước Nam Đầu mùa xuân năm 544, thân việc ông xưng Lý Nam Đế

đã tự chứng tỏ rõ điều

Thời Lý Bơn thời tập đồn phong kiến thống trị Trung Quốc sức xâu xé lẫn nhau, cục

diện Nam-Bắc Triềuđang giai đoạn liệt Bấy giờ, quyền Nam Triều trực

tiếp đô hộ nước ta nhà Lương (502-557) Lương Vũ Đế (502-549) 2chính cha đẻ của chế độ

sĩ tộc rất khắc nghiệt, theo dân khắp thiên hạ chia thành hai tầng lớp có địa vị

rất khác biệt Thứ danh gia vọng tộc - xếp vào tầng lớp thượng

lưu nắm quyền điều khiển vận mệnh xã hội Thứ hai hàn môn - gồm tất

người, giàu nghèo, biết gia tộc họ khơng có xếp vào hàng tiên

hiền Chế độ sĩ tộc loại bỏ người thực giàu tài khỏi guồng

máy nhà nước đương thời họ không thuộc tầng lớp danh gia vọng tộc Bản thân Lý Bôn dù

xuất thân hào trưởng có uy tín có ảnh hưởng xã hội lớn, tổ tiên bảy

đời trước lại người Trung Quốc, bị coi dân hàn môn nên bổ làm Giám Quân

ở châu Cửu Đức Bấy giờ, Giám Quân chức nhỏ, trông coi việc cấp phát lương ăn cho

quân đội châu Cửu Đức vùng Hà Tĩnh ngày 3, châu vừa xa lại vừa nhỏ, cho

nên, chức Giám Quân châu Cửu Đức sánh với chức Giám Quân châu khác

Chán nản với bất công căm ghét tàn bạo nhà Lương, Lý Bôn từ quan trở vế

quê nhà ông âm thầm chuẩn bị cho khởi nghĩa lớn

3 CHIÊU TẬP HÀO KIỆT BỐN PHƯƠNG

(44)

quy tụ cho bậc anh hùng hào kiệt khắp thiên hạ Nhận thức cách

đầy đủ sâu sắc điều này, sau từ bỏ chức Giám Quân Cửu Đức trở nguyên

quán, Lý Bôn ngày đêm bí mật chiêu tập đấng anh tài ơng thành công Dưới

một vài nhân vật tiêu biểu :

- Triệu Quang Thành, Triệu Túc Triệu Quang Phục Theo truyền thuyết dân gian vùng Phú

Thọ Vĩnh Phúc Triệu Quang Thành anh Triệu Túc Triệu Túc thân sinh

Triệu Quang Phục Sử cũ cho biết :"Triệu Túc Tù Trưởng huyện Chu Diên” 4 Cả ba người

của gia đình họ Triệu đồng lịng sát cánh với Lý Bôn dựng cờ xướng nghĩa Về sau, nghiệp

của nhân vật Triệu Quang Thành chưa rõ hai cha Triệu Túc

nhờ lập nhiều công lao nên Triệu Túc Lý Bơn phong làm Thái Phó cịn Triệu Quang

Phục Phong tới chức Tả Tướng Quân

- Tinh Thiều người đồng hương Lý Bôn Sử cũ viết : “ Tinh Thiều giỏi từ chương, tự

mình tìm đến kinh (nhà Lương) ứng thí để xin làm quan Lại Bộ Thượng Thư nhà Lương

Sài Tốn cho họ Tinh trước chưa có hiển đạt nên bổ cho Tinh Thiều chức

Quảng Dương Môn Lang(người gác cổng Quảng Dương - NKT).Tinh Thiều lấy làm nhục, trở

về làng theo Hồng Đế (chỉ Lý Bơn - NKT) mưu việc dấy binh." 5 Tinh Thiều

chỗ dựa tin cậy Lý Bôn, sau, nhờ lập nhiều công lao, ông Lý Bôn phong tới

chức Thái Sư

- Phạm Tu : theo thần tích đền Thanh Liệt ơng người xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì (Hà

Nội), sinh năm 481, năm 545, hưởng thọ 64 tuổi Phạm Tu võ tướng xuất

sắc Lý Bôn Khi khởi nghĩa thành công, ông Lý Bôn phong làm Thái Uý với

Triệu Túc trơng coi việc binh

Có mặt bên cạnh Lý Bôn buổi đầu q trình chuẩn bị cịn có nhiễu bậc hào kiệt

khác, nhưng, tiêu biểu cả, gắn bó chặt chẽ lập nhiễu công lao

gương mặt tiêu biểu vừa kể Họ vừa bạn chiến đấu, vừa bề trung thành Lý

Bôn Cuộc đời nghiệp họ góp phần làm rạng rỡ trang sử ngoan cường bất

khuất dân tộc ta thời Bắc thuộc

-

(1) Ví dụ :Diêu Tư Liêm - LƯƠNG THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán;Diêu Tư Liêm - TRẦN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.

(2) Lương Vũ Đế (Hoàng Đế nhà Lương), tên thật Tiêu Diễn, sinh năm 464, năm 549, hưởng thọ 85 tuổi.

(3) Có lẽ sinh thời, Lý Bơn (tức Lý Bí) giữ chức Giám Qn nên dân Hà Tĩnh đến huý chữ, họ thường gọi bí qu

(tức bầu), bí đỏ gọi quả bù r.

(4) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TOÀN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 15-a) Tác giả xin thích thêm : đất Chu Diên từ thời thuộc Lương đến thời

thuộc Tuỳ tương ứng với vùng Hải Dương Hưng Yên nay.

(5) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 15-a) Tác giả xin thích thêm rằng, kinh nhà Lương Kiến Khang,

thuộc thành phố Nam Kinh (tỉnh Giang Tô) Trung Quốc.

4 VÙNG LÊN KHUẤY NƯỚC CHỌC TRỜI

Bấy giờ, quan đô hộ cao nhà Lương nước ta (Thứ Sử Giao Châu) Tiêu Tư Do xuất

thân từ hoàng tộc nhà Lương1, Tiêu Tư cậy và sức ức hiếp dân lành Sử cũ ghi rõ : “Thứ Sử Giao Châu - Vũ Lâm Hầu Tiêu Tư - hà khắc tàn bạo nên để hết lòng

người” 2 Về khách quan, là một điều kiện thuận lợi, khiến Lý Bơn

triệt để tận dụng, nhanh chóng tập hợp lực lượng thực thành công kế hoạch khởi nghĩa

của

Sau thời gian âm thầm chuẩn bị công phu đặc biệt sau đông đảo

bậc anh hùng hào kiệt bốn phương dốc lòng ủng hộ, tháng chạp năm Tân Dậu (tức tháng

năm 542 tính theo dương lịch), từ q nhà mình, Lý Bơn khảng khái kêu gọi nước đồng

tâm hiệp lực đâu tranh chống ách đô hộ nhà Lương Lời kêu gọi Lý Bôn nhanh

(45)

sử Trung Quốc chép : “Lý Bôn liên kết với hào kiệt châu làm phản"3 Tất nhiên,

qua lăng kính sử gia Trung Quốc Lý Bơn bị coi “làm phản", ngược lại, từ sâu thẳm

cõi lòng đầy ắp ngưỡng mộ hệ nhân dân yêu nước thực

vùng lên khuấy nước chọc trời Lý Bôn khởi xướng lãnh đạo

Chỉ vòng ba tháng (từ tháng đến tháng năm 542) toàn chính.quyền hộ nhà

Lương khắp Giao Châu bị sụp đổ Thứ Sử Giao Châu, tước Vũ Lâm Hầu Tiêu Tư vội vã

đem thật nhiều vàng bạc nạp cho Lý Bôn hoảng hốt chạy Việt Châu (phía bắc

Hợp Phố - Trung Quốc) Trị sở quyền hộ nhà Lương Long Biên nhanh chóng thuộc

về nghĩa quân Lý Bôn Sau lật nhào quyền hộ, nghĩa qn Lý Bơn cịn tiếp tục anh

dũng chiến đấu giành hai thắng lợi làm phía Bắc phía Nam

Chủ động đánh vào Hợp Phố, đập tan quân đàn áp nhà Lương

Được tin cấp báo Tiêu Tư, triều đình Lương Vũ Đế (502- 549) lo sợ phải đến

gần năm sau, Lương Vũ Đế lấy lại bình tĩnh để tổ chức phản công Một kế hoạch

điều binh khiển tướng có quy mơ lớn thơng qua, theo huy thực kế

hoạch gồm có :

- Thứ Sử Cao Châu Tôn Quýnh

- Thứ Sứ Tân Châu Lư Tử Hùng

Ngồi hai viên Thứ Sử Tơn Qnh Lư Tử Hùng nói trên, hai tơn thất khác nhà Lương

Tiêu Tư (Thứ Sử Giao Châu vừa thua trận chạy về) Tiêu Ánh (Thứ Sử Quảng Châu)

góp phần đắc lực vào q trình chuẩn bị Nhưng, Tơn Qnh Lư Tử Hùng sợ oai danh

của Lý Bôn nên dùng dằng không chịu xuất quân Cuối cùng, chịu

đựng thúc ép Tiêu Ánh nên Tôn Quýnh Lư Tử Hùng định đem đại binh

đàn áp Lý Bôn vào tháng năm 543

Giặc chần chờ lo lắng Lý Bơn lực lượng nghĩa sĩ ông lại chủ động dũng

cảm nhiêu Đầu năm 543, giặc chưa kịp khỏi lãnh thổ nhà Lương Lý Bơn bất

ngờ cho quân tràn lên, ạt đánh thẳng vào đại binh Tôn Quýnh Lư Tứ Hùng Hợp Phố

Ngay trận đọ sức này, Tôn Quýnh Lư Tử Hùng bị đại bại, quân sĩ “mười phần

chết đến bảy tám phần"4 Tôn Quýnh Lư Tử Hùng phải đem tàn quân tháo chạy Quảng

Châu Tiêu Tư nhân dâng sớ triều đình Lương Vũ Đế tâu bọn Tôn Quýnh Lư Tử

Hùng “ngầm liên hệ với giặc nên dùng dằng không dám tiến quân" 4 Lương Vũ Đế xuống

chiếu buộc Tôn Quýnh Lư Tử Hùng phải chết

Chủ động cho quân bất ngờ công ạt vào Hợp Phố định táo bạo Lý Bôn

Tự thân định phản ánh rõ nhạy bén Lý Bơn khả phân tích

đánh giá tình tiềm lực thực đối phương Cuộc công vào thẳng đất giặc

Hợp Phố chứng tỏ lực đốn sắc bén xác, niềm tự tin

mãnh liệt Lý Bôn Từ khói lửa hào quang chiến thắng công này,

tiễn lệ lịch sử có ý nghĩa thiết thực lớn lao hình thành Hơn năm kỉ sau (cuối năm

1075), trước dũng mãnh đem quân Đại Việt công vũ bão vào Châu Ung, Châu Khâm

và Châu Liêm (ba quân lớn nằm sâu lãnh thổ nhà Tống)5 rồi giành thắng lợi

rất vang dội đây, danh tướng Lý Thường Kiệt bao phen suy gẫm tiền lệ

rất tốt đẹp Nhờ thắng lợi công vào Hợp Phố, biên giới mặt Bắc kể

tạm n, Lý Bơn có thêm điều kiện thuận lợi để thực tiếp nhiệm vụ

-

(1) Trong thời Nam - Bắc Triều, họ Lương dịng họ lớn lực Đại diện dòng họ Tiêu Tiêu Đạo Thành (tức Tề Cao Đế : 479-482) thành lập Tề (479-502) - triều đại thứ hai Nam Triều Tuy trực hệ người khai sinh nhà

(46)

(2) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 15-a) Trong LƯƠNG THƯ TRẦN THƯ (Súc Ấn Bách Nạp Thương Vụ ấn Thư Quán); Diêu Tư Liêm (Trung Quốc) viết tương tự vậy.

(3)Diêu Tư Liêm : LƯƠNG THƯ Súc Ấn Bách Nạp Thương Vụ Ấn Thư Quán

(4) Diêu Tư Liêm : LƯƠNG THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.

(5) Về vấn đề này, xin vui lòng tham khảo thêm : Nguyễn Khắc Thuần - DANH TƯỚNG VIỆT NAM (Tập Nxb Giáo dục 1997 Sách

tái lần thứ bảy).

Quét sạch quân Champa xâm lấn phía Nam

Thành lập từ năm 192, đến đây, vương quốc người Chăm có lịch sử kéo dài gần

kỉ, với nhiều biến đổi lớn lao lãnh thổ, dân số lẫn quốc hiệu Lúc giờ, có

vài chuyển dịch định nhìn chung, biên giới cực Bắc Champa1là Hoành Sơn2

Điều đáng nói vương triều Champa thường cho quân vượt dãy Hoành Sơn để thực

những cướp bóc Tháng năm 543, nhân thấy quyền hộ nhà Lương sụp đổ cịn

chính quyền Lý Bơn chưa kịp định hình, Champa liền tổ chức cơng có

quy mơ lớn vào châu Cửu Đức 3 Trước tình hình đó, Lý Bơn liền cử tướng Phạm Tu đem quân vào Nam Chỉ trận chớp nhống, tồn lực lượng qn Champa bị Phạm Tu quét

sạch khỏi bờ cõi Trong thời gian lâu dài sau đó, Champa không dám đưa quân đến

quấy rối

Thắng lợi mặt trận phía Nam có ý nghĩa lớn lao Từ đây, hai mặt Bắc Nam

được tạm ổn Từ đây, độc lập tái lập Cũng từ đây, Lý Bôn người bạn chiến

đấu thân thiết ơng có đủ điều kiện thuận lợi để thành lập

chính quyền riêng

5 NƯỚC VẠN XUÂN

“Mùa xuân, tháng giêng, (Lý Bôn) nhân thắng giặc lên ngôi, xưng Nam Việt Đế, đặt

niên hiệu, lập bá quan, lấy quốc hiệu Vạn Xuân (ý mong cho xã tắc truyền đến muôn đời vậy)

Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội, lấy Triệu Túc làm Thái Phó, bọn Tinh Thiều Phạm Tu làm tướng văn, tướng võ” 4 Câu ghi chép của sử cũ ngắn gọn lại hàm chứa

những ý nghĩa lớn lao nội dung chưa có lịch sử Xin giải

thêm câu ghi chép ngắn ngủi sau :

- “Mùa xuân, tháng giêng” mùa xuân tháng giêng năm Giáp Tí, tức năm 544 Nếu tính

theo dương lịch tháng năm 544

- “Nam Việt Đế”, nghĩa Hoàng Đế Nam Việt Ở đây, Nam Việt quốc hiệu mà

chỉ cách nói hàm ý đối trọng với Bắc Đế (là Hoàng Đế phương Bắc mà cụ thể lúc

Lương Vũ Đế) Bản thânĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ trước viết Nam Việt Đếnhư vừa

trích dẫn viết rõ Lý Bôn xưng Lý Nam Đế (quyển 4, tờ 14-b) Với kiện

này, Lý Bôn người lịch sử nước ta xưng Đế Trong nhiều dịch

trong cách diễn đạt phổ biến nay, thường dùng chữ Vua nhưng thực khơng

phải lúc dùng chữ Vua được Với tất xưng Vương (như An

Dương Vương chẳng hạn) phải dịch là Vua cịn những xưng Đế phải dịch

là Hồng Đế Trong thực tế lịch sử Đế hoặcHồng Đế có vị trí cao hẳn Vương Vua

Hồng Đế có quyền phong cho nhiều người làm Vua, ngược lại Vua phải chịu chiếu

chỉ Hồng Đế khơng có quyền phong cho làm Hoàng Đế Lý Nam Đế danh

xưng kết tinh niềm kiêu hãnh niềm tự tôn mãnh liệt dân tộc ta Sự phân định rạch ròi

về phạm vi quyền lực Bắc Đế với Nam Đế vấn đề hệ trọng lịch

sử Chẳng phải ngẫu nhiên mà vào tháng năm 1077, lúc diễn biến trận chiến

chiến lược Như Nguyệt vào thời điểm gay go ác liệt nhất, Lý Thường Kiệt khảng khái

viết : Nam quốc sơn hà, Nam Đế cư (sơng núi nước Nam, Hồng Đế nước Nam ở) 5

- Quốc hiệu Vạn Xuân Lý Nam Đế đặt giản dị lại đồng thời chứa đựng

ba giá trị nhân văn sâu sắc Thứ nhất, quốc hiệu hoàn tồn mới, vừa thể ý chí xố

(47)

trang sử cho đất nước Thứ hai, tự thân hai chữVạn Xuân đã kết tinh khát vọng thái

bình cháy bỏng tồn thể nhân dân ta - khát vọng đáng vậy, phải

được trân trọng Thứ ba, hai chữ Vạn Xuân có hàm chứa niềm tự tơn kín đáo

rất tế nhị, không xúc phạm tới dân tộc hay khối cộng đồng

-

(1) Theo tác giả củaLỊCH SỬ VIỆT NAM (Tập 1983 Sách dẫn), văn bia Sambhuvarman tài liệu ghi rõ quốc hiệu Champa nhưng lại không cho biết quốc hiệu bắt đầu sử dụng từ lúc Tuy nhiên, vào phổ hệ Phạm Vương đượcDiêu Tư Liêm (Trung Quốc) ghi trongLƯƠNG THƯ(sách dẫn) ước đốn quốc hiệu Champa xuất khoảng từ sau năm 541

đến trước năm 629 Ở sử dụng quốc hiệu Champa ước lệ, dùng để vương quốc người Chăm.

(2) Hoành Sơn (dãy núi nằm ngang) ranh giới tự nhiên hai tỉnh Quảng Bình Hà Tĩnhh Trên dãy Hồnh Sơn có Đèo Ngang, đèo từng Bà Huyện Thanh Quan nói đến thơQua Đèo Ngangrất tiếng Bà

(3) Châu Cửu Đức tương ứng với địa hạt tỉnh Hà Tĩnh.

(4) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 15-b)

(5) Câu này, tất sách giáo khoa xã hội xưa vốn quen sử dụng lời dịch : “Sông núi nước Nam, vua Nam ở”; xin

dịch lại cho : “Sông núi nước Nam, Nam Đế ở”

Cũng sau lên ngơi Hồng Đế, Lý Nam Đế đặt niên hiệu Thiên Đức1 Đây chi

tiết quan trọng thời có quan niệm riêng độc lập Xưa, nói tới độc lập

là nói đến ba yếu tố Một phải có khu vực lãnh thổ riêng mang tên gọi

riêng (tức quốc hiệu) hay chưa Hai khu vực lãnh thổ mang tên gọi riêng có Hồng

Đế hay chưa Và, ba Hoàng Đế niên hiệu hay chưa Lúc giờ, quốc hiệu ta Vạn

Xuân, Hoàng Đế ta Lý Nam Đế niên hiệu ta Thiên Đức Về niên hiệu,

xin nêu định nghĩa vắn tắt sau : Niên hiệu hiệu năm Hoàng Đế đặt

để người ta vào mà tính thời gian Mỗi Hồng Đế đặt từ đến nhiều niên hiệu

khác nhau Xưa, sử chép việc theo niên hiệu, tên năm theo âm lịch có ý nghĩa

phụ thêm, vậy, muốn tìm hiểu cổ học phải nắm vững hệ thống niên hiệu2 Ví dụ : thấy sử chép năm Hồng Đức thứ bảy thì phải hiểu năm 1476,

thấy chuông đúc vào năm Cảnh Hưng thứ mười phải hiểu năm

1749 Có niên hiệu riêng nghĩa ta có hẳn mạch tính thời gian riêng, biệt lập với phương

Bắc

- Về kinh đô nước Vạn Xuân,ĐẠI NAM QUỐC SỬ DIỄN CA khẳng định Long Biên Tại

đây, Lý Nam Đế cho xây ba cơng trình lớn, : đài Vạn Xuân, điện Vạn Thọ chùa Khai

Quốc Đài Vạn Xn khơng cịn sử gia Quốc Sử Quán Triều Nguyễn

từng có Lời chua rằng : "Theo sách THÁI BÌNH HỒN VŨ KÍcủa Nhạc Sử triều Tống

huyện Long Biên có đài Vạn Xuân Đài Lý Bôn Giao Chỉ xây năm Đại Đồng triều Lương

Nay xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì có hồ Vạn Xn, gọi đầm Vạn Phúc Vậy, đài Vạn

Xuân có lẽ đấy"3 Tương tự như đài Vạn Xuân, điện Vạn Thọ khơng cịn nữa, nhiên,

phần lớn nhà nghiên cứu cho điện Vạn Thọ toạ lạc khu vực gần cửa sông Tô Lịch

(tức thuộc phạm vi Thành phố Hà Nội ngày nay) Điện Vạn Thọ địa điểm làm việc

của triều đình Lý Nam Đế

Khác với đài Vạn Xuân điện Vạn Thọ, có trải nhiều lần trùng tu, tơn tạo chuyển dịch

nhưng chùa Khai Quốc ngày Chùa Khai Quốc lúc đầu xây thôn Yên Hoa

(nằm dọc theo đường Yên Phụ ngày nay) Dưới thời Lê Thái Tông (1433-1442), chùa Khai Quốc

được đổi tên chùa An Quốc Đến thời Lê Kính Tơng (1599-1619), chùa An Quốc lại đổi tên

là chùa Trấn Quốc Bấy giờ, chùa Trấn Quốc toạ lạc bên bãi sông Cái, nơi đất ln bị sạt

lở, dời gò Kim Ngư bên bờ Hồ Tây, tức vị trí

Gò Kim Ngư thắng cảnh bờ Hồ Tây có đầu liền với đường Thanh

Niên (quận Ba Đình, Hà Nội) Chùa Khai Quốc xưa (tức chùa Trấn Quốc nay) toạ lạc gị

Kim Ngư ngơi chùa tiếng nước Việc Lý Nam Đế cho xây chùa

Khai Quốc vừa lên tỏ rõ Phật giáo đương thời có vị trí quan trọng

trong đời sống tư tướng xã hội ta

-

(48)

(2) Tất niên hiệu có lịch sử Việt Nam chúng tơi giới thiệu đầy đủ cuốnTHẾ THỨ CÁC TRIỀU VUA VIỆT NAM Nxb Giáo dục 1993 Sách tái tới lần thứ chín Tương tự vậy, tất niên hiệu có lịch sử Trung Quốc giới

thiệu đầy đủ cuốnCÁC ĐỜI ĐẾ VƯƠNG TRUNG QUỐC Nxb Giáo dục 2002 Sách tái lần thứ nhất.

(3) KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên, 4, tờ 3) Tác giả xin thích thêm Đại Đồng niên hiệu

của Lương Vũ Đế (502-549) Trong thời gian 47 năm ngôi, Lương Vũ Đế sử dụng tất niên hiệu khác mà Đại Đồng niên hiệu thứ năm, dùng từ năm 535 đến năm 546.

6 NỖI ĐAU THẤT TRẬN Ở ĐIỂN TRIỆT

Tháng năm 545 (tính theo âm lịch), triều đình nhà Lương định huy động đại binh sang

đàn áp Lý Nam Đế Tổng huy lực lượng nhà Lương lần tướng Dương Phiêu1

Trước xuất quân, Dương Phiêu triều đình Lương Vũ Đế phong làm Thứ Sử Giao

Châu điều có nghĩa thắng trận, Dương Phiêu nắm quyền đứng đầu quyền

đô hộ nước Vạn Xuân Trong huy Nam chinh này, ngồi Dương Phiêu cịn có hai

nhân vật cao cấp khác Tư mã Trần Bá Tiên Thứ sử Định Châu Tiêu Bột

Trần Bá Tiên xuất thân “hàn môn”, lúc đầu không tin dùng sau nhờ lập

được nhiều công lao đánh dẹp Quảng Châu, lại tự gây dựng đội quân riêng đông

đến ba ngàn người nên đến đâu triều đình Lương Vũ Đế chiếu cố Hắn

phong làm Thái Thú Vũ Bình kiêm giữ chức Tư Mã Giao Châu

Tiêu Bột xuất thân từ hồng tộc nhà Lương, thích hưởng thụ mà ghét khó nhọc, lại

biết quân sĩ quyền sợ đánh xa nên tìm đủ cách để ngăn cản bớt

hung hăng Dương Phiêu Nhưng trái ngược hẳn với Tiêu Bột, Trần Bá Tiên lại sức thúc

giục Dương Phiêu phải hành quân thật gấp đàn áp cho lực lượng Lý

Nam Đế Hắn nói : “Giao Châu làm phản, nguyên tội lỗi người tôn thất(chỉ

bạo ngược Tiêu Tư - người hoàng tộc nhà Lương - NKT), làm cho cả châu bị

hỗn loạn mà trốn tội đến năm Giờ đây, Thứ sử Định Châu (là Tiêu Bột)

chỉ muốn tạm yên trước mắt, không nghĩ đến kế lớn dài lâu Tiết hạ (chỉ Dương Phiêu - NKT) nhận chiếu đánh kẻ có tội, phải nên liều mạng sống, nên dùng dằng Nếu

không chịu tiến qn há ni dưỡng mạnh cho giặc hay sao”2 Dương Phiêu liền cho Trần Bá Tiên làm tướng tiên phong cầm qn trước cịn đem đại binh sau

Trận đọ sức Trần Bá Tiên với Lý Nam Đế diễn thành Tô Lịch3. Đây

thành xây đất, gia cố thêm luỹ tre, nằm khu vực cửa sông Tô Lịch Trong

trận ác chiến kéo dài tháng trời thành Tô Lịch, đại tướng Phạm Tu anh dũng hi

sinh 4 Thấy tình thế bất lợi, Lý Nam Đế liền lui quân Gia Ninh 5 Tại đây, lực lượng Lý

Nam Đế chiến đấu ngoan cường liên tục nửa năm (từ tháng năm 545 đến

tháng năm 546) địch quân sĩ Trần Bá Tiên lúc

bừng bừng nhuệ khí Đã thế, quân Dương Phiêu kéo đến phối hợp với Trần Bá

Tiên Ngày 25 tháng năm Bính Dần (546), giặc chiếm thành Gia Ninh 6

Sau Gia Ninh thất thủ, Lý Nam Đế lui binh Tân Xương7, dựa vào núi rừng hiểm trở

giúp đỡ nhân dân vùng để tìm cách khơi phục lại lực lượng Chưa đầy tám tháng

sau, Lý Nam Đế tái lập đơn vị binh mà xây dựng thêm

một đơn vị thuỷ binh hùng mạnh Tháng 10 năm 546, Lý Nam Đế định rút khỏi

cứ Tân Xương, đem tất hai vạn qn thuỷ đóng khu vực hồ Điển Triệt

- (1) ChữPhiêu đọc Thiêu, thế,Dương Phiêu cịn đọc Dương Thiêu (2) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 16-a)

(3) Diêu Tư Liêm (Trung Quốc) :TẦN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán Cũng tác phẩm củaDiêu Tư Liêm,

trong LƯƠNG THƯ ông khơng nói trận

(4) Theo thần tích đền Thanh Liệt Phạm Tu hi sinh vào ngày 20 tháng năm Ất Sửu (tức vào tháng năm 545).

(5) Gia Ninh lúc tên huyện quận Giao Chỉ Nay, đất đai huyện Gia Ninh xưa tương ứng với vùng rộng lớn nằm giáp

giới Hà Nội, Hà Tây, Vĩnh Phúc với Phú Thọ Tuy nhiên trung tâm huyện Gia Ninh có lẽ huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc ngày (6) Thành Gia Ninh thuộc xã Gia Ninh, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

(49)

“Hồ Điển Triệt (tên nôm Đầm Miêng) thuộc xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú (nay hồ thuộc địa phận huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc - NKT) nằm bên bờ sông Lô, cách

Bạch Hạc khoảng 15 km phía bắc Hiện hồ rộng khoảng 50 mẫu, dài khoảng km,

khúc rộng khoảng 400 m, có ngách lớn nhiều ngách nhỏ, mùa khô nước cịn sâu 3-4 m Hồ cách sơng Lơ 300 m, xưa có ngịi thơng sơng Ba phía đơng, nam,

bắc dải đồi cao gồm chục gò, cộng 300 mẫu; phía tây có gân đồi

thấp, cao mặt nước chùng 2-3 m, bị đứt đoạn khoảng rộng 180 m, làm thành cửa

hồ, thông với vùng chiêm trũng, chằm lầy rộng hàng ngàn mẫu Theo truyền thuyết dân gian,

nghĩa quân Lý Nam Đế đóng trại dải đồi này, thuyền bè thả đầy mặt hồ Có đồi gọi thành Dền, hay thành Lĩnh, tương truyền doanh triều đình Vạn Xuân Một

quả đồi cao sát bờ hồ, mang tên đồi vua ngự, từ nhìn rõ Bạch Hạc, Việt Trì

Tương truyền, Lý Nam Đế hàng ngày lên quan sát địch tình cửa sơng Lơ (sơng Lu hay

sơng Lâu, theo sử cũ), phía Bạch Hạc, đôn đốc quân sĩ đẽo thuyền độc mộc Quanh hồ có

nhiều bến, như bến Chảy,nhân dân lưu truyền bến vua tắm, nước trong, bến Bêu, nơi đậu thuyền chiến độc mộc Chỉ có đường độc đạo từ bờ sơng Lơ vào phía bắc hồ.

Hiện thơn thuộc xã Tứ Yên dải đồi đó, thơn có đền thờ Lý Nam Đế,

Lý Thiên Bảo (anh ruột Lý Nam Đế), Lý Phật Tử (Hậu Lý Nam Đê) tướng sĩ khác và hàng năm có tục bơi chải."1

Như từ tháng 10 năm 546, hồ Điển Triệt trở thành khu lợi hại Lý

Nam Đế Nơi đây, thuỷ binh binh dễ dàng phối hợp hỗ trợ cho nhau, tạo nên

một thủ vững Cũng từ tháng 10 năm 546, sĩ khí quân đội Lý Nam Đế ngày

một cao điều khiến cho quân Lượng tỏ ngần ngại định tổ chức công vào

căn hổ Điển Triệt Tuy nhiên, tướng tiên phong quân Lương Trần Bá Tiên - tên

dày dạn kinh nghiệm trận mạc - lại đoán :

“Quân Lương lo sợ, dùng dằng đóng lại cửa hồ khơng dám tiến vào Trần Bá Tiên nói với tướng :

- Quân ta lâu, tướng sĩ mỏi mệt, lại vào cơ, khơng có đường tiếp

viện Nay tiến sâu vào đất giặc, đánh mà không thắng đừng mong sống sót,

nhân lúc bọn họ vừa thua liền mâý trận, tinh thần chưa vững mà quân Di Lão vốn ô hợp,

rất dễ đánh giết, lúc ta nên mau tay liều chết, cố sức mà đánh lấy Khơng cớ

phải dừng lại để lỡ thời cơ.

Các tướng im lặng, không hưởng ứng Đêm khuya hôm nước sông lên nhanh, dâng

cao đến thước, đổ tràn vào hồ (Trần) Bá Tiên đem quân theo dòng nước chảy xiết

mà tiến vào, đánh trống reo hò ẫm ĩ (Lý Nam) Đế khơng phịng bị trước nên qn bị vỡ,

phải lui đóng giữ động Khuất Lão” 2

Sau trận thua này, trước rút lui động Khuất Lão, Lý Nam Đế trao hết binh quyền cho

Tả Tướng Triệu Quang Phục Ở Khuất Lão, sức khoẻ Lý Nam Đế bị suy giảm nhanh

Tương truyền ông bị mù hết hai mắt3và qua đời động Khuất Lão vào năm 5484

Lý Nam Đế thân tư tưởng dùng bạo lực để giành lại quyền Cuộc đời ơng

đã tỏ rõ khả tập hợp huy động sức mạnh nước vào q trình đấu tranh giành

chính quyền theo đường bạo lực Điếu đáng tiếc Lý Nam Đế chuẩn bị công

phu lại thiếu ý thức kiên triệt để đấu tranh, thiếu tinh thần chủ động

công giặc Để cho Tiêu Tư phần lớn lực lượng viên quan đô hộ khét tiếng tàn bạo dễ dàng chạy biểu rõ thiếu ý thức kiên triệt để

(50)

chức trận phản công Lý Nam Đế phải trả giá đắt cho thiếu triệt để

Diễn biến chung trận thành Tô Lịch thành Gia Ninh đặc biệt hồ Điển

Triệt cho thấy tư tưởng phòng ngự hoàn toàn chi phối tư quân Lý Nam Đế Nắm

chắc nhược điểm này, Trần Bá Tiên tổ chức công Thời tiết có góp

phần tạo thêm điều kiện thuận lợi cho Trần Bá Tiên không gây bất lợi cho thuỷ

quân Lý Nam Đế Đã bị tư tưởng phòng ngự chi phối lại cảnh giác biết rõ

kẻ thù đóng dinh trại sát bên cạnh lăm le tổ chức cơng thất

bại Lý Nam Đế điều tránh khỏi Không dám khẳng định rằng, Lý

Nam Đế chủ động cơng định giành trọn vẹn thắng lợi, rõ ràng

nếu biết chủ động công Lý Nam Đế khơng thể bị đại bại nhanh chóng bị

tổn thất nặng nề Nỗi đau thất trận hồ Điển Triệt nỗi đau chung Hậu đời đời kính

trọng khí phách tài Lý Bơn tồn q trình phát động lãnh đạo

khởi nghĩa lật nhào ách đô hộ nhà Lương thời kì kiến tạo nhà nước Vạn

Xuân độc lập, song lại tiếc phải nói rằng, từ sau trận Điển Triệt, vai trị Lý Bơn kể

như hồn tồn chấm dứt

Về thất bại Lý Nam Đế, Bảng nhãn Lê Văn Hưu (1230-1322) có lời bàn : "Binh

pháp có câu : ba vạn quân sức thiên hạ không địch Nay Lý Bơn có vạn

qn mà khơng giữ nước, (Lý) Bơn tài làm tướng chăng? Xem ra, Lý Bôn

cũng bậc tướng trung tài, trận chế ngự địch quân mà giành phần thắng

nào phải không làm Nhưng, bị hai lần thua chết, không may gặp phải

Trần Bá Tiên kẻ giỏi dùng binh vậy” 5

Về nguyên nhân quan trọng dẫn đến thất bại Lý Nam Đế, Bảng nhãn

Lê Văn Hưu cho Trần Bá Tiên giỏi dùng binh Tiến sĩ Ngơ Sĩ Liên lại khẳng định

ngoài việc Lý Nam Đế không may gặp phải Trần Bá Tiên kẻ có tài dùng binh ngun

do bật khác trời : “Tiền Lý Nam Đế dấy binh trừ bạo, thuận vớt đạo

trời, mà cuối lại nên nỗi bại vong? Ấy trời chưa muốn cho nước ta

thịnh trị chăng? Than ôi, phải gặp Trần Bá Tiên kẻ giỏi dùng binh mà gặp lúc nước sông đột ngột dâng lên trợ cho giặc, há trời hay sao” 5

Tuy cuối phải chịu thất bại phải lặng lẽ động Khuất Lão, với "vạn

cổ thử giang sơn"(muôn đời sông núi này), tên tuổi Lý Bôn mãi toả sáng Cùng với Hai

Bà Trưng Bà Triệu, Lý Bơn góp phần khơi dậy lửa chống Bắc thuộc tiếp tục bùng

lên dội Sự nghiệp Lý Bôn phần đầy kiêu hãnh lịch sử Các sử gia

Quốc Sử Quán Triều Nguyễn hồn tồn có lí viết Lời phê : “Nam Đế nhà Lý dù

không địch quân Lương, việc lớn không thành biết nhân thời mà vùng

dậy, tự làm chủ nước mình, đủ để tạo mở đường cho nhà Đinh, nhà Lý sau Việc làm Lý Nam Đế há hay sao!" 6

-

(1) Phan Huy Lê - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn - Lương Ninh : LỊCH SỬ VIỆT NAM Tập 1, NXB Đại học Trung học chuyên nghiệp Hà Nội 1983 Trang 412-413

(2) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 16-b 17-a) Tác giả xin thích thêm hai chi tiết nhỏ Một hai chữDi Lão mà Trần Bá Tiên nói đến để chung tất người Việt Hai động Khuất Lão (cũng dọc Khuất Lạo hay Khuất Liệu)

thuộc địa phận hai xã Cổ Tiết Văn Lang, huyện Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ.

