Năm 767 nhờ có công đi c ứu Kinh Lược Sứ (tương đương với chức đứng đầu An Nam Đô Hộ Phủ) là Trương Bá Nghi nên Cao Chính B ình m ới được trao chức n ày.. Phần lớn đất đai của huyện T[r]
(1)Tên sách : DANH TƯỚNG VIỆT NAM (TẬP 4)
DANH TƯỚNG TRONG SỰ NGHIỆP ĐẤU TRANH CHỐNG ÁCH ĐÔ HỘ CỦA PHONG KIẾN
TRUNG QUỐC
Tác giả : Nguyễn Khắc Thuần
Nhà xuất Giáo dục 06/2005
Khổ 13 x 19 Số trang : 276
Số hóa : hoi_ls
TRÊN HIỂU THIÊN VĂN, DƯỚI THÔNG ĐỊA LÝ, GIỮA RÕ NHÂN SỰ, COI NGƯỜI BỐN
PHƯƠNG NHƯ ANH EM MỘT NHÀ ĐÓ LÀ TƯỚNG CỦA TẤT CẢ THIÊN HẠ, KHƠNG AI
CĨ THỂ ĐỊCH NỔI.
(2)LỜI NÓI ĐẦU
Bạn đọc yêu quí !
Đây tập thứ tư sách năm tập mang lên gọi chung DANH TƯỚNG VIỆT NAM Tương tự tập trước, tập thứ tư có tên gọi riêng, Danh tướng
nghiệp đấu tranh chống ách đô hộ phong kiến Trung Quốc Hẳn hầu hết bạn đọc rõ rằng lịch sử Việt Nam có hai thời kì bị triều đại phong kiến Trung Quốc đô hộ (1)
- Thời kì thứ năm 179 trước Công nguyên (TCN, năm An Dương Vương bị Triệu Đà đánh bại) năm 905 (năm Khúc Thừa Dụ thành lập quyền độc lập tự chủ),
tổng cộng 1000 năm Sử thường gọi thời Bắc thuộc Tất nhiên ai đồng ý, tính phổ biến thơng dụng khái niệm thời Bắc thuộc
thực tế phủ nhận được.
- Thời kì thứ hai năm 1407 (năm nhà Hồ đại bại trước xâm lược nhà Minh) chấm dứt vào năm 1427 (năm chiến tranh giải phóng vĩ đại Lê Lợi khởi xướng lãnh
đạo kết thúc toàn thắng), tổng cộng 20 năm Sử thường gọi thời thuộc Minh.
Tập thứ tư xin trân trọng giới thiệu bạn đọc gần xa đời, nghiệp
cống hiến lớn lao bậc danh tướng hai thời kì bị hộ nói Nếu đơn giản
xếp theo diễn tiến thời gian Lam Sơn thuộc phạm vi thời kì thứ hai, xét quy mô, đặc trưng tầm vóc Lam Sơn lại có vị trí hồn tồn khác hẳn, vậy, chúng tơi đã dành trọn tập hai để giới thiệu Danh tướng Lam Sơn không xếp chung với danh tướng
của thời thuộc Minh.
Đặc điểm chung nghiệp bậc danh tướng giới thiệu tập thứ tư
không số họ có may mắn chứng kiến thắng lợi trọn vẹn bền lâu
Trước sau, sớm muộn có khác tất anh dũng ngã xuống chiến đấu ngoan cường với quân cướp nước Mỗi đời thông điệp trang nghiêm khí
phách hiên ngang, ý chí quật cường tâm giành lại cho độc lập chủ
quyền đất nước Họ tinh hoa lịch sử tinh hoa sau Chủ
tịch Hồ Chí Minh đúc kết thành lời tun bơ thật đanh thép : "Không! Chúng ta hi sinh tất cả,
chứ định không chịu nước, định khơng chịu làm nơ lệ"(2) Họ tảng lịch sử giàu sức thuyết phục chân lí "khơng có q độc lập tự do"(3) So với danh tướng giới thiệu ba tập đầu, danh tướng tập thứ tư đều chịu chung thiệt thịi lớn, hệ thống tư liệu cịn ỏi Phải đến gần bốn
thế kỉ sau thời Bắc thuộc kết thúc, sử học nước nhà thức đời Các sử gia
lỗi lạc hệ tiên khởi dù cầm bút với trọn vẹn tâm chí khơng viết
nhiều đầy đủ Dưới thời thuộc Minh, hàng loạt di sản văn hoá vơ giá tổ tiên
ta (trong có nhiều sách vở) bị kẻ thù huỷ hoại tịch thu, hậu khổ công sưu tầm
suốt bao kỉ mà tìm lại phần nhỏ Thực tình mà nói, kho thư tịch
cổ Trung Quốc khơng phải nhỏ có khơng nội dung liên quan tới nước ta Nhưng xét chất chung tất thư tịch cổ phản ánh ý chí xâm lăng đô hộ Trung Quốc nước ta Chân dung đấng hào kiệt dám cảm vùng lên "khuấy nước chọc trời" dám làm cho "kinh thiên động địa" bị sử gia Trung Quốc
tìm cách bóp méo sức xuyên tạc Trong điều kiện đặc biệt khó khăn vậy, việc tìm kiếm tư liệu khó, việc đối sánh, xác minh chỉnh lí tài liệu lại cịn khó hơn.
Để dựng lại (dù gian lược) lí lịch đời bậc danh tướng nghiệp đấu tranh
chống ách hộ phong kiến Trung Quốc ngồi sử dã sử, chúng tơi cố gắng
khai thác thêm hai nguồn tư liệu quan trọng khác, thần tích văn học dân gian Thần tích
(3)được quan trọng hiểu được, qủa thật không dễ dàng chút Tương tự như vậy, văn học dân gian có ngơn ngữ diễn đạt riêng văn học dân gian, phải cẩn trọng
tìm tịi suy gẫm may phát cốt lõi thật lịch sử ẩn chứa kín đáo Tóm lại, khối lượng cơng việc vừa lớn lại vừa đầy khó khăn, cho nên, sức lực
trí lực cá nhân nhà giáo hưu lâu thật khó đủ để hoàn tất ý nguyện Xuất phát từ thực tế đó, tác giả xin bạn đọc gần xa ân cần cho chỗ bất
cập sách.
Khi tập thứ tư bắt đầu khởi thảo tập thứ tập thứ hai DANH TƯỚNG
VIỆT NAM tái đến lần thứ tám, tập thứ ba vừa tái tới lần thứ sáu Đó thực hạnh phúc nghề nghiệp lớn lao mà tác gia may mắn có Tự đáy
lịng mình, tác giả xin chân tình bày tỏ lịng biết ơn bạn đọc gần xa (những người hào hiệp động viên cổ vũ cho tác gia nhiều hình thức khác nhau), chân thành cảm ơn
Nhà xuất Giáo dục ưu dành cho tác giả ân cần chăm sóc tình cảm thật
nồng hậu.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 11 năm 2004
NGUYỄN KHẮC THUẦN
-
(1) Thực ra, suy cho cịn có lúc quyền tự chủ nước ta bị sụp đổ xâm lăng Trung Quốc (ví dụ
quyền Khúc Thừa Mỹ bị quân Nam Hán đánh đổ vào năm 930), thời gian bị độc lập ta không đáng kể dấu ấn đô hộ Trung
Quốc mờ nhạt, sử thường nói Việt Nam có hai thời kì bị phong kiến Trung Quốc hộ.
(2) Hồ Chí Minh : Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ( in tác phẩmVÌ ĐỘC LẬP TỰ DO, VÌ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, Nxb Sự thật, Hà Nội 1975 Trang 61).
(3) Hồ Chí Minh : Lời kêu gọi đồng bào chiến sĩ nước (in tác phẩmVÌ ĐỘC LẬP TỰ DO, VÌ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, Nxb Sự
(4)Chương thứ nhất
DANH TƯỚNG TRONG CUỘC CHIẾN ĐẤU BỀN BỈ VÀ NGOAN CƯỜNG,
CHỐNG CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN TRUNG QUỐC ĐÔ HỘ
(từ năm 179 TCN đến năm 905)
I BỐI CẢNH LỊCH SỬ MỚI
Thế thượng thiên tân hòa nạn khổ
Mạc thất khước tự quyền
Hồ Chí Minh(1)
1 ÂU LẠC BỊ TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC VÀ ĐÔ HỘ :
Vào cuối thời Tây Chu(2), một nhân vật tên Trọng(3)đã lập nước Tần Sự kiện này xảy vào
năm 841 TCN Sau sáu kỉ tồn truyền nối 34 đời, từ nước chư hầu bình
thường nằm phía tây nhà Tây Chu (sau nhà Đơng Chu)(4), nước Tần đã trở thành một
trong số bảy nước chư hầu mạnh nhất, sử thường gọi Chiến Quốc thất hùng (5) Cuối cùng,
chính nước Tần tiêu diệt chư hầu, thống Trung Quốc lập
đế chế hùng mạnh, nhà Tần Người đặt nến móng cho đời nhà Tần
Tần Trang Tương Vương (tức Tử Sở)(6), nhưng, người thức khai sinh đế chế Tần lại
Tần Thuỷ Hoàng (7)
-
(1) Đây hai câu đầu II : Cảnh binh đảm chư đồng hành(Lính gác khiêng heo đi) rút từ tậpNHẬT KÍ TRONG TÙ Hai câu
có nghĩa : cõi đời có đến ngàn điều đắng cay vạn điều đau khổ, chẳng có đắng cay đau khổ quyền tự do.
(2) Nhà Tây Chu thành lập năm 1027 TCN bị diệt vong vào năm 771 TCN.
(3) Lúc này, người Trung Quốc có tên chưa có họ Tần Trọng (như ghi chép thư tịch Trung Quốc) họ tên mà chỉ có nghĩa ơng Trọng đất Tần
(4) Lịch sử nhà Chu gồm hai giai đoạn khác Giai đoạn thứ Tây Chu (từ năm 1027 TCN đến năm 771 TCN) giai đoạn thứ hai
là Đông Chu (từ năm 770 TCN đến năm 256 TCN).
(5) Nhà Đông Chu sử cũ chia làm hai chặng khác Chặng thứ (từ năm 770 TCN đến năm 476 TCN) gọi thời Xuân Thu, chặng
thứ hai (từ năm 475 TCN dấn năm 256 TCN) gọi thời Chiến Quốc Thời Chiến Quốc thời tranh hùng tranh bá bảy nước mạnh, Tần,
Sở, Ngụy, Tề, Triệu, Yên Hàn
(6) Tần Trang Tương Vương vua đời thứ 33 nước Tần, làm vua từ năm 249 TCN đến năm 247 TCN.
(7) Thư tịch cổ Trung Quốc thường gọi Tần Thuỷ Hoàng (vị Hoàng Đế nhà Tần) Triệu Dinh Chính thực Dinh Chính cũng chưa có họ Thân sinh Dinh Chính Tử Sở phải làm tin nước Triệu sinh Dinh Chính nước Triệu, nhân cho Dinh
Chính lấy họ Triệu.
Năm 221 TCN, tức sau vừa lập đế chế Tần xưng Tần Thuỷ Hồng, Tần
Thuỷ Hồng huy động đơng đảo tướng lĩnh với hàng chục vạn quân, ạt đánh xuống
vùng Lĩnh Nam, mở dầu cho Nam chinh tàn bạo chưa thấy(1) Nền độc lập non trẻ
của nhà nước Văn Lang bé nhỏ bị uy hiếp cách nghiêm trọng.Trước diễn biến nguy
hiểm tình vậy, đơng đảo binh sĩ Văn Lang tình nguyện tiến lên phía Bắc, sát cánh
với nhân dân vùng Lĩnh Nam chiến đấu chống kẻ thù chung Cuộc hợp lực để chống trả liệt
ngoan cường đầy hiệu khiến cho 50 vạn quân Tần bị sa lầy, nhận xét
nhà sử học Tư Mã Thiên : “Lúc bấy giờ, nhà Tần phía Bắc mắc hoạ với người Hồ, phía Nam
thì mắc hoạ với người Việt, đóng binh đất vơ dụng, tiến khơng được, thối khơng xong,
(5)Tần Thuỷ Hồng liền sai Nhâm Ngao Triệu Đà đem thêm mười vạn quân xuống Lĩnh Nam
Chính hai viên tướng kẻ vạch mưu kế đánh xuống Văn Lang hòng chặn đứng
chi viện Văn Lang vùng Lĩnh Nam Năm 214 TCN, từ Tượng Quận, quân Tần mở
những công dội vào lãnh thổ Văn Lang Lúc giờ, Hùng Vương tỏ bất
lực trước thử thách cam go này, nhân dân ta phải tự tổ chức lấy chiến đấu
mình Hồi Nam Vương Lưu An cho biết :“Người Việt vào rừng, với cầm thú, không
chịu quân Tần bắt” "họ cử người tuấn kiệt lên làm tướng, đánh phá quân Tần” Kết họ : "Đại phá quân Tần, giết chết Đồ Thư”(3) Năm 210 TCN,
Tần Thuỷ Hoàng qua đời, nhà Tần buộc phải huỷ bỏ Nam chinh Trong truyền thuyết dân
gian ta có chuyện Lý Thân tức Lý Ơng Trọng Có lẽ Lý Thân số
những "người tuấn kiệt” chiến đấu gian nguy (4) Thành quả lớn kháng
chiến chống Tần thay Văn Lang quốc gia Âu Lạc mạnh mẽ (năm 208
TCN) chuyển giao quyền lực tự nhiên từ Hùng Vương sang An Dương Vương
-
(1) Về Nam chinh này, thư tịch cổ Trung Quốc HOÀI NAM TỬ (của Hồi Nam Vương Lưu An), SỬ KÍ (của Tư Mã Thiên), TIỀN HÁN THƯ (của Ban Cố) có chép đến.
(2) Tư Mã Thiên : SỬ KÍ TƯ MÃ THIÊN, Quyển 112. (3) Hồi Nam Vương Lưu An : HỒI NAM TỬ.
(4) Chuyện Lý Ông Trọng Vũ Quỳnh chép LĨNH NAM CHÍCH QI Ngồi thần tích Đức Thánh Chèm Từ Liêm huyện Lý Thiên
Vương tích chép chuyện rõ
Tư Mã Thiên cho hay : “kịp Tần Thủy Hồng chết thiên hạ lên chống"(1) và, số người "thiên hạ lên chống” ấy, vùng trung nguyên nhà Tần
mạnh lực Lưu Bang(2), ở khu vực phía Nam của nhà Tần thì hùng hậu
vẫn lực Triệu Đà (3) Cùng năm 206 TCN, Lưu Bang lập nhà Hán cịn Triệu
Đà lập nước Nam Việt Nhìn từ góc độ thực lực Lưu Bang mạnh
Triệu Đà Trong mối tương quan lực khơng có lợi vậy, đường
Triệu Đà phải tìm cách mở rộng lãnh thổ để bước xoá dần khoảng cách lực với Lưu
Bang Nước Âu Lạc láng giềng trở thành mục tiêu bành trướng Triệu Đà Năm 183 TCN, tức
ngay vừa xưng Đế, Triệu Đà cho quân tràn xuống Âu Lạc, nhưng, tất công
của Triệu Đà trước sau bị chặn đứng Quân dân Âu Lạc kiên cường, thành Cổ Loa vững
chắc, kế sách chống đỡ An Dương Vương có hiệu quả, cho nên, quân Nam Việt xâm
lăng buộc phải rút lui Thấy đè bẹp Âu Lạc vũ lực Triệu Đà tìm biện pháp
để đặt cho trai Trọng Thuỷ kết hôn với gái An Dương Vương Mị Châu Sau
đó, Triệu Đà lại khôn khéo thuyết phục Trọng Thuỷ đến rể kinh thành
Cổ Loa Cuộc hôn nhân khiến cho An Dương Vương Mị Châu mơ hồ, cảnh giác
Năm 179 TCN, Triệu Đà bất ngờ cho quân ạt công vào Âu Lạc An Dương Vương bị đại
bại hộ quyền phong kiến Trung Quốc nước ta bắt đầu thiết lập
kể từ Trả giá cho mơ hồ cảnh giác An Dương Vương trình liên tục
chiến đấu hi sinh tài sản xương máu hệ, kéo dài đằng
đẵng đến ngàn năm (từ năm 179 TCN đến năm 905) Chuyện nỏ thần mãi lưu
truyền học lớn lịch sử :
Tôi kể ngày xưa, chuyện Mị Châu,
Trái tim lẫm chỗ để đầu.
Nỏ thần vô ý trao tay giặc,
Nên nỗi đồ đắm biển sâu.
(Tố Hữu)
- (1) Mã Thiên : SỬ KÍ TƯ MÃ THIÊN, Quyển 112
(2) Lưu Bang tức Hán Cao Tổ lập nhà Tiền Hán năm 206 TCN, Vương năm (206 TCN - 202 TCN), ngơi Hồng Đế năm (202 TCN - 195 TCN) năm 195 TCN, hưởng thọ 61 tuổi (256 TCN - 195 TCN)
(6)Từ năm 179 TCN đến năm 905, Âu Lạc liên tiếp bị triều đại Phong kiến Trung Quốc đô hộ (1)
Đành triều đại có bước thăng trầm khơng phải lúc chúng kiểm
soát Âu Lạc cách chặt chẽ, đại thể, liệt kê danh
sách triều đại cụ thể sau :
1 Nam Việt : Triệu Đà lập vào năm 206 TCN, truyền tất 95 năm (từ năm 206 TCN
đến năm 111 TCN) với đời nối trị Năm 179 TCN, Nam Việt đánh tan quyền
An Dương Vương thống trị Âu Lạc liên tục 68 năm (từ năm 179 TCN đến năm 111 TCN)
2 Tiền Hán (cũng tức Tây Hán) : Lưu Bang (tức Hán Cao Tổ) lập vào năm 206 TCN,
truyền 214 năm (từ 206 TCN đến năm 08) với 13 đời nối trị Năm 111 TCN, nhà Tiền
Hán lật nhào đồ Nam Việt thay Nam Việt thống trị Âu Lạc liên tục 119
năm (từ năm 111 TCN đến năm 08)
3 Nhà Tân : Vương Mãng lập năm 08, truyền 17 năm với hai đời nối trị Nhà
Tân thay nhà Tiền Hán thống trị Âu Lạc 17 năm (từ năm 08 đến năm 25)
4 Hậu Hán (cũng tức Đông Hán) : Lưu Tú (tức Hán Quang Vũ) lập năm 25 (sau tiêu
diệt nhà Tân), truyền 195 năm với 13 đời nối trị Nhà Hậu Hán thay nhà Tân
thống trị Âu Lạc 195 năm (từ năm 25 đến năm 220)
5 Nhà Ngô : Tôn Quyền (Ngô Đại Đế) lập năm 222, truyền 58 năm với đời nối
trị Ngơ ba nước thời hỗn chiến Ngơ-Thục-Ngụy (sử thường gọi thời Tam
Quốc) Trên danh nghĩa nhà Ngơ thay Hậu Hán (tức Đông Hán) thống trị Âu Lạc liên tục
trong 58 năm (từ năm 222 đến năm 280)
6 Nhà Tấn : Tư Mã Viêm (Tấn Vũ Đế) lập năm 265 phải đến năm 280 thực
nắm quyền chi phối phần lớn lãnh thổ Trung Quốc Tuy không liên tục nhà Tấn
truyền 155 năm với 15 đời nối trị Trên danh nghĩa nhà Tấn thay nhà Ngơ
thống trị Âu Lạc liên tục 140 năm (từ 280 đến 420) Lịch sử nhà Tấn có hai thời kì
khác nhau, Tây Tấn (265-316) Đông Tấn (317-420)
7 Nam triều : triều vùng phía Nam Trung Quốc hỗn chiến Nam-Bắc triều (420 -581) Nam triều gồm có tất triều : Tống (420-479), Tề (479-502), Lương (502-557) Trần
(557-589) (2) Trên danh nghĩa thì Nam triều đã thay nhà Tấn thống trị Âu Lạc liên tục 122
năm (từ năm 420 đến năm 542)
8 Nhà Tuỳ : Dương Kiên (Tuỳ Văn Đế) lập năm 581, truyền 37 năm (581-618) với ba
đời nối trị Nhà Tuỳ đánh bại Lý Phật Tử, chiếm nước Vạn Xn thiết lập
quyền hộ 16 năm (từ năm 602 đến năm 618)
9 Nhà Đường : Lý Uyên (Đường Cao Tổ) lập năm 618, truyền 289 năm (618-907) với
tất 21 đời nối trị Trên danh nghĩa, nhà Đường thay nhà Tuỳ thống trị nước ta
287 năm (từ năm 618 đến năm 905)(3)
Như từ năm 179 TCN đến năm 905, Âu Lạc bị triều đại phong kiến Trung Quốc đô
hộ Trong khoảng thời gian dài đằng đẵng ngàn năm đó, có khơng lần nhân
dân Âu Lạc cảm vùng lên đấu tranh có khơng lần giành độc lập,
nhưng nhìn chung tất thời gian ngắn ngủi Gần đây, sở phân
tích "lực li tâm trị” guồng máy quyền hộ Âu Lạc với quyền
triều đình phong kiến trung ương Trung Quốc, số nhà sử học (cả
nước) nêu kết luận mẻ đáng lưu ý, lịch sử Việt Nam khơng
có ngàn năm bị Bắc thuộc, mà thời gian thực Bắc thuộc theo nghĩa từ
(7)sử thực tế khiến cho nhiều guồng máy quyền hộ thiết lập
đất nước ta khơng cịn phản ánh ngun vẹn ý chí triều đình phong kiến trung ương bên
Trung Quốc nữa, nhưng, khơng phải quyền phản ánh ý chí tâm
nguyện xã hội Âu Lạc Cho nên, vấn đề khung niên đại cụ thể thời Bắc thuộc cần
được xác định lại cho thật đúng, nói gần toàn thời gian kéo dài
ngàn năm (từ năm 179 TCN đến năm 905) thời Âu Lạc độc lập chủ quyền lại hồn
tồn xác Nói khác hơn, cho có khơng lúc quyền hộ đất Âu Lạc không
thật Trung Quốc mà vội vã kết luận quyền
người Âu Lạc Ở đâu của ai hai khái niệm hoàn toàn khác
-
(1) Niên đại tồn triều đại ghi niên đại danh nghĩa, niên đại thực tế có khác chút Về thứ cụ thể
triều đại, xin vui lòng tham khảo thêm Nguyễn Khắc Thuần : CÁC ĐỜI ĐẾ VƯƠNG TRUNG QUỐC, Nxb Giáo dục, 2002 Sách tái
lần thứ nhất.
(2) Nhà Trần tồn lay lắt thêm năm cục diện Nam-Bắc triều kể hồn tồn kết thúc kể từ năm 581 - năm
nhà Tuỳ dựng lên
(3) Đến năm 907 nhà Đường hồn tồn sụp đổ, hộ nhà Đường đất nước ta bị xố bỏ từ năm 905.
2 CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ CỦA PHONG KIẾN TRUNG QUỐC
a) Về trị :
Chính sách chủ yếu nhất, bao trùm xuyên suốt phong kiến Trung Quốc tìm đủ
mọi cách để nhằm xố bỏ đến tận gốc dấu ấn độc lập chủ quyền in đậm
tâm khảm hệ nhân dân ta Đất đai Âu Lạc bị coi phận lãnh thổ
Trung Quốc cắt đặt thành đơn vị hành chánh :
- Thời thuộc Tiền Hán (206 TCN-08) : Đất đại Nam Việt Âu Lạc nhà Tiền Hán gộp
lại gọi chung Giao Châu Giao Châu quản lãnh quận, đất Âu Lạc chia làm
quận Giao Chỉ, Cửu Chân Nhật Nam Tuy có ba quận Âu Lạc lại có vị trí quan
trọng tồn cõi Giao Châu Bấy giờ, chức quan đứng đầu Giao Châu Thứ Sử chức
quan đứng đầu quận Thái Thú Xét cấp bậc chức Thái Thú nhỏ chức Thứ Sử,
nhưng, Thái thú kẻ trực tiếp nắm quyền sinh sát dân
+ Đất đai quận giao Chỉ thời Tiền Hán tương ứng với vùng từ tỉnh Ninh Bình trở
Bấy giờ, quận Giao Chỉ có tất 10 huyện với 746.237 suất đinh(1)
+ Đất đai quận Cửu Chân thời Tiền Hán tương ứng với tỉnh Thanh Hố khu vực
phía Bắc tỉnh Nghệ An Quận Cửu Chân có tất huyện với 166.113 suất đinh(2)
+ Đất đai quận Nhật Nam tương ứng với vùng từ Nghệ An trở vào Nam (3) Quận
quản lãnh huyện với 69.485 suất đinh(4)
- Thời thuộc Tấn (280 - 420) : Địa giới tồn cõi Giao Châu bị thu nhỏ lại, có phần
của Nam Việt cũ cộng với Âu Lạc gọi Giao Châu Phần chia lại thành quận(5),
là :
+ Hợp Phố : (quản lãnh 06 huyện)
+ Giao Chỉ : (quản lãnh 14 huyện)
+ Tân Xương : (quản lãnh 06 huyện)
(8)+ Cửu Chân : (quản lãnh 07 huyện)
+ Cửu Đức : (quản lãnh 08 huyệt)
+ Nhật Nam : (quản lãnh 05 huyện)
- Thời thuộc Nam triều (420 - 542) : Lưu Dục (Tống Vũ Đế : 420-422) cắt đặt đơn
vị hành chánh, theo đất đai Âu Lạc cũ từ chỗ có ba quận chia lại thành tám
quận Tám quận : Giao Chỉ, Long Biên, Vũ Bình, Cửu Chân, Cửu Đức, Nhật Nam, Nghĩa
Xương quận thư tịch cổ Trung Quốc chép khuyết danh nên chưa rõ quận
nào
-
(1) Ban Cố (Trung Quốc) :TIỀN HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.
(2) Ban Cố (Trung Quốc) : Sách dẫn.
(3) Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, vùng cực Nam quận Nhật Nam vào khoảng đèo Hải Vân, có lan sang chút Quảng Nam Cũng có người nói cực Nam quận Nhật Nam kéo đến đến Phú Yên ngày nay, nhiên, sức thuyết phục ý kiến không cao
(4) Ban Cố (Trung Quốc) : sách dẫn.
(5) Phòng Kiều (Trung Quốc) :TẤN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.
- Thời thuộc Tuỳ (602 - 618) : Toàn bộ đất đai Âu Lạc cũ nhà Tuỳ chia thành bảy
quận địa giới tên gọi quận có khác so với triều đại trước
Theo ghi chép thư tịch cổ Trung Quốc tên gọi số hộ dân cụ thể quận
sau (1) :
+ Giao Chỉ : (quản lãnh huyện với 30.056 hộ)
+ Cửu Chân : (quản lãnh huyện với 16.135 hộ)
+ Nhật Nam : (quản lãnh huyện với 9.915 hộ)
+ Tị Ảnh : (quản lãnh huyện với 1.815 hộ)
+ Hải Âm : (quản lãnh huyện với 1.100 hộ)
+ Lâm Ấp : (quản lãnh huyện với 1.220 hộ)
+ Ninh Việt : Chưa rõ số huyện số hộ
- Thời thuộc Đường : Vào năm 622, triều đình Lý Uyên (Đường Cao Tổ : 618-626) bãi bỏ
toàn hệ thống quận huyện cũ lập Giao Châu Đơ hộ Phủ Năm 679, triều đình Lý Trị (tức
Đường Cao Tông : 649-683) đổi Giao Châu Đô Hộ Phủ thành An Nam Đô Hộ Phủ Bấy giờ, An
Nam Đô Hộ Phủ lãnh 12 châu vùng đồng 41 châu vùng rừng núi trung du (gọi
châu Ki Mi - châu ràng buộc lỏng lẻo) Danh sách 12 châu vùng đồng cụ thể sau(2) : + Giao Châu + Phong Châu
+ Trường Châu + Ái Châu
+ Diễn Châu + Phúc Lộc Châu
+ Hoan Châu + Lục Châu
+ Vũ An Châu + Vũ Nga Châu
+ Thang Châu + Chi Châu
Trong 12 châu đồng nói trên, có bốn châu thuộc lãnh thổ Trung Quốc, : Vũ An
Châu, Vũ Nga Châu, Thang Châu Chi Châu Về châu Ki Mi, tiếc thống kê
được danh sách dựa theo ghi chép thư tịch cổ chưa xác định vị trí cụ thể so với
(9)+ Bàng Châu + Long Vũ Châu
+ Tư Nông Châu + Tân An Châu
+ Lâm Tây Châu + Vũ Định Châu
+ Long Châu + Tư Lăng Châu
+ Môn Châu + Phàn Đức Châu
+ An Đức Châu + Nam Đăng Châu
+ Quy Hoá Châu + Tây Nguyên Châu
+ Vũ Vân Châu + Tư Quách Châu
+ Đô Kim Châu + Thử Châu
+ Lộc Châu + Dư Châu
+ Kim Long Châu + Đức Hoá Châu
+ Kim Quách Châu + Quận Châu
+ Cam Đường Châu + Quy Châu
+ Lạng Châu + Bình Nguyên Châu
+ Nam Bình Châu + La Phục Châu
+ Kha phú Châu + Lang Mang Châu
+ Đề Thượng + Vạn Kim Châu
+ Vi Châu + Kim Bưu Châu
+ Vũ Lục Châu + Tín Châu
+ Tây Bình Châu + Thiêm Lăng Châu + Thượng Tư Châu
Từ sau năm 619, nhà Đường tiến hành chia đặt lại đơn vị hành chánh nhiều lần nữa,
nhưng, thay đổi không lớn nên không cần thiết phải liệt kê Như với việc xoá hẳn
quốc hiệu liên tiếp cho chia đặt lại đơn vị hành chánh, triều đại phong kiến Trung Quốc
đã bộc lộ rõ ý định thủ tiêu hoàn toàn độc lập nhân dân ta, biến nước ta
thành địa phương Trung Quốc Có thấy hết chất xấu xa mưu đồ trị thấy hết tài phi phàm bậc danh tướng thời Bắc thuộc -
người ưu tú biết khơi dậy ý thức cội nguồn xã hội ngỡ vĩnh viễn bị chôn
vùi
Để tăng cường sức mạnh trị cho quyến đô hộ, luật pháp Trung Quốc nghiễm
nhiên áp dụng Âu Lạc Thứ luật pháp áp đặt hồn tồn xa lạ ln ln giai cấp
thống trị coi vũ khí lợi hại chúng toàn thể xã hội ta lúc
-
(1) Ngụy Trưng (Trung Quốc) :TUỲ THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư quán.
(2) Âu Dương Tu - Tống Kỳ (Trung Quốc) :TÂN ĐƯỜNG THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.
(3) Âu Dương Tu - Tống Kỳ (Trung Quốc) :TÂN ĐƯỜNG THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.
b) Về quân sự
Chính sách quan trọng xuyên suốt triều đại phong kiến Trung Quốc đô hộ
sẵn sàng đàn áp phong trào đấu tranh nhân dân ta cách đẫm máu Để thực
chính sách này, hai biện pháp lớn quyền đô hộ gấp rút tiến hành Một xây
dựng hệ thống thành luỹ thật dày đặc Vì lẽ mà vào năm 40, Hai Bà Trưng đánh tan
quân đô hộ nhà Đông Hán chiếm 65 thành trì Hai trì đội quân thường
trực thật hùng hậu Đầu thời Đơng Hán, dù tồn cõi Âu Lạc cũ có khoảng triệu suất
đinh(1)nhưng tổng số qn đội thường trực quyền hộ đã lên tới tổng số 12.000 tên
Các triều đại phong kiến Trung Quốc sau nhà Đông Hán tâm trì lực lượng
quân đội thường trực hùng hậu tương tự Cũng cần nói thêm rằng, quân đội thường trực
đã đông mà cần tiến hành đàn áp khởi nghĩa nào, quyền hộ
ở Âu Lạc lại cịn nhanh chóng nhận thêm đơng đảo viện binh triều đình trung ương điều
(10)- Năm 43, triều đình Hán Quang Vũ (25-57) sai Mã Viện đem 20.000 quân đàn áp nghĩa binh
của Hai Bà Trưng (2)
- Năm 248, triều đình Ngô Đại Đế (229-252) sai Lục Dận đem 8.000 quân đàn áp nghĩa binh
của Bà Triệu(3)
- Nhà Lương (502-557) đàn áp khởi nghĩa Lý Bí nhà Đường (618-907) đàn áp
các khởi nghĩa Lý Tự Tiên Đinh Kiến, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng hay Dương
Thanh điều động lực lượng cứu viện có quân số áp đảo
Nhìn chung, quyền hộ quyền qn Rất nhiều quan hộ
những tướng lĩnh trực tiếp cầm quân giàu kinh nghiệm trận mạc Sức mạnh
quyền đô hộ xây dựng chủ yếu dựa vào sức mạnh vũ khí lực lượng vũ
trang Các biện pháp thống trị mang nặng kiểu cách quân
-
(1) Vào cuối thời Tây Hán, tổng hợp số theo chép củaBan Cố (Trung Quốc) trongTIỀN HÁN THƯ(Sách dẫn) ba quận
Giao Chỉ, Cửu Chân Nhật Nam có tất 918.835 suất đinh Từ cuối Tây Hán đến đầu Đông Hán khoảng thời gian ngắn, cho nên, chúng
tơi ước đốn tồn cõi Âu Lạc lúc có khoảng triệu suất đinh.
(2) Lịch Đạo Nguyên (Trung Quốc) :THỦY KINH CHÚ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán Ngoài số qn đơng đảo này, Mã Viện
cịn mang theo đến 2.000 xe, thuyền có loại lớn nhỏ nữa.
(3) Trần Thọ (Trung Quốc) :TAM QUỐC CHÍ (Ngơ Chí) Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.
c) Về kinh tế
Chính sách chung tất triều đại phong kiến Trung Quốc đô hộ sức vơ vét tài
nguyên cải đất nước ta Phương thức thực phổ biến lâu dài chúng
chính thu cống phẩm Từ quý nhất, nhất, tốt đẹp
gì bình thường thiết thực bị coi sản phẩm buộc phải cống nạp Ở
vùng rừng núi trung du, gỗ q, khống sản, hương liệu, chim lạ thú Ở vùng đồng
bằng, đặc sản nơng nghiệp thủ cơng nghiệp Ở vùng ven biển hải đảo,
các loại hải sản quý, san hô, ngọc trai Ngồi ra, thân người (nhất thợ thủ công
lành nghề, tráng đinh khoẻ mạnh phụ nữ) nằm danh sách loại cống phẩm
thiết phải có Để có phục vụ cho việc thu cống phẩm, quyền đô hộ tiến hành kê
biên hộ thống kê dân đinh Ngay thời Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà), tổng số dân đinh
của riêng hai quận Giao Chỉ Cửu Chân ghi rõ 400.000 người Từ thời Hán trở đi, tất
cả đặc sản ln ý vơ vét nhiều Xin nêu vài ví dụ cụ thể :
- Nhà Hán đặt hai chức quan mới, Tu Quan (chuyên thu hoa thứ thực phẩm
ngon) Quất Quan (chuyên thu quýt quýt)
- Hán Vũ Đế (141-87 TCN) cho quan lại sang Giao Chỉ để thu giống quý đem Trung
Quốc trồng Chính Hán Vũ Đế Cho xây Phù Lệ Cung(cung điện có vườn dành riêng để trồng
cây vải lấy từ Giao Chỉ về) nhưng, trồng 100 chẳng chốc, 100 chết
- Vào năm 262, Ngô Cảnh Đế (258-264) buộc dân ta phải nạp 3000 chim công, khiến cho
thiên hạ ai oán hận
Từ thời Đường trở đi, phép Tô - Dung - Điệu áp dụng Tô phần sản phẩm nông nghiệp
mà dân đinh cày ruộng cơng phải đóng góp Dung số ngày làm không công (chủ yếu
là tạp dịch) mà tất người phải thực Điệu số sản phẩm thủ công mà xã hội ta phải
dâng tiến (thường quy theo giá tương ứng với tơ lụa)
Về hình thức, phép Tơ - Dung - Điệu chưa rạch rịi chế độ thuế khố
như có phần tiến việc thu cống phẩm, nhiên, hình thức Về thực chất
(11)thu cống phẩm Mức đóng góp nhân dân mà ngày trở nên nặng nề Đây nguyên nhân trực tiếp nguyên nhân sâu xa dẫn đến bùng nổ hàng loạt
cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ
d) Về xã hội
Vào thời Bắc thuộc, hàng loạt người Trung Quốc tìm đường di cư đến nước ta Họ
những lí riêng điều đáng nói quyền hộ tỏ thống
trong sách chung tạo điều kiện thuận lợi cho di cư Nếu cần phân loại
để dễ theo dõi chia dân Trung Quốc di cư đến nước ta thời Bắc thuộc
thành ba nhóm :
- Nhóm thứ nhất gồm đơng dân nghèo Trung Quốc, khơng chịu nối ách áp bóc
lột nặng nề giai cấp phong kiến thống trị nên họ đành phải từ bỏ quê cha đất tổ để kiếm
sống Một phận không nhỏ nhóm thứ định cư Âu Lạc bị Việt
hoá, họ tự nhận người Việt thực tế cho thấy phần lớn số họ sống đầy
trách nhiệm với xứ sở tất người Việt khác Đại diện tiêu biểu cho nhóm thứ
nhất có lẽ Lý Bí (hay Lý Bơn)
- Nhóm thứ hai gồm đội ngũ Nho sĩ Trung Quốc bất đắc chí nên tự tìm đường đến
Âu Lạc coi Âu Lạc đất dung thân Vào thời nhà Hán, có lúc: "Danh sĩ nhà Hán tìm
đường lánh nạn đến nước la đông ước chừng trăm người"(1) Nhân vật xứng đáng đại diện cho nhóm thứ hai có lẽ Sĩ Nhiếp (đến lánh nạn vào khoảng cuối kỉ II) Sĩ Nhiếp người
Thương Ngô, đỗ Mậu Tài (tức Tú Tài), thời gian sau đến lánh nạn, Sĩ Nhiếp nhà Hậu
Hán bổ làm Thái Thú quận Giao Chỉ
- Nhóm thứ ba gồm nhà tu hành Phật giáo Đạo giáo, họ dừng chân Âu Lạc để
quảng bá đức tin Khơng người số họ gắn bó phần lớn đời tu hành với
lãnh thổ với nhân dân Âu Lạc Về đại diện tiêu biểu cho nhà tu hành Phật giáo, chúng
ta kể đến Thiền Sư Vô Ngôn Thông, người đến Âu Lạc vào năm 820 khai sáng dịng Thiền Tơng Vô Ngôn Thông (2) Về đại diện tiêu biểu cho nhà tu hành theo Đạo giáo, kể đến Đổng Phụng Cát Hồng Đổng Phụng người Phúc Kiến, đến Âu Lạc vào
khoảng cuối kỉ II Chính Đổng Phụng người cứu Sĩ Nhiếp thoát khỏi bạo bệnh Cát
Hồng (284-364)(3) tác giả của BÃO PHÁC TỬ NỘI NGOẠI THIÊN - một tác phẩm có giá trị
của Đạo giáo Cho người thuộc nhóm thứ ba biết trọn đời hi sinh cho lí tưởng
tu hành sống thực tiễn họ tham gia cách tự nhiên vào trình
bước làm thay đổi đần kết cấu xã hội người Việt
Về xã hội, điều quan trọng khơng phải q trình khơng ngừng thay đổi kết cấu mà
chính q trình liên tục phân hố phân cực diễn ngày sâu sắc Bấy giờ, hai cực đối
kháng hình thành ngày khơng thể dung hợp với Cực thứ bao gồm gần
toàn xã hội người Việt bị nước, bị áp bị bóc lột nặng nề Cực thứ hai gồm tất
quân cướp nước bè lũ tay sai tham tàn Từ hai cực đối kháng gay gắt này, hai dòng lịch sử
hoàn toàn khác chất đồng thời xuất tồn Dòng thứ làdòng Bắc
thuộc, dòng phản ánh chất bành trướng xâm lăng tàn bạo, dòng bộc lộ rõ ràng tham vọng
thiết lập trì cho hộ tất triều đại phong kiến Trung Quốc đối
với tồn cõi Âu Lạc Dịng thứ hai dịng chống Bắc thuộc, dòng phản ánh tinh thần quật khởi
ngoan cường toàn thể xã hội người Việt u nước, dịng bừng bừng khí tâm xả thân
cứu nước hàng loạt hệ khác nhau, dịng kết tinh khí phách hiên ngang thể
trong lời Hai Bà Trưng :
Một xin rửa nước thù,
(12)Đây hai dịng bật nhất, hai dòng xuyên suốt Nắm diễn tiến
chung hai dòng có nghĩa nắm nội dung mang tính chất
nhất lịch sử thời Bắc thuộc Với ý nghĩa tập sách mang tên chung
là DANH TƯỚNG VIỆT NAM, tập thứ xin dừng lại phần việc chủ yếu giới thiệu
cuộc đời nghiệp tướng lĩnh xuất chúng, đại biểu sáng giá dòng
lịch sử thứ hai - dòng chống Bắc thuộc Mỗi người sinh lớn lên thời điểm khác
nhau điểm chung tất người ưu tú chỗ : họ sống đời
mà danh thơm lưu truyền mãi đến muôn đời
- (1) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỷ, 3, tờ 8-b)
(2) Về dịng Vơ Ngơn Thơng, xin vui lòng tham khảo thêm : Nguyễn Khắc Thuần : ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ VĂN HÓA VIỆT NAM (Tập II), Nxb
Giáo dục.
(3) Về nhân vật Cát Hồng, xin vui lòng tham khảo thêm : Nguyễn Khắc Thuần : ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ VĂN HÓA VIỆT NAM (Tập II), Nxb
Giáo dục.
II - HAI BÀ TRƯNG - HAI BẬC NỮ DANH TƯỚNG ĐẦU TIÊN CĨ CƠNG GIƯƠNG CAO
NGỌN CỜ CHỐNG CHỦ NGHĨA BÀNH TRƯỚNG ĐẠI HÁN
Chị em nặng lời nguyền
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân
Ngàn Tây nối phong trần
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên Hồng quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi Tô Định dẹp yên biên thành
(Đại Nam quốc sử diễn ca)
1 GỐC TÍCH HAI BÀ TRƯNG TRONG GHI CHÉP CỦA THƯ TỊCH CỔ
Thư tịch cổ nước ta có chép chuyện Hai Bà Trưng bộĐẠI VIỆT SỬ LƯỢC Sách
này cho hay : "Trưng Trắc người huyện Mê Linh, gái quan Lạc Tướng vùng Trưng
Trắc lấy chồng người huyện Chu Diên, tên Thi Sách Người vợ tính hùng dũng, (Thi sách)
làm việc có sai phạm nên bị Thái Thú Tô Định dùng pháp luật để trừng trị Trưng Trắc giận quá,
bèn với em gái Trưng Nhị khởi binh Phong Châu, đánh phá quận huyện Dân hai
quận Cửu Chân Nhật Nam hưởng ứng Bà chiếm 65 thành ngồi phía Nam
nhà Hán tự lập làm Vua, đóng huyện Mê Linh"
Thư tịch cổ thứ hai nước ta có chép chuyện Hai Bà Trưng ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN
THƯ Tiến Sĩ Ngô Sĩ Liên sử thần thời Lê biên soạn Sách có đoạn đáng
ý :
- "Năm Kỉ Hợi, đời Hán Quang Vũ Lưu Tú, niên hiệu Kiến Vũ năm thứ 15,Thái Thú quận Giao Chỉ là Tơ Định, tàn tạo tham lam, Trưng Nữ Vương liền dấy binh để đánh(1)
"(Vua) tên quý Trắc, họ Trưng, nguyên họ Lạc, gái Lạc Tướng huyện Mê Linh (Phong Châu), vợ Thi Sách huyện Chu Diên Thi Sách Lạc Tướng Con hai nhà Lạc Tướng kết hôn với nhau".
"Mùa xuân, tháng (năm Canh Tí 40-NKT), Vua khổ Thái Thú Tơ Định dùng pháp luật trói
buộc, lại thù Tơ Định giết chồng mình, với em gái Nhị binh đánh hãm trị sở châu (Tô) Định chạy nước Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam Hợp Phố hưởng ứng (Trưng Trắc) lấy 65 thành tự lập làm Vua, xưng họ Trưng".
(13)vế lí lịch đời Hai Bà Trưng sau :
- Hai Bà người họ Trưng mà nguyên lại họ Lạc
- Quê quán : huyện Mê Linh
- Thành phần gia đình : cha Lạc Tướng huyện Mê Linh
- Trưng Trắc vợ Thi Sách mà Thi Sách trai Lạc Tướng huyện Chu Diên
- Thái Thú Tô Định tham lam tàn bạo, giết chết Thi Sách nên Trưng Trắc với Trưng Nhị
khởi binh đánh cho đại bại Hai Bà giành thắng lợi, chiếm 65 thành xưng Vương
Sau ĐẠI VIỆT SỬ LƯỢC ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ, thư tịch cổ ta KHÂM ĐỊNH
VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC số dã sử khác chép chuyện Hai Bà Trưng
nhưng nói chung khơng có mẻ Thư tịch cổ Trung Quốc (ví dụ HẬU HÁN THƯ
chẳng hạn) có vài dịng Hai Bà Trưng khơng bàn đến gốc tích Hai Bà
Đọc thư tịch cổ viết Hai Bà Trưng, cảm giác thường có hầu hết người :
chừng tất dừng lại mức độ sơ nhắc nhở kiện gắn liền với Hai Bà
Trưng chưa đủ để làm thoả mãn ý nguyện hiểu biết hậu hai nhân vật lịch sử kiệt
xuất Sự bất giản lược thư tịch cổ khiến cho người đọc lấy làm tiếc Khơng cịn
cách khác, phương pháp phổ biến giới sử học đại kết hợp chặt chẽ việc
phân tích xử lí thư tịch cổ với việc tổ chức khảo sát bình diện ngày rộng để tìm
kiếm thêm tài liệu có liên quan đến Hai Bà Trưng Hai nguồn tài liệu nhà sử
học đặc biệt ý, tờ thần tích truyền thuyết dân gian
-
(1) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 3, tờ 1-b) Tác giả xin thích thêm : Hán Quang Vũ (Lưu Tú) người khai sáng nhà Hậu Hán (cũng tức Đông Hán : 25-220), 32 năm (25-57), năm 57, hưởng thọ 63 tuổi (06 TCN-57) Trong thời gian ngôi, Hán
Quang Vũ sử dụng hai niên hiệu, Kiến Vũ (25-56) Kiến Vũ Trung Nguyên (56-57)
2 GIẢI MÃ MỘT CÁCH ĐẶT TÊN
Tất thư tịch cổ khẳng định Trưng Trắc Trưng Nhị hai chị em người họ Trưng
(mà họ Trưng lại nguyên họ Lạc) thực tế họ Trưng họ Lạc khơng có
ở nước ta Vả chăng, vào năm đầu Cơng ngun tồn xã hội người Việt
chỉ có tên chưa có họ (1) Như vấn đề quan trọng còn lại có lẽ là tìm cách giải mã
ý nghĩa tên gọi Hai Bà Trưng
Theo chúng tơi, việc giải mã thực trở lại với đất quê
hương Hai Bà Như nói, Hai Bà gái Lạc Tướng Mê Linh (2) Đất Mê Linh
nguyên thuộc Văn Lang(3), vào thời Tây Hán (206 TCN-08) đổi gọi là Phong Châu, thời Hậu Hán (25-220) số 12 huyện(4) quận Giao Chỉ Thời thuộc Ngô (220-280), đất Mê Linh thuộc quận Tân Hưng Đến thời Tấn (280-420) Tân Hưng đổi thành Tân Xương Mê
Linh số huyện (5) của quận Tân Xương lập Dưới thời Tuỳ (602-618), đất Vạn
Xuân(6) cộng với phần lãnh thổ thuộc vương quốc người Chăm chia lại thành
quận (7), Mê Linh thuộc quận Giao Chỉ Năm 679, quyền hộ nhà Đường tiến hành
chia đặt lại đơn vị hành chính, đất Mê Linh thuộc Phong Châu (là số 12 châu
vùng đồng trung du An Nam Đô Hộ Phủ) (8 Dưới thời Đinh (968-980), thời Tiền Lê
(980-1009) thời Lý (1010-1225) đất Mê Linh phần thuộc Phong Châu phần
thuộc Quốc Oai Châu Sang thời Trần (1226-1400), đất Mê Linh thuộc Lộ Quốc Oai (rồi Trấn Quốc
Oai) Thời Hậu Lê, Mê Linh thuộc Thừa Tuyên Sơn Tây Dưới thời nhà Nguyễn, đất Mê Linh thuộc
tỉnh Sơn Tây Tỉnh có phủ phân phủ(9) Mê Linh thuộc phân phủ Vĩnh Tường Bấy
giờ, phân phủ Vĩnh Tường quản lĩnh hai huyện Yên Lãng Yên Lạc Đất Mê Linh chủ yếu
thuộc huyện Yên Lãng
Đất Mê Linh tương ứng với khu vực lãnh thổ rộng lớn kéo dài từ Ba Vì đến Tam
Đảo, tức vùng tiếp giáp Hà Nội, Hà Tây, Vĩnh Phúc Phú Thọ Đây nơi phát tích
(14)cũng đất dựng nghiệp Hùng vương trung tâm trị nhà nước Văn Lang - nhà nước lịch sử nước nhà Về kinh tế, Mê Linh coi đất tổ nghề trồng
dâu nuôi tằm
-
(1) Có thuyết nói rằng, thân mẫu Hai Bà Trưng Trần Thị Đoan, nhưng, sức thuyết phục thuyết thấp Chúng tơi cho sự tự ý thêm thắt người đời sau.
(2) ChữMêtrong tên quê hương Hai Bà đọc Mi Bởi lẽ này, nhiều người phiên âm Mi Linh Tuy nhiên, cách phiên âm phổ biến xưa Mê Linh
(3) Văn Lang số 15 hợp thành nhà nước Văn Lang, gồm có : Văn Lang, Giao Chỉ, Tân Hưng, Dương Tuyền, Vũ Định, Vũ Ninh,
Chu Diên, Phúc Lộc, Ninh Hải, Lục Hải, Cửu Chân, Hoài Hoan, Cửu Đức, Việt Thường Bình Văn.
(4) Theo Phạm Việp (Trung Quốc) trongHẬU HÁN THƯ (Quận quốc chí) mười hai huyện thuộc quận Giao Chỉ gồm có : Long Biên, Luy Lâu,
An Định, Câu Lậu, Mê Linh, Khúc Dương, Bắc Đới, Kê Từ, Tây Vu, Chu Diên, Phong Khê Vọng Hải.
(5) Theo Phịng Kiều (Trung Quốc) trongTẤN THƯ sáu huyện quận Tân Xương (mới lập) gồm có : Mê Linh, Gia Ninh, Ngô Định, Lâm Tây, Tây Đạo Phong Sơn.
(6) Vạn Xuân quốc hiệu Lý Nam Đế đặt từ năm 544.
(7) Sáu quận : Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Tị Ảnh, Hải Âm Lâm Ấp.
(8 Mười hai châu gồm có : Giao Châu, Trường Châu, Phong Châu, Ái Châu, Diễn Châu, Phúc Lộc Châu, Hoan Châu, Lục Châu, Vũ An Châu, Vũ
Nga Châu, Thang Châu Chi Châu
(9) Năm phủ tỉnh Sơn Tây : Quảng Oai, Quốc Oai, Vĩnh Tường, Lâm Thao Đoan Hùng Một phân phủ phân phủ Vĩnh Tường.
Thực ra, từ sơ kì thời đồ đá mới1, cư dân tiền sử đất nước ta đã biết tới kĩ thuật
đan lát với trình độ cao Đến trung kì thời đồ đá 2, nghề dệt xuất Tất nhiên,
sợi dệt lúc đầu khai thác chủ yếu từ vỏ Sang thời sơ sử, nghề trồng dâu, nuôi tằm
dệt lụa khai sinh mà người tơn làm tổ sư nghề Thiều Hoa -
những người gái Hùng Vương Truyền thuyết dân gian kể : "Công Chúa Thiều Hoa
người xinh đẹp, lại có biệt tài hiểu nói chuyện với mn lồi Ngày vào rừng chơi ngày mn lồi lại nơ nức chào đón Chim hót cho nghe, bướm bay lượn khoe
màu cho cô vui mắt Một ngày nọ, nhân ngày hội lồi bướm, Cơng Chúa Thiều Hoa vào rừng Hơm đó, Thiều Hoa thấy lồi bướm nâu xấu xí lặng lẽ đậu cành quan sát chứ không bay lượn lồi bướm khác Nghe Cơng Chúa Thiều Hoa hỏi, bướm nâu
bèn trả lời :
- Em khơng thích bay lượn Khơng giống tất loài bướm khác, em đẻ trứng
trứng nở thành sâu chẳng nở thành bướm Sâu ăn dâu không phá hoại mùa màng Ăn dâu nhả sợi óng ánh đẹp
Bướm nâu vừa kể vừa bay dẫn đường cho Thiều Hoa Cơng Chúa đến nơi có nhiều
dâu Ở đó, say mê ngắm sợi nhỏ óng ánh sâu lại thành
cuốn, treo khắp rừng dâu Và cô thận trọng gỡ sợi mỏng mảnh ra, đan thành vải đem may thành áo, khiến cho trông thấy phải ưa Từ đấy, Thiều Hoa Công Chúa đặt tên cho loài bướm nâu bướm ngài, trứng bướm ngài đẻ gọi trứng ngài, lồi sâu nở từ trứng ngài gọi tằm sợi óng ánh tằm nhả gọi sợi tơ Vải dệt
từ sợi tơ gọi lụa Để có thật nhiều lụa, Thiều Hoa Công Chúa tâu xin cha Hùng Vương cho di dân đến bãi đất ven sông Hồng để làm nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa Chính người đã lập làng lụa Cổ Đô lừng danh3
Thật ra, kho tàng truyền thuyết dân gian, Thiều Hoa Công Chúa người
nhất mà số khơng người tôn làm tổ sư nghề dệt, nhưng, điều
đáng nói phần lớn bậc tơn làm tổ sư nghề dệt người Mê Linh
người quê vùng kế cận đất Mê Linh Nói khác hơn, quê hương Hai Bà Trưng quê
hương nghễ trồng dâu, ni tằm, dệt lụa Ở đó, loại trứng ngài tốt gọi là trứng
chắc, loại gọi là trứng nhì Tương tự vậy, tổ kén tốt gọi
là kén chắc, tổ gọi là kén nhì Thuở xưa, mà chữ Hán chưa
truyền bá chưa có điều kiện để thấm sâu vào nhận thức xã hội xu hướng chung
cách đặt tên người giản dị mộc mạc, thể rõ gắn bó thiết tha với sống đời
thường Từ thực tế sinh động xu hướng đặt tên chung này, suy luận Hai
Bà Trưng thuộc lớp người hoàn tồn chưa có họ mà tên gọi mang âm
hưởng thân quen nghễ trồng dâu, nuôi tằm, dệt luạ4 Những chữ trứng vàtrứng
(15)em tuổi tác Sau, tên gọi Hai Bà phiên âm Hán Việt thành Trưng Trắc Trưng Nhị Như nói, xu hướng đặt tên người theo cách cịn tiếp tục
duy trì lâu dài vùng chữ Hán chưa có điều kiện để thấm sâu vào nhận thức xã
hội Khảo sát cách đặt tên người số địa phương, chúng tơi cịn thấy rõ dấu ấn điều
này Ví dụ :
- Cha mẹ làm ruộng thường đặt tên : Trần Văn Cày, Trần Văn Bừa, Trần Thị Liềm,
Trần Thị Hái
- Cha mẹ làm nghề thợ mộc thường đặt tên : Lê Văn Dùi, Lê Văn Đục, Lê Thị Bào, Lê Thị Cưa
- Cha mẹ làm nghề thợ rèn thường đặt tên : Ngơ Văn Bễ, Ngơ Văn Đe, Ngơ Thị Lị, Ngô Thị Than
Giữa mênh mông đời, chịu trách nhiệm tên gọi hay dở cả,
nhưng, phải chịu trách nhiệm hành trạng Ranh giới tốt
và xấu, anh hùng phản bội, cao thượng thấp hèn bắt nguồn từ ý thức
năng lực chịu trách nhiệm hành trạng
Tóm lại, Trưng Trắc Trưng Nhị khơng phải họ tên suy đốn sử cũ, Hai Bà
Trưng nguyên người họ Lạc số thư tịch cổ ghi Thời Hai Bà
thời dân ta chưa có họ Ngay Trung Quốc, đến bậc Thiên Tử thấy thư tịch
cổ Trung Quốc chép đầy đủ họ tên từ thời nhà Chu 5 Tuy nhiên, tượng chưa
phải thật phổ biến : Sau đó, Hồng Đế Trung Quốc Tần Thuỷ
Hoàng chưa có họ theo nghĩa từ 6
Các dòng họ lịch sử nước ta xuất muộn Trung Quốc bối cảnh chung
đó, nhân vật sống đầu Công nguyên Trưng Trắc Trưng Nhị, chưa có họ
cũng lẽ tự nhiên Một loạt tướng lĩnh Hai Bà Trưng, người sát cánh
chiến đấu đầy hiệu với Hai Bà lập nên công trạng lớn : Ả Di, Ả Tắc, Thánh Thiên,
Bát Nàn, Cư Ơng, Đơ Dương, Ích Xương, Ơng Trọng người hoàn toàn chưa
có họ
- (1) Với văn hoá tiêu biểu Bắc Sơn (nay thuộc tỉnh Lạng Sơn).