(3) Dân làng thuộc hai xã Cổ Tiết Văn Lang thường gọi Lý Nam Đế ông Vua Mù tế phải xướng tên lễ vật thật

rõ ràng

(4) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ cho biết Lý Nam Đế vào tháng năm Mậu Thìn (548) : “Lý Nam Đế động Khuất Lão lâu ngày, nhiễm

lam chướng, lâm bệnh mà mất” (Ngoại kỉ, 4, Triệu Việt Vương kỉ, tờ 18-a) (5) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ(Ngoại kỉ, 4, tờ 18a-b)

(51)

V DANH TƯỚNG TRIỆU QUANG PHỤC - NGƯỜI KẾ THỪA XUẤT SẮC SỰ

NGHIỆP CỦA LÝ BƠN

Một gió bẻ chồi khô

Ái lang dứt dấu ngựa Hồ vào Bốn phương phẳng lặng can qua

Theo nền nếp cũ lại Long Thành (Đại Nam quốc sử diễn ca)

1 XÂY DỰNG BÃI TỰ NHIÊN VÀ ĐẦM DẠ TRẠCH THÀNH KHU CĂN CỨ MỚI

Như nói, sau thất bại trận Điển Triệt (năm 546), Lý Nam Đế trao hết binh quyền

cho Tả Tướng Triệu Quang Phục, kể từ đó, lực lượng Lý Nam Đế bị phân

chia làm hai phận khác :

- Bộ phận thứ Lý Thiên Bảo (anh ruột Lý Nam Đế) số tướng lĩnh khác

(trong có Lý Phật Tử) huy rút chạy vào Đức Châu.1

- Bộ phận thứ hai Triệu Quang Phục cầm đầu tiếp tục bám trụ vùng Chu Diên, tận

dụng địa hình hiểm trở để chiến đấu đến

Theo thư tịch cổ Trung Quốc 2 Lý Thiên Bảo Lý Phật Tử tập hợp khoảng hai

vạn quân, đánh vào Đức Châu giết Thứ Sử Đức Châu Trần Văn Giới Sau trận thắng

khá lớn này, Lý Thiên Bảo Lý Phật Tứ kéo quân vùng Ái Châu 3nhưng bị Trần Bá Tiên

đánh bại Hai ông liền lui binh lên vùng thượng du Ái Châu (giáp giới với Lào) đến khoảng

năm 550 an phận đóng binh động Dã Năng “Thiên Bảo thấy động Dã Năng đầu nguồn

Đào Giang, đất đai phẳng mà màu mỡ, đắp thành lấy tên động làm quốc

hiệu, dân suy tôn, xưng Đào Lang Vương” 4 Từ đây, vai trò của Lý Thiên Bảo và Lý

Phật Tử nghiệp đánh đuổi quân phong kiến phương Bắc hộ kể khơng cịn

nữa Đảm đương sứ mệnh cao Triệu Quang Phục lực lượng nghĩa binh

ông huy Đó thực tế mà khơng phủ nhận

Năm 546, nhận binh quyền từ tay Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục đứng trước hai khó khăn

rất lớn Một lực lượng bị chia nhỏ có đến hai vạn quân (tức hai phần ba tàn quân

Lý Nam Đế) theo Lý Thiên Bảo Lý Phật Tử chạy vào Đức Châu Hai

cuộc công liệt liên tiếp quân sĩ nhà Lương Trần Bá Tiên huy Xét thấy

không thể tiếp tục công khai nghênh chiến với kẻ thù trước nữa, Triệu Quang Phục chủ

động lui binh khu vực đầm Dạ Trạch, triệt để tận dụng ưu riêng địa hình

vùng đầm lầy để khơn khéo tổ chức hàng loạt trận đánh thật bất ngờ hiểm hóc “Quân của

(Trần) Bá Tiên vừa đông vừa mạnh, (Triệu) Quang Phục liệu chống nổi, cho quân lui giữ Dạ Trạch Dạ Trạch đầm lớn, chu vi rộng không

nhiêu mà kể, cỏ rậm rạp Giữa đầm có bãi đất được, bốn mặt tồn bùn lầy Người phải thuộc đường, dùng sào đẩy thuyền độc mộc mà lại (Triệu)

Quang Phục đem vạn quân vào giữ đầm Ban ngày tắt hẳn khói bếp, đêm đến

thì tung quân đánh úp dinh trại quân Lương, giết chết bắt tù binh nhiều, dựa

vào số quân lương lấy để tính kế lâu dài (Trần) Bá Tiên rình mà đánh rốt

vẫn khơng thắng Bấy giờ, người nước gọi (Triệu) Quang Phục Dạ

Trạch Vương”5

-

(52)

(2) Diêu Tư Liêm (Trung Quốc) :TRẦN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán (3) Ái Châu tương ứng với địa phận tỉnh Thanh Hố.

(4) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 19-b), KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC(Tiền biên, 4, tờ

9)

(5) KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC(Tiền biên, 4, tờ 6) Đầm thuộc xã Dạ Trạch, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên.

Bãi đất nằm khu đầm Dạ Trạch bãi Tự Nhiên, gọi bãi Màn Trò (hoặc

Mạn Trù) Trong bộ LĨNH NAM CHÍCH QUÁI có Nhất Dạ Trạch truyện, theo vào

đời Hùng Vương thứ ba, Công Chúa Tiên Dung mười tám tuổi, xinh đẹp

thích du ngoạn khơng muốn lấy chồng Bấy hương Chử Gia có gia đình họ Chử

chẳng may nhà gặp hoả hoạn nên gia tài bị cháy trụi hết, hai cha Chử Vi Vân Chử Đồng

Tử cịn lại có khố dùng chung Trước qua đời Chử Vi Vân có trăn trối để

cái khố lại cho Chử Đồng Tử mặc, thương cha, Chử Đồng Tử chơn ln khố cho

cha cịn chấp nhận trần truồng Ngày ngày Chử Đồng Tử sông ngồi câu cá,

thấy thuyền ngang đứng nước để xin ăn Một hôm thuyền Công Chúa Tiên

Dung ngang, Chử Đồng Tử vừa thoáng thấy cờ quạt uy nghi hoảng sợ, tới khóm lau

trên bãi cát, moi cát làm hố để nằm mà che thân Công Chúa Tiên Dung lên bờ, dạo chơi

lúc sai người quây trướng quanh khóm lau để tắm Nước tắm dội xuống khiến cho

cát trơi Chử Đồng Tử chẳng cịn để che thân Sau vài phút kinh ngạc, Cơng Chúa

Tiên Dung cho dun trời định, kết hôn với Chử Đồng Tử Hùng Vương hay tin giận

lắm, khơng thèm nhìn mặt Tiên Dung Tiên Dung sợ vua cha không dám trở mà

mở chợ, lập phố xá để buôn bán Sau, Chử Đồng Tử theo thương nhân xa, học

phép lạ nhà sư Phật Quang sư Phật Quang tặng cho nón gậy

có chứa phép lạ Trở về, Chử Đồng Tử thuyết phục Tiên Dung tìm thầy học

đạo Một hơm lỡ đường, phải nghỉ lại nơi hoang vắng, Chử Đồng Tử lấy gậy cắm

xuống đất úp nón lên để che tạm Chẳng dè lập tức, thành quách, dinh thự, châu

ngọc kẻ hầu người hạ chẳng biết từ đâu nghi vệ chẳng khác triều đình

nước, ai trông thấy kinh ngạc Hùng Vương nghe tin cho làm loạn,

đem quân đánh Quân chưa đến nơi trời tối, Hùng Vương đành phải nghỉ lại, chẳng ngờ

đêm Chử Đồng Tử Tiên Dung tất thành quách, dinh thự, châu ngọc kẻ hầu

người hạ bay lên trời Chỗ đất cũ sụt xuống thành đầm lớn, dân cho linh thiêng nên

thường xuyên cúng tế, gọi đầm Nhất Dạ Trạch bãi đất đầm bãi Tự Nhiên hay

bãi Mạn Trù 1

Nhất Dạ Trạch truyện được LĨNH NAM CHÍCH QI chép lại đượm màu li kì huyền

ảo, nhưng, đầm Dạ Trạch bãi Tự Nhiên - nơi in dấu bước chân cảm nghĩa

quân Triệu Quang Phục lại thật linh thiêng miền đất có vinh hạnh

được chứng kiến khí phách đời kiên cường, hiên ngang bất khuất Những

người chẳng có chút cho riêng hố thân thành thiên huyền thoại diệu kì

của lịch sử

Chủ trương Triệu Quang Phục việc chuyển từ cố thủ thành trì đồng

trung du sang bám trụ vùng đầm lầy nét tư quân toàn q

trình đấu tranh vũ trang chống ách hộ nhà Lương Nhanh chóng chuyển từ thụ động chờ đón đánh địch sang chủ động tổ chức cơng nhiều trận có quy mơ nhỏ lợi

hại đổi thay quan trọng nghệ thuật huy trận mạc đương thời Ở

chừng mực định đó, nói Triệu Quang Phục

những đại diện thuộc hàng cổ lịch sử chiến tranh du kích Việt Nam

Năm 548, sau nghe tin Lý Nam Đế lâm bệnh mà qua đời động Khuất Lão, Triệu

Quang Phục lên Vương, xưng là Triệu Việt Vương (vua của nước Việt, người họ

Triệu) Việc lên trước hết chủ yếu để tạo cờ thống cho nghiệp

tập hợp lực lượng đánh đuổi quân xâm lăng Nhìn từ góc độ đó, điều đáng kính thật dễ

(53)

mệnh bị đe doạ nghiêm trọng nhà nước Vạn Xn Cũng nhìn từ góc độ đó, ấn tượng mạnh mẽ hậu thái độ khiêm nhường Triệu Quang Phục Với

ơng, ngơi Hồng Đế chí tơn mãi thuộc bậc tiễn nhiệm Lý Bôn, ông nhận ngơi

Vương (ngơi thứ thấp hẳn Hồng Đế) ý chí chiến đấu đến nghiệp bảo vệ

nền độc lập nước Vạn Xn ơng đứng đầu khơng lơi lỏng

-

(1) Về Nhất Dạ Trạch truyện, xin vui lòng tham khảo thêm : Nguyễn Khắc Thuần - VIỆT SỬ GIAI THOẠI (Tập 1) Trọn tập Nxb Giáo

dục Sách tái đến lần thứ 9.

2 QUÉT SẠCH QUÂN LƯƠNG RA KHỎI BỜ CÕI

Khi Trần Bá Tiên sa lầy đầm Dạ Trạch kinh đô Kiến Khang (nay thuộc thành phố

Nam Kinh, tỉnh Giang Tô Trung Quốc), nội triều đình nhà Lương lâm vào

cuộc khủng hoảng nghiêm trọng Năm 549, Lương Vũ Đế Tiêu Diễn qua đời, trai thứ

ba Tiêu Diễn Tiêu Cương đưa lên nối ngơi, Giản Văn Đế (549-551) Tiêu

Cương kẻ nhu nhược hội thuận lợi để bọn quyền thần hoành

hành Tháng năm 551, Giản Văn Đế Tiêu Cương bị quyền thần Hầu Cảnh phế bỏ giết đi,

hưởng dương 48 tuổi (503-551) Kẻ Hầu Cảnh đưa lên nối ngơi Hồng Đế thay Giản Văn

Đế Tiêu Đống Nhưng, Tiêu Đống ngơi Hồng Đế ba tháng bị Tiêu Dịch

(tức Nguyên Đế : 551-555) phế truất Nguyên Đế Tiêu Dịch trai thứ bảy Lương Vũ

Đế em mẹ với Giản Văn Đế Nguyên Đế kẻ ác vô mưu, vậy, loạn

lạc bùng nổ khắp nơi, đó, bật loạn quân Hầu Cảnh cầm đầu Nguyên

Đế năm 555, hưởng dương 47 tuổi (508-555) Hoàng Đế thứ tư (Hoàng Đế cuối

nhà Lương) Kính Đế (555-557) Kính Đế tên thật Tiêu Phương Trí (con trai thứ chín

Nguyên Đế Tiêu Dịch) Kẻ đưa Tiêu Phương Trí lên ngơi (năm 12 tuổi) Trần Bá Tiên

kẻ phế truất Tiêu Phương Trí (năm 14 tuổi) Trần Bá Tiên

Kể từ thời trị Giản Văn Đế trở đi, triều đình nhà Lương ngày suy yếu Đặc biệt từ

lúc tên quyền thần Hầu Cảnh dám thẳng tay làm chuyện phế lập, quan đầu não nhà

Lương kể bị tê liệt Thấy rõ diễn biến tình hình vừa phức tạp

dễ lợi dụng đó, Trần Bá Tiên đem quân Kiến Khang, nhân danh việc đàn áp loạn quân

Hầu Cảnh để khôn khéo chuẩn bị thực mưu đồ riêng Quyền huy quân đội

nhà Lương đàn áp Vạn Xuân trao cho tướng Dương Sàn (vốn tì tướng Trần Bá

Tiên) 1 Như nói, đến Kiến Khang, Trần Bá Tiên tạm đưa cậu bé Tiêu Phương Trí lên nối ngơi thời gian ngắn, biến Tiêu Phương Trí thành trị lợi hại

của Năm 557, xét thấy Tiêu Phương Trí khơng cần thiết nữa, Trần Bá Tiên

đã phế truất Tiêu Phương Trí cơng khai tun bố giành ngơi báu cho cá nhân

mình Chính Trần Bá Tiên lập triều đại cuối Nam Triều, nhà Trần (557 -589) 2 Trần Bá Tiên Trần Vũ Đế (557-559)

Việc Trần Bá Tiên đem quân Kiến Khang khiến cho tương quan lực đôi bên thay đổi

theo xu hướng hồn tồn có lợi cho Triệu Việt Vương Chớp lấy hội thuận lợi này,

tháng năm Canh Ngọ (550), từ khu xây dựng bãi Tự Nhiên đầm Dạ

Trạch, Triệu Việt Vương bất ngờ tung quân đánh trận định với kẻ thù Giặc

khơng cách chống đỡ nổi,"(Dương) Sàn thua trận mà chết, quân Lương tan vỡ hốt

hoảng tháo chạy Bắc Nước ta lại yên” 3 Triệu Việt Vương hiên ngang trở tiếp quản

thành Long Biên Đúng :

Bốn phương phẳng lặng can qua,

Theo nếp cũ lại Long Thành

(Đại nam quốc sử diễn ca)

-

(1) Hành trạng tướng tổng huy quân nhà Lương Dương Phiêu sau khơng rõ Thư tịch cổ nói đến Trần

(54)

(2) Nhà Trần tồn trước sau tổng cộng 32 năm (557-589) với tất đời nối trị Nhà Trần đóng đô Kiến Khang Khác với

những triều đại trước củaNam Triều, nhà Trần lấy họ Hồng Đế làm tên cho triều đại

(3) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 19-a) KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên, 4, tờ

8

3 LẠI KỂ NGÀY XƯA CHUYỆN CẢO NƯƠNG

Sau lần bị bại trận Ái Châu, Lý Thiên Bảo Lý Phật Tử chạy động Dã Năng, lập nước

Dã Năng Lý Thiên Bảo xưng Đào Lang Vương, sống an phận thủ thường khu vực lãnh

địa riêng Năm Ất Hợi (555), Lý Thiên Bảo qua đời Dã Năng, khơng có nối

dõi nên người họ Lý Phật Tử đưa lên kế nghiệp Đời muôn thuở thường

như vậy, kẻ yếu bóng vía chiến đấu nghĩa cả, ln ln kẻ dũng

cảm xâu xé quyền lợi thái bình Lý Phật Tử số kẻ

Khác với Lý Thiên Bảo, Lý Phật Tử xưng Đế khơng chịu n vị với ngơi Vương, thế,

để phân biệt với Lý Bôn, sử cũ ta thường gọi Lý Bôn Tiền Lý Nam Đế gọi

Lý Phật Tử Hậu Lý Nam Đế Năm 557, Lý Phật Tử bỏ động Dã Năng đem hết hạ

quê hương Thái Bình 1 của mình Tại đây, Lý Phật Tử đã tìm cách lơi kéo bà họ hàng

sức tập hợp lực lượng để nhằm đánh Triệu Việt Vương Về phần mình, Việt Vương Triệu

Quang Phục thấy Lý Phật Tử người họ với Lý Nam Đế nên có chút nể Năm

trận ác chiến diễn Thái Bình, đơi bên chưa phân thắng bại “quân của (Lý)

Phật Tử có phần nao núng (Lý Phật Tử) ngờ (Triệt Việt Vương) có phép lạ xin

giảng hoà xin ăn thề giao hiếu hoà thuận với Vua (chỉ Triệu Việt Vương - NKT) nghĩ Lý Phật Tử người họ với Tiền Lý Nam Đế nên không nỡ cự tuyệt”2 Sau lễ ăn

thề, hai bên lấy bãi Quần Thần3 làm ranh giới để chia quyền cai quản Lý Phật Tử dời sở trị

của từ Thái Bình thành Ơ Diên 4 cịn Triệu Việt Vương thì vẫn đóng thành Long

Biên cũ Thế song lập trị cục diện chia cắt khiến cho đất nước lâm vào

cuộc khủng hoảng tiềm lực bị cạn kiệt nhanh Thống quốc gia trở thành

nhu cầu lớn cấp bách xã hội đương thời Tiếc thay, Lý Phật Tử thực việc

thống quốc gia thủ đoạn lợi dụng hôn nhân tương tự trước 700 năm

Triệu Đà làm

Bấy giờ, biết Triệu Việt Vương có người gái tên Cảo Nương xinh đẹp nên Lý Phật

Tử cậy người mai mối, xin hỏi Cảo Nương làm vợ cho trai Nhã Lang (cũng

tức Bát Lang) Vì quý trọng người họ với Lý Nam Đế, lại thấy hai bên tổ chức ăn thề

hoà hiếu với nhau, Triệu Việt Vương không chút nghi ngờ, gả Cảo Nương cho Nhã

Lang, chấp nhận cho Nhã Lang đến rể thành Long Biên

Sự kiện xảy năm 557, tức sau năm trận ác chiến đôi bên vừa kết

thúc Và, kịch hiểm độc cũ Triệu Đà Lý Phật Tử cho tái diễn gần nguyên

vẹn : Triệu Việt Vương hoàn toàn tin rể, tin thông gia, tin gái tin đến mức

hoàn toàn mơ hồ hết cảnh giác Đó tảng có thật truyền thuyết li kì

cuộc hôn nhân Nhã Lang với Cảo Nương hầu hết sử xưa5và một số

dã sử chép lại Đại lược sau :

Khi khu bãi Tự Nhiên đầm Dạ Trạch, Triệu Việt Vương linh thần Chử Đồng Tử tặng cho móng rồng để cài lên mũ đâu mâu Đội mũ vào, Triệu Việt Vương hướng móng rồng phía qn giặc phía phải thất bại thảm hại Nhờ móng thần ấy, Triệu Việt Vương đánh tan quân Lương chém tướng tổng huy chúng

Dương Sàn tiến vào chiếm thành Long Biên, khôi phục độc lập tự chủ.

Sau Lý Thiên Bảo động Dã Năng, Lý Phật Tử lên kế vị thấy quân Lương đã bị đánh đuổi, Lý Phật Tử liền đem hết lực lượng quê nhà Đến đây, muốn

tranh quyền Triệu Việt Vương, Lý Phật Tử đánh với Triệu Việt Vương năm trận

(55)

phép thuật lạ chưa rõ phép thuật gì, nghĩ kế cầu hồ tổ chức ăn thề xin

kết làm thông gia Con trai Lý Phật Tử Nhã Lang kết hôn với gái Triệu Việt Vương Cảo Nương, sau đó, Nhã Lang vào rể thành Long Biên Được

lâu, Nhã Lang nói với Cảo Nương :

- Trước đây, hai vua cha kẻ thù, lại kết làm thông gia, chẳng hay sao? Nhưng, cha nàng có thuật mà đẩy lùi qn cha ta vậy.

Cảo Nương tưởng chồng thật lòng, lấy mũ đâu mâu có gắn móng rồng cha

cho chồng xem Nhã Lang liền đánh tráo móng rồng, xong, nói với Cảo Nương :

- Bấy lâu vợ chồng ta quấn quýt yêu thương nhau, thật không nỡ xa cách, nghĩ công ơn cha mẹ lớn trời đất, tơi đành phải tạm xa nàng lâu để viếng thăm.

Nhã Lang đem móng rồng cho cha Hai cha bàn kế bất ngờ cho quân đến đánh

úp Triệu Việt Vương bị thất bại, chạy đến cửa Đại Nha6 nhảy xuống biển tự tử Kể từ đó,

Lý Phật Tử nắm quyền cai trị toàn cõi

-

(1) Thái Bình quê hương Lý Nam Đế Xin xem mục thuộc phần IV chương thứ (2) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 19-b)

(3) Bãi Quần Thần thuộc địa giới hai xã Thượng Cát Hạ Cát, huyện Từ Liêm, Hà Nội.

(4) Thành Ô Diên thuộc xã Hạ Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội Nơi đền thờ Bát Lang (tức Nhã Lang) trai Lý Phật

Tử.

(5) Ví dụ :ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TOÀN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 20 a-b); KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC(Tiền biên, quyển 4, tờ 12 13); LĨNH NAM CHÍCH QUÁI (Nhất Dạ Trạch truyện); VIỆT ĐIỆN U LINH(Triệu Việt Vương Lý Nam Đế

truyện)

(6) Cửa Đại Nha tức cửa Ác, đến thời Lý đổi thành cửa Đại An, cửa Đáy, ranh giới tự nhiên phía đơng hai tỉnh Nam Định Ninh Binh Ở đền thờ Triệu Việt Vương.

Về câu chuyện tình li kì Nhã Lang với Cảo Nương kết cục bi thảm Triệu Việt

Vương, sử thần Quốc Sử Quán triều Nguyễn đã có Lời cẩn án rằng : “Sử cũ chép

việc Triệu Việt Vương móng rồng Chử Đồng Tử ban cho, việc Nhã Lang rể lấy trộm móng rồng ấy, việc Triệu Việt Vương móng rồng mà bị thua đem ráp

những việc lại so với chuyện Thục An Dương Vương Triệu Trọng Thuỷ trước thật

giống hệt Sự kì quái trái với lẽ thường đến mức không cần phải biện bạch thêm làm Nhưng, sử cũ chép phần nhiều trùng lắp sai hẳn thực,

chuyện này” 1 Dĩ nhiên, chuyện móng rồng mà Chử Đồng Tử đã ban cho Triệu Việt Vương

là khơng thể có thật, nhưng, nể tin đến mức mơ hồ Triệu Việt Vương lại

điều hồn tồn có thật Mất cảnh giác có nghĩa tự đánh thứ vũ khí tự vệ quý

giá hữu hiệu Móng rồng thực chất cách thể theo lối huyền thoại hoá

sự thật mà

Về thất bại Triệu Việt Vương, Tiến Sĩ Ngô Sĩ Liên -sử gia lỗi lạc thời Lê sơ - có lời

bàn xác đáng :“Nếu lấy bá thuật mà xét Hậu Lý Nam Đế đánh Triệu Việt Vương

quả đắc kế, nhưng, lấy vương đạo mà xét việc làm Lý Phật Tử cịn thua

chó lợn Vì lại nói ? Khi Tiền Lý Nam Đế động Khuất Lão, đem binh quyền trao

cho Triệu Việt Vương Triệu Việt Vương thu nhặt tàn quân để giữ đầm Dạ Trạch bùn lầy để đương đầu với Trần Bá Tiên viên tướng khét tiếng thời, bắt giết tuỳ tướng (của

Trần Bá Tiên) Dương Sàn, khiến Trần Bá Tiên phải lui quân Bắc Hậu Lý Nam Đế lúc

lẩn trốn đất Di Lão, mong thoát khỏi miệng hùm beo, may mà Trần Bá Tiên lui

Bắc Lý Thiên Bảo lại qua đời nên (Hậu Lý Nam Đế) toàn thân kế nghiệp (Hậu Lý Nam Đê) đem quân đánh Triệu Việt Vương, yếu nên dùng mưu gian trá xin hoà, lại xin

kết làm thông gia (Triệu) Việt Vương lấy lòng thành mà đối đãi, cắt đất cho ở, việc làm

đều nghĩa, giao hảo phải đạo, thăm viếng phải thời, há

đạo yên trị lâu dài ? Vậy mà (Hậu Lý Nam Đê) lại dùng Nhã Lang để thực mưu

(56)

cướp lấy nước, thắng Nhã Lang phải chịu chết trước, sau đến lượt bản

thân (Hậu Lý Nam Đế) không khỏi cảnh bị bắt tù đày, có lợi đâu” 2 Hồng Giáp Ngơ Thì Sĩ (1726-1780) có lời bàn :"Đã hồ hiếu lại cịn bội ước, móng rồng mũ đâu mâu có đáng mà nghe mưu gian trẻ con,

theo lối cũ Triệu Đà thật bất trí Đến quân nhà Tuỳ kéo sang, chúng chưa bắn mũi tên nhục nhã dâng nạp ngọc ngà dắt dê xin đầu hàng, mà

ngu đến thế”3

Lê Ngô Cát Phạm Đình Tối - hai tác giả văn học dân tộc tiếng kỉ XIX - diễn

Nôm theo thể lục bát mưu gian kế hiểm Lý Phật Tử kết cục bi thảm Triệu Việt

Vương sau :

“Tình rể, nghĩa vợ chồng.

Tin biết lòng lừa nhau.

Lân la ngỏ tình đầu

Nhã Lang trộm lấy đâu mâu đổi liền.

Trở giả chước vấn yên,

Giáp binh đâu băng miền kéo sang.

Triệu Vương tiến bước vội vàng,

Tình riêng cịn chửa dứt đường cho qua. Đem chạy đến Đại Nha.

Than thân bách chiến phải đường cùng”

(Đại nam quốc sử diễn ca)

-

(1) KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên, 4, tờ 12 13) (2) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 20 b 21 a)

(3) Ngơ Thì Sĩ :VIỆT SỬ TIÊU ÁN

Phụ lục 3

TIỂU TRUYỆN VỀ TRIỆU TÚC , PHẠM TU VÀ TINH THIỀU

Tiểu dẫn : Sát cánh với Lý Bôn chiến đấu ngoan cường gian khổ nhằm đánh đuổi quân Lương khỏi bờ cõi cịn có nhiều tướng lĩnh xuất sắc, đó, bật

là Triệu Quang Phục (tức Triệu Việt Vương), Triệu Túc, Phạm Tu số nhân vật giàu tài

năng khác Tuy chưa thật đầy đủ đời nghiệp Triệu Quang

Phục thư tịch cổ ghi chép nhiều, số nhân vật cịn lại nói chung khơng

có may Tuy nhiên, khảo sát linh hồn số kiện tượng tốt lên từ

những dịng ghi chép ngắn ngủi hoi sử cũ, bước đầu

phác thảo vài nét tiểu truyện ba nhân vật quan trọng Triệu Túc, Phạm Tu Tinh Thiều.

1 Triệu Túc

Triệu Túc vị Tù Trưởng tiếng huyện Chu Diên 1, gia thế có ảnh

hưởng mạnh vùng đất Khi Lý Bôn chiêu tập hào kiệt bốn phương để chuẩn bị dựng

cờ khởi nghĩa chống ách hộ nhà Lương Triệu Túc người

hồ hởi đến tham gia Cùng có mặt bên cạnh Lý Bơn đồng thời với Triệu Túc cịn có anh trai

ông Triệu Quang Thành trai ông Triệu Quang Phục Là người giàu nghĩa khí, lại

vốn xuất thân Tù Trưởng nên Triệu Túc Lý Bôn coi trọng từ đầu, Triệu Túc

đã thực chỗ dựa tin cậy Lý Bôn

(57)

cũng có phần nể sợ Triệu Túc, vừa nhận tin Triệu Túc theo với Lý

Bơn Tiêu Tư thực hất hoảng Sau vài trận giáp chiến, tự thấy khó bề chống cự nổi,

Tiêu Tư tìm đường chạy trốn Trung Quốc

Trong trận đọ sức với quân nhà Lương, Triệu Túc có đóng góp to

lớn, Lý Bôn trân trọng ghi nhận đánh giá cao Tháng giêng năm Giáp Tí (544),

Lý Bơn lên ngơi Hồng Đế xưng Lý Nam Đế Triệu Túc phong làm Thái Phó tức

người có phẩm hàm lớn triều đình lúc Triệu Túc

trụ cột quan trọng nhà nước Vạn Xuân

Tháng năm Ất Sửu (545), nhà Lương sai Dương Phiêu tướng Trần Bá Tiên Tiêu

Bột đem đại quân sang đàn áp Lý Nam Đế Các trận ác chiến đôi bên diễn thành

Tơ Lịch sau thành Gia Ninh Và, trận đọ sức liệt này, Lý

Nam Đế phải chịu hai tổn thất lớn, Triệu Túc lẫn Phạm Tu anh dũng hi

sinh

Nghĩa quân nhóm họp, lực lượng không đông, trang thiết bị thiếu thốn, kinh nghiệm chưa

nhiều, lúc kẻ thù vừa hãn thiện chiến lại vừa hùng mạnh, cho nên,

tổn thất nghĩa binh Lý Nam Đế Triệu Túc Phạm Tu khơng có bù

đắp Trần Bá Tiên biết rõ điều nên triệt để tận dụng hội thuận lợi để thừa

thắng mà đánh tới tấp khiến cho Lý Nam Đế chống đỡ Trận ác chiến diễn

ra khu vực hồ Điển Triệt coi cố gắng cuối cùng, cố gắng cao

của ông

Sau thất bại giao tranh hồ Điển Triệt, Lý Nam Đế trao binh quyền cho trai

của Triệu Túc Triệu Quang Phục Với gia đình Triệu Túc trường hợp “hổ

phụ sinh hổ tử” Hiện chưa rõ Triệu Túc sinh vào năm nên chưa rõ mất, Triệu

Túc hưởng thọ tuổi

2 Phạm Tu

Phạm Tu bậc hào kiệt hướng ứng có mặt bên

cạnh Lý Bơn, trực tiếp tham gia vào trình chuẩn bị cho khởi nghĩa chống ách hộ

của quyền nhà Lương Theo ghi chép của thần tích đền Thanh Liệt Phạm Tu người

làng Thanh Liệt, thuộc xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì (Hà Nội), sinh năm 481, năm 545, hưởng thọ 64 tuổi Phạm Tu người có tài quân bẩm sinh đến tụ nghĩa

dưới cờ cứu nước Lý Bơn, tài qn bẩm sinh Phạm Tu có hội

để phát huy cách nhanh chóng mạnh mẽ Ơng nanh vuốt Lý Bôn, vị tướng

cầm quân xuất sắc Tài quân Phạm Tu thể tập trung qua trận

đánh lớn sau :

- Năm 542 : Cùng với Lý Bôn số tướng lĩnh khác, trực tiếp tham gia huy

công vào sào huyệt quân đô hộ nhà Lương đất nước ta, khiến cho tồn

quyền giặc Thứ Sử Giao Châu, tước Lâm Vũ Hầu Tiêu Tư cầm đầu, phải hốt hoảng

tháo chạy

- Tháng năm 543 : Cùng với Lý Bôn trực tiếp huy công bất ngờ dũng

mãnh vào sâu lãnh thổ giặc, đập tan hoàn toàn lực lượng quân đội nhà Lương

đang tập trung Hợp Phố Đây đội quân chuẩn bị đàn áp Lý Bôn Thứ Sử

Giao Châu Tôn Quýnh Thứ Sử Tân Châu Lư Tử Hùng cầm đầu Trật tự khu vực biên

giới phía Bắc nhanh chóng khẳng định Tôn Quýnh Lư Tử Hùng bị đại bại thảm hại

ngay chưa kịp xuất quân nên bị triều đình nhà Lương tức giận, khép vào tội

(58)

- Tháng năm 543 : Tổng huy lực lượng nghĩa sĩ đánh vào Cửu Đức trừng trị đích đáng

hành vi quấy phá quân Champa, khiến cho tình hình biên giới phía Nam n ổn

Nhờ cống hiến xuất sắc nói tháng giêng năm Giáp Tí (544), Lý Bơn lên ngơi

Hồng Đế xưng Lý Nam Đế, Phạm Tu phong làm Đại Tướng, nắm quyền đứng đầu

các võ quan triều đình

Năm Ất Sửu (545), đọ sức liệt với lực lượng quân sĩ nhà Lương đàn áp

tướng Trần Bá Tiên cầm đầu, Phạm Tu dã anh dũng hi sinh Tổn thất nặng nề khiến sức

đề kháng triều đình Lý Nam Đế suy giảm nhanh

3 Tinh Thiều

Tinh Thiều người quê với Lý Bôn Ngay từ lúc tuổi trẻ, Tinh Thiều tiếng

là người võ nghệ cao cường văn hay chữ tốt nên người đương thời không ngớt lời

khen tụng Theo ghi chép củaĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 15-a) Tinh Thiều tự thấy có tài nên khơng quản đường xa dặm dài, lặn lội sang

tận kinh đô nhà Lương Kiến Khang (nay thuộc thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô,

Trung Quốc) xin dự thi để mong bồ nhiệm làm quan Đến Kiến Khang, ông chứng tỏ

được tài thực mình, quan Lại Bộ Thượng Thư nhà Lương Sài Tốn

cho họ Tinh trước chưa có hiển đạt, tức không thuộc vào hàng sĩ tộc, nên

chỉ bổ cho Tinh Thiều chức gác cổng cửa Quảng Dương Vì nhục nhã uất hận, Tinh

Thiều bỏ chí tìm cách trả thù quân Lương Tinh Thiều hồi hương vào

lúc Lý Bơn q bất mãn với chế độ sĩ tộc quyền hộ nhà Lương mà từ bổ

chức Giám Quân châu Cửu Đức để trở quê chiêu tập hào kiệt nhân dân vùng dậy Tinh

Thiếu có mặt bên cạnh Lý Bơn buổi dầu trứng nước trình chuẩn bị

và ông trở thành chỗ dựa quan trọng Lý Bôn Trong máy

huy khởi nghĩa Lý Bôn phát động lãnh đạo, Tinh Thiều lãnh trách nhiệm soạn

thảo văn kiện giấy tờ Nhờ có văn võ song tồn lại lập nhiều cơng lao

chiến đấu đánh đuổi quân đô hộ nhà Lương, vào năm 544, Lý Bôn lên ngơi Hồng

Đế xưng Lý Nam Đế, Tinh Thiều phong làm Thái Sư, đứng đầu tất văn quan

của triều đình Năm 545, chiến đấu ngoan cường chống lực lượng đàn áp

nhà Lương Tinh Thiếu anh dũng hi sinh Do chưa rõ năm sinh nên chưa rõ mất,

Tinh Thiều hưởng thọ tuổi

-

(1) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 15 a) Các thư tịch cổ khác nhưLĨNH NAM CHÍCH QUÁI,VIỆT ĐIỆN U

LINH KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC chép tương tự.

VI LÝ TỰ TIÊN VÀ ĐINH KIẾN VỚI CUỘC CÔNG PHÁ MẠNH MẼ ĐẦU TIÊN VÀO CHÍNH QUYỀN ĐƠ HỘ CỦA NHÀ ĐƯỜNG

Vận trời cịn chửa hanh thơng

Nước non để hận anh hùng ngàn thu (Đại Nam quốc sử diễn ca)

1. NHỮNG BIẾN CỐ CHÍNH TRỊ DỒN DẬP

Năm 571, sau lập mưu giết hại Triệu Việt Vương, Lý Phật Tử nắm quyền thống trị

toàn cõi Tuy nhiên, quyền yếu bạc nhược, khơng ban

(59)

biện pháp hữu hiệu để phòng bị cho quốc gia Đối với tập đoàn phong kiến thống trị

Trung Quốc, vấn đề xua quân sang xâm lược tái thiết đô hộ nước ta cịn thời điểm

cụ thể

Chính quyền Lý Phật Tử tạm thời ổn định khoảng ba mươi năm (571-602)

bất tình hình Trung Quốc lúc chưa thật yên tĩnh Năm 581 (tức

10 năm sau Triệu Việt Vương qua đời) Dương Kiên1đã xoá bỏ cục diện Nam-Bắc Triều

của Trung Quốc lập nhà Tuỳ2 Trên danh nghĩa thì nhà Tuỳ đã thống Trung Quốc

nhưng tiềm lực nhà Tuỳ chưa mạnh, chống đối nhà Tuỳ liên tục lên

Năm 590, để mở rộng khẳng định quyền chi phối Lĩnh Nam, nhà Tuỳ lập Phủ

Tổng Quản Quế Châu, giao chức Tổng Quản cho nhân vật Linh Hồ Li đảm trách Với chức vụ

này, Linh Hồ Li có quyền uy lớn, phép cắt đặt tất quan lại từ hàm Thứ Sử trở xuống

Đây bước chuẩn bị cho Nam chinh nhà Tuỳ, mối đe doạ lớn

độc lập chủ quyền nước Vạn Xuân Bấy giờ, Lý Phật Tử chưa đến Phủ Tổng Quản

để yết kiến danh nghĩa cơng khai chịu thần phục Tổng Quản Linh Hồ Li, tức

đã hoàn tồn chịu thần phục triều đình nhà Tuỳ

Đầu năm Nhâm Tuất (602), lấy cớ Lý Phật Tử khơng chịu vào chầu, triều đình nhà Tuỳ sai

tướng Lưu Phương Kinh Đức Lượng3đem khoảng 10 vạn quân4đi đánh vạn xuân Lý Phật Tử

đã đầu hàng tướng Lưu Phương bị Lưu Phương bắt Trung Quốc Ách đô hộ nhà

Tuỳ thiết lập Vạn Xuân 16 năm (602-618)

Tháng năm 617, quyền thần triều đình nhà Tuỳ Lý Uyên 5đã bất ngờ khởi binh

chống lại nhà Tuỳ năm sau (tháng năm 618) Lý Uyên lật đổ nhà

Tuỳ lập triều đại lịch sử chế độ phong kiến Trung Quốc nhà Đường (618

-907) 6 Ngay sau lật đổ nhà Tuỳ, nhà Đường thay nhà Tuỳ đô hộ nước ta Năm 622 (tức

chỉ năm sau lật đổ nhà Tuỳ), Đường Cao Tổ 7đã cho lập Giao Châu Đô Hộ Phủ

(cơ quan cai trị lấy quân làm chỗ dựa chủ yếu nhất) Đến năm 679, Đường Cao Tông (649

-683) cho đổi Giao Châu Đô Hộ Phủ thành An Nam Đô Hộ Phủ8, và, gắn liền với trình thay

đổi nói q trình khơng ngừng tăng cường ách áp bóc lột phong kiến nhà

Đường

Bấy giờ, lợi dụng việc triều đình khơng thể kiểm sốt hết dân tình tất nơi xa xơi

cách trở nên bọn quan lại đô hộ sức tìm cách vơ vét tài sản nhân dân ta Trong kỉ

VII, Khâu Hoà 9 và Lưu Diên Hựu10 là hai đại diện tiêu biểu cho lực lượng tham quan ô lại này

Vốn uất hận cảnh nước nhà tan lại phải chịu thêm nạn bị bọn quan quân đô hộ tước

đoạt trắng trợn, dân khắp cõi đương thời ai căm tức Mâu thuẫn xã hội ngày trở

nên gay gắt nguyên nhân sâu xa dẫn tới vùng lên cơng khơng

khoan nhượng vào tồn đồ thống trị bọn ngoại bang Hai lãnh tụ hai danh

tướng tiếng kỉ VII Lý Tự Tiên Đinh Kiến

-

(1) Dương Kiên (541-604) Tuỳ Văn Đế hay Tuỳ Cao Tổ (581-604) - Hoàng Đế khai sáng nhà Tuỳ Năm 604, Tuỳ Văn Để bị

trai Dương Quảng giết hại để giành

(2) Nhà Tuỳ tồn trước sau tổng cộng 37 năm (581-618) truyền nối tất ba đời Kinh đô nhà Tuỳ Đại Hưng (đất thuộc

tỉnh Thiểm Tây Trung Quốc) Xin vui lòng tham khảo thêm : Nguyễn Khắc Thuần - CÁC ĐỜI ĐẾ VƯƠNG TRUNG QUỐC Nxb Giáo dục 2001, sách tái lần thứ nhất.

(3) Theo ghi chép củaNguỵ Trưng (Trung Quốc) trongTÙY THƯ (Súc Ấn Bách Nạp Bản, Thương Vụ ấn Thư Quán) Kinh Đức Lượng đến Dỗn Châu (nay thuộc huyện Quảng Thơng, Vân Nam, Trung Quốc) bị bệnh nặng nên khơng thể dược Tồn lực lượng nhà Tuỳ Lưu Phương cầm đầu.

(4) Theo ghi chép Ngụy Trưng (Trung Quốc) - sách dẫn - nhà Tuỳ huy động đến 27 quân doanh Dựa theo phiên chế quân đội

nhà Tuỳ ước đốn khoảng 10 vạn quân.

(5) Ngay từ năm 16 tuổi (582) Lý Uyên dã Tuỳ Cao Tổ phong làm Đường Quốc Công Thời Tuỳ Dưỡng Đế (604-618), Lý Uyên vừa Thứ Sử Kì Châu, vừa Thái Thú hai quận Vinh Dương Lâu Phiền Năm 618, Lý Un phế truất ngơi Hồng Đế lập Dương Hựu (tức

Tuỳ Cung Đế) lập nhà Đường.

(6) Nhà Đường tồn trước sau tổng cộng 289 năm (618-907), có 287 năm đô hộ nước ta (618-905) Nhà Đường truyền nối 21 dời Kinh đô nhà Đường Trường An (nay thuộc thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc).

(60)

(8 Địa danh An Nam dùng để nước ta Lúc này, An Nam Đô Hộ Phủ quản lãnh 12 châu vùng đồng với tổng cộng 59 huyện, ngồi cịn có 41 châu ki-mi (châu ràng buộc lỏng lẻo) vùng rừng núi trung du

(9) Khâu Hòa nguyên Thái Thú quận Giao Chỉ thời nhà Tuỳ, sau nhà Đường lưu dụng cho giữ chức Giao Châu Đô Hộ Phủ Ở Giao Châu Đô Hộ Phủ, Khâu Hoà người giữ chức

(10) Lưu Diên Hựu tên giữ chức An Nam Đô Hộ Phủ Theo Âu Dương Tu Tống Kỳ (Trung Quốc) trongTÂN ĐƯỜNG THƯ (Súc Ấn

Bách Nạp Bản, Thương Vụ Ấn Thư Quán) Lưu Diên Hựu người Bành Thành, thuộc Từ Châu (Trung Quốc), đỗ Tiến Sĩ nhà

Đường xếp vào loại có tài làm quan Trước bổ quan đô hộ An Nam Đô Hộ Phủ, Lưu Diên Hựu Thứ Sử Cơ Châu (Trung Quốc).

2 HAI CON NGƯỜI, MỘT KHÍ PHÁCH

Thư tịch cổ ta có chép đến hai nhân vật Lý Tự Tiên Đinh Kiến ĐẠI VIỆT SỬ

LƯỢC1 Sau đó, sử quan trọng khác nhưĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ KHÂM

ĐỊNH VIỆT SỬ THƠNG GIÁM CƯƠNG MỤCcũng có chép hai nhân vật lịch sử này.Tuy

nhiên, điều đáng tiếc tất thư tịch cổ nói khơng cho biết năm sinh, năm

mất quê quán Lý Tự Tiên Đinh Kiến 2 Tuy nhiên, góp nhặt ghi chép

tản mạn thư tịch cổ (của ta Trung Quốc) sơ phác hoạ

được vài nét nghiệp Lý Tự Tiên Đinh Kiến sau :

Bấy giờ, nhà Đường quy định dân di lão người phải đóng nửa suất tơ3nhưng

Lưu Diên Hựu bất phải đóng đủ suất không miễn giảm Tất nhiên, nửa suất tô

mà dân di lão phải đóng thêm nhập vào kho tài sản riêng Lưu Diên Hựu Hành vi tham lam bạo ngược Lưu Diên Hựu khiến cho nhân dân đương thời căm phẫn Nhân

lịng ốn giận nhân dân, Lý Tự Tiên riết chuẩn bị cho khởi nghĩa lớn,

rất tiếc mưu bị bại lộ Lập tức, Lưu Diên Hựu sai quân đến bắt giết chết Lý Tự Tiên với hi

vọng bóp nát hồn tồn khởi nghĩa thời kì trứng nước Nhưng Lưu Diên Hưu

đã nhầm Lý Tự Tiên khơng cịn, song, Đinh Kiến kế tục xuất sắc nghiệp lớn cịn dở

dang ơng, kêu gọi nhân dân đồng lịng vùng lên, cơng ạt bất ngờ vào phủ thành

Lưu Diên Hựu Sử cũ viết : “Dư đảng (của Lý Tự Tiên) bọn Đinh Kiến nhóm họp quân sĩ

bao vây phủ thành” 4

Lưu Diên Hựu kẻ có tài điều sử Trung Quốc cơng khai thừa nhận

Trong kế hoạch đối phó với Đinh Kiến Lưu Diên Hựu hồn tồn thượng phong, hồn tồn

có dư dả điều kiện thuận lợi phương tiện lợi hại để bóp nát tồn lực

lượng đấu tranh nhân dân đương thời Đinh Kiến lãnh đạo, nhưng, Lưu Diên Hựu không

thể làm điều Một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thúc thủ Lưu

Diên Hựu Lưu Diên Hựu giỏi, song, Đinh Kiến không phần tài ba Đinh

Kiến táo bạo tổ chức công vào hai chỗ yếu Lưu Diên Hựu Một giặc

lúc chủ quan, giết Lý Tự Tiên nên Lưu Diên Hựu n trí đóng qn phủ

thành Giao Chỉ5 việc phòng bị không cẩn trọng Hai là bản thân Lưu Diên Hựu lúc

cũng bị đồng liêu ganh ghét, họ mong Lưu Diên Hựu gặp đại nạn cho bõ ghét

Toàn lực lượng Lưu Diên Hựu bị chia cắt làm hai, quân phủ thành bị bao vây hoàn toàn bị lập cịn qn ngồi phủ thành khơng thể liên lạc dược với chủ tướng,

lực chiến đấu giặc suy giảm nghiêm trọng "Vì quân q ít, xét thấy khơng thể chống cự nổi,

(Lưu Diên Hựu) đóng chặt cửa thành để vừa cố thủ vừa xin quân cứu viện” 6 Bấy

Quảng Châu, quan trấn giữ nhà Dường Phùng Tử Du 7tuy nhận lời cầu cứu

của Lưu Diên Hựu khơng đem qn cứu Phùng Tử Du có hai lí để khơng cứu Một

là khơng ưa Lưu Diên Hựu nên thấy Lưu Diên Hựu gặp nạn mừng thầm, kể may mắn

có hội“mượn tay kẻ thù tiêu diệt đối thủ” Hai Phùng Tử Du để mặc cho Lưu Diên Hựu

Đinh Kiến đánh nhau, bên thắng hay khơng bên thắng rốt có lợi cho

Phùng Tử Du đến lúc đó, Phùng Tử Du cần đem đạo quân nhỏ đến để “dẹp

loạn” cũng dễ dàng thành cơng có may triều đình biết đến Tuy

nhiên, toan tính Phùng Tử Du nửa mà

Thúc thủ phủ thành, tinh thần lẫn thể xác Lưu Diên Hựu bị suy kiệt, khả

(61)

giết chết Tồn quyền An Nam Đô Hộ Phủ tan rã Và chỗ không ngờ, kế

hoạch “mượn tay kẻ thù tiêu diệt đối thủ”, Phùng Tử Du hoàn tất Sau thắng lợi này, Đinh

Kiến vào tiếp quản phủ thành nhanh chóng xây dựng quan quyền lực ông đứng đầu

Tuy nhiên, ý đồ Phùng Tử Du việc đem quân dẹp loạn hai phe đối nghịch

mệt mỏi tổn thất nặng nề khơng thể thực triều đình nhà Đường xuống lệnh

cho Tư Mã Quế Châu Tào Huyền Tĩnh8đi đàn áp Đinh Kiến.

Bấy giờ, quyền Đinh Kiến non trẻ, lực lượng quân sĩ nhóm họp có tinh

thần chiến đấu cao khả kinh nghiệm trận mạc cịn q ói, cho nên, Tào

Huyền Tĩnh triệt để lợi dụng tình hình để liên tục tổ chức công lớn Dù dã

anh dũng chống đỡ cách ngoan cường nghĩa qn Đinh Kiến khơng

đẩy lùi Tào Huyền Tĩnh Đinh Kiến bị kẻ thù giết hại khởi nghĩa ông cầm đầu đến

đó bị dập tắt, ách đô hộ nhà Đường lại tái lập đất nước ta

Đinh Kiến thân ý chí quật cường khí phách hiên ngang, tâm giành lại độc

lập chủ quyền cho non sơng đất nước Ơng thực xứng đáng xếp vào hàng tên

tuổi lớn truyền thống quật khởi, đặc biệt truyền thống quật khởi thể thời Bắc

thuộc

-

(1) Xin vui lòng tham khảo dịch củaNguyễn Gia Tường Nguyễn Khắc Thuần hiệu đính viết lời bạt Nxb Thành phố Hồ Chí Minh

1992

(2) Riêng với hai nhân vật Lý Tự Tiên Đinh Kiến, cố gắng tìm kiếm thêm tư liệu từ thần tích truyền thuyết dân gian nhưng kết khơng có đáng kể Do q xa xơi cách trở nên tính khởi thảo tập sách này, chưa thể thực

thêm chuyến khảo sát khác Hi vọng dược bạn đọc gần xa thông cảm vui lịng bổ sung tư liệu Chúng tơi giới thiệu việc

bổ sung sách có may tái bản.

(3) Âu Dương Tu - Tống Kỳ : TÂN ĐƯỜNG THƯ Sách dẫn Tác giả xin thích thêm :dân di lãonghĩa dân già đất man

di Dân di lão có thư tịch cổ chép người Cịn như phần sản phẩm nơng nghiệp mà dân phải nộp, nhiều tuỳ theo diện

tích sản lượng ruộng đất họ canh tác.

(4) ĐẠI VIỆT SỬ LƯỢC (Quyển 1) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 5, tờ 4-a) BộKHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên, 4, tờ 21) viết tương tự.

(5) Phủ thành An Nam Đô Hộ Phủ đặt Giao Chỉ Địa điểm cụ thể có lẽ khu vực sau thành Tống Bình, thuộc Hà Nội.

(6) Âu Dương Tu - Tống Kỳ : TÂN ĐƯỜNG THƯ.Sách dẫn.ĐẠI VIỆT SỬ LƯỢC (Quyển 1).ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ(Ngoại kỉ,

quyển 5, tờ 4-b) KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên, 4, tờ 21) Tác giả xin thích thêm quân số

của Lưu Diên Hựu không thư tịch cổ Trung Quốc chép (và thư tịch cổ ta chép lại) ChínhÂu Dương

Tu Tống Kỳ TÂN ĐƯỜNG THƯđã ghi rõ quân thường trực An Nam Đô Hộ Phủ 4.200 tên 300 ngựa So với lực lượng

nghĩa binh nhóm họp Đinh Kiến quân số lớn.

(7) Nhân vật sử ta chép Phùng Tử Do, nhiên, thư tịch cổ Trung Quốc lại chép Phùng Tử Du Tác giả xin được thích thêm rằng, thư lịch cổ Trung Quốc nhân vật Phùng Tử Du có giới thiệu mộtđại tộc lại có

giới thiệu quan biên ải Theo chúng tơi có lẽ Phùng Tử Du vừa xuất thân đại tộc vừa làm quan biên ải.

(8 Nhân vật ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ chép làTào Trực Tĩnhnhưng thư tịch cổ Trung Quốc ghi rõ làTào Huyền Tĩnh Trong

trường hợp cụ thể này, ghi chép thư tịch cổ Trung Quốc đáng tin cậy hơn.

VII MAI THÚC LOAN VỚI CUỘC QUYẾT CHÍ ĐẠI ĐỊNH ĐẦU THẾ KỈ VIII

Mai Thúc Loan ở Hoan Châu Quân ba mươi vạn ruổi vào ải xa

Hiệu cờ Hắc Đế mở ra

Cũng toan quét dẹp sơn hà phương.

(Đại Nam quốc sử diễn ca)

Bộ sử nước ta có đề cập tới nhân vật Mai Thúc Loan ĐẠI VIỆT SỬ KÍ

TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 5, tờ 4-b) tất gồm vỏn vẹn chừng độ ba bốn

chục chữ tất nhiên số lượng thông tin quan trọng đáng kể

Mấy kỉ sau, sử gia Quốc Sử Quán Triều Nguyễn với việc biên soạn bộ KHÂM

ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên, 4, tờ 21), đành có cố gắng

(62)

cũng giản lược

Ở Trung Quốc, từ góc độ chủ yếu ghi nhận hoạt động đội ngũ quan lại trực tiếp nắm

quyền đô hộ nước ta, vài tác phẩm sử học mà đặc biệt TÂN ĐƯỜNG

THƯ (do Âu Dương Tu Tống Kỳ biên soạn), có viết Mai Thúc Loan Tất nhiên

chân dung Mai Thúc Loan sử sách Trung Quốc ln ln bị bóp méo, hành trạng

Mai Thúc Loan trở nên xa lạ với ơng bối cảnh lịch sử thời đại ông

Tóm lại, thơng tin Mai Thúc Loan kho thư tịch cổ rời rạc nghèo nàn Mặc dù

vậy, cẩn trọng tổng kết ghi chép tản mạn sử cũ ta Trung

Quốc, đồng thời, cố gắng đối chiếu thật tỉ mỉ với nội dung thần tích lời kể truyền

thuyết dân gian (nhất thần tích truyền thuyết dân gian hai tỉnh Nghệ An Hà Tĩnh),

chúng ta bước đầu phác hoạ vài nét lí lịch đời nghiệp Mai

Thúc Loan

1 QUÊ HƯƠNG, GIA ĐÌNH VÀ THỜI ĐẠI

Mai Thúc Loan người làng Mai Phụ, thuộc Hoan Châu Làng Mai Phụ (tên Nôm Kẻ Mỏm)

nguyên xưa thuộc huyện Thiên Lộc, sau huyện Can Lộc, thuộc xã Thạch Bắc, huyện

Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh1 Truyền thuyết dân gian vùng huyện Thạch Hà cho hay rằng, họ Mai

chính họ thân mẫu Mai Thúc Loan cịn thân sinh ơng họ tên chưa rõ Mai Thúc Loan phải chịu cảnh mồ côi cha từ lúc cịn nhỏ tuổi, gia đình ơng thuộc vào hàng nghèo khó vùng Kẻ Mỏm đương thời Tài sản quý giá Mai Thúc Loan sức

khoẻ mà ơng may mắn trời ban cho Đời truyền Mai Thúc Loan người cao to, tay

bng dài q gối cịn da đen Ơng giỏi võ nghệ, lại có tiếng sáng đặc

biệt có duyên! Năm Mai Thúc Loan chưa đầy 10 tuổi thân mẫu ơng dời nhà định

cư vùng rừng núi Ngọc Trừng (vùng ngày thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) Tại

đây Mai Thúc Loan phải làm đủ việc nặng nhọc để kiếm sống : vào rừng lấy củi

bán, chăn trâu, cày thuê cuốc mướn, đợ Tuy phải sống cực vất vả phải chịu đựng

thiếu thốn trăm bễ ông luôn yêu đời Hai mẹ ông lúc biết thương yêu

đùm bọc che chở cho Bấy giờ, Mai Thúc Loan lại có tiếng người giàu lịng hiếu

thảo, cho nên, dân vùng quý mến gia đình Mai Thúc Loan

Mai Thúc Loan lớn lên cảnh non sơng bị chìm đắm ách đô hộ tàn bạo nhà Đường

(618-907), trăm họ phải chịu đựng nỗi thống khổ Bấy Trung Quốc,

phe cánh Vũ Tắc Thiên 2đã bị lật đổ, Hoàng Đế nhà Đường Đường Huyền Tông (712-756) 3 sức tìm đủ cách để củng cố ngơi vị và quyền lực mình Ách thống trị

nhà Đường nước ta mà thêm tàn bạo Lợi dụng việc trấn trị nơi cách

xa triều đình trung ương, bọn quan lại hộ tự cho quyền tự tung tự tác Nhiều thư

tịch cổ Trung Quốc thừa nhận rằng, viên quan muốn cử An Nam Đô Hộ

Phủ phải bỏ tiền hối lộ, gọi tiền gạo tiến thân 4 Để bù lại số tiền gạo tiến

thân đã bỏ quan trọng nữa, để làm giàu cho riêng mình, chúng tìm đủ cách để vơ vét

Lúc này, Tô-Dung-Điệu tuy đặt chế độ cống nạp áp dụng

cách phổ biến riết Mượn danh nghĩa thu cống phẩm cho triều đình, bọn quan lại nhà

Đường ngang nhiên tước đoạt nhân dân ta tất mà chúng xếp vào loại đặc sản,

tất mà chúng cho quý nhất, tốt nhất, đẹp lạ nhất, tất chúng

muốn có tất mà chúng khơng muốn dân ta có Phần tài sản nhân dân ta mà

chúng ngang nhiên tước đoạt cách trắng trợn gọi ngoại suất5 Với xã hội

đương thời, ngoại suất luôn nỗi ám ảnh nặng nề Điều đáng nói hầu hết

khoản ngoại suấtđều quyền hộ nhà Đường quy lụa lần quy đổi thêm lần thiệt hại cho dân

-

(63)

Thành, lại có chép Mai Thúc An Và thư tịch cổ Trung Quốc, nghiệp Mai Thúc Loan luôn thổi phồng

lên mà lí chủ yếu quyền hộ nhà Đường nước ta muốn đề cao cơng đánh dẹp

(2) Vũ Tắc Thiên có họ tên thật Vũ Chiếu, sinh năm 624, năm 705, hưởng thọ 81 tuổi Nguyên Vũ Tắc Thiên Hoàng Hậu Đường

Cao Tông (649-683) Đường Cao Tông sủng ái, với Đường Cao Tông xưng Nhị Thánh, đồng thời tham gia giải

những việc lớn triều đình Năm 683, Đường Cao Tông qua đời, Lý Hiển (Đường Trung Tông) đưa lên nối Vũ Tắc

Thiên lại nắm quyền Giám Triều Năm 684, Vũ Tắc Thiên phế Đường Trung Tông lập Lý Đán (tức Đường Dệu Tông - em ruột Đường Trung Tơng), chẳng sau đến lượt Đường Duệ Tông bị Vũ Tắc Thiên phế bỏ Năm 690, Vũ Chiếu thức lên ngơi

Hoàng Đế, xưng làThánh Thần Hoàng Đế, đổi quốc hiệu nhà Chu dời kinh đô từ Trường An Lạc Dương Sử Trung Quốc gọi thời

Vũ Chu (690-705)

(3) Đường Huyền Tơng tên Lý Long Cơ Hồng Đế thứ bảy nhà Đường, thứ Đường Duệ Tông, sinh năm 685, lên năm 712, ngôi Hồng Đế 44 năm (712-756), ngơi Thượng Hồng năm (756-762), năm 762, hưởng thọ 77 tuổi.

(4) Âu Dương Tu - Tống Kỳ(Trung Quốc) : Sách dẫn.

(5) Nhạc Sử (Trung Quốc) :THÁI BÌNH HỒN VŨ KÍ Kim Lăng ấn bản.

2 ĐẤT BẰNG NỔI SÓNG

Năm 722, Mai Thúc Loan lại phải phu Bấy quyền hộ nhà Đường quy định dân

đinh năm phải phu từ 20 đến 50 ngày Tất nhiên, quy định giấy tờ

thực tế dân đinh nghèo khổ phải quanh năm lao động không công để phục dịch

cho giai cấp thống trị Lần này, Mai Thúc Loan phải làm phu gánh vải1 Đường xa, gánh

nặng, cực nhọc trăm bề, nghe tới chuyện phải làm phu gánh vải

ngao ngán Lời hát chầu văn vùng Nam Đàn (tỉnh Nghệ An) có câu :

Nhớ nội thuộc Đường triều.

Giang sơn cố quốc nhiều điều ghê gai Sâu vải vạch lá.

Ngựa hồng trần kể héo hon 2

Không thể tiếp tục chịu đựng cảnh bị áp bất công nữa, Mai Thúc Loan dõng dạc

kêu gọi tồn thể đồn phu gánh vải đồng lịng vùng dậy chống ách đô hộ nhà Dường

Ngay lập tức, lời kêu gọi ông toàn thể đoàn phu tề hưởng ứng Dân khắp cõi

cũng nồng nhiệt ủng hộ lực lượng nghĩa sĩ Mai Thúc Loan vừa thành lập lãnh đạo

Quan quân đô hộ nhà Đường phải thực đối đầu với đấu tranh vũ trang mạnh mẽ

Địa bàn hoạt động địa bàn hoạt động chủ yếu lâu dài nghĩa quân

Mai Thúc Loan vùng Châu Hoan, Châu Diễn Châu Ái Tuy nhiên, chẳng sau

ngày dựng cờ xướng nghĩa, theo ghi chép thư tịch cổ Trung Quốc Mai Thúc Loan nhanh chóng liên kết tập hợp dân chúng 32 châu3 Hơn nữa, theo ghi chép

của thư tịch cổ Trung Quốc Mai Thúc Loan cịn nhận hưởng ứng mãnh liệt

nhân dân số nước chung quanh Sử cũ chép Mai Thúc Loan “liên kết với dân nước Lâm Ấp, Chân Lạp Kim Lân, giữ vững Nam Hải, quân số lên đến 40 vạn người”4 Nhờ có

lực lượng đơng đảo lại cịn nhân dân địa phương đồng lòng ủng hộ từ quê nhà

đất Nghệ An, Mai Thúc Loan cho đại quân rầm rộ tiến thẳng Bắc mà mục tiêu quan trọng

hàng đầu thành Tống Bình (vùng Hà Nội ngày nay) Quân Mai Thúc Loan tiến đến đâu

chính quyền giặc tan rã tới Viên quan đứng đầu quan đô hộ nhà Dường An Nam

Đô Hộ Phủ lúc Quang Sở Khách 5 khiếp đảm trước cơng ạt

nghĩa quân Mai Thúc Loan nên nhanh chân tháo chạy Trung Quốc Ngay lập tức, Mai Thúc

Loan thành lập quyền độc lập tự chủ ơng đứng đầu Ơng xưng Mai Hắc Đế thay đóng thành Tống Bình Mai Hắc Đế lại quay q nhà đóng thành Vạn

An (thành thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) Thành Vạn An nằm khu Sa

Nam Khu số nhà nghiên cứu khảo sát mô tả chi tiết sau

: “Đấy vùng núi rừng rậm rạp nằm cạnh sông Lam khúc hiểm sâu Ông lấy Vệ Sơn làm trung tâm, đóng đại doanh nghĩa quân Dọc bờ sông Lam, nghĩa quân đắp chiến lũy dài

hơn nghìn mét Đấy thành Vạn An tiếng, có núi Đụn (Hùng Sơn) làm chỗ dựa ; phía

(64)

cạnh thành Vạn An, đồn tổng huy, thống lĩnh hai đạo quân thuỷ bộ” 6 Như vòng 30 năm (từ năm Lý Tự Tiên Đinh Kiến dõng dạc cất lời hiệu triệu bốn phương

cầm vũ khí để vùng dậy khởi nghĩa năm Mai Thúc Loan vung gươm chí đại định),

chính quyền đô hộ nhà Đường hai lần bị đánh đổ Thắng lợi Mai Thúc Loan đòn

cảnh cáo nghiêm khắc mưu đồ chung chủ nghĩa bành trướng đại Hán dự

báo tốt đẹp cho khả giành trọn vẹn độc lập tự chủ nhân dân ta

Tuy nhiên, bình đẳng nhân vật lịch sử khác, Mai Thúc Loan có hạn chế tất

yếu ông Xem cách Mai Thúc Loan chọn đất đóng đặc biệt cách bố phòng chung

quanh thành Vạn An, điều mà dễ dàng nhận tư tưởng phòng ngự

đã xuất sớm chi phối mạnh suy nghĩ hành động ông Khi

mà bọn quan quân đô hộ tháo chạy chưa hoàn toàn bị tiêu diệt, mà việc trấn áp

tay chân phong kiến phương Bắc tiến hành chưa triệt để mà quyền chưa

được xây dựng cách chắn hồn chỉnh việc lui phịng thủ thành Vạn An

trong năm 722 định vội vàng điều bị kẻ thù nhanh chóng phát

tìm cách lợi dụng

-

(1) Gần có người đặt vấn đề nghi ngờ việc Mai Thúc Loan gánh vải với lí vùng Nghệ An Hà Tĩnh vải

Chúng tơi đồng ý vùng Nghệ An Hà Tinh vải, Mai Thúc Loan ngườiphải làm phu gánh quả vải các địa phương khác theo lệnh bắt buộc quyền hộ nhà Đườngchứ là làm phu gánh quả vải từ Nghệ An hay Hà Tĩnh Cho nên, việc nghi ngờ khơng có vững chắc.

(2) Dẫn lại củaPhan Huy Lê - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn - Lương Ninh : LỊCH SỬ VIỆT NAM Tập 1, NXB Đại học Trung học

chuyên nghiệp Hà Nội 1983 Trang 446.

(3) Theo chúng tôi, số 32 châu đáng ngờ, tất có lẽ bọn quan quân nhà Đường đàn áp Mai Thúc Loan muốn định cơng to ban thưởng lớn nên nói phao lên thế.

(4) KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên, 4, tờ 21) Các tác giả củaĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ(Ngoại kỉ,

quyển 5, tờ 4-b) khơng chép nước Kim Lân Chúng tơi xin thích thêm : Lâm Ấpvề sau phần củaChiêm Thành

nhưChân Lạp lúc có lãnh thổ tương ứng với vùng Nam Bộ nước ta cộng với Campuchia phần Đông Bắc Thái Lan

ngày Kim Lân cịn có tên khác Kim Trần tức Malaysia Quân số Mai Thúc Loan đông tới 40 vạn Một lần cách thổi phồng quan quân nhà Đường cốt để mong định công to ban thưởng lớn.