(2) Với văn hoá tiêu hiểu Bàu Tró (nay thuộc tỉnh Quảng Bình)
(3) Xin vui lòng tham khảo thêm : Nguyễn Khắc Thuần - TRÔNG LẠI NGÀN XƯA (tập 2- phần Lược truyện bậc tổ sư, Nxb Giáo dục.1998
Làng Cổ Đô xưa thuộc xã Cổ Đô, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây
(4) Theo thần tích làng Lâu Thượng (nay thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) gia đình Hai Bà Trưng chuyên làm nghề trồng dâu, nuôi
tằm, dệt lụa Ở đó, tổ kén tốt gọi kén chắc, kén gọi kén nhì, loại trứng ngài tốt gọi trứng chắc, loại
hơn gọi trứng nhì Vì lẽ cha mẹ đặt tên cho Hai Bà Chắcvà Nhì Theo thần tích làng Hạ Lơi Trưng Trắc Trưng Nhi
hai chị em sinh đơi.
(5) Xin vui lịng tham khảo thêm : Nguyễn Khắc Thuần : CÁC ĐỜI ĐẾ VƯƠNG TRUNG QUỐC, Nxb Giáo dục, 2002 Sách tái lần
thứ nhất.
(6) Cha Tần Thủy Hồng Tử Sở, phải làm tin nước Triệu nên lấy họ Triệu thực khơng phải người họ Triệu.
3 Q HƯƠNG, GIA ĐÌNH VÀ NHỮNG TRANG LÍ LỊCH ĐẦU TIÊN
Tác phẩm sử học cổ nước ta lưu giữ ĐẠI VIỆT SỬ LƯỢC viết
: "Trưng Trắc người huyện Mê Linh" Bộ ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ ghi rõ : "Trưng Trắc của Lạc tướng huyện Mê Linh" Và, bộKHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC
viết tương tự Nói cách khác, thư tịch cổ ghi rõ quê quán Hai Bà Trưng huyện Mê
Linh Như trình bày trên, đất Mê Linh xưa rộng lớn, vậy, sinh quán cụ thể Hai Bà
vùng ? Về vấn đề này, kết khảo sát thực tế cung cấp cho
những chi tiết mang tính bổ sung đáng ý, theo q nội Hai Bà làng Hạ Lơi
(16)Hạ Lôi nguyên xưa làng huyện Yên Lãng, thuộc phân phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn
Tây 1 Sau năm 1975, có lúc làng thuộc huyện Mê Linh (Hà Nội) Nay, làng Hạ Lôi thuộc
huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc Hạ Lơi làng có truyền thống trồng dâu, nuôi
tằm dệt lụa lâu đời Thân sinh Hai Bà Lạc Tướng huyện Mê Linh Sấy giờ,
hầu tất Lạc Tướng xuất thân từ đội ngũ quý tộc lạc cũ thân sinh Hai Bà
cũng hậu duệ đội ngũ Nhìn chung thời Bắc thuộc, quyền đô hộ
triều đại phong kiến Trung Quốc hồn tồn xố bỏ guồng máy nhà nước Âu Lạc
nhưng chúng chưa thể chi phối tất hoạt động tổ chức xã hội sở
Trong bối cảnh đó, dư âm quyền lực đội ngũ quý tộc cũ cịn cao, vậy, ngồi uy tín cá nhân lớn lao mình, Hai Bà Trưng cịn may mắn thừa hưởng uy tín cha
Tuy qua đời sớm lĩnh khí khái Lạc Tướng Mê Linh có ảnh hưởng sâu sắc
đối với gái
Làng Nam Nguyễn thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây Truyền thuyết dân gian tờ thần
tích khẳng định làng Nam Nguyễn quê ngoại Hai Bà Trưng Làng Nam
Nguyễn có Miếu Mèn nơi thờ bà Man Thiện - thân nẫu Hai Bà 2, có Mả Dạ (hay Mộ Da)
tương truyền mộ bà Man Thiện Trong tiếng Việt cổ,Dạ từ dùng để người phụ nữ lớn
tuổi mà kính trọng, trái nghĩa với Ẩu từ dùng để người phụ nữ trẻ tuổi mà bị coi
thường Ở huyện Ba Vì, ngồi Miếu Mèn Mả Dạ đình làng Nam Nguyễn nơi kính thờ
bà Man Thiện Hai Bà Trưng số tướng lĩnh Hai Bà Hạ Lôi Nam Nguyễn ngày hai làng thuộc hai tỉnh khác khoảng cách hai làng lại không xa Xưa, Hạ
Lôi Nam Nguyễn thuộc Phong Châu (cách khoảng vài chục năm, hai thuộc Hà
Nội) Như nói, thân sinh Hai Bà Trưng hậu duệ quý tộc lạc cũ
Từ đô hộ nuôi mưu toan biến nước ta thành quận huyện Trung Quốc, nhà Hán đặt
các chức Huyện Lệnh Huyện Thừa trao chức cho khơng q tộc lạc cũ Tuy
nhiên, dân đương thời thường gọi theo chức danh mang đậm dấu ấn tình cảm sâu sắc Lạc
Tướng Từ thực tế này, suy luận thân sinh Hai Bà Trưng có lẽ nguyên
Huyện Lệnh (hoặc Huyện Thừa) huyện Mê Linh giàu cơng đức nên dân yêu
quý gọi Lạc Tướng
Cũng theo truyền thuyết dân gian nhiều tờ thần tích thân mẫu Hai Bà Trưng
là cháu chắt nhiều đời bên ngoại Hùng Vương Lúc giờ, chế độ phụ quyền gia đình phụ
hệ thiết lập khẳng định cách chắn từ lâu trước đó, ảnh
hưởng dịng họ ngoại (nhất dòng họ ngoại thuộc hàng giàu quyền ảnh hưởng xã hội
rộng lớn dòng Hùng Vương) mạnh mẽ Nguồn gốc xuất thân đủ để thân mẫu
của Hai Bà Trưng dân đương thời bày tỏ kính trọng Và nữa, điều đáng nói bà
Man Thiện nuôi dạy hai người gái theo tiêu chí đánh giá đại đạo làm
người đặc biệt Nhờ nuôi dạy người mẹ khả kính ấy, tố chất anh hùng liên
tục nhen nhúm tình cảm nhận thức Hai Bà Trưng : thiết tha yêu nước
và thương nòi, sục sơi lịng căm thù giặc, bừng bừng tinh thần thượng võ ý thức ni chí để
tập hợp bốn phương thiên hạ vùng dậy cứu nước cứu dân3 Các sử Trung Quốc
cũng phải thừa nhận thực tế Hai Bà Trưng thư tịch cổ cua Trung Quốc mô tả "rất
hùng dũng", "can đảm dũng lược"4 Ở chừng mực định đó, nói
rằng thân mẫu Hai Bà Trưng linh hồn trình chuẩn bị khởi nghĩa Biệt
danh Man Thiện giản dị đủ để hàm chứa thái độ thực cảm phục trân
trọng hậu Bà Hiện chưa rõ Trưng Trắc Trưng Nhị sinh vào năm nào,
cứ vào kiện lớn đời Hai Bà, ước đốn Hai Bà sinh vào
khoảng cuối thời nhà Tân 5 Trước dựng cờ khởi nghĩa (năm 40), Trưng Trắc đã kết hôn
Chồng Trưng Trắc tên Thi Sách 6, trai của Lạc Tướng huyện Chu Diên Vào đầu thời
Hậu Hán, địa giới huyện Chu Diên vùng ngày tương ứng với khu vực kéo dài từ
huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây đến huyện Từ Liêm Hà Nội Như vậy, đất đai
huyện Chu Diên tiếp giáp với đất đai huyện Mê Linh Đây hai huyện lớn, nằm án ngữ
(17)hai gia đình Lạc Tướng Chu Diên Mê Linh dẫn đến liên kết tự nhiên chặt chẽ
giữa hai huyện có tiềm lực mạnh mẽ khiến cho quyền hộ nhà Hậu Hán
đương thời dù hồi cường thịnh cảm thấy thật lo sợ Đây vừa thuận lợi
rất to lớn lại vừa khó khăn nặng nề Hai Bà Trưng nghiệp phát động
nhân dân khắp cõi vùng lên khuấy nước chọc trời Thuận lợi nhân dân (mà trước hết nhân dân hai huyện Chu Diên Mê Linh) sẵn sàng đồng lòng ủng hộ Hai Bà, khó khăn
qn hộ thừa biết diễn tiến tất yếu việc nên định chủ động đối phó
- (1) Xin vui lòng tham khảo mục2.Giải mã một cách đặt tên (cũng thuộc phần II này)
(2) Hai chữMan Thiện có lẽ khơng phải tên gọi mà vinh hiệu, nghĩa người man di tốt Đời sau kính phục mà gọi chăng? (3) Truyền thuyết dân gian vùng Hà Tây có chuyện Đỗ Năng Tế, theo Đỗ Năng Tế người vùng thuộc huyện Quốc Oai, khoẻ mạnh,
nhiều mưu đặc biệt giỏi võ nghệ Bà Man Thiện mời Đỗ Năng Tế dạy cho hai người gái (Tác giả xin thích
thêm rằng, việc bà Man Thiện mời thầy dạy võ nghệ cho điều phù hợp với tất truyền thuyết khác, cịn nhân vật có đầy đủ họ và tên Đỗ Năng Tế người đời sau thêm vào cho dễ nghe thời Hai Bà Trưng, dân ta chưa có họ).
(4) Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.
(5) Nhà Tân Vương Mãng lập năm 08 tồn trước sau tổng cộng 17 năm (từ năm 08 đến năm 25), truyền nối hai đời Trong suốt
thời gian tồn tại, nhà Tân thay nhà Tiền Hán để đô hộ nước ta.
(6) Hầu hết thư tịch cổ ta Trung Quốc chép tên chồng Trưng Trắc Thi Sách, cóLịch Đạo Nguyên (Trung Quốc)
trong THUỶ KINH CHÚ (Quốc Học Cơ Bản Tùng Thư, Thương Vụ Ấn Thư Quán) chép làThi Tờ 62, 37 củaTHUỶ KINH CHÚ viết
: Chu Diên Lạc Tướng tử danh Thi, sách Mê Linh Lạc Tướng nữ danh Trưng Trắc vi thê Câu dịch trai Lạc Tướng
Chu Diên tên Thi hỏi cưới gái Lạc Tướng Mê Linh tên Trưng Trắc làm vợ Chữsách phải dịch hỏi cưới, dịch thành tên (Thi) Sách Tuy nhiên sách này, theo cách gọi quen thuộc phổ biến vốn có từ muôn dời mà chép tên chồng Trưng Trắc Thi Sách
DỰNG CỜ XƯỚNG NGHĨA
Một nhân vật lừng danh lịch sử Trung Quốc Hán Quang Vũ Hán Quang Vũ
tên thật Lưu Tú, cháu đời Lưu Bang (tức Hán Cao Tổ, người sáng lập nhà Tiền Hán
vào năm 206 TCN) Lưu Tú sinh năm 06 TCN, lật đổ nhà Tân khai sinh nhà Hậu Hán (cũng
tức Đơng Hán) vào năm 25, ngơi Hồng Đế 32 năm (25-57), năm 57, hưởng thọ 63 tuổi
Thời Hán Quang Vũ, ảnh hưởng Trung Quốc bốn phương rộng lớn mạnh mẽ
Bởi lẽ này, sử sách Trung Quốc không ngớt lời ca ngợi Hán Quang Vũ Dựa vào uy đó,
bọn quan lại hộ Âu Lạc sức tìm đủ cách để vơ vét tài nguyên cải Nổi bật
nhất số tên đô hộ tham tàn Tơ Định 1
Theo ghi chép củaĐƠNG QUAN HÁN KÍ Thái Thú Tơ Định tên khắc nghiệt,
mượn cớ nghiêm giữ phép nước để tìm cách hà hiếp dân lành "thấy tiền giương mắt lên,
thấy địch cụp mắt xuống"2 Lo sợ trước nhân dễ có khả dẫn đến liên kết
chặt chẽ Chu Diên Mê Linh, Tô Định giết chết Thi Sách hi vọng với địn phủ đầu
ấy, quyền hộ nhanh chóng triệt tiêu hồn tồn mầm mống phản kháng
nhất định bùng lên vùng đất trung tâm vốn có tiềm lực mạnh mẽ 3 Nhưng, Tô Định
và quân đô hộ nhà Hậu Hán nhầm Bà Man Thiện gấp rút chuẩn bi khởi
nghĩa lớn Quyết tâm bà Man Thiện Hai Bà Trưng nhận cổ vũ
ủng hộ mạnh mẽ xã hội Từ đất Mê Linh, bão lửa quật khởi nhanh chóng hình
thành Dân bốn phương nườm nượp kéo Mê Linh để tề tựu cờ cứu nước
Hai Bà Trưng Truyền thuyết dân gian vùng Hà Tây số dã sử cho hay rằng, trước
quả cảm phất cờ khởi nghĩa Hai Bà Trưng long trọng tổ chức hội thề lớn.tại vùng
Hát Môn 4 Theo THIÊN NAM NGỮ LỤC trước ba quân tướng sĩ, Hai Bà tuyên thệ tâm thực cho bốn mục tiêu :
Một xin rửa nước thù,
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng Ba kẻo oan ức lòng chồng,
Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh
Về hội thi tổ chức đất Hát Mơn, Hồng Giáp Ngơ Thì Sĩ (1725-1780) 5 viết : "Khi
(18)nói :
- Việc binh phải tòng quyền, giữ lễ làm cho dung nhan xấu xí có khác làm giảm
nhuệ khí, cho nên, ta mặc đẹp để làm cho quân hùng tráng Vả chăng, lũ giặc
trông thấy, lịng khơng n nên nhụt bớt chí khí chiến đấu, ta thêm phần dễ
thắng
Mọi người nghe vái tạ mà nói họ khơng thể nghĩ kịp cách nghĩ Bà" 6 -
(1) Tô Định làm Thái thú Giao Chỉ từ năm 34, tức năm sau nhà Hậu Hán dựng lên (2) Phạm Việp (Trung Quốc) : HẬU HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.
(3) Về nhân vật Thi Sách,THỦY KINN CHÚ Lịch Đào Nguyên (Trung Quốc) viết Thi Sách với Hai Bà Trưng khởi xướng
và lãnh đạo khởi nghĩa chống ách thống trị nhà Hậu Hán Tuy nhiên, phần lớn thư tịch cổ (của ta Trung Quốc), đặc biệt hàng loạt truyền thuyết dân gian khẳng định Tô Định giết Thi Sách trước Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa.
(4) Hát Môn : cửa sông Hát, thuộc xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây
(5) Ngơ Thì Sĩ (thân sinh Tiến Sĩ Ngơ Thì Nhậm) người làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, thôn Tả Thanh Oai, xã Tả Thanh Oai,
huyện Thanh Trì, Hà Nội, đỗ Hoàng Giáp năm 1766, làm quan trải phong dần tới chức Đốc Đồng, Ngơ Thì Sĩ tác giả loạt tác phẩm
rất có giá trị :ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TIỀN BIÊN, VIỆT SỬ TIÊU ÁN, NGỌ PHONG VĂN TẬP, ANH NGÔN THI TẬP, NGHỆ AN THI TẬP, HẢI ĐƠNG CHÍ LƯỢC
(6) VIỆT SỬ TIÊU ÁN - Trưng Nữ Vương.
Tháng năm 40, tức sau hội thề Hát Môn Hai Bà hạ lệnh xuất quân Lực lượng
ban đầu chưa thực hùng hậu khí tâm chiến đấu sục sơi bừng bừng
Mục tiêu mục tiêu lớn nghĩa quân công vào trị sở tên Thái
Thú Tô Định Từ quê hương Mê Linh mình, Hai Bà Trưng thúc quân ạt tiến thẳng Long
Biên, tới đâu nghĩa quân nhanh chóng đè bẹp phản kháng lực lượng qn hộ tới đó,
thế qn thác đổ, khơng cách ngăn cản Một khí đánh giặc cứu nước
bừng bừng khắp nơi :
Ngàn Tây phong trần, Ầm ầm binh mã tới gần Long Biên 1
Từ bất ngờ đến khiếp đảm Tô Định phải hốt hoảng bỏ trị sở mà cao chạy xa bay Một số
truyền thuyết dân gian cịn kể : "Tơ Định phải cạo tóc, cạo râu, vất bỏ ấn tín mà chạy" 2
Chính sử Trung Quốc phải buộc thừa nhận thực tế thảm hại : "Năm Kiến Vũ
thứ 16 (tức năm 40-NKT), người gái Giao Chỉ Trưng Trắc em gái Trưng Nhị làm
phản, đánh phá sở trị quận Trưng Trắc gái Lạc Tướng huyện Mê Linh, người
hùng dũng, vợ Thi sách huyện Chu Diên Thái Thú Giao Chỉ Tô Định dùng pháp luật trói
buộc, Trưng Trắc phẫn nộ, mà làm phản Người Man, người Lý Cửu Chân, Nhật Nam Hợp Phố tề hưởng ứng (Trưng Trắc) gồm chiếm 65 thành tự lập làm Vua Thứ
sử Thái Thú Giao Chỉ cịn giữ mạng sống mà thơi" 3
Các sử ta xưa dành lời trang trọng để chép chiến đấu
của nghĩa quân Hai Bà Trưng Tiến Sĩ Ngô Sĩ Liên sử thần thời Lê viết : "Tháng hai, mùa
xuân năm Canh Tí, niên hiệu Kiến Vũ năm thứ 16 (tức năm 40 -NKT), Vua khổ Thái Thú Tơ
Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù (Tơ) Định giết chồng mình, với em (Trưng)
Nhị binh đánh hãm trị sở châu (Tô) Định phải tháo chạy nước Các quận Nam Hải,
Cửu Chân, Nhật Nam Hợp Phố hưởng ứng, lấy 65 thành Lĩnh Nam, tự lập làm Vua." 4
Quốc Sử Quán triều Nguyễn viết : "Lúc bấy Thái Thú Tô Định cai trị tham lam tàn bạo;
giết chồng Bà Bà với em gái Trưng Nhị dấy quân, đánh hãm vào châu lị Tô Định phải bỏ chạy Nam Hải Quân Bà đến đâu gió lướt đến Các tộc người Man, người Lý Cửu Chân, Nhật Nam Hợp Phố đầu tề hưởng ứng Bà lấy lại dẹp yên
(19)đều bảo tồn thân thơi" 5
Bấy giờ, khơng phải có quan qn hộ nhà Hậu Hán mà triều đình nhà Hậu
Hán phải hoảng hốt, bị động lúng túng Mãi đến hai năm trời sau thắng lợi vang dội
của Hai Bà Trưng, triều đình Hán Quang Vũ đủ bình tĩnh để chuẩn bị kế hoạch xua quân sang
đàn áp Đúng sử gia xưa nói, nhờ chí ủng hộ nhân dân khắp
cõi, nhờ phân tích sắc bén đốn thật xác Hai Bà Trưng"dựng nước dễ trở
bàn tay", ngược lại, nhà Hậu Hán từ chỗ bất ngờ đến bất lực, hồn tồn chịu bó tay
trong thời gian dài Đó hội thuận lợi để Hai Bà Trưng xưng Vương
và nhanh chóng xây dựng quyền độc lập tự chủ
- (1) Lê Ngô Cát - Phạm Đình Tối : ĐẠI NAM QUỐC SỬ DIỄN CA
(2) Bấy giờ, tục lệ phổ biến người Việt cạo tóc Tô Định phải bắt chước làm theo cho dễ chạy trốn Về tục
lệ phổ biến này, xin vui lòng tham khảo thêm : Nguyễn Khắc Thuần - ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ VĂN HÓA VIỆT NAM (Tập 1), Nxb Giáo dục,
2004 Tập có tên gọi riêng Từ thành tố nội sinh đến những văn minh đặc sắc (3) Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.
(4) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ(Ngoại kỉ, 3, tờ a-b)
(5) KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên, 2, tờ 10) Tất thư tịch cổ ta nói Hai Bà Trưng chiếm
65 thành Tuy nhiên, theo ghi chép củaHẬU HÁN THƯ số thư tịch cổ huyện có thành Ở Nam Việt Âu Lạc có tất
7 quận với 56 huyện thành cụ thể sau :
- Giao Chỉ : 12 thành - Cửu Chân : 05 thành - Nhật Nam : 05 thành - Hợp Phố : 05 thành - Nam Hải : 07 thành - Thương Ngô : 11 thành
- Uất Lâm : 11 thành
Như vậy, số 65 thành có nhầm lẫn dó Tuy nhiên, điều đáng nói Hai Bà Trưng giành lại thành mà chỗ nhân dân tồn cõi tề đứng phía Hai Bà
5 BA NĂM GÁNH VÁC SƠN HÀ
Ngay sau đập tan toàn guồng máy quyền hộ nhà Hậu Hán, Trưng Trắc
xưng Vương, sử gọi thời trị Bà thời Trưng Nữ Vương 1 Như vậy, sau Thục Phán thì Trưng
Trắc nhân vật thứ hai lịch sử nước ta thức 2 xưng Vương Đây kiện có ý
nghĩa quan trọng mà nói theo cách nói tác giả LỊCH SỬ VIỆT NAM (tập 1)3
đây "sự phủ định hiên ngang" đối với mưu đồ chủ nghĩa đại Hán
Thư tịch cổ chép việc Trưng Trắc xưng Vương vào mùa xuân năm Canh Tí (tức năm 40)
mà khơng cho biết vương hiệu quốc hiệu niên hiệu Có lẽ lúc giờ, vấn
đề quan trọng hàng đầu "lập lại nghiệp xưa họ Hùng", cịn như tất có liên
quan khác chưa vội nghĩ tới Về đất đóng Trưng Vương, sử cũ nói rõ Mê Linh :
Đơ kì đóng cõi Mê Linh,
Lĩnh Nam riêng triều đình nước ta4
Như nói, Mê Linh tên gọi huyện lớn, kinh đô Trưng Nữ Vương có
thể xây dựng phần nhỏ đất huyện Mê Linh Theo chúng tơi,
đó làng Hạ Lôi, quê nội Hai Bà, trị sở cũ thân sinh Hai Bà Lạc Tướng Mê Linh
Tuy nhiên, truyền thuyết mà dân gian cịn truyền tụng, đất Mê Linh khơng cịn lưu
giữ dấu tích vật chất kinh Trưng Nữ Vương
Chính quyền Trưng Nữ Vương có lẽ quyền đội ngũ tướng lĩnh - người
từng sát cánh chiến đấu với Hai Bà Trưng lập nhiều công lao Không thư tịch cổ
nào cho biết kết cấu tên chức danh cụ thể guồng máy quyền Trưng Nữ
Vương, nhiên thống lời kể kho tàng truyền thuyết đủ phép
(20)lệ không nhỏ Trong truyền thuyết dân gian, nữ quan cao cấp Hai Bà Trưng
thường gọi Công Chúa (ví dụ Bát Nàn Cơng Chúa, Thánh Thiên Cơng Chúa, Lê Chân
Cơng Chúa ) Cũng có nhiều ý kiến cho tước hiệu Hai Bà Trưng thức
phong tặng, song, điều chưa có để bảo đảm chắn Theo chúng tơi có lẽ
cũng vinh hiệu người đời sau kính trọng mà thêm vào Dưới vài
số đội ngũ quan lại quyền Trưng Nữ Vương :
- Trong phạm vi ba tỉnh Hà Tây, Vĩnh Phúc Phú Thọ có đến 75 tướng Hai Bà Trưng, gồm
56 nam 19 nữ
- Theo thống kê Chi hội Văn nghệ dân gian tỉnh Vĩnh Phú (nay tách thành hai tỉnh Vĩnh
Phúc Phú Thọ) tồn tỉnh Vĩnh Phú cũ có đến 62 tướng Hai Bà Trưng, gồm có 30 nam 32 nữ
- Riêng khu vực thuộc Hà Nội có tới 25 tướng Hai Bà Trưng, gồm 18 nam
và nữ 5
Tất nhiên, nữ tướng sau trở thành nữ quan ngược lại,
không phải bất nữ quan xuất thân nữ tướng, nhưng, có mặt đơng nữ
quan guồng máy quyền Trưng Nữ Vương điều có thật Nói khác hơn, thân cấu
trúc quyền Trưng Nữ Vương thể rõ vai trị vị trí người phụ nữ
Những người chứng tỏ ý chí tài nghiệp giành độc lập đến lại tiếp tục
thể lĩnh tâm nghiệp giữ độc lập
Một vài thư tịch cổ Trung Quốc cho biết quyền Trưng Nữ Vương thu thuế
hai quận Giao Chỉ Cửu Chân 6 Có lẽ quận Nhật Nam xa nên việc quản lí
quyền Trưng Nữ Vương khơng chặt chẽ hai quận Giao Chỉ Cửu Chân Từ câu ghi
chép ngắn gọn này, suy đốn khởi nghĩa Hai Bà Trưng giành thắng lợi
trên phạm vi địa lí rộng lớn, tương ứng với đất đai Nam Việt Âu Lạc
cũ, quyền Trưng Nữ Vương gần quản lí vùng lãnh thổ chừng
tương ứng với cương vực Văn Lang - Âu Lạc cũ Dấu ấn cố quốc An Dương Vương
xa Vua Hùng in sâu nhận thức Hai Bà Trưng, nhận thức
phổ biến xã hội đương thời
Là quyền non trẻ, đời bối cảnh trình độ phát triển nói chung cịn
thấp đặc biệt tình phải thường xuyên sẵn sàng đối phó với
công đàn áp nhà Hậu Hán, cống hiến triều đình Trưng Nữ Vương với ý nghĩa
chính sách trị nước hiệu biến đối tích cực cụ thể diện mạo quốc gia tất
nhiên cịn khiêm nhượng.Tuy nhiên, công lao khơi dậy thổi bùng lên lửa quật
cường quyền Trưng Nữ Vương toàn thể cộng đồng người Việt ngàn đời bất
diệt Từ ánh sáng lửa thiêng liêng này, ý thức dân tộc phận xã hội
từng bước xây dựng củng cố, để sở dân tộc thực hình
thành Khác với nhiều khu vực giới, quy định riêng hoàn cảnh lịch
sử, dân tộc Việt Nam đợi đến thời cận đại bắt đầu hình thành, ngược lại
khai sinh từ sớm, từ thời kỳ đầu lịch sử dựng nước giữ nước Nhìn góc độ
rất đặc biệt này, cống hiến quyền Trưng Nữ Vương lại có thêm ý nghĩa khác
lớn lao Sách không dám lạm bàn đến vấn đế phương pháp luận sử học, chúng tới
chỉ xin nhấn mạnh thêm khía cạnh cụ thể rằng, từ nghiệp Hai Bà Trưng, ý
thức dân tộc phận xã hội bước đầu nâng cao, tảng đời
dân tộc dã xuất Nói theo sách nói Lê Ngơ Cát Phạm Đình Tối sự báo phục lại bá vương :
Ba năm gánh vác sơn hà,
(21)-
(1) Truyền thuyết dân gian nói hai chị em Trưng Trắc Trưng Nhị xưng Vương, tất thư tịch cổ nói có Trưng
Trắc xưng Vương.
(2) Cũng nhiều nhà nghiên cứu khác, đồng ý với ý kiến cho chữVương Hùng Vương thực đời sau tự ý thêm vào Việc thức xưng Vương bắt đầu có từ Thục Phán (An Dương Vương) mà thơi.
(3) Sách Nxb Đại học Trung học chuyên nghiêp ấn hành, Hà Nội 1983
(4) Lê Ngơ Cát - Phạm Đình Tối : ĐẠI NAM QUỐC SỬ DIỄN CA
(5) Dẫn lại tác giảLỊCH SỬ VIỆT NAM (tập 1) Sách dẫn, trang 266
(6) Lịch Đạo Nguyên (Trung Quốc) :THUỶ KINH CHÚ Quốc Học Cơ Bản Tùng Thư, Thương Vụ Ấn Thư Quán.
(7) ĐẠI NAM QUỐC SỬ DIỄN CA
6 KẾT CỤC CỦA MỘT CUỘC ĐỌ SỨC KHÔNG CÂN XỨNG
Mãi đến hai năm sau ngày đại bại thảm hại Thái Thú Tơ Định, triều đình Hán Quang Vũ
mới đủ bình tĩnh tâm để xua quân đàn áp Thực lúc giờ, nhà Hậu Hán
đang gặp phải số khó khăn, ví dụ :
- Những dậy liên tiếp nhân dân Trung Quốc Thanh Châu, Từ Châu, U Châu Kí Châu (bốn châu thuộc hai tỉnh Sơn Đông Hà Bắc Trung Quốc)
- Cuộc khởi binh lớn Lý Quảng cầm đầu vùng Hoãn Thành (nay thuộc tỉnh An Huy
Trung Quốc)
- Những đấu tranh nông dãn Trung Quốc Ích Châu (nay thuộc tỉnh Vân Nam
Trung Quốc)
Nhưng, chưa phải tất nguyên nhân, chưa phải tất nguyên
nhân sâu xa Điều bận tâm Hán Quang Vũ sức mạnh toàn thể nhân
dân Âu Lạc Hai Bà Trưng tập hợp lãnh đạo Nếu không cân nhắc kĩ, thất bại
công đàn áp Hai Bà Trưng (nếu xảy ra) dẫn đến loạt phản ứng dây
chuyền bất lợi cho quyền nhà Hậu Hán non trẻ1 Xuất phát từ thực tế này,
Hán Quang Vũ có hai định quan trọng Một xuống chiếu cho quyền địa
phương, quyền địa phương phía Nam Trung Quốc, giáp giới với Âu Lạc phải
tích cực "sắm sửa xe thuyền, sửa sang cầu đường để thơng miền khe núi tích trữ lương
thực" 2 Hai sai viên lão tướng đày dạn kinh nghiệm trận mạc, khét tiếng tàn bạo và thiện chiến Mã Viện làm tổng huy lực lượng gồm khoảng hai vạn tên đàn áp Lúc giờ, Mã Viện
tuy 58 tuổi cịn cường tráng Chính Mã Viện kẻ đàn áp đẫm máu khởi
binh nơng dân vùng Hỗn Thành Lý Quảng cầm đầu Mùa hè năm Nhâm Dần (tức năm
42) 3, cuộc đàn áp với quy mô lớn và quyết tâm cao triều đình Hán Quang Vũ bắt đầu : - Nắm quyến tổng huy quân Đông Hán Phục Ba Tướng Quân Mã Viện4
- Đệ Nhất Phó Tướng Phiêu Kị Tướng Qn Đồn Chí, trực tiếp trông coi đơn vị thuỷ
binh 5
- Đệ Nhị Phó Tướng Lưu Long6
Thư tịch cổ Trung Quốc7 cho hay, triều đình Hán Quang Vũ đã huy động đến 20.000 quân,
xe thuyền lớn nhỏ 2.000 đông đảo dân phu phục dịch Tất cánh quân thuỷ
của giặc tập trung Hợp Phố8để phối hợp hành quân tác chiến với Nhưng, giặc
chưa kịp tràn xuống Âu Lạc Phó Tướng Phiêu Kị Tướng Qn Đồn Chí chết9 Trước tình
huống đó, Mã Viện đành phải trực tiếp huy hai đạo quân thuỷ tiến thẳng vào khu vực Cổ
Loa vùng phụ cận So với quân số Hai Bà Trưng rõ ràng thực lực lượng
áp đảo Như nói 10, vào cuối thời nhà Tiền Hán, quận Giao Chỉ có 746.237 suất đinh, quận
Cửu Chân có 166.113 suất đinh quận Nhật Nam có 69.485 suất đinh, tổng cộng ba quận
(22)nghĩa giành quyền) trước sau cách khoảng thời gian ngắn, cho
nên, số suất đinh tăng lên không đáng kể Cứ giả dụ (dẫu thực tế khơng thể thế)
rằng tất suất đinh lính thử thách Trưng Nữ Vương cam go
Quân sĩ Trưng Nữ Vương có nghĩa đặc biệt có tinh thần chiến đấu cao,
nhưng kinh nghiệm chiến đấu non kém, tổ chức bước đầu sơ sài,
trang bị cịn q thơ sơ, trình độ võ nghệ thấp, cho nên, lực hiệu trận
mạc chưa thể sánh với đội quân quy đông đảo thiện chiến nhà Hậu Hán Mã Viện
cầm đầu Nói khác hơn, đọ sức hồn tồn khơng cân xứng
- (1) Nhà Hậu Hán (hay Đông Hán) thành lập năm 25, đến 15 năm.
(2) Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.
(3) Về thời điểm bắt đầu đàn áp này, thư tịch cổ Trung Quốc chép không đồng Ngay tác phẩm HẬU HÁN THƯ,
Phạm Việp tỏ bất Chúng dựa vào chi tiết Mã Viện phong làm Phục Ba Tướng Quân vào tháng năm 42 để viết trên.
(4) Mã Viện Hán Quang Vũ phong làm Phục Ba Tướng Quân Chức vụ quan trọng trước 150 năm (năm 112 TCN) có người triều đình Hán Vũ Đế (141 TCN - 87 TCN) phong Lộ Bác Đức.
(5) Đồn Chí kẻ với Mã Viện cầm quân đàn áp Lý Quảng giết hại sinh linh Hoãn Thành
(6) Lưu Long nguyên Thái Thú Nam Quận (vùng Hồ Bắc Trung Quốc ngày nay) phạm gian dối nên bị bãi chức, đến đây, ra làm quan Trước xuất quân, Lưu Long phong làm Trung Lang Tướng.
(7) Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ Sách dẫn.Lịch Đạo Nguyên (Trung Quốc) :THUỶ KINH CHÚ, Sách dẫn.
(8 Hợp Phố thuộc tỉnh Quảng Đông Trung Quốc.
(9) HẬU HÁN THƯnói Đồn Chí chết bệnh nhiên truyền thuyết dân gian đặc biệt theo thần tích đình Ngọc Lâm (đình thuộc
huyện n Dũng, tỉnh Bắc Giang) Thánh Thiên Công Chúa chủ động đem quân lên đánh phá giặc Hợp Phố, khiến cho Đồn Chí phải chống đỡ mệt mỏi Cuối lâm bệnh mà mất.
(10) Xin vui lòng tham khảo thêm tiểu mụca - Về trị, mục2 - Chính sách thống trị phong kiến Trung Quốc thuộc phần
củaChương thứ nhất
Từ kinh đô Mê Linh, Trưng Nữ Vương hạ lệnh cho đơng đảo qn sĩ ạt tiến thẳng
về vùng Cổ Loa 1 vùng hồ Lãng Bạc2để nghênh chiến với hi vọng chặn đứng công Mã Viện Và, trận ác chiến diễn khu vực Bấy mùa hè
nóng nực, thời tiết miền nhiệt đới khắc nghiệt góp phần gây cho qn Mã Viện khơng
những khó khăn Chính Mã Viện phải cơng khai thừa nhận :"Lúc ta
Lãng Bạc Tây Vu, giặc chưa bị tiêu diệt mà trời nước lụt, mây mù, khí độc
bốc lên ngùn ngụt, ngẩng đầu trơng lên thấy đến chim diều hâu bay phải rơi
xuống nước mà chết."3 Tuy gặp nhiều khó khăn nhờ có qn đơng và kinh nghiệm dồi Mã Viện đẩy lùi tất đợt công quân sĩ Hai Bà Tổn thất lực
lượng Trưng Nữ Vương nặng nề tình khơng cho phép Hai Bà kéo dài đối đầu đầy
bất lợi khu vực Cổ Loa - Lãng Bạc Trưng Nữ Vương định lui quân khu vực
Cấm Khê 4để tính kế tổ chức phịng ngự và chiến đấu lâu dài
Từ vùng Cổ Loa - Lãng Bạc, Tô Định nhân đà thắng thúc quân tiến gấp đến Cấm Khê Tại
đây, chúng vấp phải sức chống cự bền bỉ, ngoan cường lợi hại quân sĩ
Trưng Nữ Vương Tuy nhiên, chí lớn tâm cao quân sĩ Hai Bà không đủ để bù cho
thua thực lực, kết cục tất yếu đọ sức không cân xứng Mã Viện
thắng, Hai Bà Trưng anh dũng hi sinh chiến trường Về chết oanh liệt Hai Bà
Trưng, phần lớn tài liệu ta nói Hai Bà nhảy xuống sông tự tử :
Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo, Chị em thất phải liều với sơng 5
Các sử Trung Quốc (tất nhiên chép theo lối khoa trương thiến thắng chúng)
đều nói Hai Bà bị tướng giặc Mã Viện bắt sống bị chặt lấy đâu đưa kinh đô nhà
Hán Lạc Dương6 Truyền thuyết dân gian vùng Hà Tây, Vĩnh Phúc Phú Thọ kể Hai Bà “lên núi”, “xuống nước” “hoá” (những từ khác qua đời) vào ngày mồng
Tám tháng Ba năm Quý Mão (tức năm 43) 7 Tuy nhiên, dù tạ theo
cách sử sách (của ta Trung Quốc) xưa ghi chép hay truyền thuyết kể lại
chúng ta hồn tồn nói Hai Bà Trưng anh dũng hi sinh chiến trường Hai
(23)Hùng” Trong những lễ hội tưởng niệm Hai Bà Trưng nghĩa sĩ Hai Bà, hệ xưa
thường kiêng kị dùng vật dụng có màu đỏ cho màu máu, màu gợi nhớ nỗi
đau thương vô hạn dân tộc ta trước đàn áp dã man Mã Viện
- (1) Nay thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.
(2) Trước nhiều người nhầm tưởng Lãng Bạc Hồ Tây Theo chúng tơi Lãng Bạc vùng đất trũng, tương ứng với đất đai huyện phía Đơng nam Bắc Ninh, tiếp giáp với Hà Nội, Hưng Yên Hải Dương.
(3) Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán Tác giả xin thích thêm rằng, Tây Vu khu vực tương ứng với Từ Sơn Tiên Du tỉnh Bắc Ninh.
(4) Cấm Khê tương ứng với vùng thung lũng Suối Vàng chân núi Vua Bà (thuộc dãy Ba Vì) Vùng lưng dựa núi, mặt trông
ba dịng sơng lớn sơng Đà, sơng Hồng sơng Đáy, lại có đường hiểm thơng vào Cửu Chân Đây vùng đệm đồng Bắc Bộ với Trung
Bộ, thuận tiện cho việc tổ chức phịng ngự lâu dài
(5) Lê Ngơ Cát - Phạm Đình Tối : ĐẠI NAM QUỐC SỬ DIỄN CA
(6) Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán Tác giả xin dược thích thêm rằng,
thân HẬU HÁN THƯ chép không thống Ở phần Lưu Long truyện nói Lưu Long bắt dược Trưng Nhị cửa Cấm Khê ở phần Mã Viện truyện lại nói Mã Viện giết chết Trưng Trắc Trưng Nhị chặt đầu đưa Lạc Dương.
(7) Ở đền thờ Hai Bà Trưng xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây, lễ hội để tưởng niệm Hai Bà tổ chức vào ngày 8-3
nay, nước tổ chức tưởng niệm Hai Bà Trưng vào ngày Ở Đồng Nhân (Hà Nội) có đền thờ Hai Bà Trưng Lễ tắm tượng đền
được tổ chức vào ngày mồng tháng hàng năm Viện lẽ đền Đồng Nhân lịng Thủ Đơ nên có người đề nghị lấy ngày mồng tháng làm ngày tưởng niệm Hai Bà Trưng thức chung cho nước Tuy nhiên ý kiến khơng nhận đồng tình xã hội.
7 MN ĐỜI CỊN MÃI DANH THƠM
Sau đàn áp cách đẫm máu toàn lực lượng Hai Bà Trưng, tương truyền, Mã Viện
mượn cớ tịch thu vũ khí nhân dân để gom góp vật đồng làm giàu cho
mình làm thêm hai việc Một đúc ngựa theo mẫu mã Mã Viện vẽ
Truyền thuyết nói Mã Viện tên sành giống ngựa, cần nghe tiếng hí khơng
thơi đốn giống ngựa sinh vùng ngày chạy
bao nhiêu dặm Hai đúc trụ đồng, có khắc ghi cơng trạng lời
đe doạ xấc xược gồm vỏn vẹn có sáu chữ Hán (phiên âm) sau :“Đồng trụ chiết, Giao
chỉ diệt”(cột đồng mà gãy, Giao Chỉ nòi) Cũng tương truyền, người Giao Chỉ có
việc qua chỗ cắm cột đồng công khai bày tỏ thái độ phản kháng rõ ràng
bằng cách lấy đá ném vào Một người ném nhiều người ném, đời ném nhiễu đời ném,
cứ kéo dài mãi, kết cuối cột đồng với lời đe doạ ngạo mạn ngơng cuồng
của Mã Viện hồn tồn bị chơn vùi, khiến khơng cịn tìm thấy
Cột đồng Mã Viện vĩnh viễn bị chơn vùi lịng đất sâu, ngược lại, tiếng thơm
nghiệp cứu nước hai chị em Trưng Trắc Trưng Nhị tồn bất diệt với giang sơn yêu
quý
Những đại bút ngàn xưa trang trọng dùng lời hùng tráng,
tốt đẹp kiêu hãnh để viết đời nghiệp phi thường Hai Bà Trưng Dưới
đây vài trích lục đoạn đánh giá cụ thể rút từ sử xưa :
“Trưng Trắc, Trưng Nhị đàn bà, hô tiếng mà quận Cửu Chân, Nhật Nam Hợp Phố
cùng 65 thành Lĩnh Ngoại tề hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ trở bàn tay Xem đủ biết hình đất Việt ta đủ để dựng nghiệp bá vương” “Trong
khoảng 1000 năm, bọn đàn ông biết cúi đầu bó tay làm tơi tớ cho phương Bắc, há chẳng
xấu hổ với hai chị em họ Trưng đàn bà hay ? Ôi, gọi tự vứt bỏ vậy."1 "Họ Trưng giận Thái Thú nhà Hán bạo ngược, vung tay hô tiếng mà quốc thống nước ta cơ hồ khơi phục, khí khái anh hùng há có lúc dựng nước xưng vương đâu" "Đàn bà mà có đức hạnh kẻ sĩ, khí chất anh dũng khoảng trời đất khơng thân mà có thể Bọn đại trượng phu há chẳng nên ni dựng lấy khí phách thẳng đại ư" 2
“Hai Bà Trưng thuộc phái quần thoa, mà hăng hái tâm khởi nghĩa, làm chấn động triều đình nhà Hán Dẫu lực yếu không gặp thời thế, đủ để làm phấn
(24)làm mọi, thật mặt dày mày dạn đáng chết thẹn thay” 3
“Than ôi, hồng nhan trẻ đẹp xưa có người nghiệp bị chôn vùi, nhưng, từ Nữ
Oa làm việc động trời đến có Hai Bà Trưng mà thôi” 4
Trên khắp đất nước ta, đền thờ Hai Bà Trưng dựng lên nhiều nơi5, tên của Hai Bà
Trưng trân trọng đặt cho hàng loạt đường phố của.các thành phố, thị xã thị trấn
Ngay đất Trung Quốc, đền thờ Hai Bà Trưng dựng lên hậu duệ
người tham gia khởi nghĩa Hai Bà khởi xướng lãnh đạo. 6
Như toàn tiến trình giữ nước trường kì gian khổ, Hai Bà Trưng bậc nữ
danh tướng có cơng giương cao cờ chống chủ nghĩa bành trướng đại Hán Sự
nghiệp Hai Bà để lại dấu ấn sâu sắc tình cảm nhận thức lịch sử
chống xâm lăng anh dũng ngoan cường dân tộc ta, mở trang sử hào hùng
truyền thống “anh hùng - bất khuất - trung hậu - đảm đang” phụ nữ Việt Nam Chừng
hai câu kết vịnh ảnh O du kích nhỏ Tố Hữu cịn có ý nghĩa lời tổng kết
gọn gàng truyền thống đặc biệt :
Ra thế, to gan béo bụng, Anh hùng đâu phải mày râu -
(1) Lời bàn Bảng Nhãn Lê Văn Hưu, dẫn từĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 3, tờ 3-a) (2) Lời bàn Tiến Sĩ Ngô Sĩ Liên, dẫn từĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 3, tờ 3-b 4-a)
(3) Lời phê sử gia Quốc Sử Quán triều Nguyền, dẫn từKHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên, 2, tờ
12)
(4) Hoàng Giáp Ngơ Thì Sĩ : VIỆT SỬ TIÊU ÁN
(5) Chỉ tính riêng hai tỉnh Vĩnh Phúc Phú Thọ có tới 51 địa điểm thờ Hai Bà Trưng tướng lĩnh Hai Bà Tương tự thế,
tính riêng Hà Nội có tới 24 địa điểm thờ Hai Bà Trưng tướng lĩnh Hai Bà
(6) Ví dụMiếu Bà Trắc (tức miếu thờ bà Trưng Trắc) phía Nam hồ Động Đình (nay thuộc tỉnh Hồ Nam Trung Quốc).
Phụ lục 1
DANH SÁCH CÁC BẬC NỮ TƯỚNG CỦA HAI BÀ TRƯNG
Tiểu dẫn :Dưới danh sách bảy chục nữ tướng mà theo lời kể truyền thuyết dân
gian ghi chép số thần tích người sát cánh chiến đấu ngọn cờ Hai Bà Trưng Để có danh sách mang ý nghĩa tổng hợp bước đầu này, kết
nghiên cứu riêng mình, chúng tơi trân trọng đối chiếu với kết khảo sát
nhiều cá nhân, quan đơn vị khác Như trình bày trên, họ tên tước hiệu số
nữ tướng có giá trị để tham khảo thêm khơng phải thông tin thực chuẩn
xác Tên tất vị nữ tướng danh sách tổng hợp xếp theo thứ
tự vần chữ tiếng Việt đại.
01 Ả Huyền
02 Ả Chàng (Lê Ngọc Trinh)
03 Ả Lan
04 A Lã Nàng Dê
05 Ả Lự Đề Nương
06 Ả Long Nương
07 Ả Nang
08 Ả Nương
09 Bà Bỉ
10 Bà Bạo 11 Bà Dưỡng
12 Bà Liệt
(25)14 Bình Phu Nhân Nguyễn Thị 15 Cao Liên Nương
16 Cung Cai Đại Vương Hoàng Hậu
17 Diệu Tiên Phu Nhân
18 Đại Liệu 19 Đạm Nương 20 Đàm Ngọc Nga
21 Đào Phương Dung Công Chúa 22 Đinh Bạch Nương
23 Đinh Tiết Nương
24 Đỗ Thị Dung
25 Đức Bà Y
26 Hồ Hác
27 Hồ Đề ( Đào Nương Công Chúa )
28 Hồng Nương
29 Hồng Thiên Bảo
30 Hoàng Ả Các
31 Hoàng Phu Nhân Đào Thị
32 Hồng Tư Cực Nương Cơng Chúa
33 Lê Chân Cơng Chúa 34 Lê Thị Hoa
35 Loan Hồng 36 Nàng A 37 Nàng Nội 38 Nàng Nước
39 Nàng Quế 40 Nàng Quỳnh
41 Nàng Tía
42 Ngọc Loan Công Chúa
43 Ngọc Quang Công Chúa 44 Ngọc Trân Đào Hoa 45 Nguyễn Đào Nương
46 Nguyên Nga Phương Dung Công Chúa
47 Nguyệt Hoa Công Chúa
48 Nguyệt Đê
49 Nguyệt Nga Công Chúa (Trần Thị Nga)
50 Nguyệt Thai
51 Nha Tam Nương Công Chúa
52 Phật Nguyệt Công Chúa
53 Phạm Nguyệt Nga Công Chúa
54 Phương Anh Phu Nhân
55 Phùng Ả Tú
56 Quách A 57 Quốc Nương
58 Quý Loan
59 Sa Lăng
60 Tạ Thị Tần
61 Tạ Vĩnh Gia 62 Thanh Nương
63 Thánh Thiên Công Chúa 64 Thiều Hoa Công Chúa 65 Thương Cát
66 Thu Liên
(26)68 Tứ Hồng Nương
69 Trần Nang
70 Trần Thị Nguyệt
71 Trương Phương Dung Công Chúa
72 Vĩnh Hoa
73 Vĩnh Huy Công Chúa
74 Xà Nương Công Chúa
75 Xuân Nương
Phụ lục 2
TIỂU TRUYỆN VỀ MỘT SỐ TƯỚNG LĨNH XUẤT SẮC CỦA HAI BÀ TRƯNG
Tiểu dẫn :Ai nói rằng, người tài người có khả khơi dậy sử
dụng tất tài người khác Nếu lấy câu làm tiêu chí để xét thật
trong năm đầu Cơng ngun, Hai Bà Trưng người tài giỏi Hai Bà
Trưng vị tướng lĩnh sát cánh chiến đấu đầy hiệu bên cạnh Hai Bà Họ
các bậc đồng nghiệp trân trọng giới thiệu cơng trình khác Chúng tơi đánh giá
rất cao giá trị công trình Tuy nhiên, tác giả DANH TƯỚNG VIỆT NAM (Tập 4)
cũng muốn đứa tinh thần có diện mạo riêng, vậy, mạnh dạn thử
nghiệm viết phần Phụ lục theo cách riêng Sau nhiều năm cần mẫn tiến hành khảo sát thực tế, thu tập lượng truyền thuyết thần tích khơng nhỏ Và,
dưới phần phản ánh kết khảo sát riêng Như nói, phần phản
ánh "một cách làm riêng " chừng mực có ý nghĩa bổ sung không trái ngược
hay phản bác thành người trước Cuối cùng, danh sách Các tướng lĩnh xuất sắc
của Hai Bà Trưng trôn trọng giới thiệu xếp theo thứ tự vần chữ
tiếng Việt đại.
1 Ả Chàng (hay Ngọc Trinh Công Chúa)
Ngọc Trinh tức Lê Ngọc Trinh hay Ả Chàng Hai tên gọi đầu có lẽ người đời sau kính
cẩn đặt cho, tên gọi phổ biến Ả Chàng Theo thần tích đền Lũng
Ngoại (cũng tức đền Lũng Ngòi, thuộc xã Lũng Hồ, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc)
thì Ả Chàng em ruột Ả Chạ (cịn có tên khác Ngọc Thanh) Hai chị em tiếng xinh
đẹp khoẻ mạnh
Cha mẹ chẳng may nối qua đời sớm, Ả Chạ có nhan sắc người nên bị quan hộ
địa phương bắt làm thiếp sau chưa mất, Ả Chàng tức giận, tập hợp lực
lượng để chống quan lại nhà Hậu Hán Binh sĩ Tô Định qua khu vực Lũng Ngoại
cũng bị Ả Chàng bất ngờ công Giặc phải bao phen thất trận, lịng ốn ức chưa
biết đối phó cách
Khi tin Hai Bà Trưng phát động khởi nghĩa Hát Môn, Ả Chàng liền đem quân theo Nhờ
lập nhiều công lao nên sau dẹp yên Tô Định, Ả Chàng Trưng Nữ Vương phong làm
Công Chúa, chức Đại Tướng Khi Mã Viện đem quân sang đàn áp, Ả Chàng huy chiến
đấu dũng cảm Gò May (nay thuộc xã Lũng Hoà, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc)
Tương truyền, có lần hăng hái xơng trận gươm bị rơi, Ả Chàng liễn cởi dải
thắt lưng, cột đá vào đầu để làm vũ khí, vung lên đánh cho đám giặc đông phải hoảng sợ
mà bỏ chạy tán loạn Nhưng sức tàn lực kiệt, Ả Chàng đành phải nhảy xuống đầm sen lớn
Gò May mà tuẫn tiết Năm Ả Chàng 20 tuổi Nhân dân địa phương tôn tập đền
thờ Ả Chàng Lũng Ngoại nói
(27)Ả Nang tức Trần Nang Đầu Công nguyên, quan đô hộ nhà Hậu Hán Tô Định
quá tham lam tàn ác nên ai oán hận Nhiều khởi nghĩa bùng nổ, đó,
lớn mạnh khởi nghĩa Hai Bà Trưng Theo thần tích đền Tuyền Liệt (nay
thuộc huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc) lúc giờ, Ả Nang chồng Hùng Bảo tập hợp
được hai trăm người chia làm hai đội quân, tình nguyện chiến đấu cờ Hai
Bà Trưng Sau đánh đuổi Tô Định, Trưng Nữ Vương phong cho Hùng Bảo làm Hộ Quốc
Cơng cịn Ả Nang phong làm Công Chúa Hai người lại đất Tuyền Liệt tổ
chức khai hoang mở mang điền sản Lúc Mã Viện đem quân sang đàn áp, hai vợ chồng Hùng
Bảo Ả Nang nhận lệnh Trưng Nữ Vương, trực tiếp huy nhiều trận đánh lớn, gây cho giặc
nhiều tổn thất nặng nề Nhưng sau Trưng Nữ Vương thua trận Lãng Bạc, Hùng Bảo Ả
Nang phải chịu thất bại Hai vợ chồng anh dũng hi sinh khu vực cách Tuyền Liệt không
xa
3 Bát Nàn Công Chúa
Theo truyền thuyết dân gian vùng Phú Thọ Bát Nàn cịn có tên khác Thục Nương1, người
trang Phượng Lâu (nay xã Phượng Lâu, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ) Theo thần tích xã
Phượng Lâu Bát Nàn người tiếng nết na xinh đẹp Lớn lên, Bà gia đình hứa gả
cho chàng trai người trang Phượng Lâu
Thái Thú Tô Định nghe tiếng Bà, sai người tới hỏi Bà làm thiếp Bị từ chối, Tơ Đinh liền bí
mật giết chết cha Bà sai quân đến tận trang Phượng Lâu để bắt Bà cho Vì uất ức,
Bát Nàn chém chết nhiều quân sĩ Tô Định chạy trang Tiên La (nay thuộc
huyện Phong Châu) Ở đấy, nhờ ủng hộ nhân dân nên Bát Nàn tổ chức lực lượng
vùng dậy chống ách đô hộ nhà Hậu Hán
Năm 40, vừa phát động khởi nghĩa, nghe tin Bát Nàn người chí hướng với
lại có sẵn lực lượng tay Hai Bà Trưng liền cho người tới mời hợp sức Bát Nàn
đồng ý kể từ đó, Bà trải bao phen trực tiếp cầm quân tả xung hữu đột, đánh cho quân
đô hộ Hậu Hán thất điên bát đảo Nhờ có cơng lớn, Bà Trưng Nữ Vương phong Công Chúa,
chức Đại Tướng trao quyền huy quân tiên phong đóng trang Tiên La Khi Mã Viện
đem quân sang đàn áp, Bát Nàn chiến đấu anh dũng gây cho địch tổn thất lớn,
nhưng thua lẫn lực Bát Nàn buộc phải thua trận tuẫn tiết
trang Tiên la
4 Đào Nương Công Chúa
Đào Nương Công Chúa tức Đề Nương Công Chúa hay Hồ Đề, người trang Đông Cao (nay
thuộc xã Đông Cao, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc), sau di cư đến động Lão Mai (nay thuộc
huyện Mê Linh) Theo thần tích trang Đơng Cao Đào Nương người tiếng xinh đẹp
và võ nghệ cao cường, chưa đầy hai mươi tuổi phục lũ ngựa bất kham
bắt sống voi trắng chéo ngà động Lão Mai
Nhân lịng ốn giận nhân dân quyền đô hộ nhà Hậu Hán, lại thù Tô Định giết
hại cha mình, Đào Nương rời trang Đông Cao đến cư ngụ động Lão Mai Tại đây, nhân
dân động Lão Mai vùng lân cận hết lòng ủng hộ, Đào Nương tập hợp lực lượng để
nhau đánh đuổi quân đô hộ Nghĩa quân Đào Nương đánh cho Tơ Định nhiều trận hiểm hóc,
khiến cho Tô Định căm tức
Đến năm 40, hưởng ứng lời kêu gọi Hai Bà Trưng Đào Nương đem quân theo Nhờ
giàu tài lòng dũng cảm thấy, Đào Nương Trưng Nữ Vương phong làm Đào
Nương Công Chúa trao chức Phó Ngun Sối Sau Trưng Nữ Vương qua đời, Đào Nương
(28)Công Chúa bí mật thăm mộ Trưng Nữ Vương, chẳng ngờ bị Mã Viện phát truy đuổi
riết Đào nương Cơng Chúa phóng ngựa chạy đến sồng Nguyệt Đức (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh)
rồi tuẫn tiết
5 Lê Chân Cơng Chúa
Theo ghi chép của thần tích đền Nghè ở An Biên (nay thuộc quận Lê Chân, thành phố Hải
Phịng) Lê Chân vốn q vùng thuộc huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Cha mẹ bị Tô
Định hãm hại nên Lê Chân phái uất hận bỏ xứ mà đến đất An Biên Chính Lê Chân người
đứng tổ chức khai hoang lập làng vào năm Bà 19 tuổi
Cũng An Biên, Lê Chân lập đội dân binh gồm đủ nam lẫn nữ Ngoài nhiệm vụ bảo vệ
cho dân làng, đội dân binh An Biên chủ động tổ chức trận công bất ngờ vào lực
lượng quân đô hộ Tô Định tức tối tỏ lúng túng kế sách đối phó Khi
Hai Bà Trưng khởi nghĩa, Lê Chân đem toàn quân sĩ theo Năm Bà 22
tuổi Quân giặc sợ tài thao lược Bà, chúng gọi Bà Đơng Hải Kình Ngư (con cá kình
biển Đông) Lê Chân nữ tướng xuất sắc Hai Bà Trưng, Trưng Nữ
Vương phong làm Lê Chân Công Chúa Và, hầu hết tướng lĩnh khác Hai Bà
Trưng, Lê Chân Công Chúa anh dũng hi sinh chiến đấu chống đàn áp tàn
khốc Mã Viện
-
(1) Truyền thuyết nói Bát Nàn có họ tên đầy đủ Vũ Thị Thục điều người đời sau tự ý thêm vào đầu Công nguyên, người Việt chưa có họ.