(5) Nhân vậtQuang Sở Kháchđã bị bộĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ(Ngoại kỉ, 5, tờ 4- b) chép nhầm thànhNgun Sở Khách Lí có lẽ Hán tự, mặt chữNguyên mặt chữQuang gần giống nên dễ nhầm.Quang Sở Kháchngười Giang Lăng (Trung Quốc),

sang nhận chức An Nam Đô Hộ Phủ vào đầu năm 714 (năm Khai Nguyên thứ hai, đời Đường Huyền Tông : 712-756)

(6) Phan Huy Lê - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn - Lương Ninh : LỊCH SỬ VIỆT NAM Tập 1, NXB Đại học Trung học chuyên nghiệp

Hà Nội 1983 Trang 446-447

3 NGHĨA KHÍ VĨNH TỒN VỚI NÚI SƠNG

Về phía qn hộ, Quang Sở Khách hốt hoảng tháo chạy Trung Quốc tiềm lực

chung nhà Đường lại vào thời cường thịnh nhất, thế, Đường Huyền Tơng (712-756)

dã hạ chiếu sai quân đàn áp Mai Thúc Loan Tổng huy quân đội nhà Đường

cuộc cơng đàn áp có quy mơ lớn Dương Tư Húc1 - một viên dũng

tướng khét tiếng dày dạn kinh nghiệm triều đình Đường Huyền Tơng Viên bại tướng

Quang Sở Khách với Dương Tư Húc để làm hướng đạo để có hội lập

công chuộc tội Quân số Dương Tư Húc 10 vạn tên gồm đủ binh thuỷ binh So với

lực lượng nghĩa sĩ nhóm họp Mai Thúc Loan thực quân số áp đảo Đó

chưa kể đến số quan lại nhà Đường phạm tội nên bị đày đến An Nam, mong sớm

phục chức nên bọn sức tìm đủ mỏi cách để chiêu mộ qn lính, tình nguyện theo

Dương Tư Húc đàn áp Mai Thúc Loan2

Quân nhà Đường men theo lối xưa Mã Viện để tiến, tức từ phía Nam Khâm Châu

(Trung Quốc), vượt qua biển vịnh Hạ Long mà tràn vào An Nam Nhân lúc nhuệ khí hăng,

Dương Tư Húc Quang Sở Khách hạ lệnh cho quân sĩ công cấp tập vào lực lượng Mai

Thúc Loan vùng duyên hải Đông Bắc ạt đánh vào vùng đồng Bắc Bộ Nghĩa quân Mai

Thúc Loan chiến đấu anh dũng thiếu kinh nghiệm trận mạc trang bị lại

quá thô sơ nên liên tiếp bị thất bại, Mai Thúc Loan liền lui quân cố thủ khu vực thành

Vạn An

Từ khu vực đồng Bắc Bộ, Dương Tư Húc cho quân tiến vào Nghệ An, chặn đứng

(65)

định thắng bại cuối Đúng lúc tình hình diễn tiến theo chiều hướng bất lợi cho

nghĩa quân Mai Thúc Loan lại lâm bệnh mà qua đời 3 Tổn thất nghiêm trọng khiến cho

khơng nghĩa sĩ phải tìm đường tạm lánh để chờ thời Chớp lấy hội đó, Dương Tư Húc cho

đại quân xông vào thành Vạn An toàn khu nghĩa quân vùng Sa Nam Một

đàn áp đẫm máu chưa thấy diễn Hàng ngàn nghĩa sĩ nhân dân địa phương bị

giặc giết hại, tất chôn chung vào mộ tập thể lớn gọi Kình Quán

Cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ tàn bạo nhà Đường Mai Thúc Loan phát động lãnh

đạo nhanh chóng bị thất bại ý chí quật cường gương dám xả thân cứu nước

của tất nghĩa sĩ tập hợp cờ Mai Thúc Loan mãi ngời sáng sử sách

Trong tâm khảm bất diệt hệ nhân dân ta, Mai Thúc Loan niềm kiêu hãnh lớn

lao, đỉnh cao chói lọi chủ nghĩa yêu nước Trải ngàn năm, mộ

đền thờ Mai Thúc Loan cịn đó, tên ơng vĩnh tồn với Hùng Sơn, Vệ Sơn, Ngọc Đái Sơn,

Biều Sơn, Liêu Sơn với thành Vạn An, với sông Lam với muôn đời đất nước

Hồng Giáp Ngơ Thì Sĩ (1725-1780) có lời : "Đang bị nội thuộc, Mai Hắc Đế khơng chịu kiềm thúc bọn quan lại tàn ác nên vùng lên, bậc xuất chúng trong đám thổ hào vậy” Ngơ Thì Sĩ khơng xác xếp Mai Thúc Loan vào hàng “thổ

hào” ông hoàn toàn đánh giá Mai Thúc Loan "bậc xuất chúng” Tuy

xuất thân hàng cố xã hội, chưa lần huấn luyện binh pháp

những nguyên tắc cầm quân, nhưng, lòng yêu nước thiết tha, lòng căm thù giặc sâu sắc cộng với

niềm tin mãnh liệt vào toàn thể người cảnh ngộ bị áp đoạ đày mình, Mai

Thúc Loan khiến cho đương thời lẫn hậu cảm phục tài tập hợp, tổ chức huy

nghĩa sĩ ông Mai Thúc Loan biểu sinh động nghệ thuật bố trí trận đánh

bất ngờ vào lực lượng đối phương

Quang Sở Khách triều đình nhà Đường Hồng Đế Đường Huyền Tơng xếp vào hàng

những viên tướng giàu tài nên tin cậy uỷ thác việc trấn trị An Nam Đô Hộ Phủ Trước

khi phát động khởi nghĩa, Mai Thúc Loan dân phu bình thường chưa

tướng trực tiếp cầm quân cả, nhưng, người đánh cho viên tướng triều đình

phong kiến Trung Quốc xếp vào hàng giàu tài - nữa, cịn kẻ có thành

cao, hào sâu, quân đông trang bị đầy đủ - rốt phải hốt hoảng bỏ chạy rõ ràng

Mai Thúc Loan xứng đáng đời công trân trọng coi bậc danh tướng

-

(1) Theo Âu Dương Tu - Tống Kỳ (Trung Quốc) Sách dẫn, Dương Tư Húc vốn người họ Tơ, q huyện Thạch Thành, thuộc La Châu,

xuất thân hoạn quan lại chuyên nghề võ Dưới thời Đường Huyền Tông, Dương Tư Húc xếp vào hàng võ tướng có tiếng tăm

nổi bật

(2) Theo Âu Dương Tu - Tống Kỳ (Trung Quốc) Sách dẫn, nhân vật Tống Chi Đễ đại diện tiêu biểu bọn quan lại thuộc loại (3) Tất thư tịch cổ ta nói Mai Thúc Loan năm 722 mà khơng nói rõ lí truyền thuyết dân gian vùng Nam Đàn

(Nghệ An) nói Mai Thúc Loan bệnh Sau ơng mất, trai ơng lên nơi ngơi, Mai Thiếu Đế Hiện Hùng Sơn (núi Đụn) cịn có hai ngơi mộ xác định mộ Mai Hắc Đế (tức Mai Thúc Loan) mộ Mai Thiếu Đế

VIII HAI ANH EM PHÙNG HƯNG, PHÙNG HÃI VÀ HAI TRẬN QUYẾT ĐẤU

VỚI QUÂN ĐÔ HỘ NHÀ ĐƯỜNG

Đường Lâm có Phùng Hưng Đã tài kiêu dũng lại lưng phú hào

Cõi Tây nổi việc cung đao

Đô Quân tôn hiệu, Tản-Thao hiệp tình (Đại Nam quốc sử diễn ca)

(66)

Ngay từ cuối thời trị Đường Huyền Tơng (712-756), triều đình nhà Đường bắt đầu gặp

khơng khó khăn đối nội lẫn đối ngoại Ở bên vào năm 755, tướng An Lộc

Sơn1 binh làm phản, bên ngồi người Thổ Phồn 2ln đem qn tới đánh phá,

chưa kể tình hình bất ổn triền miên Đơ Hộ Phủ

Dưới thời trị Đường Túc Tơng (756-762), Đường Đại Tông (762-779) Đường Đức Tông

(779-805), khó khăn nhà Đường thêm chồng chất công khai chống đối

Tiết Độ Sứ nhiều phiên trấn Thư tịch cổ Trung Quốc cho biết :

- Đầu thời Đường Đại Tông, Tiết Độ Sứ trấn Lư Long (vùng Bắc Bình Trung Quốc ngày

nay), Tiết Độ Sứ trấn Ngụy Bắc (vùng Trực Lệ Trung Quốc ngày nay), Tiết Độ Sứ

trấn Thành Đức (cũng thuộc vùng Trực Lệ Trung Quốc ngày nay) nguyên hàng tướng

nhà Đường, đến không chịu tuân theo mệnh lệnh triều đình

- Dưới thời Đường Đức Tơng, viên tướng Vương Vũ Tuấn, Điền Duyệt, Lý Nạp, Chu

Thư, Lý Hy Liệt, Lý Hoài Quảng nối làm loạn, khiến cho Đường Đức Tông buộc phải

mấy phen bỏ kinh thành mà chạy

- Ở nhiều trấn khác, chức Tiết Độ Sứ bị quan trấn trị coi chức cha truyền nối, triều

đình nhà Đường đành phải chịu chấp thuận khơng cịn có quyền phong

Tình hình trị diễn biến ngày phức tạp biện pháp quản lí nhà Đường lại

thường thiếu quán liên tục đổi thay cách không cần thiết Vào năm Kỉ Mão

(679), Đường Cao Tông (649-683) đặt raAn Nam Đơ hộ phủ đến năm Đinh Dậu (757) Đường

Túc Tông (756-762) cho đổi An Nam Đô Hộ Phủ thành Trấn Nam Đô Hộ Phủ mười

năm sau, năm Nhâm Thân (768), Đường Đại Tông (762-779) lại cho đổi Trấn Nam Đô Hộ Phủ

thành An Nam Đô Hộ Phủnhư cũ Mỗi lần đổi tên lần thay đổi máy quan lại đô

hộ lần thay đổi máy quan lại đô hộ lần nhân dân khắp cõi buộc phải

nai lưng làm việc để đóng góp thêm cho giặc

Vào nửa sau kỉ VIII, Cao Chính Bình 3được triều đình nhà Đường cho giữ chức đứng đầu

An Nam Đô Hộ Phủ Đây viên quan khét tiếng tàn bạo tham lam, dã

vắt óc nghĩ đủ thứ thu vào để vơ vét cho riêng thân Bấy giờ, nhân

dân ta mà binh lính quyền Cao Chính Bình khơng chịu đựng Một

làn sóng phản kháng mạnh mẽ chẳng sau binh biến nổ

trong thành Tống Bình 4 Cao Chính Bình đến nhận chức chưa Sự kiện đã

khiến cho tồn guồng máy quyền hộ phủ phen thất điên bát đảo

Theo ghi chép của VIỆT ĐIỆN U LINH 5 tổ tiên hai anh em Phùng Hưng Phùng Hãi đời

đời nối làm Quan Lang vùng Đường Lâm6 Sinh thời, Phùng Hưng giữ chức

này Ơng vốn nối tiếng khoẻ mạnh "có thể đánh cọp dữ, vật trâu lớn"7 tính tình nhân

hậu gia đình giàu có Em trai ông Phùng Hãi 8cũng lừng danh không Đời truyền

rằng Phùng Hãi có thể“mang tảng đá nặng ngàn cân, đội thuyền có sức chở

ngàn hộc mà xa tới mười dặm"9 Dân khắp vùng ai nể phục Rất tiếc tất tài liệu có khơng cho biết năm sinh hai anh em Phùng Hưng Phùng Hãi Phùng

Hưng năm Tân Mùi (791) cịn Phùng Hãi năm chưa rõ

-

(1) An Lộc Sơn xuất thân người thiểu số, quê Bắc Trung Quốc Dưới thời Đường Huyền Tông, An Lộc Sơn phong làm Tiết Độ Sứ

trấn Bình Lư vùng Nhiệt Hà Trung Quốc ngày nay) kiêm Tiết Độ Sứ trấn Phạm Dương (vùng Bắc Bình Trung Quốc ngày nay) Trước

nổi binh làm phản, An Lộc Sơn Dương Thái Hậu (thân mẫu Đường Túc Tông : 756-762) nhận làm nuôi

(2) Thổ Phồn vừa tên tộc người, vừa lên vương quốc cổ lịch sử Trung Quốc Đất đai vương quốc cổ đổi thay nhưng tương ứng với vùng Tây Tạng Trung Quốc ngày

(67)

(4) Vào thời thuộc Tuỳ (602-618) đầu thời thuộc Đường (618-905), Tống Bình tên số chín huyện quận Giao Chỉ Phần lớn đất đai huyện Tống Binh vùng phía đông thành phố Hà Nội Trong phạm vi địa hạt huyện Tống Bình có thành Tống Bình Đây nơi đặt sở trị quyền quận Giao Chỉ Vị trí cụ thể thành Tống Bình chưa xác định dược cách rõ ràng

thuộc Hà Nội ngày

(5) Tác phẩm quan trọng phần lớn nhà khảo cứu văn học coi củaLý Tế Xuyên Vì lẽ đó, từ trở đi, tất đoạn

trích dẫn có nguồn gốc từVIỆT ĐIỆN U LINH, chúng tơi ghi tên tác giả Lý Tế Xuyên

(6) Theo kết khảo sát chúng tơi Hà Tây dịng họ Phùng đông riêng khu vực Đường Lâm, huyện Phúc Thọ

tỉnh Hà Tây có đền thờ Phùng Hưng khơng thấy có họ Phùng Điều cho phép suy luận : bị dàn áp khốc liệt, họ Phùng buộc phải di cư dến vùng khác

(7) Lý Tế Xuyên - VIỆT ĐIỆN U LINH

(8 Em trai Phùng Hưng tên nguyên Hán văn viết Phùng Hãi nhiều sách phiên âm nhầm thành Phùng Hải

Trong chữ Việt,Hải Hãi dễ nhầm lẫn chữ Hán Hải Hãi hồn tồn khác nhau, khơng thể nhầm lẫn Nay, chúng xin theo mặt chữ Hán mà phiên âm Phùng Hãi

(9) Lý Tế Xuyên - VIỆT ĐIỆN U LINH

2 TRẬN QUYẾT ĐẤU THỨ NHẤT : PHÁ VỠ MỘT MẢNG CHÍNH QUYỀN ĐƠ HỘ

Như nói vào năm 767, Cao Chính Bình triều đình Đường Đại Tơng (762 - 779) bổ

làm quan đứng đầu An Nam Đô Hộ Phủ Trong thời thuộc Đường nói riêng tồn thời Bắc

thuộc nói chung, Cao Chính Bình viên quan đô hộ tham lam tàn bạo vào

hàng bậc Chính sử Trung Quốc buộc phải hạ bút mà ghi "Cao Chính Bình lạm thu phú liêm, man dân ốn" (Cao Chính Bình lạm thu thuế má khoản đóng

góp khác, dân man ốn giận) Nhân lịng căm phẫn nhân dân đương thời, Phùng Hưng

khởi xướng đấu tranh

Khởi đầu, đấu tranh không bột phát dội không phần gay go

quyết liệt, diễn trước hết đất Đường Lâm Hiện tại, chưa rõ hai ơng thức

dựng cờ tụ nghĩa vào năm nào, thư tịch cổ cho biết nhân dân vùng Đường Lâm

nhất tề hưởng ứng lời kêu gọi Phùng Hưng Phùng Hãi, vùng lên giành quyền vào

khoảng niên hiệu Đại Lịch 1 (tức là khoảng năm từ cuối 766 đến hết năm 779) Tuy

nhiên, vào nguyên cớ trực tiếp chống lại tàn bạo Cao Chính Bình,

tạm ước đoán hai anh em Phùng Hưng Phùng Hãi hiệu triệu nhân dân dậy vào

khoảng năm cuối niên hiệu Đại Lịch tức vào khoảng năm bảy mươi kỉ

VIII) Sử cũ viết : “Khoảng niên hiệu Đại Lịch, thời trị Đường Đại Tơng, nhân Giao

Châu loạn lạc, (Phùng Hưng) với em (Phùng) Hãi hàng phục ấp lân cận."2

Bấy giờ, Phùng Hưng xưng Đô Quân cịn Phùng Hãi xưng Đơ Bảo 3và đất Đường Lâm trở

thành sào huyệt kiên cố nghĩa qn.Tồn quyền hộ nhà Đường

vùng Đường Lâm khu vực lân cận (gồm phần lớn đất Hà Tây với phần đất đai

của tỉnh Vĩnh Phúc Phú Thọ ngày nay) bị tan rã thay vào quyền tự

chủ Phùng Hưng đứng đầu nhanh chóng dựng lên Hiện chưa rõ quan

quyền lực Phùng Hưng đứng đầu tổ chức với nhũng thiết chế cụ thể nào,

nhiên, điều khẳng định lực lượng vũ trang quyền mạnh, đủ để khiến

cho bọn quan quân đô hộ buộc phải kiêng dè, không dám liều lĩnh mở hành quân đàn áp vào Đường Lâm

Thắng lợi anh em Phùng Hưng Phùng Hãi khiến cho nhân dân địa phương.nức lòng

phấn khởi cịn quyền hộ giặc nhiều nơi khác bị rệu rã theo

muốn hay khơng điều buộc Cao Chính Bình phải ngày đêm lo lắng khơng ngi Dẫu

hết sức tức tối Cao Chính Bình đành phải cam chịu trước đường đường tồn

guồng máy quyền Phùng Hưng

Lý Tế Xuyên nói Phùng Hưng cầm đầu guồng máy quyền tự chủ khoảng bảy

(68)

tương tự vậy, nhưng, sau tiến hành đối chiếu so sánh nhiều nguồn tư liệu khác

(của Việt Nam Trung Quốc), chúng tơi lại thấy có phần khác Giá thử Phùng Hưng

giành quyền vùng Đường Lâm khu vực lân cận vào năm cuối niên

hiệu Đại Lịch (tức năm 779) tính từ năm Phùng Hưng qua đời (năm 791)

đã dài đến 12 năm Xuất phát từ thực tế rõ ràng khơng thể phủ nhận này, hồn tồn kết luận quyền tự chủ Phùng Hưng lập tồn trước sau

khoảng mười năm Đó khoảng thời gian có độ dài đáng kể, quan trọng hơn, với

khoảng thời gian tồn đáng kể vậy, nhận thức hậu quy mơ tầm

vóc nghiệp Phùng Hưng khác trước

-

(1) Đại Lịch niên hiệu Đường Đại Tông Niên hiệu sử dụng từ tháng 11 năm 766 đến hết năm 779 Tác giả xin trình bầy

thêm : Hầu hết thư tịch cổ Trung Quốc Việt Nam, thần tích truyền thuyết dân gian vùng Hà Tây khẳng định

Phùng Hưng dậy chống quan hộ Cao Chính Bình vào khoảng niên hiệu Đại Lịch, có Quốc Sử quán nhà Nguyễn trongĐẠI NAM

NHẤT THỐNG CHÍ (Sơn Tây tỉnh)ghi chép Phùng Hưng khởi nghĩa vào khoảng niên hiệu Trinh Nguyên (785-805) thời trị Đường Đức Tơng (779-805) giành quyền 11 năm Theo chúng tôi, ghi chép không Cao Chính Bình Phùng

Hưng vào năm 791, cho Phùng Hưng có tổ chức khởi nghĩa vào đầu năm Trinh Nguyên thứ (785), tính đến năm

791 năm, 11 năm được.

(2) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 5, tờ 6-a) Các sử thần Quốc Sử Quan nhà Nguyễn trongKHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên 4, tờ 26) viết tương tự thế.

(3) Theo ghi chép Lý Tế Xuyên VIỆT ĐIỆN U LINH dựng cờ khởi nghĩa chống ách đô hộ nhà Đường, Phùng Hưng đổi

tên Cự Lão cịn Phùng Hãi đổi tên Cự Lực.

(4) Đền Thịnh Quang thuộc quận Đống Đa (Hà Nội), tờ thần tích có nhan đề Phu Hựu Chương Tín Sùng Nghĩa Bố Cái Đại Vương

thần, có lẽ bước đầu soạn thảo vào khoảng đầu thề kỉ thứ XIV sau triều đại sau bổ thêm Văn

rất trùng khớp với lịch sử thực có từ thời Nguyễn.

3 TRẬN QUYẾT ĐẤU THỨ HAI : ĐẬP TAN TOÀN BỘ GUỒNG MÁY ĐÔ HỘ CỦA GIẶC

Đúng vào lúc viên quan đứng đầu quyền hộ giặc Cao Chính Bình bối

rối tức tối phải hồn tồn cam chịu bất lực trước hoạt động táo bạo nghĩa quân

Phùng Hưng Phùng Hãi đơng đảo qn sĩ Cao Chính Bình đóng thành Tống Bình

cũng bất bình mà tề lên làm binh biến Một hội vô thuận lợi hai

anh em Phùng Hưng Phùng Hãi xuất Bấy giờ, thể theo lời khuyên mưu sĩ Đỗ

Anh Hàn 1, hai anh em Phùng Hưng Phùng Hãi liễn tập hợp lực lượng, ạt công vào sào huyệt kiên cố quân đô hộ lúc thành Tống Bình Mưu sĩ Đỗ Anh Hàn nguyên vị Tù Trưởng có danh tiếng vùng đất Đường Lâm, đồng thời

cũng người đồng hương hai anh em Phùng Hưng Phùng Hãi Khi Phùng Hưng

Phùng Hãi dựng cờ xướng nghĩa, Đỗ Anh Hàn người dã hăng hái đến tham gia hướng ứng

đầu tiên Ơng nhanh chóng trở thành vị dũng tướng trực tiếp cầm quân, sau, ông

một mưu sĩ giàu tài chỗ dựa thật tin cậy nghĩa quân Cống hiến

Đỗ Anh Hàn nghĩa quân Phùng Hưng đa dạng lớn lao

Trước sức mạnh cơng táo bạo này, "(Cao) Chính Bình vừa lo sợ lại vừa phẫn uất

mà chết" Các sử xưa chép kiện diễn vào tháng năm Tân Mùi (791)

Tuy nhiên, nhiều cơng trình khảo cứu sử học Việt Nam công bố từ trước đến

(trong có số cơng trình chúng tôi) hạn chế khối lượng tư liệu nên

viết rằng, năm Tân Mùi (791) năm quyền Phùng An bị diệt vong khơng phải năm

Phùng Hưng tiến hành trận đấu thứ hai với quân đô hộ nhà Đường Thực ra, năm

đồng thời diễn hai kiện khác Sau nhiều lần tiến hành khảo sát đối sánh

ghi chép sử xưa, chúng tơi xin trân trọng đính lại Phùng Hưng

tấn cơng thành Tống Bình vào tháng năm Tân Mùi (791) khởi nghĩa

Phùng Hưng đến tháng năm 791 bị tiêu diệt

Sử cũ chép Phùng Hưng vào thành Tống Bình "chưa mất",

riêng Lý Tế Xuyên lại chép có phần khác :"Vương (đây Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng - NKT) vào phủ Đô Hộ, nắm quyền trị dân chừng bảy năm mất" Kho tàng truyền thuyết

dân gian phong phú vùng Hà Tây có lời kể khơng khác biệt so với

(69)

toàn thời gian cầm quyền Phùng Hưng kể từ chiếm Đường Lâm khu vực

lân cận tháng năm 791 khoảng thời gian từ Phùng Hưng chiếm

được thành Tống Bình (tháng năm 791) trở

Trong phần lớn truyền thuyết, đoạn kể trình tổ chức bao vây thành Tống Bình

độc đáo Theo : tiến qn đến thành Tống Bình, Phùng Hưng Phùng Hãi

mưu sĩ Đỗ Anh Hàn xét thấy lực lượng giặc suy yếu quân sĩ

chưa đủ sức để đè bẹp kẻ thù, Phùng Hưng, Phùng Hãi huy nghĩa quân

lập tức toả khắp địa phương chung quanh thành Tống Bình để huy động thêm sức người,

sức sắm sứa thêm vũ khí, cịn nhiệm vụ tổ chức bao vây thành Tống Bình trân

trọng giao cho ba người cháu gái gọi Phùng Hưng bác (đời gọi Ba bà họ Phùng) Đội

quân làm nhiệm vụ bao vây thành Tống Bình Ba bà họ Phùng chỉ huy ngày đêm

nhau hị hét dội, thế, Cao Chính Bình lo sợ mà chết !

Từ tư liệu tản mạn kể trên, bước đầu, tạm hình

dung hai giai đoạn khác khởi nghĩa Phùng Hưng phát động lãnh đạo sau :

Giai đoạn 1 : Phùng Hưng em ruột Phùng Hãi kêu gọi nhân dân dậy mà mục

tiêu đập tan quyền hộ nhà Đường khu vực Đường Lâm số

vùng lân cận Giai đoạn bắt đầu vào khoảng từ sau năm 767 kết thúc vào đầu năm 791

Giai đoạn 2 : Nhân thấy quan quân đô hộ lục đục mâu thuẫn với thể theo đề nghị

của mưu sĩ Đỗ Anh Hàn, Phùng Hưng Phùng Hãi dốc lực lượng đánh vào thành Tống Bình

Viên quan giữ chức Đơ Hộ nhà Đường lúc Cao Chính Bình lo sợ phẫn uất mà

chết Phùng Hưng Phùng Hãi chiếm thành Tống Bình nhanh chóng thành lập

quyền tự chủ Phùng Hưng (và sau Phùng An - ông) đứng đầu Giai đoạn bắt

đầu vào tháng năm 791 kết thúc vào tháng năm 791 tức vỏn vẹn gần ba tháng

Một vài cơng trình trước nói Phùng An nối ngơi trị gần ba năm, xin đính lại

là chỉ gần ba tháng gần ba năm

Hai giai đoạn, hai quy mơ hai tính chất hoàn toàn khác Ở giai đoạn thứ nhất,

mảng quan trọng quyền hộ nhà Đường bị phá vỡ, quyền tự chủ

Phùng Hưng đứng đầu xây dựng hiên ngang tồn biệt lập với quyền hộ

của giặc Ở giai đoạn hai, với trình kiên bao vây khơng ngừng gây sức ép

thực lực qn mình, cuối cùng, nghĩa quân Phùng Hưng chiếm thành

Tống Bình nắm quyền kiểm sốt tồn cõi thời gian ngắn

-

(1) Phần lớn thư tịch cổ Trung Quốc nói đến nhân vật "Man quân Tù Trưởng Đỗ Anh Hàn" "Thủ Lĩnh Đỗ Anh Luân" mà khơng nói đến hai nhân vật Phùng Hưng Phùng Hãi Tuy nhiên, xét thật kĩ hình trạng thư tịch cổ Trung Quốc nhân vật Đỗ Anh Hàn (hay Đỗ Anh Luân) lại Phùng Hưng Trong Hán tự, mặt chữHàn mặt chữLn giống nhau, có lẽ mà bị viết nhầm chăng.

4 ĐOẠN KẾT CỦA MỘT KHÚC TRÁNG CA

Tháng năm 791, sau Cao Chính Bình chết, nghĩa qn Phùng Hưng chiếm

thành Tống Bình nói, quyền tự chủ Phùng Hưng đứng đầu nhanh

chóng thành lập Tổ chức guồng máy quyền lúc có lẽ tương tự

trong buổi đầu, nghĩa quân chiếm vùng Đường Lâm khu vực lân cận,

do phải quản lí phạm vi đất đai rộng lớn nên quy mô trách nhiệm chắn

phải lớn trước Sát cánh sẵn sàng chia sẻ trách nhiệm nặng nề với Phùng Hưng

người lập công lao Phùng Hãi Đỗ Anh Hàn, ngồi cịn có thêm số

gương mặt Phùng An (con trai Phùng Hưng) Bồ Phá Cần 1

(70)

thọ tuổi Sau đột ngột Phùng Hưng, khủng hoảng đáng

tiếc diễn quyền tự chủ cịn non trẻ mà ngun chủ yếu vấn đề

chọn người xứng đáng lên kế vị Bấy giờ, có hai phe cánh đối nghịch với hai chủ trương

khác hình thành Phe thứ nhất gồm đông tướng lĩnh quan lại (nhưng chưa rõ

ai người cắm đầu) chủ trương chọn Phùng Hãi cho Phùng Hãi em ruột Phùng

Hưng, người có nhiều cơng lao, giàu kinh nghiệm huy người lớn tuổi, đủ chín chắn

cũng uy phong để xử lí đốn việc Phe thứ hai(đại diện nhân vật Bồ

Phá Cần) cho phải chọn Phùng An Phùng An trai Phùng Hưng, người

có đủ danh nghĩa thống để đảm bảo xứng hợp với gọi "đại đạo cha truyền

nối" Theo ghi chép Lý Tế Xuyên Bồ Phá Cần người có võ nghệ cao cường, khoẻ

mạnh hãn Phùng Hãi người nhún nhường, nên cuối cùng, phe Bồ Phá

Cần thắng Phùng An - người cạn nghĩ ngây thơ nhận thức trị

đưa lên kế vị Ngay sau lên ngôi, Phùng An làm hai việc Một tôn cha làm Bố Cái Đại

Vương (Tục gọi cha Bố, mẹ Cái có tơn hiệu thế) Hai tập hợp

huy động lực lượng để đánh Phùng Hãi ! Chủ trương sai lầm khiến cho nhân tâm li

tán, cho nên, nhanh chóng bị diệt vong quyền Phùng An điều tránh khỏi

Bấy giờ, Phùng Hãi bó chạy vào động Chu Nham, người giàu tâm huyết với

nghiệp Phùng Hưng nối rời bỏ Phùng An mà Ảnh hưởng thực tế

quản lí quyền Phùng An gần cịn bó hẹp phạm vi thành Tống Bình

mà thơi

Tháng năm 791, triều đình Đường Đức Tơng (779-805) phong cho Triệu Xương 3 làm Kinh

Lược Chiêu Thảo Xử Trí Sứ sai đem quân đàn áp Phùng An Triệu Xương đem đại

binh đến uy hiếp từ xa sai vài viên sứ giả tới hù doạ mà Phùng An vội đầu hàng Ngay

trong tháng năm 791, quân nhà Đường chiếm lại thành Tống Bình, lực lượng Phùng An

bị tan rã hoàn toàn Số phận Phùng An tướng lĩnh khác sau chưa

rõ Sự nghiệp lớn Phùng Hưng bị Triệu Xương quân đô hộ nhà Đường xoá bỏ

Phùng Hưng đại điện xuất sắc cho khí phách hiên ngang, không đội

trời chung với quân phong kiện Trung Quốc hộ Ơng ngàn năm danh

thơm ơng cịn với non sông đất nước Ngay vào đầu kỉ IX, hệ nhân

dân yêu nước kính cẩn lập đền thờ ơng Đường Lâm q hương ơng Tống Bình nơi

ghi dấu đỉnh cao thành cơng chói lọi nghiệp lớn ông Năm 939, Ngô Quyền

bậc vương giả cho tơn tạo đền thờ Phùng Hưng thức phong thần cho Phùng

Hưng Năm 1285, sau thắng lợi vẻ vang chiến tranh vệ quốc lần thứ hai, chống qn

Mơng Ngun xâm lược, Hồng Đế Trần Nhân Tông (1278-1293) phong Phùng Hưng làm Phu

Hựu Đại Vương thượng đẳng thần Năm 1288, sau ngày đại thắng trận chiến chiến

lược Bạch Đằng (9-4-1288), đè bẹp hồn tồn ý chí xâm lăng quân Nguyên tàn bạo

hung hãn, Hồng Đế Trần Nhân Tơng gia phong cho Phùng Hưng làm Phu Hựu

Chương Tín Đại Vương thượng đẳng thần Và, đến năm 1312 Hồng Đế Trần Nhân Tơng lại tiếp

tục gia phong cho Phùng Hưng làm Phu Hựu Chương Tín Sùng Nghĩa Đại Vương thượng đẳng

thần Vào thời trị Hồng Đế Lê Thánh Tơng (1460-1497), đền thờ Phùng Hưng lại tiến

hành tôn tạo lần thứ hai Các triều đại sau trùng tu đền thờ ban sắc phong thần cho Phùng Hưng Và, trải mười kỉ qua, hương khói đến thờ Phùng Hưng

nghi ngút

Phùng Hưng thân nghệ thuật tập hợp động viên sức mạnh đông đảo nhân

dân vào đấu tranh vừa kiên vừa thận trọng nhằm bước phá vỡ, để

cuối cùng, có hội thuận lợi xuất dốc toàn lực để đánh trận định với kẻ

thù, đập tan hồn tồn đồ qn hộ, đồng thời nhanh chóng xây dựng hệ thống

(71)

Rất tiếc vừa hiên ngang tiến vào thành Tống Bình giành quyền từ

qn phương Bắc hộ, Phùng Hưng sớm qua đời, để lại nghiệp lớn dở dang

và để lại lịng thương tiếc khơng ngi cho hệ nhân dân yêu nước Vì đột ngột

sớm nên Phùng Hưng chưa kịp tỏ rõ tài quản lí nhà nước Trước lịch sử,

mỗi bậc anh hùng có số cống hiến định phạm vi thời

gian định mà thơi Trên tinh thần chung đó, có lẽ khơng quyền địi hỏi

thêm Phùng Hưng Phùng Hãi

Trên bầu trời khí phách ngoan cường, Phùng Hưng Phùng Hãi mãi

toả sáng Tên tuổi nghiệp lớn hai anh em ơng vĩnh tồn kí ức bất diệt

hệ nhân dân luôn hệ sử gia yêu nước kính cẩn ghi vào trang oai hùng

của lịch sử dân tộc

-

(1) Tất sử khơng ghi chép nhân vật Bồ Phá Cần tác phẩmVIỆT ĐIỆN U LINH, Lý Tế Xuyên nói

Bồ Phá Cần viên quan giữ chức Đầu Mục guồng máy quyền Phùng Hưng Đây nhân vật võ nghệ cao cường lực

Truyền thuyết dân gian vùng Hà Tây cho biết tương tự thế.

(2) Từ ghi chép tản mạn sử cũ thần tích, khẳng định chắn Phùng Hưng năm 791 tháng

nào chưa rõ Chúng tơi ước đốn Phùng Hưng vào tháng năm 791.

(3) Theo ghi chép củaÂu Dương Tu - Tống Kỳ (Trung Quốc) trongTÂN ĐƯỜNG THƯ Triệu Xương người Thiên Thuỷ, sinh năm

chưa rõ Triệu Xương tên tự Hồng Tô, làm quan trải phong đến tới chức Thứ Sử Kiến Châu (Trung Quốc) Sau đàn áp Phùng An, triều đình nhà Đường liền phong cho Triệu Xương chức đứng đầu An Nam Đô Hộ Phủ Triệu Xương giữ chức 10 năm (791- 801)

triệu Trung Quốc.

IX DƯƠNG THANH VỚI NHỮNG TRẬN ĐỐI TRÍ VÀ ĐỌ SỨC QUYẾT LIỆT ĐẦU THẾ KỈ IX

1 ĐẠI HOẠ LÝ TƯỢNG CỔ

Từ đầu kỉ IX trở đi, quyền phong kiến trung ương nhà Đường ngày bị suy

yếu nghiêm trọng Thực ra, trình suy yếu nghiêm trọng diễn lâu trước

đó, mà thể rõ vào khoảng nửa sau kỉ VIII, từ thời trị Đường

Huyền Tơng (712-756) Sau đó, đến thời Đường Túc Tơng (756-762) di hại lớn lao

cuộc bạo loạn An Lộc Sơn cầm đầu cịn nặng nề, khơng khí lo sợ thường xuyên bao

phủ hoạt động triều đình Dân khắp kinh thành Trường An nhà Đường

luôn nơm nớp hoang mang tất tin bọn loạn quân tràn tới đánh phá

triều đình vào lúc

Các đời Hoàng Đế Đường Túc Tông Đường Đại Tông (762-779) Đường Đức Tông

(779-805) tỏ cố gắng việc thực ý định cứu vãn tình nguy hại

nhưng hai bị thất bại Năm 805, Đường Đức Tông Lý Tụng đưa lên

nối ngơi, Đường Thuận Tơng Mới ngơi Hồng Đế tháng, Đường Thuận Tông bị

bọn hoạn quan mà cầm đầu Câu Văn Trân bắt ép phải nhường cho trai trưởng Lý

Thuần để chưa đầy năm sau Đường Thuận Tơng Lý Thuần đưa lên ngơi

Hồng Đế Chính Đường Hiến Tơng (805-820) Từ trở đi, nhà Đường ngày

một rối ren, bọn tham quan ô lại (nhất vùng biên ải xa xôi) hoành hành

Năm Kỉ Hợi (819), Lý Tượng Cổ triều đình Đường Hiến Tơng cho giữ chức đứng đầu

quan An Nam Đô Hộ Phủ Các sử Trung Quốc viết : "Lý Tượng Cổ kẻ

tham lam, khắc nghiệt, làm lòng dân" Nhận định khơng sai vừa

mới đến nhận chức, máy hành chánh quyến chưa kịp ổn định, Lý Tượng Cổ

lập tức ban hành loạt biện pháp nhằm vơ vét tài nguyên cải đất nước ta

Ở vùng rừng núi trung du Lý Tượng Cổ bắt dân phải cung đốn lâm sản, khoáng sản, hương

liệu loại chim, thú quý ; vùng đồng Lý Tượng Cổ bất dân phải cống nạp đủ

(72)

dâng tiến trăm thứ hải sản, san hô, ngọc trai tất khiến cho trăm họ lúc phải lầm than điêu đứng

Nhưng, khác với phần lớn bọn quan đô hộ trước đó, Lý Tượng Cổ kẻ tham tàn

mà tên xảo quyệt Với Lý Tượng Cổ, lực lượng đáng bận tâm lo lắng đội

ngũ hào trưởng địa phương Chừng mà uy tín đội ngũ cịn lớn lao chừng

đó quyền hộ bọn phong kiến phương Bắc cịn có nguy bị đe doạ lật đổ Bấy giờ,

thủ đoạn chung Lý Tượng Cổ sức tìm đủ cách để mua chuộc dụ dỗ, đồng thời, không

ngừng tận dụng hội để tiến hành chia rẽ hào trướng với sở xã hội

thân họ Thủ đoạn Lý Tượng Cổ thực cách riết vị hào

trưởng nào, đó, nhân vật bị Lý Tượng Cổ xếp vào hàng cần phải tập trung cố gắng để

triệt tiêu ảnh hưởng sớm Dương Thanh

Bởi thủ đoạn xảo quyệt này, khơng khí nghi kị ngột ngạt lan toả

Tóm lại, nhìn từ góc độ xuất Lý Tượng Cổ nghĩa

đại hoạ xã hội ta đầu kỉ IX

2 DƯƠNG THANH VỚI HAI CUỘC ĐỐI TRÍ ĐẦU TIÊN

Dương Thanh người Hoan Châu, tổ tiên ông nhiều đời trước giữ chức Thứ Sử châu

này Đất Hoan Châu tương ứng với tỉnh Nghệ An Trong thời thuộc Đường, thời mà âm

mưu dùng người Việt trị người Việt riết thực Thứ Sử chức đứng đầu

châu chức thường trao cho người Việt Tù Trưởng Bởi lẽ mà

phần lớn thư tịch Trung Quốc đời Đường, chức Thứ Sử thường chép Man Tù (Tù

Trưởng dân man di) Tuy nhiên, trường hợp cụ thể Thứ Sử chức danh

mang nặng thủ đoạn mua chuộc chia rẽ Man Tù chức danh chứa đầy coi thường

Trong truyền thuyết dân gian nhiều tài liệu Việt Nam, chức danh Hào

Trưởng thường nhắc tới với thái độ trân trọng Theo chúng tôi, chi tiết đáng

lưu ý Về mặt lịch sử, nguồn gốc sâu xa Hào Trưởng có lẽ đội ngũ quý tộc lạc

Trong thời sơ sử nhiều kỉ đầu thời Bắc thuộc, phần lớn họ mang

tên gọi Lạc Hầu Lạc Tướng Từ khoảng thời thuộc Đường trở đi, tác

động liên tục mạnh mẽ nhiều yếu tố khách quan khác nhau, chuyển hoá nội thân tự

nhiên lực lượng Lạc Hầu Lạc Tướng khiến cho họ ngày có nhiễu nét khác

trước Từ đây, xét riêng phạm vi ảnh hưởng quyền lực đối thay khơng lớn,

nhưng, xét cách thức thể quyền lực quy trình thực chế độ bóc lột

thì mức độ đổi thay lại đáng kể chừng mực định đó, có

thể nói đội ngũ hào trưởng lực lượng phong kiến bán khai

Tuy nhiên, điều đáng nói Dương Thanh ông mang chức danh mà quan

trọng chỗ ông người Hoan Châu đương thời tin tưởng kính trọng lịng

chân thành u nước thương dân thân ông nhiều bậc gia tiên ông Đây

cũng điều khiến cho Lý Tượng Cổ lo lắng Một kế hoạch chia rẽ thâm hiểm Lý

Tượng Cổ vạch nhanh chóng thực Do kế hoạch chia rẽ thâm hiểm này,

trong năm 819, Dương Thanh phải trải qua hai đối trí lớn :

Cuộc đối trí thứ : nên hay không nên rời Hoan Châu để La Thành nhận chức Nha Môn Tướng Quân Theo ghi chép thư tịch cổ vừa đến nhận chức, Lý Tượng Cổ

lập tức hạ lệnh cho Dương Thanh phải rời Hoan Châu để La Thành nhận chức Nha Môn Tướng

Quân điều buộc Dương Thanh phải có lựa chọn khó khăn Nếu lịng

nhận chức có nghĩa Dương Thanh công khai chấp nhận hợp tác với kẻ thù, tự

tách khỏi sở xã hội mình, tự huỷ hoại uy danh khơng riêng mà cịn họ tộc Trước nhân dân Hoan Châu, chân dung khả

kính vị hào trưởng giàu lòng yêu nước thương dân định bị hoen ố Nếu chấp

(73)

Dương Thanh bị theo dõi cách chặt chẽ chết ln rình rập Dương Thanh

Nhưng, Dương Thanh không chịu rời Hoan Châu để La Thành nhận chức

thế ? Điều chắn ông dại đột làm vậy, Lý Tượng Cổ mượn cớ

Dương Thanh "bất tn thượng lệnh"để giết hại ơng Trước tình đó, Dương Thanh

định nhận chức Theo truyền thuyết vùng Nghệ An Dương Thanh cho rằng, chấp

nhận lao vào chốn hiểm nguy bình tĩnh tuỳ ứng biến cịn khoanh tay chịu chết

chưa tỏ rõ chí khí Khoảng trước tháng 10 năm Kỉ Hợi (819), Hào Trưởng Dương

Thanh có mặt La Thành

Cuộc đối trí thứ hai : Nên hay không nên cầm quân đàn áp dân vùng Hoàng Động Bấy

giờ, Dương Thanh đến nhận chức Nha Mơn Tướng Qn dân vùng Hoàng Động (động

Hoàng Chanh, thuộc vùng Tây Bắc nước ta) dậy đấu tranh chống ách đô hộ nhà

Đường Lý Tượng Cổ liền sai Dương Thanh đem quân đàn áp Nếu Dương Thanh khơng

chịu có nghĩa ơng tự tạo ngun cớ đáng cho Lý Tượng Cổ giết

hại ơng, cịn ơng chịu đàn áp bàn tay ông định đẫm máu dân, vết nhơ

chẳng có hi vọng rửa dược Lần Dương Thanh táo bạo định rằngđi

mà không đi, dùng gươm giáo lấy binh sĩ Lý Tượng Cổ để giết Lý Tượng Cổ.

3 TRẬN ĐỌ SỨC LỊCH SỬ VỚI LÝ TƯỢNG CỔ

Ngay sau có lực lượng binh sĩ hùng hậu với đầy đủ vũ khí thiết bị

tay, Dương Thanh liền tiến Hoàng Động Chính thái độ ln ln sẵn sàng tuân theo

thượng lệnh Dương Thanh khiến cho Lý Tượng Cổ - kẻ khét tiếng thâm hiểm xảo

quyệt - chút nghi ngờ nhỏ

Nhưng vừa khỏi La Thành Dương Thanh có hai định quan trọng Một

là kể rõ tội ác tày trời Lý Tượng Cổ cho tất binh sĩ quyền nghe, đồng thời, kêu

gọi họ ông quay lại để trừng trị Lý Tượng Cổ, trước trừ hậu hoạ cho thân

mình sau nhằm thiết thực góp phần ban phúc cho thiên hạ khắp cõi Lời kêu gọi

của Dương Thanh nhanh chóng đơng đảo binh sĩ quyền ông tề hưởng ứng Hai

là, thay đem quân đàn áp phong trào đấu tranh dân vùng Hồng Động, Dương

Thanh chủ động liên kết với dân vùng Hoàng Động để đánh kẻ thù chung, tiêu diệt Lý

Tượng Cổ tâm đập tan toàn guồng máy quyền hộ giặc Lời đề nghị

hợp lòng người đắn Dương Thanh đông đảo quân sĩ

quyền ơng nhân dân vùng Hồng Động tán thành Uy Dương Thanh

nhanh chóng trở nên lừng lẫy

Cuộc công ạt bất ngờ quân sĩ Dương Thanh khiến cho Lý Tượng Cổ không

sao kịp trở tay Chỉ trận đánh chớp nhống, Dương Thanh đè bẹp tồn lực

lượng giặc La Thành Sử cũ viết : "Dương Thanh nhân lòng người chất chứa oán giận,

đang đêm dẫn quân vào đánh úp, chiếm thành giết Lý Tượng Cổ" Một quyền

tồn biệt lập với nhà Đường, Dương Thanh thành lập cầm đầu nhanh chóng

dựng lên Ngồi chất tự chủ ý thức tồn biệt lập rõ rệt nói trên, khơng thấy thư tịch

cổ nói tổ chức cách thức hoạt động quyền này, có lẽ mơ thức

chung khơng khác so với guồng máy cũ An Nam Đô Hộ Phủ

Phạm vi ảnh hưởng lực quản lí quyền Dương Thanh hẳn nhiên cịn

rất hạn hẹp, nhưng, có lẽ hậu khơng nên (vì hồn tồn khơng thể) đòi hỏi

nhiều Dương Thanh Bấy giờ, tất thử thách cam go khốc liệt cần phải vượt

qua Dương Thanh với đội ngũ binh sĩ quyền ông dũng cảm vượt qua cịn

những tốt đẹp cần phải vươn tới Dương Thanh chưa có đủ điều kiện chưa hội

đủ khả để vươn tới Trước lịch sử bậc anh hùng

(74)

Thắng lợi Dương Thanh trận đánh định với quân đô hộ diễn vào tháng 10

năm Kỉ Hợi (819) thắng lợi lòng tự tin mãnh liệt sâu sắc Trước hồn cảnh nghiệt

ngã lịng tự tin Dương Thanh không thay đổi mà liên tục bồi đắp

Dương Thanh biểu tượng lĩnh phi thường, dù buộc phải sống hang ổ

giặc, dù ln phải chịu giám sát khắt khe kẻ thù, ơng giữ vững chí khí, khơng

phụ lịng kính trọng mà người đương thời ưu dành cho ông bậc gia tiên ông

Thắng lợi Dương Thanh thắng lợi cơng hồn tồn bất ngờ Chính bất ngờ

là yếu tố khiến cho trận đánh diễn kết thúc nhanh chóng Bấy giờ, khơng phải

có Lý Tượng Cổ mà đến triều đình Đường Hiến Tông (805-820) tổ ngơ ngác

trước biến cố lớn lao An Nam Đô Hộ Phủ Thắng lợi Dương Thanh thắng lợi

bước đầu ý thức xây dựng mở rộng khối đoàn kết chiến đấu chung kẻ thù chung

nhân dân địa phương Mối liên kết lực lượng binh sĩ Dương Thanh với nhân dân vùng

Hoàng Động đừng lại mức độ khiêm nhượng chừng đủ để đầy

quân đô hộ nhà Đường vào tình phải cam chịu đại bại thảm hại

4 TRẬN ĐỐI ĐẦU LẦN THỨ HAI VÀ CUỘC ĐỐI TRÍ LẦN THỨ BA

Được tin Lý Tượng Cổ bị giết quyền An Nam Đơ Hộ Phủ hồn tồn thuộc

Dương Thanh, triều đình nhà Đường tức giận, sai tướng đem đại binh di đàn áp Bấy

giờ, Quế Trọng Vũ giao trách nhiệm huy cơng có quy mơ lớn Quế

Trọng Vũ dồn dập mở nhiều đợt công vào lực lượng Dương Thanh tất

lần lượt bị đẩy lùi La Thành trước sau giữ vững Chính sử Trung Quốc phải

thừa nhận "Quế Trọng Vũ đánh Dương Thanh thất bại" Triều đình Đường Hiến Tông

đã buộc phải sai Lý Nguyên Gia đem thêm quân đến hợp lực với Quế Trọng Vũ để đàn áp

Trước tình khó khăn đó, Dương Thanh định đẩy mạnh mối liên kết với

nhân dân vùng Hoàng Động Bởi lẽ mà quân nhà Đường, kể có thêm lực lượng Lý

Nguyên Gia, không tiêu diệt Dương Thanh Một kế hoạch nguy

hiểm nhanh chóng triều đình nhà Đường cho áp dụng Thư tịch cổ cho biết, Đường

Hiến Tông "xuống chiếu tha tội cho Dương Thanh phong cho Dương Thanh làm Thứ Sử

Quỳnh Châu" Quỳnh châu thuộc đảo Hải Nam Trung Quốc, chịu nhận chức Thứ

Sử Quỳnh Châu có nghĩa Dương Thanh tự tách khỏi sở xã hội mình,

tự đẩy vào bị lập để chắn sau bị triệt tiêu hàng loạt lí

thật khó mà đốn trước Nhận thức rõ ý đồ thâm hiểm chứa dựng tờ chiếu

chỉ này, Dương Thanh kiên chối từ

Dùng bạo lực để trấn áp không được, dùng chức tước để dụ dỗ không xong, nhà Đường

bèn dùng tiền bạc để mua chuộc Nhưng, dù không tiếc của, chúng chẳng thể mua

chuộc Dương Thanh Thư tịch cổ Trung Quốc Việt Nam khơng nói rõ truyền

thuyết dân gian lại có chuyệnDương Tướng Cơng tích đáng lưu ý Theo sau nhiều

lần tìm cách mua chuộc Dương Thanh mà không được, số tướng giặc có kẻ bàn :

Dương Thanh bậc chí đức dày, mua chuộc Dương Thanh Nhưng Dương

Thanh trở nên đáng sợ chung quanh ơng cịn có nhiều người, chí khí khơng khác

ơng tài đức tất nhiên ơng Tại không mua chuộc người

mà lại tốn công tốn di mua chuộc Dương Thanh ? Nếu mua chuộc người thật

thân cận ngày đêm túc trực trướng Dương Thanh có khác chặt đứt hết tay

chân Dương Thanh ? Đến đó, thử hỏi Dương Thanh có cịn đáng sợ hay khơng ?

ChuyệnDương Tướng Cơng tích cịn cho biết thêm chi tiết đau lịng, sau

khơng bao lâu, tướng Dương Thanh chém đầu Dương Thanh nạp cho hai viên

tướng nhà Đường Quế Trọng Vũ Lý Nguyên Gia Truyền thuyết truyền

thuyết, phản ánh lõi có thật lịch sử thân truyền thuyết khơng

phải lịch sử Thật khó mà kết luận Dương Thanh lời kể củaDương

Tướng Cơng tích chưa có tư liệu đáng tin cậy phản ánh

(75)

cổ truyền thuyết dân gian năm Dương Thanh : năm Canh Tí

(820) Do chưa rõ năm sinh nên chưa rõ mất, Dương Thanh hưởng thọ bao

nhiêu tuổi

Sự nghiệp Dương Thanh trước hết nghiệp vị dũng tướng, gian nan không sợ,

nguy hiểm không từ, tỉnh táo chọn thời điểm bất ngờ để đánh vào đầu não

quyền hộ địn hiểm hóc Sự nghiệp Dương Thanh nghiệp người

túc trí, bao phen thấy rõ mưu sâu kế độc kẻ thù để sáng suốt chọn cho phép ứng

xử thông minh hiệu Sự nghiệp Dương Thanh nghiệp vị thủ lĩnh

ln biết gắn với tầng lớp nhân dân yêu nước, bậc giàu uy tín lực tập

hợp quần chúng bốn phương vào đấu tranh một với quân phong kiến phương

Bắc Ông thật xứng đáng xếp vào hàng nhân vật tiên phong ý thức xây dựng

và mở rộng khối đoàn kết chiến đấu nghĩa thiêng liêng giành lại độc lập cho dân tộc

Dương Thanh biểu tượng sáng ngời tinh thần chí cơng vơ tư, quyền uy danh vọng chẳng

màng, tiền tài giàu sang chẳng chuộng Rất tiếc ông người thời tương

quan lực ấy, cho nền, phải cam chịu ngậm hờn việc lớn thành công trọn vẹn,

(76)

CHƯƠNG THỨ HAI

DANH TƯỚNG TRONG SỰ NGHIỆP ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP ĐẦU TH

KỈ XV

I - TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XV

1 TRIỀU HỒ (1400-1407) - TRIỀU ĐẠI CỦA NHỮNG CẢI CÁCH LỚN

"Ngày 28 tháng hai năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly bách Hoàng Đế nhà Trần nhường

ngơi cho buộc người tơn thất (nhà Trần) bá quan văn võ phải ba lần

dâng biểu khuyên lên ngôi" Ngay sau ngày này, Hồ Quý Ly liền chiếm giữ ngai vàng cho đổi

niên hiệu Thánh Nguyên, nhà Hồ thức dựng lên kể từ

Xưa nay, giới sử học có nhiều ý kiến đánh giá khác nhân vật Hồ Quý Ly nói

riêng nhà Hồ nói chung, song điểm thống tất thừa nhận : tồn trước sau vỏn vẹn có năm (từ cuối tháng năm 1400 đến gần tháng năm 1407)

nhà Hồ thực triều đại cải cách lớn đặc điểm bật

nhà Hồ

Điểm lại ghi chép thư tịch cổ đất nước năm cuối kỉ XIV đầu kỉ

XV, sơ khái quát cải cách nhà Hồ sau : a) Về trị :

Từ cuối kỉ XIV, nhà Trần ngày đổ nát Trong bối cảnh đặc biệt đó, Hồ

Quý Ly bí mật khơn khéo tìm cách xây dựng lực riêng cho Sau thủ tiêu

hầu hết đối thủ trị, Hồ Quý Ly táo bạo tiến hành chủ trương lớn sau :

Năm 1397, ép buộc triều đình Trần Thuận Tơng (1388-1398) phải dời vào An Tôn (đất

ngày thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá) Từ đây, Thăng Long đổi gọi Đơng Đơ cịn An Tơn gọi Tây Đô, nhiên, dân gian thường gọi thành Tây Đô thành nhà H Ngày nay, thành nhà Hồ nhiều đoạn nguyên vẹn

Năm 1398, ép buộc Trần Thuận Tông phải nhường cho Trần An, Trần An

lúc tuổi Trần Thuận Tơng buồn nản mà phải bỏ tu

năm bị Hồ Quý Ly sai người giết chết, hưởng dương 21 tuổi (1378-1399)

- Như nói, ngày 28-2-1400, Hồ Quý Ly cướp ngơi nhà Trần thức khai

sinh triều đại nhà Hồ (1400-1407) Ngay vừa lên ngôi, Hồ Quý Ly bỏ

quốc hiệu cũ Đại Việt (vốn thức sử dụng từ năm 1054) cho đặt quốc hiệu

là Đại Ngu

- Dưới thời nhà Hồ, guồng máy nhà nước kiểu bước đầu xây dựng Ở đó,

quyền lực trị kinh tế đội ngũ quý tộc bước bị hạn chế để cuối

bị đẩy lùi đó, vai trị lực lượng quan lại xuất thân từ bách tính ngày đề

cao

(77)

Nhà Hồ có hai cải cách quan trọng Một tâm xây dựng đội quân đông đến triệu

người Để đạt mục đích nhà Hồ ghi biên hết vào sổ sách nhân đinh từ hai tuổi

trở lên lấy làm số thực Hai sức cải tiến vũ khí Hồ Nguyên Trừng (con trưởng Hồ

Q Ly) có cơng sáng chế nhiều loại súng thần công - loại vũ khí coi lợi hại

trong giai đoạn lịch sử lúc khu vực Nam Á Đông Nam Á Hồ Nguyên Trừng

đồng thời tác giả loại thuyền chiến hai tầng, tầng dành cho lính chiến, tầng dành

cho lính chèo, khơng gây cản trở cho

Theo ghi chép thư tịch cổ nhà Hồ ban hành nhiều quy chế chặt chẽ

việc quản lí huấn luyện binh chủng lực lượng vũ trang, tất hệ thống giới

thiệu ĐẠI NGU QUAN CHẾ - hai công trình biên soạn lớn nhà Hồ sứ

sách trân trọng nhắc đến

c) Về kinh tế xã hội :

Hồ Quý Ly ban hành ba cải cách lớn phát hành tiền giấy, hạn điền hạn nô Phát hành

tiền giấylà sách thực từ năm 1396 (thời Trần Thuận Tơng, Hồ Q Ly cịn Tuyên Trung Vệ Quốc Đại Vương) mà mục đích quan trọng thu gom đồ đồng khắp

thiên hạ để chế tạo vũ khí Hạn điềnđược ban hành vào năm 1397 (cũng thời Trần Thuận

Tông Hồ Quý Ly lúc tước vị Tuyên Trung Vệ Quốc Đại Vương) với chủ đích

tấn cơng mạnh mẽ vào chế độ điền trang - thái ấp vốn sở quyền lực kinh tế tầng lớp

quý tộc họ Trần Hạn nô tiến hành từ năm 1401 (năm Hồ Quý Ly nhường cho

thứ Hồ Hán Thương cịn lên ngơi Thượng Hoàng) nhằm ý đồ lớn lao

cơng phá chế độ bóc lột gia nơ gắn bó với quý tộc họ Trần gần hai kỉ

d) Về văn hoá giáo dục :

Hồ Quý Ly mở rộng việc học, việc học vùng đồng Cải cách Tiến Sĩ

Ngô Sĩ Liên khen : "sao mà tốt đẹp đến vậy" Về chế độ thi cử, nhà Hồ hai lần sửa

đổi (lần thứ vào năm 1396 lần thứ hai vào năm 1404) với mục đích để

những người đỗ đạt đủ khả tham gia giải vấn đề thiết thực xã hội

đương thời đặt Hồ Quý Ly sức đế cao chữ Nơm thân Hồ Q Ly

đã dịch toàn Kinh thi với thiên Vô dật Kinh Thư chữ Nôm Tuy có gặp phải

chống đối vài Nho gia cực đoan (những người chịu ảnh hưởng mạnh tư tưởng

Tống Nho) nói chung cải cách văn hoá giáo dục Hồ Quý Ly hoan

nghênh

Như vậy, cải cách Hồ Quý Ly trải rộng nhiều lĩnh vực khác công mà

nói, cải cách chứa đựng khơng yếu tố táo bạo, tích cực tiến

Nhưng, vào cuối năm 1406, mượn chiêu trị "phù Trần diệt Hồ", quân Minh tràn sang

xâm lược nước ta thật đáng tiếc kháng chiến nhà Hồ lãnh đạo nhanh chóng bị

thất bại Nước ta bị quân Minh đô hộ khoảng 20 năm (từ năm 1407 đến hết năm

1427)

2 VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC THỜI THUỘC MINH (1407 - 1427)

Thời thuộc Minh (1407-1427) thời đen tối lịch sử dân tộc Bấy giờ,

độc lập chủ quyền đất nước bị thủ tiêu, non sông gấm vóc tổ tiên để lại bị triều đình

nhà Minh coi phận lãnh thổ chúng Giặc vất bỏ chiêu trị giả hiệu

là "phù Trần diệt Hồ" nhanh chóng thiết lập hai hệ thống quyền thống trị khác Hai

hệ thống quyền có mối quan hệ tất mật thiết với nhau, tồn bổ sung cho

nhau, hai Thứ hệ thống quyền quân

(78)

của nhà Minh cầm đầu Tuy nhiên, xét tương quan quyền lực thực tế hệ thống

quyền qn ln vị trí chi phối

(Bấy nhà Minh đổi gọi nước ta quận Giao Chỉ Toàn hệ thống hành quan chức

địa phương cắt đặt lại, theo quận Giao Chỉ chia thành 15 phủ, quản lĩnh 36 châu

và 181 huyện Đó chưa kể đến châu (quản lĩnh 29 huyện) trực thuộc thẳng vào quyền

quận Giao Chỉ cấp phủ)

Bên cạnh hàng loạt thủ đoạn trị vừa sơ giới thiệu trên, thống trị nước ta,

quan quân nhà Minh thực nhiều sách tàn bạo khác Bấy giờ, giặc cố tìm đủ

mọi cách để sức vơ vét tài nguyên cải toàn cõi, trăm họ phải sống cảnh đói

khổ lầm than, thể Nguyễn Trãi viết :

Nướng dân đen lửa tàn Vùi đỏ xuống hầm tai vạ

Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế,

Gây binh, kết ốn trải hai mươi năm.

Theo ghi chép sử Trung Quốc xâm lăng năm 1407, quân Minh

cướp 235.900 (gồm đủ loại voi, ngựa, trâu, bò), thu 13.600.000 thạch thóc

8.670 thuyền 2.539.800 vũ khí Quân Minh bắt tất dân dinh từ 16 đến 60 tuổi

phải luân phiên di lao dịch, phục vụ cho việc xây dựng thành quách dinh thự

Để có thêm qn lính để tìm cách chia rẽ nhân dân ta, nhà Minh bắt lính gắt

gao Theo lệ quy định vào năm Vĩnh Lạc thứ 14 (1416) giặc quy định trung bình hai

hoặc ba suất đinh bắt suất lính gọi lực lượng lính thổ binh Bấy giờ, thổ binh

thường làm nhiệm vụ canh phòng, lẽ quân Minh không thực tin tưởng họ Và để tiện

việc đàn áp, nhà Minh tịch thu hết vũ khí có nhân dân, đồng thời, xây dựng hệ

thống thành luỹ dày đặc, sẵn sàng đè bẹp phong trào đấu tranh xã hội đương thời

Về xã hội, sách quan trọng bật nhà Minh riết tiến hành bắt người

Năm phận xã hội bị chúng bắt nhiều Nho sĩ có tài, thợ thủ cơng lành nghề, thầy bói,

trẻ em trai gái đến tuổi trưởng thành Chúng bắt Nho sĩ có tài khơng phải q thiếu thốn

nhân tài mà trước hết chúng muốn đẩy xã hội ta vào tình trạng ngu tối Chúng bắt thợ thủ

công lành nghề đưa họ Trung Quốc để cưỡng lao động Chúng tìm bắt

các thầy bói chủ yếu muốn đề phịng việc xã hội ta lợi dụng bói tốn để hoạt động trị Giá

thử có cố tình mượn bói tốn để loan tin quân Minh phải

tháo chạy nước nguy hại khó lường Chúng bắt trẻ em trai đem Trung Quốc, buộc

phần lớn số thành hoạn quan phục dịch cung đình chuẩn bị trước cho mưu đồ

lâu dài Chúng bắtcon gái đến tuổi trưởng thành (nhất người có chút nhan sắc) đem

về làm trò tiêu khiển cho bọn quan lại tướng lĩnh nhà Minh Theo số liệu thống kê

chính sử Trung Quốc riêng tướng Trương Phụ bắt Trung Quốc đến 9.000 người,

trong có 7.700 thợ thủ cơng Đối với thành tựu văn hoá thiêng liêng dân tộc ta, nhà

Minh ngang nhiên cho phá huỷ tịch thu để đem Trung Quốc Theo Phan Huy Chú

(1782 - 1840) ngồi việc chọn lựa để đưa triều đình nhà Minh 30 sách quý Số

lượng trước tác khác bị thất truyền bàn tay tội lỗi quân Minh nhiều đến mức

không thể thống kê hết Bấy giờ, hàng loạt bia đá bị dập nát, vô số chuông, khánh vật

bằng đồng bị chúng tước đoạt Bốn tác phẩm nghệ thuật kiến trúc điêu khắc có quy mơ lớn

nhất, kết tinh lực sáng tạo kĩ thuật lẫn nghệ thuật thời Lý - Trần là An Nam tứ đại

khí đã bị quân Minh nấu chảy để lấy đồng (An Nam tứ đại khí gồm có : chng Quy Điền (Thăng

Long), vạc Phổ Minh (Nam Định), tháp Báo Thiên (Thăng Long) tượng Phật chùa Quỳnh Lâm

(Quảng Ninh)

(79)

mạnh mẽ vào xã hội ta Qn hộ coi nội dung quan trọng

trình thực âm mưa đồng hoá Tất trường thi Nho học từ thấp lên cao bị đóng cửa,

trong đó, hoạt động mê tín dị đoan với nhiễu dạng thức khác lại có hội để trở

nên thịnh hành

Trong bối cảnh đặc biệt vậy, mâu thuẫn bên toàn thể nhân dân ta bị nước

và bị áp bóc lột tàn tệ với bên quân Minh xâm lược đô hộ ngày trở nên sâu

sắc Vùng dậy đấu tranh để giành độc lập tất yếu lịch sử đương thời

II - TRẦN NGỖI VÀ TRẦN QUÝ KHOÁNG - HAI VỊ DANH TƯỚNG TIÊN PHONG CỦA SỰ

NGHIỆP ĐÁNH ĐUỔI QUÂN MINH

1 VÀI DÒNG VỀ LAI LỊCH

Trần Ngỗi (tức Trần Quỹ), thứ Hoàng Đế Trần Nghệ Tông (1370-1372) sinh vào

năm thân mẫu chưa rõ Dưới thời Trần Nghệ Tông Trần Ngỗi phong làm

Giản Định Vương, đến thời nhà Hồ (1400-1407), Trần Ngỗi phong Nhật Nam Quận Vương

Khi quân Minh tràn sang xâm lược nước ta kháng chiến đo nhà Hồ lãnh đạo nhanh chóng

bị thất bại, Trần Ngồi liền rời kinh thành Thăng Long vào vùng Ninh Bình ngày tâm

chiêu mộ lực lượng để đánh giặc

Ngày tháng 10 năm Đinh Hợi (1407), tức sau toàn nhân vật quan trọng

của triều đình nhà Hồ bị quân Minh bắt hết Trung Quốc, để tạo cờ thống cho

cuộc chiến đấu giành độc lập, đất Mô Độ (thuộc châu Trường Yên xưa - thuộc Tam Điệp,

Ninh Bình) Trần Ngỗi thức lên ngơi Hoàng Đế, đặt niên hiệu Hưng Khánh Sử cũ

truyền thuyết thường gọi ông Giản Định Đế Trần Quý Khoáng (cũng đọc Trần Quý

Khoách), thứ Mẫn Vương Trần Ngạc, cháu gọi Hồng Đế Trần Nghệ Tơng ơng nội

gọi Trần Ngỗi ruột Hiện chưa rõ Trần Quý Khoáng sinh vào năm Khi quân Minh xâm

lược nước ta, Trần Quý Khoáng rờ kinh thành Thăng Long vào khu vực phía nam

để tìm cách xây dựng lực lượng đánh giặc cứa nước Ngày 17 tháng năm Kỉ Sửu (1409), đất

Chi La (nay thuộc Đức Thọ, Hà Tĩnh), Trần Q Khống lên ngơi Hoàng Đế lấy niên hiệu Trùng Quang Sử cũ truyền thuyết thường gọi ông Trùng Quang Đế

Do chỗ Giản Định Đế Trần Ngỗi Trùng Quang Đế Trần Q Khống có chung nguồn

gốc xuất thân quý tộc họ Trần, có chung nghĩa thiêng liêng đánh giặc cứu nước,

và chỗ hai xưng Hoàng Đế nên đời thường gọi nhà Hậu Trần Giản

Định Đế Trần Ngỗi năm 1409 Trùng Quang Đế Trần Q Khống năm 1413,

nhưng chưa biết năm sinh nên chưa rõ mất, hai bậc Hoàng Đế hưởng thọ

bao nhiêu tuổi

2 TRẦN NGỖI - NGƯỜI ĐẦU TIÊN GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ ĐẠI NGHĨA CHỐNG QUÂN MINH XÂM LƯỢC

a) Lên ngơi Hồng Đế đánh trận đầu Mô Độ :

Ngay sau quân của nhà Hồ bị đại bại, Trương Phụ (tướng tổng huy quân Minh xâm lược)

liền yết bảng truy bắt cháu họ Trần, lẽ đó, (Trần) Ngỗi phải tạm lánh đến Mô Độ

TrườngYên Do xuất thân quý tộc họ Trần nên vừa đặt chân đến khu vực Mô Độ, Trần Ngỗi

lập tức nhân dân địa phương đón tiếp nồng hậu Trong số bậc hào kiệt có cơng

giúp rập sớm Trần Ngỗi, bật Trần Triệu Cơ

Thư tịch cổ khơng cho biết lai lịch nhân vật Trần Triệu Cơ, ngoại trừ chi tiết

(80)

mà quê Thiên Trường thường thuộc dòng dõi quý tộc họ Trần

vậy có lẽ Trần Triệu Cơ nhiều hậu duệ chi thứ nên khơng

có chức danh tước vị đáng kể Trước tìm đến với Trần Ngỗi, Trần Triệu Cơ chiêu

mộ lực lượng lớn ơng người tơn lập Trần Ngỗi lên ngơi Hồng Đế

Mơ Độ

Lên ngày mồng tháng 10 năm Đinh Hợi (1407) hai tháng sau (đầu tháng 12

năm 1407), Trần Ngỗi buộc phải đối đầu với cơng có quy mơ lớn qn

Minh Bấy giờ, quân chiêu mộ, lịng u nước tinh thần dũng cảm dồi

nhưng trình độ chiến đấu kinh nghiệm trận mạc cịn q ỏi, cho nên, Trần Ngỗi

đành phải cam chịu thất bại Trần Ngỗi với hạ thân tín đem tàn binh chạy vào tận

Nghệ An

b) Trần Ngỗi với Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân : gặp gỡ quân thần tương đắc

và cảm động

Chạy đến Nghệ An, tình nghĩa qn lúc khó khăn chồng chất tháng năm

1408, Trần Ngỗi may mắn Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân đem lực lượng tới phò tá,

riêng Đặng Tất cịn đem gái tiến dâng cho Trần Ngỗi Khác với nghĩa quân

Trần Triệu Cơ, đội ngũ tướng sĩ quyền Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân huấn

luyện cẩn thận, cho nên, lực hiệu chiến đấu họ cao hẳn Trần Ngỗi

rất lấy làm vui mừng, phong Đặng Tất tước Quốc Công, dùng Nguyễn Cảnh Chân làm Tham Mưu

Quân Sự cho hai người với Trần Ngỗi dự bàn việc lớn Đó thực

gặp gỡ tương đắc người có chí

Tại đất Nghệ An, sau có thêm vây cánh Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân,

của nghĩa quân Trần Ngỗi lên nhanh chóng Để khẳng định sức mạnh tạo dựng ảnh

hưởng ngày rộng lớn hơn, ơng có hai định quan trọng

- Một nghiêm trị kẻ cam lòng đầu hàng hợp tác với quân Minh xâm lược Thực

hiện định này, Trần Ngỗi bắt giết Trần Thúc Dao Trần Nhật Chiêu với 500

thuộc hạ hai nhân vật Đây định vội vã, tả khuynh hồn tồn khơng cần

thiết, mà lực nghĩa quân Trần Ngỗi cịn non yếu Sử thần Ngơ Sĩ Liên

hồn tồn có lí viết lời bàn : "Giết (Trần) Thúc Dao (Trần) Nhật Chiêu phải, cịn bọn thuộc hạ lẽ nên vỗ dùng, chúng định mà cảm kích, suốt đời ln mang ơn đội đức, tốt sao?"