6 Lê Thị Hoa
Một lần nữa, họ tên đầy đủ vị nữ tướng có lẽ hậu (những người soạn thảo
thần tích) tự ý thêm vào Theo ghi chép của thần tích đền Thượng Linh (huyện Vụ Bản, tỉnh
Nam Định) Lê Thị Hoa sinh trưởng Năm 19 tuổi, Bà kết hôn với chàng niên
cùng quê, tiếng có tài, tên Mai Tiến Sau 11 năm chung sống với Mai Tiến, Bà sinh hạ
được tất bốn người trai, vậy, nhan sắc Bà mặn mịi Tơ Định biết liền
gọi chồng Bà tận Gia Lâm trao cho chức quan để dễ bề chiếm đoạt Bà Không thể từ chối được,
Mai Tiến buộc phải nhận chức đến nơi bị Tơ Định lập mưu đẩy vào chỗ phải phạm
tội bị giết Lê Thị Hoa liền dẫn người vào trú ngụ khu vực thôn Ngũ Kiện, xã
Nga Thiện, huyện Nga Sơn, anh Thanh Hóa Tại đây, Bà sức tổ chức khẩn hoang lập làng không ngừng chiêu mộ lực lượng để chờ hội trả thù cho chồng
Khi Bà tổ chức khẩn hoang khu vực thuộc Nga Sơn Hát Mơn, Hai Bà Trưng
chính thức phát động khởi nghĩa Cơ hội trả thù cho chồng đến, Bà liễn đem tồn lực lượng
của gồm 2.000 người Bắc hăng hái tham gia Sau đánh đuổi Tơ Định, Bà từ
chối hình thức khen thưởng Trưng Nữ Vương, xin trở lại với vùng Nga Sơn để tiếp tục
tổ chức khẩn hoang Năm 43, Mã Viện đem đại binh sang đàn áp Một lần nữa, Bà lại đem lực
lượng chống trả liệt Nhưng, thành nhỏ chẳng thể ngăn
bão lớn, nghĩa binh Bà phải chịu thất bại Bà anh dũng hi sinh Nga Sơn - quê
hương thứ hai Hiện nay, xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn có đền thờ Bà với đơi câu
đối phản ánh rõ lí tưởng Bà :
Thệ báo Tô cừu, Bắc khấu Nghĩa phù Trưng chủ, phục Nam bang.
(29)Thề trả mối thù với Tô Định, trừ khử giặc Bắc, Giữ nghĩa phị Trưng Vương, khơi phục nước Nam
7 Nái Sơn (hay An Bình Cơng Chúa)
Theo thần tích đền Liễn Sơn (nay thuộc huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc) Nái Sơn cịn có tên khác nàng Quý Loan Nàng vốn quê khu vực thuộc huyện Chí Linh (tỉnh Hải Dương),
sau di cư đến trang Tinh Luyện (nay thuộc huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc) Nái Sơn
tiếng xinh đẹp, nết na, hiểu biết nhiều khoẻ mạnh, lại giỏi võ nghệ
Nghe tin Hai Bà Trưng chiêu mộ lực lượng để chuẩn bị khởi nghĩa đánh đuổi quân đô hộ nhà
Hậu Hán, Nái Sơn hồ hởi vượt đường xa dặm dài tìm đến Mê Linh Tại đây, Nái Sơn dược Hai
Bà Trưng tiếp đãi ân cần sau kết nghĩa làm chị em Hai Bà giao cho Nái Sơn chiêu
dụ bậc hào kiệt tuyển mộ quân sĩ Tương truyền Nái Sơn mời gọi dược bốn bậc hào kiệt
và tuyển mộ 500 nghĩa dũng Trước khởi nghĩa, Hai Bà Trưng tin cậy trao cho Nái Sơn chức Nội Thị Tướng Quân, ngày đêm hầu cận Hai Bà Sau Tô Định bị nghĩa quân ta đánh
cho tan tác, Trưng Nữ Vương đứng tác hợp cho Nái Sơn với Đinh Tướng Quân nên vợ
nên chồng, tình chị em kết nghĩa Nái Sơn với Trưng Nữ Vương mà trở nên sâu
sắc Bấy giờ, Nái Sơn Trưng Nữ Vương phong làm An Bình Cơng Chúa
Lúc Mã Viện đem qn tới đàn áp, Nái Sơn sát cánh chiến đấu bên cạnh Trưng Nữ Vương
Lãng Bạc Cấm Khê tương truyền, Nái Sơn người chôn cất Trưng Nữ Vương trước
đến lượt tuẫn tiết nước Đến thờ Nái Sơn dựng lên hầu khắp địa phương Nái
Sơn sống chiến đấu
8 Nàng A (hay Khâu Ni Công Chúa)
Trong số tướng lĩnh Hai Bà Trưng, có nữ tướng đặc biệt, Nàng A - vị nữ
tướng vốn xuất thân nhà tu hành theo Phật giáo Theo thần tích đền Nhật Chiêu (nay
thuộc huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc) Nàng A vốn gái xinh đẹp chịu thương chịu
khó (theo tờ thần tích này, Nàng A có chép Quách A)
Bấy giờ, bọn tay sai nhà Hậu Hán định bắt Nàng A dâng nạp cho quan đô hộ để lấy thưởng, Nàng
A đành bỏ làng vào núi để tu, để tạm lánh bọn ác quỷ Từ đó, Nàng A có đạo hiệu Ni cô
Khâu Ni Nơi Ni cô Khâu Ni tu hành chùa Huyền Cổ Vào thời ấy, quân đô hộ thi
ức hiếp dân lành, chúng tàn ác chưa thấy, người người oán giận, đến bậc tu hành từ
bi Khâu Ni chịu đựng Khâu Ni liền bí mật tập hợp người giàu
lòng yêu nước tâm giết giặc để sẵn sàng chờ hội vùng lên
Được tin Hai Bà Trưng riết chuẩn bị lực lượng cho khởi nghĩa lớn, Khâu
Ni đem tồn lực lượng mắt Hai Bà Hai Bà Trưng vui mừng, liền
phong cho Khâu Ni làm Tả Tướng Và, Tả Tướng Khâu Ni vị tướng có
cơng lớn trận đánh định vào thành Luy Lâu (Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), khiến
cho tướng giặc Tô Định bị đại bại, phải vất bỏ ấn tín, cạo râu, cạo tóc mà tháo chạy Trung
Quốc Nhờ cơng lao này, Nàng Trưng Nữ Vương phong làm Khâu Ni Công Chúa cho
cai quản vùng đất tương ứng với Yên Lạc (Vĩnh Phúc)
Nhưng, sau ngày đại thắng chưa Khâu Ni Công Chúa lâm bệnh qua đời Để
khắc ghi công trạng ân đức Khâu Ni Công Chúa, nhân dân nhiều địa phương thuộc
tỉnh Vĩnh Phúc lập đền thờ Bà
(30)Theo thần tích đền Minh Nơng (cịn có tên gọi khác đền Kẻ Lú), xã Minh Phương, huyện Hạc
Trì (nay thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) Nàng Nội cháu gọi Thi Sách (chồng
Trưng Trắc) bàng ruột Vì căm giận ách thống trị tàn bạo quân đô hộ nhà Hậu Hán, thân
sinh Nàng Nội Thi Sách dự tính tổ chức nhân dân dậy đấu tranh, kế hoạch
bị bại lộ nên hai anh em bị Tô Định giết hại Để tránh trả thù, hai mẹ Nàng Nội
buộc phải tạm lánh sang phía hữu ngạn sơng Hồng Nhưng, đến chưa thân
mẫu Nàng Nội lo lắng buồn rầu nên qua đời
Khi nghe tin Hai Bà Trưng phát động khởi nghĩa, Nàng Nội hăm hở xin theo Nhờ dũng cảm,
mưu trí có tài tổ chức Nàng Nội nhanh chóng Hai Bà Trưng tin cậy, giao cho huy
lực lượng lớn Binh lính quyền huy Nàng Nội đánh thắng giặc nhiều trận lớn
ngay q hương mình, khiến chúng phải kính nể gọi Nàng Nội "Nữ thần Bạch Hạc” Dưới
thời Trưng Nữ Vương, Nàng Nội phong làm Nhập Nội Bạch Hạc Thuỷ Công Chúa
Trưng Nữ Vương tin cậy giao phó nhiều trọng trách khác triều đình Truyền thuyết
vùng Bạch Hạc kể Nàng Nội có vinh dự với Trưng Nhị huy việc xây
dựng nhiều thành luỹ khu vực Bạch Hạc
Khi Mã Viện đem quân sang đàn áp, Nàng Nội tướng huy quân đội Trưng Nữ Vương
khu vực Bạch Hạc Bà chiến đấu ngoan cường gây cho giặc nhiều tổn thất nặng nề
nhưng cuối đành phải chịu thất bại Bà anh dũng hi sinh Bạch Hạc lúc tuổi đời
mới vừa đôi mươi Để mãi tôn vinh ghi nhớ công đức to lớn Bà, nhân dân địa phương
đã lập đền thờ Bà Minh Nông
10 Nàng Nước (hay Trung Dũng Đại Tướng Quân)
Theo thần tích đền Hồng Xá (nay thuộc xã Kiêu Kị, huyện Gia Lâm, Hà Nội) Nàng Nước Ni cô, danh Đào Nương Đào Nương vốn quê làng Kiệt Đặc (nay thuộc huyện
Chí Linh, tỉnh Hải Dương) Vì Đào Nương chẳng may Nàng Nước vừa chào đời,
cho nên, Nàng Nước người phụ nữ tốt bụng làng Hồng Xá đem ni dưỡng Bà
chính người phụ nữ tìm thày truyền dạy cho Nàng Nước tinh thần thượng võ ý chí đánh
đuổi quân xâm lăng, giành lại độc lập cho đất ước Khi Nàng Nước vừa đến tuổi trưởng thành
mẹ ni qua đời Bấy giờ, đất nước điêu linh, dân tình khốn khổ, qn hộ nhà Hậu Hán
thì tác oai tác qi khắp nơi
Nhân lịng người ốn hận sục sôi, Nàng Nước kêu gọi nhân dân cầm vũ khí đánh đuổi quân
thù Khi Hai Bà Trưng phát động khởi nghĩa, Nàng Nước liền đem tồn lực lượng
hợp sức với Hai Bà để chống kẻ thù chung Nhờ can đảm mưu lược, Nàng Nước liên
tiếp lập nhiễu cơng lao, đó, quyền Trưng Nữ Vương phong làm Trung Dũng
Đại Tướng Quân
Khi Mã Viện đem đại binh tới đàn áp, Nàng Nước sát cánh chiến dấu liên tục bên cạnh Hai Bà
Trưng, có mặt trận ác chiến Lãng Bạc sau lại có mặt trận ác chiến thứ
hai Cấm Khê Cuối cùng, quân tan yếu Nàng Nước tuẫn tiết với Hai Bà Trưng
Cấm Khê
11 Nàng Quỳnh (hay Quỳnh Nương Công Chúa) Nàng Quế (hay Quế Nương Cơng
Chúa)
Theo thần tích Miếu Cây Quân Miếu Cây Sấu (nay thuộc huyện Chiêm Hố, tỉnh Tun Quang) Nàng Quỳnh Nàng Quế hai chị em sinh đôi, hai khoẻ mạnh xinh
đẹp Lúc mười tuổi, hai chị em giỏi cung kiếm
(31)Hán, ai chờ có hội thuận tiện để vùng dậy đánh đuổi quân thù Lúc
giờ, quê nhà Nàng Quỳnh Nàng Quế có khởi nghĩa nhỏ
người gái tên Nàng Xuân phát động lãnh đạo Cả hai nàng hăng hái tham gia
cuộc khởi nghĩa
Khi Hai Bà Trưng kêu gọi nhân dân đứng lên đánh đổ quyền Tơ Định, Nàng Xuân
với Nàng Quỳnh Nàng Quế hồ hởi dẫn quân theo Nàng Quỳnh Nàng Quế chiến đấu
rất gan dạ, lập nhiều công lao, Trưng Nữ Vương phong làm Cơng Chúa, Tiên Phong
Phó Tướng (Chánh Tướng lúc Công Chúa Thiều Hoa)
Lúc triều đình nhà Hậu Hán sai Phục Ba Tướng Quân Mã Viện đem đại binh sang đàn áp, với
Công Chúa Thiều Hoa, Nàng Quỳnh Nàng Quế Trưng Nữ Vương giao trách nhiệm
huy lực lượng quân sĩ đánh giặc khu vực Luy Lâu (nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc
Ninh)
Tại đây, cánh quân Nàng Quỳnh Nàng Quế chiến dấu ngoan cường liên tiếp
gây cho Mã Viện tổn thất to lớn Theo lời kể truyền thuyết dân gian sau đó,
Nàng Quỳnh Nàng Quế anh dũng hi sinh chưa rõ vị trí cụ thể
12 Nàng Trăng (hay Nguyệt Điện Công Chúa)
Theo ghi chép của thần tích đền Tây Cốc (nay thuộc huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ) Nàng
Trăng gái đẹp người đẹp nết, khoẻ mạnh linh lợi, võ nghệ cao cường
mưu, thiên hạ khó bì kịp Với người nghèo khổ bị ức hiếp, Nàng Trăng ln sẵn lịng che
chở, với kẻ bất nhân bạc ác, Nàng Trăng khơng dung tha Tuổi cịn trẻ
Nàng Trăng thực chỗ dựa tin cậy dân vùng rộng lớn (Trong tờ thần tích nói
trên, có chỗ chép Nàng Trăng Đàm Ngọc Nga Nhưng họ tên đầy đủ
hậu yêu kính mà tự ý đặt cho)
Bấy giờ, quan đô hộ nhà Hậu Hán Tô Định khét tiếng tham lam tàn bạo, dân khắp cõi
phải chịu cảnh lầm than, Nàng Trăng ngày đêm lo nghĩ cách cứu giúp dân lành Nàng tự
chiêu tập hai trăm tráng sĩ, nơi đâu có tiếng kêu oan nàng có mặt để
trừng trị kẻ ác
Được tin Hai Bà Trưng dựng cờ xướng nghĩa Hát Môn Nàng Trăng liền đem tất tráng sĩ
mình với Hai Bà Nàng Hai Bà tin cậy, phong làm Tiền Đạo Tả Tướng Quân, lại ban cho
hiệu Nguyệt Điện Nàng Trăng đội quân Nàng huy chiến đấu dũng cảm góp
phần to lớn vào thắng lợi chung khởi nghĩa Nhưng tiếc sau ngày đại thắng, Nàng
Trăng lâm bệnh qua đời Để bày tỏ lịng đặc biệt kính trọng thương tiếc không nguôi,
nhân dân địa phương thuộc hai tỉnh Vĩnh Phúc Phú Thọ xây dựng nhiều đền
thờ Nàng Trăng
13 Nàng Xuân (hay Đông Cung Công Chúa)
Theo thần tích đền Kẻ Xoan (nay thuộc tỉnh Phú Thọ) Nàng Xuân vốn gái Châu
Mục châu Đại Man Đất quê hương Bà huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang Bà người có
khi chất mạnh mẽ, giỏi võ nghệ cương trực người
Dưới ách đô hộ tàn bạo Thái Thú Tô Định, Bà người thành lập
dân binh kêu gọi nhân dân vùng dậy đấu tranh Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa, Nàng Xuân
đem tồn lực lượng (trong có hai nữ tướng xuất sắc Nàng Quỳnh Nàng Quế)
theo Nàng Xuân Hai Bà Trưng tin cậy, giao quyền huy lực lượng nghĩa binh đóng
ở khu vực tỉnh Phú Thọ ngày (Nhiều người cho rằng, kiêng kị chữ Xuân - tên Nàng
(32)Nhờ có nhiều công lao, Nàng Xuân Trưng Nữ Vương phong làm Đông Cung Công Chúa,
chức Nhập Nội Trưởng Quản Quân Cơ Trong trận ác chiến chống đàn áp tàn khốc quân
Mã Viện, Nàng Xuân anh dũng hi sinh khu vực thuộc tỉnh Phú Thọ
14 Ông Cai
Theo thần tích Miếu Mèn (ở làng Nam Nguyễn, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây - tức quê ngoại
Hai Bà Trưng) ơng Cai người đàn ơng mạnh khoẻ, có khí khái, giàu lịng yêu nước
và giỏi võ nghệ Cũng hầu hết người đương thời, ông căm giận quân đô hộ nhà Đông
Hán
Năm 40, nghe tin Hai Bà Trưng truyền hịch kêu gọi nước cầm vũ khí đứng dậy đánh đuổi
Tơ Định, ơng Cai hăng hái tham gia Chính ông tập hợp 300 trai tráng, lập thành
đơn vị có đội ngũ chỉnh tề Nhưng, tự tìm đến đại doanh Hai Bà để liên hệ
trước, thấy từ lãnh tụ đến tướng lĩnh cao cấp đông đảo quân sĩ đàn bà gái, thế,
ơng hạ lệnh cho tất nghĩa dũng phải hóa trang thành gái !
Đội quân ông Cai chiến đấu dũng cảm lập nhiều công lao, nhưng, phải
đến tồn thắng, ơng Cai khai rõ thật đến lúc giờ, Hai Bà Trưng biết
đội quân giả gái Mặc dầu vậy, Trưng Nữ Vương khen ngợi phong cho ông Cai đến
chức Đại Tướng Sau, ông Cai hi sinh chiến đấu chống lực lượng đàn áp Mã
Viện
15 Thánh Thiên Cơng Chúa
Thần tích đình Ngọc Lâm (nay đình thuộc huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang) cho hay :
Thánh Thiên Công Chúa cịn có biệt danh Nàng Chủ Nàng Chủ có cá tính mạnh mẽ
là người có uy, mười sáu tuổi, mồ côi cha lẫn mẹ, dân làng
nể phục, đồng lịng tơn Nàng làm Nữ Chủ tặng cho Nàng biệt danh Nàng Chủ
Bấy giờ, bọn đô hộ Hậu Hán tham tàn, ai căm tức trông chờ có hội vùng
lên diệt thù Hiểu ý nguyện dân, Nàng Chủ thành lập đội quân lớn truyền
hịch khởi nghĩa Quân đô hộ nhiều phen đến đàn áp (trong có lần đích thân Tơ Định
huy) tiêu diệt nghĩa quân Nàng, ngược lại, bị quân sĩ
Nàng đánh cho thất điên bát đảo Bấy giờ, vùng đất rộng lớn, đại thể tương ứng với
tỉnh Bắc Giang phần tỉnh Bắc Ninh ngày Nàng Chủ nắm quyền chi phối
Khi Hai Bà Trưng kêu gọi nhân dân nước vùng lên đánh đuổi Tô Định, Nàng Chủ đem lực
lượng theo về, Hai Bà Trưng mà nhanh chóng trở nên mạnh mẽ
Nàng Chủ Trưng Nữ Vương phong làm Thánh Thiên Công Chúa trao cho nhiều trọng
trách
Truyền thuyết kể rằng, Mã Viện đem đại binh nhà Hậu Hán sang đàn áp, Thánh Thiên
Cơng Chúa chủ động đem lực lượng tiến đến tận Hợp Phố để đánh chặn Mã Viện
thế chịu nhiều tổn thất Sau, Thánh Thiên Công Chúa anh dũng hi sinh chiến đấu
bảo vệ quyền Trưng Nữ Vương Hiện nay, Thánh Thiên Cơng Chúa thờ đình
Ngọc Lâm (Yên Dũng, Bắc Giang)
(33)Theo thần tích đền Hiền Quan (xã Hiền Quan, huyện Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ) Thiều Hoa
là người sinh trưởng sách Lăng Xương, trấn Hưng Hoá, sau chuyển đến định cư xã Hiền
Quan (Lăng Xương thuộc xã Trung Nghĩa, huyện Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ) Năm mười sáu
tuổi, Thiều Hoa mồ côi cha lẫn mẹ phải chịu cực khổ trăm bề, cơm chẳng no,
áo chẳng bạo lành 1 Ngay từ lúc còn trẻ, Thiếu Hoa đã nổi tiếng gan và rất có tài
săn Nhờ nhà sư tận tâm dạy nên chẳng bao lâu, Thiều Hoa giỏi võ nghệ,
chẳng đủ sức để tự vệ mà cịn có khả cứu giúp người khác Dân làng ai
cũng yêu quý Thiều Hoa
Khi Hai Bà Trưng kêu gọi nước vùng lên Thiều Hoa nhanh chóng tập hợp lực lượng sau
đó hăng hái đem năm trăm nghĩa sĩ theo Hai bà Trưng liễn phong cho Thiều
Hoa làm Tiên Phong Hữu Tướng giao trách nhiệm huy trận đánh định với giặc Luy
Lâu Thiều Hoa lập cơng lớn, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung, lẽ đó, Trưng Nữ Vương phong làm Đông Cung Công Chúa Sau, Thiều Hoa Công Chúa anh dũng hi sinh trận
ác chiến chống đàn áp Mã Viện
-
(1) Bởi lẽ này, đền thờ Thiều Hoa thường có rổ đựng vải vụn, ý muốn nhắc nhở thời gái khốn khổ Thiều Hoa.
III - TRIỆU THỊ TRINH - NỮ DANH TƯỚNG KIỆT XUẤT CỦA SỰ NGHIỆP ĐÁNH ĐUỔI QUÂN NGÔ
Đầu voi phất cờ vàng
Sơn thôn cõi chiến tràng xông pha Chông gai một sơn hà
Dù chiến tử còn hiển linh
(Đại Nam quốc sử diễn ca)
1 NHỮNG TRANG BI THƯƠNG MỚI CỦA LỊCH SỬ
Sau thất bại Trưng Nữ Vương, trả thù đẫm máu chưa thấy diễn
khắp cõi, đặc biệt khu vực quận Giao Chỉ Hàng vạn người bị giết bị bỏ đày viễn xứ
Chính sử Trung Quốc cơng khai thừa nhận tội ác :
- Chỉ tính riêng quận Cửu Chân, nơi cách xa trung tâm khởi nghĩa Hai Bà Trưng,
Mã Viện giết đến 5.000 người
- Hơn 300 tuỳ tướng Hai Bà Trưng bị Mã Viện bắt đày sang tận Linh Lăng1
Việc trả thù tàn bạo cịn kéo dài nhiều năm sau Khơng khí nghi kị chết chóc bao trùm
lên khắp miền đất nước Bấy giờ, nhà Hậu Hán tâm xoá dư âm quyền lực đội
ngũ quý tộc lạc cũ cách đưa người Trung Quốc sang nắm giữ quyền đến tận cấp
huyện bãi bỏ hoàn toàn quy định cũ việc dùng Lạc Tướng trông coi huyện Chế
độ trực trị hà khắc quan lại nhà Hậu Hán nhanh chóng thiết lập khẳng định Trong
điều kiện khó khăn chồng chất vậy, phong trào đấu tranh nhân dân địa phương
thuộc quận Giao Chỉ cũ buộc phải tạm thời lắng xuống, nhưng, thay vào trỗi dậy
mạnh mẽ phong trào khu vực phía Nam mà đặc biệt quận Nhật Nam Theo ghi
chép sử Trung Quốc2 tính riêng kỉ II, vùng Nhật Nam liên tiếp bị
chấn động dội vùng dậy có quy mô lớn sau :
(34)Chính quyền hộ nhà Hậu Hán phải huy động đông đảo quân sĩ quận huyện khác tới đàn áp lâu dập tắt
- Năm 136 : dân Tượng Lâm mà đông đảo người Chăm lại tề dậy, đánh cho
bọn quan lại đô hộ nhà Hậu Hán phen thất điên bát đảo
- Năm 137 : Một bạo động lớn nhân dân quận Nhật Nam nổ Nhiều quan lại đô
hộ nhà Hậu Hán bị giết chết, Thứ Sử Phàn Diễn phải huy động đến 10.000 quân đàn
áp liên tiếp năm trời Cuộc bạo động khiến cho triều đình Hán Thuận Đế
phải hốt hoảng3
- Năm 144 : ủng hộ nhân dân quận Cửu Chân, nhân dân quận Nhật Nam lại lên,
tấn công vào tất trị sở bọn đô hộ Một lần nữa, nhà Hậu Hán phải dùng nhiều thủ đoạn
xảo quyệt khác đè bẹp
- Năm 190 : Dưới lãnh đạo Khu Liên 4, dân vùng Tượng Lâm quận Nhật Nam (mà chủ
yếu người Chăm) tổ chức khởi nghĩa lớn Họ giết Thứ Sử nhà Hậu
Hán Chu Phù bọn quan lại nhà Hậu Hán huyện Năm 192, Khu Liên lên làm vua,
vương quốc người Chăm 5được dựng lên kể từ đó.
Như nói, từ kỉ II, tức kể từ thời trị Hán Hồn Đế (146 -167) trở đi,
sự nhà Hậu Hán ngày rối ren Sang thời Hán Linh Đế (168 -189), nguy sụp đổ hoàn
toàn nhà Hậu Hán thể ngày rõ Bọn hoạn quan bọn quyền thần (mà
đứng đầu Đống Trác) hoành hành Tháng 10-220, Hán Hiến Đế bị giết, nhà Hậu Hán
đến cáo chung Trung Quốc lâm vào thời kì hỗn chiến loạn lạc nghiêm trọng, sử
gọi thời Tam Quốc Đây thời tranh hùng liệt ba tập đoàn lớn :
1 Ngô tức Đông Ngô (222-280) : Tôn Quyền (tức Ngô Đại Đế) dựng lên Nước Ngô
của họ Tôn tồn trước sau tổng cộng 58 năm, truyền nối đời Lãnh thổ nước Ngơ
phía Đơng Nam Trung Quốc Kinh đô ban đầu nước Ngô Vĩnh Xương, sau chuyển
Kiến Nghiệp (nay Nam Kinh Trung Quốc)
2 Thục (221-263) : Lưu Bị (tức Thục Chiêu Liệt Đế) dựng lên với lãnh thổ chủ yếu vùng Tứ
Xuyên Trung Quốc ngày Kinh đô nước Thục Thành Đơ (ở phía Bắc Tứ Xun)
Nước Thục họ Lưu tồn trước sau tổng cộng 42 năm, truyền nối hai đời
3 Ngụy (220-265) : Tào Phi (tức Ngụy Văn Đế) dựng lên Lãnh thổ nước Ngụy toàn
khu vực rộng lớn phía Bắc Trung Quốc Kinh đô nước Ngụy Lạc Dương Nước Nguy
họ Tào tồn trước sau tổng cộng 45 năm, truyền nối đời
Trong số ba nước tranh hùng thời Tam Quốc, nhà Ngô thay nhà Hậu Hán đô hộ nước
ta Để có đủ sức người sức cung đốn cho hỗn chiến tàn khốc này, nhà Ngô tiến
hành bóc lột nhân dân ta tệ chưa thấy.Trong ngàn năm nước, không
triều đại phong kiến Trung Quốc để lại dấu ấn đô hộ tàn bạo đến mức khủng khiếp nhà
Ngô Cho nên tâm khảm bất diệt tất hệ nhân dân ta, nói đến giặc phương
Bắc căm giận mà gọi giặc Ngơ, hãn tràn sang
xâm lược nước ta, quốc hiệu chúng
Đối với đất Giao Châu đánh giá chung quyền nhà Ngơ "đất rộng, người đơng, hình
thế hiểm trở độc hại, dân xứ thường hay làm loạn, khó cai trị", cho nên, sách bao
trùm nhà Ngơ phải “dùng binh uy để ức hiếp" Bởi sách bao trùm này, nhà Ngô
bắt hàng ngàn đinh tráng nước ta, đem xích lại dẫn sang đất Ngơ để bắt làm lính chiến
Chính sử Trung Quốc phải thừa nhận : "Giặc Ngơ hình bạo ngược, thứ
(35)Thời bị nhà Ngô thống trị thời bi thương dân tộc ta, thời nhân dân ta bị thống trị khắc
nghiệt bị vơ vét tham tàn, thời kẻ thù thắng tay đàn áp cách đẫm máu, thời nặng nề
không khí chết chóc điêu linh Nhưng nhìn góc độ khác hơn, thời thuộc Ngơ
là thời tầng lớp nhân dân ta anh dũng vùng lên, thời ngân vang khúc tráng ca đánh giặc cứu nước
Trong lịch sử đấu tranh chống ách đô hộ giành độc lập cho nước nhà, đỉnh cao
kỉ I khu vực Giao Chỉ đỉnh cao kỉ II vùng Nhật Nam, đỉnh cao kỉ III lại
là quận Cửu Chân Thực ra, từ cuối kỉ II, nhân dân Cửu Chân phối hợp
chặt chẽ với nhân dân Nhật Nam đấu tranh chống ách thống tri nhà Hậu Hán
Chính họ góp phần khơng nhỏ vào q trình tạo lập nên vương quốc người Chăm (năm
192) Tuy nhiên, chói lọi kỉ III khởi nghĩa trung tâm quận Cửu Chân
Triệu Thị Trinh phát động lãnh đạo
-
(1) Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.
(2) Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.
(3) Hán Thuận Đế (125- 144) Hoàng Đế thứ nhà Hậu Hán Theo ghi chép Phạm Việp (Trung Quốc) HẬU HÁN THƯ giờ,
Hán Thuận Đế phải triệu tất Công, Khanh trăm quan họp để bàn kế sách ứng phó Nhiều người đề nghị phải huy động 40.000 quân tinh nhuệ đàn áp mong bình định được, Đại Tướng Lý Cố đưa lí khơng nên đem đại quân đi, theo Lý Cố "Nay Nhật Nam quân ít, lương cạn, giữ chẳng mà đánh chẳng xong", cho nên, tốt phải dùng kể kết hợp dụ dỗ,
mua chuộc với li gián “Phải chiêu mộ dân Man làm lính để chúng tự đánh lẫn Ta nên chở vàng lụa tới cấp cho chúng Kẻ làm kế
phản gián, lấy đầu giặc nên phong cho tước Hầu cắt đất mà thưởng cho" Rốt cuộc, Hán Thuận Đế nghe theo kế hoạch hiểm độc Lý Cố.
(4) Trong thư tịch cổ, Khu Liên có chép Khu Quỳ, Khu Đạt hay Khu Vương Có lẽ tương tự Hùng Vương lịch sử người Việt Khu Liên tên người mà phiên âm Hán Việt từkurung (trong số ngơn ngữ có vùng Đơng Nam
Á, kurung có nghĩa tộc trưởng hay người đứng đầu) Về lên gọi vương quốc Khu Liên lập nên, thư tịch cổ Trung Quốc chép Lâm
Ấp.Lịch Đạo Nguyên (Trung Quốc) trongTHUỶ KINH CHÚ giải thích Lâm Ấp Tượng Lâm, sau bỏ chữTượngđi mà gọi Lâm
Ấp Tuy nhiên, có ý kiến cho hai chữ Lâm Ấp phiên âm tên tộc người, tộc Krom hay Prum - tộc người chủ yếu
bộ lạc Dừa.
(5) Trong cộng đồng 54 dân lộc anh em Việt Nam, có dân tộc Chăm với nhóm (đó : Chăm Bà-la-môn, Chăm Ba-ni, Chăm Islam và Chăm Hơ-roi) mà địa bàn cư trú chủ yếu vùng Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây
Ninh An Giang
(6) Trần Thọ (Trung Quốc) :TAM QUỐC CHÍ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.
2 HUYỀN THOẠI VỀ TUỔI TRẺ CỦA TRIỆU THỊ TRINH
Khác với Hai Bà Trưng, Triệu Thị Trinh thuộc hệ người có họ - họ Triệu Triệu Thị
Trinh (cịn có tên gọi khác Triệu Trinh Nương, Nàng Trinh Bà Triệu) sinh
trưởng làng Cẩm Trướng, huyện Quân Yên (cũng tức huyện Quan Yên), quận Cửu Chân
Vào thời nhà Nguyễn, làng Cẩm Trướng thuộc xã Cẩm Trướng (cịn có tên khác xã Cẩm Cầu)
huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hố Ngày nay, làng thuộc xã Định Cơng, huyện Yên Định, tỉnh
Thanh Hoá Theo truyền thuyết Bà sinh ngày 2-10-226 Quê hương Bà Triệu
quê hương hai anh em Khương Công Phụ Khương Cơng Phục , người có công
khai mạch đại khoa Nho học cho Thanh Hố nói riêng nước nói chung 1 Bà Triệu năm 248, 22 tuổi Triệu Thị Trinh em gái Huyện Lệnh Triệu Quốc Đạt, cha mẹ chẳng
may qua đời sớm nên Triệu Thị Trinh với anh trai Trước dựng cờ khởi nghĩa Bà Triệu có
đến ba tiếng
Một tiếng xinh đẹp, một vẻ đẹp kiêu sa thánh thiện Đương thời ai thấy Triệu Trinh Nương xinh đẹp, nói :"Đẹp làm vợ quan để trở bà bà nọ, ấm thân đời chứ" Nhưng Triệu Trinh Nương
chẳng khơng thèm làm vợ quan mà cịn khảng khái để lại cho đời câu nói đầy khí
anh hùng : "Tơi muốn cưỡi gió mạnh, đạp sóng dữ, chém cá tràng kình ngồi biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, cởi ách nô lệ cho nhân dân không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta"2 Tuy nhiên, thư tịch cổ Trung Quốc (và một số thư tịch cổ ta đã chép lại mà không cân nhắc) dung nhan Bà Triệu mơ tả có phần khác Điều
(36)Hai là, tiếng can đảm mưu trí người Truyền thuyết dân gian kể rằng, vùng
Cẩm Trướng hồi có voi trắng ngà dữ, lại phá hoại mùa
màng, ai phải sợ Để trừ mối hại cho dân, Bà Triệu rủ chúng bạn vây bắt voi
trắng ngà Bà lùa voi xuống vùng đầm lầy dũng cảm nhảy lên đầu voi, sau kiên
nhẫn tìm cách khuất phục Con voi trắng ngà khét tiếng rốt phải
ngoan ngoãn theo lời Bà sau trở thành người bạn chiến đấu thân cận trung thành Bà
Ba tiếng thẳng thắn không dung tha kẻ xấu Truyền thuyết dân gian
Bà Triệu vùng Thanh Hoá kể rằng, chị dâu Bà Triệu (vợ Triệu Quốc Đạt) người phụ
nữ lăng loàn 3, bởi vậy, Bà Triệu tức giận, giết chết chị dâu riêng tại rừng Bồ Điền,
khu rừng sau đổi rừng Phú Điền (nay thuộc làng Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc,
tỉnh Thanh Hố)4 Đây nơi Bà Triệu tụ họp nghĩa quân phát động chiến
đấu một với quyền hộ nhà Ngơ
Khi Bà Triệu bước vào tuổi xuân hỗn chiến Tam Quốc (Ngô, Thục Ngụy)
đang hồi liệt Để giữ vững tương quan lực với hai nước lại, đặc biệt
để tạo may làm thay đổi cục diện theo hướng ngày có lợi cho mình, nhà Ngơ
đã tìm đủ cách để vơ vét sức người sức vùng đất mà chúng nắm quyền
cai trị Mâu thuẫn xã hội bên toàn thể nhân dân Âu Lạc bị nước bị thống trị tàn
bạo với bên quyền đô hộ nhà Ngô ngày trở nên gay gắt Nhân lòng căm
phẫn nhân dân nhân hội trung tâm phong trào đấu tranh chống nhà Hán
chuyển dịch dần Cửu Chân, từ đất quê hương mình, Bà Triệu phát động lãnh đạo
một khởi nghĩa lớn
-
(1) Cả hai anh em Khương Công Phụ Khương Công Phục đỗ Tiên Sĩ thời Đường Đức Tông (779- 805) Hai anh em sang Trung Quốc, dốc chí học tập thi đỗ Tiến Sĩ Đây hai người Việt đỗ Tiến Sĩ đầu tiên, đỗ giáo dục thi cử Nho học nước ta chưa khai sinh.
(2) Truyền thuyết Bà Triệu vùng Thanh Hoá ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ (Thanh Hố tỉnh - tập hạ) chép tương tự.
(3) Cũng có truyền thuyết nói rằng, chị dâu Bà Triệu kẻ phản bội mật báo cho quân Ngô biết kế hoạch chuẩn bị khởi nghĩa
của hai anh em Triệu Quốc Đạt Triệu Thị Trinh Triệu Quốc Đạt bị giết Triệu Thị Trinh Trước đến Phú Điền, Triệu Thị Trinh giết chết chị dâu để cảnh cáo tất kẻ ni lịng phản trắc.
(4) Bởi lẽ nhiều người lầm tưởng sinh quán Bà Triệu Đó chưa nói rằng, huyện Ninh Hoá (cũng tức Yên Hoá) huyện Gia
Viễn, tỉnh Ninh Bình có đền thờ Bà Triệu nên thư tịch cổ có lúc nhầm tưởng quê hương Bà Triệu.
3 VUNG GƯƠM RA TRẬN
Truyền thuyết dân gian vùng huyện Hậu Lộc (tỉnh Thanh Hố) có chuyện Núi đá biết nói
độc đáo, theo vào đêm vắng nọ, triền đá núi Tùng Phú Điền có
tiếng dõng dạc cất lên :
Có Bà Triệu tướng,
Vâng mệnh trời ta.
Trị voi ngà, Dựng cờ mở nước.
Lệnh truyền sau trước,
Theo gót Bà Vương.
Người người nghe lời ấy, tin đá núi Tùng biết nói Lời đá núi
coi lời sấm ngôn, lời thiêng liêng chuyển tải mệnh trời, Bà Triệu Thiên Tướng giáng trần,
là người tay huy trăm họ vùng dậy cứu nước cứu dân Bởi niềm tin sâu sắc ấy, nhân
dân khắp nơi nườm nượp kéo theo với Bà Triệu Núi Tùng từ trở thành nơi tụ nghĩa
và đến sau thiên hạ vỡ lẽ rằng, trước thức phát động khởi nghĩa, Bà Triệu bí mật sai người thân tín leo lên núi Tùng, khoét đá thành hang nhân đêm tối, nấp kín
trong hang đá mà đọc thật to câu sấm ngơn nói 1 Đặt bối cảnh chung thời cổ
(37)bí nhằm tập hợp cố kết lực lượng điều thường thấy Cách làm Bà Triệu
một thông lệ thường thấy Tất nhiên, mưu tạo kiện đầy vẻ
huyền bí, dù hồn hảo đầy sức thuyết phục đến đâu thay cho q trình
xây dựng uy tín tự thân hồn tồn có thật Bà Triệu Nhân dân khắp cõi đương thời đến với
Bà Triệu trước hết chủ yếu uy tín tự thân hồn tồn có thật Bà
Phần lớn thư tịch cố nói tồn cơng lao chuẩn bị phát động lãnh đạo
cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ nhà Ngô vào năm 248 Bà Triệu, nhưng, có vài
truyền thuyết dân gian số thư tịch cổ lại nói Bà Triệu thực người kế tục
nghiệp dở dang anh trai Bà - Huyện Lệnh Triệu Quốc Đạt Tài liệu thư tịch, ghi chép điều
này rõ có lẽ Quốc Sử Qn triều Nguyễn Theo :"Khi ta nội thuộc nhà Ngô, các quan Thú mục phần nhiều lo bóc lột, dân khơng chịu nổi, (Triệu) Quốc Đạt
liền binh chống lại Được lâu, ơng mất, dân chúng thấy Bà người có tướng tài, tơn Bà
làm Chúa để cầm cự với quân Ngô." 2 Song, cứ lời kể hầu hết truyền thuyết dân gian thì
rất Triệu Quốc Đạt khơng phải người khởi xướng ông người ủng hộ
một cách đắc lực đầy hiệu tinh thần lẫn vật chất cho em gái chiến
đấu chống quân Ngô Và, ông qua đời trước khởi nghĩa phát triển đến đỉnh cao
Năm 248, từ chân núi Tùng khu vực Phú Điền (nay thuộc xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh
Thanh Hoá), Bà Triệu hạ lệnh xuất quân, loạt công liệt vào lị sở quân
Ngô quận Cửu Chân Đời truyền : "Bà Triệu trận, chân guốc ngà, đầu đội nón ngà,
lưng thắt dải lụa, ngực che yếm vàng, cưỡi bành voi, dáng mạo thật oai phong lẫm liệt."3 Bà Triệu nghĩa sĩ đồng lịng tơn làm Nhụy Kiều Tướng Quân 4 Và thề cùng Bà chiến đấu đến với quân Ngô
Nghe tin Bà Triệu dựng cờ xướng nghĩa đông đảo nhân dân khắp địa phương mà trước
hết quận Cửu Chân nô nức xin theo Đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ sức lực tài
nghệ có cao thấp khác tất lòng đánh giặc cứu nước Lực lượng
nghĩa quân Bà Triệu mà phát triển nhanh Ca dao Thanh Hố có câu :
Ru con, ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành voi Muôn coi lên núi mà coi, Coi Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng.
Túi gấm cho lẫn túi hồng,.
Têm trầu cánh kiến cho chồng quân.
Khu vực núi Tùng nhanh chóng trở thành đại doanh nghĩa quân Bà Triệu Dưới chân
núi Tùng thung lũng nhỏ, bao bọc dải núi đá vôi thấp Đây cửa ngõ phía Bắc
của đồng Thanh Hố, lại nằm gần biển nên có vị trí thuận tiện cho phòng thủ lẫn
lúc tổ chức phản công Hiện thung lũng nhỏ chân núi Tùng cịn có địa danh :
- Đồng Vườn Hoa(đại doanh Bà Triệu)
- Đồng Xoắn Ốc (một thành kiên cố huy nghĩa quân)
- Đồng Lăng Chúa (nơi có mộ Bà Triệu)
Sát bên núi Tùng núi Chung Chinh, dấu tích cịn lại nơi mờ nhạt
nhưng người ta cịn sơ hình dung vị trí bảy đồn luỹ cổ mà nhân dân địa
phương cho lực lượng nghĩa quân Bà Triệu xây dựng nên Tại bảy đồn luỹ cổ này, đời truyền
rằng Bà Triệu trực tiếp huy ba chục trận ác chiến với giặc Ngơ Đây
một địa phương truyền tụng nhiều truyền thuyết Bà Triệu Trước Bà
Triệu phát lệnh khởi nghĩa, kẻ đứng đầu quyền hộ nhà Ngô nước ta Thứ Sử Lữ
(38)mưu kế vỗ về", tin cậy đánh giá cao, nên phong cho Lữ Đại làm Trấn Nam Tướng
Quân, tước Phiên Ngung Hầu5 Nhưng, guồng máy thống trị Lữ Đại cầm dầu chẳng làm
dược ngồi tàn ác Lữ Đại trở thành kẻ thù không đội trời chung tầng lớp nhân dân
ta, thành đối tượng tiêu diệt Bà Triệu
Bởi thực lo sợ, giặc dã tung toàn lực lượng ạt đánh mạnh vào quận Cửu Chân với hi
vọng nhanh chóng đè bẹp nghĩa quân Bà Triệu, dù cố mình,
chúng khơng thể thực dược điều Để chia rẽ nghĩa quân, giặc xảo quyệt
phong cho Bà Triệu đến chức Lệ Hải Bà Vương (nữ vương xinh đẹp vùng ven biển), song, Bà không chút xao động Để mua chuộc Bà Triệu, giặc bí mật sai tay chân thân tín tới gặp
hứa cung cấp cho Bà thật nhiều tiền bạc, song, Bà chẳng chút tơ hào Sau nửa năm
trời trực tiếp đối địch nửa năm trời liên tiếp chịu nhiều thất bại đau đớn, nghe
tới việc phải đàn áp Bà Triệu binh lính giặc lại lo lắng đến bạt vía kinh hồn Bởi vậy, đương
thời có thơ :
Hoành qua đương hổ dị,
Đối diện Bà Vương nan.
Nghĩa :
Vung gươm đánh cọp xem dễ,
Đối mặt Bà Vương khó sao.
Bùng lên trước hết chủ yếu khu vực quận Cửu Chân ảnh hưởng mạnh mẽ
to lớn khởi nghĩa Bà Triệu lại nhanh chóng lan rộng khắp Giao Châu,
sử Trung Quốc thừa nhận : "Cả Giao Châu chấn động"6 Bấy giờ, triều đình Ngơ
Đại Đế lấy việc Giao Châu làm mối lo hàng đầu Một kế hoạch đàn áp có quy mơ lớn,
quyết tâm bình định Giao Châu gấp rút xây dựng.Thử thách nghĩa quân Bà Triệu
thế mà trở nên cam go
-
(1) Truyền thuyết có lẽ người đời sau hư cấu nên, cốt để cắt nghĩa nhân dân khắp nơi lại nơ nức tụ họp với với Bà Triệu nhanh
đông Thực tế Bà Vương hay Lệ Hải Bà Vương tước hiệu mà nhà Ngô dùng để mua chuộc Bà Triệu sau nhiều lên đàn áp bất thành chứ có thời kì Bà Triệu cịn chuẩn bị khởi nghĩa.
(2) ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ (Thanh Hoá tỉnh Tập hạ) Tác giả xin thích thêm quan Thú mục tức quan lại đứng đầu địa phương cấp quận.
(3) Truyền thuyết dân gian Bà Triệu vùng Thanh Hố
(4) Cũng có tài liệu nói tên gọi Nhuỵ Kiều Tướng Quân (vị nữ tướng quân đẹp yêu kiều) quan Ngô đặt cho Bà Triệu, nhưng, số
tài liệu chiếm tỉ lệ ít.
(5) Dẫn ý từ ghi chép ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 3-b) (6) Trần Thọ (Trung Quốc) : TAM QUỐC CHÍ (Ngơ chí).
4 NGÀN NĂM, THANH KIẾM DÀI CÙNG MẶT TRỜI SÁNG MÃI
Xin mượn lời dịch câu thơ chữ Hán Thiên thu trường kiếm nhật quang1làm tiêu đề
cho đoạn kết phần viết Bà Triệu - người phụ nữ lập nên huân nghiệp lịch sử
nước nhà Mặt Trời Mặt Trăng còn, giang sơn dân tộc cịn tên tuổi bất khuất
và gươm đúc chí đại định Bà Triệu toả sáng
Nhưng, trước bàn đoạn kết đời Bà Triệu, có lẽ cần trở lại với thực
trạng nhà Ngô chiến đấu khu vực núi Tùng kỉ III Bấy giờ, nguy sụp
đổ hồn tồn quyền hộ xuất ngày rõ điều xảy ra, nhà Ngơ
thật khó tồn trước công hai kẻ thù Thục Ngụy Xuất phát từ
nhận thức Ngơ Đại Đế buộc phải điều viên tướng thuộc hàng lừng danh đàn
(39)Binh qua trải nhiêu ngày, Mới sai Lục Dân sang thay phiên thần 2
Lục Dận cháu tướng Lục Tốn - viên lão tướng Ngô Đại Đế tin cậy Trước lên
đường, Lục Dận dược Ngô Đại Đế phong làm Thứ Sử Giao Châu, hàm An Nam Hiệu Uý Nhà Ngô
giao cho Lục Dận 8.000 quân nhiều tuỳ tướng trải thử thách nhiều lần xuất trận
khác Đó cố gắng cuối cùng, cố gắng cao chúng Đến Giao Châu, Lục
Dận quyền thống lãnh tất lực lượng qn Ngơ có mặt từ trước tham gia
những đàn áp nghĩa quân Bà Triệu Đến Giao Châu, Lục Dận có hai định hệ
trọng Một tiếp tục thực mưu đồ mua chuộc, đối tượng Bà Triệu
mà đội ngũ tì tướng, người huy đơn vị nhỏ lực lượng bà Triệu Lục Dận
đã lập luận rằng, chúng mua chuộc người tài cao đức trọng
như Bà Triệu Nhưng, Bà Triệu trở nên hùng mạnh chung quanh Bà quyền Bà
cịn có biết người khác mà nhìn chung khả nhận thức chưa thể sánh với Bà Mua chuộc người chặt đứt dần vây cánh Bà Triệu
đẩy Bà Triệu vào cơ, đến đó, Bà Triệu khơng cịn đối thủ đáng sợ Đời truyền rằng,
bởi thủ đoạn xảo quyệt này, Lục Dận khuất phục hàng trăm tì tướng Bà Triệu
ngót năm vạn dân Hai bình tĩnh bí mật cho quân thám để điều tra cho mặt
mạnh mặt yếu Bà Triệu, tức theo tinh thần lời dạy binh pháp Trung Quốc cổ
:"Tri bỉ, tri kỉ, bách chiến bách thắng" (biết người, biết ta, trăm trận trăm thắng) 3 Và, sờ
những tin tức mà chúng cất công thu lượm được, kết luận cuối Lục Dận Bà Triệu
là "ái khiết, ơ" (thích sẽ, lịch lãm nhã nhặn, ghét bẩn thỉu, vô lễ khiếm nhã)
Từ kết luận cuối này, Lục Dận tổ chức đàn áp theo kiểu nham nhở chưa thấy Sử cũ
chép :"Lục Dận dị biết đặc tính Bà Triệu ưa ghét bẩn thỉu, bên nghĩ
một kế cho hạ lệnh xuất quân Khi Bà Triệu cưỡi voi vung gươm trận thấy tất qn Ngơ trần truồng mà cầm giáo xơng thẳng phía Bà, chẳng khác lũ điên cuồng
rồ dại Bà Triệu thẹn chín người, căm tức Bà đành phải lui quân
ngọn núi khác khu vực Bồ Điền Sau, Bà hoá Năm Bà 23 tuổi "4
Nói khác hơn, theo lời ghi chép Bà Triệu thua trận giữ duyên
đằm thắm, hiền thục nết na người gái, giặc Ngô thắng tiếng xấu
nham nhở cịn với muôn đời Tiếng xấu trở nên nặng nề sau đó, để thoả
lịng căm giận, giặc khơng ngừng tìm cách bơi nhọ Bà Triệu Chúng gọi Bà Triệu là Triệu Ẩu Trong tiếng Việt cổ, nếu Dạ từ dùng để người phụ nữ lớn tuổi mà kính trọng,
ngược lại, Ẩu từ dùng để người gái trẻ tuổi mà bị coi thường
Trong nhiều thư tịch cổ Trung Quốc (và sau vài thư tịch cổ ta chép
lại), Bà Triệu có chân dung khác thường : "Tiếng nói nghe tiếng chng lớn, thân
cao chín thước, vú dài ba thước, lưng rộng mười ôm, ngày nhanh 500 dặm"5
Thực ra, tổng số huyền thoại người phụ nữ có lực hành trạng khác thường
trong kho tàng văn học dân gian khơng phải ít, truy tận nguyên tất
cả huyễn thoại góp phần chứng tỏ bất lực hoàn toàn giai cấp thống trị tàn
bạo trước sức mạnh phản kháng liệt xã hội người phụ nữ cầm đầu
Huyền thoại li kì Bà Triệu có lẽ nằm xu hướng phản ánh tận nguyên rõ
ràng
Trái với ghi chép thư tịch cổ, chân dung Bà Triệu tình cảm nồng hậu hệ
nhân dân ta thể qua truyền thuyết dân gian, có vẻ đẹp thánh thiện mà thật
đoan trang, thuỳ mị với người dũng mãnh với kẻ thù thật xứng đáng với
vinh hiệu Nhụy Kiều Tướng Quân Lúc giờ, dù xuất phát điểm qn Ngơ có chứa chất
lừa mị xảo quyệt đến mức độ chúng hoàn toàn
định sử dụng mĩ hiệu Lệ Hải đặt trước tước vị Bà Vương để phong cho Bà
(40)về tổng thể rõ ràng Quốc Sử Quán triều Nguyễn hoàn tồn có lí hạ bút viết Lời phê
rằng : "Con gái nước ta có nhiều người hùng dũng lạ thường Bà Triệu Ẩu thật xứng người sánh
vai với Hai Bà Trưng Xem há có phải Trung Quốc có đàn bà danh tiếng
chuyện Thành Phu Nhân Nương Tử Quân mà Bắc sử chép đâu Nhưng, nói vú dài ba
thước thật quái gở đáng buồn cười lắm."6
Ở khu vực núi Tùng, mộ Bà Triệu đời nối đời trân trọng gìn giữ, đền thờ Bà Triệu
đã gần hai chục kỉ qua nghi ngút khói hương Tên tuổi nghiệp Bà Triệu trở
nên bất diệt với vạn cổ thử giang sơn (muôn đời sông núi này) 7 mãi toả sáng sử sách kí ức hệ nhân dân yêu nước :
Tùng sơn nắng quyện mây trời,
Dấu chân Bà Triệu rạng ngời sử xanh.