- Hai táo bạo cho quân vượt biển tiến Bắc, công thật bất ngờ vào khu vực bến Bình Than (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương) Các tướng lĩnh Trần Nguyên Tơn, Trần Dương Đình,

Trần Ngạn Chiêu Phạm Chấn Trần Ngỗi tin cậy giao việc huy thực Xem xét kế

hoạch binh bố trận lúc giờ, thấy ý đồ chủ yếu Trần Ngỗi tìm cách

chia cắt lực lượng đối phương, nhằm tạo hội thuận tiện cho công khác lớn hơn, đích thân Trần Ngỗi cầm đầu, dọc theo đường từ Nghệ An đánh

Nhưng, lực bất tòng tâm kế hoạch Trần Ngỗi vị tướng tâm phúc

bộ huy nghĩa quân không thực Lực lượng vượt biển để bất ngờ đánh mạnh vào khu

vực bến Bình Than dã gặp phải sức đề kháng phản công liệt quân Minh, cho

nên, chẳng sau bị tan vỡ phải rút chạy hành Nghệ An Trong Nghệ

An, Trần Ngỗi bị Trương Phụ đem đại quân vào đàn áp liệt Được hợp tác đắc

lực viên thổ quan phản bội Mạc Thuý, Trương Phụ đánh cấp tập, Trần Ngỗi "vì qn

ít, chống đỡ nên đành phải lui Hoá Châu Giặc Minh đuổi theo đến tận cửa biển

Bố Chính" Đúng vào phút nguy nan đó, Phạm Thế Căng đầu hàng Trương

(81)

huyện Vĩnh Linh Gio Linh tỉnh Quảng Trị)

c) Trận Bơ Cơ - đỉnh cao chói lọi nghệ thuật cầm quân Trần Ngỗi

Sau hoàn thành việc huy trận càn lớn vào đại doanh Trần Ngỗi, tướng tổng

huy giặc Trương Phụ lệnh phải lên đường trở Trung Quốc, viên tướng giặc

khét tiếng khác Kiềm Quốc Công Mộc Thạnh mang ấn Chinh Di Tướng Quân đem thêm

năm vạn quân sang thay Nhân Mộc Thạnh đường hành quân, Trần Ngỗi

bộ huy nghĩa quân định chủ động tổ chức phản công mà mục tiêu tiêu

diệt bọn tay chân thân tín giặc khu vực Tân Bình Thuận Hố Diệt bọn tay chân

thân tín nguy hiểm có nghĩa diệt sở xã hội quân Minh

Ngày 16 tháng năm Mậu Tí (1408), nghĩa quân Trần Ngỗi đánh vào cửa biển Nhật Lệ, tên

phản bội Phạm Thế Căng cháu Phạm Đống Cao bị bắt bị giải hành

Trần Ngỗi (lúc chuyển Nghệ An) bị giết Trận thắng lớn làm nức lòng nhân

dân địa phương, bọn tay sai giặc mà khơng dám lộng hành q quắt

trước

Tháng 10 năm Mậu Tí (1408), Trần Ngỗi định mở công lớn vào Đông Đô

Tất nghĩa binh đóng rải rác Thuận Hố, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu Thanh Hoa

được gấp rút huy động vào cơng có quy mơ lớn

"Những bề cũ hào kiệt nơi, không không hưởng ứng" Ngày 14 tháng 12 năm

1408, trận ác chiến diễn Bô Cô (nay thuộc Ý Yên, Nam Định) nghĩa quân Trần

Ngỗi với quân Minh Kiềm Quốc Công Mộc Thạnh huy "Hồng Đế tự tay cầm dùi đánh

trơng, hạ lệnh cho ba quân thừa xông trận, đánh từ đầu Tị đến cuối Thân Quân

Minh thua chạy Ta chém Binh Bộ Thượng Thư Lưu Tuân, Đô Ti Lữ Nghị loại quân

cũ nhiều đến 10 vạn Chỉ có Mộc Thạnh chạy thành Cổ Lộng."

Trận Bô Cô trận điển hình nghệ thuật phối hợp nhịp nhàng binh với thuỷ binh,

năng lực huy lực lượng từ nhiều địa phương khu vực khác đến hội quân Trận

Bô Cô trận hiên ngang mặt đối mặt lãnh tụ nghĩa quân với tướng

tổng huy quân Minh xâm lược Với trận đại thắng Bô Cô, tên tuổi Trần Ngỗi trở nên lừng

lẫy Và, kể từ sau trận Bô Cơ, qn Minh khơng dám cói thường mà cịn kính nể tài

thao lược Trần Ngỗi

d) Người giỏi lúc giỏi

Ngay sau trận đại thắng vang lừng Bô Cô, tiếc thay, lãnh tụ Trần Ngỗi với hai tướng

Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân bắt đầu nảy sinh bất đồng Trần Ngỗi cho phải nhân

chẻ tre, thẳng tiến Đông Quan đánh mạnh vào tận sào huyệt kiên cố cuối giặc,

khi Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân lại chủ trương phải ổn định đất giành lại được,

diệt trừ bọn giặc cịn sót để tránh hậu hoạ lâu dài Đang lúc đơi bên chưa đủ lí lẽ chắn để

thuyết phục giặc Đơng Quan vào giải cứu Mộc Thạnh, thế, bọn

Nguyễn Quỹ Nguyễn Mộng Trang lại nhân mà bng lời gièm pha Trần Ngỗi dại dột bắt

giết Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân Chuyện đau lịng xin trình bày phần viết

Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân

Chỉ vòng năm mà Trần Ngỗi có đến hai lần thể tả Với việc

giết hại 500 thuộc hạ Trần Thúc Dao Trần Nhật Chiêu (tháng 12 năm 1407), Trần

Ngỗi tự đẩy vào bị cô lập Đến (tháng 12 năm 1408), với việc đồng thời bắt giết

cả hai vị tướng cao cấp tài Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân, kể Trần Ngỗi

(82)

độc lập dân tộc tưởng chừng trang trọng kết đầy trận thắng vang dội, nhưng,

vừa mở bị đóng chặt lại

Vẫn biết người giỏi lúc giỏi, song, nông thời

Trần Ngỗi gây nên hậu đau lòng Trong ông, khí khái vội vã chừng lúc

nào song hành với Giá mà Nhưng, lại "giá mà" với lịch sử Thôi đành

ngậm ngùi cầm bút ghi nhận rằng, sau đỉnh vinh quang trận Bô Cô, vai trị Trần Ngỗi kể

như khơng cịn đáng kể

3 TRẦN QUÝ KHOÁNG - NGỪOI QUẢ CẢM ĐẢM NHẬN SỨ MẠNG KẾ TỤC SỰ NGHIỆP

CỦA TRẦN NGỖI

Bấy giờ, chết oan ức Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân khiến cho đông nghĩa sĩ

của Trần Ngỗi bị hoang mang khơng người số họ hẳn niềm tin vào lãnh tụ

chính mà điển hình có lẽ Đặng Dung (con Đặng Tất) Nguyễn Cảnh Dị (con

của Nguyễn Cảnh Chân) Hai ông khơng từ bỏ lí tưởng xả thân đánh giặc cứu nước

cũng chấp nhận tiếp tục làm tướng cho Giản Định Đế Trần Ngỗi người giết hại

cha "Con Nguyễn Cảnh Chân (Nguyễn) Cảnh Dị Đặng Tất (Đặng) Dung, giận nỗi cha họ bị chết oan nên đem quân Thuận Hoá Thanh Hoa, đón quan Nhập Nội

Thị Trung Trần Q Khống Nghệ An tơn lập làm Hoàng Đế" Ngày 17 tháng năm Kỉ Sửu

(1409), Chi La (nay đất thuộc huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh), Trần Q Khống

thức lên ngơi Hồng Đế đặt niên hiệu Trùng Quang Trong guồng máy triều đình hồn tồn

mới mẻ này, Nguyễn Suý Thái Phó, Nguyễn Cảnh Dị Thái Bảo, Đặng Dung Đồng Bình

Chương Sự, Nguyễn Chương Tư Mã

Một khởi nghĩa, kẻ thù chung, nghiệp lớn bắt đầu, khó khăn

chồng chất, mà tiếc thay, nghĩa sĩ nhân dân yêu nước đương thời có đến hai vị Hoàng

Đế Trên khắp gian này, nỗi lo lắng thuộc vào hàng đáng kể có lẽ

thừa Vua ! Bấy giờ, quyền Trần Ngỗi đóng Ngự Thiên cịn Chính quyền Trần Q

Khống đóng khu vực Chi La Trên thực tế hai guồng máy quyền Trần

Ngỗi Trần Q Khống lúc bắt đầu có biểu đáng phải bận tâm

Để giải bất hồ có xu hướng ngày tăng, Trần Quý Khoáng mật sai Nguyễn Suý

đem quân ra, bất ngờ đánh úp Trần Ngỗi Ngự Thiên bắt sống Trần Ngỗi đem Tại Chi La

Trần Ngỗi Trần Q Khống tơn làm Thái Thượng Hoàng ! Cách tiến hành hợp hai lực

lượng theo lối áp đặt thô bạo này, dù sử cũ có cố gắng tìm lời biện minh khơng thể

che khuất hết khiên cưỡng Và, số người phản kháng liệt lúc lại

chính thân mẫu Trần Ngỗi Sử cũ chép : "Ngày tháng năm Kỉ Sửu (1409 - NKT) Hưng

Khánh Thái Hậu với Hành Khiển Lê Tiệt Lê Nguyên Đỉnh ngầm bàn việc khởi binh Hát Giang tiến vào đánh úp Trùng Quang Đế, có người quê Nghệ An Nguyễn Trạo đã tiết lộ việc Trùng Quang Đế sai bắt giết bọn Lê Tiệt Lê Ngun Đỉnh, cịn

tha hết cả".

Tháng năm Mậu Tí (1409), thân mẫu Trần Ngỗi (tức bà Hưng Khánh Thái Hậu) bị

bệnh mà qua đời, mối hiềm khích đơi bên kể khơng cịn đáng kể nữa,

nghĩa quân nhờ mà hồi phục nhanh Từ Hà Tĩnh, Trần Quý Khoáng liên tiếp tổ chức

những công ạt Bắc Tài quân Trần Q Khống bộc lộ rõ

ở công Tướng tổng huy quân Minh lúc Kiềm Quốc Công Mộc Thạnh

vì q lo sợ nên cử Hồng La làm sứ giả, đến xin gặp Trần Quý Khoáng để đơi bên thương

lượng Trần Q Khống khơng tiếp, sai người tới gặp Hồng La Nỗ Giang

Tháng năm 1409, Trần Quý Khoáng cho quân tiến thẳng khu vực Hạ Hồng (nay thuộc

Hải Dương) hiên ngang đặt đại doanh bến Bình Than Trần Ngỗi có mặt

bên cạnh Trần Q Khống Dân khắp địa phương nô nức hưởng ứng, quan lại hợp tác

(83)

không chịu

Quân Minh lâm vào tình quẫn bách, tướng tổng huy giặc Kiềm Quốc Cơng

Mộc Thạnh cịn biết đóng chặt cửa thành gấp cho người Trung Quốc khẩn thiết kêu cứu

Nhân hội này, hào kiệt nơi thi chiêu mộ nghĩa sĩ chủ động tổ chức

công, đập tan quyền giặc địa phương Sử cũ cho biết :

- Đồng Mặc Thanh Hoa, xưng Lỗ Lược Tướng Quân, đánh diệt giặc "nhiều không

kể xiết", bắt sống tướng giặc Tả Địch, khiến cho viên tướng khác giặc Vương Tuyên

vì vào quẫn bách mà phải tự tử

- Nguyễn Ngân Hà (cũng người Thanh Hoa) "bậc trội đám hào kiệt" (chữ

tác giả ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ) đánh cho quân Minh nhiều trận thất điên bát đảo

- Lê Nhị Thanh Oai (nay thuộc tỉnh Hà Tây) đánh giết tướng giữ chức Đô Ti

nhà Minh Lư Vượng cầu Ngọc Tản, sau cịn táo bạo đem quân đánh chiếm

huyện Từ Liêm (Hà Nội)

- Lê Khang người quê huyện Thanh Đàm (nay huyện Thanh Trì, Hà Nội) vận động

nhân dân địa phương dậy đánh cho quân Minh nhiều trận lớn

- Đỗ Cối Nguyễn Hiệu Trường Yên hô hào nhân dân nơi vùng lên

Như Trần Quý Khoáng vừa tự cầm quân đánh mạnh vào khu vực đồng Bắc

Bộ, vừa khích lệ hào kiệt nhân dân địa phương vùng dậy đánh giặc tuỳ khả cách

thức riêng Tuy chưa thật chặt chẽ thiếu hẳn huy thống

nhất, Trần Q Khống có cơng đặt tảng cho q

trình nhận thức việc huy động sức mạnh trí tuệ tồn dân vào nghiệp cứu nước

4 CUỘC ĐỐI ĐẦU VỚI TRƯƠNG PHỤ Ở HÀM TỬ - NGHĨA KHÍ DẪU MẠNH CŨNG

CHẲNG ĐỦ ĐỂ ĐÈ BẸP THẾ GIẶC HÙNG HẬU VÀ BẠO TÀN

Nhận tin kêu cứu khẩn thiết Mộc Thạnh, triều đình Minh Thành Tổ (1402-1424)

lần nữa, buộc phải sai Trương Phụ cầm quân giải nguy Tháng năm Bính Tuất (1406),

tham gia huy xâm lăng nước ta, Trương Phụ trao chức Chinh Di Hữu Phó

Tướng quyền đeo ấn Chinh Di Tả Phó Tướng, tước Tân Thành Hầu Tháng năm

Đinh Hợi (1407), Trương Phụ với Mộc Thạnh lệnh gấp rút trở Trung Quốc Đến đầu

năm Mậu Tí (1408), Trương Phụ lại lệnh phải đem quân sang lần Nhưng

chẳng sau đó, việc cầm quân đánh dẹp giao lại cho tướng Mộc Thạnh cịn Trương

Phụ phải quay triều đình Và lúc (tháng năm 1409), lần thứ ba (trong vòng chưa

đầy ba năm) Trương Phụ sang nước ta Với chuyến xuất quân lần thứ ba Trương Phụ dược

triều đình Minh Thành Tổ cho làm Tổng Binh, đeo ấn Chinh Di Tướng Quân phong tới

tước Anh Quốc Công Điều có nghĩa Mộc Thạnh bị hết chức quyền cũ

Tháng năm 1409, trận đụng độ với quân sĩ Trần Ngỗi Thiên Quan,

Trương Phụ áp đảo Trần Ngỗi nhanh chóng bị bắt bị giết hại Tháng năm 1409,

Trương Phụ dò biết đại binh Trần Quý Khống Bình Than nên cho qn

tới tấp công Bấy giờ, nhiệm vụ tổ chức chống đánh quân Minh Hàm Tử, ngăn không cho

Trương Phụ tiến vào khu vực Bình Than Trần Quý Khoáng trao cho tướng Đặng Dung

Nhưng "qn mà lương ăn cạn", Đặng Dung cầm cự Trần Quý

(84)

mổ bụng lấy ruột người quấn vào thân lấy mỡ người đem rán Có nơi chúng lấy người đem đốt nướng làm trị chơi Thậm chí có nơi chúng mổ bụng đàn bà mang thai, cắt

lấy hai tai hài nhi để giao nộp Dân khắp vùng từ kinh thành đến lộ phải lần lượt chịu hàng Ai chưa bị giết chúng bắt làm nơ tì đem bán, người nơi, tan tác hết cả"

Về tội ác "trời không dung đất không tha" Trương Phụ, sử thần Quốc Sử Quán triều

Nguyễn nghiêm phê :"Trương Phụ học từ Minh Thành Tổ thủ đoạn tàn khốc

người phạm tội dây dưa đến mười họ nên mới dám bạo ngược giết chết dân trời

Kẻ bất nghĩa tất nhiên cuối chuốc lấy chết, dùng sức mạnh để cướp nước người có

phải dễ đâu."

Sau Trần Quý Khoáng rút Nghệ An tồn quyền nhà Hậu Trần từ Thanh Hoa

trở Bắc bị tan rã vậy, khó khăn nghĩa quân Trần Quý Khoáng ngày

càng thêm chồng chất

5 BA LẦN SAI SỨ - BA LẦN BẾ TẮC

Nhẫn tâm cướp nước tàn hại dân lành mà chẳng chút ghê tay

nhưng nhà Minh lại tuyên bố chúng đội quân nhân nghĩa Bám lấy lời lừa mị

đó, Trần Quý Khoáng định mở thêm mặt trận cơng vào kẻ thù, mặt

trận ngoại giao Nhìn hình thức, định táo bạo lợi hại,

nhưng xét kĩ thấy rõ Trần Quý Khoáng thiếu hẳn tính khả thi Khơng thề nói khác

rằng, vào thời điểm cụ thể đó, mối tương quan lực bất lợi đó, việc sai sứ cầu

phong điều khơng thể thành cơng Tuy nhiên, Trần Quý Khoáng hi vọng

rằng từ thực tiễn sinh động mặt trận này, ông muốn làm cho trăm họ nhận thức ngày

sâu sắc chất xấu xa quân Minh xâm lăng Bấy giờ, Trần Quý Khoáng ba lần sai

sứ đến tận hang ổ giặc để trực tiếp đấu trí với chúng ba lần hồn tồn bị bế tắc

và khơng thu kết

Lần thứ nhấtlà vào mùa hè năm Tân Mão (1411) Trong lần thứ này, quan Hành Khiển

Nguyễn Nhật Tư cử làm Chánh Sứ quan Thẩm Hình Lê Ngân cử làm Phó Sứ Hai

ơng với đồn tuỳ tùng lặn lội sang tận kinh thành nhà Minh, nhân danh người

được cử làm đại diện cho hoàng tộc nhà Trần, bám chặt lấy cờ trị giả hiệu "phù

Trần diệt Hồ" mà Minh Thành Tổ cho giương lên trước để xin cầu phong cho Trần Quý

Khoáng Minh Thành Tổ tức giận, sai bắt giam giết hại Chánh Sứ Phó Sứ

Lần thứ hailà vào tháng năm Tân Mão (1411) Lần này, quan Hành Khiển Hồ Ngạn Thần

được cử làm Chánh Sứ quan Thẩm Hình Bùi Nột Ngơn cử làm Phó Sứ Ngồi tờ biểu văn

xin cầu phong, phái sứ giả mang theo nhiều phẩm vật quý giá để dâng tiến Rất

tiếc viên Chánh Sứ Hồ Ngạn Thần không đủ lực phẩm hạnh để làm trịn bổn

phận giao nên nước liền bị Trần Quý Khoáng sai bắt giam giết chết

Lần thứ ba vào tháng năm Quý Tị (1413) Bấy giờ, Trần Q Khống đóng Hố Châu cịn

đất Nghệ An tướng tổng huy quân Minh Trương Phụ chiếm giữ Lần này, người

cử làm Chánh Sứ Nguyễn Biểu đến khu vực đặt đại doanh Trương Phụ Nghệ

An, Nguyễn Biểu bị Trương Phụ giết chết

Tóm lại, vịng hai năm (từ mùa hè năm 1411 đến mùa hè năm 1413), Trần Quý

Khoáng ba lần chủ động sai sứ giả ba lần bị bế tắc thất bại Các vị

Chánh Sứ Phó Sứ Nguyễn Nhật Tư, Lê Ngân, Nguyễn Biểu bị giặc giết hại Riêng

Hồ Ngạn Thần, với hành vi lỗi lầm thật khó bễ tha thứ sứ, tiếng sau bị Trần

(85)

Với Trần Quý Khoáng, ba lần sai sứ ba lần bế tắc thất bại với toàn thể nhân dân

yêu nước đặc biệt bạc hào kiệt ưu thời mẫn lúc bây giờ, thực tế thất bại

cả ba lần để lại học lớn, thực lực chưa đủ mạnh khơng thể

tranh biện lẽ sai quân cướp nước

6 THÂN DẪU MẤT VẪN NGỜI NGỜI TIẾT THÁO

Mùa xuân năm Quý Tị (1413), Trần Q Khống cố gắng mở cơng Bắc

nhằm làm thay đổi tương quan lực đôi bên Từ Nghệ An, Trần Quý Khoáng với

Nguyễn Suý Nguyễn Cảnh Dị dẫn quân Vân Đồn từ Vân Dồn, tổ chức trận đánh

bất ngờ vào khu vực duyên hải Bắc Bộ, vừa tiêu hao sinh lực địch, vừa thu gom lương thực

cho nghĩa quân Nhưng, rời Nghệ An vào tháng giêng chưa đầy hai tháng sau (ngày tháng 3)

Trần Quý Khoáng phải quay Nghệ An "quân lính mười phần, lúc cịn lại ba

bốn phần" Nói khác hơn, Trần Q Khống cam chịu thất bại Tháng năm Quý Tị (1413),

Trương Phụ họp tướng lại để bàn kế hoạch đánh trận định cuối với nghĩa quân

Trần Quý Khoáng Hoá Châu

"Mộc Thạnh bàn :

- Hoá Châu có núi cao biển rộng, chưa dễ lấy đâu.

Trương Phụ nói :

- Tơi sống Hố Châu, chết làm ma Hóa Châu Hóa Châu chưa dẹp được, tơi cịn mặt mũi trơng thấy Hồng Thượng nữa".

Nói xong, Trương Phụ liền dẫn thuỷ quân 21 ngày sau đến Thuận Hố Tháng năm

1413, đụng độ lớn quân Minh với lực lượng Trần Quý Khoáng diễn

tại sông Thái Gia (cũng tức Sái Già) Tại đây, phục binh Trần Quý Khoáng đánh cho thuỷ

quân Trương Phụ trận tơi bời Trương Phụ nhờ may mắn thoát chết

Vốn viên tướng dày dạn kinh nghiệm trận mạc nên sau trận này,

Trương Phụ gấp rút chấn chỉnh đội ngũ cấp tập tổ chức phản công Tháng 11 năm 1413,

Trương Phụ bắt hai vị tướng xuất sắc Trần Quý Khoáng Nguyễn Cảnh Dị Đặng

Dung Khơng cịn cách khác, Trần Quý Khoáng đành phải bỏ đất Hoá Châu định men theo

đường núi chạy ngược lên vùng Lão Qua đường rút lui bi quân sĩ

Trương Phụ bắt Sự kiện diễn vào tháng 12 năm Quý Tị (1413) Cùng bị bắt với Trần

Q Khống cịn có số tướng lĩnh cao cấp khác nghĩa quân

Tháng năm Canh Ngọ (1414), Trương Phụ sai quân dùng thuyền đưa Trần Quý Khoáng

Yên Kinh (Trung Quốc) Dọc đường bị áp giải, ông nhảy xuống biển tự tử Danh tướng Đặng

Dung nhảy xuống biển tự tử với ông

Với lịch sử giữ nước kiên cường dân tộc, Trần Quý Khoáng thực xứng đáng vị danh

tướng cảm, người có cơng tham gia dựng cờ xướng nghĩa

chống ách đô hộ quân Minh Ông ngã xuống nghiệp lớn chưa thành tiếng thơm

về tiết tháo anh hùng đời ơng cịn với núi sơng, cịn với mn đời

con Hồng cháu Lạc Tổng Tài Quốc Sử Viện thời Lê Sơ Tiến Sĩ Ngơ Sĩ Liên có lời bàn

Trần Quý Khoáng sau : "Trong lúc loạn li mà Trùng Quang Đế dám lây quân lữ để mưu

khôi phục đất nước, việc thật chẳng khác dùng gỗ nhỏ để chống đỡ nhà lớn đổ, há ơng lại khơng biết tình đến lúc cứu vãn

được hay sao? Nhưng, cần phải cố làm hết bổn phận phải làm, có mong cứu vãn

mệnh trời.

Đến bị lũ giặc bắt giải đi, lịng giữ nghĩa khơng chịu nhục, cam lòng nhảy

(86)

III CÁC BẬC DANH TƯỚNG ĐỜI HẬU TRẦN

1 ĐẶNG TẤT VÀ ĐẶNG DUNG : HỔ PHỤ SINH HỔ TỬ

a) Diệt tên phản bội Phạm Thế Căng trận Nhật Lệ (6-1408), lần thể

khiếu cầm quân Đặng Tất.

Đặng Tất Đặng Dung hai cha con, tổ tiên vốn người Hoá Châu, sau di cư làng Phù Lưu,

huyện Thiên Lộc, làng thuộc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Trước hăng hái đến tham

gia khởi nghĩa Trần Ngỗi phát động lãnh đạo, Đặng Tất quan Đại Tri Châu

Hoá Châu Hiện chưa rõ Đặng Tất sinh vào năm nào, nhiên, vào ba chi tiết lí

lịch, một trước năm 1407 ơng làm quan đến chức Đại Tri Châu, hai đến năm 1408, ơng

có gái đến tuổi lấy chồng ông tiến dâng cho Trần Ngỗi, ba trai ông - Đặng

Dung - vị tướng nghĩa quân, cho nên, ước đốn Đặng

Tất đời vào khoảng đầu năm sáu mươi kỉ XIV tham gia nghĩa binh Trần

Ngỗi, ơng tuổi ngồi bốn mươi

Ngày mồng tháng 10 năm Dinh Hợi (1407), Trần Ngỗi Trần Triệu Cơ tôn lập làm

Hồng Đế Mơ Độ Đặng Tất cịn Hố Châu Đến tháng năm Mậu Tí (1408), Trần Ngỗi

buộc phải rút lui Nghệ An, Đặng Tất đem quân sĩ tới để mắt tình

nguyện xin theo Trước lúc lên đường, ông bắt giết bọn quan lại đô hộ nhà Minh Hoá

Châu mang gia quyến đi, có hai người đặc biệt, danh tướng

Đặng Dung hai người gái (được ông đem dâng tiến cho Trần Ngỗi)

Giản Định Đế Trần Ngỗi vui mừng, phong cho Đặng Tất tước Quốc Công Từ

đây, Đặng Tất coi chỗ dựa tin cậy nghĩa quân Nhưng, Trần

Ngỗi đóng Nghệ An chưa Mạc Thuý dẫn quân Minh đến càn quét Do chỗ

quân lại chưa quen trận mạc nên Trần Ngỗi Đặng Tất phải chịu thua, hết chạy vào tận

Hoá Châu lại bí mật quay Nghệ An Bấy Trương Phụ rải quân lùng sục khắp nơi mà

khơng tìm Trần Ngỗi Lúc Trương Phụ đánh đến cửa Bố Chính viên

tì tướng Trần Ngỗi Phạm Thế Căng đầu hàng, Trương Phụ trao cho chức Tri

Phủ phủ Tân Bình Hắn xưng Duệ Vũ Đại Vương đặt đại doanh núi An Đại (ở

huyện Lệ Thủy, Quảng Bình ngày nay) Sự phản bội Phạm Thế Căng khiến cho nghĩa quân

của Trần Ngỗi gặp khơng khó khăn Vùng từ Hồnh Sơn (đèo Ngang - ranh giới tự nhiên

hai tỉnh Hà Tĩnh Quảng Bình) trở Nghệ An vùng từ phía nam huyện Gio Linh

(tỉnh Quảng Trị) đèo Hải Vân chủ yếu thuộc quyền chi phối nghĩa quân Trần Ngỗi,

cịn khu vực nằm lọt (Quảng Bình cộng với phía bắc Quảng Trị) lại Phạm Thế Căng kiểm

sốt Muốn có khu rộng lớn liên hồn an tồn lẽ tất nhiên Trần Ngỗi

phải nhanh chóng tiêu diệt Phạm Thế Căng

Ngày 16 tháng năm Mậu Tí (1408), tướng Đặng Tất tin cậy giao trách nhiệm tổ chức

chỉ huy cơng có tầm quan trọng đặc biệt Chỉ vòng ngày,

loạt trận lớn nhỏ khác nhau, Đặng Tất đập tan hoàn toàn lực lượng Phạm Thế Căng

và trừng trị đích đáng kẻ phản dân hại nước

Do trận đánh định số phận Phạm Thế Căng diễn cửa Nhật Lệ, cho nên, sử

thường gọi trận Nhật Lệ Từ thực tế diễn biến kết tết đẹp trận Nhật Lệ, điều

không thể phủ nhận tài quân Đặng Tất bộc lộ rõ ràng Ông thật

xứng đáng với tước vị Quốc Công với niềm tin lớn lao lực lượng nghĩa quân Trần Ngỗi

(87)

Sau thắng lợi vang dội trận Nhật Lệ, nghĩa quân Trần Ngỗi nói chung uy tín Đặng Tất nói riêng mau chóng trở nên lừng lẫy Bấy giờ, bọn tay sai

giặc lo sợ hoang mang mà đến quân Minh không dám chủ quan coi thường Trần

Ngỗi Nhân đà thuận lợi này, tháng 12 năm Quý Tị (1408), Trần Ngỗi táo bạo cho quân đánh

thẳng Bắc Và, lần nữa, Quốc Công Đặng Tất Trần Ngỗi tin cậy giao phó trọng

trách "điều động quân lộ Thuận Hố, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu Thanh Hoa để

hợp lực đánh Đông Đô"

Lúc này, Trương Phụ lệnh phải gấp Trung Quốc, viên tướng khác nhà Minh

Kiềm Quốc Công Mộc Thạnh đeo ấn Chinh Di Tướng Quân sang thay Mộc Thạnh nắm

quyền tổng huy năm vạn quân thuỷ nhà Minh từ Vân Nam (Trung Quốc) hùng hổ tiến

vào nước ta Cùng tham gia điều khiển hành quân với Mộc Thạnh cịn có số viên

tướng khác Đơ Ti Lữ Nghị Binh Bộ Thượng Thư Lưu Tuấn

Ngày 14 tháng 12 năm 1408, nghĩa quân Trần Ngỗi Đặng Tất Trần Ngỗi trực tiếp huy

đã gặp giao chiến với đại binh Mộc Thạnh bến Bơ Cơ Để đối địch với Mộc

Thạnh, Trần Ngỗi Đặng Tất liền hạ lệnh phải giữ quân ngũ thật nghiêm Những cọc gỗ

được gấp rút đóng xuống dọc theo ven sông Những chiến luỹ nhanh chóng đắp lên

hai bên bờ Tóm lại trận kiên cố thuận lợi cho công lẫn thủ cua lực

lượng nghĩa quân Trần Ngỗi nhanh chóng tạo lập khu vực Bô Cô

Khi hai bên bắt đầu giao chiến dưng có gió mùa đơng bắc thổi mạnh thuỷ triều

lại dâng lên nhanh, lợi hoàn toàn thuộc quân Minh Nhưng bất chấp tất cả, nghĩa

quân ạt xông lên Lúc giờ, Đặng Tất tỏ tỉnh táo khơn khéo việc

điều binh khiển tướng Trần Ngỗi tự đánh trống để thúc giục ba quân Hai bên đánh

liên tục từ đầu Tị đến cuối Thân Quân Minh mau chóng bị dồn vào bị động, bị chia cắt

để khơng cách liên lạc với Trong trận này, Đô Ti Lữ Nghị Thượng Thư

Lưu Tuấn bị chém đầu, lính giặc gồm cũ lẫn bị giết chỗ đến mười vạn tên

Tổng huy lực lượng nhà Minh - Chinh Di Tướng Quân, Kiềm Quốc Công Mộc Thạnh - nhờ

may mắn mà chạy thoát thành Cổ Lộng! Quân giặc phải phen bạt vía kinh hồn

Với số lượng tướng lĩnh cao cấp binh lính giặc bị tiêu diệt nhiều vừa kể trên, Bô Cô

trận đánh có quy mơ tầm vóc lớn nghĩa binh Trần Ngỗi Đặt toàn lịch sử

chống xâm lăng ngoan cường dân tộc ta, Bô Cô trận đánh xứng

đáng xếp vào hàng vang dội Là người có cơng trực tiếp tham gia vạch kế hoạch

huy cách xuất sắc trận Bô Cô, Đặng Tất thể rõ tài qn thật đáng

kính Ông biểu tượng tinh thần kiên định đặc biệt khả giữ vững

tỉnh táo để tìm cách ứng xử thích hợp trước diễn biến phức tạp tình hình chiến

trường Kinh nghiệm việc xây dựng củng cố ý thức giữ quân ngũ thật nghiêm, về việc thực

hiện biện pháp đắn nhằm kịp thời chấn chỉnh tinh thần chiến đấu binh sĩ trước

xông trận mà danh tướng Đặng Tất để lại, thật xứng đáng hậu trân trọng

kế thừa

c) Tiếc thay, sau trận Bô Cô

Rất tiếc sau trận đại thắng vang dội Bô Cô, Giản Định Đế Trần Ngỗi hai vị danh

tướng Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân nảy sinh bất đồng mà tất xoay quanh việc

sắp xếp thứ tự ưu tiên giải vấn đề lớn đặt lúc Sử cũ chép :

Hoàng Đế nói với quân sĩ rằng:

- Nay nên thừa chẻ tre, đánh theo lối chiếu thẳng mạch, nhanh sét đánh

khiến giặc không kịp bịt tai, ta tiến thành Đơng Quan chắn phá tan

(88)

Nhưng (Đặng) Tất lại tâu :

- Trước nên bắt hết bọn giặc cịn sống sót, khơng nên để mối lo sau."

Bởi khác biệt ý kiến vậy, Giản Định Đế Trần Ngỗi trở nên chần chừ, khơng dám

đốn Nhân hội đó, qn Minh từ thành Đơng Quan tiến gấp vào để cứu viện, nhờ đó,

Mộc Thạnh dễ dàng Về phần mình, Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân trước

sau một, chủ trương phải nhanh chóng sai người khắp địa phương lùng bắt

cho hết bọn tàn binh giặc, vậy, sức mạnh lực lượng nghĩa quân bị phân

tán, khả tổ chức cơng phịng ngự bị suy giảm

Đúng lúc nội bắt đầu có rạn nứt đáng lo ngại viên hoạn quan Nguyễn Quỹ

cùng với kẻ học trò giảo hoạt Nguyễn Mộng Trang lại xúc xiểm tâu với Giản Định Đế

Trần Ngỗi : "Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân chuyên quyền, tự ý bổ dụng người

cất nhắc người khác, không sớm liệu tính sau thật khó lịng mà chế ngự được" Trần Ngỗi nghe xong, vội vã cho triệu Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân xuống thuyền ngự

mình Đặng Tất bị võ sĩ bóp cổ chết Thấy chẳng lành, Nguyễn Cảnh Chân liền bỏ

chạy lên bờ khơng thốt, ơng bị võ sĩ đuổi theo chém chết Sự kiện đau lòng

từng hệ sử gia viết lời bình luận thể cách nhìn nhận đánh giá khác

nhau Phan Phu Tiên cho Đặng Tất người có lỗi Ơng viết :"Đặng Tất biết gấp rút

hành quân mà việc phải đến cứu Đơng Đơ cịn gấp Đơng Đơ có tầm quan

trọng nước, chiếm Đơng Đơ tất lộ tề hưởng ứng Vả hào kiệt nước nhà phần lớn tập trung Không lo đánh chiếm nơi mà lại chia quân

khắp xứ, khiến cho hiệu lệnh không thống nhất, cho nên, cuối phải chịu sụp đổ đúng" Các sử thần Quốc Sử Quán triều Nguyễn hạ bút viết Lời phê ngắn ngủi

rằng : "Đặng Tất để tuột hội nên phải rước lấy tai hoạ, đáng tiếc

lắm sao" Đánh giá kiện chừng mực có phần thoả đáng có lẽ Tiến Sĩ Ngơ Sĩ

Liên Ông dẫn sử sách Trung Quốc để đối sánh viết : "Đường Thái Tông dùng

binh, phần lớn nhân chẻ tre mà giành thắng lợi (Đường Thái Tơng) có tư

chất anh hùng, tướng sĩ huấn luyện sẵn sàng từ trước Đế Ngỗi tính kế thắng nhưng (Đặng) Tất khơng theo, cố nhiên đáng tiếc, có lẽ (Đặng) Tất thấy Đế

Ngỗi khơng phải bậc anh hùng Đường Thái Tông mà quân sĩ từ xa tiến đến, lương

thực chưa tiếp tế kịp, quân lộ chưa tập hợp xong, cho nên, tốt làm theo lời

binh pháp : qn đơng địch mười lần bao vây, đơng địch năm lần đánh

Nếu khơng phải thành Cổ Lộng cách Bô Cô không nửa ngày đường,

không nhân chẻ tre mà đánh, lại đánh thành Đông Quan Kế (của Đặng Tất) chưa

phải hỏng, Đế Ngỗi bị tin lời gièm pha mà vội giết (Đặng) Tất Than ôi, Đặng Tất phá giặc mạnh, trổ tài tính tuần tháng, việc lớn chưa làm

nửa mà bị chết oan, đại hoạ sụp đổ (của nhà Hậu Trần) đâu phải tội (Đặng)

Tất."