-
(1) Nguyên tác Hán văn tác giả VỊNH SỬ
(2) Lê Ngơ Cát - Phạm Đình Tối : ĐẠI NAM QUỐC SỬ DIỄN CA Tác giả xin thích thêm : thay phiên thần thay quan đô hộ,
chỉ việc Ngô Đại Đế cách chức Thứ Sử Giao Châu Lữ Đại mà trao chức cho Lục Dận.
(3) Tôn Tử (Trung Quốc) :TÔN TỬ BINH PHÁP (4)ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ (Thanh Hố tỉnh, Tập hạ).
(5) ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ (Thanh Hố tỉnh, Tập hạ).
(6) KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC(Tiền biên, 3, tờ 9) Tác giả xin thích thêm : Theo TỪ HẢI TỪ ĐIỂN (Trung Quốc) Thành Phu Nhân vinh hiệu dân khu vực thành Tương Dương đặt cho bà Hàn Thị thân mẫu tướng quân Chu
Tự, người Trung Quốc đời Tấn (265-420) Bà tự vạch kế hoạch trực tiếp huy thực việc tu bổ thành, giúp đánh lui dược tướng giặc Phù Phi, giữ vững thành Tương Dương.Nương Tử Qn vinh hiệu Cơng Chúa Bình Dương, gái Đường Cao Tổ (618
-626) Lúc Đường Cao Tổ khởi binh chống lại nhà Tuỳ, Bình Dương Cơng Chúa với chồng Sài Thiệu, chiêu mộ trực tiếp cầm quân giúp cha đánh đổ nhà Tuỳ Riêng bà thủ lĩnh vạn tinh binh Vì lẽ này, Bình Dương Công Chúa sử sách Trung Quốc tặng cho vinh hiệu
là Nương Tử Quân
(7) Chữ Trần Quang Khải cảm khái ông viết sau trận đại thắng quân Mông Nguyên xâm lược nước ta lần thứ hai (1285).
IV - DANH TƯỚNG LÝ BƠN - VỊ HỒNG ĐẾ ĐẦU TIÊN CỦA LỊCH SỬ, NGƯỜI KHAI SINH RA NƯỚC VẠN XUÂN
Cứu dân đã quyết lời thề
Văn thần võ tướng ứng kì đều ra Tiêu Tư nghe gió chạy xa
Đơng Tây mn dặm quan hà quét Vạn Xuân đặt quốc danh
Cải nguyên Thiên Đức, đô thành Long Biên
(Đại Nam quốc sử diễn ca)
1 TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC TỪ SAU THẤT BẠI CỦA BÀ TRIỆU ĐẾN GIỮA THẾ KỈ VI
Nhà Ngô đàn áp lực lượng nghĩa binh Bà Triệu sau đó,
nhà Ngô bắt đầu rối ren Năm 252 (tức năm sau Bà Triệu qua đời) Ngô Đại Đế
cũng mất1 Con út Ngô Đại Đế Tôn Lượng (tức Ngô Cối Kê) 2được lên nối
được năm bị phế Tơn Lượng phẫn chí mà tự tử Thay cho Tôn Lượng Tôn Hưu3 (tức
Ngô Cảnh Đế) Tôn Hưu bọn quyền thần mà cầm đầu Thừa
Tướng Tơn Sâm Đời trị thứ tư (cũng đời cuối nhà Ngô) - Ngô Mạt Đế - cịn
hư vị Nhà Ngơ tiếp tục tồn năm 280 nhà Ngơ mạnh mà
cả ba nước tham gia hỗn chiến Tam Quốc liệt đương thời hoàn toàn kiệt
quệ bị diệt vong 4 Nền thống Trung Quốc thời nhà Tấn thực
rất tạm bợ mong manh Nội chiến không bị dập tắt mà liên tiếp bùng
nổ dội khắp nơi, sử sách Trung Quốc gọi là thời Thập Lục Quốc 5, thời
(41)ách đô hộ triều đại phong kiến Trung Quốc nước ta có phần nới lởng Ở
sự nới lỏng quan đầu não bọn hộ triều đình trung ương trải hàng
loạt xung đột ác liệt triền miên không cịn đủ tiềm lực để hăng
trước
Để tránh loạn lạc tham tàn tập đoàn thống trị đương thời, người Trung Quốc
thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác tự tìm đường di cư đến nước ta ngày đông Qua
họ, tin tức bất ổn Trung Quốc (nhất là thời Thập Lục Quốc) dồn dập truyền đến
với bọn quan qn hộ điều góp phần quan trọng vào q trình thúc giục
chúng thực kế sách xoa dịu nhằm dễ bễ tiến hành việc xây dựng mưu đồ cát Một số nhà
sử học gọi là lực li tâm trị Các quyền hộ trước sau có khác
tất gặp ý định khơn khéo tìm cách tách dần khỏi triều đình trung ương để mặc
sức tự tung tự tác thủ lợi cho riêng thân Nói cách khác, chúng có phần nới tay khơng phải
vì chúng dưng trở nên nhân đức mà tự xét thấy có lí chủ quan khiến
chúng chưa cần thiết (và chưa thể) xiết chặt Tuy tất phần
cội nguồn lắng dịu tạm thời phong trào đấu tranh giành độc lập từ sau thất bại
Bà Triệu (năm 248) gần kỉ VI có lẽ Nhưng, quân cướp nước
cũng quân cướp nước số hồn cảnh đặc biệt đó, chúng tạm thời từ
bỏ số tham vọng định đó, ngoại trừ sách vơ vét cải thẳng tay đàn áp
mọi phản kháng Đó lí chủ yếu sâu xa dẫn đến bột phát số
phong trào đấu tranh đương thời
Bấy giờ, khắp ba quận Nhật Nam, Cửu Chân Giao Chỉ, vùng dậy nhân dân
vẫn tiếp tục nổ nhìn chung quy mô không lớn ảnh hưởng không mạnh mẽ
Đó chưa nói rằng, đặc trưng chống đối quyền phong kiến Trung Quốc hộ
trong giai đoạn lịch sử cụ thể phong phú đa dạng, việc nghiên cứu để xác định
cho thật tính chất phong trào dễ dàng Tuy nhiên, lần theo
những trang ghi chép thư tịch cổ, kể tên số khởi nghĩa tương đối
nổi bật sau :
Khởi nghĩa Lữ Hưng năm 262, chống ách đô hộ nhà Ngô Khởi nghĩa Triệu Chỉ năm 299 chống ách đô hộ nhà Tấn
Cuộc phản kháng Lương Thạc từ năm 317 đến năm 323 triều đình nhà Tấn
Cuộc cơng vào quyền hộ Giao Châu năm 411 huy Lư Tuần (vốn
là thủ lĩnh khởi nghĩa Trung Quốc, thua trận chạy sang Giao Châu) đông đảo
nhân dân Giao Châu ủng hộ
Cuộc công vào quyền hộ Giao Châu năm 412 huy Lư Kinh Đạo
(vốn thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân Trung Quốc, thua trận mà chạy sang Giao
Châu) nhân dân Giao Châu ủng hộ mạnh mẽ
Cuộc khởi nghĩa năm 468 Thứ Sử Giao Châu (người địa) Lý Trường Nhân
cầm đầu
Chi li ra, tiếp tục kể thêm số khởi nghĩa phong
trào đấu tranh khác, nói, tất có quy mơ nhỏ, phạm vi mức độ
ảnh hưởng chừng mực Điều đáng ý có lẽ đỉnh cao phong trào
đấu tranh giành độc lập có xu hướng chuyển dịch dần quận Giao Chỉ phía Bắc Đó
là tảng thuận lợi cho nảy sinh khởi nghĩa lớn Lý Bôn cầm đầu, nổ
vào kỉ VI
(42)(1) Ngô Đại Đế tên thật Tôn Quyền (182-252), Vương năm (221-228), ngơi Hồng Đế 23 năm (229-252), năm 252, hưởng thọ 70
tuổi.
(2) Tôn Lượng (243-260), lên lúc 11 tuổi, Vương năm (252-258), bị quyền thần Thừa Tướng Tơn Sâm phế truất, phẫn chí mà tự tử vào năm 260, hưởng dương 17 tuổi
(3) Tôn Hưu (235-264), trai thứ sáu Tôn Quyền anh ruột Tôn Lượng Tôn Hưu năm (258-264), năm 264, hưởng dương 29 tuổi.
(4) Nước Ngụy họ Tào thành lập năm 220, bị diệt vong vào năm 265 Nước Thục họ Lưu thành lập năm 221, bị diệt vong vào năm 263.
(5) Thời Thập Lục quốc thời tồn tranh giành 16 nước Gồm có : Tiền Triệu (304-329); Thành Hán (304-347); Tiền Lương
(314-376); Hậu Triệu (319-351); Tiền Yên (337-370); Tiền Tần (350-394); Hậu Tần (384-417); Hậu Yên (384-407); Tây Tần (385 -431); 10 Hậu Lương (386-403); 11 Nam Lương (397-414); 12 Nam Yên (398-410); 13 Tây Lương (400-421); 14 Hạ (407-431); 15 Bắc Yên (407-436); 16 Bắc Lương (401-439) Nói khác hơn, nhà Tấn nước lớn số nhiều nước Trung Quốc lúc mà thôi
(6) Cục diện Nam - Bắc Triều năm 420 kết thúc vào năm 581.Nam Triều gồm triều bốn dòng họ nối trị
họTống(của họ Lưu : 420-479), Tề (của họ Tiêu : 479-502),Lương (cũng họ Tiêu khác chi : 502-557) Trần (của họ Tơn : 557 -589) Bắc Triều gồm có tất triều năm dịng họ nối trị Cụ thể sau :Bắc Ngụy(của họ Thát-bạt : 386-534), Đông Ngụy (của
họ Nguyên : 534-550), Tây Ngụy (cũng họ Thát-bạt : 534-557), Bắc Tề (của họ Cao : 550-577) Bắc Chu (của họ Vũ : 557-581) Thời
Nam-Bắc Triều, triều Nam Triều (trừ triều Trần) đô hộ nước ta.
2 ĐƠI DỊNG VỀ TIỂU SỬ CỦA LÝ BƠN TRƯỚC NGÀY KHỞI NGHĨA
Tác phẩm lịch sử sử học Việt Nam chép Lý Bôn ĐẠI VIỆT SỬ LƯỢC1nhưng tác phẩm chép Lý Bơn vỏn vẹn có dịng sơ sài Lý Bôn chép Nguyễn
Bôn 2 Như cố gắng bù đắp đầy thiện chí và chân tình, tác giả bộĐẠI VIỆT SỬ
KÍ TỒN THƯ dành hẳn kỉ (Tiền Lý kỉ - kỉ nhà Tiền Lý) để chép Tiền Lý Nam Đế tức
Lý Bôn Về nguồn gốc xuất thân Lý Bôn, sách viết : "Hồng Đế họ Lý, h Bơn, người
Long Hưng, tổ tiên người Bắc, cuối thời Tây Hán khổ nạn đánh dẹp nên lánh sang đất
phương Nam, đời thành người Nam"3 Theo lời ghi chép Long Hưng quê
hương Lý Bôn, nhưng, Long Hưng thuộc vùng ? Điểm lại cơng trình
cơng bố, chúng tơi thấy có hai cách lí giải khác nhau, đó, có cách lí giải hồn tồn
sai Hai cách khác :
- Cách thứ nhất cho Long Hưng tên phủ, dựa theo ghi chép của VIỆT ĐIỆN U
LINH 4 một số nhà nghiên cứu nói rõ thêm rằng quê Lý Bơn thuộc huyện Thái Bình, phủ Long
Hưng, từ suy ra, quê hương Lý Bơn thuộc tỉnh Thái Bình Những người giải thích theo
cách dựa vào khác, hai làng Tử Các Các Đơng (huyện Thái Thuỵ, tỉnh
Thái Bình) 5 có lập đền thờ Lý Bơn Xin nói cách giải thích này hồn tồn sai huyện Thái Bình xưa khơng phải tỉnh Thái Bình ngày Vả chăng, hai làng Tử Các Các Đông
hai làng lập, đất hai làng thời Lý Bơn biển, khơng thể có dân nên khơng thể nói q Lý Bơn
- Cách thứ hai vào câu ghi chép trong GIẢ ĐẠM KÍ : "Từ An Nam (Tống
Bình - Hà Nội) qua Giao Chỉ (Từ Liêm- Hồi Đức), Thái Bình, 100 dặm đến Phong
Châu" những người chủ xướng khẳng định "Vậy, Thái Bình thuộc đất Sơn Tây cũ" 6 Về
bản, đồng ý với cách lí giải thứ hai, nhiên, xin bổ sung thêm số tư liệu mà
chúng tơi khai thác Theo chúng tơi thời Bắc thuộc, việc dựa vào thư tịch cổ
Trung Quốc để xem xét vấn đề cần thiết, tinh thần đó,
chúng tơi xin giới thiệu thêm số tư liệu địa lí học lịch sử có nguồn gốc từ thư tịch cổ
Trung Quốc Việt Nam sau :
- VIỆT ĐIỆN U LINH viết Lý Bơn q Thái Bình (Thái Bình nhân) khơng viết
ở huyện Thái Bình (Thái Bình huyện nhân) lời lí giải hai cách nói trên Trong TÂN
ĐƯỜNG THƯ, Âu Dương Tu Tống Kỳ (Trung Quốc) có nói đến thành cũ có tên
thành Thái Bình, theo thành nằm địa phận huyện Phong Khê Huyện
được thành lập vào đầu Công nguyên, sở chia đặt lại huyện Tây Vu7 Như là thành cũ
Thái Bình địa phận huyện Phong Khê (mới tách từ huyện Tây Vu) khác hẳn với Thái
Bình tên số 10 huyện quận Giao Chỉ thời thuộc Hán8 Sau phân tích thêm ghi chép số thư tịch cổ Trung Quốc, cho rằng, đất đai huyện Thái Bình xưa
(43)- Sau Ngơ Quyền (năm 944), quyền trung ương họ Ngô bị khủng hoảng nghiêm
trọng, lực địa phương nhân lên khắp nơi, đất nước lâm vào cảnh nội chiến loạn li
chưa thấy Bấy giờ, nước có 12 Sứ quân (sử gọi loạn 12 Sứ quân) số 12
Sứ quân Nguyễn Khoan Sứ quân Nguyễn Khoan xưng Nguyễn Thái Bình nhiều nhà
nghiên cứu cho rằng, Thái Bình tên thành cũ Thái Bình nói Xưa, việc
lấy tên quê làm hiệu cho tượng phổ biến Nay xã Minh Tân, huyện Mê Linh,
tỉnh Vĩnh Phúc9 vẫn còn đền thờ Sứ quân Nguyễn Khoan Ắt hẳn Sứ quân Nguyễn Khoan
đúng Thái Bình nhân, tức đồng hương với Lý Bôn Thực ra, Sứ quân
Nguyễn Khoan thờ làng Vĩnh Mỗ (nay thuộc xã Cao Xá, huyện Phong Châu, tỉnh Phú
Thọ) khu chủ yếu Sứ quân Nguyễn Khoan quê hương
của ông
-
(1) Cũng tức VIỆT SỬ LƯỢC - tác phẩm khuyết danh Xin vui lòng tham khảo dịch củaNguyễn Gia Tườngdo Nguyễn Khắc Thuần hiệu đính viết lời bạt Nxb Tp Hồ Chí Minh 1992.
(2) Do viết vào thời Trần nên ĐẠI VIỆT SỬ LƯỢC nhiều tác phẩm đương thời khác tuân theo điền lệ riêng nhà Trần đổi
tất người họ Lý thành họ Nguyễn.
(3) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, Tiền Lý kỉ, 4, tờ 14-b) Tác giả xin thích thêm vấn đề Một để phân biệt với nhân
vật Lý Phật Tử người lợi dụng hôn nhân để lật đổ quyền Triệu Việt Vương (tức Triệu Quang Phục) giành quyền đứng đầu nhà nước
Vạn Xuân cuối kỉ VI, thư tịch cổ thường gọi Lý Bôn Tiền Lý Nam Đế Lý Phật Tử Hậu Lý Nam Đế Hai Hán tự, chữBơn đọc Bí, Lý Bơn nhiều người đọc Lý Bí Ba khái niệm người Bắc dùng để người Trung Quốc, người Nam
người Việt Bốn thời Tây Hán năm 206 TCN chấm dứt vào năm 08, tồn trước sau tổng cộng 214 năm với 13 đời nối trị (4) Triệu Việt Vương Lý Nam Đế truyện (truyện Triệu Việt Vương Lý Nam Đế) Tác phẩm coi Lý Tế Xuyên Về vấn đề
này, xin vui lòng tham khảo thêm Nguyễn Khắc Thuần - ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ VĂN HOÁ VIỆT NAM (tập 1), Nxb Giáo dục 2004.
(5) Theo ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ(Nam Định tỉnh) vào thời Nguyễn xã Hậu Tái (huyện Thư Trì) xã Tử Đường (huyện Thụy
Anh)
(6) Phan Huy Lê- Trần Quốc Vượng-Hà Văn Tấn-Lương Ninh : LỊCH SỬ VIỆT NAM, tập 1, Nxb Đại học Trung học chuyên nghiệp Hà Nội 1983 Trang 404-405
(7) Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ (Mã Viện truyện) chép rằng, Mã Viện tâu xin triều đình Hán Quang Vũ (25-57) chia đất
huyện Tây Vu làm hai huyện Vọng Hải Phong Khê (8 Phạm Việp (Trung Quốc) :HẬU HÁN THƯ Sách dẫn.
(9) Xã thời Nguyễn thuộc làng Vĩnh Mộ, huyện Vĩnh Lạc, trấn Sơn Tây.
Nói dịng họ Lý Bơn"được đời thành người Nam" có đến ba thực tế đáng lưu ý Một
chưa thấy tài liệu nói Lý Bơn nhận người phương Bắc Hai thư tịch cổ
của Trung Quốc 1đều gọi Lý Bôn là“Giao Châu thổ nhân"(người đất Giao Châu) là “Giao
Châu thổ hào" (hào trưởng đất Giao Châu) Và thứ ba, quan trọng chỗ Lý Bôn
cống hiến tất đời nghiệp cho chiến đấu một cịn độc
lập tự chủ nước Nam Đầu mùa xuân năm 544, thân việc ông xưng Lý Nam Đế
đã tự chứng tỏ rõ điều
Thời Lý Bơn thời tập đồn phong kiến thống trị Trung Quốc sức xâu xé lẫn nhau, cục
diện Nam-Bắc Triềuđang giai đoạn liệt Bấy giờ, quyền Nam Triều trực
tiếp đô hộ nước ta nhà Lương (502-557) Lương Vũ Đế (502-549) 2chính cha đẻ của chế độ
sĩ tộc rất khắc nghiệt, theo dân khắp thiên hạ chia thành hai tầng lớp có địa vị
rất khác biệt Thứ danh gia vọng tộc - xếp vào tầng lớp thượng
lưu nắm quyền điều khiển vận mệnh xã hội Thứ hai hàn môn - gồm tất
người, giàu nghèo, biết gia tộc họ khơng có xếp vào hàng tiên
hiền Chế độ sĩ tộc loại bỏ người thực giàu tài khỏi guồng
máy nhà nước đương thời họ không thuộc tầng lớp danh gia vọng tộc Bản thân Lý Bôn dù
xuất thân hào trưởng có uy tín có ảnh hưởng xã hội lớn, tổ tiên bảy
đời trước lại người Trung Quốc, bị coi dân hàn môn nên bổ làm Giám Quân
ở châu Cửu Đức Bấy giờ, Giám Quân chức nhỏ, trông coi việc cấp phát lương ăn cho
quân đội châu Cửu Đức vùng Hà Tĩnh ngày 3, châu vừa xa lại vừa nhỏ, cho
nên, chức Giám Quân châu Cửu Đức sánh với chức Giám Quân châu khác
Chán nản với bất công căm ghét tàn bạo nhà Lương, Lý Bôn từ quan trở vế
quê nhà ông âm thầm chuẩn bị cho khởi nghĩa lớn
3 CHIÊU TẬP HÀO KIỆT BỐN PHƯƠNG
(44)quy tụ cho bậc anh hùng hào kiệt khắp thiên hạ Nhận thức cách
đầy đủ sâu sắc điều này, sau từ bỏ chức Giám Quân Cửu Đức trở nguyên
quán, Lý Bôn ngày đêm bí mật chiêu tập đấng anh tài ơng thành công Dưới
một vài nhân vật tiêu biểu :
- Triệu Quang Thành, Triệu Túc Triệu Quang Phục Theo truyền thuyết dân gian vùng Phú
Thọ Vĩnh Phúc Triệu Quang Thành anh Triệu Túc Triệu Túc thân sinh
Triệu Quang Phục Sử cũ cho biết :"Triệu Túc Tù Trưởng huyện Chu Diên” 4 Cả ba người
của gia đình họ Triệu đồng lịng sát cánh với Lý Bôn dựng cờ xướng nghĩa Về sau, nghiệp
của nhân vật Triệu Quang Thành chưa rõ hai cha Triệu Túc
nhờ lập nhiều công lao nên Triệu Túc Lý Bơn phong làm Thái Phó cịn Triệu Quang
Phục Phong tới chức Tả Tướng Quân
- Tinh Thiều người đồng hương Lý Bôn Sử cũ viết : “ Tinh Thiều giỏi từ chương, tự
mình tìm đến kinh (nhà Lương) ứng thí để xin làm quan Lại Bộ Thượng Thư nhà Lương
Sài Tốn cho họ Tinh trước chưa có hiển đạt nên bổ cho Tinh Thiều chức
Quảng Dương Môn Lang(người gác cổng Quảng Dương - NKT).Tinh Thiều lấy làm nhục, trở
về làng theo Hồng Đế (chỉ Lý Bơn - NKT) mưu việc dấy binh." 5 Tinh Thiều
chỗ dựa tin cậy Lý Bôn, sau, nhờ lập nhiều công lao, ông Lý Bôn phong tới
chức Thái Sư
- Phạm Tu : theo thần tích đền Thanh Liệt ơng người xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì (Hà
Nội), sinh năm 481, năm 545, hưởng thọ 64 tuổi Phạm Tu võ tướng xuất
sắc Lý Bôn Khi khởi nghĩa thành công, ông Lý Bôn phong làm Thái Uý với
Triệu Túc trơng coi việc binh
Có mặt bên cạnh Lý Bôn buổi đầu q trình chuẩn bị cịn có nhiễu bậc hào kiệt
khác, nhưng, tiêu biểu cả, gắn bó chặt chẽ lập nhiễu công lao
gương mặt tiêu biểu vừa kể Họ vừa bạn chiến đấu, vừa bề trung thành Lý
Bôn Cuộc đời nghiệp họ góp phần làm rạng rỡ trang sử ngoan cường bất
khuất dân tộc ta thời Bắc thuộc
-
(1) Ví dụ :Diêu Tư Liêm - LƯƠNG THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán;Diêu Tư Liêm - TRẦN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.
(2) Lương Vũ Đế (Hoàng Đế nhà Lương), tên thật Tiêu Diễn, sinh năm 464, năm 549, hưởng thọ 85 tuổi.
(3) Có lẽ sinh thời, Lý Bơn (tức Lý Bí) giữ chức Giám Qn nên dân Hà Tĩnh đến huý chữBí, họ thường gọi bí quả
bù (tức bầu), bí đỏ gọi quả bù rợ.
(4) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TOÀN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 15-a) Tác giả xin thích thêm : đất Chu Diên từ thời thuộc Lương đến thời
thuộc Tuỳ tương ứng với vùng Hải Dương Hưng Yên nay.
(5) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 15-a) Tác giả xin thích thêm rằng, kinh nhà Lương Kiến Khang,
thuộc thành phố Nam Kinh (tỉnh Giang Tô) Trung Quốc.
4 VÙNG LÊN KHUẤY NƯỚC CHỌC TRỜI
Bấy giờ, quan đô hộ cao nhà Lương nước ta (Thứ Sử Giao Châu) Tiêu Tư Do xuất
thân từ hoàng tộc nhà Lương1, Tiêu Tư cậy và sức ức hiếp dân lành Sử cũ ghi rõ : “Thứ Sử Giao Châu - Vũ Lâm Hầu Tiêu Tư - hà khắc tàn bạo nên để hết lòng
người” 2 Về khách quan, là một điều kiện thuận lợi, khiến Lý Bơn
triệt để tận dụng, nhanh chóng tập hợp lực lượng thực thành công kế hoạch khởi nghĩa
của
Sau thời gian âm thầm chuẩn bị công phu đặc biệt sau đông đảo
bậc anh hùng hào kiệt bốn phương dốc lòng ủng hộ, tháng chạp năm Tân Dậu (tức tháng
năm 542 tính theo dương lịch), từ q nhà mình, Lý Bơn khảng khái kêu gọi nước đồng
tâm hiệp lực đâu tranh chống ách đô hộ nhà Lương Lời kêu gọi Lý Bôn nhanh
(45)sử Trung Quốc chép : “Lý Bôn liên kết với hào kiệt châu làm phản"3 Tất nhiên,
qua lăng kính sử gia Trung Quốc Lý Bơn bị coi “làm phản", ngược lại, từ sâu thẳm
cõi lòng đầy ắp ngưỡng mộ hệ nhân dân yêu nước thực
vùng lên khuấy nước chọc trời Lý Bôn khởi xướng lãnh đạo
Chỉ vòng ba tháng (từ tháng đến tháng năm 542) toàn chính.quyền hộ nhà
Lương khắp Giao Châu bị sụp đổ Thứ Sử Giao Châu, tước Vũ Lâm Hầu Tiêu Tư vội vã
đem thật nhiều vàng bạc nạp cho Lý Bôn hoảng hốt chạy Việt Châu (phía bắc
Hợp Phố - Trung Quốc) Trị sở quyền hộ nhà Lương Long Biên nhanh chóng thuộc
về nghĩa quân Lý Bôn Sau lật nhào quyền hộ, nghĩa qn Lý Bơn cịn tiếp tục anh
dũng chiến đấu giành hai thắng lợi làm phía Bắc phía Nam
Chủ động đánh vào Hợp Phố, đập tan quân đàn áp nhà Lương
Được tin cấp báo Tiêu Tư, triều đình Lương Vũ Đế (502- 549) lo sợ phải đến
gần năm sau, Lương Vũ Đế lấy lại bình tĩnh để tổ chức phản công Một kế hoạch
điều binh khiển tướng có quy mơ lớn thơng qua, theo huy thực kế
hoạch gồm có :
- Thứ Sử Cao Châu Tôn Quýnh
- Thứ Sứ Tân Châu Lư Tử Hùng
Ngồi hai viên Thứ Sử Tơn Qnh Lư Tử Hùng nói trên, hai tơn thất khác nhà Lương
Tiêu Tư (Thứ Sử Giao Châu vừa thua trận chạy về) Tiêu Ánh (Thứ Sử Quảng Châu)
góp phần đắc lực vào q trình chuẩn bị Nhưng, Tơn Qnh Lư Tử Hùng sợ oai danh
của Lý Bôn nên dùng dằng không chịu xuất quân Cuối cùng, chịu
đựng thúc ép Tiêu Ánh nên Tôn Quýnh Lư Tử Hùng định đem đại binh
đàn áp Lý Bôn vào tháng năm 543
Giặc chần chờ lo lắng Lý Bơn lực lượng nghĩa sĩ ông lại chủ động dũng
cảm nhiêu Đầu năm 543, giặc chưa kịp khỏi lãnh thổ nhà Lương Lý Bơn bất
ngờ cho quân tràn lên, ạt đánh thẳng vào đại binh Tôn Quýnh Lư Tứ Hùng Hợp Phố
Ngay trận đọ sức này, Tôn Quýnh Lư Tử Hùng bị đại bại, quân sĩ “mười phần
chết đến bảy tám phần"4 Tôn Quýnh Lư Tử Hùng phải đem tàn quân tháo chạy Quảng
Châu Tiêu Tư nhân dâng sớ triều đình Lương Vũ Đế tâu bọn Tôn Quýnh Lư Tử
Hùng “ngầm liên hệ với giặc nên dùng dằng không dám tiến quân" 4 Lương Vũ Đế xuống
chiếu buộc Tôn Quýnh Lư Tử Hùng phải chết
Chủ động cho quân bất ngờ công ạt vào Hợp Phố định táo bạo Lý Bôn
Tự thân định phản ánh rõ nhạy bén Lý Bơn khả phân tích
đánh giá tình tiềm lực thực đối phương Cuộc công vào thẳng đất giặc
Hợp Phố chứng tỏ lực đốn sắc bén xác, niềm tự tin
mãnh liệt Lý Bôn Từ khói lửa hào quang chiến thắng công này,
tiễn lệ lịch sử có ý nghĩa thiết thực lớn lao hình thành Hơn năm kỉ sau (cuối năm
1075), trước dũng mãnh đem quân Đại Việt công vũ bão vào Châu Ung, Châu Khâm
và Châu Liêm (ba quân lớn nằm sâu lãnh thổ nhà Tống)5 rồi giành thắng lợi
rất vang dội đây, danh tướng Lý Thường Kiệt bao phen suy gẫm tiền lệ
rất tốt đẹp Nhờ thắng lợi công vào Hợp Phố, biên giới mặt Bắc kể
tạm n, Lý Bơn có thêm điều kiện thuận lợi để thực tiếp nhiệm vụ
-
(1) Trong thời Nam - Bắc Triều, họ Lương dịng họ lớn lực Đại diện dòng họ Tiêu Tiêu Đạo Thành (tức Tề Cao Đế : 479-482) thành lập Tề (479-502) - triều đại thứ hai Nam Triều Tuy trực hệ người khai sinh nhà
(46)(2) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 15-a) Trong LƯƠNG THƯ TRẦN THƯ (Súc Ấn Bách Nạp Thương Vụ ấn Thư Quán); Diêu Tư Liêm (Trung Quốc) viết tương tự vậy.
(3)Diêu Tư Liêm : LƯƠNG THƯ Súc Ấn Bách Nạp Thương Vụ Ấn Thư Quán
(4) Diêu Tư Liêm : LƯƠNG THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán.
(5) Về vấn đề này, xin vui lòng tham khảo thêm : Nguyễn Khắc Thuần - DANH TƯỚNG VIỆT NAM (Tập Nxb Giáo dục 1997 Sách
tái lần thứ bảy).
Quét sạch quân Champa xâm lấn phía Nam
Thành lập từ năm 192, đến đây, vương quốc người Chăm có lịch sử kéo dài gần
kỉ, với nhiều biến đổi lớn lao lãnh thổ, dân số lẫn quốc hiệu Lúc giờ, có
vài chuyển dịch định nhìn chung, biên giới cực Bắc Champa1là Hoành Sơn2
Điều đáng nói vương triều Champa thường cho quân vượt dãy Hoành Sơn để thực
những cướp bóc Tháng năm 543, nhân thấy quyền hộ nhà Lương sụp đổ cịn
chính quyền Lý Bơn chưa kịp định hình, Champa liền tổ chức cơng có
quy mơ lớn vào châu Cửu Đức 3 Trước tình hình đó, Lý Bơn liền cử tướng Phạm Tu đem quân vào Nam Chỉ trận chớp nhống, tồn lực lượng qn Champa bị Phạm Tu quét
sạch khỏi bờ cõi Trong thời gian lâu dài sau đó, Champa không dám đưa quân đến
quấy rối
Thắng lợi mặt trận phía Nam có ý nghĩa lớn lao Từ đây, hai mặt Bắc Nam
được tạm ổn Từ đây, độc lập tái lập Cũng từ đây, Lý Bôn người bạn chiến
đấu thân thiết ơng có đủ điều kiện thuận lợi để thành lập
chính quyền riêng
5 NƯỚC VẠN XUÂN
“Mùa xuân, tháng giêng, (Lý Bôn) nhân thắng giặc lên ngôi, xưng Nam Việt Đế, đặt
niên hiệu, lập bá quan, lấy quốc hiệu Vạn Xuân (ý mong cho xã tắc truyền đến muôn đời vậy)
Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội, lấy Triệu Túc làm Thái Phó, bọn Tinh Thiều Phạm Tu làm tướng văn, tướng võ” 4 Câu ghi chép của sử cũ ngắn gọn lại hàm chứa
những ý nghĩa lớn lao nội dung chưa có lịch sử Xin giải
thêm câu ghi chép ngắn ngủi sau :
- “Mùa xuân, tháng giêng” mùa xuân tháng giêng năm Giáp Tí, tức năm 544 Nếu tính
theo dương lịch tháng năm 544
- “Nam Việt Đế”, nghĩa Hoàng Đế Nam Việt Ở đây, Nam Việt quốc hiệu mà
chỉ cách nói hàm ý đối trọng với Bắc Đế (là Hoàng Đế phương Bắc mà cụ thể lúc
Lương Vũ Đế) Bản thânĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ trước viết Nam Việt Đếnhư vừa
trích dẫn viết rõ Lý Bôn xưng Lý Nam Đế (quyển 4, tờ 14-b) Với kiện
này, Lý Bôn người lịch sử nước ta xưng Đế Trong nhiều dịch
trong cách diễn đạt phổ biến nay, thường dùng chữ Vua nhưng thực khơng
phải lúc dùng chữ Vua được Với tất xưng Vương (như An
Dương Vương chẳng hạn) phải dịch là Vua cịn những xưng Đế phải dịch
là Hồng Đế Trong thực tế lịch sử Đế hoặcHồng Đế có vị trí cao hẳn Vương Vua
Hồng Đế có quyền phong cho nhiều người làm Vua, ngược lại Vua phải chịu chiếu
chỉ Hồng Đế khơng có quyền phong cho làm Hoàng Đế Lý Nam Đế danh
xưng kết tinh niềm kiêu hãnh niềm tự tôn mãnh liệt dân tộc ta Sự phân định rạch ròi
về phạm vi quyền lực Bắc Đế với Nam Đế vấn đề hệ trọng lịch
sử Chẳng phải ngẫu nhiên mà vào tháng năm 1077, lúc diễn biến trận chiến
chiến lược Như Nguyệt vào thời điểm gay go ác liệt nhất, Lý Thường Kiệt khảng khái
viết : Nam quốc sơn hà, Nam Đế cư (sơng núi nước Nam, Hồng Đế nước Nam ở) 5
- Quốc hiệu Vạn Xuân Lý Nam Đế đặt giản dị lại đồng thời chứa đựng
ba giá trị nhân văn sâu sắc Thứ nhất, quốc hiệu hoàn tồn mới, vừa thể ý chí xố
(47)trang sử cho đất nước Thứ hai, tự thân hai chữVạn Xuân đã kết tinh khát vọng thái
bình cháy bỏng tồn thể nhân dân ta - khát vọng đáng vậy, phải
được trân trọng Thứ ba, hai chữ Vạn Xuân có hàm chứa niềm tự tơn kín đáo
rất tế nhị, không xúc phạm tới dân tộc hay khối cộng đồng
-
(1) Theo tác giả củaLỊCH SỬ VIỆT NAM (Tập 1983 Sách dẫn), văn bia Sambhuvarman tài liệu ghi rõ quốc hiệu Champa nhưng lại không cho biết quốc hiệu bắt đầu sử dụng từ lúc Tuy nhiên, vào phổ hệ Phạm Vương đượcDiêu Tư Liêm (Trung Quốc) ghi trongLƯƠNG THƯ(sách dẫn) ước đốn quốc hiệu Champa xuất khoảng từ sau năm 541
đến trước năm 629 Ở sử dụng quốc hiệu Champa ước lệ, dùng để vương quốc người Chăm.
(2) Hoành Sơn (dãy núi nằm ngang) ranh giới tự nhiên hai tỉnh Quảng Bình Hà Tĩnhh Trên dãy Hồnh Sơn có Đèo Ngang, đèo từng Bà Huyện Thanh Quan nói đến thơQua Đèo Ngangrất tiếng Bà
(3) Châu Cửu Đức tương ứng với địa hạt tỉnh Hà Tĩnh.
(4) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 15-b)
(5) Câu này, tất sách giáo khoa xã hội xưa vốn quen sử dụng lời dịch : “Sông núi nước Nam, vua Nam ở”; xin
dịch lại cho : “Sông núi nước Nam, Nam Đế ở”
Cũng sau lên ngơi Hồng Đế, Lý Nam Đế đặt niên hiệu Thiên Đức1 Đây chi
tiết quan trọng thời có quan niệm riêng độc lập Xưa, nói tới độc lập
là nói đến ba yếu tố Một phải có khu vực lãnh thổ riêng mang tên gọi
riêng (tức quốc hiệu) hay chưa Hai khu vực lãnh thổ mang tên gọi riêng có Hồng
Đế hay chưa Và, ba Hoàng Đế niên hiệu hay chưa Lúc giờ, quốc hiệu ta Vạn
Xuân, Hoàng Đế ta Lý Nam Đế niên hiệu ta Thiên Đức Về niên hiệu,
xin nêu định nghĩa vắn tắt sau : Niên hiệu hiệu năm Hoàng Đế đặt
để người ta vào mà tính thời gian Mỗi Hồng Đế đặt từ đến nhiều niên hiệu
khác nhau Xưa, sử chép việc theo niên hiệu, tên năm theo âm lịch có ý nghĩa
phụ thêm, vậy, muốn tìm hiểu cổ học phải nắm vững hệ thống niên hiệu2 Ví dụ : thấy sử chép năm Hồng Đức thứ bảy thì phải hiểu năm 1476,
thấy chuông đúc vào năm Cảnh Hưng thứ mười phải hiểu năm
1749 Có niên hiệu riêng nghĩa ta có hẳn mạch tính thời gian riêng, biệt lập với phương
Bắc
- Về kinh đô nước Vạn Xuân,ĐẠI NAM QUỐC SỬ DIỄN CA khẳng định Long Biên Tại
đây, Lý Nam Đế cho xây ba cơng trình lớn, : đài Vạn Xuân, điện Vạn Thọ chùa Khai
Quốc Đài Vạn Xn khơng cịn sử gia Quốc Sử Quán Triều Nguyễn
từng có Lời chua rằng : "Theo sách THÁI BÌNH HỒN VŨ KÍcủa Nhạc Sử triều Tống
huyện Long Biên có đài Vạn Xuân Đài Lý Bôn Giao Chỉ xây năm Đại Đồng triều Lương
Nay xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì có hồ Vạn Xn, gọi đầm Vạn Phúc Vậy, đài Vạn
Xuân có lẽ đấy"3 Tương tự như đài Vạn Xuân, điện Vạn Thọ khơng cịn nữa, nhiên,
phần lớn nhà nghiên cứu cho điện Vạn Thọ toạ lạc khu vực gần cửa sông Tô Lịch
(tức thuộc phạm vi Thành phố Hà Nội ngày nay) Điện Vạn Thọ địa điểm làm việc
của triều đình Lý Nam Đế
Khác với đài Vạn Xuân điện Vạn Thọ, có trải nhiều lần trùng tu, tơn tạo chuyển dịch
nhưng chùa Khai Quốc ngày Chùa Khai Quốc lúc đầu xây thôn Yên Hoa
(nằm dọc theo đường Yên Phụ ngày nay) Dưới thời Lê Thái Tông (1433-1442), chùa Khai Quốc
được đổi tên chùa An Quốc Đến thời Lê Kính Tơng (1599-1619), chùa An Quốc lại đổi tên
là chùa Trấn Quốc Bấy giờ, chùa Trấn Quốc toạ lạc bên bãi sông Cái, nơi đất ln bị sạt
lở, dời gò Kim Ngư bên bờ Hồ Tây, tức vị trí
Gò Kim Ngư thắng cảnh bờ Hồ Tây có đầu liền với đường Thanh
Niên (quận Ba Đình, Hà Nội) Chùa Khai Quốc xưa (tức chùa Trấn Quốc nay) toạ lạc gị
Kim Ngư ngơi chùa tiếng nước Việc Lý Nam Đế cho xây chùa
Khai Quốc vừa lên tỏ rõ Phật giáo đương thời có vị trí quan trọng
trong đời sống tư tướng xã hội ta
-
(48)(2) Tất niên hiệu có lịch sử Việt Nam chúng tơi giới thiệu đầy đủ cuốnTHẾ THỨ CÁC TRIỀU VUA VIỆT NAM Nxb Giáo dục 1993 Sách tái tới lần thứ chín Tương tự vậy, tất niên hiệu có lịch sử Trung Quốc giới
thiệu đầy đủ cuốnCÁC ĐỜI ĐẾ VƯƠNG TRUNG QUỐC Nxb Giáo dục 2002 Sách tái lần thứ nhất.
(3) KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên, 4, tờ 3) Tác giả xin thích thêm Đại Đồng niên hiệu
của Lương Vũ Đế (502-549) Trong thời gian 47 năm ngôi, Lương Vũ Đế sử dụng tất niên hiệu khác mà Đại Đồng niên hiệu thứ năm, dùng từ năm 535 đến năm 546.
6 NỖI ĐAU THẤT TRẬN Ở ĐIỂN TRIỆT
Tháng năm 545 (tính theo âm lịch), triều đình nhà Lương định huy động đại binh sang
đàn áp Lý Nam Đế Tổng huy lực lượng nhà Lương lần tướng Dương Phiêu1
Trước xuất quân, Dương Phiêu triều đình Lương Vũ Đế phong làm Thứ Sử Giao
Châu điều có nghĩa thắng trận, Dương Phiêu nắm quyền đứng đầu quyền
đô hộ nước Vạn Xuân Trong huy Nam chinh này, ngồi Dương Phiêu cịn có hai
nhân vật cao cấp khác Tư mã Trần Bá Tiên Thứ sử Định Châu Tiêu Bột
Trần Bá Tiên xuất thân “hàn môn”, lúc đầu không tin dùng sau nhờ lập
được nhiều công lao đánh dẹp Quảng Châu, lại tự gây dựng đội quân riêng đông
đến ba ngàn người nên đến đâu triều đình Lương Vũ Đế chiếu cố Hắn
phong làm Thái Thú Vũ Bình kiêm giữ chức Tư Mã Giao Châu
Tiêu Bột xuất thân từ hồng tộc nhà Lương, thích hưởng thụ mà ghét khó nhọc, lại
biết quân sĩ quyền sợ đánh xa nên tìm đủ cách để ngăn cản bớt
hung hăng Dương Phiêu Nhưng trái ngược hẳn với Tiêu Bột, Trần Bá Tiên lại sức thúc
giục Dương Phiêu phải hành quân thật gấp đàn áp cho lực lượng Lý
Nam Đế Hắn nói : “Giao Châu làm phản, nguyên tội lỗi người tôn thất(chỉ
bạo ngược Tiêu Tư - người hoàng tộc nhà Lương - NKT), làm cho cả châu bị
hỗn loạn mà trốn tội đến năm Giờ đây, Thứ sử Định Châu (là Tiêu Bột)
chỉ muốn tạm yên trước mắt, không nghĩ đến kế lớn dài lâu Tiết hạ (chỉ Dương Phiêu - NKT) nhận chiếu đánh kẻ có tội, phải nên liều mạng sống, nên dùng dằng Nếu
không chịu tiến qn há ni dưỡng mạnh cho giặc hay sao”2 Dương Phiêu liền cho Trần Bá Tiên làm tướng tiên phong cầm qn trước cịn đem đại binh sau
Trận đọ sức Trần Bá Tiên với Lý Nam Đế diễn thành Tô Lịch3. Đây
thành xây đất, gia cố thêm luỹ tre, nằm khu vực cửa sông Tô Lịch Trong
trận ác chiến kéo dài tháng trời thành Tô Lịch, đại tướng Phạm Tu anh dũng hi
sinh 4 Thấy tình thế bất lợi, Lý Nam Đế liền lui quân Gia Ninh 5 Tại đây, lực lượng Lý
Nam Đế chiến đấu ngoan cường liên tục nửa năm (từ tháng năm 545 đến
tháng năm 546) địch quân sĩ Trần Bá Tiên lúc
bừng bừng nhuệ khí Đã thế, quân Dương Phiêu kéo đến phối hợp với Trần Bá
Tiên Ngày 25 tháng năm Bính Dần (546), giặc chiếm thành Gia Ninh 6
Sau Gia Ninh thất thủ, Lý Nam Đế lui binh Tân Xương7, dựa vào núi rừng hiểm trở
giúp đỡ nhân dân vùng để tìm cách khơi phục lại lực lượng Chưa đầy tám tháng
sau, Lý Nam Đế tái lập đơn vị binh mà xây dựng thêm
một đơn vị thuỷ binh hùng mạnh Tháng 10 năm 546, Lý Nam Đế định rút khỏi
cứ Tân Xương, đem tất hai vạn qn thuỷ đóng khu vực hồ Điển Triệt
- (1) ChữPhiêu đọc Thiêu, thế,Dương Phiêu cịn đọc Dương Thiêu (2) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 16-a)
(3) Diêu Tư Liêm (Trung Quốc) :TẦN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán Cũng tác phẩm củaDiêu Tư Liêm,
trong LƯƠNG THƯ ông khơng nói trận
(4) Theo thần tích đền Thanh Liệt Phạm Tu hi sinh vào ngày 20 tháng năm Ất Sửu (tức vào tháng năm 545).
(5) Gia Ninh lúc tên huyện quận Giao Chỉ Nay, đất đai huyện Gia Ninh xưa tương ứng với vùng rộng lớn nằm giáp
giới Hà Nội, Hà Tây, Vĩnh Phúc với Phú Thọ Tuy nhiên trung tâm huyện Gia Ninh có lẽ huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc ngày (6) Thành Gia Ninh thuộc xã Gia Ninh, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
(49)“Hồ Điển Triệt (tên nôm Đầm Miêng) thuộc xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú (nay hồ thuộc địa phận huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc - NKT) nằm bên bờ sông Lô, cách
Bạch Hạc khoảng 15 km phía bắc Hiện hồ rộng khoảng 50 mẫu, dài khoảng km,
khúc rộng khoảng 400 m, có ngách lớn nhiều ngách nhỏ, mùa khô nước cịn sâu 3-4 m Hồ cách sơng Lơ 300 m, xưa có ngịi thơng sơng Ba phía đơng, nam,
bắc dải đồi cao gồm chục gò, cộng 300 mẫu; phía tây có gân đồi
thấp, cao mặt nước chùng 2-3 m, bị đứt đoạn khoảng rộng 180 m, làm thành cửa
hồ, thông với vùng chiêm trũng, chằm lầy rộng hàng ngàn mẫu Theo truyền thuyết dân gian,
nghĩa quân Lý Nam Đế đóng trại dải đồi này, thuyền bè thả đầy mặt hồ Có đồi gọi thành Dền, hay thành Lĩnh, tương truyền doanh triều đình Vạn Xuân Một
quả đồi cao sát bờ hồ, mang tên đồi vua ngự, từ nhìn rõ Bạch Hạc, Việt Trì
Tương truyền, Lý Nam Đế hàng ngày lên quan sát địch tình cửa sơng Lơ (sơng Lu hay
sơng Lâu, theo sử cũ), phía Bạch Hạc, đôn đốc quân sĩ đẽo thuyền độc mộc Quanh hồ có
nhiều bến, như bến Chảy,nhân dân lưu truyền bến vua tắm, nước trong, bến Bêu, nơi đậu thuyền chiến độc mộc Chỉ có đường độc đạo từ bờ sơng Lơ vào phía bắc hồ.
Hiện thơn thuộc xã Tứ Yên dải đồi đó, thơn có đền thờ Lý Nam Đế,
Lý Thiên Bảo (anh ruột Lý Nam Đế), Lý Phật Tử (Hậu Lý Nam Đê) tướng sĩ khác và hàng năm có tục bơi chải."1
Như từ tháng 10 năm 546, hồ Điển Triệt trở thành khu lợi hại Lý
Nam Đế Nơi đây, thuỷ binh binh dễ dàng phối hợp hỗ trợ cho nhau, tạo nên
một thủ vững Cũng từ tháng 10 năm 546, sĩ khí quân đội Lý Nam Đế ngày
một cao điều khiến cho quân Lượng tỏ ngần ngại định tổ chức công vào
căn hổ Điển Triệt Tuy nhiên, tướng tiên phong quân Lương Trần Bá Tiên - tên
dày dạn kinh nghiệm trận mạc - lại đoán :
“Quân Lương lo sợ, dùng dằng đóng lại cửa hồ khơng dám tiến vào Trần Bá Tiên nói với tướng :
- Quân ta lâu, tướng sĩ mỏi mệt, lại vào cơ, khơng có đường tiếp
viện Nay tiến sâu vào đất giặc, đánh mà không thắng đừng mong sống sót,
nhân lúc bọn họ vừa thua liền mâý trận, tinh thần chưa vững mà quân Di Lão vốn ô hợp,
rất dễ đánh giết, lúc ta nên mau tay liều chết, cố sức mà đánh lấy Khơng cớ
phải dừng lại để lỡ thời cơ.
Các tướng im lặng, không hưởng ứng Đêm khuya hôm nước sông lên nhanh, dâng
cao đến thước, đổ tràn vào hồ (Trần) Bá Tiên đem quân theo dòng nước chảy xiết
mà tiến vào, đánh trống reo hò ẫm ĩ (Lý Nam) Đế khơng phịng bị trước nên qn bị vỡ,
phải lui đóng giữ động Khuất Lão” 2
Sau trận thua này, trước rút lui động Khuất Lão, Lý Nam Đế trao hết binh quyền cho
Tả Tướng Triệu Quang Phục Ở Khuất Lão, sức khoẻ Lý Nam Đế bị suy giảm nhanh
Tương truyền ông bị mù hết hai mắt3và qua đời động Khuất Lão vào năm 5484
Lý Nam Đế thân tư tưởng dùng bạo lực để giành lại quyền Cuộc đời ơng
đã tỏ rõ khả tập hợp huy động sức mạnh nước vào q trình đấu tranh giành
chính quyền theo đường bạo lực Điếu đáng tiếc Lý Nam Đế chuẩn bị công
phu lại thiếu ý thức kiên triệt để đấu tranh, thiếu tinh thần chủ động
công giặc Để cho Tiêu Tư phần lớn lực lượng viên quan đô hộ khét tiếng tàn bạo dễ dàng chạy biểu rõ thiếu ý thức kiên triệt để
(50)chức trận phản công Lý Nam Đế phải trả giá đắt cho thiếu triệt để
Diễn biến chung trận thành Tô Lịch thành Gia Ninh đặc biệt hồ Điển
Triệt cho thấy tư tưởng phòng ngự hoàn toàn chi phối tư quân Lý Nam Đế Nắm
chắc nhược điểm này, Trần Bá Tiên tổ chức công Thời tiết có góp
phần tạo thêm điều kiện thuận lợi cho Trần Bá Tiên không gây bất lợi cho thuỷ
quân Lý Nam Đế Đã bị tư tưởng phòng ngự chi phối lại cảnh giác biết rõ
kẻ thù đóng dinh trại sát bên cạnh lăm le tổ chức cơng thất
bại Lý Nam Đế điều tránh khỏi Không dám khẳng định rằng, Lý
Nam Đế chủ động cơng định giành trọn vẹn thắng lợi, rõ ràng
nếu biết chủ động công Lý Nam Đế khơng thể bị đại bại nhanh chóng bị
tổn thất nặng nề Nỗi đau thất trận hồ Điển Triệt nỗi đau chung Hậu đời đời kính
trọng khí phách tài Lý Bơn tồn q trình phát động lãnh đạo
khởi nghĩa lật nhào ách đô hộ nhà Lương thời kì kiến tạo nhà nước Vạn
Xuân độc lập, song lại tiếc phải nói rằng, từ sau trận Điển Triệt, vai trị Lý Bơn kể
như hồn tồn chấm dứt
Về thất bại Lý Nam Đế, Bảng nhãn Lê Văn Hưu (1230-1322) có lời bàn : "Binh
pháp có câu : ba vạn quân sức thiên hạ không địch Nay Lý Bơn có vạn
qn mà khơng giữ nước, (Lý) Bơn tài làm tướng chăng? Xem ra, Lý Bôn
cũng bậc tướng trung tài, trận chế ngự địch quân mà giành phần thắng
nào phải không làm Nhưng, bị hai lần thua chết, không may gặp phải
Trần Bá Tiên kẻ giỏi dùng binh vậy” 5
Về nguyên nhân quan trọng dẫn đến thất bại Lý Nam Đế, Bảng nhãn
Lê Văn Hưu cho Trần Bá Tiên giỏi dùng binh Tiến sĩ Ngơ Sĩ Liên lại khẳng định
ngoài việc Lý Nam Đế không may gặp phải Trần Bá Tiên kẻ có tài dùng binh ngun
do bật khác trời : “Tiền Lý Nam Đế dấy binh trừ bạo, thuận vớt đạo
trời, mà cuối lại nên nỗi bại vong? Ấy trời chưa muốn cho nước ta
thịnh trị chăng? Than ôi, phải gặp Trần Bá Tiên kẻ giỏi dùng binh mà gặp lúc nước sông đột ngột dâng lên trợ cho giặc, há trời hay sao” 5
Tuy cuối phải chịu thất bại phải lặng lẽ động Khuất Lão, với "vạn
cổ thử giang sơn"(muôn đời sông núi này), tên tuổi Lý Bôn mãi toả sáng Cùng với Hai
Bà Trưng Bà Triệu, Lý Bơn góp phần khơi dậy lửa chống Bắc thuộc tiếp tục bùng
lên dội Sự nghiệp Lý Bôn phần đầy kiêu hãnh lịch sử Các sử gia
Quốc Sử Quán Triều Nguyễn hồn tồn có lí viết Lời phê : “Nam Đế nhà Lý dù
không địch quân Lương, việc lớn không thành biết nhân thời mà vùng
dậy, tự làm chủ nước mình, đủ để tạo mở đường cho nhà Đinh, nhà Lý sau Việc làm Lý Nam Đế há hay sao!" 6
-
(1) Phan Huy Lê - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn - Lương Ninh : LỊCH SỬ VIỆT NAM Tập 1, NXB Đại học Trung học chuyên nghiệp Hà Nội 1983 Trang 412-413
(2) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 16-b 17-a) Tác giả xin thích thêm hai chi tiết nhỏ Một hai chữDi Lão mà Trần Bá Tiên nói đến để chung tất người Việt Hai động Khuất Lão (cũng dọc Khuất Lạo hay Khuất Liệu)
thuộc địa phận hai xã Cổ Tiết Văn Lang, huyện Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ.