Trái ngược hẳn với nhận xét Phan Phu Tiên, đồng thời, bộc lộ kiến cách

rõ ràng có lẽ Hồng Giáp Ngơ Thì Sĩ Ông viết : "Đặng Tất trù tính kĩ Khi ấy, Mộc

Thạnh sang, vượt đường xa ngàn dặm, quân sĩ vừa đói lại vừa mỏi mệt, chúng chết được Bơ Cơ may mắn lắm, cịn Trương Phụ tên cáo già, chẳng

khác hổ lặng lẽ ngồi nhìn Đơng Đơ Nếu vội đem đội qn độc từ xa kéo đến mà đánh chưa dễ giành phần thắng, vạn mà trước mặt lẫn sau lưng

có giặc, khơng lấy đâu qn lương cứu viện có phải dấn thân vào chỗ chết hay không ?

Cho nên, tạm nghỉ ngơi cho điều độ kế vạn toàn Đặng Tất bậc tướng quân

giàu trí lực Giá thử sử dụng hết mưu kế ông định quân Minh vấp phải

một phen khốn đốn, khơng thể nói nước ta chỗ khơng có người được".

(89)

Thân sinh Đặng Dung vốn vị danh tướng giàu tài lập nhiều

cơng lao to lớn lại bị người em rể giết hại, cho người em rể Hồng Đế

lãnh tụ chiến đấu chống quân Minh từ sâu thẳm cõi lịng, tất nhiên Đặng Dung

khơng tránh khỏi phẫn uất Theo lẽ thường người lãnh đủ căm giận Đặng Dung

sẽ Giản Định Đế Trần Ngỗi Nhưng, Đặng Dung có cách nhìn nhận phân tích thật sâu

sắc cảm động Thân sinh ông Đặng Tất danh tướng Nguyễn Cảnh Chân bị giết hại

là tổn thất lớn lao nghiệp cứu nước, ông lại nỡ quên nghĩa thiêng

liêng đánh đuổi quân Minh mà lại lo lòng ăn thua đủ với Giản Định Đế Trần Ngỗi tổn thất

cho xã tắc đương thời thật khó mà lường hết Vả chăng, người thấy rõ sai lầm

khó bỏ qua Giản Định Đế Trần Ngỗi ơng khơng thể tái lập hành vi tương tự

được Ơng ơng - Đặng Dung ngời sáng tâm thành, xứng đáng với đấng thân sinh,

xứng đáng với q trình tơi luyện khói lửa chiến đấu giành độc lập Đầu năm Kỉ

Sửu (1409), tức sau thân sinh ông bị giết hại, Đặng Dung với Nguyễn

Cảnh Dị bỏ Trần Ngỗi đem lực lượng với Trần Quý Khoáng Bấy giờ, Trần Quý

Khống Thanh Hoa, hai ơng đồng lịng đón rước Trần Q Khống đất Chi La

tơn lập Trần Q Khống làm Hồng Đế vào ngày 17 tháng năm 1409 Khi ấy, Đãng Dung

tấn phong làm Đồng Bình Chương Sự

Một kẻ thù chung, phong trào đấu tranh chung có chung ý chí tâm

khơi phục nhà Trần lại có đến hai guồng máy quyền với hai vị Hồng Đế khác nhau,

đó chưa nói xung đột hai guồng máy quyền bắt đầu xuất

đấy thực tế khơng thể chấp nhận Như nói, tướng Trần Quý

Khoáng Nguyễn Suý cầm đầu tiến hành hợp hai lực lượng cách tổ chức đánh úp

vào Ngự Thiên bắt sống Trần Ngỗi đưa Chi La ! Tại đây, Trần Ngỗi tơn làm Thượng

Hồng Dẫu phải gặp lại tình khơng bình thường rõ ràng có

muốn hay khơng Đặng Dung phải tiếp tục trướng Trần Ngỗi, vượt lên

trên tất cả, ông không chút bận tâm, trước sau giữ vững phẩm chất đường đường

tướng quân Ai nói rằng, chiến thắng vẻ vang chiến thắng

Theo tinh thần triết lí ấy, Đặng Dung số người giành chiến

thắng vẻ vang

đ) Dọc ngang sông núi trải năm năm

Trong buổi đầu hợp lực lượng theo kiểu gượng ép vậy, tính thống

trong huy tướng lĩnh đôi bên chưa cao, vậy, thất bại tượng không tránh

khỏi Tướng Đặng Dung ngoại lệ

Tháng năm Kỉ Sửu (1409), Trùng Quang Đế Trần Quý Khoáng đánh với quân

Minh tướng Trương Phụ huy Bình Than Đặng Dung lệnh đem quân thu lương

thực cửa Hàm Tử (nay thuộc tỉnh Hưng n) Giặc bí mật tung qn thăm dị nắm biết

rõ số quân sĩ Đặng Dung cầm đầu khơng nhiều, vậy, chúng liền cho tạm dừng

cuộc hành quân đàn áp Bình Than để dồn cơng cấp tập vào khu vực Hàm Tử Lúc

bấy giờ, qn nên Đặng Dung đành phải chịu thua Trùng Quang Đế Trần Quý

Khoáng vừa nghe tin thất trận hạ lệnh rút lui Nghệ An

Tháng năm Nhâm Thìn (1412), Đặng Dung với tướng Nguyễn Suý,

Nguyễn Cảnh Dị Hồ Bối đóng Mơ Độ (n Mơ, Ninh Bình) bị Trương Phụ Mộc Thạnh

đem đại quân tới đàn áp Một ác chiến đẫm máu diễn ra."(Đặng) Dung (Trương)

Phụ liều chết đánh nhau, thắng bại đôi bên chưa rõ (Nguyễn) Suý (Nguyễn) Cảnh Dị bỏ

chạy vào nam cịn Hồ Bối bỏ chiến thuyền mà lên bờ (Đặng) Dung cô khơng có qn cứu viện rốt phải dùng thuyền nhẹ để vượt biển mà thoát." Thất bại Đặng

Dung trận đánh quan trọng Mô Độ lần này, trước hết thất bại hợp đồng tác

chiến lỏng lẻo vị tướng lĩnh lúc Tất nhiên thật khó mà trách Đặng

(90)

trách nhiệm cao hoạt động nghĩa qn Mơ Độ Ơng người chịu phần

trách nhiệm trận thua mà

Tháng năm Quý Tị (1413), Đặng Dung tướng tổng huy quân giặc Trương Phụ lại

có thêm đụng độ lớn khu vực Thái Gia Một lần nữa, toàn thắng ngỡ

thuộc nghĩa quân hợp đồng tác chiến lỏng lẻo mà Trương Phụ lật ngược

tình Sử cũ chép rõ :"Đang đôi bên quân nam quân bắc (quân nam quân của Trần Quý Khoáng quân bắc quân Trương Phụ - NKT) cầm cự Đặng

Dung bí mật dùng binh tượng binh mai phục, nửa đêm bất ngờ đánh úp vào doanh trại (Trương) Phụ (Đặng) Dung nhảy lên thuyền (Trương) Phụ định bắt sống (Trương) Phụ lại khơng biết mặt để nhộn hắn, thế, (Trương) phụ liền nhảy

sang thuyền nhỏ chạy thoát Quân Minh bị tan vỡ đến nửa, thuyền bè, khí giới bị đốt phá gần

hết, mà bọn (Nguyễn) Suý hợp sức để đánh (Trương) Phụ biết quân (Đặng) Dung nên quay lại đánh (Đặng) Dung đành phải chịu thất bại, quân sĩ chạy tan

tác hết." Các sử gia Quốc Sử Quán triều Nguyễn chép đến phải lấy làm tiếc rẻ mà

hạ bút viết Lời phê : "Trời nuông tha Trương Phụ" Về trận ác Chiến diễn Thái Gia, Tiến

Sĩ Ngô Sĩ Liên viết lời bàn dài, có đoạn : "(Đặng) Dung nhân lúc nửa đêm

cho quân đến đánh úp doanh trại giặc, khiến cho chủ tướng giặc phải hoảng sợ chạy trốn, đốt được thuyền bè khí giới giặc, khơng phải bậc tướng tài chẳng thể làm

thế Song, cuối (Đặng Dung) bị thất bại, trời Nhưng, thất bại mà vinh

quang vậy? Bọn (Đặng) Đung đại nghĩa mà không thèm sống chung với giặc,

thề tiêu diệt lũ chúng nên hết lịng phị tá Trùng Quang Đế dụng mưu khơi phục

Trong khoảng năm kiên trì đánh giặc, có lúc thất trận mà ý chí khơng nao núng, khí

thế hăng, tới lúc hoàn toàn kiệt sức chịu dừng Lịng trung với nước bề tơi như thiết tưởng đến trăm đời sau thấy rõ."

Tháng 11 năm Quý Tị (1413) Đặng Dung với Nguyễn Cảnh Dị bị Trương Phụ bắt sống

đang tìm đường tạm lánh sang Xiêm La (tức Thái Lan ngày nay) để tính kế lâu dài Vì liên tục

lớn tiếng chửi mắng quân giặc nên Nguyễn Cảnh Dị bị Trương Phụ hạ lệnh giết vừa bị

bắt Ngay sau đó, Trương Phụ liền sai người dừng chiến thuyền đưa Trùng Quang Đế Trần Quý

Khoáng, Đặng Dưng, Nguyễn Suý số tướng sĩ khác nghĩa quân Yên Kinh (Trung

Quốc) Dọc đường bị áp giải, Trùng Quang Đế Trần Quý Khoáng nhảy xuống biển tự tử Đặng

Dung nhảy xuống chết theo Do chưa rõ năm sinh nên chưa thể biết mất,

Đặng Dung hưởng thọ tuổi Sinh thời, Đặng Dung bậc văn võ song tồn Bằng tất

ý chí nghị lực phi thường, ông tự tạo cho trang lí lịch nghiệp đặc biệt

Ngoài khiếu cầm quân lực đốn sắc sảo, ơng cịn đại bút Đặng

Dung để lại cho đời Thuật hoài - một hùng thi bất diệt lịch sử văn học

dân tộc Tuyệt tác bừng bừng hào khí chí vùng lên khuấy nước chọc trời ông

được chép lại TỒN VIỆT THI LỤC Chúng tơi xin trân trọng giới thiệu nguyên văn

chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa dịch thơ Thuật hoài sau :

Thuật hoài

Thế du du nại lão hà

Vô thiên địa nhập hàm ca Thời lai đồ điếu thành công dị

Vận khử anh hùng ẩm hận đa

Trí chủ hữu hồi phù địa trục

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà Quốc thù vị báo bạch

Kỉ độ Long Tuyền đới nguyệt ma

(91)

Việc đời dằng dặc mà tiếc thay tuổi già, Trời đất rộng lớn nhập vào say ca.

Thời đến bọn bán thịt ngồi chợ hay câu ngồi sơng thành công dễ dàng, Khi vận hội qua đến bậc anh hùng đành phải uống nhiều tủi hận.

Phị chúa có lịng nâng trục đất,

Rửa binh khí, tiếc khơng có lối lên kéo nước sơng Ngân xuống.

Nợ nước chưa đền mà đầu sớm bạc.

Bao phen, gươm Long Tuyền đem mài ánh trăng.

Dịch thơ :

Việc đời bề bộn tiếc già, Trời đất quy cuồng say ca.

Gặp thời, đồ điếu thành công dễ,

Lỡ vận anh hùng ngậm xót xa.

Phị chúa dốc lịng ghì địa trục

Rửa gươm chẳng lối kéo Ngân Hà Nợ nước chưa đền, đầu bạc.

Gươm mài bao bận trăng ngà

Về vần thơ danh tướng Đặng Dung, Lý Tử Tấn có lời bình ngắn gọn

: "Phi hào kiệt chi sĩ, bất năng" (Nếu kẻ sĩ hào kiệt, làm nổi) Với

Đặng Dung, gươm bút thật thứ vũ khí lợi hại

(Tác giả xin thích thêm sau : Đồ người làm nghề bán thịt heo Trần Bình, người Trung Quốc thời Hán Thuở hàn vi, Trần Bình bán thịt heo chợ, tiếng cắt thịt giỏi Bấy có người bàn rằng, cắt thịt giỏi thế, cắt đặt việc triều đình giỏi Sau Trần Bình Tể Tướng xuất sắc nhà Hán Điếu người làm nghề câu, Hàn Tín Thuở cịn hàn vi, Hàn Tín câu cá sơng Hồi để kiếm sống, có lúc đói quá, may người phụ nữ cho chén cơm Về sau, Hàn Tín trở thành danh tướng lập dược nhiều công lao nhà Hán phong làm Sở Vương Hàn Tín trả cho người phụ nữ chén vàng, văn học cổ thưởng gọi bát cơm phiếu mẫu Thanh gươm Long Tuyền mà Đặng Dung nhắc đến câu cuối thơ vốn có tích Lơi Hoàn (Trung Quốc), theo đến ngục thất Phong Thành, Lơi Hốn tìm thấy hai gươm q để hòm đá, Long Tuyền, Thái An Văn học cổ thường dùng tích để gươm quý Trong chữ Hàn thơ Ở câu thứ tư, có viết S khứ anh hùng ẩm hận đa vận khứ Tương tự vậy, câu thứ bảy, có viết Quốc thù vị phục bạch vị báo

Lý Tử Tấn người làng Triều Lật, huyện Thượng Phúc, xã Tản Minh, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, đỗ Bảng Nhãn khoa Canh Thìn (1400) trước làm quan cho nhà Hồ, sau làm quan cho nhà Lê, trải phong dần tới chức Hàn Lâm Viện Học Sĩ, Nhập Thị Kinh Diên)

Phụ lục 4

LỜI DỊCH VÀ CHÚ THÍCH ĐOẠN GHI CHÉP CỦA QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN VỀ SỰ

NGHIỆP CỦA ĐẶNG TẤT VÀ ĐẶNG DUNG

(ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ - Nghệ An tỉnh)

Đặng Tất nguyên người Hoá Châu, sau di cư đến huyện Can Lộc Vào cuối đời Trần, ơng

từng triều đình cho giữ chức Đại Tri Châu Hoá Châu Khi Giản Định Đế nhà Trần lên

ngôi Mô Độ (Trường Yên), bị tướng nhà Miình Trương Phụ đánh phá hết hành dinh,

phải chạy đến Nghệ An, ông nghe tin liền giết quan lại nhà Minh đem quân đến hội, lại

dâng tiến gái vào cung Giản Định Đế phong cho ông tước Quốc Công để bàn

mưu khôi phục (Đặng) Tất đánh giết tên phản bội đầu hàng nhà Minh Phạm Thế Căng

cửa biển Nhật Lệ, sau đó, điều quân lộ Thuận Hố, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hố

tiến đánh Đông Đô Đến đâu, quan lại hào kiệt nơi vui vẻ hưởng ứng (Ơng)

đánh tan qn Minh Bơ Cô, chém đặc quan nhà Minh Binh Bộ Thượng Thư Lưu Tuấn

Đô Ti Lữ Nghị, riêng Mộc Thạnh chạy Từ qn uy vang dậy khắp nơi nơi

(92)

đem lịng ngờ vực, liền giết chết ơng

Đặng Dung Đặng Tất Vì cha chết oan nên ông giận, liền (bỏ Giản Định Đế) đem

qn Thuận Hóa Thanh Hố, rước Trần Q Khống đến Nghệ An tơn lập làm Hồng Đế,

đổi niên hiệu Trùng Quang (Nhờ công tôn lập này) ơng Trần Q Khống phong làm

Đồng Bình Chương Sự Trương Phụ đem quân vào cướp Nghệ An, Trùng Quang Đế chạy vào Hoá

Châu (Trương) Phụ tiến vào Hố Châu, qn đơi bên kịch chiến Thái Gia, (Đặng) Dung

nhân đêm tối bí mật đánh úp, nhảy lên thuyền Trương Phụ dự định bắt sống,

không biết mặt nên Trương Phụ nhảy xuống thuyền nhỏ chạy Qn Minh có

nguy bị thất bại hồn tồn Sáng hơm sau, Trương Phụ biết (Đặng) Dung có qn số nên

quay lại đánh, quân (Đặng) Dung tan vỡ Sau, (Đặng) Dung bị (Trương) Phụ bắt giải Yên

Kinh Đi dọc đường, ông nhảy xuống sông tự tử Ơng có để lại cho đời bài Thuật hồi

2 NGUYỄN CẢNH CHÂN VÀ NGUYỄN CẢNH DỊ : HÀO KIỆT SINH HẠ ANH HÙNG a) Nguyễn Cảnh Chân hội ngộ với Trần Ngỗi :

Nguyễn Cảnh Chân sinh trưởng làng Ngọc Sơn (nay đất làng quê ông thuộc huyện Nam Đàn,

tỉnh Nghệ An) Ông sinh vào năm chưa rõ, sử cũ không cho biết ông bắt đầu

nghiệp Dưới thời nhà Hồ (1400-1407), Nguyễn Cảnh Chân

những quan lại thuộc hàng cao cấp Tháng năm Ất Dậu (1405), không rõ ông phạm phải lỗi

lầm trình làm quan, song, sử cũ cho biết ơng bị triều đình nhà Hồ biếm

chức, đưa làm An Phủ Sứ lộ Thăng Hoa An Phủ Sứ chức quan cao, chức vụ

của ơng trước năm 1405 cịn cao Ngày tháng 10 năm Đinh Hợi (1407), Trần

Ngỗi thức lên ngơi Hồng Đế bến Mô Độ dựng cờ xướng nghĩa kêu gọi nhân dân

nước vùng dậy chống quân Minh xâm lược đến tháng năm Mậu Tí (1408), Nguyễn Cảnh

Chân đem toàn lực lượng tới tham gia Đó thực hội ngộ tương

đắc bậc chí Bấy giờ, Nguyễn Cảnh Chân Trần Ngỗi phong làm Tham Mưu

Quân Sự Với chức vụ quan trọng này, ông người trực tiếp tham gia vạch kế

hoạch cho hầu hết hoạt động lớn nghĩa quân Cùng ông đến mắt tình nguyện sát

cánh chiến đấu với Giản Định Đế Trần Ngỗi lúc có Đại Tri Châu Đặng Tất lập

tức, hai ông trở thành hai cánh tay đắc lực Trần Ngỗi Bằng tất ý chí tài

của mình, Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân thực xứng đáng với niềm tin cậy lớn lao

Trần Ngỗi, tất nghĩa quân toàn thể nhân dân yêu nước đương thời Tuy nhiên, khác

với Đặng Tất, công việc chủ yếu Nguyễn Cảnh Chân trực tiếp cầm quân tả xung

hữu đột mà âm thầm suy nghĩ để hoạch định kế sách Mặc dù vậy, chiến công nghĩa

quân Trần Ngỗi từ tháng đến hết tháng 12 năm Mậu Tí (1408) gắn liền với cống

hiến xuất sắc Nguyễn Cảnh Chân

b) Thương thay, hương lửa chưa nồng

Ngày 14 tháng 12 năm Mậu Tí (1408), nghĩa quân Trần Ngỗi đại thắng quân Minh Bô

Cô Người trực tiếp cầm quân trận đánh lịch sử Quốc Công Đặng Tất người

vạch kế hoạch Tham Mưu Quân Sự Nguyễn Cảnh Chân Như nói, tướng tổng huy

quân giặc Chinh Di Tướng Quân, Kiềm Quốc Cơng Mộc Thạnh st bị bắt sống, số

quan lại tướng lĩnh cao cấp nhà Minh Binh Bộ Thượng Thư Lưu Tuấn Đô Ti Lữ Nghị

đều bị chém đầu, mười vạn quân giặc bị tiêu diệt

Từ vùng giải phóng rộng lớn liên hồn bước đầu hình thành, từ đây, tương

quan lực đôi bên thay đổi theo chiếu hướng có lợi cho nghĩa quân Trần Ngỗi Nhưng

tiếc thay, sau ngày đại thắng Bô Cô, nội huy nghĩa quân nảy sinh

những bất đồng không nhỏ Giản Định Đế Trần Ngỗi chủ trương rằng, phải nhân chẻ tre

đánh theo lối chiếu thẳng mạch tận Thăng Long, khiến cho giặc phải lâm vào "b

sét đánh chẳng kịp bịt tai", ngày tồn thắng khơng cịn xa Nhưng, Quốc Cơng Đặng Tất

và Tham Mưu Quân Sự Nguyễn Cảnh Chân lại chủ trương rằng, trước tiên, phải bắt hết bọn giặc

(93)

Giản Định Đế Trần Ngỗi lại thiếu hẳn hai tố chất có ý nghĩa quan trọng Quân Minh

đã nhân hội tổ chức giải cứu cho Mộc Thạnh nhanh chóng giành lại chủ động cho

mình Bấy giờ, có viên hoạn quan Nguyễn Quỹ học trị tên Nguyễn Mộng Trang liên tiếp tìm cách nịnh hót Giản Định Đế Trần Ngỗi, đồng thời, khơng ngớt nói lời xúc xiểm đối

với Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân Trong chỗ thiếu tỉnh táo vội vã, Trần Ngỗi giết

chết Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân Nhận xét kiện đau lòng này, sử thần kiệt xuất

thế kỉ XV Ngô Sĩ Liên viết :"Hồng Đế may vịng vây nguy hiểm, nhờ cầu người

giúp sức nên cha Đặng Tất có tài làm tướng, cha Nguyễn Cảnh Chân giỏi bày

mưu lược, tưởng chừng đủ để khơi phục dựng nghiệp trung hưng Với trận

thắng lớn Bô Cô, nước vừa lên, mà nghe lời gièm pha li gián lũ hoạn quan,

cùng lúc giết hai người bề phị tá, có khác tự chặt bỏ hết tay chân vây cánh

mình, thử hỏi nên việc được." Quốc Sử Quán triều Nguyễn cũng có Lời phê với nội dung

tương tự :"Đang tình cịn đảo điên, qn thần đong lòng chung sức mà lo chưa

làm việc lớn, tàn hại lẫn nhau, tự làm tay chân mình, tránh khỏi thất bại được" Giản Định Đế Trần Ngỗi nêu gương xả thân nước, ơng làm

được tất làm Nhưng nói, người giỏi lúc giỏi,

trong chỗ cạn nghĩ vội vã thời, ông gây tổn thất cho nghĩa quân, gây tổn thất

cho nghiệp May mắn thay, Đặng Tất Đặng Dung

Nguyễn Cảnh Chân Nguyễn Cảnh Dị sáng suốt lựa chọn cho phép ứng xử

đắn thật cảm động

c) Tôn lập Trần Q Khống lên ngơi Hồng Đế tận trung với nghiệp

chống xâm lăng

Ngay sau chết oan khuất cha, Nguyễn Cảnh Dị với Đặng Dung, đem tất lực

lượng nghĩa quân người Thuận Hoá trở Thanh Hoa Tại đây, ông Đặng Dung với

số tướng lĩnh xuất sắc khác đồng lịng tơn lập Trần Q Khống lên ngơi Hồng Đế nhằm

nhanh chóng tạo cờ thống cho chiến đấu chống quân Minh xâm lược hộ

Sau rước Trần Q Khống đất Chi La, ngày 17 tháng năm Kỉ Sửu (1409), ơng góp

phần quan trọng vào việc thức tổ chức lễ lên ngơi cho Trần Q Khống Nhờ cơng tơn

lập này, Nguyễn Cảnh Dị Trùng Quang Đế Trần Quý Khoáng phong làm Thái Bảo

Nhưng, phong trào đấu tranh chung chống kẻ thù chung, nghiệp

lớn dang dở mà có đến hai vị Hồng Đế không nên Bấy giờ,

thật đau lịng diễn ra, quyền Giản Định Đế Trần Ngỗi quyền

Trùng Quang Đế Trần Q Khống bắt đầu có mâu thuẫn xung đột Chấm dứt mâu

thuẫn xung đột, phải nhanh chóng thống hai lực lượng nhu cầu hết

sức cấp thiết Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết này, trận đánh úp vào đại doanh

của Giản Định Đế Trần Ngỗi bắt sống Giản Định Đế Trần Ngỗi đem Nghệ An thực

hiện Ngày 20 tháng năm Kỉ Sửu (1409), bến sông Tam Chế, Giản Định Đế Trần Ngỗi

tôn làm Thượng Hồng cịn Trần Q Khống ngơi Hồng Đế Đối với Nguyễn Cảnh Dị,

là thử thách lớn Vì ơm hận cha, ơng buộc lịng phải từ bỏ Giản Định Đế để tơn

phò Trùng Quang Đế đây, muốn hay khơng ơng lại phải chấp nhận

trướng Giản Định Đế thêm lần Nhưng tương tự Đặng Dung, ý chí tận

trung với nước khí khái đấng đại trượng phu anh hùng giúp ông vượt qua tất

Trước sau Nguyễn Cảnh Dị Nguyễn Cảnh Dị, hiên ngang dũng mãnh nơi trận mạc,

hờn riêng lớn chẳng làm ông chao đảo

Sau ngày nhận hàm Thái Bảo, trận đánh lớn Nguyễn Cảnh Dị huy trận Bến La,

diễn vào tháng năm Canh Dần (1410) Trong trận này, Nguyễn Cảnh Dị dã bất ngờ cho quân

tấn công vào lực lượng quân Minh viên Đô Đốc tên Giang Hạo cầm đầu Giang Hạo có

qn số đơng, lương thực vũ khí dồi khơng chống đỡ Hắn

buộc phải bỏ dại doanh Bến La mà chạy Tất dinh trại, binh khí chiến thuyền

quân Minh bỏ lại bị nghĩa quân đốt hết Nhân đà thắng lợi, Nguyễn Cảnh Dị thúc quân truy

(94)

dân địa phương nhân dậy khắp nơi, nghĩa quân tăng lên nhanh, ngược lại, quân Minh phải phen khiếp đảm

Nhưng kiện hợp hai quyền Trần Ngỗi Trần Quý Khoáng thực

theo lối áp đặt cách khiên cưỡng gây nên tác động ngày lớn Hiệu lệnh

bộ huy nghĩa quân không thống giặc Minh nhanh chóng phát

triệt để tận dụng nhằm tổ chức phản công Các sử thần Quốc Sử Quán triều Nguyễn có

lời nhận định xác :"Qn khơng có người thống lãnh, hiệu lệnh khơng thống

nên giặc Minh đánh đến đâu binh sĩ bị tan vỡ"

Sau trận Bến La, Trùng Quang Đế Trần Quý Khoáng rút quân Nghệ An, tướng Đặng

Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Suý Hồ Bối dẫn đạo quân thuỷ hộ vệ tuyến sau

Hai viên tướng khét tiếng nhà Minh lúc Trương Phụ Mộc Thạnh đuổi

theo

Tháng năm Nhâm Thìn (1412), đụng độ lớn đạo quân hộ vệ với binh sĩ

Trương Phụ Mộc Thạnh xảy vùng Mô Độ Điều đáng tiếc không thống

nhất mệnh lệnh huy tiếp tục kéo dài, cho nên, mối liên lạc Đặng Dung, Hồ Bối

với tướng Nguyễn Suý Nguyễn Cảnh Dị thiết lập Một lần

nữa, Trương Phụ triệt để tìm cách khai thác nhược điểm nghĩa quân để tổ chức

công Nguyễn Cảnh Dị phải rút lui Thuận Hoá

Tháng giêng năm Quý Tị (1413), Nguyễn Cảnh Dị với Nguyễn Suý theo Trùng Quang Đế

đem quân khu vực Vân Đồn để thực ba nhiệm vụ khác Một thăm dò thực lực

quân Minh vùng đồng ven biển phía Bắc hai tổ chức cơng có điều kiện ba

thu gom lương thực cho nghĩa quân Nhưng ba nhiệm vụ không thu kết

Như dẫn, ngày tháng năm, Trùng Quang Đế tướng phải quay Nghệ An,

qn lính mười phần độ ba bốn phần

Sau trận thua lớn Thái Gia (cũng tức Sái Già) vào tháng năm Quý Tị (1413), lực lượng

của Trùng Quang Đế Trần Q Khống nhanh chóng bị tan rã Vào tháng 11 năm,

Nguyễn Cảnh Dị Đặng Dung bị Trương Phụ bắt Nguyễn Cảnh Dị miệng

mắng Trương Phụ :"Tao định giết mày, ngờ đâu lại bị mày bắt", cho nên, "Trương Phụ giận

lắm, giết (Nguyễn Cảnh) Dị móc lấy gan mà ăn"

Đặng Dung Nguyễn Cảnh Dị hai người khác hành trạng khí phách

lại tương đồng với Ngay từ thời trai trẻ, hai ông sớm với thân sinh

hăng hái tham gia chiến đấu một chống quân Minh xâm lược hộ Hai ơng

đều có thân sinh chết oan uổng vừa lập công lớn ý chí trước sau hai

vẫn son sắt thuỷ chung với lí tưởng cứu nước Trong khói lửa ác liệt chiến tranh,

Đặng Dung Nguyễn Cảnh Dị vị tướng trực tiếp cầm quân xông pha trận mạc

mức độ có khác hai thực tướng lĩnh giàu tài Đến bước

đường cùng, hai ông trân trọng để lại cho đời gương hi sinh sáng ngời tiết tháo bất

khuất

IV LƯỢC TRUYỆN MỘT SỐ TẤM GƯƠNG ANH HÙNG TIẾT THÁO TRONG SỰ

NGHIỆP ĐÁNH ĐUỔI QUÂN MINH

Quả cảm chiến đấu anh dũng hi sinh nghĩa thiêng liêng đánh đuổi quân Minh

giành độc lập cho dân tộc, bậc danh tướng Lam Sơn (mà trân trọng giới

thiệu tập sách này), bậc danh tướng nhà Hậu Trần trình bày

trên, cịn có loạt gương anh hùng tiết tháo khác Nhưng, tiếc tư liệu

(95)

chật hẹp lao động cá nhân, việc tái tất trang lí lịch đời họ khó

khăn Bởi thực tế này, xin bạn đọc vui lòng thể tất cho trang viết dừng lại mức sơ

bộ sau

1 DANH THẦN NGUYỄN BIỂU

Nguyễn Biểu sinh trường làng Yên Hồ, sau đổi tên làng Bình Hồ, huyện La Sơn Nay đất

làng quê ông thuộc huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh Những thư tịch khoa cử Nho học nước

nhà cịn lưu giữ khơng cho biết đỗ đạt Nguyễn Biểu, nhiên, truyền

thuyết dân gian vùng huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh đặc biệt sử gia Quốc Sử Quán

triều Nguyễn lại khẳng định ông đỗ Thái Học Sinh thời Trần Xin nói rằng, tài

liệu thư tịch ghi chép khoa cử Nho học nước ta liên tục khoảng 70 năm từ 1305 đến

1375 hoàn toàn bị thất lạc, vậy, Nguyễn Biểu người đỗ Thái Học Sinh ơng

phải đỗ vào sau năm 1305 trước năm 1375, tức khoảng 70 năm tài liệu khoa cử bị thất

lạc Nguyễn Biểu tham gia phong trào kháng chiến chống quân Minh từ lúc chưa rõ,

biết guồng máy quyền Trùng Quang Đế Trần Q Khống đứng đầu, ơng

được bổ dụng làm Điện Tiền Thị Ngự Sử

Tháng năm Quý Tị (1413), Nguyễn Biểu Trùng Quang Đế Trần Quý Khoáng cử làm

Chánh Sứ mang biểu văn phẩm vật cầu phong cho Nhưng, đến Nghệ An,

Nguyễn Biểu bị Trương Phụ giữ lại Tất sử xưa chép sau ông

bị Trương Phụ giết, có ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ (Nghệ An tỉnh) nhiều truyền thuyết

dân gian vùng Hà Tĩnh Nghệ An nói để uy hiếp tinh thần quan Chánh Sứ Nguyễn

Biểu, Trương Phụ liền sai làm mâm cỗ đầu người thết đãi ông! Không chút sợ hãi,

Nguyễn Biểu liền dùng đũa khoét lấy mắt đem chấm dấm mà ăn, vừa ăn vừa ứng khảng

khái đọc thơ Nôm ĂN CỖ ĐẦU NGƯỜI Trương Phụ vừa trông thấy lấy làm

khiếp phục trước khí phách hiên ngang ơng, đành phải theo lễ nghi dành cho việc

đón sứ giả để tiếp đãi Nguyễn Biểu, chịu nhận lễ vật, chịu nhận biểu cầu phong hứa chuyển

đạt lên triều đình nhà Minh cho ơng Nhưng, Nguyễn Biểu rời khỏi dinh Trương Phụ

chưa có tên phản bội Phan Liêu (con trai Phan Quý Hựu) vừa tới Trương

Phụ nhân hỏi Nguyễn Biểu người Phan Liêu vốn không ưa ơng,

nói :

- Hắn bậc hào kiệt An Nam, kẻ mà cịn việc đánh dẹp thiên triều thật khó mà xong được

Nghe xong lời ấy, Trương Phụ sai người đuổi theo để bắt ơng lại Đến Cầu Lam

chúng đuổi kịp ông Nguyễn Biểu biết định bị chúng giết, viết vào chân Cầu

Lam chữ Hán "thất nguyệt, sơ nhật, Nguyễn Biểu tử" (nghĩa vào ngày mồng

tháng bảy Nguyễn Biểu chết)

Khi quay trở lại gặp Trương Phụ, Nguyễn Biểu mắng :

- Bên lập mưu đánh chiếm, mà bên lại rêu rao quân nhân nghĩa, hứa

lập cháu họ Trần lại cịn chia đặt quận huyện, khơng cướp bóc cải châu báu mà tàn hại sinh dân, thật loài giặc dữ

Trương Phụ nghe tức giận, giết ơng Các sử xưa chép Nguyễn Biểu

mất vào tháng năm Quý Tị (1413), riêng ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ (Nghệ An tỉnh)

nói Nguyễn Biểu vào tháng năm Quý Tị Do chưa rõ năm sinh nên

(96)

Phụ lục 5

LỜI DỊCH VÀ CHÚ THÍCH ĐOẠN GHI CHÉP CỦA QUỐC SỬ QUÁN

TRIỀU NGUYỄN VỀ NHÂN VẬT NGUYỄN BIỂU

(ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ - Nghệ An tỉnh)

"Nguyễn Biểu người làng Yên Hồ, huyện La Sơn, đỗ Thái Học Sinh, thời Trùng Quang Đế

nhà (Hậu) Trần bổ làm Điện Tiền Thị Ngự Sử Ơng người cương trực, gặp việc dám nói

Tướng nhà Minh Trương Phụ đóng quân núi Nghĩa Liệt cịn Trùng Quang Đế đắp

thành phía nam Chi La (nay đổi La Sơn), hai bên đối luỹ Sau, Trùng Quang Đế Hố

Châu, nhà Minh lại có chiếu tìm cháu nhà Trần nên Trùng Quang Đế sai Nguyễn Biểu làm

sứ giả cầu phong Khi đến trại quân giặc, Trương Phụ bắt Nguyễn Biểu phải lạy

(Nguyễn) Biểu không chịu khuất Bọn giặc bày tiệc, nấu cỗ đầu người dọn cho ăn, (Nguyễn) Biểu

biết ý, lấy đũa khoét mắt chấm dấm mà ăn, (Trương) Phụ kinh dị, đối đãi theo lễ cho

(Nguyễn) Biểu đến Cầu Lam (Trương Phụ cho người đuổi kịp Do có Phan

Quý Hựu Phan Liêu (người Hà Hoàng, huyện Thạch Hà) đầu hàng giặc bổ

làm Tri Phủ Nghệ An (Trương) Phụ hỏi (Phan) Liêu Nguyễn Biểu người ? (Phan) Liêu vốn khơng ưa Nguyễn Biểu, nhân nói :

- Hắn bậc hào kiệt An Nam, cịn việc đánh dẹp thật khó mà xong

Nghe lời ấy, (Trương) Phụ sai người đuổi theo để bắt lại Ông nghĩ chết,

bèn viết vào chân Cầu Lam chữ : thất nguyệt sơ nhật, Nguyễn Biểu tử (ngày mồng

tháng bảy Nguyễn Biểu chết) Khi Nguyễn Biểu quay lại, bị (Trương) Phụ mắng đồ vô lễ,

Nguyễn Biểu giận mà mắng (Trương) Phụ :

- Bụng chứa đầy mưu mơ đánh cướp nước, mà mặt lại giả quân nhân

nghĩa Đã hứa lập cháu họ Trần mà cịn chia đất quận huyện, khơng cướp bóc

cải mà tàn hại sinh dân, lũ giặc tàn ngược

(Trương) Phụ bắt Nguyễn Biểu trói chùa Yên Quốc giết Đến đời Lê Hồng Đức, ông

tuyên dương tiết nghĩa Triều đình sai lập đền thờ ơng thơn Bình Hồ Ơng có hai Con

trưởng (Nguyễn) Tồn Trực làm quan đời Lê, kiêm coi sổ sách quân dân đạo Hải Tây Con út

(Nguyễn) Hạ làm Tuần Kiểm Sứ Cháu xa Nguyễn Phong đỗ Tiến Sĩ đời Quang Hưng, làm

quan đến chức Thái Thường Tự Khanh, sau tặng hàm Công Bộ Hữu Thị Lang."1

-

(1) Về đoạn ghi chép Quốc Sử Qn triều Nguyễn, chúng tơi xin có thêm thích nhỏ sau :

- Núi Nghĩa Liệt tức tên gọi khác Hùng Sơn Ngoài hai tên gọi Nghĩa Liệt Hùng Sơn núi cịn có tên gọi khác

nữa núi Tuyên Nghĩa, núi Đồng Trụ hay núi Lam Thành (nay thuộc tỉnh Nghệ An).