(3) Dân làng thuộc hai xã Cổ Tiết Văn Lang thường gọi Lý Nam Đế ông Vua Mù tế phải xướng tên lễ vật thật
rõ ràng
(4) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ cho biết Lý Nam Đế vào tháng năm Mậu Thìn (548) : “Lý Nam Đế động Khuất Lão lâu ngày, nhiễm
lam chướng, lâm bệnh mà mất” (Ngoại kỉ, 4, Triệu Việt Vương kỉ, tờ 18-a) (5) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ(Ngoại kỉ, 4, tờ 18a-b)
(51)V DANH TƯỚNG TRIỆU QUANG PHỤC - NGƯỜI KẾ THỪA XUẤT SẮC SỰ
NGHIỆP CỦA LÝ BƠN
Một gió bẻ chồi khô
Ái lang dứt dấu ngựa Hồ vào Bốn phương phẳng lặng can qua
Theo nền nếp cũ lại Long Thành (Đại Nam quốc sử diễn ca)
1 XÂY DỰNG BÃI TỰ NHIÊN VÀ ĐẦM DẠ TRẠCH THÀNH KHU CĂN CỨ MỚI
Như nói, sau thất bại trận Điển Triệt (năm 546), Lý Nam Đế trao hết binh quyền
cho Tả Tướng Triệu Quang Phục, kể từ đó, lực lượng Lý Nam Đế bị phân
chia làm hai phận khác :
- Bộ phận thứ Lý Thiên Bảo (anh ruột Lý Nam Đế) số tướng lĩnh khác
(trong có Lý Phật Tử) huy rút chạy vào Đức Châu.1
- Bộ phận thứ hai Triệu Quang Phục cầm đầu tiếp tục bám trụ vùng Chu Diên, tận
dụng địa hình hiểm trở để chiến đấu đến
Theo thư tịch cổ Trung Quốc 2 Lý Thiên Bảo Lý Phật Tử tập hợp khoảng hai
vạn quân, đánh vào Đức Châu giết Thứ Sử Đức Châu Trần Văn Giới Sau trận thắng
khá lớn này, Lý Thiên Bảo Lý Phật Tứ kéo quân vùng Ái Châu 3nhưng bị Trần Bá Tiên
đánh bại Hai ông liền lui binh lên vùng thượng du Ái Châu (giáp giới với Lào) đến khoảng
năm 550 an phận đóng binh động Dã Năng “Thiên Bảo thấy động Dã Năng đầu nguồn
Đào Giang, đất đai phẳng mà màu mỡ, đắp thành lấy tên động làm quốc
hiệu, dân suy tôn, xưng Đào Lang Vương” 4 Từ đây, vai trò của Lý Thiên Bảo và Lý
Phật Tử nghiệp đánh đuổi quân phong kiến phương Bắc hộ kể khơng cịn
nữa Đảm đương sứ mệnh cao Triệu Quang Phục lực lượng nghĩa binh
ông huy Đó thực tế mà khơng phủ nhận
Năm 546, nhận binh quyền từ tay Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục đứng trước hai khó khăn
rất lớn Một lực lượng bị chia nhỏ có đến hai vạn quân (tức hai phần ba tàn quân
Lý Nam Đế) theo Lý Thiên Bảo Lý Phật Tử chạy vào Đức Châu Hai
cuộc công liệt liên tiếp quân sĩ nhà Lương Trần Bá Tiên huy Xét thấy
không thể tiếp tục công khai nghênh chiến với kẻ thù trước nữa, Triệu Quang Phục chủ
động lui binh khu vực đầm Dạ Trạch, triệt để tận dụng ưu riêng địa hình
vùng đầm lầy để khơn khéo tổ chức hàng loạt trận đánh thật bất ngờ hiểm hóc “Quân của
(Trần) Bá Tiên vừa đông vừa mạnh, (Triệu) Quang Phục liệu chống nổi, cho quân lui giữ Dạ Trạch Dạ Trạch đầm lớn, chu vi rộng không
nhiêu mà kể, cỏ rậm rạp Giữa đầm có bãi đất được, bốn mặt tồn bùn lầy Người phải thuộc đường, dùng sào đẩy thuyền độc mộc mà lại (Triệu)
Quang Phục đem vạn quân vào giữ đầm Ban ngày tắt hẳn khói bếp, đêm đến
thì tung quân đánh úp dinh trại quân Lương, giết chết bắt tù binh nhiều, dựa
vào số quân lương lấy để tính kế lâu dài (Trần) Bá Tiên rình mà đánh rốt
vẫn khơng thắng Bấy giờ, người nước gọi (Triệu) Quang Phục Dạ
Trạch Vương”5
-
(52)(2) Diêu Tư Liêm (Trung Quốc) :TRẦN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán (3) Ái Châu tương ứng với địa phận tỉnh Thanh Hố.
(4) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 19-b), KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC(Tiền biên, 4, tờ
9)
(5) KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC(Tiền biên, 4, tờ 6) Đầm thuộc xã Dạ Trạch, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên.
Bãi đất nằm khu đầm Dạ Trạch bãi Tự Nhiên, gọi bãi Màn Trò (hoặc
Mạn Trù) Trong bộ LĨNH NAM CHÍCH QUÁI có Nhất Dạ Trạch truyện, theo vào
đời Hùng Vương thứ ba, Công Chúa Tiên Dung mười tám tuổi, xinh đẹp
thích du ngoạn khơng muốn lấy chồng Bấy hương Chử Gia có gia đình họ Chử
chẳng may nhà gặp hoả hoạn nên gia tài bị cháy trụi hết, hai cha Chử Vi Vân Chử Đồng
Tử cịn lại có khố dùng chung Trước qua đời Chử Vi Vân có trăn trối để
cái khố lại cho Chử Đồng Tử mặc, thương cha, Chử Đồng Tử chơn ln khố cho
cha cịn chấp nhận trần truồng Ngày ngày Chử Đồng Tử sông ngồi câu cá,
thấy thuyền ngang đứng nước để xin ăn Một hôm thuyền Công Chúa Tiên
Dung ngang, Chử Đồng Tử vừa thoáng thấy cờ quạt uy nghi hoảng sợ, tới khóm lau
trên bãi cát, moi cát làm hố để nằm mà che thân Công Chúa Tiên Dung lên bờ, dạo chơi
lúc sai người quây trướng quanh khóm lau để tắm Nước tắm dội xuống khiến cho
cát trơi Chử Đồng Tử chẳng cịn để che thân Sau vài phút kinh ngạc, Cơng Chúa
Tiên Dung cho dun trời định, kết hôn với Chử Đồng Tử Hùng Vương hay tin giận
lắm, khơng thèm nhìn mặt Tiên Dung Tiên Dung sợ vua cha không dám trở mà
mở chợ, lập phố xá để buôn bán Sau, Chử Đồng Tử theo thương nhân xa, học
phép lạ nhà sư Phật Quang sư Phật Quang tặng cho nón gậy
có chứa phép lạ Trở về, Chử Đồng Tử thuyết phục Tiên Dung tìm thầy học
đạo Một hơm lỡ đường, phải nghỉ lại nơi hoang vắng, Chử Đồng Tử lấy gậy cắm
xuống đất úp nón lên để che tạm Chẳng dè lập tức, thành quách, dinh thự, châu
ngọc kẻ hầu người hạ chẳng biết từ đâu nghi vệ chẳng khác triều đình
nước, ai trông thấy kinh ngạc Hùng Vương nghe tin cho làm loạn,
đem quân đánh Quân chưa đến nơi trời tối, Hùng Vương đành phải nghỉ lại, chẳng ngờ
đêm Chử Đồng Tử Tiên Dung tất thành quách, dinh thự, châu ngọc kẻ hầu
người hạ bay lên trời Chỗ đất cũ sụt xuống thành đầm lớn, dân cho linh thiêng nên
thường xuyên cúng tế, gọi đầm Nhất Dạ Trạch bãi đất đầm bãi Tự Nhiên hay
bãi Mạn Trù 1
Nhất Dạ Trạch truyện được LĨNH NAM CHÍCH QI chép lại đượm màu li kì huyền
ảo, nhưng, đầm Dạ Trạch bãi Tự Nhiên - nơi in dấu bước chân cảm nghĩa
quân Triệu Quang Phục lại thật linh thiêng miền đất có vinh hạnh
được chứng kiến khí phách đời kiên cường, hiên ngang bất khuất Những
người chẳng có chút cho riêng hố thân thành thiên huyền thoại diệu kì
của lịch sử
Chủ trương Triệu Quang Phục việc chuyển từ cố thủ thành trì đồng
trung du sang bám trụ vùng đầm lầy nét tư quân toàn q
trình đấu tranh vũ trang chống ách hộ nhà Lương Nhanh chóng chuyển từ thụ động chờ đón đánh địch sang chủ động tổ chức cơng nhiều trận có quy mơ nhỏ lợi
hại đổi thay quan trọng nghệ thuật huy trận mạc đương thời Ở
chừng mực định đó, nói Triệu Quang Phục
những đại diện thuộc hàng cổ lịch sử chiến tranh du kích Việt Nam
Năm 548, sau nghe tin Lý Nam Đế lâm bệnh mà qua đời động Khuất Lão, Triệu
Quang Phục lên Vương, xưng là Triệu Việt Vương (vua của nước Việt, người họ
Triệu) Việc lên trước hết chủ yếu để tạo cờ thống cho nghiệp
tập hợp lực lượng đánh đuổi quân xâm lăng Nhìn từ góc độ đó, điều đáng kính thật dễ
(53)mệnh bị đe doạ nghiêm trọng nhà nước Vạn Xn Cũng nhìn từ góc độ đó, ấn tượng mạnh mẽ hậu thái độ khiêm nhường Triệu Quang Phục Với
ơng, ngơi Hồng Đế chí tơn mãi thuộc bậc tiễn nhiệm Lý Bôn, ông nhận ngơi
Vương (ngơi thứ thấp hẳn Hồng Đế) ý chí chiến đấu đến nghiệp bảo vệ
nền độc lập nước Vạn Xn ơng đứng đầu khơng lơi lỏng
-
(1) Về Nhất Dạ Trạch truyện, xin vui lòng tham khảo thêm : Nguyễn Khắc Thuần - VIỆT SỬ GIAI THOẠI (Tập 1) Trọn tập Nxb Giáo
dục Sách tái đến lần thứ 9.
2 QUÉT SẠCH QUÂN LƯƠNG RA KHỎI BỜ CÕI
Khi Trần Bá Tiên sa lầy đầm Dạ Trạch kinh đô Kiến Khang (nay thuộc thành phố
Nam Kinh, tỉnh Giang Tô Trung Quốc), nội triều đình nhà Lương lâm vào
cuộc khủng hoảng nghiêm trọng Năm 549, Lương Vũ Đế Tiêu Diễn qua đời, trai thứ
ba Tiêu Diễn Tiêu Cương đưa lên nối ngơi, Giản Văn Đế (549-551) Tiêu
Cương kẻ nhu nhược hội thuận lợi để bọn quyền thần hoành
hành Tháng năm 551, Giản Văn Đế Tiêu Cương bị quyền thần Hầu Cảnh phế bỏ giết đi,
hưởng dương 48 tuổi (503-551) Kẻ Hầu Cảnh đưa lên nối ngơi Hồng Đế thay Giản Văn
Đế Tiêu Đống Nhưng, Tiêu Đống ngơi Hồng Đế ba tháng bị Tiêu Dịch
(tức Nguyên Đế : 551-555) phế truất Nguyên Đế Tiêu Dịch trai thứ bảy Lương Vũ
Đế em mẹ với Giản Văn Đế Nguyên Đế kẻ ác vô mưu, vậy, loạn
lạc bùng nổ khắp nơi, đó, bật loạn quân Hầu Cảnh cầm đầu Nguyên
Đế năm 555, hưởng dương 47 tuổi (508-555) Hoàng Đế thứ tư (Hoàng Đế cuối
nhà Lương) Kính Đế (555-557) Kính Đế tên thật Tiêu Phương Trí (con trai thứ chín
Nguyên Đế Tiêu Dịch) Kẻ đưa Tiêu Phương Trí lên ngơi (năm 12 tuổi) Trần Bá Tiên
kẻ phế truất Tiêu Phương Trí (năm 14 tuổi) Trần Bá Tiên
Kể từ thời trị Giản Văn Đế trở đi, triều đình nhà Lương ngày suy yếu Đặc biệt từ
lúc tên quyền thần Hầu Cảnh dám thẳng tay làm chuyện phế lập, quan đầu não nhà
Lương kể bị tê liệt Thấy rõ diễn biến tình hình vừa phức tạp
dễ lợi dụng đó, Trần Bá Tiên đem quân Kiến Khang, nhân danh việc đàn áp loạn quân
Hầu Cảnh để khôn khéo chuẩn bị thực mưu đồ riêng Quyền huy quân đội
nhà Lương đàn áp Vạn Xuân trao cho tướng Dương Sàn (vốn tì tướng Trần Bá
Tiên) 1 Như nói, đến Kiến Khang, Trần Bá Tiên tạm đưa cậu bé Tiêu Phương Trí lên nối ngơi thời gian ngắn, biến Tiêu Phương Trí thành trị lợi hại
của Năm 557, xét thấy Tiêu Phương Trí khơng cần thiết nữa, Trần Bá Tiên
đã phế truất Tiêu Phương Trí cơng khai tun bố giành ngơi báu cho cá nhân
mình Chính Trần Bá Tiên lập triều đại cuối Nam Triều, nhà Trần (557 -589) 2 Trần Bá Tiên Trần Vũ Đế (557-559)
Việc Trần Bá Tiên đem quân Kiến Khang khiến cho tương quan lực đôi bên thay đổi
theo xu hướng hồn tồn có lợi cho Triệu Việt Vương Chớp lấy hội thuận lợi này,
tháng năm Canh Ngọ (550), từ khu xây dựng bãi Tự Nhiên đầm Dạ
Trạch, Triệu Việt Vương bất ngờ tung quân đánh trận định với kẻ thù Giặc
khơng cách chống đỡ nổi,"(Dương) Sàn thua trận mà chết, quân Lương tan vỡ hốt
hoảng tháo chạy Bắc Nước ta lại yên” 3 Triệu Việt Vương hiên ngang trở tiếp quản
thành Long Biên Đúng :
Bốn phương phẳng lặng can qua,
Theo nếp cũ lại Long Thành
(Đại nam quốc sử diễn ca)
-
(1) Hành trạng tướng tổng huy quân nhà Lương Dương Phiêu sau khơng rõ Thư tịch cổ nói đến Trần
(54)(2) Nhà Trần tồn trước sau tổng cộng 32 năm (557-589) với tất đời nối trị Nhà Trần đóng đô Kiến Khang Khác với
những triều đại trước củaNam Triều, nhà Trần lấy họ Hồng Đế làm tên cho triều đại
(3) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 19-a) KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên, 4, tờ
8
3 LẠI KỂ NGÀY XƯA CHUYỆN CẢO NƯƠNG
Sau lần bị bại trận Ái Châu, Lý Thiên Bảo Lý Phật Tử chạy động Dã Năng, lập nước
Dã Năng Lý Thiên Bảo xưng Đào Lang Vương, sống an phận thủ thường khu vực lãnh
địa riêng Năm Ất Hợi (555), Lý Thiên Bảo qua đời Dã Năng, khơng có nối
dõi nên người họ Lý Phật Tử đưa lên kế nghiệp Đời muôn thuở thường
như vậy, kẻ yếu bóng vía chiến đấu nghĩa cả, ln ln kẻ dũng
cảm xâu xé quyền lợi thái bình Lý Phật Tử số kẻ
Khác với Lý Thiên Bảo, Lý Phật Tử xưng Đế khơng chịu n vị với ngơi Vương, thế,
để phân biệt với Lý Bôn, sử cũ ta thường gọi Lý Bôn Tiền Lý Nam Đế gọi
Lý Phật Tử Hậu Lý Nam Đế Năm 557, Lý Phật Tử bỏ động Dã Năng đem hết hạ
quê hương Thái Bình 1 của mình Tại đây, Lý Phật Tử đã tìm cách lơi kéo bà họ hàng
sức tập hợp lực lượng để nhằm đánh Triệu Việt Vương Về phần mình, Việt Vương Triệu
Quang Phục thấy Lý Phật Tử người họ với Lý Nam Đế nên có chút nể Năm
trận ác chiến diễn Thái Bình, đơi bên chưa phân thắng bại “quân của (Lý)
Phật Tử có phần nao núng (Lý Phật Tử) ngờ (Triệt Việt Vương) có phép lạ xin
giảng hoà xin ăn thề giao hiếu hoà thuận với Vua (chỉ Triệu Việt Vương - NKT) nghĩ Lý Phật Tử người họ với Tiền Lý Nam Đế nên không nỡ cự tuyệt”2 Sau lễ ăn
thề, hai bên lấy bãi Quần Thần3 làm ranh giới để chia quyền cai quản Lý Phật Tử dời sở trị
của từ Thái Bình thành Ơ Diên 4 cịn Triệu Việt Vương thì vẫn đóng thành Long
Biên cũ Thế song lập trị cục diện chia cắt khiến cho đất nước lâm vào
cuộc khủng hoảng tiềm lực bị cạn kiệt nhanh Thống quốc gia trở thành
nhu cầu lớn cấp bách xã hội đương thời Tiếc thay, Lý Phật Tử thực việc
thống quốc gia thủ đoạn lợi dụng hôn nhân tương tự trước 700 năm
Triệu Đà làm
Bấy giờ, biết Triệu Việt Vương có người gái tên Cảo Nương xinh đẹp nên Lý Phật
Tử cậy người mai mối, xin hỏi Cảo Nương làm vợ cho trai Nhã Lang (cũng
tức Bát Lang) Vì quý trọng người họ với Lý Nam Đế, lại thấy hai bên tổ chức ăn thề
hoà hiếu với nhau, Triệu Việt Vương không chút nghi ngờ, gả Cảo Nương cho Nhã
Lang, chấp nhận cho Nhã Lang đến rể thành Long Biên
Sự kiện xảy năm 557, tức sau năm trận ác chiến đôi bên vừa kết
thúc Và, kịch hiểm độc cũ Triệu Đà Lý Phật Tử cho tái diễn gần nguyên
vẹn : Triệu Việt Vương hoàn toàn tin rể, tin thông gia, tin gái tin đến mức
hoàn toàn mơ hồ hết cảnh giác Đó tảng có thật truyền thuyết li kì
cuộc hôn nhân Nhã Lang với Cảo Nương hầu hết sử xưa5và một số
dã sử chép lại Đại lược sau :
Khi khu bãi Tự Nhiên đầm Dạ Trạch, Triệu Việt Vương linh thần Chử Đồng Tử tặng cho móng rồng để cài lên mũ đâu mâu Đội mũ vào, Triệu Việt Vương hướng móng rồng phía qn giặc phía phải thất bại thảm hại Nhờ móng thần ấy, Triệu Việt Vương đánh tan quân Lương chém tướng tổng huy chúng
Dương Sàn tiến vào chiếm thành Long Biên, khôi phục độc lập tự chủ.
Sau Lý Thiên Bảo động Dã Năng, Lý Phật Tử lên kế vị thấy quân Lương đã bị đánh đuổi, Lý Phật Tử liền đem hết lực lượng quê nhà Đến đây, muốn
tranh quyền Triệu Việt Vương, Lý Phật Tử đánh với Triệu Việt Vương năm trận
(55)phép thuật lạ chưa rõ phép thuật gì, nghĩ kế cầu hồ tổ chức ăn thề xin
kết làm thông gia Con trai Lý Phật Tử Nhã Lang kết hôn với gái Triệu Việt Vương Cảo Nương, sau đó, Nhã Lang vào rể thành Long Biên Được
lâu, Nhã Lang nói với Cảo Nương :
- Trước đây, hai vua cha kẻ thù, lại kết làm thông gia, chẳng hay sao? Nhưng, cha nàng có thuật mà đẩy lùi qn cha ta vậy.
Cảo Nương tưởng chồng thật lòng, lấy mũ đâu mâu có gắn móng rồng cha
cho chồng xem Nhã Lang liền đánh tráo móng rồng, xong, nói với Cảo Nương :
- Bấy lâu vợ chồng ta quấn quýt yêu thương nhau, thật không nỡ xa cách, nghĩ công ơn cha mẹ lớn trời đất, tơi đành phải tạm xa nàng lâu để viếng thăm.
Nhã Lang đem móng rồng cho cha Hai cha bàn kế bất ngờ cho quân đến đánh
úp Triệu Việt Vương bị thất bại, chạy đến cửa Đại Nha6 nhảy xuống biển tự tử Kể từ đó,
Lý Phật Tử nắm quyền cai trị toàn cõi
-
(1) Thái Bình quê hương Lý Nam Đế Xin xem mục thuộc phần IV chương thứ (2) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 19-b)
(3) Bãi Quần Thần thuộc địa giới hai xã Thượng Cát Hạ Cát, huyện Từ Liêm, Hà Nội.
(4) Thành Ô Diên thuộc xã Hạ Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội Nơi đền thờ Bát Lang (tức Nhã Lang) trai Lý Phật
Tử.
(5) Ví dụ :ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TOÀN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 20 a-b); KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC(Tiền biên, quyển 4, tờ 12 13); LĨNH NAM CHÍCH QUÁI (Nhất Dạ Trạch truyện); VIỆT ĐIỆN U LINH(Triệu Việt Vương Lý Nam Đế
truyện)
(6) Cửa Đại Nha tức cửa Ác, đến thời Lý đổi thành cửa Đại An, cửa Đáy, ranh giới tự nhiên phía đơng hai tỉnh Nam Định Ninh Binh Ở đền thờ Triệu Việt Vương.
Về câu chuyện tình li kì Nhã Lang với Cảo Nương kết cục bi thảm Triệu Việt
Vương, sử thần Quốc Sử Quán triều Nguyễn đã có Lời cẩn án rằng : “Sử cũ chép
việc Triệu Việt Vương móng rồng Chử Đồng Tử ban cho, việc Nhã Lang rể lấy trộm móng rồng ấy, việc Triệu Việt Vương móng rồng mà bị thua đem ráp
những việc lại so với chuyện Thục An Dương Vương Triệu Trọng Thuỷ trước thật
giống hệt Sự kì quái trái với lẽ thường đến mức không cần phải biện bạch thêm làm Nhưng, sử cũ chép phần nhiều trùng lắp sai hẳn thực,
chuyện này” 1 Dĩ nhiên, chuyện móng rồng mà Chử Đồng Tử đã ban cho Triệu Việt Vương
là khơng thể có thật, nhưng, nể tin đến mức mơ hồ Triệu Việt Vương lại
điều hồn tồn có thật Mất cảnh giác có nghĩa tự đánh thứ vũ khí tự vệ quý
giá hữu hiệu Móng rồng thực chất cách thể theo lối huyền thoại hoá
sự thật mà
Về thất bại Triệu Việt Vương, Tiến Sĩ Ngô Sĩ Liên -sử gia lỗi lạc thời Lê sơ - có lời
bàn xác đáng :“Nếu lấy bá thuật mà xét Hậu Lý Nam Đế đánh Triệu Việt Vương
quả đắc kế, nhưng, lấy vương đạo mà xét việc làm Lý Phật Tử cịn thua
chó lợn Vì lại nói ? Khi Tiền Lý Nam Đế động Khuất Lão, đem binh quyền trao
cho Triệu Việt Vương Triệu Việt Vương thu nhặt tàn quân để giữ đầm Dạ Trạch bùn lầy để đương đầu với Trần Bá Tiên viên tướng khét tiếng thời, bắt giết tuỳ tướng (của
Trần Bá Tiên) Dương Sàn, khiến Trần Bá Tiên phải lui quân Bắc Hậu Lý Nam Đế lúc
lẩn trốn đất Di Lão, mong thoát khỏi miệng hùm beo, may mà Trần Bá Tiên lui
Bắc Lý Thiên Bảo lại qua đời nên (Hậu Lý Nam Đế) toàn thân kế nghiệp (Hậu Lý Nam Đê) đem quân đánh Triệu Việt Vương, yếu nên dùng mưu gian trá xin hoà, lại xin
kết làm thông gia (Triệu) Việt Vương lấy lòng thành mà đối đãi, cắt đất cho ở, việc làm
đều nghĩa, giao hảo phải đạo, thăm viếng phải thời, há
đạo yên trị lâu dài ? Vậy mà (Hậu Lý Nam Đê) lại dùng Nhã Lang để thực mưu
(56)cướp lấy nước, thắng Nhã Lang phải chịu chết trước, sau đến lượt bản
thân (Hậu Lý Nam Đế) không khỏi cảnh bị bắt tù đày, có lợi đâu” 2 Hồng Giáp Ngơ Thì Sĩ (1726-1780) có lời bàn :"Đã hồ hiếu lại cịn bội ước, móng rồng mũ đâu mâu có đáng mà nghe mưu gian trẻ con,
theo lối cũ Triệu Đà thật bất trí Đến quân nhà Tuỳ kéo sang, chúng chưa bắn mũi tên nhục nhã dâng nạp ngọc ngà dắt dê xin đầu hàng, mà
ngu đến thế”3
Lê Ngô Cát Phạm Đình Tối - hai tác giả văn học dân tộc tiếng kỉ XIX - diễn
Nôm theo thể lục bát mưu gian kế hiểm Lý Phật Tử kết cục bi thảm Triệu Việt
Vương sau :
“Tình rể, nghĩa vợ chồng.
Tin biết lòng lừa nhau.
Lân la ngỏ tình đầu
Nhã Lang trộm lấy đâu mâu đổi liền.
Trở giả chước vấn yên,
Giáp binh đâu băng miền kéo sang.
Triệu Vương tiến bước vội vàng,
Tình riêng cịn chửa dứt đường cho qua. Đem chạy đến Đại Nha.
Than thân bách chiến phải đường cùng”
(Đại nam quốc sử diễn ca)
-
(1) KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên, 4, tờ 12 13) (2) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 20 b 21 a)
(3) Ngơ Thì Sĩ :VIỆT SỬ TIÊU ÁN
Phụ lục 3
TIỂU TRUYỆN VỀ TRIỆU TÚC , PHẠM TU VÀ TINH THIỀU
Tiểu dẫn : Sát cánh với Lý Bôn chiến đấu ngoan cường gian khổ nhằm đánh đuổi quân Lương khỏi bờ cõi cịn có nhiều tướng lĩnh xuất sắc, đó, bật
là Triệu Quang Phục (tức Triệu Việt Vương), Triệu Túc, Phạm Tu số nhân vật giàu tài
năng khác Tuy chưa thật đầy đủ đời nghiệp Triệu Quang
Phục thư tịch cổ ghi chép nhiều, số nhân vật cịn lại nói chung khơng
có may Tuy nhiên, khảo sát linh hồn số kiện tượng tốt lên từ
những dịng ghi chép ngắn ngủi hoi sử cũ, bước đầu
phác thảo vài nét tiểu truyện ba nhân vật quan trọng Triệu Túc, Phạm Tu Tinh Thiều.
1 Triệu Túc
Triệu Túc vị Tù Trưởng tiếng huyện Chu Diên 1, gia thế có ảnh
hưởng mạnh vùng đất Khi Lý Bôn chiêu tập hào kiệt bốn phương để chuẩn bị dựng
cờ khởi nghĩa chống ách hộ nhà Lương Triệu Túc người
hồ hởi đến tham gia Cùng có mặt bên cạnh Lý Bơn đồng thời với Triệu Túc cịn có anh trai
ông Triệu Quang Thành trai ông Triệu Quang Phục Là người giàu nghĩa khí, lại
vốn xuất thân Tù Trưởng nên Triệu Túc Lý Bôn coi trọng từ đầu, Triệu Túc
đã thực chỗ dựa tin cậy Lý Bôn
(57)cũng có phần nể sợ Triệu Túc, vừa nhận tin Triệu Túc theo với Lý
Bơn Tiêu Tư thực hất hoảng Sau vài trận giáp chiến, tự thấy khó bề chống cự nổi,
Tiêu Tư tìm đường chạy trốn Trung Quốc
Trong trận đọ sức với quân nhà Lương, Triệu Túc có đóng góp to
lớn, Lý Bôn trân trọng ghi nhận đánh giá cao Tháng giêng năm Giáp Tí (544),
Lý Bơn lên ngơi Hồng Đế xưng Lý Nam Đế Triệu Túc phong làm Thái Phó tức
người có phẩm hàm lớn triều đình lúc Triệu Túc
trụ cột quan trọng nhà nước Vạn Xuân
Tháng năm Ất Sửu (545), nhà Lương sai Dương Phiêu tướng Trần Bá Tiên Tiêu
Bột đem đại quân sang đàn áp Lý Nam Đế Các trận ác chiến đôi bên diễn thành
Tơ Lịch sau thành Gia Ninh Và, trận đọ sức liệt này, Lý
Nam Đế phải chịu hai tổn thất lớn, Triệu Túc lẫn Phạm Tu anh dũng hi
sinh
Nghĩa quân nhóm họp, lực lượng không đông, trang thiết bị thiếu thốn, kinh nghiệm chưa
nhiều, lúc kẻ thù vừa hãn thiện chiến lại vừa hùng mạnh, cho nên,
tổn thất nghĩa binh Lý Nam Đế Triệu Túc Phạm Tu khơng có bù
đắp Trần Bá Tiên biết rõ điều nên triệt để tận dụng hội thuận lợi để thừa
thắng mà đánh tới tấp khiến cho Lý Nam Đế chống đỡ Trận ác chiến diễn
ra khu vực hồ Điển Triệt coi cố gắng cuối cùng, cố gắng cao
của ông
Sau thất bại giao tranh hồ Điển Triệt, Lý Nam Đế trao binh quyền cho trai
của Triệu Túc Triệu Quang Phục Với gia đình Triệu Túc trường hợp “hổ
phụ sinh hổ tử” Hiện chưa rõ Triệu Túc sinh vào năm nên chưa rõ mất, Triệu
Túc hưởng thọ tuổi
2 Phạm Tu
Phạm Tu bậc hào kiệt hướng ứng có mặt bên
cạnh Lý Bơn, trực tiếp tham gia vào trình chuẩn bị cho khởi nghĩa chống ách hộ
của quyền nhà Lương Theo ghi chép của thần tích đền Thanh Liệt Phạm Tu người
làng Thanh Liệt, thuộc xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì (Hà Nội), sinh năm 481, năm 545, hưởng thọ 64 tuổi Phạm Tu người có tài quân bẩm sinh đến tụ nghĩa
dưới cờ cứu nước Lý Bơn, tài qn bẩm sinh Phạm Tu có hội
để phát huy cách nhanh chóng mạnh mẽ Ơng nanh vuốt Lý Bôn, vị tướng
cầm quân xuất sắc Tài quân Phạm Tu thể tập trung qua trận
đánh lớn sau :
- Năm 542 : Cùng với Lý Bôn số tướng lĩnh khác, trực tiếp tham gia huy
công vào sào huyệt quân đô hộ nhà Lương đất nước ta, khiến cho tồn
quyền giặc Thứ Sử Giao Châu, tước Lâm Vũ Hầu Tiêu Tư cầm đầu, phải hốt hoảng
tháo chạy
- Tháng năm 543 : Cùng với Lý Bôn trực tiếp huy công bất ngờ dũng
mãnh vào sâu lãnh thổ giặc, đập tan hoàn toàn lực lượng quân đội nhà Lương
đang tập trung Hợp Phố Đây đội quân chuẩn bị đàn áp Lý Bôn Thứ Sử
Giao Châu Tôn Quýnh Thứ Sử Tân Châu Lư Tử Hùng cầm đầu Trật tự khu vực biên
giới phía Bắc nhanh chóng khẳng định Tôn Quýnh Lư Tử Hùng bị đại bại thảm hại
ngay chưa kịp xuất quân nên bị triều đình nhà Lương tức giận, khép vào tội
(58)- Tháng năm 543 : Tổng huy lực lượng nghĩa sĩ đánh vào Cửu Đức trừng trị đích đáng
hành vi quấy phá quân Champa, khiến cho tình hình biên giới phía Nam n ổn
Nhờ cống hiến xuất sắc nói tháng giêng năm Giáp Tí (544), Lý Bơn lên ngơi
Hồng Đế xưng Lý Nam Đế, Phạm Tu phong làm Đại Tướng, nắm quyền đứng đầu
các võ quan triều đình
Năm Ất Sửu (545), đọ sức liệt với lực lượng quân sĩ nhà Lương đàn áp
tướng Trần Bá Tiên cầm đầu, Phạm Tu dã anh dũng hi sinh Tổn thất nặng nề khiến sức
đề kháng triều đình Lý Nam Đế suy giảm nhanh
3 Tinh Thiều
Tinh Thiều người quê với Lý Bôn Ngay từ lúc tuổi trẻ, Tinh Thiều tiếng
là người võ nghệ cao cường văn hay chữ tốt nên người đương thời không ngớt lời
khen tụng Theo ghi chép củaĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 15-a) Tinh Thiều tự thấy có tài nên khơng quản đường xa dặm dài, lặn lội sang
tận kinh đô nhà Lương Kiến Khang (nay thuộc thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô,
Trung Quốc) xin dự thi để mong bồ nhiệm làm quan Đến Kiến Khang, ông chứng tỏ
được tài thực mình, quan Lại Bộ Thượng Thư nhà Lương Sài Tốn
cho họ Tinh trước chưa có hiển đạt, tức không thuộc vào hàng sĩ tộc, nên
chỉ bổ cho Tinh Thiều chức gác cổng cửa Quảng Dương Vì nhục nhã uất hận, Tinh
Thiều bỏ chí tìm cách trả thù quân Lương Tinh Thiều hồi hương vào
lúc Lý Bơn q bất mãn với chế độ sĩ tộc quyền hộ nhà Lương mà từ bổ
chức Giám Quân châu Cửu Đức để trở quê chiêu tập hào kiệt nhân dân vùng dậy Tinh
Thiếu có mặt bên cạnh Lý Bơn buổi dầu trứng nước trình chuẩn bị
và ông trở thành chỗ dựa quan trọng Lý Bôn Trong máy
huy khởi nghĩa Lý Bôn phát động lãnh đạo, Tinh Thiều lãnh trách nhiệm soạn
thảo văn kiện giấy tờ Nhờ có văn võ song tồn lại lập nhiều cơng lao
chiến đấu đánh đuổi quân đô hộ nhà Lương, vào năm 544, Lý Bôn lên ngơi Hồng
Đế xưng Lý Nam Đế, Tinh Thiều phong làm Thái Sư, đứng đầu tất văn quan
của triều đình Năm 545, chiến đấu ngoan cường chống lực lượng đàn áp
nhà Lương Tinh Thiếu anh dũng hi sinh Do chưa rõ năm sinh nên chưa rõ mất,
Tinh Thiều hưởng thọ tuổi
-
(1) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 4, tờ 15 a) Các thư tịch cổ khác nhưLĨNH NAM CHÍCH QUÁI,VIỆT ĐIỆN U
LINH KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC chép tương tự.
VI LÝ TỰ TIÊN VÀ ĐINH KIẾN VỚI CUỘC CÔNG PHÁ MẠNH MẼ ĐẦU TIÊN VÀO CHÍNH QUYỀN ĐƠ HỘ CỦA NHÀ ĐƯỜNG
Vận trời cịn chửa hanh thơng
Nước non để hận anh hùng ngàn thu (Đại Nam quốc sử diễn ca)
1. NHỮNG BIẾN CỐ CHÍNH TRỊ DỒN DẬP
Năm 571, sau lập mưu giết hại Triệu Việt Vương, Lý Phật Tử nắm quyền thống trị
toàn cõi Tuy nhiên, quyền yếu bạc nhược, khơng ban
(59)biện pháp hữu hiệu để phòng bị cho quốc gia Đối với tập đoàn phong kiến thống trị
Trung Quốc, vấn đề xua quân sang xâm lược tái thiết đô hộ nước ta cịn thời điểm
cụ thể
Chính quyền Lý Phật Tử tạm thời ổn định khoảng ba mươi năm (571-602)
bất tình hình Trung Quốc lúc chưa thật yên tĩnh Năm 581 (tức
10 năm sau Triệu Việt Vương qua đời) Dương Kiên1đã xoá bỏ cục diện Nam-Bắc Triều
của Trung Quốc lập nhà Tuỳ2 Trên danh nghĩa thì nhà Tuỳ đã thống Trung Quốc
nhưng tiềm lực nhà Tuỳ chưa mạnh, chống đối nhà Tuỳ liên tục lên
Năm 590, để mở rộng khẳng định quyền chi phối Lĩnh Nam, nhà Tuỳ lập Phủ
Tổng Quản Quế Châu, giao chức Tổng Quản cho nhân vật Linh Hồ Li đảm trách Với chức vụ
này, Linh Hồ Li có quyền uy lớn, phép cắt đặt tất quan lại từ hàm Thứ Sử trở xuống
Đây bước chuẩn bị cho Nam chinh nhà Tuỳ, mối đe doạ lớn
độc lập chủ quyền nước Vạn Xuân Bấy giờ, Lý Phật Tử chưa đến Phủ Tổng Quản
để yết kiến danh nghĩa cơng khai chịu thần phục Tổng Quản Linh Hồ Li, tức
đã hoàn tồn chịu thần phục triều đình nhà Tuỳ
Đầu năm Nhâm Tuất (602), lấy cớ Lý Phật Tử khơng chịu vào chầu, triều đình nhà Tuỳ sai
tướng Lưu Phương Kinh Đức Lượng3đem khoảng 10 vạn quân4đi đánh vạn xuân Lý Phật Tử
đã đầu hàng tướng Lưu Phương bị Lưu Phương bắt Trung Quốc Ách đô hộ nhà
Tuỳ thiết lập Vạn Xuân 16 năm (602-618)
Tháng năm 617, quyền thần triều đình nhà Tuỳ Lý Uyên 5đã bất ngờ khởi binh
chống lại nhà Tuỳ năm sau (tháng năm 618) Lý Uyên lật đổ nhà
Tuỳ lập triều đại lịch sử chế độ phong kiến Trung Quốc nhà Đường (618
-907) 6 Ngay sau lật đổ nhà Tuỳ, nhà Đường thay nhà Tuỳ đô hộ nước ta Năm 622 (tức
chỉ năm sau lật đổ nhà Tuỳ), Đường Cao Tổ 7đã cho lập Giao Châu Đô Hộ Phủ
(cơ quan cai trị lấy quân làm chỗ dựa chủ yếu nhất) Đến năm 679, Đường Cao Tông (649
-683) cho đổi Giao Châu Đô Hộ Phủ thành An Nam Đô Hộ Phủ8, và, gắn liền với trình thay
đổi nói q trình khơng ngừng tăng cường ách áp bóc lột phong kiến nhà
Đường
Bấy giờ, lợi dụng việc triều đình khơng thể kiểm sốt hết dân tình tất nơi xa xơi
cách trở nên bọn quan lại đô hộ sức tìm cách vơ vét tài sản nhân dân ta Trong kỉ
VII, Khâu Hoà 9 và Lưu Diên Hựu10 là hai đại diện tiêu biểu cho lực lượng tham quan ô lại này
Vốn uất hận cảnh nước nhà tan lại phải chịu thêm nạn bị bọn quan quân đô hộ tước
đoạt trắng trợn, dân khắp cõi đương thời ai căm tức Mâu thuẫn xã hội ngày trở
nên gay gắt nguyên nhân sâu xa dẫn tới vùng lên cơng khơng
khoan nhượng vào tồn đồ thống trị bọn ngoại bang Hai lãnh tụ hai danh
tướng tiếng kỉ VII Lý Tự Tiên Đinh Kiến
-
(1) Dương Kiên (541-604) Tuỳ Văn Đế hay Tuỳ Cao Tổ (581-604) - Hoàng Đế khai sáng nhà Tuỳ Năm 604, Tuỳ Văn Để bị
trai Dương Quảng giết hại để giành
(2) Nhà Tuỳ tồn trước sau tổng cộng 37 năm (581-618) truyền nối tất ba đời Kinh đô nhà Tuỳ Đại Hưng (đất thuộc
tỉnh Thiểm Tây Trung Quốc) Xin vui lòng tham khảo thêm : Nguyễn Khắc Thuần - CÁC ĐỜI ĐẾ VƯƠNG TRUNG QUỐC Nxb Giáo dục 2001, sách tái lần thứ nhất.
(3) Theo ghi chép củaNguỵ Trưng (Trung Quốc) trongTÙY THƯ (Súc Ấn Bách Nạp Bản, Thương Vụ ấn Thư Quán) Kinh Đức Lượng đến Dỗn Châu (nay thuộc huyện Quảng Thơng, Vân Nam, Trung Quốc) bị bệnh nặng nên khơng thể dược Tồn lực lượng nhà Tuỳ Lưu Phương cầm đầu.
(4) Theo ghi chép Ngụy Trưng (Trung Quốc) - sách dẫn - nhà Tuỳ huy động đến 27 quân doanh Dựa theo phiên chế quân đội
nhà Tuỳ ước đốn khoảng 10 vạn quân.
(5) Ngay từ năm 16 tuổi (582) Lý Uyên dã Tuỳ Cao Tổ phong làm Đường Quốc Công Thời Tuỳ Dưỡng Đế (604-618), Lý Uyên vừa Thứ Sử Kì Châu, vừa Thái Thú hai quận Vinh Dương Lâu Phiền Năm 618, Lý Un phế truất ngơi Hồng Đế lập Dương Hựu (tức
Tuỳ Cung Đế) lập nhà Đường.
(6) Nhà Đường tồn trước sau tổng cộng 289 năm (618-907), có 287 năm đô hộ nước ta (618-905) Nhà Đường truyền nối 21 dời Kinh đô nhà Đường Trường An (nay thuộc thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc).
(60)(8 Địa danh An Nam dùng để nước ta Lúc này, An Nam Đô Hộ Phủ quản lãnh 12 châu vùng đồng với tổng cộng 59 huyện, ngồi cịn có 41 châu ki-mi (châu ràng buộc lỏng lẻo) vùng rừng núi trung du
(9) Khâu Hòa nguyên Thái Thú quận Giao Chỉ thời nhà Tuỳ, sau nhà Đường lưu dụng cho giữ chức Giao Châu Đô Hộ Phủ Ở Giao Châu Đô Hộ Phủ, Khâu Hoà người giữ chức
(10) Lưu Diên Hựu tên giữ chức An Nam Đô Hộ Phủ Theo Âu Dương Tu Tống Kỳ (Trung Quốc) trongTÂN ĐƯỜNG THƯ (Súc Ấn
Bách Nạp Bản, Thương Vụ Ấn Thư Quán) Lưu Diên Hựu người Bành Thành, thuộc Từ Châu (Trung Quốc), đỗ Tiến Sĩ nhà
Đường xếp vào loại có tài làm quan Trước bổ quan đô hộ An Nam Đô Hộ Phủ, Lưu Diên Hựu Thứ Sử Cơ Châu (Trung Quốc).
2 HAI CON NGƯỜI, MỘT KHÍ PHÁCH
Thư tịch cổ ta có chép đến hai nhân vật Lý Tự Tiên Đinh Kiến ĐẠI VIỆT SỬ
LƯỢC1 Sau đó, sử quan trọng khác nhưĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ KHÂM
ĐỊNH VIỆT SỬ THƠNG GIÁM CƯƠNG MỤCcũng có chép hai nhân vật lịch sử này.Tuy
nhiên, điều đáng tiếc tất thư tịch cổ nói khơng cho biết năm sinh, năm
mất quê quán Lý Tự Tiên Đinh Kiến 2 Tuy nhiên, góp nhặt ghi chép
tản mạn thư tịch cổ (của ta Trung Quốc) sơ phác hoạ
được vài nét nghiệp Lý Tự Tiên Đinh Kiến sau :
Bấy giờ, nhà Đường quy định dân di lão người phải đóng nửa suất tơ3nhưng
Lưu Diên Hựu bất phải đóng đủ suất không miễn giảm Tất nhiên, nửa suất tô
mà dân di lão phải đóng thêm nhập vào kho tài sản riêng Lưu Diên Hựu Hành vi tham lam bạo ngược Lưu Diên Hựu khiến cho nhân dân đương thời căm phẫn Nhân
lịng ốn giận nhân dân, Lý Tự Tiên riết chuẩn bị cho khởi nghĩa lớn,
rất tiếc mưu bị bại lộ Lập tức, Lưu Diên Hựu sai quân đến bắt giết chết Lý Tự Tiên với hi
vọng bóp nát hồn tồn khởi nghĩa thời kì trứng nước Nhưng Lưu Diên Hưu
đã nhầm Lý Tự Tiên khơng cịn, song, Đinh Kiến kế tục xuất sắc nghiệp lớn cịn dở
dang ơng, kêu gọi nhân dân đồng lịng vùng lên, cơng ạt bất ngờ vào phủ thành
Lưu Diên Hựu Sử cũ viết : “Dư đảng (của Lý Tự Tiên) bọn Đinh Kiến nhóm họp quân sĩ
bao vây phủ thành” 4
Lưu Diên Hựu kẻ có tài điều sử Trung Quốc cơng khai thừa nhận
Trong kế hoạch đối phó với Đinh Kiến Lưu Diên Hựu hồn tồn thượng phong, hồn tồn
có dư dả điều kiện thuận lợi phương tiện lợi hại để bóp nát tồn lực
lượng đấu tranh nhân dân đương thời Đinh Kiến lãnh đạo, nhưng, Lưu Diên Hựu không
thể làm điều Một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thúc thủ Lưu
Diên Hựu Lưu Diên Hựu giỏi, song, Đinh Kiến không phần tài ba Đinh
Kiến táo bạo tổ chức công vào hai chỗ yếu Lưu Diên Hựu Một giặc
lúc chủ quan, giết Lý Tự Tiên nên Lưu Diên Hựu n trí đóng qn phủ
thành Giao Chỉ5 việc phòng bị không cẩn trọng Hai là bản thân Lưu Diên Hựu lúc
cũng bị đồng liêu ganh ghét, họ mong Lưu Diên Hựu gặp đại nạn cho bõ ghét
Toàn lực lượng Lưu Diên Hựu bị chia cắt làm hai, quân phủ thành bị bao vây hoàn toàn bị lập cịn qn ngồi phủ thành khơng thể liên lạc dược với chủ tướng,
lực chiến đấu giặc suy giảm nghiêm trọng "Vì quân q ít, xét thấy khơng thể chống cự nổi,
(Lưu Diên Hựu) đóng chặt cửa thành để vừa cố thủ vừa xin quân cứu viện” 6 Bấy
Quảng Châu, quan trấn giữ nhà Dường Phùng Tử Du 7tuy nhận lời cầu cứu
của Lưu Diên Hựu khơng đem qn cứu Phùng Tử Du có hai lí để khơng cứu Một
là khơng ưa Lưu Diên Hựu nên thấy Lưu Diên Hựu gặp nạn mừng thầm, kể may mắn
có hội“mượn tay kẻ thù tiêu diệt đối thủ” Hai Phùng Tử Du để mặc cho Lưu Diên Hựu
Đinh Kiến đánh nhau, bên thắng hay khơng bên thắng rốt có lợi cho
Phùng Tử Du đến lúc đó, Phùng Tử Du cần đem đạo quân nhỏ đến để “dẹp
loạn” cũng dễ dàng thành cơng có may triều đình biết đến Tuy
nhiên, toan tính Phùng Tử Du nửa mà
Thúc thủ phủ thành, tinh thần lẫn thể xác Lưu Diên Hựu bị suy kiệt, khả
(61)giết chết Tồn quyền An Nam Đô Hộ Phủ tan rã Và chỗ không ngờ, kế
hoạch “mượn tay kẻ thù tiêu diệt đối thủ”, Phùng Tử Du hoàn tất Sau thắng lợi này, Đinh
Kiến vào tiếp quản phủ thành nhanh chóng xây dựng quan quyền lực ông đứng đầu
Tuy nhiên, ý đồ Phùng Tử Du việc đem quân dẹp loạn hai phe đối nghịch
mệt mỏi tổn thất nặng nề khơng thể thực triều đình nhà Đường xuống lệnh
cho Tư Mã Quế Châu Tào Huyền Tĩnh8đi đàn áp Đinh Kiến.
Bấy giờ, quyền Đinh Kiến non trẻ, lực lượng quân sĩ nhóm họp có tinh
thần chiến đấu cao khả kinh nghiệm trận mạc cịn q ói, cho nên, Tào
Huyền Tĩnh triệt để lợi dụng tình hình để liên tục tổ chức công lớn Dù dã
anh dũng chống đỡ cách ngoan cường nghĩa qn Đinh Kiến khơng
đẩy lùi Tào Huyền Tĩnh Đinh Kiến bị kẻ thù giết hại khởi nghĩa ông cầm đầu đến
đó bị dập tắt, ách đô hộ nhà Đường lại tái lập đất nước ta
Đinh Kiến thân ý chí quật cường khí phách hiên ngang, tâm giành lại độc
lập chủ quyền cho non sơng đất nước Ơng thực xứng đáng xếp vào hàng tên
tuổi lớn truyền thống quật khởi, đặc biệt truyền thống quật khởi thể thời Bắc
thuộc
-
(1) Xin vui lòng tham khảo dịch củaNguyễn Gia Tường Nguyễn Khắc Thuần hiệu đính viết lời bạt Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
1992
(2) Riêng với hai nhân vật Lý Tự Tiên Đinh Kiến, cố gắng tìm kiếm thêm tư liệu từ thần tích truyền thuyết dân gian nhưng kết khơng có đáng kể Do q xa xơi cách trở nên tính khởi thảo tập sách này, chưa thể thực
thêm chuyến khảo sát khác Hi vọng dược bạn đọc gần xa thông cảm vui lịng bổ sung tư liệu Chúng tơi giới thiệu việc
bổ sung sách có may tái bản.
(3) Âu Dương Tu - Tống Kỳ : TÂN ĐƯỜNG THƯ Sách dẫn Tác giả xin thích thêm :dân di lãonghĩa dân già đất man
di Dân di lão có thư tịch cổ chép ngườiLý Cịn nhưTơ phần sản phẩm nơng nghiệp mà dân phải nộp, nhiều tuỳ theo diện
tích sản lượng ruộng đất họ canh tác.
(4) ĐẠI VIỆT SỬ LƯỢC (Quyển 1) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 5, tờ 4-a) BộKHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên, 4, tờ 21) viết tương tự.
(5) Phủ thành An Nam Đô Hộ Phủ đặt Giao Chỉ Địa điểm cụ thể có lẽ khu vực sau thành Tống Bình, thuộc Hà Nội.
(6) Âu Dương Tu - Tống Kỳ : TÂN ĐƯỜNG THƯ.Sách dẫn.ĐẠI VIỆT SỬ LƯỢC (Quyển 1).ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ(Ngoại kỉ,
quyển 5, tờ 4-b) KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên, 4, tờ 21) Tác giả xin thích thêm quân số
của Lưu Diên Hựu không thư tịch cổ Trung Quốc chép (và thư tịch cổ ta chép lại) ChínhÂu Dương
Tu Tống Kỳ TÂN ĐƯỜNG THƯđã ghi rõ quân thường trực An Nam Đô Hộ Phủ 4.200 tên 300 ngựa So với lực lượng
nghĩa binh nhóm họp Đinh Kiến quân số lớn.
(7) Nhân vật sử ta chép Phùng Tử Do, nhiên, thư tịch cổ Trung Quốc lại chép Phùng Tử Du Tác giả xin được thích thêm rằng, thư lịch cổ Trung Quốc nhân vật Phùng Tử Du có giới thiệu mộtđại tộc lại có
giới thiệu quan biên ải Theo chúng tơi có lẽ Phùng Tử Du vừa xuất thân đại tộc vừa làm quan biên ải.
(8 Nhân vật ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ chép làTào Trực Tĩnhnhưng thư tịch cổ Trung Quốc ghi rõ làTào Huyền Tĩnh Trong
trường hợp cụ thể này, ghi chép thư tịch cổ Trung Quốc đáng tin cậy hơn.
VII MAI THÚC LOAN VỚI CUỘC QUYẾT CHÍ ĐẠI ĐỊNH ĐẦU THẾ KỈ VIII
Mai Thúc Loan ở Hoan Châu Quân ba mươi vạn ruổi vào ải xa
Hiệu cờ Hắc Đế mở ra
Cũng toan quét dẹp sơn hà phương.
(Đại Nam quốc sử diễn ca)
Bộ sử nước ta có đề cập tới nhân vật Mai Thúc Loan ĐẠI VIỆT SỬ KÍ
TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 5, tờ 4-b) tất gồm vỏn vẹn chừng độ ba bốn
chục chữ tất nhiên số lượng thông tin quan trọng đáng kể
Mấy kỉ sau, sử gia Quốc Sử Quán Triều Nguyễn với việc biên soạn bộ KHÂM
ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên, 4, tờ 21), đành có cố gắng
(62)cũng giản lược
Ở Trung Quốc, từ góc độ chủ yếu ghi nhận hoạt động đội ngũ quan lại trực tiếp nắm
quyền đô hộ nước ta, vài tác phẩm sử học mà đặc biệt TÂN ĐƯỜNG
THƯ (do Âu Dương Tu Tống Kỳ biên soạn), có viết Mai Thúc Loan Tất nhiên
chân dung Mai Thúc Loan sử sách Trung Quốc ln ln bị bóp méo, hành trạng
Mai Thúc Loan trở nên xa lạ với ơng bối cảnh lịch sử thời đại ông
Tóm lại, thơng tin Mai Thúc Loan kho thư tịch cổ rời rạc nghèo nàn Mặc dù
vậy, cẩn trọng tổng kết ghi chép tản mạn sử cũ ta Trung
Quốc, đồng thời, cố gắng đối chiếu thật tỉ mỉ với nội dung thần tích lời kể truyền
thuyết dân gian (nhất thần tích truyền thuyết dân gian hai tỉnh Nghệ An Hà Tĩnh),
chúng ta bước đầu phác hoạ vài nét lí lịch đời nghiệp Mai
Thúc Loan
1 QUÊ HƯƠNG, GIA ĐÌNH VÀ THỜI ĐẠI
Mai Thúc Loan người làng Mai Phụ, thuộc Hoan Châu Làng Mai Phụ (tên Nôm Kẻ Mỏm)
nguyên xưa thuộc huyện Thiên Lộc, sau huyện Can Lộc, thuộc xã Thạch Bắc, huyện
Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh1 Truyền thuyết dân gian vùng huyện Thạch Hà cho hay rằng, họ Mai
chính họ thân mẫu Mai Thúc Loan cịn thân sinh ơng họ tên chưa rõ Mai Thúc Loan phải chịu cảnh mồ côi cha từ lúc cịn nhỏ tuổi, gia đình ơng thuộc vào hàng nghèo khó vùng Kẻ Mỏm đương thời Tài sản quý giá Mai Thúc Loan sức
khoẻ mà ơng may mắn trời ban cho Đời truyền Mai Thúc Loan người cao to, tay
bng dài q gối cịn da đen Ơng giỏi võ nghệ, lại có tiếng sáng đặc
biệt có duyên! Năm Mai Thúc Loan chưa đầy 10 tuổi thân mẫu ơng dời nhà định
cư vùng rừng núi Ngọc Trừng (vùng ngày thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) Tại
đây Mai Thúc Loan phải làm đủ việc nặng nhọc để kiếm sống : vào rừng lấy củi
bán, chăn trâu, cày thuê cuốc mướn, đợ Tuy phải sống cực vất vả phải chịu đựng
thiếu thốn trăm bễ ông luôn yêu đời Hai mẹ ông lúc biết thương yêu
đùm bọc che chở cho Bấy giờ, Mai Thúc Loan lại có tiếng người giàu lịng hiếu
thảo, cho nên, dân vùng quý mến gia đình Mai Thúc Loan
Mai Thúc Loan lớn lên cảnh non sơng bị chìm đắm ách đô hộ tàn bạo nhà Đường
(618-907), trăm họ phải chịu đựng nỗi thống khổ Bấy Trung Quốc,
phe cánh Vũ Tắc Thiên 2đã bị lật đổ, Hoàng Đế nhà Đường Đường Huyền Tông (712-756) 3 sức tìm đủ cách để củng cố ngơi vị và quyền lực mình Ách thống trị
nhà Đường nước ta mà thêm tàn bạo Lợi dụng việc trấn trị nơi cách
xa triều đình trung ương, bọn quan lại hộ tự cho quyền tự tung tự tác Nhiều thư
tịch cổ Trung Quốc thừa nhận rằng, viên quan muốn cử An Nam Đô Hộ
Phủ phải bỏ tiền hối lộ, gọi tiền gạo tiến thân 4 Để bù lại số tiền gạo tiến
thân đã bỏ quan trọng nữa, để làm giàu cho riêng mình, chúng tìm đủ cách để vơ vét
Lúc này, Tô-Dung-Điệu tuy đặt chế độ cống nạp áp dụng
cách phổ biến riết Mượn danh nghĩa thu cống phẩm cho triều đình, bọn quan lại nhà
Đường ngang nhiên tước đoạt nhân dân ta tất mà chúng xếp vào loại đặc sản,
tất mà chúng cho quý nhất, tốt nhất, đẹp lạ nhất, tất chúng
muốn có tất mà chúng khơng muốn dân ta có Phần tài sản nhân dân ta mà
chúng ngang nhiên tước đoạt cách trắng trợn gọi ngoại suất5 Với xã hội
đương thời, ngoại suất luôn nỗi ám ảnh nặng nề Điều đáng nói hầu hết
khoản ngoại suấtđều quyền hộ nhà Đường quy lụa lần quy đổi thêm lần thiệt hại cho dân
-
(63)Thành, lại có chép Mai Thúc An Và thư tịch cổ Trung Quốc, nghiệp Mai Thúc Loan luôn thổi phồng
lên mà lí chủ yếu quyền hộ nhà Đường nước ta muốn đề cao cơng đánh dẹp
(2) Vũ Tắc Thiên có họ tên thật Vũ Chiếu, sinh năm 624, năm 705, hưởng thọ 81 tuổi Nguyên Vũ Tắc Thiên Hoàng Hậu Đường
Cao Tông (649-683) Đường Cao Tông sủng ái, với Đường Cao Tông xưng Nhị Thánh, đồng thời tham gia giải
những việc lớn triều đình Năm 683, Đường Cao Tông qua đời, Lý Hiển (Đường Trung Tông) đưa lên nối Vũ Tắc
Thiên lại nắm quyền Giám Triều Năm 684, Vũ Tắc Thiên phế Đường Trung Tông lập Lý Đán (tức Đường Dệu Tông - em ruột Đường Trung Tơng), chẳng sau đến lượt Đường Duệ Tông bị Vũ Tắc Thiên phế bỏ Năm 690, Vũ Chiếu thức lên ngơi
Hoàng Đế, xưng làThánh Thần Hoàng Đế, đổi quốc hiệu nhà Chu dời kinh đô từ Trường An Lạc Dương Sử Trung Quốc gọi thời
Vũ Chu (690-705)
(3) Đường Huyền Tơng tên Lý Long Cơ Hồng Đế thứ bảy nhà Đường, thứ Đường Duệ Tông, sinh năm 685, lên năm 712, ngôi Hồng Đế 44 năm (712-756), ngơi Thượng Hồng năm (756-762), năm 762, hưởng thọ 77 tuổi.