- Chùa Yên Quốc toạ lạc núi Nghĩa Liệt Đây chùa cổ tiếng Nghệ An.

- Đời Lê Hồng Đức đời Hồng Đế Lê Thánh Tơng (1460-1497) lấy niên hiệu Hồng Đức từ năm 1470 đến năm 1497 Trong thời trị Lê Thánh Tơng sử dụng hai niên hiệu khác nhau, Quang Thuận (1460- 1469) Hồng Đức (1470- 1497)

- Đạo Hải Tây theo ghi chép KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THƠNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Chính biên, 21 tờ 21) đạo nguyên đất dai

hai phủ Nghệ An Diễnn Châu, đến năm 1428 (đầu thời Lê Thái Tổ : 1428- 1433) hai phủ gộp chung lại gọi đạo Hải Tây.

- Nguyễn Phong (1559 - ?) đỗ Hoàng Giáp (đỗ hàng thứ kì đại khoa, sau Trạng Nguyên, Bảng Nhãn Thám Hoa Tiến Sĩ) khoa

(97)

Phụ lục 6

A BÀI THƠ ĂN CỖ ĐẦU NGƯỜI CỦA NGUYỄN BIỂU

1

Ngọc thiện trân tu đủ mùi 2 Gia hào thêm có cỗ đầu ngừời

Nem cơng chả phượng cịn thua béo, Thịt gấu gân lân hẳn tươi

Ca lối Lộc Minh so một3 Vật bày thỏ thủ bội mười4 Kia ngon tày vai lợm

Tráng sĩ Phàn tiếng để đời5

B BÀI HỌA THƠ CỦA TRÙNG QUANG ĐẾ

6

Nguyên văn thơ tiễn Trùng Quang Đế :

Mấy vần thơ cũ ngợi Hoàng hoa,7 Trịnh trọng nhân vẳng khúc ca

Chiếu phượng8 mấy hàng tơ cặn kẽ, Vó câu nghìn dặm tuyết xơng pha Tang bồng bấm lịng trẻ9, Khương quế10 thêm cay tính tuổi già Việc nước mai công ngõ vẹn

Gác Lân 11 danh tiếng dõi lâu xa

Nguyên văn hoạ Nguyễn Biểu :

Tiếng ngọc từ trước bệ hoa,

Ngóng tai đồng vọng thuở thi ca

Đường mây gió kị lần lần trải,

Ải tuyết cờ mao thức thức pha

Há cung tên lồng chí trẻ,

Bội mười vàng sắt đúc gan già Hổ vả thiếu tài chuyên đối12 Dịch lộ 13 ba ngàn dám ngại xa.

-

(1) Bài thơ Nôm Ăn cỗ đầu người tương truyền Nguyễn Biểu không dám khẳng định chắn Nguyễn Biểu Tuy nhiên, thấy văn khí phù hợp với hình trạng phẩm cách Nguyễn Biểu, cho nên, đời xưa cho Nguyễn Biểu Chúng xin giới thiệu

phiên âm mà giới thiệu văn chữ Nơm, lí đơn giản kĩ thuật vi tính chưa cho phép.

(2) Ý nói ngon vật nếm đủ.

(3) Ý nói cịn yến tiệc Thiên tử đãi sứ giả Bữa yến tiệc tả đến Lộc Minh Kinh Thi.

(4) Thỏ thủ nghĩa đầu thỏ Chữ lấy Kinh Thi : hữu thỏ tư thủ : có đầu thỏ ấy, việc đãi yến.

(98)

(6) Khi Nguyễn Biểu sứ, Trùng Quang Đế có làm thơ NômTiễn Nguyễn Biểu sứ Nguyễn Biểu làm hoạ Để hiểu rõ học Nguyễn Biểu, xin giới thiệu thêm nguyên văn Trùng Quang Đế Nhưng lần nữa, lí kĩ thuật vi tính nên

chúng chưa thể giới thiệu nguyên chữ Nơm

(7) Hồng hoa chữ lấy từ Hồng hịang giả hoa Kinh Thi, việc vua sai bề sứ.

(8 Chỉ tờ chiếu màu ngũ sắc quý nhà vua sai sứ giả đem đi. (9) Ý nói chí trai từ lúc cịn trẻ.

(10) Khương quế : gừng quế, hai thứ già cay nồng.

(11) Gác Lân gác vẽ hình bậc cơng thần nhà Hán Ý nói tiếng thơm Nguyễn Biểu đời lưu truyền mãi, chẳng khác tên tuổi bậc công thần nhà Hán

(12) Tài chuyên đối : chữ lấy Luận ngữ (sứ tứ phương bất chuyên đối : sứ bốn phương, khơng thể đối đáp) ý

không dám tự tiện.

(13) Dịch lộ đường quan, chặng định dường có nhà để nghỉ tạm Nhà gọi dịch trạm.

Phụ lục 7

VĂN TẾ NGUYỄN BIỂU

Trùng Quang Đế Trần Quý Khoáng

Than rằng :

Sinh sinh hoá hoá, huyền tạo mờ mờ,

Sắc sắc không không, bụi hồng trần phơi phới.

Bất cộng thù, thiên địa chứng cho,

Vô hận, quỷ thần thề với.

Nhớ thuở tiên sinh cao giơ mũ trãi,

Chăm chắm nơi đài gián, đành làm cột đá để ngăn dòng Tới tiên sinh xa gác vó câu, hăm hăm chỉ,

Cán cờ mao trở gió vàng nên nỗi.

Thói tinh chiên Hồ tặc hăm,

Gan thiết thạch Tô Công dễ đổi.

Quan Vân Trường gặp Lữ Mông dễ sa ấy,

Mảng thấy chữ "phệ tề hà cập" ngùi ngùi Lưu Huyền Đức giận Lục Tốn mong trả thù này,

Nghĩ đến câu "thường đảm bất vong" lòng thêm dọi dọi.

Sầu khơn lấp cạn dịng, Thảm dễ xây nên núi

Lấy chi báo chưng hậu đức, rượu kim tương lọ,

Vơi vơi mươnn chuốc ba tuần.

Lấy chi uỷ phương hồn, văn dụ tế câu,

Thăm thẳm ngõ thơng chín suối.

Phụ lục 8

BÀI CẦU SIÊU CHO NGUYỄN BIỂU

Thiền Sư chùa Yên Quốc

Chói chói một vừng tuệ nhật,

Đùn đùng từ vân.

Tam giới soi hoà dưới,

Thập Phương trải khắp xa gần.

Giải thoát lần lần nghiệp chướng,

(99)

Vàng đúc lòng son tấm,

Sắt rèn tiết cứng mười phân.

Trần kiếp đâu oan khổ,

Phương hồn trầm luân.

Tế độ dặn nhờ từ phiệt,

Chân linh ngõ phúc thần.

2 VÕ TƯỚNG NGUYỄN SÚY

Trong tất thư tịch cổ mà chúng tơi có, khơng dịng cho biết năm sinh

như nguyên quán võ tướng Nguyễn S Tên ơng sử thức chép đến kể từ tháng

năm Kỉ Sửu (1409) Sau trận Bô Cô (tháng 12 năm 1408), buồn nỗi thân sinh bị giết

oan, Đặng Dung Nguyễn Cảnh Dị chạy Thanh Hoa đón Trần Quý Khoáng Chi La

cùng đồng lịng tơn Trần Q Khống lên ngơi Hồng Đế Tại Chi La, người có

cơng tôn lập, Nguyễn Suý Trùng Quang Đế Trần Quý Khống phong cho làm Thái Phó Như

vậy, Nguyễn Suý đứng hàng thứ hai hàng Tam Công (Thái Sư, Thái Phó Thái Bảo), tức

cịn cao Thái Bảo Nguyễn Cảnh Dị Đồng Bình Chương Sự Đặng Dung

Ngay sau Trần Q Khống lên ngơi Hồng Đế, lực lượng nhà Hậu Trần bị

suy yếu nghiêm trọng cơng kích lẫn nhau, bên quân sĩ Trần Ngỗi

với bên quân sĩ Trần Quý Khoáng Để nhanh chóng ngăn chặn nữa, để

chấm dứt tình trạng nguy hiểm này, Nguyễn S người vạch kế hoạch trực tiếp

huy công bất ngờ vào đại doanh Giản Định Đế Trần Ngỗi thành Ngự

Thiên (nay thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) Giản Định Đế Trần Ngỗi bị bắt cóc đem

Nghệ An Tại Chi La, Trần Ngỗi dược Trần Q Khống tơn lên làm Thượng Hồng cịn Trần

Q Khống ngơi Hồng Đế "Lúc bấy giờ, trời u ám lâu, mà dưng trở nên

quang đãng, bốn bề rực rỡ sắc mây vàng, người lấy làm kinh ngạc" Nhưng cách hợp

nhất lực lượng theo kiểu áp đặt có ý nghĩa tạm bợ Một khơng khí ngờ vực ln bao

trùm lên hoạt động nghĩa quân mà diễn biến trận Hạ Hồng - Bình Than (tháng năm

Kỉ Sửu, 1409) thể rõ điều Bấy giờ, ưu có phần nghiêng phía

nghĩa qn nhà Minh sai Anh Quốc Công Trương Phụ đem đại binh tới cứu viện Thượng

Hồng Trần Ngỗi thấy khó bễ chống đỡ nên rút quân Thiên Quan (Thiên Quan thuộc tỉnh Ninh Bình phần nhỏ tỉnh Hồ Bình Chính rút lui này, Trần Ngỗi

đã bị Trương Phụ bắt Cùng bị bắt với Trần Ngỗi cịn có Thái Bảo Trần Hy Cát) Nghe tin đó,

Trùng Quang Đế ngờ Thượng Hồng có ý khác liền sai Nguyễn Suý đem quân đuổi theo

nhưng khơng kịp

Trận thắng quan trọng, có ý nghĩa mở đầu cho nghiệp cầm quân Nguyễn Suý có lẽ trận Bài Lâm, diễn vào tháng năm Tân Mão (1411) Bằng lối đánh úp bất ngờ vốn sở

trường riêng mình, Nguyễn S tiêu diệt hồn tồn lực lượng quân Minh đóng

bắt giết tên tay sai giặc Nguyễn Chính

Tháng năm Nhâm Thìn (1412), Nguyễn Suý tướng lĩnh xuất sắc nghĩa quân

như Đặng Dung Nguyễn Cảnh Dị có đọ sức liệt với quân Minh Mô Độ

Nhưng lúc đôi bên chưa phân thắng bại hợp đồng tác chiến mệnh lệnh

huy thiếu chặt chẽ Nguyễn Suý Nguyễn Cảnh Dị rút lui sớm Tướng giặc Trương Phụ triệt để khai thác chỗ yếu để điên cuồng tổ chức phản công Nghĩa quân phải chịu tổn

thất nặng nề

(100)

Quý Khoáng, đem quân vượt biển tiến tận Vân Đồn để đồng thời thực ba nhiệm vụ khác

nhau Một thăm dò thực lực quân Minh vùng duyên hải đông bắc, hai sẵn sàng tổ chức

tấn công giặc có điều kiện ba thu gom lương thực cho nghĩa quân Nguyễn Suý cố

gắng tiếc lực bất tòng tâm Tháng ba năm 1413 ông buộc phải theo Trùng

Quang Đế Trần Quý Khoáng tướng lĩnh khác trở Nghệ An, lúc quân sĩ mười phần

khi cịn lại chừng ba bốn phần

Tháng năm Quý Tị (1413), Nguyễn Suý vị tướng có vinh dự trực tiếp

cầm quân tham gia vào trận công lớn Thái Gia (cũng tức Sái Già) : Trong trận đánh có

ý nghĩa định số phận ấy, lại thêm lần nữa, hợp đồng tác chiến không chặt chẽ

đặc biệt hiệu lệnh huy nghĩa quân không thống nhất, cho nên, tướng giặc

là Trương Phụ nhanh chóng nắm lấy hội thuận tiện để lật ngược tình chuyển

bại thành thắng

Sau trận Thái Gia, toàn lực lượng nhà Hậu Trần kể hoàn toàn bị tan rã, nhiên, Nguyễn Suý cố gắng tổ chức thêm trận mai phục nhỏ vào tháng 10 năm Quý

Tị (1413) Bấy giờ, Trương Phụ dốc quân thuỷ lùng bắt tàn quân Trần Quý Khoáng

Thấy việc canh phòng chiến thuyền Trương Phụ lơi lỏng nên Nguyễn S bố trí cho

ba thích khách bí mật núp bè cỏ rỗi bất ngờ leo lên chiến thuyền, định giết chết Trương Phụ Nhưng, mưu không thành

Vào cuối tháng 11 năm Quý Tị (1413), Trùng Quang Đế Trần Quý Khoáng với tướng

lĩnh cao cấp nghĩa quân Nguyễn Suý, Đặng Dung Nguyễn Cảnh Dị bị giặc

Minh bắt Nguyễn Cảnh Dị bị giết vừa bị bắt Trùng Quang Đế, Đặng Dung Nguyễn Suý bị giặc giải Yên Kinh (Trung Quốc) Dọc đường bị áp giải, nhân lúc lính canh

sơ hở, Trùng Quang Đế Trần Quý Khoáng nhảy xuống nước để tự tử, Đặng Dung nhảy

xuống chết theo Riêng tướng Nguyễn S có cách xử trí khác Sử cũ chép Nguyễn

Suý "ngày ngày chơi cờ với viên Chỉ huy coi giữ mình, thấy quen nên khơng

phịng bị, (Nguyễn S) bất ngờ lấy bàn cờ đánh ngã xuống nước chết, xong, (Nguyễn)

Suý nhảy xuống nước tự tử"

Nguyễn Suý nhân vật cao cấp cuối nhà Hậu Trần anh dũng ngã xuống

nghiệp cứu nước Cùng với anh hùng hào kiệt lừng danh khác Đặng Tất, Đặng Dung,

Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Biểu ông thực xứng đáng

biểu tượng sáng ngời ý chí quật khởi, xứng dáng đời đời kính trọng Ông góp phần

chứng minh cách thật sinh động : "chính khí khắp cõi trời đất bao la, có sấm

sét gầm vang, có gió bão dội khơng sợ, có hăng lũ quỷ thần

chẳng dám tới gần."

3 LA BÌNH VƯƠNG PHẠM NGỌC

Phạm Ngọc danh Thiền Sư chưa rõ đạo hiệu ơng Chính sử thời Nguyễn cho biết ông người làng An Lão, đất làng quê ông thuộc thị xã Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng Sinh thời, Phạm Ngọc người mộ Phật, tu hành chùa Đồ

Sơn

Sau thất bại Trần Quý Khoáng (1413), quân Minh thẳng tay tiến hành hàng loạt

cuộc đàn áp tàn khốc Mặc dù vậy, phong trào đấu tranh với nhiều quy mô lớn nhỏ khác

nhau liên tục nổ Phạm Ngọc số lãnh tụ phong trào đấu tranh

sơi động Dẫu nhà tu hành, Phạm Ngọc khơng chịu khoanh tay

(101)

truyền thuyết dân gian vùng Hải Phịng La Bình Vương thần tích cho biết : để có danh nghĩa

chính thống cho việc tập hợp lực lượng nồi dậy, Phạm Ngọc cho phao tin khắp nơi ông

là người Trời tin cậy ban cho ấn thiêng gươm báu, đồng thời, sai xuống địa giới cho

nắm quyền làm chủ thiên hạ Vì thế, ơng xưng La Bình Vương đặt niên hiệu Vĩnh Ninh

Tin vừa truyền lập tức, số thủ lĩnh phong trào đấu tranh

những vùng lân cận nô nức đem lực lượng theo với Phạm Ngọc Trong số có :

- Trịnh Công Chứng Lê Hành Hạ Hồng (Nay Hạ Hồng tương ứng với đất dai huyện

Gia Lộc, Thanh Môn, Ninh Giang Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương)

- Phạm Thiên Tân Minh (nay huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng) - Nguyễn Đặc Khoái Châu

- Nguyễn Đa Cấu Trần Nhuế Hoàng Giang

Khi lực lượng tương đối hùng hậu, vào cuối năm Kỉ Hợi (1419) Phạm Ngọc liền thành lập

guồng máy quyền (thực chất huy nghĩa quân) với tham gia

các bậc hào kiệt đương thời :

+ Ngô Trung làm Nhập nội Hành Khiển

+ Đào Thừa làm Xa Kị Đại Tướng Quân

+ Phạm Thiện làm Nhập Nội Kiểm Hiệu Tả Tướng Quân

+ Lê Hành làm Tư Không

Cũng vào cuối năm Kỉ Hợi (1419), Phạm Ngọc bất ngờ cho quân công vào Kiến An

và dễ dàng chiếm toàn vùng Tại đây, ông cho xây dựng số chiến luỹ kiên

cố, đồng thời, biến Kiến An thành sào huyệt vững chắc, lực lượng Phạm

Ngọc mà lên nhanh

Thắng lợi to lớn dễ dàng khiến cho Phạm Ngọc huy

nghĩa quân có phần chủ quan Tháng năm Canh Tí (1420), tướng Tổng Binh nhà Minh

(lúc Lý Bân) đưa đại quân tới đàn áp, thay bình tĩnh tìm cách bảo tồn lực lượng cố

gắng phát cho dược chỗ yếu giặc để đánh Phạm Ngọc tổ chức trận

nghênh chiến Kiến An Chỉ trận tập kích chớp nhống, Lý Bân phá vỡ

hoàn toàn trận Phạm Ngọc, dồn tất lực lượng Phạm Ngọc tập hợp

non nớt kinh nghiệm trận mạc vào tình bi đát Các tướng Phạm Thiện

Ngô Trung bị bắt giải Đông Quan (tức Hà Nội ngày nay) Phạm Ngọc số tì tướng

phải chạy Đông Triều thời gian ngắn Đơng đảo nghĩa sĩ

đã bị bắt bị giết Do chưa rõ năm sinh nên chưa rõ mất, Phạm Ngọc hưởng thọ bao

nhiêu tuổi

Trong số nhân vật quan trọng Phạm Ngọc may mắn vịng vây

Lý Bân có Tư Khơng Lê Hành Ơng chạy Đa Cẩm tập hợp tàn binh, hợp với lực lượng

của Đào Cường để đánh giặc Nghĩa binh Lê Hành Đào Cường có lúc đơng đến 8.000 người,

nhưng, tất hoạt động thời gian ngắn bị Lý Bân đánh bại

4 THIÊN THƯỢNG HOÀNG ĐẾ LÊ NGÃ

Lê Ngã người làng Tràng Kênh, huyện Thuỷ Đường (Thủy Ngun, Hải Phịng) sinh năm

chưa rõ Ơng xuất thân gia nô Trần Thiên Lại tiếng là người có tướng mạo đẹp,

từng nhiều nơi, đến đâu người cúng dưỡng Khi quân Minh tràn sang xâm lược

và đô hộ nước ta, Trần Thiên Lại tên quý tộc đầu hàng giặc sớm Nhân

lúc loạn li, Lê Ngã bỏ chủ, đổi họ tên Dương Cung bỏ

(102)

Sơn) Cũng tất người sục sơi ý chí cứu nước, Lê Ngã chí tập hợp lực lượng

để chiến đấu một với quân Minh Bấy giờ, phong trào đấu tranh bị đàn

áp tàn khốc, bất chấp tất cả, Lê Ngã dũng cảm khởi xướng lãnh đạo

khởi nghĩa riêng Tại đất Đan Ba, Lê Ngã Phụ Đạo xứ Lạng Sơn Bế Thuấn gả gái

cho, lại cịn tơn làm minh chủ Để có thêm thuận lợi cho việc huy động tập hợp lực lượng, Lê Ngã nhận huyền tơn (tức cháu đời) Hồng Đế Trần Duệ Tông vừa từ

nước Lão Qua trở Ơng tự xưng Thiên Thượng Hồng Đế, đặt niên hiệu Vĩnh Thiên

thế nữa, Lê Ngã tổ chức đúc tiền riêng cho guồng máy quyền Chẳng

chốc, quân số Lê Ngã đông tới vài vạn người Đan Ba nhanh chóng trở thành khu

căn kiên cố

Từ Đan Ba, Lê Ngã liên tục tiến hành cơng ạt vào qn Minh, đó,

bật cả, gây tiếng vang lớn ba trận diễn vào năm Canh Tí (1420)

:

- Đánh vào Bình Than tịch thu hàng loạt khí giới qn lương giặc

- Đánh vào An Bang chiếm trại Hồng Doanh

- Thiêu trụi thành Xương Giang

Khi nghĩa quân Lê Ngã riết hoạt động phạm vi ngày rộng lớn gây cho giặc tổn thất nặng nề Trần Thiên Lại xuất Hắn xin vào yết kiến phát

hiện ta Lê Ngã gia nơ cũ Vừa từ đại doanh Lê Ngã ra, Trần

Thiên Lại tuyên bố : hắn vốn gia nơ ta, việc ta phải lạy nó Đó thực câu nói

kết tinh sâu sắc chất phẫn bội đê hèn Trần Thiên Lại Lê Ngã biết

cho người đuổi theo để bắt lại không kịp

Bởi chất phản bội đê hèn này, thay tìm cách ủng hộ Lê Ngã thiết thực góp phần vào

cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung, "Trần Thiên Lại truyền hịch khắp phủ huyện, tự

xưng Hưng Vận Quốc Thượng Hầu, kêu gọi dấy quân để đánh Lê Ngã, việc chưa

thành, bị Lê Ngã giết chết."

Tên phản bội Trần Thiên Lại bị trừng trị đích đáng lực lượng nghĩa quân

bị tổn thất nặng nề Tướng nắm quyền Tổng Binh giặc lúc Lý Bân nói : "Thiên

Lại Lê Ngã hai thú thôi" Hắn cho quân sĩ tới đàn áp Sau nhiều trận ác

chiến kịch liệt, Lê Ngã thua, với Bế Thuấn (nhạc phụ, chỗ dựa tin cậy

người sát cánh chiến đấu đắc lực mình), nhân đêm tối bỏ trốn Số phận Lê Ngã

(103)

VÀI LỜI CUỐI SÁCH

Bạn đọc yêu quý !

Sau hồn tất dịng cuối thảo, tác giả thấy tập DANH TƯỚNG

VIỆT NAM mà khô khan gần gồm toàn trang chữ dày đặc Bao nhiêu hình

tư liệu chụp cho in chục sách xuất trước rồi,

không nên cho in lại Đang lúc lúng túng chưa biết phải xoay xở may mắn

thay, số bạn đồng nghiệp hào hiệp tay giúp đỡ Tiến sĩ Phạm Hữu Công Nghiên cứu

sinh Sử học Phí Ngọc Tuyến (hiện cơng tác Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Thành phố Hồ

Chí Minh) cấp tốc liên hệ với số nhà Bảo tàng tỉnh Và ngày sau, Nghiên

cứu sinh Sử học Phí Ngọc Tuyến hồ hởi đem đến tặng tơi số ảnh tư liệu Bảo tàng tỉnh

Hà Tĩnh Bảo tàng tỉnh Nghệ An gửi vào Tôi thật cảm kích trân trọng sử dụng

ảnh với lời thích nguồn gốc cụ thể rõ ràng

Một số đồng nghiệp mà đặc biệt quý mến Thạc sĩ Võ Văn Tường, bộn

rộn cơng việc, chúng tơi khơng có dịp để đàm đạo với nhau, cần

tấm ảnh tư liệu cần gọi điện thoại tới anh gửi tặng Bạn đọc gần xa hẳn

rõ, anh Thạc sĩ Khoa học Xã hội Nhân văn đồng thời nhà nhiếp ảnh

rất chịu khó có tài, tác giả VIỆT NAM DANH LAM CỔ TỰ tiếng

một số cơng trình nghiên cứu khác chùa chiền Việt Nam Cũng lần trước, anh lại

tiếp tục gửi tặng số ảnh mà tơi muốn có, khơng kèm theo điều kiện nhỏ

nào Tự đáy lịng mình, tơi chân thành cảm ơn anh

Nhân nói ảnh tư liệu, tác giả xin lần cảm ơn bà Hoàng Phương Châm Bảo tàng

Hoa Lư (tỉnh Ninh Bình) Thượng Toạ Thích Thiện Bảo tuần báo Giác Ngộ người gửi

tặng cho tác giả hàng chục tấmảnh quý Phật giáo Việt Nam Phật giáo Ấn Độ Tác giả

trân trọng sử dụng thích đầy đủ xuất xứ sách xuất trước

Sách mang tên tơi tên tơi lại gắn bó chặt chẽ với tình cảm nồng hậu

bạn đồng nghiệp sống làm việc khắp miền đất nước Những người bạn có

tâm luôn ngời sáng vô tư

NGUYỄN KHẮC THUẦN

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

I TÀI LIỆU CHỮ HÁN CỦA TRUNG QUỐC

01 Âu Dương Tu - Tống Kỳ : TẤN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán

02 Âu Dương Tu - Tống Kỳ : TÂN ĐƯỜNG THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư

Quán

03 Ban CỐ : TIỀN HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán

04 Cát Hồng : BÃO PHÁC TỬ NỘI NGOẠI THIÊN Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư

Quán

05 Cốc Ứng Thái : MINH SỬ KỈ SỰ BẢN MẠT Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán

06 Hồi Nam Vương Lưu An : HỒI NAM TỬ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán

07 Lịch Đạo Nguyên : THUỶ KINH CHÚ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán

08 Ngụy Trưng : TUỲ THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán

09 Phạm Việp : HẬU HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán

10 Phòng Kiều : TẤN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán

(104)

12 Tư Mã Thiên : SỬ KÍ TƯ MÃ THIÊN Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán

13 Nhạc sử : THÁI BÌNH HỒN VŨ KÍ Kim Lăng ấn

14 Thung Đình Ngọc : MINH SỬ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán

II TÀI LIỆU CHỮ HÁN CỦA VIỆT NAM

01 Khuyết danh : ĐẠI VIỆT SỬ LƯỢC

02 Ngô Sĩ Liên sử thần triều Lê : ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ

03 Quốc Sử quán triều Nguyễn : KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC

04 Quốc Sử Quán triều Nguyễn : ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ

05 Ngơ Thì Sĩ : VIỆT SỬ TIÊU ÁN

06 Phan Huy Chú : LỊCH TRIỀU HIẾN CHƯƠNG LOẠI CHÍ

07 Vương Duy Trinh : THANH HỐ QUAN PHONG

III TÀI LIỆU CHỮ VIỆT CHỌN LỌC

01 Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn : LỊCH SỬ CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN VIỆT NAM (tập 1) Nxb

Giáo dục Hà Nội 1960

02 Phan Huy Lê : LỊCH SỬ CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN VIỆT NAM (tập 2) Nxb Giáo dục Hà Nội

1960

03 Phan Huy Lê - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn - Lương Ninh : LỊCH SỬ VIỆT NAM (tập 1)

Nxb Đại học Trung học chuyên nghiệp Hà Nội 1983

04 Nguyễn Khắc Thuần : CÁC ĐỜI ĐỀ VƯƠNG TRUNG QUỐC Nxb Giáo dục 2002

05 Nguyễn Khắc Thuần : ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ VĂN HOÁ VIỆT NAM Nxb Giáo dục, tập - 2000 tập - 1998

06 Nguyễn Khắc Thuần : ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ CỔ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM Nxb Văn hố - Thơng Tin 2002

07 Nguyễn Khắc Thuần : TRÔNG LẠI NGÀN XƯA (tập 2) Nxb Giáo dục 1998

IV THẦN TÍCH, TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN VÀ CÁC HỔ SƠ KHẢO SÁT THỰC ĐỊA (vì số lượng nhiều nên xin phép miễn phần liệt kê danh mục cụ thể)

Ngày đăng: 17/05/2021, 16:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
02. Âu Dương Tu - Tống Kỳ : TÂN ĐƯỜNG THƯ. Súc Ấn Bách Nạp Bản. Thương Vụ Ấn Thư Quán Sách, tạp chí
Tiêu đề: TÂN ĐƯỜNG THƯ
Tác giả: Âu Dương Tu, Tống Kỳ
Nhà XB: Súc Ấn Bách Nạp Bản
03. Ban CỐ : TIỀN HÁN THƯ. Súc Ấn Bách Nạp Bản. Thương Vụ Ấn Thư Quán Sách, tạp chí
Tiêu đề: TIỀN HÁN THƯ
Tác giả: Ban CỐ
Nhà XB: Súc Ấn Bách Nạp Bản
04. Cát Hồng : BÃO PHÁC TỬ NỘI NGOẠI THIÊN. Súc Ấn Bách Nạp Bản. Thương Vụ Ấn Thư Quán Sách, tạp chí
Tiêu đề: BÃO PHÁC TỬ NỘI NGOẠI THIÊN
Tác giả: Cát Hồng
Nhà XB: Súc Ấn Bách Nạp Bản
05. Cốc Ứng Thái : MINH SỬ KỈ SỰ BẢN MẠT. Súc Ấn Bách Nạp Bản. Thương Vụ Ấn Thư Quán Sách, tạp chí
Tiêu đề: MINH SỬ KỈ SỰ BẢN MẠT
Tác giả: Cốc Ứng Thái
Nhà XB: Súc Ấn Bách Nạp Bản
06. Hoài Nam Vương Lưu An : HOÀI NAM TỬ. Súc Ấn Bách Nạp Bản. Thương Vụ Ấn Thư Quán Sách, tạp chí
Tiêu đề: HOÀI NAM TỬ
Tác giả: Hoài Nam Vương Lưu An
Nhà XB: Súc Ấn Bách Nạp Bản
07. Lịch Đạo Nguyên : THUỶ KINH CHÚ. Súc Ấn Bách Nạp Bản. Thương Vụ Ấn Thư Quán Sách, tạp chí
Tiêu đề: THUỶ KINH CHÚ
Tác giả: Lịch Đạo Nguyên
Nhà XB: Súc Ấn Bách Nạp Bản
08. Ngụy Trưng : TUỲ THƯ. Súc Ấn Bách Nạp Bản. Thương Vụ Ấn Thư Quán 09. Phạm Việp : HẬU HÁN THƯ. Súc Ấn Bách Nạp Bản. Thương Vụ Ấn Thư Quán Sách, tạp chí
Tiêu đề: Súc Ấn Bách Nạp Bản
Tác giả: Ngụy Trưng, Phạm Việp
Nhà XB: Thương Vụ Ấn Thư Quán
10. Phòng Kiều : TẤN THƯ. Súc Ấn Bách Nạp Bản. Thương Vụ Ấn Thư Quán 11. Trần Thọ : TAM QUỐC CHÍ. Súc Ấn Bách Nạp Bản. Thương Vụ Ấn Thư Quán Sách, tạp chí
Tiêu đề: TAM QUỐC CHÍ
Tác giả: Trần Thọ
Nhà XB: Thương Vụ Ấn Thư Quán
12. Tư Mã Thiên : SỬ KÍ TƯ MÃ THIÊN. Súc Ấn Bách Nạp Bản. Thương Vụ Ấn Thư Quán Sách, tạp chí
Tiêu đề: SỬ KÍ TƯ MÃ THIÊN
Tác giả: Tư Mã Thiên
Nhà XB: Súc Ấn Bách Nạp Bản
01. Âu Dương Tu - Tống Kỳ : TẤN THƯ. Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán Khác
13. Nhạc sử : THÁI BÌNH HOÀN VŨ KÍ. Kim Lăng ấn bản Khác
14. Thung Đình Ngọc : MINH SỬ. Súc Ấn Bách Nạp Bản. Thương Vụ Ấn Thư Quán II. TÀI LIỆU CHỮ HÁN CỦA VIỆT NAM Khác
w