(4) Âu Dương Tu - Tống Kỳ(Trung Quốc) : Sách dẫn.
(5) Nhạc Sử (Trung Quốc) :THÁI BÌNH HỒN VŨ KÍ Kim Lăng ấn bản.
2 ĐẤT BẰNG NỔI SÓNG
Năm 722, Mai Thúc Loan lại phải phu Bấy quyền hộ nhà Đường quy định dân
đinh năm phải phu từ 20 đến 50 ngày Tất nhiên, quy định giấy tờ
thực tế dân đinh nghèo khổ phải quanh năm lao động không công để phục dịch
cho giai cấp thống trị Lần này, Mai Thúc Loan phải làm phu gánh vải1 Đường xa, gánh
nặng, cực nhọc trăm bề, nghe tới chuyện phải làm phu gánh vải
ngao ngán Lời hát chầu văn vùng Nam Đàn (tỉnh Nghệ An) có câu :
Nhớ nội thuộc Đường triều.
Giang sơn cố quốc nhiều điều ghê gai Sâu vải vạch lá.
Ngựa hồng trần kể héo hon 2
Không thể tiếp tục chịu đựng cảnh bị áp bất công nữa, Mai Thúc Loan dõng dạc
kêu gọi tồn thể đồn phu gánh vải đồng lịng vùng dậy chống ách đô hộ nhà Dường
Ngay lập tức, lời kêu gọi ông toàn thể đoàn phu tề hưởng ứng Dân khắp cõi
cũng nồng nhiệt ủng hộ lực lượng nghĩa sĩ Mai Thúc Loan vừa thành lập lãnh đạo
Quan quân đô hộ nhà Đường phải thực đối đầu với đấu tranh vũ trang mạnh mẽ
Địa bàn hoạt động địa bàn hoạt động chủ yếu lâu dài nghĩa quân
Mai Thúc Loan vùng Châu Hoan, Châu Diễn Châu Ái Tuy nhiên, chẳng sau
ngày dựng cờ xướng nghĩa, theo ghi chép thư tịch cổ Trung Quốc Mai Thúc Loan nhanh chóng liên kết tập hợp dân chúng 32 châu3 Hơn nữa, theo ghi chép
của thư tịch cổ Trung Quốc Mai Thúc Loan cịn nhận hưởng ứng mãnh liệt
nhân dân số nước chung quanh Sử cũ chép Mai Thúc Loan “liên kết với dân nước Lâm Ấp, Chân Lạp Kim Lân, giữ vững Nam Hải, quân số lên đến 40 vạn người”4 Nhờ có
lực lượng đơng đảo lại cịn nhân dân địa phương đồng lòng ủng hộ từ quê nhà
đất Nghệ An, Mai Thúc Loan cho đại quân rầm rộ tiến thẳng Bắc mà mục tiêu quan trọng
hàng đầu thành Tống Bình (vùng Hà Nội ngày nay) Quân Mai Thúc Loan tiến đến đâu
chính quyền giặc tan rã tới Viên quan đứng đầu quan đô hộ nhà Dường An Nam
Đô Hộ Phủ lúc Quang Sở Khách 5 khiếp đảm trước cơng ạt
nghĩa quân Mai Thúc Loan nên nhanh chân tháo chạy Trung Quốc Ngay lập tức, Mai Thúc
Loan thành lập quyền độc lập tự chủ ơng đứng đầu Ơng xưng Mai Hắc Đế thay đóng thành Tống Bình Mai Hắc Đế lại quay q nhà đóng thành Vạn
An (thành thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) Thành Vạn An nằm khu Sa
Nam Khu số nhà nghiên cứu khảo sát mô tả chi tiết sau
: “Đấy vùng núi rừng rậm rạp nằm cạnh sông Lam khúc hiểm sâu Ông lấy Vệ Sơn làm trung tâm, đóng đại doanh nghĩa quân Dọc bờ sông Lam, nghĩa quân đắp chiến lũy dài
hơn nghìn mét Đấy thành Vạn An tiếng, có núi Đụn (Hùng Sơn) làm chỗ dựa ; phía
(64)cạnh thành Vạn An, đồn tổng huy, thống lĩnh hai đạo quân thuỷ bộ” 6 Như vòng 30 năm (từ năm Lý Tự Tiên Đinh Kiến dõng dạc cất lời hiệu triệu bốn phương
cầm vũ khí để vùng dậy khởi nghĩa năm Mai Thúc Loan vung gươm chí đại định),
chính quyền đô hộ nhà Đường hai lần bị đánh đổ Thắng lợi Mai Thúc Loan đòn
cảnh cáo nghiêm khắc mưu đồ chung chủ nghĩa bành trướng đại Hán dự
báo tốt đẹp cho khả giành trọn vẹn độc lập tự chủ nhân dân ta
Tuy nhiên, bình đẳng nhân vật lịch sử khác, Mai Thúc Loan có hạn chế tất
yếu ông Xem cách Mai Thúc Loan chọn đất đóng đặc biệt cách bố phòng chung
quanh thành Vạn An, điều mà dễ dàng nhận tư tưởng phòng ngự
đã xuất sớm chi phối mạnh suy nghĩ hành động ông Khi
mà bọn quan quân đô hộ tháo chạy chưa hoàn toàn bị tiêu diệt, mà việc trấn áp
tay chân phong kiến phương Bắc tiến hành chưa triệt để mà quyền chưa
được xây dựng cách chắn hồn chỉnh việc lui phịng thủ thành Vạn An
trong năm 722 định vội vàng điều bị kẻ thù nhanh chóng phát
tìm cách lợi dụng
-
(1) Gần có người đặt vấn đề nghi ngờ việc Mai Thúc Loan gánh vải với lí vùng Nghệ An Hà Tĩnh vải
Chúng tơi đồng ý vùng Nghệ An Hà Tinh vải, Mai Thúc Loan ngườiphải làm phu gánh quả vảiở các địa phương khác theo lệnh bắt buộc quyền hộ nhà Đườngchứ là làm phu gánh quả vải từ Nghệ An hay Hà Tĩnh Cho nên, việc nghi ngờ khơng có vững chắc.
(2) Dẫn lại củaPhan Huy Lê - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn - Lương Ninh : LỊCH SỬ VIỆT NAM Tập 1, NXB Đại học Trung học
chuyên nghiệp Hà Nội 1983 Trang 446.
(3) Theo chúng tôi, số 32 châu đáng ngờ, tất có lẽ bọn quan quân nhà Đường đàn áp Mai Thúc Loan muốn định cơng to ban thưởng lớn nên nói phao lên thế.
(4) KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên, 4, tờ 21) Các tác giả củaĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ(Ngoại kỉ,
quyển 5, tờ 4-b) khơng chép nước Kim Lân Chúng tơi xin thích thêm : Lâm Ấpvề sau phần củaChiêm Thành
nhưChân Lạp lúc có lãnh thổ tương ứng với vùng Nam Bộ nước ta cộng với Campuchia phần Đông Bắc Thái Lan
ngày Kim Lân cịn có tên khác Kim Trần tức Malaysia Quân số Mai Thúc Loan đông tới 40 vạn Một lần cách thổi phồng quan quân nhà Đường cốt để mong định công to ban thưởng lớn.
(5) Nhân vậtQuang Sở Kháchđã bị bộĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ(Ngoại kỉ, 5, tờ 4- b) chép nhầm thànhNgun Sở Khách Lí có lẽ Hán tự, mặt chữNguyên mặt chữQuang gần giống nên dễ nhầm.Quang Sở Kháchngười Giang Lăng (Trung Quốc),
sang nhận chức An Nam Đô Hộ Phủ vào đầu năm 714 (năm Khai Nguyên thứ hai, đời Đường Huyền Tông : 712-756)
(6) Phan Huy Lê - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn - Lương Ninh : LỊCH SỬ VIỆT NAM Tập 1, NXB Đại học Trung học chuyên nghiệp
Hà Nội 1983 Trang 446-447
3 NGHĨA KHÍ VĨNH TỒN VỚI NÚI SƠNG
Về phía qn hộ, Quang Sở Khách hốt hoảng tháo chạy Trung Quốc tiềm lực
chung nhà Đường lại vào thời cường thịnh nhất, thế, Đường Huyền Tơng (712-756)
dã hạ chiếu sai quân đàn áp Mai Thúc Loan Tổng huy quân đội nhà Đường
cuộc cơng đàn áp có quy mơ lớn Dương Tư Húc1 - một viên dũng
tướng khét tiếng dày dạn kinh nghiệm triều đình Đường Huyền Tơng Viên bại tướng
Quang Sở Khách với Dương Tư Húc để làm hướng đạo để có hội lập
công chuộc tội Quân số Dương Tư Húc 10 vạn tên gồm đủ binh thuỷ binh So với
lực lượng nghĩa sĩ nhóm họp Mai Thúc Loan thực quân số áp đảo Đó
chưa kể đến số quan lại nhà Đường phạm tội nên bị đày đến An Nam, mong sớm
phục chức nên bọn sức tìm đủ mỏi cách để chiêu mộ qn lính, tình nguyện theo
Dương Tư Húc đàn áp Mai Thúc Loan2
Quân nhà Đường men theo lối xưa Mã Viện để tiến, tức từ phía Nam Khâm Châu
(Trung Quốc), vượt qua biển vịnh Hạ Long mà tràn vào An Nam Nhân lúc nhuệ khí hăng,
Dương Tư Húc Quang Sở Khách hạ lệnh cho quân sĩ công cấp tập vào lực lượng Mai
Thúc Loan vùng duyên hải Đông Bắc ạt đánh vào vùng đồng Bắc Bộ Nghĩa quân Mai
Thúc Loan chiến đấu anh dũng thiếu kinh nghiệm trận mạc trang bị lại
quá thô sơ nên liên tiếp bị thất bại, Mai Thúc Loan liền lui quân cố thủ khu vực thành
Vạn An
Từ khu vực đồng Bắc Bộ, Dương Tư Húc cho quân tiến vào Nghệ An, chặn đứng
(65)định thắng bại cuối Đúng lúc tình hình diễn tiến theo chiều hướng bất lợi cho
nghĩa quân Mai Thúc Loan lại lâm bệnh mà qua đời 3 Tổn thất nghiêm trọng khiến cho
khơng nghĩa sĩ phải tìm đường tạm lánh để chờ thời Chớp lấy hội đó, Dương Tư Húc cho
đại quân xông vào thành Vạn An toàn khu nghĩa quân vùng Sa Nam Một
đàn áp đẫm máu chưa thấy diễn Hàng ngàn nghĩa sĩ nhân dân địa phương bị
giặc giết hại, tất chôn chung vào mộ tập thể lớn gọi Kình Quán
Cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ tàn bạo nhà Đường Mai Thúc Loan phát động lãnh
đạo nhanh chóng bị thất bại ý chí quật cường gương dám xả thân cứu nước
của tất nghĩa sĩ tập hợp cờ Mai Thúc Loan mãi ngời sáng sử sách
Trong tâm khảm bất diệt hệ nhân dân ta, Mai Thúc Loan niềm kiêu hãnh lớn
lao, đỉnh cao chói lọi chủ nghĩa yêu nước Trải ngàn năm, mộ
đền thờ Mai Thúc Loan cịn đó, tên ơng vĩnh tồn với Hùng Sơn, Vệ Sơn, Ngọc Đái Sơn,
Biều Sơn, Liêu Sơn với thành Vạn An, với sông Lam với muôn đời đất nước
Hồng Giáp Ngơ Thì Sĩ (1725-1780) có lời : "Đang bị nội thuộc, Mai Hắc Đế khơng chịu kiềm thúc bọn quan lại tàn ác nên vùng lên, bậc xuất chúng trong đám thổ hào vậy” Ngơ Thì Sĩ khơng xác xếp Mai Thúc Loan vào hàng “thổ
hào” ông hoàn toàn đánh giá Mai Thúc Loan "bậc xuất chúng” Tuy
xuất thân hàng cố xã hội, chưa lần huấn luyện binh pháp
những nguyên tắc cầm quân, nhưng, lòng yêu nước thiết tha, lòng căm thù giặc sâu sắc cộng với
niềm tin mãnh liệt vào toàn thể người cảnh ngộ bị áp đoạ đày mình, Mai
Thúc Loan khiến cho đương thời lẫn hậu cảm phục tài tập hợp, tổ chức huy
nghĩa sĩ ông Mai Thúc Loan biểu sinh động nghệ thuật bố trí trận đánh
bất ngờ vào lực lượng đối phương
Quang Sở Khách triều đình nhà Đường Hồng Đế Đường Huyền Tơng xếp vào hàng
những viên tướng giàu tài nên tin cậy uỷ thác việc trấn trị An Nam Đô Hộ Phủ Trước
khi phát động khởi nghĩa, Mai Thúc Loan dân phu bình thường chưa
tướng trực tiếp cầm quân cả, nhưng, người đánh cho viên tướng triều đình
phong kiến Trung Quốc xếp vào hàng giàu tài - nữa, cịn kẻ có thành
cao, hào sâu, quân đông trang bị đầy đủ - rốt phải hốt hoảng bỏ chạy rõ ràng
Mai Thúc Loan xứng đáng đời công trân trọng coi bậc danh tướng
-
(1) Theo Âu Dương Tu - Tống Kỳ (Trung Quốc) Sách dẫn, Dương Tư Húc vốn người họ Tơ, q huyện Thạch Thành, thuộc La Châu,
xuất thân hoạn quan lại chuyên nghề võ Dưới thời Đường Huyền Tông, Dương Tư Húc xếp vào hàng võ tướng có tiếng tăm
nổi bật
(2) Theo Âu Dương Tu - Tống Kỳ (Trung Quốc) Sách dẫn, nhân vật Tống Chi Đễ đại diện tiêu biểu bọn quan lại thuộc loại (3) Tất thư tịch cổ ta nói Mai Thúc Loan năm 722 mà khơng nói rõ lí truyền thuyết dân gian vùng Nam Đàn
(Nghệ An) nói Mai Thúc Loan bệnh Sau ơng mất, trai ơng lên nơi ngơi, Mai Thiếu Đế Hiện Hùng Sơn (núi Đụn) cịn có hai ngơi mộ xác định mộ Mai Hắc Đế (tức Mai Thúc Loan) mộ Mai Thiếu Đế
VIII HAI ANH EM PHÙNG HƯNG, PHÙNG HÃI VÀ HAI TRẬN QUYẾT ĐẤU
VỚI QUÂN ĐÔ HỘ NHÀ ĐƯỜNG
Đường Lâm có Phùng Hưng Đã tài kiêu dũng lại lưng phú hào
Cõi Tây nổi việc cung đao
Đô Quân tôn hiệu, Tản-Thao hiệp tình (Đại Nam quốc sử diễn ca)
(66)Ngay từ cuối thời trị Đường Huyền Tơng (712-756), triều đình nhà Đường bắt đầu gặp
khơng khó khăn đối nội lẫn đối ngoại Ở bên vào năm 755, tướng An Lộc
Sơn1 binh làm phản, bên ngồi người Thổ Phồn 2ln đem qn tới đánh phá,
chưa kể tình hình bất ổn triền miên Đơ Hộ Phủ
Dưới thời trị Đường Túc Tơng (756-762), Đường Đại Tông (762-779) Đường Đức Tông
(779-805), khó khăn nhà Đường thêm chồng chất công khai chống đối
Tiết Độ Sứ nhiều phiên trấn Thư tịch cổ Trung Quốc cho biết :
- Đầu thời Đường Đại Tông, Tiết Độ Sứ trấn Lư Long (vùng Bắc Bình Trung Quốc ngày
nay), Tiết Độ Sứ trấn Ngụy Bắc (vùng Trực Lệ Trung Quốc ngày nay), Tiết Độ Sứ
trấn Thành Đức (cũng thuộc vùng Trực Lệ Trung Quốc ngày nay) nguyên hàng tướng
nhà Đường, đến không chịu tuân theo mệnh lệnh triều đình
- Dưới thời Đường Đức Tơng, viên tướng Vương Vũ Tuấn, Điền Duyệt, Lý Nạp, Chu
Thư, Lý Hy Liệt, Lý Hoài Quảng nối làm loạn, khiến cho Đường Đức Tông buộc phải
mấy phen bỏ kinh thành mà chạy
- Ở nhiều trấn khác, chức Tiết Độ Sứ bị quan trấn trị coi chức cha truyền nối, triều
đình nhà Đường đành phải chịu chấp thuận khơng cịn có quyền phong
Tình hình trị diễn biến ngày phức tạp biện pháp quản lí nhà Đường lại
thường thiếu quán liên tục đổi thay cách không cần thiết Vào năm Kỉ Mão
(679), Đường Cao Tông (649-683) đặt raAn Nam Đơ hộ phủ đến năm Đinh Dậu (757) Đường
Túc Tông (756-762) cho đổi An Nam Đô Hộ Phủ thành Trấn Nam Đô Hộ Phủ mười
năm sau, năm Nhâm Thân (768), Đường Đại Tông (762-779) lại cho đổi Trấn Nam Đô Hộ Phủ
thành An Nam Đô Hộ Phủnhư cũ Mỗi lần đổi tên lần thay đổi máy quan lại đô
hộ lần thay đổi máy quan lại đô hộ lần nhân dân khắp cõi buộc phải
nai lưng làm việc để đóng góp thêm cho giặc
Vào nửa sau kỉ VIII, Cao Chính Bình 3được triều đình nhà Đường cho giữ chức đứng đầu
An Nam Đô Hộ Phủ Đây viên quan khét tiếng tàn bạo tham lam, dã
vắt óc nghĩ đủ thứ thu vào để vơ vét cho riêng thân Bấy giờ, nhân
dân ta mà binh lính quyền Cao Chính Bình khơng chịu đựng Một
làn sóng phản kháng mạnh mẽ chẳng sau binh biến nổ
trong thành Tống Bình 4 Cao Chính Bình đến nhận chức chưa Sự kiện đã
khiến cho tồn guồng máy quyền hộ phủ phen thất điên bát đảo
Theo ghi chép của VIỆT ĐIỆN U LINH 5 tổ tiên hai anh em Phùng Hưng Phùng Hãi đời
đời nối làm Quan Lang vùng Đường Lâm6 Sinh thời, Phùng Hưng giữ chức
này Ơng vốn nối tiếng khoẻ mạnh "có thể đánh cọp dữ, vật trâu lớn"7 tính tình nhân
hậu gia đình giàu có Em trai ông Phùng Hãi 8cũng lừng danh không Đời truyền
rằng Phùng Hãi có thể“mang tảng đá nặng ngàn cân, đội thuyền có sức chở
ngàn hộc mà xa tới mười dặm"9 Dân khắp vùng ai nể phục Rất tiếc tất tài liệu có khơng cho biết năm sinh hai anh em Phùng Hưng Phùng Hãi Phùng
Hưng năm Tân Mùi (791) cịn Phùng Hãi năm chưa rõ
-
(1) An Lộc Sơn xuất thân người thiểu số, quê Bắc Trung Quốc Dưới thời Đường Huyền Tông, An Lộc Sơn phong làm Tiết Độ Sứ
trấn Bình Lư vùng Nhiệt Hà Trung Quốc ngày nay) kiêm Tiết Độ Sứ trấn Phạm Dương (vùng Bắc Bình Trung Quốc ngày nay) Trước
nổi binh làm phản, An Lộc Sơn Dương Thái Hậu (thân mẫu Đường Túc Tông : 756-762) nhận làm nuôi
(2) Thổ Phồn vừa tên tộc người, vừa lên vương quốc cổ lịch sử Trung Quốc Đất đai vương quốc cổ đổi thay nhưng tương ứng với vùng Tây Tạng Trung Quốc ngày
(67)(4) Vào thời thuộc Tuỳ (602-618) đầu thời thuộc Đường (618-905), Tống Bình tên số chín huyện quận Giao Chỉ Phần lớn đất đai huyện Tống Binh vùng phía đông thành phố Hà Nội Trong phạm vi địa hạt huyện Tống Bình có thành Tống Bình Đây nơi đặt sở trị quyền quận Giao Chỉ Vị trí cụ thể thành Tống Bình chưa xác định dược cách rõ ràng
thuộc Hà Nội ngày
(5) Tác phẩm quan trọng phần lớn nhà khảo cứu văn học coi củaLý Tế Xuyên Vì lẽ đó, từ trở đi, tất đoạn
trích dẫn có nguồn gốc từVIỆT ĐIỆN U LINH, chúng tơi ghi tên tác giả Lý Tế Xuyên
(6) Theo kết khảo sát chúng tơi Hà Tây dịng họ Phùng đông riêng khu vực Đường Lâm, huyện Phúc Thọ
tỉnh Hà Tây có đền thờ Phùng Hưng khơng thấy có họ Phùng Điều cho phép suy luận : bị dàn áp khốc liệt, họ Phùng buộc phải di cư dến vùng khác
(7) Lý Tế Xuyên - VIỆT ĐIỆN U LINH
(8 Em trai Phùng Hưng tên nguyên Hán văn viết Phùng Hãi nhiều sách phiên âm nhầm thành Phùng Hải
Trong chữ Việt,Hải Hãi dễ nhầm lẫn chữ Hán Hải Hãi hồn tồn khác nhau, khơng thể nhầm lẫn Nay, chúng xin theo mặt chữ Hán mà phiên âm Phùng Hãi
(9) Lý Tế Xuyên - VIỆT ĐIỆN U LINH
2 TRẬN QUYẾT ĐẤU THỨ NHẤT : PHÁ VỠ MỘT MẢNG CHÍNH QUYỀN ĐƠ HỘ
Như nói vào năm 767, Cao Chính Bình triều đình Đường Đại Tơng (762 - 779) bổ
làm quan đứng đầu An Nam Đô Hộ Phủ Trong thời thuộc Đường nói riêng tồn thời Bắc
thuộc nói chung, Cao Chính Bình viên quan đô hộ tham lam tàn bạo vào
hàng bậc Chính sử Trung Quốc buộc phải hạ bút mà ghi "Cao Chính Bình lạm thu phú liêm, man dân ốn" (Cao Chính Bình lạm thu thuế má khoản đóng
góp khác, dân man ốn giận) Nhân lịng căm phẫn nhân dân đương thời, Phùng Hưng
khởi xướng đấu tranh
Khởi đầu, đấu tranh không bột phát dội không phần gay go
quyết liệt, diễn trước hết đất Đường Lâm Hiện tại, chưa rõ hai ơng thức
dựng cờ tụ nghĩa vào năm nào, thư tịch cổ cho biết nhân dân vùng Đường Lâm
nhất tề hưởng ứng lời kêu gọi Phùng Hưng Phùng Hãi, vùng lên giành quyền vào
khoảng niên hiệu Đại Lịch 1 (tức là khoảng năm từ cuối 766 đến hết năm 779) Tuy
nhiên, vào nguyên cớ trực tiếp chống lại tàn bạo Cao Chính Bình,
tạm ước đoán hai anh em Phùng Hưng Phùng Hãi hiệu triệu nhân dân dậy vào
khoảng năm cuối niên hiệu Đại Lịch tức vào khoảng năm bảy mươi kỉ
VIII) Sử cũ viết : “Khoảng niên hiệu Đại Lịch, thời trị Đường Đại Tơng, nhân Giao
Châu loạn lạc, (Phùng Hưng) với em (Phùng) Hãi hàng phục ấp lân cận."2
Bấy giờ, Phùng Hưng xưng Đô Quân cịn Phùng Hãi xưng Đơ Bảo 3và đất Đường Lâm trở
thành sào huyệt kiên cố nghĩa qn.Tồn quyền hộ nhà Đường
vùng Đường Lâm khu vực lân cận (gồm phần lớn đất Hà Tây với phần đất đai
của tỉnh Vĩnh Phúc Phú Thọ ngày nay) bị tan rã thay vào quyền tự
chủ Phùng Hưng đứng đầu nhanh chóng dựng lên Hiện chưa rõ quan
quyền lực Phùng Hưng đứng đầu tổ chức với nhũng thiết chế cụ thể nào,
nhiên, điều khẳng định lực lượng vũ trang quyền mạnh, đủ để khiến
cho bọn quan quân đô hộ buộc phải kiêng dè, không dám liều lĩnh mở hành quân đàn áp vào Đường Lâm
Thắng lợi anh em Phùng Hưng Phùng Hãi khiến cho nhân dân địa phương.nức lòng
phấn khởi cịn quyền hộ giặc nhiều nơi khác bị rệu rã theo
muốn hay khơng điều buộc Cao Chính Bình phải ngày đêm lo lắng khơng ngi Dẫu
hết sức tức tối Cao Chính Bình đành phải cam chịu trước đường đường tồn
guồng máy quyền Phùng Hưng
Lý Tế Xuyên nói Phùng Hưng cầm đầu guồng máy quyền tự chủ khoảng bảy
(68)tương tự vậy, nhưng, sau tiến hành đối chiếu so sánh nhiều nguồn tư liệu khác
(của Việt Nam Trung Quốc), chúng tơi lại thấy có phần khác Giá thử Phùng Hưng
giành quyền vùng Đường Lâm khu vực lân cận vào năm cuối niên
hiệu Đại Lịch (tức năm 779) tính từ năm Phùng Hưng qua đời (năm 791)
đã dài đến 12 năm Xuất phát từ thực tế rõ ràng khơng thể phủ nhận này, hồn tồn kết luận quyền tự chủ Phùng Hưng lập tồn trước sau
khoảng mười năm Đó khoảng thời gian có độ dài đáng kể, quan trọng hơn, với
khoảng thời gian tồn đáng kể vậy, nhận thức hậu quy mơ tầm
vóc nghiệp Phùng Hưng khác trước
-
(1) Đại Lịch niên hiệu Đường Đại Tông Niên hiệu sử dụng từ tháng 11 năm 766 đến hết năm 779 Tác giả xin trình bầy
thêm : Hầu hết thư tịch cổ Trung Quốc Việt Nam, thần tích truyền thuyết dân gian vùng Hà Tây khẳng định
Phùng Hưng dậy chống quan hộ Cao Chính Bình vào khoảng niên hiệu Đại Lịch, có Quốc Sử quán nhà Nguyễn trongĐẠI NAM
NHẤT THỐNG CHÍ (Sơn Tây tỉnh)ghi chép Phùng Hưng khởi nghĩa vào khoảng niên hiệu Trinh Nguyên (785-805) thời trị Đường Đức Tơng (779-805) giành quyền 11 năm Theo chúng tôi, ghi chép không Cao Chính Bình Phùng
Hưng vào năm 791, cho Phùng Hưng có tổ chức khởi nghĩa vào đầu năm Trinh Nguyên thứ (785), tính đến năm
791 năm, 11 năm được.
(2) ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ (Ngoại kỉ, 5, tờ 6-a) Các sử thần Quốc Sử Quan nhà Nguyễn trongKHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Tiền biên 4, tờ 26) viết tương tự thế.
(3) Theo ghi chép Lý Tế Xuyên VIỆT ĐIỆN U LINH dựng cờ khởi nghĩa chống ách đô hộ nhà Đường, Phùng Hưng đổi
tên Cự Lão cịn Phùng Hãi đổi tên Cự Lực.
(4) Đền Thịnh Quang thuộc quận Đống Đa (Hà Nội), tờ thần tích có nhan đề Phu Hựu Chương Tín Sùng Nghĩa Bố Cái Đại Vương
thần, có lẽ bước đầu soạn thảo vào khoảng đầu thề kỉ thứ XIV sau triều đại sau bổ thêm Văn
rất trùng khớp với lịch sử thực có từ thời Nguyễn.
3 TRẬN QUYẾT ĐẤU THỨ HAI : ĐẬP TAN TOÀN BỘ GUỒNG MÁY ĐÔ HỘ CỦA GIẶC
Đúng vào lúc viên quan đứng đầu quyền hộ giặc Cao Chính Bình bối
rối tức tối phải hồn tồn cam chịu bất lực trước hoạt động táo bạo nghĩa quân
Phùng Hưng Phùng Hãi đơng đảo qn sĩ Cao Chính Bình đóng thành Tống Bình
cũng bất bình mà tề lên làm binh biến Một hội vô thuận lợi hai
anh em Phùng Hưng Phùng Hãi xuất Bấy giờ, thể theo lời khuyên mưu sĩ Đỗ
Anh Hàn 1, hai anh em Phùng Hưng Phùng Hãi liễn tập hợp lực lượng, ạt công vào sào huyệt kiên cố quân đô hộ lúc thành Tống Bình Mưu sĩ Đỗ Anh Hàn nguyên vị Tù Trưởng có danh tiếng vùng đất Đường Lâm, đồng thời
cũng người đồng hương hai anh em Phùng Hưng Phùng Hãi Khi Phùng Hưng
Phùng Hãi dựng cờ xướng nghĩa, Đỗ Anh Hàn người dã hăng hái đến tham gia hướng ứng
đầu tiên Ơng nhanh chóng trở thành vị dũng tướng trực tiếp cầm quân, sau, ông
một mưu sĩ giàu tài chỗ dựa thật tin cậy nghĩa quân Cống hiến
Đỗ Anh Hàn nghĩa quân Phùng Hưng đa dạng lớn lao
Trước sức mạnh cơng táo bạo này, "(Cao) Chính Bình vừa lo sợ lại vừa phẫn uất
mà chết" Các sử xưa chép kiện diễn vào tháng năm Tân Mùi (791)
Tuy nhiên, nhiều cơng trình khảo cứu sử học Việt Nam công bố từ trước đến
(trong có số cơng trình chúng tôi) hạn chế khối lượng tư liệu nên
viết rằng, năm Tân Mùi (791) năm quyền Phùng An bị diệt vong khơng phải năm
Phùng Hưng tiến hành trận đấu thứ hai với quân đô hộ nhà Đường Thực ra, năm
đồng thời diễn hai kiện khác Sau nhiều lần tiến hành khảo sát đối sánh
ghi chép sử xưa, chúng tơi xin trân trọng đính lại Phùng Hưng
tấn cơng thành Tống Bình vào tháng năm Tân Mùi (791) khởi nghĩa
Phùng Hưng đến tháng năm 791 bị tiêu diệt
Sử cũ chép Phùng Hưng vào thành Tống Bình "chưa mất",
riêng Lý Tế Xuyên lại chép có phần khác :"Vương (đây Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng - NKT) vào phủ Đô Hộ, nắm quyền trị dân chừng bảy năm mất" Kho tàng truyền thuyết
dân gian phong phú vùng Hà Tây có lời kể khơng khác biệt so với
(69)toàn thời gian cầm quyền Phùng Hưng kể từ chiếm Đường Lâm khu vực
lân cận tháng năm 791 khoảng thời gian từ Phùng Hưng chiếm
được thành Tống Bình (tháng năm 791) trở
Trong phần lớn truyền thuyết, đoạn kể trình tổ chức bao vây thành Tống Bình
độc đáo Theo : tiến qn đến thành Tống Bình, Phùng Hưng Phùng Hãi
mưu sĩ Đỗ Anh Hàn xét thấy lực lượng giặc suy yếu quân sĩ
chưa đủ sức để đè bẹp kẻ thù, Phùng Hưng, Phùng Hãi huy nghĩa quân
lập tức toả khắp địa phương chung quanh thành Tống Bình để huy động thêm sức người,
sức sắm sứa thêm vũ khí, cịn nhiệm vụ tổ chức bao vây thành Tống Bình trân
trọng giao cho ba người cháu gái gọi Phùng Hưng bác (đời gọi Ba bà họ Phùng) Đội
quân làm nhiệm vụ bao vây thành Tống Bình Ba bà họ Phùng chỉ huy ngày đêm
nhau hị hét dội, thế, Cao Chính Bình lo sợ mà chết !
Từ tư liệu tản mạn kể trên, bước đầu, tạm hình
dung hai giai đoạn khác khởi nghĩa Phùng Hưng phát động lãnh đạo sau :
Giai đoạn 1 : Phùng Hưng em ruột Phùng Hãi kêu gọi nhân dân dậy mà mục
tiêu đập tan quyền hộ nhà Đường khu vực Đường Lâm số
vùng lân cận Giai đoạn bắt đầu vào khoảng từ sau năm 767 kết thúc vào đầu năm 791
Giai đoạn 2 : Nhân thấy quan quân đô hộ lục đục mâu thuẫn với thể theo đề nghị
của mưu sĩ Đỗ Anh Hàn, Phùng Hưng Phùng Hãi dốc lực lượng đánh vào thành Tống Bình
Viên quan giữ chức Đơ Hộ nhà Đường lúc Cao Chính Bình lo sợ phẫn uất mà
chết Phùng Hưng Phùng Hãi chiếm thành Tống Bình nhanh chóng thành lập
quyền tự chủ Phùng Hưng (và sau Phùng An - ông) đứng đầu Giai đoạn bắt
đầu vào tháng năm 791 kết thúc vào tháng năm 791 tức vỏn vẹn gần ba tháng
Một vài cơng trình trước nói Phùng An nối ngơi trị gần ba năm, xin đính lại
là chỉ gần ba tháng gần ba năm
Hai giai đoạn, hai quy mơ hai tính chất hoàn toàn khác Ở giai đoạn thứ nhất,
mảng quan trọng quyền hộ nhà Đường bị phá vỡ, quyền tự chủ
Phùng Hưng đứng đầu xây dựng hiên ngang tồn biệt lập với quyền hộ
của giặc Ở giai đoạn hai, với trình kiên bao vây khơng ngừng gây sức ép
thực lực qn mình, cuối cùng, nghĩa quân Phùng Hưng chiếm thành
Tống Bình nắm quyền kiểm sốt tồn cõi thời gian ngắn
-
(1) Phần lớn thư tịch cổ Trung Quốc nói đến nhân vật "Man quân Tù Trưởng Đỗ Anh Hàn" "Thủ Lĩnh Đỗ Anh Luân" mà khơng nói đến hai nhân vật Phùng Hưng Phùng Hãi Tuy nhiên, xét thật kĩ hình trạng thư tịch cổ Trung Quốc nhân vật Đỗ Anh Hàn (hay Đỗ Anh Luân) lại Phùng Hưng Trong Hán tự, mặt chữHàn mặt chữLn giống nhau, có lẽ mà bị viết nhầm chăng.
4 ĐOẠN KẾT CỦA MỘT KHÚC TRÁNG CA
Tháng năm 791, sau Cao Chính Bình chết, nghĩa qn Phùng Hưng chiếm
thành Tống Bình nói, quyền tự chủ Phùng Hưng đứng đầu nhanh
chóng thành lập Tổ chức guồng máy quyền lúc có lẽ tương tự
trong buổi đầu, nghĩa quân chiếm vùng Đường Lâm khu vực lân cận,
do phải quản lí phạm vi đất đai rộng lớn nên quy mô trách nhiệm chắn
phải lớn trước Sát cánh sẵn sàng chia sẻ trách nhiệm nặng nề với Phùng Hưng
người lập công lao Phùng Hãi Đỗ Anh Hàn, ngồi cịn có thêm số
gương mặt Phùng An (con trai Phùng Hưng) Bồ Phá Cần 1
(70)thọ tuổi Sau đột ngột Phùng Hưng, khủng hoảng đáng
tiếc diễn quyền tự chủ cịn non trẻ mà ngun chủ yếu vấn đề
chọn người xứng đáng lên kế vị Bấy giờ, có hai phe cánh đối nghịch với hai chủ trương
khác hình thành Phe thứ nhất gồm đông tướng lĩnh quan lại (nhưng chưa rõ
ai người cắm đầu) chủ trương chọn Phùng Hãi cho Phùng Hãi em ruột Phùng
Hưng, người có nhiều cơng lao, giàu kinh nghiệm huy người lớn tuổi, đủ chín chắn
cũng uy phong để xử lí đốn việc Phe thứ hai(đại diện nhân vật Bồ
Phá Cần) cho phải chọn Phùng An Phùng An trai Phùng Hưng, người
có đủ danh nghĩa thống để đảm bảo xứng hợp với gọi "đại đạo cha truyền
nối" Theo ghi chép Lý Tế Xuyên Bồ Phá Cần người có võ nghệ cao cường, khoẻ
mạnh hãn Phùng Hãi người nhún nhường, nên cuối cùng, phe Bồ Phá
Cần thắng Phùng An - người cạn nghĩ ngây thơ nhận thức trị
đưa lên kế vị Ngay sau lên ngôi, Phùng An làm hai việc Một tôn cha làm Bố Cái Đại
Vương (Tục gọi cha Bố, mẹ Cái có tơn hiệu thế) Hai tập hợp
huy động lực lượng để đánh Phùng Hãi ! Chủ trương sai lầm khiến cho nhân tâm li
tán, cho nên, nhanh chóng bị diệt vong quyền Phùng An điều tránh khỏi
Bấy giờ, Phùng Hãi bó chạy vào động Chu Nham, người giàu tâm huyết với
nghiệp Phùng Hưng nối rời bỏ Phùng An mà Ảnh hưởng thực tế
quản lí quyền Phùng An gần cịn bó hẹp phạm vi thành Tống Bình
mà thơi
Tháng năm 791, triều đình Đường Đức Tơng (779-805) phong cho Triệu Xương 3 làm Kinh
Lược Chiêu Thảo Xử Trí Sứ sai đem quân đàn áp Phùng An Triệu Xương đem đại
binh đến uy hiếp từ xa sai vài viên sứ giả tới hù doạ mà Phùng An vội đầu hàng Ngay
trong tháng năm 791, quân nhà Đường chiếm lại thành Tống Bình, lực lượng Phùng An
bị tan rã hoàn toàn Số phận Phùng An tướng lĩnh khác sau chưa
rõ Sự nghiệp lớn Phùng Hưng bị Triệu Xương quân đô hộ nhà Đường xoá bỏ
Phùng Hưng đại điện xuất sắc cho khí phách hiên ngang, không đội
trời chung với quân phong kiện Trung Quốc hộ Ơng ngàn năm danh
thơm ơng cịn với non sông đất nước Ngay vào đầu kỉ IX, hệ nhân
dân yêu nước kính cẩn lập đền thờ ơng Đường Lâm q hương ơng Tống Bình nơi
ghi dấu đỉnh cao thành cơng chói lọi nghiệp lớn ông Năm 939, Ngô Quyền
bậc vương giả cho tơn tạo đền thờ Phùng Hưng thức phong thần cho Phùng
Hưng Năm 1285, sau thắng lợi vẻ vang chiến tranh vệ quốc lần thứ hai, chống qn
Mơng Ngun xâm lược, Hồng Đế Trần Nhân Tông (1278-1293) phong Phùng Hưng làm Phu
Hựu Đại Vương thượng đẳng thần Năm 1288, sau ngày đại thắng trận chiến chiến
lược Bạch Đằng (9-4-1288), đè bẹp hồn tồn ý chí xâm lăng quân Nguyên tàn bạo
hung hãn, Hồng Đế Trần Nhân Tơng gia phong cho Phùng Hưng làm Phu Hựu
Chương Tín Đại Vương thượng đẳng thần Và, đến năm 1312 Hồng Đế Trần Nhân Tơng lại tiếp
tục gia phong cho Phùng Hưng làm Phu Hựu Chương Tín Sùng Nghĩa Đại Vương thượng đẳng
thần Vào thời trị Hồng Đế Lê Thánh Tơng (1460-1497), đền thờ Phùng Hưng lại tiến
hành tôn tạo lần thứ hai Các triều đại sau trùng tu đền thờ ban sắc phong thần cho Phùng Hưng Và, trải mười kỉ qua, hương khói đến thờ Phùng Hưng
nghi ngút
Phùng Hưng thân nghệ thuật tập hợp động viên sức mạnh đông đảo nhân
dân vào đấu tranh vừa kiên vừa thận trọng nhằm bước phá vỡ, để
cuối cùng, có hội thuận lợi xuất dốc toàn lực để đánh trận định với kẻ
thù, đập tan hồn tồn đồ qn hộ, đồng thời nhanh chóng xây dựng hệ thống
(71)Rất tiếc vừa hiên ngang tiến vào thành Tống Bình giành quyền từ
qn phương Bắc hộ, Phùng Hưng sớm qua đời, để lại nghiệp lớn dở dang
và để lại lịng thương tiếc khơng ngi cho hệ nhân dân yêu nước Vì đột ngột
sớm nên Phùng Hưng chưa kịp tỏ rõ tài quản lí nhà nước Trước lịch sử,
mỗi bậc anh hùng có số cống hiến định phạm vi thời
gian định mà thơi Trên tinh thần chung đó, có lẽ khơng quyền địi hỏi
thêm Phùng Hưng Phùng Hãi
Trên bầu trời khí phách ngoan cường, Phùng Hưng Phùng Hãi mãi
toả sáng Tên tuổi nghiệp lớn hai anh em ơng vĩnh tồn kí ức bất diệt
hệ nhân dân luôn hệ sử gia yêu nước kính cẩn ghi vào trang oai hùng
của lịch sử dân tộc
-
(1) Tất sử khơng ghi chép nhân vật Bồ Phá Cần tác phẩmVIỆT ĐIỆN U LINH, Lý Tế Xuyên nói
Bồ Phá Cần viên quan giữ chức Đầu Mục guồng máy quyền Phùng Hưng Đây nhân vật võ nghệ cao cường lực
Truyền thuyết dân gian vùng Hà Tây cho biết tương tự thế.
(2) Từ ghi chép tản mạn sử cũ thần tích, khẳng định chắn Phùng Hưng năm 791 tháng
nào chưa rõ Chúng tơi ước đốn Phùng Hưng vào tháng năm 791.
(3) Theo ghi chép củaÂu Dương Tu - Tống Kỳ (Trung Quốc) trongTÂN ĐƯỜNG THƯ Triệu Xương người Thiên Thuỷ, sinh năm
chưa rõ Triệu Xương tên tự Hồng Tô, làm quan trải phong đến tới chức Thứ Sử Kiến Châu (Trung Quốc) Sau đàn áp Phùng An, triều đình nhà Đường liền phong cho Triệu Xương chức đứng đầu An Nam Đô Hộ Phủ Triệu Xương giữ chức 10 năm (791- 801)
triệu Trung Quốc.
IX DƯƠNG THANH VỚI NHỮNG TRẬN ĐỐI TRÍ VÀ ĐỌ SỨC QUYẾT LIỆT ĐẦU THẾ KỈ IX
1 ĐẠI HOẠ LÝ TƯỢNG CỔ
Từ đầu kỉ IX trở đi, quyền phong kiến trung ương nhà Đường ngày bị suy
yếu nghiêm trọng Thực ra, trình suy yếu nghiêm trọng diễn lâu trước
đó, mà thể rõ vào khoảng nửa sau kỉ VIII, từ thời trị Đường
Huyền Tơng (712-756) Sau đó, đến thời Đường Túc Tơng (756-762) di hại lớn lao
cuộc bạo loạn An Lộc Sơn cầm đầu cịn nặng nề, khơng khí lo sợ thường xuyên bao
phủ hoạt động triều đình Dân khắp kinh thành Trường An nhà Đường
luôn nơm nớp hoang mang tất tin bọn loạn quân tràn tới đánh phá
triều đình vào lúc
Các đời Hoàng Đế Đường Túc Tông Đường Đại Tông (762-779) Đường Đức Tông
(779-805) tỏ cố gắng việc thực ý định cứu vãn tình nguy hại
nhưng hai bị thất bại Năm 805, Đường Đức Tông Lý Tụng đưa lên
nối ngơi, Đường Thuận Tơng Mới ngơi Hồng Đế tháng, Đường Thuận Tông bị
bọn hoạn quan mà cầm đầu Câu Văn Trân bắt ép phải nhường cho trai trưởng Lý
Thuần để chưa đầy năm sau Đường Thuận Tơng Lý Thuần đưa lên ngơi
Hồng Đế Chính Đường Hiến Tơng (805-820) Từ trở đi, nhà Đường ngày
một rối ren, bọn tham quan ô lại (nhất vùng biên ải xa xôi) hoành hành
Năm Kỉ Hợi (819), Lý Tượng Cổ triều đình Đường Hiến Tơng cho giữ chức đứng đầu
quan An Nam Đô Hộ Phủ Các sử Trung Quốc viết : "Lý Tượng Cổ kẻ
tham lam, khắc nghiệt, làm lòng dân" Nhận định khơng sai vừa
mới đến nhận chức, máy hành chánh quyến chưa kịp ổn định, Lý Tượng Cổ
lập tức ban hành loạt biện pháp nhằm vơ vét tài nguyên cải đất nước ta
Ở vùng rừng núi trung du Lý Tượng Cổ bắt dân phải cung đốn lâm sản, khoáng sản, hương
liệu loại chim, thú quý ; vùng đồng Lý Tượng Cổ bất dân phải cống nạp đủ
(72)dâng tiến trăm thứ hải sản, san hô, ngọc trai tất khiến cho trăm họ lúc phải lầm than điêu đứng
Nhưng, khác với phần lớn bọn quan đô hộ trước đó, Lý Tượng Cổ kẻ tham tàn
mà tên xảo quyệt Với Lý Tượng Cổ, lực lượng đáng bận tâm lo lắng đội
ngũ hào trưởng địa phương Chừng mà uy tín đội ngũ cịn lớn lao chừng
đó quyền hộ bọn phong kiến phương Bắc cịn có nguy bị đe doạ lật đổ Bấy giờ,
thủ đoạn chung Lý Tượng Cổ sức tìm đủ cách để mua chuộc dụ dỗ, đồng thời, không
ngừng tận dụng hội để tiến hành chia rẽ hào trướng với sở xã hội
thân họ Thủ đoạn Lý Tượng Cổ thực cách riết vị hào
trưởng nào, đó, nhân vật bị Lý Tượng Cổ xếp vào hàng cần phải tập trung cố gắng để
triệt tiêu ảnh hưởng sớm Dương Thanh
Bởi thủ đoạn xảo quyệt này, khơng khí nghi kị ngột ngạt lan toả
Tóm lại, nhìn từ góc độ xuất Lý Tượng Cổ nghĩa
đại hoạ xã hội ta đầu kỉ IX
2 DƯƠNG THANH VỚI HAI CUỘC ĐỐI TRÍ ĐẦU TIÊN
Dương Thanh người Hoan Châu, tổ tiên ông nhiều đời trước giữ chức Thứ Sử châu
này Đất Hoan Châu tương ứng với tỉnh Nghệ An Trong thời thuộc Đường, thời mà âm
mưu dùng người Việt trị người Việt riết thực Thứ Sử chức đứng đầu
châu chức thường trao cho người Việt Tù Trưởng Bởi lẽ mà
phần lớn thư tịch Trung Quốc đời Đường, chức Thứ Sử thường chép Man Tù (Tù
Trưởng dân man di) Tuy nhiên, trường hợp cụ thể Thứ Sử chức danh
mang nặng thủ đoạn mua chuộc chia rẽ Man Tù chức danh chứa đầy coi thường
Trong truyền thuyết dân gian nhiều tài liệu Việt Nam, chức danh Hào
Trưởng thường nhắc tới với thái độ trân trọng Theo chúng tôi, chi tiết đáng
lưu ý Về mặt lịch sử, nguồn gốc sâu xa Hào Trưởng có lẽ đội ngũ quý tộc lạc
Trong thời sơ sử nhiều kỉ đầu thời Bắc thuộc, phần lớn họ mang
tên gọi Lạc Hầu Lạc Tướng Từ khoảng thời thuộc Đường trở đi, tác
động liên tục mạnh mẽ nhiều yếu tố khách quan khác nhau, chuyển hoá nội thân tự
nhiên lực lượng Lạc Hầu Lạc Tướng khiến cho họ ngày có nhiễu nét khác
trước Từ đây, xét riêng phạm vi ảnh hưởng quyền lực đối thay khơng lớn,
nhưng, xét cách thức thể quyền lực quy trình thực chế độ bóc lột
thì mức độ đổi thay lại đáng kể chừng mực định đó, có
thể nói đội ngũ hào trưởng lực lượng phong kiến bán khai
Tuy nhiên, điều đáng nói Dương Thanh ông mang chức danh mà quan
trọng chỗ ông người Hoan Châu đương thời tin tưởng kính trọng lịng
chân thành u nước thương dân thân ông nhiều bậc gia tiên ông Đây
cũng điều khiến cho Lý Tượng Cổ lo lắng Một kế hoạch chia rẽ thâm hiểm Lý
Tượng Cổ vạch nhanh chóng thực Do kế hoạch chia rẽ thâm hiểm này,
trong năm 819, Dương Thanh phải trải qua hai đối trí lớn :
Cuộc đối trí thứ : nên hay không nên rời Hoan Châu để La Thành nhận chức Nha Môn Tướng Quân Theo ghi chép thư tịch cổ vừa đến nhận chức, Lý Tượng Cổ
lập tức hạ lệnh cho Dương Thanh phải rời Hoan Châu để La Thành nhận chức Nha Môn Tướng
Quân điều buộc Dương Thanh phải có lựa chọn khó khăn Nếu lịng
nhận chức có nghĩa Dương Thanh công khai chấp nhận hợp tác với kẻ thù, tự
tách khỏi sở xã hội mình, tự huỷ hoại uy danh khơng riêng mà cịn họ tộc Trước nhân dân Hoan Châu, chân dung khả
kính vị hào trưởng giàu lòng yêu nước thương dân định bị hoen ố Nếu chấp
(73)Dương Thanh bị theo dõi cách chặt chẽ chết ln rình rập Dương Thanh
Nhưng, Dương Thanh không chịu rời Hoan Châu để La Thành nhận chức
thế ? Điều chắn ông dại đột làm vậy, Lý Tượng Cổ mượn cớ
Dương Thanh "bất tn thượng lệnh"để giết hại ơng Trước tình đó, Dương Thanh
định nhận chức Theo truyền thuyết vùng Nghệ An Dương Thanh cho rằng, chấp
nhận lao vào chốn hiểm nguy bình tĩnh tuỳ ứng biến cịn khoanh tay chịu chết
chưa tỏ rõ chí khí Khoảng trước tháng 10 năm Kỉ Hợi (819), Hào Trưởng Dương
Thanh có mặt La Thành
Cuộc đối trí thứ hai : Nên hay không nên cầm quân đàn áp dân vùng Hoàng Động Bấy
giờ, Dương Thanh đến nhận chức Nha Mơn Tướng Qn dân vùng Hoàng Động (động
Hoàng Chanh, thuộc vùng Tây Bắc nước ta) dậy đấu tranh chống ách đô hộ nhà
Đường Lý Tượng Cổ liền sai Dương Thanh đem quân đàn áp Nếu Dương Thanh khơng
chịu có nghĩa ơng tự tạo ngun cớ đáng cho Lý Tượng Cổ giết
hại ơng, cịn ơng chịu đàn áp bàn tay ông định đẫm máu dân, vết nhơ
chẳng có hi vọng rửa dược Lần Dương Thanh táo bạo định rằngđi
mà không đi, dùng gươm giáo lấy binh sĩ Lý Tượng Cổ để giết Lý Tượng Cổ.
3 TRẬN ĐỌ SỨC LỊCH SỬ VỚI LÝ TƯỢNG CỔ
Ngay sau có lực lượng binh sĩ hùng hậu với đầy đủ vũ khí thiết bị
tay, Dương Thanh liền tiến Hoàng Động Chính thái độ ln ln sẵn sàng tuân theo
thượng lệnh Dương Thanh khiến cho Lý Tượng Cổ - kẻ khét tiếng thâm hiểm xảo
quyệt - chút nghi ngờ nhỏ
Nhưng vừa khỏi La Thành Dương Thanh có hai định quan trọng Một
là kể rõ tội ác tày trời Lý Tượng Cổ cho tất binh sĩ quyền nghe, đồng thời, kêu
gọi họ ông quay lại để trừng trị Lý Tượng Cổ, trước trừ hậu hoạ cho thân
mình sau nhằm thiết thực góp phần ban phúc cho thiên hạ khắp cõi Lời kêu gọi
của Dương Thanh nhanh chóng đơng đảo binh sĩ quyền ông tề hưởng ứng Hai
là, thay đem quân đàn áp phong trào đấu tranh dân vùng Hồng Động, Dương
Thanh chủ động liên kết với dân vùng Hoàng Động để đánh kẻ thù chung, tiêu diệt Lý
Tượng Cổ tâm đập tan toàn guồng máy quyền hộ giặc Lời đề nghị
hợp lòng người đắn Dương Thanh đông đảo quân sĩ
quyền ơng nhân dân vùng Hồng Động tán thành Uy Dương Thanh
nhanh chóng trở nên lừng lẫy
Cuộc công ạt bất ngờ quân sĩ Dương Thanh khiến cho Lý Tượng Cổ không
sao kịp trở tay Chỉ trận đánh chớp nhống, Dương Thanh đè bẹp tồn lực
lượng giặc La Thành Sử cũ viết : "Dương Thanh nhân lòng người chất chứa oán giận,
đang đêm dẫn quân vào đánh úp, chiếm thành giết Lý Tượng Cổ" Một quyền
tồn biệt lập với nhà Đường, Dương Thanh thành lập cầm đầu nhanh chóng
dựng lên Ngồi chất tự chủ ý thức tồn biệt lập rõ rệt nói trên, khơng thấy thư tịch
cổ nói tổ chức cách thức hoạt động quyền này, có lẽ mơ thức
chung khơng khác so với guồng máy cũ An Nam Đô Hộ Phủ
Phạm vi ảnh hưởng lực quản lí quyền Dương Thanh hẳn nhiên cịn
rất hạn hẹp, nhưng, có lẽ hậu khơng nên (vì hồn tồn khơng thể) đòi hỏi
nhiều Dương Thanh Bấy giờ, tất thử thách cam go khốc liệt cần phải vượt
qua Dương Thanh với đội ngũ binh sĩ quyền ông dũng cảm vượt qua cịn
những tốt đẹp cần phải vươn tới Dương Thanh chưa có đủ điều kiện chưa hội
đủ khả để vươn tới Trước lịch sử bậc anh hùng
(74)Thắng lợi Dương Thanh trận đánh định với quân đô hộ diễn vào tháng 10
năm Kỉ Hợi (819) thắng lợi lòng tự tin mãnh liệt sâu sắc Trước hồn cảnh nghiệt
ngã lịng tự tin Dương Thanh không thay đổi mà liên tục bồi đắp
Dương Thanh biểu tượng lĩnh phi thường, dù buộc phải sống hang ổ
giặc, dù ln phải chịu giám sát khắt khe kẻ thù, ơng giữ vững chí khí, khơng
phụ lịng kính trọng mà người đương thời ưu dành cho ông bậc gia tiên ông
Thắng lợi Dương Thanh thắng lợi cơng hồn tồn bất ngờ Chính bất ngờ
là yếu tố khiến cho trận đánh diễn kết thúc nhanh chóng Bấy giờ, khơng phải
có Lý Tượng Cổ mà đến triều đình Đường Hiến Tông (805-820) tổ ngơ ngác
trước biến cố lớn lao An Nam Đô Hộ Phủ Thắng lợi Dương Thanh thắng lợi
bước đầu ý thức xây dựng mở rộng khối đoàn kết chiến đấu chung kẻ thù chung
nhân dân địa phương Mối liên kết lực lượng binh sĩ Dương Thanh với nhân dân vùng
Hoàng Động đừng lại mức độ khiêm nhượng chừng đủ để đầy
quân đô hộ nhà Đường vào tình phải cam chịu đại bại thảm hại
4 TRẬN ĐỐI ĐẦU LẦN THỨ HAI VÀ CUỘC ĐỐI TRÍ LẦN THỨ BA
Được tin Lý Tượng Cổ bị giết quyền An Nam Đơ Hộ Phủ hồn tồn thuộc
Dương Thanh, triều đình nhà Đường tức giận, sai tướng đem đại binh di đàn áp Bấy
giờ, Quế Trọng Vũ giao trách nhiệm huy cơng có quy mơ lớn Quế
Trọng Vũ dồn dập mở nhiều đợt công vào lực lượng Dương Thanh tất
lần lượt bị đẩy lùi La Thành trước sau giữ vững Chính sử Trung Quốc phải
thừa nhận "Quế Trọng Vũ đánh Dương Thanh thất bại" Triều đình Đường Hiến Tông
đã buộc phải sai Lý Nguyên Gia đem thêm quân đến hợp lực với Quế Trọng Vũ để đàn áp
Trước tình khó khăn đó, Dương Thanh định đẩy mạnh mối liên kết với
nhân dân vùng Hoàng Động Bởi lẽ mà quân nhà Đường, kể có thêm lực lượng Lý
Nguyên Gia, không tiêu diệt Dương Thanh Một kế hoạch nguy
hiểm nhanh chóng triều đình nhà Đường cho áp dụng Thư tịch cổ cho biết, Đường
Hiến Tông "xuống chiếu tha tội cho Dương Thanh phong cho Dương Thanh làm Thứ Sử
Quỳnh Châu" Quỳnh châu thuộc đảo Hải Nam Trung Quốc, chịu nhận chức Thứ
Sử Quỳnh Châu có nghĩa Dương Thanh tự tách khỏi sở xã hội mình,
tự đẩy vào bị lập để chắn sau bị triệt tiêu hàng loạt lí
thật khó mà đốn trước Nhận thức rõ ý đồ thâm hiểm chứa dựng tờ chiếu
chỉ này, Dương Thanh kiên chối từ
Dùng bạo lực để trấn áp không được, dùng chức tước để dụ dỗ không xong, nhà Đường
bèn dùng tiền bạc để mua chuộc Nhưng, dù không tiếc của, chúng chẳng thể mua
chuộc Dương Thanh Thư tịch cổ Trung Quốc Việt Nam khơng nói rõ truyền
thuyết dân gian lại có chuyệnDương Tướng Cơng tích đáng lưu ý Theo sau nhiều
lần tìm cách mua chuộc Dương Thanh mà không được, số tướng giặc có kẻ bàn :
Dương Thanh bậc chí đức dày, mua chuộc Dương Thanh Nhưng Dương
Thanh trở nên đáng sợ chung quanh ơng cịn có nhiều người, chí khí khơng khác
ơng tài đức tất nhiên ơng Tại không mua chuộc người
mà lại tốn công tốn di mua chuộc Dương Thanh ? Nếu mua chuộc người thật
thân cận ngày đêm túc trực trướng Dương Thanh có khác chặt đứt hết tay
chân Dương Thanh ? Đến đó, thử hỏi Dương Thanh có cịn đáng sợ hay khơng ?
ChuyệnDương Tướng Cơng tích cịn cho biết thêm chi tiết đau lịng, sau
khơng bao lâu, tướng Dương Thanh chém đầu Dương Thanh nạp cho hai viên
tướng nhà Đường Quế Trọng Vũ Lý Nguyên Gia Truyền thuyết truyền
thuyết, phản ánh lõi có thật lịch sử thân truyền thuyết khơng
phải lịch sử Thật khó mà kết luận Dương Thanh lời kể củaDương
Tướng Cơng tích chưa có tư liệu đáng tin cậy phản ánh
(75)cổ truyền thuyết dân gian năm Dương Thanh : năm Canh Tí
(820) Do chưa rõ năm sinh nên chưa rõ mất, Dương Thanh hưởng thọ bao
nhiêu tuổi
Sự nghiệp Dương Thanh trước hết nghiệp vị dũng tướng, gian nan không sợ,
nguy hiểm không từ, tỉnh táo chọn thời điểm bất ngờ để đánh vào đầu não
quyền hộ địn hiểm hóc Sự nghiệp Dương Thanh nghiệp người
túc trí, bao phen thấy rõ mưu sâu kế độc kẻ thù để sáng suốt chọn cho phép ứng
xử thông minh hiệu Sự nghiệp Dương Thanh nghiệp vị thủ lĩnh
ln biết gắn với tầng lớp nhân dân yêu nước, bậc giàu uy tín lực tập
hợp quần chúng bốn phương vào đấu tranh một với quân phong kiến phương
Bắc Ông thật xứng đáng xếp vào hàng nhân vật tiên phong ý thức xây dựng
và mở rộng khối đoàn kết chiến đấu nghĩa thiêng liêng giành lại độc lập cho dân tộc
Dương Thanh biểu tượng sáng ngời tinh thần chí cơng vơ tư, quyền uy danh vọng chẳng
màng, tiền tài giàu sang chẳng chuộng Rất tiếc ông người thời tương
quan lực ấy, cho nền, phải cam chịu ngậm hờn việc lớn thành công trọn vẹn,
(76)CHƯƠNG THỨ HAI
DANH TƯỚNG TRONG SỰ NGHIỆP ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP ĐẦU THẾ
KỈ XV
I - TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XV
1 TRIỀU HỒ (1400-1407) - TRIỀU ĐẠI CỦA NHỮNG CẢI CÁCH LỚN
"Ngày 28 tháng hai năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly bách Hoàng Đế nhà Trần nhường
ngơi cho buộc người tơn thất (nhà Trần) bá quan văn võ phải ba lần
dâng biểu khuyên lên ngôi" Ngay sau ngày này, Hồ Quý Ly liền chiếm giữ ngai vàng cho đổi
niên hiệu Thánh Nguyên, nhà Hồ thức dựng lên kể từ
Xưa nay, giới sử học có nhiều ý kiến đánh giá khác nhân vật Hồ Quý Ly nói
riêng nhà Hồ nói chung, song điểm thống tất thừa nhận : tồn trước sau vỏn vẹn có năm (từ cuối tháng năm 1400 đến gần tháng năm 1407)
nhà Hồ thực triều đại cải cách lớn đặc điểm bật
nhà Hồ
Điểm lại ghi chép thư tịch cổ đất nước năm cuối kỉ XIV đầu kỉ
XV, sơ khái quát cải cách nhà Hồ sau : a) Về trị :
Từ cuối kỉ XIV, nhà Trần ngày đổ nát Trong bối cảnh đặc biệt đó, Hồ
Quý Ly bí mật khơn khéo tìm cách xây dựng lực riêng cho Sau thủ tiêu
hầu hết đối thủ trị, Hồ Quý Ly táo bạo tiến hành chủ trương lớn sau :
Năm 1397, ép buộc triều đình Trần Thuận Tơng (1388-1398) phải dời vào An Tôn (đất
ngày thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá) Từ đây, Thăng Long đổi gọi Đơng Đơ cịn An Tơn gọi Tây Đô, nhiên, dân gian thường gọi thành Tây Đô thành nhà Hồ Ngày nay, thành nhà Hồ nhiều đoạn nguyên vẹn
Năm 1398, ép buộc Trần Thuận Tông phải nhường cho Trần An, Trần An
lúc tuổi Trần Thuận Tơng buồn nản mà phải bỏ tu
năm bị Hồ Quý Ly sai người giết chết, hưởng dương 21 tuổi (1378-1399)
- Như nói, ngày 28-2-1400, Hồ Quý Ly cướp ngơi nhà Trần thức khai
sinh triều đại nhà Hồ (1400-1407) Ngay vừa lên ngôi, Hồ Quý Ly bỏ
quốc hiệu cũ Đại Việt (vốn thức sử dụng từ năm 1054) cho đặt quốc hiệu
là Đại Ngu
- Dưới thời nhà Hồ, guồng máy nhà nước kiểu bước đầu xây dựng Ở đó,
quyền lực trị kinh tế đội ngũ quý tộc bước bị hạn chế để cuối
bị đẩy lùi đó, vai trị lực lượng quan lại xuất thân từ bách tính ngày đề
cao
(77)Nhà Hồ có hai cải cách quan trọng Một tâm xây dựng đội quân đông đến triệu
người Để đạt mục đích nhà Hồ ghi biên hết vào sổ sách nhân đinh từ hai tuổi
trở lên lấy làm số thực Hai sức cải tiến vũ khí Hồ Nguyên Trừng (con trưởng Hồ
Q Ly) có cơng sáng chế nhiều loại súng thần công - loại vũ khí coi lợi hại
trong giai đoạn lịch sử lúc khu vực Nam Á Đông Nam Á Hồ Nguyên Trừng
đồng thời tác giả loại thuyền chiến hai tầng, tầng dành cho lính chiến, tầng dành
cho lính chèo, khơng gây cản trở cho
Theo ghi chép thư tịch cổ nhà Hồ ban hành nhiều quy chế chặt chẽ
việc quản lí huấn luyện binh chủng lực lượng vũ trang, tất hệ thống giới
thiệu ĐẠI NGU QUAN CHẾ - hai công trình biên soạn lớn nhà Hồ sứ
sách trân trọng nhắc đến
c) Về kinh tế xã hội :
Hồ Quý Ly ban hành ba cải cách lớn phát hành tiền giấy, hạn điền hạn nô Phát hành
tiền giấylà sách thực từ năm 1396 (thời Trần Thuận Tơng, Hồ Q Ly cịn Tuyên Trung Vệ Quốc Đại Vương) mà mục đích quan trọng thu gom đồ đồng khắp
thiên hạ để chế tạo vũ khí Hạn điềnđược ban hành vào năm 1397 (cũng thời Trần Thuận
Tông Hồ Quý Ly lúc tước vị Tuyên Trung Vệ Quốc Đại Vương) với chủ đích
tấn cơng mạnh mẽ vào chế độ điền trang - thái ấp vốn sở quyền lực kinh tế tầng lớp
quý tộc họ Trần Hạn nô tiến hành từ năm 1401 (năm Hồ Quý Ly nhường cho
thứ Hồ Hán Thương cịn lên ngơi Thượng Hoàng) nhằm ý đồ lớn lao
cơng phá chế độ bóc lột gia nơ gắn bó với quý tộc họ Trần gần hai kỉ
d) Về văn hoá giáo dục :
Hồ Quý Ly mở rộng việc học, việc học vùng đồng Cải cách Tiến Sĩ
Ngô Sĩ Liên khen : "sao mà tốt đẹp đến vậy" Về chế độ thi cử, nhà Hồ hai lần sửa
đổi (lần thứ vào năm 1396 lần thứ hai vào năm 1404) với mục đích để
những người đỗ đạt đủ khả tham gia giải vấn đề thiết thực xã hội
đương thời đặt Hồ Quý Ly sức đế cao chữ Nơm thân Hồ Q Ly
đã dịch toàn Kinh thi với thiên Vô dật Kinh Thư chữ Nôm Tuy có gặp phải
chống đối vài Nho gia cực đoan (những người chịu ảnh hưởng mạnh tư tưởng
Tống Nho) nói chung cải cách văn hoá giáo dục Hồ Quý Ly hoan
nghênh
Như vậy, cải cách Hồ Quý Ly trải rộng nhiều lĩnh vực khác công mà
nói, cải cách chứa đựng khơng yếu tố táo bạo, tích cực tiến
Nhưng, vào cuối năm 1406, mượn chiêu trị "phù Trần diệt Hồ", quân Minh tràn sang
xâm lược nước ta thật đáng tiếc kháng chiến nhà Hồ lãnh đạo nhanh chóng bị
thất bại Nước ta bị quân Minh đô hộ khoảng 20 năm (từ năm 1407 đến hết năm
1427)
2 VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC THỜI THUỘC MINH (1407 - 1427)
Thời thuộc Minh (1407-1427) thời đen tối lịch sử dân tộc Bấy giờ,
độc lập chủ quyền đất nước bị thủ tiêu, non sông gấm vóc tổ tiên để lại bị triều đình
nhà Minh coi phận lãnh thổ chúng Giặc vất bỏ chiêu trị giả hiệu
là "phù Trần diệt Hồ" nhanh chóng thiết lập hai hệ thống quyền thống trị khác Hai
hệ thống quyền có mối quan hệ tất mật thiết với nhau, tồn bổ sung cho
nhau, hai Thứ hệ thống quyền quân
(78)của nhà Minh cầm đầu Tuy nhiên, xét tương quan quyền lực thực tế hệ thống
quyền qn ln vị trí chi phối
(Bấy nhà Minh đổi gọi nước ta quận Giao Chỉ Toàn hệ thống hành quan chức
địa phương cắt đặt lại, theo quận Giao Chỉ chia thành 15 phủ, quản lĩnh 36 châu
và 181 huyện Đó chưa kể đến châu (quản lĩnh 29 huyện) trực thuộc thẳng vào quyền
quận Giao Chỉ cấp phủ)
Bên cạnh hàng loạt thủ đoạn trị vừa sơ giới thiệu trên, thống trị nước ta,
quan quân nhà Minh thực nhiều sách tàn bạo khác Bấy giờ, giặc cố tìm đủ
mọi cách để sức vơ vét tài nguyên cải toàn cõi, trăm họ phải sống cảnh đói
khổ lầm than, thể Nguyễn Trãi viết :
Nướng dân đen lửa tàn Vùi đỏ xuống hầm tai vạ
Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế,
Gây binh, kết ốn trải hai mươi năm.
Theo ghi chép sử Trung Quốc xâm lăng năm 1407, quân Minh
cướp 235.900 (gồm đủ loại voi, ngựa, trâu, bò), thu 13.600.000 thạch thóc
8.670 thuyền 2.539.800 vũ khí Quân Minh bắt tất dân dinh từ 16 đến 60 tuổi
phải luân phiên di lao dịch, phục vụ cho việc xây dựng thành quách dinh thự
Để có thêm qn lính để tìm cách chia rẽ nhân dân ta, nhà Minh bắt lính gắt
gao Theo lệ quy định vào năm Vĩnh Lạc thứ 14 (1416) giặc quy định trung bình hai
hoặc ba suất đinh bắt suất lính gọi lực lượng lính thổ binh Bấy giờ, thổ binh
thường làm nhiệm vụ canh phòng, lẽ quân Minh không thực tin tưởng họ Và để tiện
việc đàn áp, nhà Minh tịch thu hết vũ khí có nhân dân, đồng thời, xây dựng hệ
thống thành luỹ dày đặc, sẵn sàng đè bẹp phong trào đấu tranh xã hội đương thời
Về xã hội, sách quan trọng bật nhà Minh riết tiến hành bắt người
Năm phận xã hội bị chúng bắt nhiều Nho sĩ có tài, thợ thủ cơng lành nghề, thầy bói,
trẻ em trai gái đến tuổi trưởng thành Chúng bắt Nho sĩ có tài khơng phải q thiếu thốn
nhân tài mà trước hết chúng muốn đẩy xã hội ta vào tình trạng ngu tối Chúng bắt thợ thủ
công lành nghề đưa họ Trung Quốc để cưỡng lao động Chúng tìm bắt
các thầy bói chủ yếu muốn đề phịng việc xã hội ta lợi dụng bói tốn để hoạt động trị Giá
thử có cố tình mượn bói tốn để loan tin quân Minh phải
tháo chạy nước nguy hại khó lường Chúng bắt trẻ em trai đem Trung Quốc, buộc
phần lớn số thành hoạn quan phục dịch cung đình chuẩn bị trước cho mưu đồ
lâu dài Chúng bắtcon gái đến tuổi trưởng thành (nhất người có chút nhan sắc) đem
về làm trò tiêu khiển cho bọn quan lại tướng lĩnh nhà Minh Theo số liệu thống kê
chính sử Trung Quốc riêng tướng Trương Phụ bắt Trung Quốc đến 9.000 người,
trong có 7.700 thợ thủ cơng Đối với thành tựu văn hoá thiêng liêng dân tộc ta, nhà
Minh ngang nhiên cho phá huỷ tịch thu để đem Trung Quốc Theo Phan Huy Chú
(1782 - 1840) ngồi việc chọn lựa để đưa triều đình nhà Minh 30 sách quý Số
lượng trước tác khác bị thất truyền bàn tay tội lỗi quân Minh nhiều đến mức
không thể thống kê hết Bấy giờ, hàng loạt bia đá bị dập nát, vô số chuông, khánh vật
bằng đồng bị chúng tước đoạt Bốn tác phẩm nghệ thuật kiến trúc điêu khắc có quy mơ lớn
nhất, kết tinh lực sáng tạo kĩ thuật lẫn nghệ thuật thời Lý - Trần là An Nam tứ đại
khí đã bị quân Minh nấu chảy để lấy đồng (An Nam tứ đại khí gồm có : chng Quy Điền (Thăng
Long), vạc Phổ Minh (Nam Định), tháp Báo Thiên (Thăng Long) tượng Phật chùa Quỳnh Lâm
(Quảng Ninh)
(79)mạnh mẽ vào xã hội ta Qn hộ coi nội dung quan trọng
trình thực âm mưa đồng hoá Tất trường thi Nho học từ thấp lên cao bị đóng cửa,
trong đó, hoạt động mê tín dị đoan với nhiễu dạng thức khác lại có hội để trở
nên thịnh hành
Trong bối cảnh đặc biệt vậy, mâu thuẫn bên toàn thể nhân dân ta bị nước
và bị áp bóc lột tàn tệ với bên quân Minh xâm lược đô hộ ngày trở nên sâu
sắc Vùng dậy đấu tranh để giành độc lập tất yếu lịch sử đương thời
II - TRẦN NGỖI VÀ TRẦN QUÝ KHOÁNG - HAI VỊ DANH TƯỚNG TIÊN PHONG CỦA SỰ
NGHIỆP ĐÁNH ĐUỔI QUÂN MINH
1 VÀI DÒNG VỀ LAI LỊCH
Trần Ngỗi (tức Trần Quỹ), thứ Hoàng Đế Trần Nghệ Tông (1370-1372) sinh vào
năm thân mẫu chưa rõ Dưới thời Trần Nghệ Tông Trần Ngỗi phong làm
Giản Định Vương, đến thời nhà Hồ (1400-1407), Trần Ngỗi phong Nhật Nam Quận Vương
Khi quân Minh tràn sang xâm lược nước ta kháng chiến đo nhà Hồ lãnh đạo nhanh chóng
bị thất bại, Trần Ngồi liền rời kinh thành Thăng Long vào vùng Ninh Bình ngày tâm
chiêu mộ lực lượng để đánh giặc
Ngày tháng 10 năm Đinh Hợi (1407), tức sau toàn nhân vật quan trọng
của triều đình nhà Hồ bị quân Minh bắt hết Trung Quốc, để tạo cờ thống cho
cuộc chiến đấu giành độc lập, đất Mô Độ (thuộc châu Trường Yên xưa - thuộc Tam Điệp,
Ninh Bình) Trần Ngỗi thức lên ngơi Hoàng Đế, đặt niên hiệu Hưng Khánh Sử cũ
truyền thuyết thường gọi ông Giản Định Đế Trần Quý Khoáng (cũng đọc Trần Quý
Khoách), thứ Mẫn Vương Trần Ngạc, cháu gọi Hồng Đế Trần Nghệ Tơng ơng nội
gọi Trần Ngỗi ruột Hiện chưa rõ Trần Quý Khoáng sinh vào năm Khi quân Minh xâm
lược nước ta, Trần Quý Khoáng rờ kinh thành Thăng Long vào khu vực phía nam
để tìm cách xây dựng lực lượng đánh giặc cứa nước Ngày 17 tháng năm Kỉ Sửu (1409), đất
Chi La (nay thuộc Đức Thọ, Hà Tĩnh), Trần Q Khống lên ngơi Hoàng Đế lấy niên hiệu Trùng Quang Sử cũ truyền thuyết thường gọi ông Trùng Quang Đế
Do chỗ Giản Định Đế Trần Ngỗi Trùng Quang Đế Trần Q Khống có chung nguồn
gốc xuất thân quý tộc họ Trần, có chung nghĩa thiêng liêng đánh giặc cứu nước,
và chỗ hai xưng Hoàng Đế nên đời thường gọi nhà Hậu Trần Giản
Định Đế Trần Ngỗi năm 1409 Trùng Quang Đế Trần Q Khống năm 1413,
nhưng chưa biết năm sinh nên chưa rõ mất, hai bậc Hoàng Đế hưởng thọ
bao nhiêu tuổi
2 TRẦN NGỖI - NGƯỜI ĐẦU TIÊN GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ ĐẠI NGHĨA CHỐNG QUÂN MINH XÂM LƯỢC
a) Lên ngơi Hồng Đế đánh trận đầu Mô Độ :
Ngay sau quân của nhà Hồ bị đại bại, Trương Phụ (tướng tổng huy quân Minh xâm lược)
liền yết bảng truy bắt cháu họ Trần, lẽ đó, (Trần) Ngỗi phải tạm lánh đến Mô Độ
TrườngYên Do xuất thân quý tộc họ Trần nên vừa đặt chân đến khu vực Mô Độ, Trần Ngỗi
lập tức nhân dân địa phương đón tiếp nồng hậu Trong số bậc hào kiệt có cơng
giúp rập sớm Trần Ngỗi, bật Trần Triệu Cơ
Thư tịch cổ khơng cho biết lai lịch nhân vật Trần Triệu Cơ, ngoại trừ chi tiết
(80)mà quê Thiên Trường thường thuộc dòng dõi quý tộc họ Trần
vậy có lẽ Trần Triệu Cơ nhiều hậu duệ chi thứ nên khơng
có chức danh tước vị đáng kể Trước tìm đến với Trần Ngỗi, Trần Triệu Cơ chiêu
mộ lực lượng lớn ơng người tơn lập Trần Ngỗi lên ngơi Hồng Đế
Mơ Độ
Lên ngày mồng tháng 10 năm Đinh Hợi (1407) hai tháng sau (đầu tháng 12
năm 1407), Trần Ngỗi buộc phải đối đầu với cơng có quy mơ lớn qn
Minh Bấy giờ, quân chiêu mộ, lịng u nước tinh thần dũng cảm dồi
nhưng trình độ chiến đấu kinh nghiệm trận mạc cịn q ỏi, cho nên, Trần Ngỗi
đành phải cam chịu thất bại Trần Ngỗi với hạ thân tín đem tàn binh chạy vào tận
Nghệ An
b) Trần Ngỗi với Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân : gặp gỡ quân thần tương đắc
và cảm động
Chạy đến Nghệ An, tình nghĩa qn lúc khó khăn chồng chất tháng năm
1408, Trần Ngỗi may mắn Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân đem lực lượng tới phò tá,
riêng Đặng Tất cịn đem gái tiến dâng cho Trần Ngỗi Khác với nghĩa quân
Trần Triệu Cơ, đội ngũ tướng sĩ quyền Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân huấn
luyện cẩn thận, cho nên, lực hiệu chiến đấu họ cao hẳn Trần Ngỗi
rất lấy làm vui mừng, phong Đặng Tất tước Quốc Công, dùng Nguyễn Cảnh Chân làm Tham Mưu
Quân Sự cho hai người với Trần Ngỗi dự bàn việc lớn Đó thực
gặp gỡ tương đắc người có chí
Tại đất Nghệ An, sau có thêm vây cánh Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân,
của nghĩa quân Trần Ngỗi lên nhanh chóng Để khẳng định sức mạnh tạo dựng ảnh
hưởng ngày rộng lớn hơn, ơng có hai định quan trọng
- Một nghiêm trị kẻ cam lòng đầu hàng hợp tác với quân Minh xâm lược Thực
hiện định này, Trần Ngỗi bắt giết Trần Thúc Dao Trần Nhật Chiêu với 500
thuộc hạ hai nhân vật Đây định vội vã, tả khuynh hồn tồn khơng cần
thiết, mà lực nghĩa quân Trần Ngỗi cịn non yếu Sử thần Ngơ Sĩ Liên
hồn tồn có lí viết lời bàn : "Giết (Trần) Thúc Dao (Trần) Nhật Chiêu phải, cịn bọn thuộc hạ lẽ nên vỗ dùng, chúng định mà cảm kích, suốt đời ln mang ơn đội đức, tốt sao?"
- Hai táo bạo cho quân vượt biển tiến Bắc, công thật bất ngờ vào khu vực bến Bình Than (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương) Các tướng lĩnh Trần Nguyên Tơn, Trần Dương Đình,
Trần Ngạn Chiêu Phạm Chấn Trần Ngỗi tin cậy giao việc huy thực Xem xét kế
hoạch binh bố trận lúc giờ, thấy ý đồ chủ yếu Trần Ngỗi tìm cách
chia cắt lực lượng đối phương, nhằm tạo hội thuận tiện cho công khác lớn hơn, đích thân Trần Ngỗi cầm đầu, dọc theo đường từ Nghệ An đánh
Nhưng, lực bất tòng tâm kế hoạch Trần Ngỗi vị tướng tâm phúc
bộ huy nghĩa quân không thực Lực lượng vượt biển để bất ngờ đánh mạnh vào khu
vực bến Bình Than dã gặp phải sức đề kháng phản công liệt quân Minh, cho
nên, chẳng sau bị tan vỡ phải rút chạy hành Nghệ An Trong Nghệ
An, Trần Ngỗi bị Trương Phụ đem đại quân vào đàn áp liệt Được hợp tác đắc
lực viên thổ quan phản bội Mạc Thuý, Trương Phụ đánh cấp tập, Trần Ngỗi "vì qn
ít, chống đỡ nên đành phải lui Hoá Châu Giặc Minh đuổi theo đến tận cửa biển
Bố Chính" Đúng vào phút nguy nan đó, Phạm Thế Căng đầu hàng Trương
(81)huyện Vĩnh Linh Gio Linh tỉnh Quảng Trị)
c) Trận Bơ Cơ - đỉnh cao chói lọi nghệ thuật cầm quân Trần Ngỗi
Sau hoàn thành việc huy trận càn lớn vào đại doanh Trần Ngỗi, tướng tổng
huy giặc Trương Phụ lệnh phải lên đường trở Trung Quốc, viên tướng giặc
khét tiếng khác Kiềm Quốc Công Mộc Thạnh mang ấn Chinh Di Tướng Quân đem thêm
năm vạn quân sang thay Nhân Mộc Thạnh đường hành quân, Trần Ngỗi
bộ huy nghĩa quân định chủ động tổ chức phản công mà mục tiêu tiêu
diệt bọn tay chân thân tín giặc khu vực Tân Bình Thuận Hố Diệt bọn tay chân
thân tín nguy hiểm có nghĩa diệt sở xã hội quân Minh
Ngày 16 tháng năm Mậu Tí (1408), nghĩa quân Trần Ngỗi đánh vào cửa biển Nhật Lệ, tên
phản bội Phạm Thế Căng cháu Phạm Đống Cao bị bắt bị giải hành
Trần Ngỗi (lúc chuyển Nghệ An) bị giết Trận thắng lớn làm nức lòng nhân
dân địa phương, bọn tay sai giặc mà khơng dám lộng hành q quắt
trước
Tháng 10 năm Mậu Tí (1408), Trần Ngỗi định mở công lớn vào Đông Đô
Tất nghĩa binh đóng rải rác Thuận Hố, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu Thanh Hoa
được gấp rút huy động vào cơng có quy mơ lớn
"Những bề cũ hào kiệt nơi, không không hưởng ứng" Ngày 14 tháng 12 năm
1408, trận ác chiến diễn Bô Cô (nay thuộc Ý Yên, Nam Định) nghĩa quân Trần
Ngỗi với quân Minh Kiềm Quốc Công Mộc Thạnh huy "Hồng Đế tự tay cầm dùi đánh
trơng, hạ lệnh cho ba quân thừa xông trận, đánh từ đầu Tị đến cuối Thân Quân
Minh thua chạy Ta chém Binh Bộ Thượng Thư Lưu Tuân, Đô Ti Lữ Nghị loại quân
cũ nhiều đến 10 vạn Chỉ có Mộc Thạnh chạy thành Cổ Lộng."
Trận Bô Cô trận điển hình nghệ thuật phối hợp nhịp nhàng binh với thuỷ binh,
năng lực huy lực lượng từ nhiều địa phương khu vực khác đến hội quân Trận
Bô Cô trận hiên ngang mặt đối mặt lãnh tụ nghĩa quân với tướng
tổng huy quân Minh xâm lược Với trận đại thắng Bô Cô, tên tuổi Trần Ngỗi trở nên lừng
lẫy Và, kể từ sau trận Bô Cơ, qn Minh khơng dám cói thường mà cịn kính nể tài
thao lược Trần Ngỗi
d) Người giỏi lúc giỏi
Ngay sau trận đại thắng vang lừng Bô Cô, tiếc thay, lãnh tụ Trần Ngỗi với hai tướng
Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân bắt đầu nảy sinh bất đồng Trần Ngỗi cho phải nhân
chẻ tre, thẳng tiến Đông Quan đánh mạnh vào tận sào huyệt kiên cố cuối giặc,
khi Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân lại chủ trương phải ổn định đất giành lại được,
diệt trừ bọn giặc cịn sót để tránh hậu hoạ lâu dài Đang lúc đơi bên chưa đủ lí lẽ chắn để
thuyết phục giặc Đơng Quan vào giải cứu Mộc Thạnh, thế, bọn
Nguyễn Quỹ Nguyễn Mộng Trang lại nhân mà bng lời gièm pha Trần Ngỗi dại dột bắt
giết Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân Chuyện đau lịng xin trình bày phần viết
Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân
Chỉ vòng năm mà Trần Ngỗi có đến hai lần thể tả Với việc
giết hại 500 thuộc hạ Trần Thúc Dao Trần Nhật Chiêu (tháng 12 năm 1407), Trần
Ngỗi tự đẩy vào bị cô lập Đến (tháng 12 năm 1408), với việc đồng thời bắt giết
cả hai vị tướng cao cấp tài Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân, kể Trần Ngỗi
(82)độc lập dân tộc tưởng chừng trang trọng kết đầy trận thắng vang dội, nhưng,
vừa mở bị đóng chặt lại
Vẫn biết người giỏi lúc giỏi, song, nông thời
Trần Ngỗi gây nên hậu đau lòng Trong ông, khí khái vội vã chừng lúc
nào song hành với Giá mà Nhưng, lại "giá mà" với lịch sử Thôi đành
ngậm ngùi cầm bút ghi nhận rằng, sau đỉnh vinh quang trận Bô Cô, vai trị Trần Ngỗi kể
như khơng cịn đáng kể
3 TRẦN QUÝ KHOÁNG - NGỪOI QUẢ CẢM ĐẢM NHẬN SỨ MẠNG KẾ TỤC SỰ NGHIỆP
CỦA TRẦN NGỖI
Bấy giờ, chết oan ức Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân khiến cho đông nghĩa sĩ
của Trần Ngỗi bị hoang mang khơng người số họ hẳn niềm tin vào lãnh tụ
chính mà điển hình có lẽ Đặng Dung (con Đặng Tất) Nguyễn Cảnh Dị (con
của Nguyễn Cảnh Chân) Hai ông khơng từ bỏ lí tưởng xả thân đánh giặc cứu nước
cũng chấp nhận tiếp tục làm tướng cho Giản Định Đế Trần Ngỗi người giết hại
cha "Con Nguyễn Cảnh Chân (Nguyễn) Cảnh Dị Đặng Tất (Đặng) Dung, giận nỗi cha họ bị chết oan nên đem quân Thuận Hoá Thanh Hoa, đón quan Nhập Nội
Thị Trung Trần Q Khống Nghệ An tơn lập làm Hoàng Đế" Ngày 17 tháng năm Kỉ Sửu
(1409), Chi La (nay đất thuộc huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh), Trần Q Khống
thức lên ngơi Hồng Đế đặt niên hiệu Trùng Quang Trong guồng máy triều đình hồn tồn
mới mẻ này, Nguyễn Suý Thái Phó, Nguyễn Cảnh Dị Thái Bảo, Đặng Dung Đồng Bình
Chương Sự, Nguyễn Chương Tư Mã
Một khởi nghĩa, kẻ thù chung, nghiệp lớn bắt đầu, khó khăn
chồng chất, mà tiếc thay, nghĩa sĩ nhân dân yêu nước đương thời có đến hai vị Hoàng
Đế Trên khắp gian này, nỗi lo lắng thuộc vào hàng đáng kể có lẽ
thừa Vua ! Bấy giờ, quyền Trần Ngỗi đóng Ngự Thiên cịn Chính quyền Trần Q
Khống đóng khu vực Chi La Trên thực tế hai guồng máy quyền Trần
Ngỗi Trần Q Khống lúc bắt đầu có biểu đáng phải bận tâm
Để giải bất hồ có xu hướng ngày tăng, Trần Quý Khoáng mật sai Nguyễn Suý
đem quân ra, bất ngờ đánh úp Trần Ngỗi Ngự Thiên bắt sống Trần Ngỗi đem Tại Chi La
Trần Ngỗi Trần Q Khống tơn làm Thái Thượng Hoàng ! Cách tiến hành hợp hai lực
lượng theo lối áp đặt thô bạo này, dù sử cũ có cố gắng tìm lời biện minh khơng thể
che khuất hết khiên cưỡng Và, số người phản kháng liệt lúc lại
chính thân mẫu Trần Ngỗi Sử cũ chép : "Ngày tháng năm Kỉ Sửu (1409 - NKT) Hưng
Khánh Thái Hậu với Hành Khiển Lê Tiệt Lê Nguyên Đỉnh ngầm bàn việc khởi binh Hát Giang tiến vào đánh úp Trùng Quang Đế, có người quê Nghệ An Nguyễn Trạo đã tiết lộ việc Trùng Quang Đế sai bắt giết bọn Lê Tiệt Lê Ngun Đỉnh, cịn
tha hết cả".
Tháng năm Mậu Tí (1409), thân mẫu Trần Ngỗi (tức bà Hưng Khánh Thái Hậu) bị
bệnh mà qua đời, mối hiềm khích đơi bên kể khơng cịn đáng kể nữa,
nghĩa quân nhờ mà hồi phục nhanh Từ Hà Tĩnh, Trần Quý Khoáng liên tiếp tổ chức
những công ạt Bắc Tài quân Trần Q Khống bộc lộ rõ
ở công Tướng tổng huy quân Minh lúc Kiềm Quốc Công Mộc Thạnh
vì q lo sợ nên cử Hồng La làm sứ giả, đến xin gặp Trần Quý Khoáng để đơi bên thương
lượng Trần Q Khống khơng tiếp, sai người tới gặp Hồng La Nỗ Giang
Tháng năm 1409, Trần Quý Khoáng cho quân tiến thẳng khu vực Hạ Hồng (nay thuộc
Hải Dương) hiên ngang đặt đại doanh bến Bình Than Trần Ngỗi có mặt
bên cạnh Trần Q Khống Dân khắp địa phương nô nức hưởng ứng, quan lại hợp tác
(83)không chịu
Quân Minh lâm vào tình quẫn bách, tướng tổng huy giặc Kiềm Quốc Cơng
Mộc Thạnh cịn biết đóng chặt cửa thành gấp cho người Trung Quốc khẩn thiết kêu cứu
Nhân hội này, hào kiệt nơi thi chiêu mộ nghĩa sĩ chủ động tổ chức
công, đập tan quyền giặc địa phương Sử cũ cho biết :
- Đồng Mặc Thanh Hoa, xưng Lỗ Lược Tướng Quân, đánh diệt giặc "nhiều không
kể xiết", bắt sống tướng giặc Tả Địch, khiến cho viên tướng khác giặc Vương Tuyên
vì vào quẫn bách mà phải tự tử
- Nguyễn Ngân Hà (cũng người Thanh Hoa) "bậc trội đám hào kiệt" (chữ
tác giả ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ) đánh cho quân Minh nhiều trận thất điên bát đảo
- Lê Nhị Thanh Oai (nay thuộc tỉnh Hà Tây) đánh giết tướng giữ chức Đô Ti
nhà Minh Lư Vượng cầu Ngọc Tản, sau cịn táo bạo đem quân đánh chiếm
huyện Từ Liêm (Hà Nội)
- Lê Khang người quê huyện Thanh Đàm (nay huyện Thanh Trì, Hà Nội) vận động
nhân dân địa phương dậy đánh cho quân Minh nhiều trận lớn
- Đỗ Cối Nguyễn Hiệu Trường Yên hô hào nhân dân nơi vùng lên
Như Trần Quý Khoáng vừa tự cầm quân đánh mạnh vào khu vực đồng Bắc
Bộ, vừa khích lệ hào kiệt nhân dân địa phương vùng dậy đánh giặc tuỳ khả cách
thức riêng Tuy chưa thật chặt chẽ thiếu hẳn huy thống
nhất, Trần Q Khống có cơng đặt tảng cho q
trình nhận thức việc huy động sức mạnh trí tuệ tồn dân vào nghiệp cứu nước
4 CUỘC ĐỐI ĐẦU VỚI TRƯƠNG PHỤ Ở HÀM TỬ - NGHĨA KHÍ DẪU MẠNH CŨNG
CHẲNG ĐỦ ĐỂ ĐÈ BẸP THẾ GIẶC HÙNG HẬU VÀ BẠO TÀN
Nhận tin kêu cứu khẩn thiết Mộc Thạnh, triều đình Minh Thành Tổ (1402-1424)
lần nữa, buộc phải sai Trương Phụ cầm quân giải nguy Tháng năm Bính Tuất (1406),
tham gia huy xâm lăng nước ta, Trương Phụ trao chức Chinh Di Hữu Phó
Tướng quyền đeo ấn Chinh Di Tả Phó Tướng, tước Tân Thành Hầu Tháng năm
Đinh Hợi (1407), Trương Phụ với Mộc Thạnh lệnh gấp rút trở Trung Quốc Đến đầu
năm Mậu Tí (1408), Trương Phụ lại lệnh phải đem quân sang lần Nhưng
chẳng sau đó, việc cầm quân đánh dẹp giao lại cho tướng Mộc Thạnh cịn Trương
Phụ phải quay triều đình Và lúc (tháng năm 1409), lần thứ ba (trong vòng chưa
đầy ba năm) Trương Phụ sang nước ta Với chuyến xuất quân lần thứ ba Trương Phụ dược
triều đình Minh Thành Tổ cho làm Tổng Binh, đeo ấn Chinh Di Tướng Quân phong tới
tước Anh Quốc Công Điều có nghĩa Mộc Thạnh bị hết chức quyền cũ
Tháng năm 1409, trận đụng độ với quân sĩ Trần Ngỗi Thiên Quan,
Trương Phụ áp đảo Trần Ngỗi nhanh chóng bị bắt bị giết hại Tháng năm 1409,
Trương Phụ dò biết đại binh Trần Quý Khống Bình Than nên cho qn
tới tấp công Bấy giờ, nhiệm vụ tổ chức chống đánh quân Minh Hàm Tử, ngăn không cho
Trương Phụ tiến vào khu vực Bình Than Trần Quý Khoáng trao cho tướng Đặng Dung
Nhưng "qn mà lương ăn cạn", Đặng Dung cầm cự Trần Quý
(84)mổ bụng lấy ruột người quấn vào thân lấy mỡ người đem rán Có nơi chúng lấy người đem đốt nướng làm trị chơi Thậm chí có nơi chúng mổ bụng đàn bà mang thai, cắt
lấy hai tai hài nhi để giao nộp Dân khắp vùng từ kinh thành đến lộ phải lần lượt chịu hàng Ai chưa bị giết chúng bắt làm nơ tì đem bán, người nơi, tan tác hết cả"
Về tội ác "trời không dung đất không tha" Trương Phụ, sử thần Quốc Sử Quán triều
Nguyễn nghiêm phê :"Trương Phụ học từ Minh Thành Tổ thủ đoạn tàn khốc
người phạm tội dây dưa đến mười họ nên mới dám bạo ngược giết chết dân trời
Kẻ bất nghĩa tất nhiên cuối chuốc lấy chết, dùng sức mạnh để cướp nước người có
phải dễ đâu."
Sau Trần Quý Khoáng rút Nghệ An tồn quyền nhà Hậu Trần từ Thanh Hoa
trở Bắc bị tan rã vậy, khó khăn nghĩa quân Trần Quý Khoáng ngày
càng thêm chồng chất
5 BA LẦN SAI SỨ - BA LẦN BẾ TẮC
Nhẫn tâm cướp nước tàn hại dân lành mà chẳng chút ghê tay
nhưng nhà Minh lại tuyên bố chúng đội quân nhân nghĩa Bám lấy lời lừa mị
đó, Trần Quý Khoáng định mở thêm mặt trận cơng vào kẻ thù, mặt
trận ngoại giao Nhìn hình thức, định táo bạo lợi hại,
nhưng xét kĩ thấy rõ Trần Quý Khoáng thiếu hẳn tính khả thi Khơng thề nói khác
rằng, vào thời điểm cụ thể đó, mối tương quan lực bất lợi đó, việc sai sứ cầu
phong điều khơng thể thành cơng Tuy nhiên, Trần Quý Khoáng hi vọng
rằng từ thực tiễn sinh động mặt trận này, ông muốn làm cho trăm họ nhận thức ngày
sâu sắc chất xấu xa quân Minh xâm lăng Bấy giờ, Trần Quý Khoáng ba lần sai
sứ đến tận hang ổ giặc để trực tiếp đấu trí với chúng ba lần hồn tồn bị bế tắc
và khơng thu kết
Lần thứ nhấtlà vào mùa hè năm Tân Mão (1411) Trong lần thứ này, quan Hành Khiển
Nguyễn Nhật Tư cử làm Chánh Sứ quan Thẩm Hình Lê Ngân cử làm Phó Sứ Hai
ơng với đồn tuỳ tùng lặn lội sang tận kinh thành nhà Minh, nhân danh người
được cử làm đại diện cho hoàng tộc nhà Trần, bám chặt lấy cờ trị giả hiệu "phù
Trần diệt Hồ" mà Minh Thành Tổ cho giương lên trước để xin cầu phong cho Trần Quý
Khoáng Minh Thành Tổ tức giận, sai bắt giam giết hại Chánh Sứ Phó Sứ
Lần thứ hailà vào tháng năm Tân Mão (1411) Lần này, quan Hành Khiển Hồ Ngạn Thần
được cử làm Chánh Sứ quan Thẩm Hình Bùi Nột Ngơn cử làm Phó Sứ Ngồi tờ biểu văn
xin cầu phong, phái sứ giả mang theo nhiều phẩm vật quý giá để dâng tiến Rất
tiếc viên Chánh Sứ Hồ Ngạn Thần không đủ lực phẩm hạnh để làm trịn bổn
phận giao nên nước liền bị Trần Quý Khoáng sai bắt giam giết chết
Lần thứ ba vào tháng năm Quý Tị (1413) Bấy giờ, Trần Q Khống đóng Hố Châu cịn
đất Nghệ An tướng tổng huy quân Minh Trương Phụ chiếm giữ Lần này, người
cử làm Chánh Sứ Nguyễn Biểu đến khu vực đặt đại doanh Trương Phụ Nghệ
An, Nguyễn Biểu bị Trương Phụ giết chết
Tóm lại, vịng hai năm (từ mùa hè năm 1411 đến mùa hè năm 1413), Trần Quý
Khoáng ba lần chủ động sai sứ giả ba lần bị bế tắc thất bại Các vị
Chánh Sứ Phó Sứ Nguyễn Nhật Tư, Lê Ngân, Nguyễn Biểu bị giặc giết hại Riêng
Hồ Ngạn Thần, với hành vi lỗi lầm thật khó bễ tha thứ sứ, tiếng sau bị Trần
(85)Với Trần Quý Khoáng, ba lần sai sứ ba lần bế tắc thất bại với toàn thể nhân dân
yêu nước đặc biệt bạc hào kiệt ưu thời mẫn lúc bây giờ, thực tế thất bại
cả ba lần để lại học lớn, thực lực chưa đủ mạnh khơng thể
tranh biện lẽ sai quân cướp nước
6 THÂN DẪU MẤT VẪN NGỜI NGỜI TIẾT THÁO
Mùa xuân năm Quý Tị (1413), Trần Q Khống cố gắng mở cơng Bắc
nhằm làm thay đổi tương quan lực đôi bên Từ Nghệ An, Trần Quý Khoáng với
Nguyễn Suý Nguyễn Cảnh Dị dẫn quân Vân Đồn từ Vân Dồn, tổ chức trận đánh
bất ngờ vào khu vực duyên hải Bắc Bộ, vừa tiêu hao sinh lực địch, vừa thu gom lương thực
cho nghĩa quân Nhưng, rời Nghệ An vào tháng giêng chưa đầy hai tháng sau (ngày tháng 3)
Trần Quý Khoáng phải quay Nghệ An "quân lính mười phần, lúc cịn lại ba
bốn phần" Nói khác hơn, Trần Q Khống cam chịu thất bại Tháng năm Quý Tị (1413),
Trương Phụ họp tướng lại để bàn kế hoạch đánh trận định cuối với nghĩa quân
Trần Quý Khoáng Hoá Châu
"Mộc Thạnh bàn :
- Hoá Châu có núi cao biển rộng, chưa dễ lấy đâu.
Trương Phụ nói :
- Tơi sống Hố Châu, chết làm ma Hóa Châu Hóa Châu chưa dẹp được, tơi cịn mặt mũi trơng thấy Hồng Thượng nữa".
Nói xong, Trương Phụ liền dẫn thuỷ quân 21 ngày sau đến Thuận Hố Tháng năm
1413, đụng độ lớn quân Minh với lực lượng Trần Quý Khoáng diễn
tại sông Thái Gia (cũng tức Sái Già) Tại đây, phục binh Trần Quý Khoáng đánh cho thuỷ
quân Trương Phụ trận tơi bời Trương Phụ nhờ may mắn thoát chết
Vốn viên tướng dày dạn kinh nghiệm trận mạc nên sau trận này,
Trương Phụ gấp rút chấn chỉnh đội ngũ cấp tập tổ chức phản công Tháng 11 năm 1413,
Trương Phụ bắt hai vị tướng xuất sắc Trần Quý Khoáng Nguyễn Cảnh Dị Đặng
Dung Khơng cịn cách khác, Trần Quý Khoáng đành phải bỏ đất Hoá Châu định men theo
đường núi chạy ngược lên vùng Lão Qua đường rút lui bi quân sĩ
Trương Phụ bắt Sự kiện diễn vào tháng 12 năm Quý Tị (1413) Cùng bị bắt với Trần
Q Khống cịn có số tướng lĩnh cao cấp khác nghĩa quân
Tháng năm Canh Ngọ (1414), Trương Phụ sai quân dùng thuyền đưa Trần Quý Khoáng
Yên Kinh (Trung Quốc) Dọc đường bị áp giải, ông nhảy xuống biển tự tử Danh tướng Đặng
Dung nhảy xuống biển tự tử với ông
Với lịch sử giữ nước kiên cường dân tộc, Trần Quý Khoáng thực xứng đáng vị danh
tướng cảm, người có cơng tham gia dựng cờ xướng nghĩa
chống ách đô hộ quân Minh Ông ngã xuống nghiệp lớn chưa thành tiếng thơm
về tiết tháo anh hùng đời ơng cịn với núi sơng, cịn với mn đời
con Hồng cháu Lạc Tổng Tài Quốc Sử Viện thời Lê Sơ Tiến Sĩ Ngơ Sĩ Liên có lời bàn
Trần Quý Khoáng sau : "Trong lúc loạn li mà Trùng Quang Đế dám lây quân lữ để mưu
khôi phục đất nước, việc thật chẳng khác dùng gỗ nhỏ để chống đỡ nhà lớn đổ, há ơng lại khơng biết tình đến lúc cứu vãn
được hay sao? Nhưng, cần phải cố làm hết bổn phận phải làm, có mong cứu vãn
mệnh trời.
Đến bị lũ giặc bắt giải đi, lịng giữ nghĩa khơng chịu nhục, cam lòng nhảy
(86)III CÁC BẬC DANH TƯỚNG ĐỜI HẬU TRẦN
1 ĐẶNG TẤT VÀ ĐẶNG DUNG : HỔ PHỤ SINH HỔ TỬ
a) Diệt tên phản bội Phạm Thế Căng trận Nhật Lệ (6-1408), lần thể
khiếu cầm quân Đặng Tất.
Đặng Tất Đặng Dung hai cha con, tổ tiên vốn người Hoá Châu, sau di cư làng Phù Lưu,
huyện Thiên Lộc, làng thuộc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Trước hăng hái đến tham
gia khởi nghĩa Trần Ngỗi phát động lãnh đạo, Đặng Tất quan Đại Tri Châu
Hoá Châu Hiện chưa rõ Đặng Tất sinh vào năm nào, nhiên, vào ba chi tiết lí
lịch, một trước năm 1407 ơng làm quan đến chức Đại Tri Châu, hai đến năm 1408, ơng
có gái đến tuổi lấy chồng ông tiến dâng cho Trần Ngỗi, ba trai ông - Đặng
Dung - vị tướng nghĩa quân, cho nên, ước đốn Đặng
Tất đời vào khoảng đầu năm sáu mươi kỉ XIV tham gia nghĩa binh Trần
Ngỗi, ơng tuổi ngồi bốn mươi
Ngày mồng tháng 10 năm Dinh Hợi (1407), Trần Ngỗi Trần Triệu Cơ tôn lập làm
Hồng Đế Mơ Độ Đặng Tất cịn Hố Châu Đến tháng năm Mậu Tí (1408), Trần Ngỗi
buộc phải rút lui Nghệ An, Đặng Tất đem quân sĩ tới để mắt tình
nguyện xin theo Trước lúc lên đường, ông bắt giết bọn quan lại đô hộ nhà Minh Hoá
Châu mang gia quyến đi, có hai người đặc biệt, danh tướng
Đặng Dung hai người gái (được ông đem dâng tiến cho Trần Ngỗi)
Giản Định Đế Trần Ngỗi vui mừng, phong cho Đặng Tất tước Quốc Công Từ
đây, Đặng Tất coi chỗ dựa tin cậy nghĩa quân Nhưng, Trần
Ngỗi đóng Nghệ An chưa Mạc Thuý dẫn quân Minh đến càn quét Do chỗ
quân lại chưa quen trận mạc nên Trần Ngỗi Đặng Tất phải chịu thua, hết chạy vào tận
Hoá Châu lại bí mật quay Nghệ An Bấy Trương Phụ rải quân lùng sục khắp nơi mà
khơng tìm Trần Ngỗi Lúc Trương Phụ đánh đến cửa Bố Chính viên
tì tướng Trần Ngỗi Phạm Thế Căng đầu hàng, Trương Phụ trao cho chức Tri
Phủ phủ Tân Bình Hắn xưng Duệ Vũ Đại Vương đặt đại doanh núi An Đại (ở
huyện Lệ Thủy, Quảng Bình ngày nay) Sự phản bội Phạm Thế Căng khiến cho nghĩa quân
của Trần Ngỗi gặp khơng khó khăn Vùng từ Hồnh Sơn (đèo Ngang - ranh giới tự nhiên
hai tỉnh Hà Tĩnh Quảng Bình) trở Nghệ An vùng từ phía nam huyện Gio Linh
(tỉnh Quảng Trị) đèo Hải Vân chủ yếu thuộc quyền chi phối nghĩa quân Trần Ngỗi,
cịn khu vực nằm lọt (Quảng Bình cộng với phía bắc Quảng Trị) lại Phạm Thế Căng kiểm
sốt Muốn có khu rộng lớn liên hồn an tồn lẽ tất nhiên Trần Ngỗi
phải nhanh chóng tiêu diệt Phạm Thế Căng
Ngày 16 tháng năm Mậu Tí (1408), tướng Đặng Tất tin cậy giao trách nhiệm tổ chức
chỉ huy cơng có tầm quan trọng đặc biệt Chỉ vòng ngày,
loạt trận lớn nhỏ khác nhau, Đặng Tất đập tan hoàn toàn lực lượng Phạm Thế Căng
và trừng trị đích đáng kẻ phản dân hại nước
Do trận đánh định số phận Phạm Thế Căng diễn cửa Nhật Lệ, cho nên, sử
thường gọi trận Nhật Lệ Từ thực tế diễn biến kết tết đẹp trận Nhật Lệ, điều
không thể phủ nhận tài quân Đặng Tất bộc lộ rõ ràng Ông thật
xứng đáng với tước vị Quốc Công với niềm tin lớn lao lực lượng nghĩa quân Trần Ngỗi
(87)Sau thắng lợi vang dội trận Nhật Lệ, nghĩa quân Trần Ngỗi nói chung uy tín Đặng Tất nói riêng mau chóng trở nên lừng lẫy Bấy giờ, bọn tay sai
giặc lo sợ hoang mang mà đến quân Minh không dám chủ quan coi thường Trần
Ngỗi Nhân đà thuận lợi này, tháng 12 năm Quý Tị (1408), Trần Ngỗi táo bạo cho quân đánh
thẳng Bắc Và, lần nữa, Quốc Công Đặng Tất Trần Ngỗi tin cậy giao phó trọng
trách "điều động quân lộ Thuận Hố, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu Thanh Hoa để
hợp lực đánh Đông Đô"
Lúc này, Trương Phụ lệnh phải gấp Trung Quốc, viên tướng khác nhà Minh
Kiềm Quốc Công Mộc Thạnh đeo ấn Chinh Di Tướng Quân sang thay Mộc Thạnh nắm
quyền tổng huy năm vạn quân thuỷ nhà Minh từ Vân Nam (Trung Quốc) hùng hổ tiến
vào nước ta Cùng tham gia điều khiển hành quân với Mộc Thạnh cịn có số viên
tướng khác Đơ Ti Lữ Nghị Binh Bộ Thượng Thư Lưu Tuấn
Ngày 14 tháng 12 năm 1408, nghĩa quân Trần Ngỗi Đặng Tất Trần Ngỗi trực tiếp huy
đã gặp giao chiến với đại binh Mộc Thạnh bến Bơ Cơ Để đối địch với Mộc
Thạnh, Trần Ngỗi Đặng Tất liền hạ lệnh phải giữ quân ngũ thật nghiêm Những cọc gỗ
được gấp rút đóng xuống dọc theo ven sông Những chiến luỹ nhanh chóng đắp lên
hai bên bờ Tóm lại trận kiên cố thuận lợi cho công lẫn thủ cua lực
lượng nghĩa quân Trần Ngỗi nhanh chóng tạo lập khu vực Bô Cô
Khi hai bên bắt đầu giao chiến dưng có gió mùa đơng bắc thổi mạnh thuỷ triều
lại dâng lên nhanh, lợi hoàn toàn thuộc quân Minh Nhưng bất chấp tất cả, nghĩa
quân ạt xông lên Lúc giờ, Đặng Tất tỏ tỉnh táo khơn khéo việc
điều binh khiển tướng Trần Ngỗi tự đánh trống để thúc giục ba quân Hai bên đánh
liên tục từ đầu Tị đến cuối Thân Quân Minh mau chóng bị dồn vào bị động, bị chia cắt
để khơng cách liên lạc với Trong trận này, Đô Ti Lữ Nghị Thượng Thư
Lưu Tuấn bị chém đầu, lính giặc gồm cũ lẫn bị giết chỗ đến mười vạn tên
Tổng huy lực lượng nhà Minh - Chinh Di Tướng Quân, Kiềm Quốc Công Mộc Thạnh - nhờ
may mắn mà chạy thoát thành Cổ Lộng! Quân giặc phải phen bạt vía kinh hồn
Với số lượng tướng lĩnh cao cấp binh lính giặc bị tiêu diệt nhiều vừa kể trên, Bô Cô
trận đánh có quy mơ tầm vóc lớn nghĩa binh Trần Ngỗi Đặt toàn lịch sử
chống xâm lăng ngoan cường dân tộc ta, Bô Cô trận đánh xứng
đáng xếp vào hàng vang dội Là người có cơng trực tiếp tham gia vạch kế hoạch
huy cách xuất sắc trận Bô Cô, Đặng Tất thể rõ tài qn thật đáng
kính Ông biểu tượng tinh thần kiên định đặc biệt khả giữ vững
tỉnh táo để tìm cách ứng xử thích hợp trước diễn biến phức tạp tình hình chiến
trường Kinh nghiệm việc xây dựng củng cố ý thức giữ quân ngũ thật nghiêm, về việc thực
hiện biện pháp đắn nhằm kịp thời chấn chỉnh tinh thần chiến đấu binh sĩ trước
xông trận mà danh tướng Đặng Tất để lại, thật xứng đáng hậu trân trọng
kế thừa
c) Tiếc thay, sau trận Bô Cô
Rất tiếc sau trận đại thắng vang dội Bô Cô, Giản Định Đế Trần Ngỗi hai vị danh
tướng Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân nảy sinh bất đồng mà tất xoay quanh việc
sắp xếp thứ tự ưu tiên giải vấn đề lớn đặt lúc Sử cũ chép :
Hoàng Đế nói với quân sĩ rằng:
- Nay nên thừa chẻ tre, đánh theo lối chiếu thẳng mạch, nhanh sét đánh
khiến giặc không kịp bịt tai, ta tiến thành Đơng Quan chắn phá tan
(88)Nhưng (Đặng) Tất lại tâu :
- Trước nên bắt hết bọn giặc cịn sống sót, khơng nên để mối lo sau."
Bởi khác biệt ý kiến vậy, Giản Định Đế Trần Ngỗi trở nên chần chừ, khơng dám
đốn Nhân hội đó, qn Minh từ thành Đơng Quan tiến gấp vào để cứu viện, nhờ đó,
Mộc Thạnh dễ dàng Về phần mình, Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân trước
sau một, chủ trương phải nhanh chóng sai người khắp địa phương lùng bắt
cho hết bọn tàn binh giặc, vậy, sức mạnh lực lượng nghĩa quân bị phân
tán, khả tổ chức cơng phịng ngự bị suy giảm
Đúng lúc nội bắt đầu có rạn nứt đáng lo ngại viên hoạn quan Nguyễn Quỹ
cùng với kẻ học trò giảo hoạt Nguyễn Mộng Trang lại xúc xiểm tâu với Giản Định Đế
Trần Ngỗi : "Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân chuyên quyền, tự ý bổ dụng người
cất nhắc người khác, không sớm liệu tính sau thật khó lịng mà chế ngự được" Trần Ngỗi nghe xong, vội vã cho triệu Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân xuống thuyền ngự
mình Đặng Tất bị võ sĩ bóp cổ chết Thấy chẳng lành, Nguyễn Cảnh Chân liền bỏ
chạy lên bờ khơng thốt, ơng bị võ sĩ đuổi theo chém chết Sự kiện đau lòng
từng hệ sử gia viết lời bình luận thể cách nhìn nhận đánh giá khác
nhau Phan Phu Tiên cho Đặng Tất người có lỗi Ơng viết :"Đặng Tất biết gấp rút
hành quân mà việc phải đến cứu Đơng Đơ cịn gấp Đơng Đơ có tầm quan
trọng nước, chiếm Đơng Đơ tất lộ tề hưởng ứng Vả hào kiệt nước nhà phần lớn tập trung Không lo đánh chiếm nơi mà lại chia quân
khắp xứ, khiến cho hiệu lệnh không thống nhất, cho nên, cuối phải chịu sụp đổ đúng" Các sử thần Quốc Sử Quán triều Nguyễn hạ bút viết Lời phê ngắn ngủi
rằng : "Đặng Tất để tuột hội nên phải rước lấy tai hoạ, đáng tiếc
lắm sao" Đánh giá kiện chừng mực có phần thoả đáng có lẽ Tiến Sĩ Ngơ Sĩ
Liên Ông dẫn sử sách Trung Quốc để đối sánh viết : "Đường Thái Tông dùng
binh, phần lớn nhân chẻ tre mà giành thắng lợi (Đường Thái Tơng) có tư
chất anh hùng, tướng sĩ huấn luyện sẵn sàng từ trước Đế Ngỗi tính kế thắng nhưng (Đặng) Tất khơng theo, cố nhiên đáng tiếc, có lẽ (Đặng) Tất thấy Đế
Ngỗi khơng phải bậc anh hùng Đường Thái Tông mà quân sĩ từ xa tiến đến, lương
thực chưa tiếp tế kịp, quân lộ chưa tập hợp xong, cho nên, tốt làm theo lời
binh pháp : qn đơng địch mười lần bao vây, đơng địch năm lần đánh
Nếu khơng phải thành Cổ Lộng cách Bô Cô không nửa ngày đường,
không nhân chẻ tre mà đánh, lại đánh thành Đông Quan Kế (của Đặng Tất) chưa
phải hỏng, Đế Ngỗi bị tin lời gièm pha mà vội giết (Đặng) Tất Than ôi, Đặng Tất phá giặc mạnh, trổ tài tính tuần tháng, việc lớn chưa làm
nửa mà bị chết oan, đại hoạ sụp đổ (của nhà Hậu Trần) đâu phải tội (Đặng)
Tất."
Trái ngược hẳn với nhận xét Phan Phu Tiên, đồng thời, bộc lộ kiến cách
rõ ràng có lẽ Hồng Giáp Ngơ Thì Sĩ Ông viết : "Đặng Tất trù tính kĩ Khi ấy, Mộc
Thạnh sang, vượt đường xa ngàn dặm, quân sĩ vừa đói lại vừa mỏi mệt, chúng chết được Bơ Cơ may mắn lắm, cịn Trương Phụ tên cáo già, chẳng
khác hổ lặng lẽ ngồi nhìn Đơng Đơ Nếu vội đem đội qn độc từ xa kéo đến mà đánh chưa dễ giành phần thắng, vạn mà trước mặt lẫn sau lưng
có giặc, khơng lấy đâu qn lương cứu viện có phải dấn thân vào chỗ chết hay không ?
Cho nên, tạm nghỉ ngơi cho điều độ kế vạn toàn Đặng Tất bậc tướng quân
giàu trí lực Giá thử sử dụng hết mưu kế ông định quân Minh vấp phải
một phen khốn đốn, khơng thể nói nước ta chỗ khơng có người được".
(89)Thân sinh Đặng Dung vốn vị danh tướng giàu tài lập nhiều
cơng lao to lớn lại bị người em rể giết hại, cho người em rể Hồng Đế
lãnh tụ chiến đấu chống quân Minh từ sâu thẳm cõi lịng, tất nhiên Đặng Dung
khơng tránh khỏi phẫn uất Theo lẽ thường người lãnh đủ căm giận Đặng Dung
sẽ Giản Định Đế Trần Ngỗi Nhưng, Đặng Dung có cách nhìn nhận phân tích thật sâu
sắc cảm động Thân sinh ông Đặng Tất danh tướng Nguyễn Cảnh Chân bị giết hại
là tổn thất lớn lao nghiệp cứu nước, ông lại nỡ quên nghĩa thiêng
liêng đánh đuổi quân Minh mà lại lo lòng ăn thua đủ với Giản Định Đế Trần Ngỗi tổn thất
cho xã tắc đương thời thật khó mà lường hết Vả chăng, người thấy rõ sai lầm
khó bỏ qua Giản Định Đế Trần Ngỗi ơng khơng thể tái lập hành vi tương tự
được Ơng ơng - Đặng Dung ngời sáng tâm thành, xứng đáng với đấng thân sinh,
xứng đáng với q trình tơi luyện khói lửa chiến đấu giành độc lập Đầu năm Kỉ
Sửu (1409), tức sau thân sinh ông bị giết hại, Đặng Dung với Nguyễn
Cảnh Dị bỏ Trần Ngỗi đem lực lượng với Trần Quý Khoáng Bấy giờ, Trần Quý
Khống Thanh Hoa, hai ơng đồng lịng đón rước Trần Q Khống đất Chi La
tơn lập Trần Q Khống làm Hồng Đế vào ngày 17 tháng năm 1409 Khi ấy, Đãng Dung
tấn phong làm Đồng Bình Chương Sự
Một kẻ thù chung, phong trào đấu tranh chung có chung ý chí tâm
khơi phục nhà Trần lại có đến hai guồng máy quyền với hai vị Hồng Đế khác nhau,
đó chưa nói xung đột hai guồng máy quyền bắt đầu xuất
đấy thực tế khơng thể chấp nhận Như nói, tướng Trần Quý
Khoáng Nguyễn Suý cầm đầu tiến hành hợp hai lực lượng cách tổ chức đánh úp
vào Ngự Thiên bắt sống Trần Ngỗi đưa Chi La ! Tại đây, Trần Ngỗi tơn làm Thượng
Hồng Dẫu phải gặp lại tình khơng bình thường rõ ràng có
muốn hay khơng Đặng Dung phải tiếp tục trướng Trần Ngỗi, vượt lên
trên tất cả, ông không chút bận tâm, trước sau giữ vững phẩm chất đường đường
tướng quân Ai nói rằng, chiến thắng vẻ vang chiến thắng
Theo tinh thần triết lí ấy, Đặng Dung số người giành chiến
thắng vẻ vang
đ) Dọc ngang sông núi trải năm năm
Trong buổi đầu hợp lực lượng theo kiểu gượng ép vậy, tính thống
trong huy tướng lĩnh đôi bên chưa cao, vậy, thất bại tượng không tránh
khỏi Tướng Đặng Dung ngoại lệ
Tháng năm Kỉ Sửu (1409), Trùng Quang Đế Trần Quý Khoáng đánh với quân
Minh tướng Trương Phụ huy Bình Than Đặng Dung lệnh đem quân thu lương
thực cửa Hàm Tử (nay thuộc tỉnh Hưng n) Giặc bí mật tung qn thăm dị nắm biết
rõ số quân sĩ Đặng Dung cầm đầu khơng nhiều, vậy, chúng liền cho tạm dừng
cuộc hành quân đàn áp Bình Than để dồn cơng cấp tập vào khu vực Hàm Tử Lúc
bấy giờ, qn nên Đặng Dung đành phải chịu thua Trùng Quang Đế Trần Quý
Khoáng vừa nghe tin thất trận hạ lệnh rút lui Nghệ An
Tháng năm Nhâm Thìn (1412), Đặng Dung với tướng Nguyễn Suý,
Nguyễn Cảnh Dị Hồ Bối đóng Mơ Độ (n Mơ, Ninh Bình) bị Trương Phụ Mộc Thạnh
đem đại quân tới đàn áp Một ác chiến đẫm máu diễn ra."(Đặng) Dung (Trương)
Phụ liều chết đánh nhau, thắng bại đôi bên chưa rõ (Nguyễn) Suý (Nguyễn) Cảnh Dị bỏ
chạy vào nam cịn Hồ Bối bỏ chiến thuyền mà lên bờ (Đặng) Dung cô khơng có qn cứu viện rốt phải dùng thuyền nhẹ để vượt biển mà thoát." Thất bại Đặng
Dung trận đánh quan trọng Mô Độ lần này, trước hết thất bại hợp đồng tác
chiến lỏng lẻo vị tướng lĩnh lúc Tất nhiên thật khó mà trách Đặng
(90)trách nhiệm cao hoạt động nghĩa qn Mơ Độ Ơng người chịu phần
trách nhiệm trận thua mà
Tháng năm Quý Tị (1413), Đặng Dung tướng tổng huy quân giặc Trương Phụ lại
có thêm đụng độ lớn khu vực Thái Gia Một lần nữa, toàn thắng ngỡ
thuộc nghĩa quân hợp đồng tác chiến lỏng lẻo mà Trương Phụ lật ngược
tình Sử cũ chép rõ :"Đang đôi bên quân nam quân bắc (quân nam quân của Trần Quý Khoáng quân bắc quân Trương Phụ - NKT) cầm cự Đặng
Dung bí mật dùng binh tượng binh mai phục, nửa đêm bất ngờ đánh úp vào doanh trại (Trương) Phụ (Đặng) Dung nhảy lên thuyền (Trương) Phụ định bắt sống (Trương) Phụ lại khơng biết mặt để nhộn hắn, thế, (Trương) phụ liền nhảy
sang thuyền nhỏ chạy thoát Quân Minh bị tan vỡ đến nửa, thuyền bè, khí giới bị đốt phá gần
hết, mà bọn (Nguyễn) Suý hợp sức để đánh (Trương) Phụ biết quân (Đặng) Dung nên quay lại đánh (Đặng) Dung đành phải chịu thất bại, quân sĩ chạy tan
tác hết." Các sử gia Quốc Sử Quán triều Nguyễn chép đến phải lấy làm tiếc rẻ mà
hạ bút viết Lời phê : "Trời nuông tha Trương Phụ" Về trận ác Chiến diễn Thái Gia, Tiến
Sĩ Ngô Sĩ Liên viết lời bàn dài, có đoạn : "(Đặng) Dung nhân lúc nửa đêm
cho quân đến đánh úp doanh trại giặc, khiến cho chủ tướng giặc phải hoảng sợ chạy trốn, đốt được thuyền bè khí giới giặc, khơng phải bậc tướng tài chẳng thể làm
thế Song, cuối (Đặng Dung) bị thất bại, trời Nhưng, thất bại mà vinh
quang vậy? Bọn (Đặng) Đung đại nghĩa mà không thèm sống chung với giặc,
thề tiêu diệt lũ chúng nên hết lịng phị tá Trùng Quang Đế dụng mưu khơi phục
Trong khoảng năm kiên trì đánh giặc, có lúc thất trận mà ý chí khơng nao núng, khí
thế hăng, tới lúc hoàn toàn kiệt sức chịu dừng Lịng trung với nước bề tơi như thiết tưởng đến trăm đời sau thấy rõ."
Tháng 11 năm Quý Tị (1413) Đặng Dung với Nguyễn Cảnh Dị bị Trương Phụ bắt sống
đang tìm đường tạm lánh sang Xiêm La (tức Thái Lan ngày nay) để tính kế lâu dài Vì liên tục
lớn tiếng chửi mắng quân giặc nên Nguyễn Cảnh Dị bị Trương Phụ hạ lệnh giết vừa bị
bắt Ngay sau đó, Trương Phụ liền sai người dừng chiến thuyền đưa Trùng Quang Đế Trần Quý
Khoáng, Đặng Dưng, Nguyễn Suý số tướng sĩ khác nghĩa quân Yên Kinh (Trung
Quốc) Dọc đường bị áp giải, Trùng Quang Đế Trần Quý Khoáng nhảy xuống biển tự tử Đặng
Dung nhảy xuống chết theo Do chưa rõ năm sinh nên chưa thể biết mất,
Đặng Dung hưởng thọ tuổi Sinh thời, Đặng Dung bậc văn võ song tồn Bằng tất
ý chí nghị lực phi thường, ông tự tạo cho trang lí lịch nghiệp đặc biệt
Ngoài khiếu cầm quân lực đốn sắc sảo, ơng cịn đại bút Đặng
Dung để lại cho đời Thuật hoài - một hùng thi bất diệt lịch sử văn học
dân tộc Tuyệt tác bừng bừng hào khí chí vùng lên khuấy nước chọc trời ông
được chép lại TỒN VIỆT THI LỤC Chúng tơi xin trân trọng giới thiệu nguyên văn
chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa dịch thơ Thuật hoài sau :
Thuật hoài
Thế du du nại lão hà
Vô thiên địa nhập hàm ca Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khử anh hùng ẩm hận đa
Trí chủ hữu hồi phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà Quốc thù vị báo bạch
Kỉ độ Long Tuyền đới nguyệt ma
(91)Việc đời dằng dặc mà tiếc thay tuổi già, Trời đất rộng lớn nhập vào say ca.
Thời đến bọn bán thịt ngồi chợ hay câu ngồi sơng thành công dễ dàng, Khi vận hội qua đến bậc anh hùng đành phải uống nhiều tủi hận.
Phị chúa có lịng nâng trục đất,
Rửa binh khí, tiếc khơng có lối lên kéo nước sơng Ngân xuống.
Nợ nước chưa đền mà đầu sớm bạc.
Bao phen, gươm Long Tuyền đem mài ánh trăng.
Dịch thơ :
Việc đời bề bộn tiếc già, Trời đất quy cuồng say ca.
Gặp thời, đồ điếu thành công dễ,
Lỡ vận anh hùng ngậm xót xa.
Phị chúa dốc lịng ghì địa trục
Rửa gươm chẳng lối kéo Ngân Hà Nợ nước chưa đền, đầu bạc.
Gươm mài bao bận trăng ngà
Về vần thơ danh tướng Đặng Dung, Lý Tử Tấn có lời bình ngắn gọn
: "Phi hào kiệt chi sĩ, bất năng" (Nếu kẻ sĩ hào kiệt, làm nổi) Với
Đặng Dung, gươm bút thật thứ vũ khí lợi hại
(Tác giả xin thích thêm sau : Đồ người làm nghề bán thịt heo Trần Bình, người Trung Quốc thời Hán Thuở hàn vi, Trần Bình bán thịt heo chợ, tiếng cắt thịt giỏi Bấy có người bàn rằng, cắt thịt giỏi thế, cắt đặt việc triều đình giỏi Sau Trần Bình Tể Tướng xuất sắc nhà Hán Điếu người làm nghề câu, Hàn Tín Thuở cịn hàn vi, Hàn Tín câu cá sơng Hồi để kiếm sống, có lúc đói quá, may người phụ nữ cho chén cơm Về sau, Hàn Tín trở thành danh tướng lập dược nhiều công lao nhà Hán phong làm Sở Vương Hàn Tín trả cho người phụ nữ chén vàng, văn học cổ thưởng gọi bát cơm phiếu mẫu Thanh gươm Long Tuyền mà Đặng Dung nhắc đến câu cuối thơ vốn có tích Lơi Hoàn (Trung Quốc), theo đến ngục thất Phong Thành, Lơi Hốn tìm thấy hai gươm q để hòm đá, Long Tuyền, Thái An Văn học cổ thường dùng tích để gươm quý Trong chữ Hàn thơ Ở câu thứ tư, có viết Sự khứ anh hùng ẩm hận đa vận khứ Tương tự vậy, câu thứ bảy, có viết Quốc thù vị phục bạch vị báo
Lý Tử Tấn người làng Triều Lật, huyện Thượng Phúc, xã Tản Minh, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, đỗ Bảng Nhãn khoa Canh Thìn (1400) trước làm quan cho nhà Hồ, sau làm quan cho nhà Lê, trải phong dần tới chức Hàn Lâm Viện Học Sĩ, Nhập Thị Kinh Diên)
Phụ lục 4
LỜI DỊCH VÀ CHÚ THÍCH ĐOẠN GHI CHÉP CỦA QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN VỀ SỰ
NGHIỆP CỦA ĐẶNG TẤT VÀ ĐẶNG DUNG
(ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ - Nghệ An tỉnh)
Đặng Tất nguyên người Hoá Châu, sau di cư đến huyện Can Lộc Vào cuối đời Trần, ơng
từng triều đình cho giữ chức Đại Tri Châu Hoá Châu Khi Giản Định Đế nhà Trần lên
ngôi Mô Độ (Trường Yên), bị tướng nhà Miình Trương Phụ đánh phá hết hành dinh,
phải chạy đến Nghệ An, ông nghe tin liền giết quan lại nhà Minh đem quân đến hội, lại
dâng tiến gái vào cung Giản Định Đế phong cho ông tước Quốc Công để bàn
mưu khôi phục (Đặng) Tất đánh giết tên phản bội đầu hàng nhà Minh Phạm Thế Căng
cửa biển Nhật Lệ, sau đó, điều quân lộ Thuận Hố, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hố
tiến đánh Đông Đô Đến đâu, quan lại hào kiệt nơi vui vẻ hưởng ứng (Ơng)
đánh tan qn Minh Bơ Cô, chém đặc quan nhà Minh Binh Bộ Thượng Thư Lưu Tuấn
Đô Ti Lữ Nghị, riêng Mộc Thạnh chạy Từ qn uy vang dậy khắp nơi nơi
(92)đem lịng ngờ vực, liền giết chết ơng
Đặng Dung Đặng Tất Vì cha chết oan nên ông giận, liền (bỏ Giản Định Đế) đem
qn Thuận Hóa Thanh Hố, rước Trần Q Khống đến Nghệ An tơn lập làm Hồng Đế,
đổi niên hiệu Trùng Quang (Nhờ công tôn lập này) ơng Trần Q Khống phong làm
Đồng Bình Chương Sự Trương Phụ đem quân vào cướp Nghệ An, Trùng Quang Đế chạy vào Hoá
Châu (Trương) Phụ tiến vào Hố Châu, qn đơi bên kịch chiến Thái Gia, (Đặng) Dung
nhân đêm tối bí mật đánh úp, nhảy lên thuyền Trương Phụ dự định bắt sống,
không biết mặt nên Trương Phụ nhảy xuống thuyền nhỏ chạy Qn Minh có
nguy bị thất bại hồn tồn Sáng hơm sau, Trương Phụ biết (Đặng) Dung có qn số nên
quay lại đánh, quân (Đặng) Dung tan vỡ Sau, (Đặng) Dung bị (Trương) Phụ bắt giải Yên
Kinh Đi dọc đường, ông nhảy xuống sông tự tử Ơng có để lại cho đời bài Thuật hồi
2 NGUYỄN CẢNH CHÂN VÀ NGUYỄN CẢNH DỊ : HÀO KIỆT SINH HẠ ANH HÙNG a) Nguyễn Cảnh Chân hội ngộ với Trần Ngỗi :
Nguyễn Cảnh Chân sinh trưởng làng Ngọc Sơn (nay đất làng quê ông thuộc huyện Nam Đàn,
tỉnh Nghệ An) Ông sinh vào năm chưa rõ, sử cũ không cho biết ông bắt đầu
nghiệp Dưới thời nhà Hồ (1400-1407), Nguyễn Cảnh Chân
những quan lại thuộc hàng cao cấp Tháng năm Ất Dậu (1405), không rõ ông phạm phải lỗi
lầm trình làm quan, song, sử cũ cho biết ơng bị triều đình nhà Hồ biếm
chức, đưa làm An Phủ Sứ lộ Thăng Hoa An Phủ Sứ chức quan cao, chức vụ
của ơng trước năm 1405 cịn cao Ngày tháng 10 năm Đinh Hợi (1407), Trần
Ngỗi thức lên ngơi Hồng Đế bến Mô Độ dựng cờ xướng nghĩa kêu gọi nhân dân
nước vùng dậy chống quân Minh xâm lược đến tháng năm Mậu Tí (1408), Nguyễn Cảnh
Chân đem toàn lực lượng tới tham gia Đó thực hội ngộ tương
đắc bậc chí Bấy giờ, Nguyễn Cảnh Chân Trần Ngỗi phong làm Tham Mưu
Quân Sự Với chức vụ quan trọng này, ông người trực tiếp tham gia vạch kế
hoạch cho hầu hết hoạt động lớn nghĩa quân Cùng ông đến mắt tình nguyện sát
cánh chiến đấu với Giản Định Đế Trần Ngỗi lúc có Đại Tri Châu Đặng Tất lập
tức, hai ông trở thành hai cánh tay đắc lực Trần Ngỗi Bằng tất ý chí tài
của mình, Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân thực xứng đáng với niềm tin cậy lớn lao
Trần Ngỗi, tất nghĩa quân toàn thể nhân dân yêu nước đương thời Tuy nhiên, khác
với Đặng Tất, công việc chủ yếu Nguyễn Cảnh Chân trực tiếp cầm quân tả xung
hữu đột mà âm thầm suy nghĩ để hoạch định kế sách Mặc dù vậy, chiến công nghĩa
quân Trần Ngỗi từ tháng đến hết tháng 12 năm Mậu Tí (1408) gắn liền với cống
hiến xuất sắc Nguyễn Cảnh Chân
b) Thương thay, hương lửa chưa nồng
Ngày 14 tháng 12 năm Mậu Tí (1408), nghĩa quân Trần Ngỗi đại thắng quân Minh Bô
Cô Người trực tiếp cầm quân trận đánh lịch sử Quốc Công Đặng Tất người
vạch kế hoạch Tham Mưu Quân Sự Nguyễn Cảnh Chân Như nói, tướng tổng huy
quân giặc Chinh Di Tướng Quân, Kiềm Quốc Cơng Mộc Thạnh st bị bắt sống, số
quan lại tướng lĩnh cao cấp nhà Minh Binh Bộ Thượng Thư Lưu Tuấn Đô Ti Lữ Nghị
đều bị chém đầu, mười vạn quân giặc bị tiêu diệt
Từ vùng giải phóng rộng lớn liên hồn bước đầu hình thành, từ đây, tương
quan lực đôi bên thay đổi theo chiếu hướng có lợi cho nghĩa quân Trần Ngỗi Nhưng
tiếc thay, sau ngày đại thắng Bô Cô, nội huy nghĩa quân nảy sinh
những bất đồng không nhỏ Giản Định Đế Trần Ngỗi chủ trương rằng, phải nhân chẻ tre
đánh theo lối chiếu thẳng mạch tận Thăng Long, khiến cho giặc phải lâm vào "bị
sét đánh chẳng kịp bịt tai", ngày tồn thắng khơng cịn xa Nhưng, Quốc Cơng Đặng Tất
và Tham Mưu Quân Sự Nguyễn Cảnh Chân lại chủ trương rằng, trước tiên, phải bắt hết bọn giặc
(93)Giản Định Đế Trần Ngỗi lại thiếu hẳn hai tố chất có ý nghĩa quan trọng Quân Minh
đã nhân hội tổ chức giải cứu cho Mộc Thạnh nhanh chóng giành lại chủ động cho
mình Bấy giờ, có viên hoạn quan Nguyễn Quỹ học trị tên Nguyễn Mộng Trang liên tiếp tìm cách nịnh hót Giản Định Đế Trần Ngỗi, đồng thời, khơng ngớt nói lời xúc xiểm đối
với Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân Trong chỗ thiếu tỉnh táo vội vã, Trần Ngỗi giết
chết Đặng Tất Nguyễn Cảnh Chân Nhận xét kiện đau lòng này, sử thần kiệt xuất
thế kỉ XV Ngô Sĩ Liên viết :"Hồng Đế may vịng vây nguy hiểm, nhờ cầu người
giúp sức nên cha Đặng Tất có tài làm tướng, cha Nguyễn Cảnh Chân giỏi bày
mưu lược, tưởng chừng đủ để khơi phục dựng nghiệp trung hưng Với trận
thắng lớn Bô Cô, nước vừa lên, mà nghe lời gièm pha li gián lũ hoạn quan,
cùng lúc giết hai người bề phị tá, có khác tự chặt bỏ hết tay chân vây cánh
mình, thử hỏi nên việc được." Quốc Sử Quán triều Nguyễn cũng có Lời phê với nội dung
tương tự :"Đang tình cịn đảo điên, qn thần đong lòng chung sức mà lo chưa
làm việc lớn, tàn hại lẫn nhau, tự làm tay chân mình, tránh khỏi thất bại được" Giản Định Đế Trần Ngỗi nêu gương xả thân nước, ơng làm
được tất làm Nhưng nói, người giỏi lúc giỏi,
trong chỗ cạn nghĩ vội vã thời, ông gây tổn thất cho nghĩa quân, gây tổn thất
cho nghiệp May mắn thay, Đặng Tất Đặng Dung
Nguyễn Cảnh Chân Nguyễn Cảnh Dị sáng suốt lựa chọn cho phép ứng xử
đắn thật cảm động
c) Tôn lập Trần Q Khống lên ngơi Hồng Đế tận trung với nghiệp
chống xâm lăng
Ngay sau chết oan khuất cha, Nguyễn Cảnh Dị với Đặng Dung, đem tất lực
lượng nghĩa quân người Thuận Hoá trở Thanh Hoa Tại đây, ông Đặng Dung với
số tướng lĩnh xuất sắc khác đồng lịng tơn lập Trần Q Khống lên ngơi Hồng Đế nhằm
nhanh chóng tạo cờ thống cho chiến đấu chống quân Minh xâm lược hộ
Sau rước Trần Q Khống đất Chi La, ngày 17 tháng năm Kỉ Sửu (1409), ơng góp
phần quan trọng vào việc thức tổ chức lễ lên ngơi cho Trần Q Khống Nhờ cơng tơn
lập này, Nguyễn Cảnh Dị Trùng Quang Đế Trần Quý Khoáng phong làm Thái Bảo
Nhưng, phong trào đấu tranh chung chống kẻ thù chung, nghiệp
lớn dang dở mà có đến hai vị Hồng Đế không nên Bấy giờ,
thật đau lịng diễn ra, quyền Giản Định Đế Trần Ngỗi quyền
Trùng Quang Đế Trần Q Khống bắt đầu có mâu thuẫn xung đột Chấm dứt mâu
thuẫn xung đột, phải nhanh chóng thống hai lực lượng nhu cầu hết
sức cấp thiết Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết này, trận đánh úp vào đại doanh
của Giản Định Đế Trần Ngỗi bắt sống Giản Định Đế Trần Ngỗi đem Nghệ An thực
hiện Ngày 20 tháng năm Kỉ Sửu (1409), bến sông Tam Chế, Giản Định Đế Trần Ngỗi
tôn làm Thượng Hồng cịn Trần Q Khống ngơi Hồng Đế Đối với Nguyễn Cảnh Dị,
là thử thách lớn Vì ơm hận cha, ơng buộc lịng phải từ bỏ Giản Định Đế để tơn
phò Trùng Quang Đế đây, muốn hay khơng ơng lại phải chấp nhận
trướng Giản Định Đế thêm lần Nhưng tương tự Đặng Dung, ý chí tận
trung với nước khí khái đấng đại trượng phu anh hùng giúp ông vượt qua tất
Trước sau Nguyễn Cảnh Dị Nguyễn Cảnh Dị, hiên ngang dũng mãnh nơi trận mạc,
hờn riêng lớn chẳng làm ông chao đảo
Sau ngày nhận hàm Thái Bảo, trận đánh lớn Nguyễn Cảnh Dị huy trận Bến La,
diễn vào tháng năm Canh Dần (1410) Trong trận này, Nguyễn Cảnh Dị dã bất ngờ cho quân
tấn công vào lực lượng quân Minh viên Đô Đốc tên Giang Hạo cầm đầu Giang Hạo có
qn số đơng, lương thực vũ khí dồi khơng chống đỡ Hắn
buộc phải bỏ dại doanh Bến La mà chạy Tất dinh trại, binh khí chiến thuyền
quân Minh bỏ lại bị nghĩa quân đốt hết Nhân đà thắng lợi, Nguyễn Cảnh Dị thúc quân truy
(94)dân địa phương nhân dậy khắp nơi, nghĩa quân tăng lên nhanh, ngược lại, quân Minh phải phen khiếp đảm
Nhưng kiện hợp hai quyền Trần Ngỗi Trần Quý Khoáng thực
theo lối áp đặt cách khiên cưỡng gây nên tác động ngày lớn Hiệu lệnh
bộ huy nghĩa quân không thống giặc Minh nhanh chóng phát
triệt để tận dụng nhằm tổ chức phản công Các sử thần Quốc Sử Quán triều Nguyễn có
lời nhận định xác :"Qn khơng có người thống lãnh, hiệu lệnh khơng thống
nên giặc Minh đánh đến đâu binh sĩ bị tan vỡ"
Sau trận Bến La, Trùng Quang Đế Trần Quý Khoáng rút quân Nghệ An, tướng Đặng
Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Suý Hồ Bối dẫn đạo quân thuỷ hộ vệ tuyến sau
Hai viên tướng khét tiếng nhà Minh lúc Trương Phụ Mộc Thạnh đuổi
theo
Tháng năm Nhâm Thìn (1412), đụng độ lớn đạo quân hộ vệ với binh sĩ
Trương Phụ Mộc Thạnh xảy vùng Mô Độ Điều đáng tiếc không thống
nhất mệnh lệnh huy tiếp tục kéo dài, cho nên, mối liên lạc Đặng Dung, Hồ Bối
với tướng Nguyễn Suý Nguyễn Cảnh Dị thiết lập Một lần
nữa, Trương Phụ triệt để tìm cách khai thác nhược điểm nghĩa quân để tổ chức
công Nguyễn Cảnh Dị phải rút lui Thuận Hoá
Tháng giêng năm Quý Tị (1413), Nguyễn Cảnh Dị với Nguyễn Suý theo Trùng Quang Đế
đem quân khu vực Vân Đồn để thực ba nhiệm vụ khác Một thăm dò thực lực
quân Minh vùng đồng ven biển phía Bắc hai tổ chức cơng có điều kiện ba
thu gom lương thực cho nghĩa quân Nhưng ba nhiệm vụ không thu kết
Như dẫn, ngày tháng năm, Trùng Quang Đế tướng phải quay Nghệ An,
qn lính mười phần độ ba bốn phần
Sau trận thua lớn Thái Gia (cũng tức Sái Già) vào tháng năm Quý Tị (1413), lực lượng
của Trùng Quang Đế Trần Q Khống nhanh chóng bị tan rã Vào tháng 11 năm,
Nguyễn Cảnh Dị Đặng Dung bị Trương Phụ bắt Nguyễn Cảnh Dị miệng
mắng Trương Phụ :"Tao định giết mày, ngờ đâu lại bị mày bắt", cho nên, "Trương Phụ giận
lắm, giết (Nguyễn Cảnh) Dị móc lấy gan mà ăn"
Đặng Dung Nguyễn Cảnh Dị hai người khác hành trạng khí phách
lại tương đồng với Ngay từ thời trai trẻ, hai ông sớm với thân sinh
hăng hái tham gia chiến đấu một chống quân Minh xâm lược hộ Hai ơng
đều có thân sinh chết oan uổng vừa lập công lớn ý chí trước sau hai
vẫn son sắt thuỷ chung với lí tưởng cứu nước Trong khói lửa ác liệt chiến tranh,
Đặng Dung Nguyễn Cảnh Dị vị tướng trực tiếp cầm quân xông pha trận mạc
mức độ có khác hai thực tướng lĩnh giàu tài Đến bước
đường cùng, hai ông trân trọng để lại cho đời gương hi sinh sáng ngời tiết tháo bất
khuất
IV LƯỢC TRUYỆN MỘT SỐ TẤM GƯƠNG ANH HÙNG TIẾT THÁO TRONG SỰ
NGHIỆP ĐÁNH ĐUỔI QUÂN MINH
Quả cảm chiến đấu anh dũng hi sinh nghĩa thiêng liêng đánh đuổi quân Minh
giành độc lập cho dân tộc, bậc danh tướng Lam Sơn (mà trân trọng giới
thiệu tập sách này), bậc danh tướng nhà Hậu Trần trình bày
trên, cịn có loạt gương anh hùng tiết tháo khác Nhưng, tiếc tư liệu
(95)chật hẹp lao động cá nhân, việc tái tất trang lí lịch đời họ khó
khăn Bởi thực tế này, xin bạn đọc vui lòng thể tất cho trang viết dừng lại mức sơ
bộ sau
1 DANH THẦN NGUYỄN BIỂU
Nguyễn Biểu sinh trường làng Yên Hồ, sau đổi tên làng Bình Hồ, huyện La Sơn Nay đất
làng quê ông thuộc huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh Những thư tịch khoa cử Nho học nước
nhà cịn lưu giữ khơng cho biết đỗ đạt Nguyễn Biểu, nhiên, truyền
thuyết dân gian vùng huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh đặc biệt sử gia Quốc Sử Quán
triều Nguyễn lại khẳng định ông đỗ Thái Học Sinh thời Trần Xin nói rằng, tài
liệu thư tịch ghi chép khoa cử Nho học nước ta liên tục khoảng 70 năm từ 1305 đến
1375 hoàn toàn bị thất lạc, vậy, Nguyễn Biểu người đỗ Thái Học Sinh ơng
phải đỗ vào sau năm 1305 trước năm 1375, tức khoảng 70 năm tài liệu khoa cử bị thất
lạc Nguyễn Biểu tham gia phong trào kháng chiến chống quân Minh từ lúc chưa rõ,
biết guồng máy quyền Trùng Quang Đế Trần Q Khống đứng đầu, ơng
được bổ dụng làm Điện Tiền Thị Ngự Sử
Tháng năm Quý Tị (1413), Nguyễn Biểu Trùng Quang Đế Trần Quý Khoáng cử làm
Chánh Sứ mang biểu văn phẩm vật cầu phong cho Nhưng, đến Nghệ An,
Nguyễn Biểu bị Trương Phụ giữ lại Tất sử xưa chép sau ông
bị Trương Phụ giết, có ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ (Nghệ An tỉnh) nhiều truyền thuyết
dân gian vùng Hà Tĩnh Nghệ An nói để uy hiếp tinh thần quan Chánh Sứ Nguyễn
Biểu, Trương Phụ liền sai làm mâm cỗ đầu người thết đãi ông! Không chút sợ hãi,
Nguyễn Biểu liền dùng đũa khoét lấy mắt đem chấm dấm mà ăn, vừa ăn vừa ứng khảng
khái đọc thơ Nôm ĂN CỖ ĐẦU NGƯỜI Trương Phụ vừa trông thấy lấy làm
khiếp phục trước khí phách hiên ngang ơng, đành phải theo lễ nghi dành cho việc
đón sứ giả để tiếp đãi Nguyễn Biểu, chịu nhận lễ vật, chịu nhận biểu cầu phong hứa chuyển
đạt lên triều đình nhà Minh cho ơng Nhưng, Nguyễn Biểu rời khỏi dinh Trương Phụ
chưa có tên phản bội Phan Liêu (con trai Phan Quý Hựu) vừa tới Trương
Phụ nhân hỏi Nguyễn Biểu người Phan Liêu vốn không ưa ơng,
nói :
- Hắn bậc hào kiệt An Nam, kẻ mà cịn việc đánh dẹp thiên triều thật khó mà xong được
Nghe xong lời ấy, Trương Phụ sai người đuổi theo để bắt ơng lại Đến Cầu Lam
chúng đuổi kịp ông Nguyễn Biểu biết định bị chúng giết, viết vào chân Cầu
Lam chữ Hán "thất nguyệt, sơ nhật, Nguyễn Biểu tử" (nghĩa vào ngày mồng
tháng bảy Nguyễn Biểu chết)
Khi quay trở lại gặp Trương Phụ, Nguyễn Biểu mắng :
- Bên lập mưu đánh chiếm, mà bên lại rêu rao quân nhân nghĩa, hứa
lập cháu họ Trần lại cịn chia đặt quận huyện, khơng cướp bóc cải châu báu mà tàn hại sinh dân, thật loài giặc dữ
Trương Phụ nghe tức giận, giết ơng Các sử xưa chép Nguyễn Biểu
mất vào tháng năm Quý Tị (1413), riêng ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ (Nghệ An tỉnh)
nói Nguyễn Biểu vào tháng năm Quý Tị Do chưa rõ năm sinh nên
(96)Phụ lục 5
LỜI DỊCH VÀ CHÚ THÍCH ĐOẠN GHI CHÉP CỦA QUỐC SỬ QUÁN
TRIỀU NGUYỄN VỀ NHÂN VẬT NGUYỄN BIỂU
(ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ - Nghệ An tỉnh)
"Nguyễn Biểu người làng Yên Hồ, huyện La Sơn, đỗ Thái Học Sinh, thời Trùng Quang Đế
nhà (Hậu) Trần bổ làm Điện Tiền Thị Ngự Sử Ơng người cương trực, gặp việc dám nói
Tướng nhà Minh Trương Phụ đóng quân núi Nghĩa Liệt cịn Trùng Quang Đế đắp
thành phía nam Chi La (nay đổi La Sơn), hai bên đối luỹ Sau, Trùng Quang Đế Hố
Châu, nhà Minh lại có chiếu tìm cháu nhà Trần nên Trùng Quang Đế sai Nguyễn Biểu làm
sứ giả cầu phong Khi đến trại quân giặc, Trương Phụ bắt Nguyễn Biểu phải lạy
(Nguyễn) Biểu không chịu khuất Bọn giặc bày tiệc, nấu cỗ đầu người dọn cho ăn, (Nguyễn) Biểu
biết ý, lấy đũa khoét mắt chấm dấm mà ăn, (Trương) Phụ kinh dị, đối đãi theo lễ cho
(Nguyễn) Biểu đến Cầu Lam (Trương Phụ cho người đuổi kịp Do có Phan
Quý Hựu Phan Liêu (người Hà Hoàng, huyện Thạch Hà) đầu hàng giặc bổ
làm Tri Phủ Nghệ An (Trương) Phụ hỏi (Phan) Liêu Nguyễn Biểu người ? (Phan) Liêu vốn khơng ưa Nguyễn Biểu, nhân nói :
- Hắn bậc hào kiệt An Nam, cịn việc đánh dẹp thật khó mà xong
Nghe lời ấy, (Trương) Phụ sai người đuổi theo để bắt lại Ông nghĩ chết,
bèn viết vào chân Cầu Lam chữ : thất nguyệt sơ nhật, Nguyễn Biểu tử (ngày mồng
tháng bảy Nguyễn Biểu chết) Khi Nguyễn Biểu quay lại, bị (Trương) Phụ mắng đồ vô lễ,
Nguyễn Biểu giận mà mắng (Trương) Phụ :
- Bụng chứa đầy mưu mơ đánh cướp nước, mà mặt lại giả quân nhân
nghĩa Đã hứa lập cháu họ Trần mà cịn chia đất quận huyện, khơng cướp bóc
cải mà tàn hại sinh dân, lũ giặc tàn ngược
(Trương) Phụ bắt Nguyễn Biểu trói chùa Yên Quốc giết Đến đời Lê Hồng Đức, ông
tuyên dương tiết nghĩa Triều đình sai lập đền thờ ơng thơn Bình Hồ Ơng có hai Con
trưởng (Nguyễn) Tồn Trực làm quan đời Lê, kiêm coi sổ sách quân dân đạo Hải Tây Con út
(Nguyễn) Hạ làm Tuần Kiểm Sứ Cháu xa Nguyễn Phong đỗ Tiến Sĩ đời Quang Hưng, làm
quan đến chức Thái Thường Tự Khanh, sau tặng hàm Công Bộ Hữu Thị Lang."1
-
(1) Về đoạn ghi chép Quốc Sử Qn triều Nguyễn, chúng tơi xin có thêm thích nhỏ sau :
- Núi Nghĩa Liệt tức tên gọi khác Hùng Sơn Ngoài hai tên gọi Nghĩa Liệt Hùng Sơn núi cịn có tên gọi khác
nữa núi Tuyên Nghĩa, núi Đồng Trụ hay núi Lam Thành (nay thuộc tỉnh Nghệ An).
- Chùa Yên Quốc toạ lạc núi Nghĩa Liệt Đây chùa cổ tiếng Nghệ An.
- Đời Lê Hồng Đức đời Hồng Đế Lê Thánh Tơng (1460-1497) lấy niên hiệu Hồng Đức từ năm 1470 đến năm 1497 Trong thời trị Lê Thánh Tơng sử dụng hai niên hiệu khác nhau, Quang Thuận (1460- 1469) Hồng Đức (1470- 1497)
- Đạo Hải Tây theo ghi chép KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THƠNG GIÁM CƯƠNG MỤC (Chính biên, 21 tờ 21) đạo nguyên đất dai
hai phủ Nghệ An Diễnn Châu, đến năm 1428 (đầu thời Lê Thái Tổ : 1428- 1433) hai phủ gộp chung lại gọi đạo Hải Tây.
- Nguyễn Phong (1559 - ?) đỗ Hoàng Giáp (đỗ hàng thứ kì đại khoa, sau Trạng Nguyên, Bảng Nhãn Thám Hoa Tiến Sĩ) khoa
(97)Phụ lục 6
A BÀI THƠ ĂN CỖ ĐẦU NGƯỜI CỦA NGUYỄN BIỂU
1
Ngọc thiện trân tu đủ mùi 2 Gia hào thêm có cỗ đầu ngừời
Nem cơng chả phượng cịn thua béo, Thịt gấu gân lân hẳn tươi
Ca lối Lộc Minh so một3 Vật bày thỏ thủ bội mười4 Kia ngon tày vai lợm
Tráng sĩ Phàn tiếng để đời5
B BÀI HỌA THƠ CỦA TRÙNG QUANG ĐẾ
6
Nguyên văn thơ tiễn Trùng Quang Đế :
Mấy vần thơ cũ ngợi Hoàng hoa,7 Trịnh trọng nhân vẳng khúc ca
Chiếu phượng8 mấy hàng tơ cặn kẽ, Vó câu nghìn dặm tuyết xơng pha Tang bồng bấm lịng trẻ9, Khương quế10 thêm cay tính tuổi già Việc nước mai công ngõ vẹn
Gác Lân 11 danh tiếng dõi lâu xa
Nguyên văn hoạ Nguyễn Biểu :
Tiếng ngọc từ trước bệ hoa,
Ngóng tai đồng vọng thuở thi ca
Đường mây gió kị lần lần trải,
Ải tuyết cờ mao thức thức pha
Há cung tên lồng chí trẻ,
Bội mười vàng sắt đúc gan già Hổ vả thiếu tài chuyên đối12 Dịch lộ 13 ba ngàn dám ngại xa.
-
(1) Bài thơ Nôm Ăn cỗ đầu người tương truyền Nguyễn Biểu không dám khẳng định chắn Nguyễn Biểu Tuy nhiên, thấy văn khí phù hợp với hình trạng phẩm cách Nguyễn Biểu, cho nên, đời xưa cho Nguyễn Biểu Chúng xin giới thiệu
phiên âm mà giới thiệu văn chữ Nơm, lí đơn giản kĩ thuật vi tính chưa cho phép.
(2) Ý nói ngon vật nếm đủ.
(3) Ý nói cịn yến tiệc Thiên tử đãi sứ giả Bữa yến tiệc tả đến Lộc Minh Kinh Thi.
(4) Thỏ thủ nghĩa đầu thỏ Chữ lấy Kinh Thi : hữu thỏ tư thủ : có đầu thỏ ấy, việc đãi yến.
(98)(6) Khi Nguyễn Biểu sứ, Trùng Quang Đế có làm thơ NômTiễn Nguyễn Biểu sứ Nguyễn Biểu làm hoạ Để hiểu rõ học Nguyễn Biểu, xin giới thiệu thêm nguyên văn Trùng Quang Đế Nhưng lần nữa, lí kĩ thuật vi tính nên
chúng chưa thể giới thiệu nguyên chữ Nơm
(7) Hồng hoa chữ lấy từ Hồng hịang giả hoa Kinh Thi, việc vua sai bề sứ.
(8 Chỉ tờ chiếu màu ngũ sắc quý nhà vua sai sứ giả đem đi. (9) Ý nói chí trai từ lúc cịn trẻ.
(10) Khương quế : gừng quế, hai thứ già cay nồng.
(11) Gác Lân gác vẽ hình bậc cơng thần nhà Hán Ý nói tiếng thơm Nguyễn Biểu đời lưu truyền mãi, chẳng khác tên tuổi bậc công thần nhà Hán
(12) Tài chuyên đối : chữ lấy Luận ngữ (sứ tứ phương bất chuyên đối : sứ bốn phương, khơng thể đối đáp) ý
không dám tự tiện.
(13) Dịch lộ đường quan, chặng định dường có nhà để nghỉ tạm Nhà gọi dịch trạm.
Phụ lục 7
VĂN TẾ NGUYỄN BIỂU
Trùng Quang Đế Trần Quý Khoáng
Than rằng :
Sinh sinh hoá hoá, huyền tạo mờ mờ,
Sắc sắc không không, bụi hồng trần phơi phới.
Bất cộng thù, thiên địa chứng cho,
Vô hận, quỷ thần thề với.
Nhớ thuở tiên sinh cao giơ mũ trãi,
Chăm chắm nơi đài gián, đành làm cột đá để ngăn dòng Tới tiên sinh xa gác vó câu, hăm hăm chỉ,
Cán cờ mao trở gió vàng nên nỗi.
Thói tinh chiên Hồ tặc hăm,
Gan thiết thạch Tô Công dễ đổi.
Quan Vân Trường gặp Lữ Mông dễ sa ấy,
Mảng thấy chữ "phệ tề hà cập" ngùi ngùi Lưu Huyền Đức giận Lục Tốn mong trả thù này,
Nghĩ đến câu "thường đảm bất vong" lòng thêm dọi dọi.
Sầu khơn lấp cạn dịng, Thảm dễ xây nên núi
Lấy chi báo chưng hậu đức, rượu kim tương lọ,
Vơi vơi mươnn chuốc ba tuần.
Lấy chi uỷ phương hồn, văn dụ tế câu,
Thăm thẳm ngõ thơng chín suối.
Phụ lục 8
BÀI CẦU SIÊU CHO NGUYỄN BIỂU
Thiền Sư chùa Yên Quốc
Chói chói một vừng tuệ nhật,
Đùn đùng từ vân.
Tam giới soi hoà dưới,
Thập Phương trải khắp xa gần.
Giải thoát lần lần nghiệp chướng,
(99)Vàng đúc lòng son tấm,
Sắt rèn tiết cứng mười phân.
Trần kiếp đâu oan khổ,
Phương hồn trầm luân.
Tế độ dặn nhờ từ phiệt,
Chân linh ngõ phúc thần.
2 VÕ TƯỚNG NGUYỄN SÚY
Trong tất thư tịch cổ mà chúng tơi có, khơng dịng cho biết năm sinh
như nguyên quán võ tướng Nguyễn S Tên ơng sử thức chép đến kể từ tháng
năm Kỉ Sửu (1409) Sau trận Bô Cô (tháng 12 năm 1408), buồn nỗi thân sinh bị giết
oan, Đặng Dung Nguyễn Cảnh Dị chạy Thanh Hoa đón Trần Quý Khoáng Chi La
cùng đồng lịng tơn Trần Q Khống lên ngơi Hồng Đế Tại Chi La, người có
cơng tôn lập, Nguyễn Suý Trùng Quang Đế Trần Quý Khống phong cho làm Thái Phó Như
vậy, Nguyễn Suý đứng hàng thứ hai hàng Tam Công (Thái Sư, Thái Phó Thái Bảo), tức
cịn cao Thái Bảo Nguyễn Cảnh Dị Đồng Bình Chương Sự Đặng Dung
Ngay sau Trần Q Khống lên ngơi Hồng Đế, lực lượng nhà Hậu Trần bị
suy yếu nghiêm trọng cơng kích lẫn nhau, bên quân sĩ Trần Ngỗi
với bên quân sĩ Trần Quý Khoáng Để nhanh chóng ngăn chặn nữa, để
chấm dứt tình trạng nguy hiểm này, Nguyễn S người vạch kế hoạch trực tiếp
huy công bất ngờ vào đại doanh Giản Định Đế Trần Ngỗi thành Ngự
Thiên (nay thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) Giản Định Đế Trần Ngỗi bị bắt cóc đem
Nghệ An Tại Chi La, Trần Ngỗi dược Trần Q Khống tơn lên làm Thượng Hồng cịn Trần
Q Khống ngơi Hồng Đế "Lúc bấy giờ, trời u ám lâu, mà dưng trở nên
quang đãng, bốn bề rực rỡ sắc mây vàng, người lấy làm kinh ngạc" Nhưng cách hợp
nhất lực lượng theo kiểu áp đặt có ý nghĩa tạm bợ Một khơng khí ngờ vực ln bao
trùm lên hoạt động nghĩa quân mà diễn biến trận Hạ Hồng - Bình Than (tháng năm
Kỉ Sửu, 1409) thể rõ điều Bấy giờ, ưu có phần nghiêng phía
nghĩa qn nhà Minh sai Anh Quốc Công Trương Phụ đem đại binh tới cứu viện Thượng
Hồng Trần Ngỗi thấy khó bễ chống đỡ nên rút quân Thiên Quan (Thiên Quan thuộc tỉnh Ninh Bình phần nhỏ tỉnh Hồ Bình Chính rút lui này, Trần Ngỗi
đã bị Trương Phụ bắt Cùng bị bắt với Trần Ngỗi cịn có Thái Bảo Trần Hy Cát) Nghe tin đó,
Trùng Quang Đế ngờ Thượng Hồng có ý khác liền sai Nguyễn Suý đem quân đuổi theo
nhưng khơng kịp
Trận thắng quan trọng, có ý nghĩa mở đầu cho nghiệp cầm quân Nguyễn Suý có lẽ trận Bài Lâm, diễn vào tháng năm Tân Mão (1411) Bằng lối đánh úp bất ngờ vốn sở
trường riêng mình, Nguyễn S tiêu diệt hồn tồn lực lượng quân Minh đóng
bắt giết tên tay sai giặc Nguyễn Chính
Tháng năm Nhâm Thìn (1412), Nguyễn Suý tướng lĩnh xuất sắc nghĩa quân
như Đặng Dung Nguyễn Cảnh Dị có đọ sức liệt với quân Minh Mô Độ
Nhưng lúc đôi bên chưa phân thắng bại hợp đồng tác chiến mệnh lệnh
huy thiếu chặt chẽ Nguyễn Suý Nguyễn Cảnh Dị rút lui sớm Tướng giặc Trương Phụ triệt để khai thác chỗ yếu để điên cuồng tổ chức phản công Nghĩa quân phải chịu tổn
thất nặng nề
(100)Quý Khoáng, đem quân vượt biển tiến tận Vân Đồn để đồng thời thực ba nhiệm vụ khác
nhau Một thăm dò thực lực quân Minh vùng duyên hải đông bắc, hai sẵn sàng tổ chức
tấn công giặc có điều kiện ba thu gom lương thực cho nghĩa quân Nguyễn Suý cố
gắng tiếc lực bất tòng tâm Tháng ba năm 1413 ông buộc phải theo Trùng
Quang Đế Trần Quý Khoáng tướng lĩnh khác trở Nghệ An, lúc quân sĩ mười phần
khi cịn lại chừng ba bốn phần
Tháng năm Quý Tị (1413), Nguyễn Suý vị tướng có vinh dự trực tiếp
cầm quân tham gia vào trận công lớn Thái Gia (cũng tức Sái Già) : Trong trận đánh có
ý nghĩa định số phận ấy, lại thêm lần nữa, hợp đồng tác chiến không chặt chẽ
đặc biệt hiệu lệnh huy nghĩa quân không thống nhất, cho nên, tướng giặc
là Trương Phụ nhanh chóng nắm lấy hội thuận tiện để lật ngược tình chuyển
bại thành thắng
Sau trận Thái Gia, toàn lực lượng nhà Hậu Trần kể hoàn toàn bị tan rã, nhiên, Nguyễn Suý cố gắng tổ chức thêm trận mai phục nhỏ vào tháng 10 năm Quý
Tị (1413) Bấy giờ, Trương Phụ dốc quân thuỷ lùng bắt tàn quân Trần Quý Khoáng
Thấy việc canh phòng chiến thuyền Trương Phụ lơi lỏng nên Nguyễn S bố trí cho
ba thích khách bí mật núp bè cỏ rỗi bất ngờ leo lên chiến thuyền, định giết chết Trương Phụ Nhưng, mưu không thành
Vào cuối tháng 11 năm Quý Tị (1413), Trùng Quang Đế Trần Quý Khoáng với tướng
lĩnh cao cấp nghĩa quân Nguyễn Suý, Đặng Dung Nguyễn Cảnh Dị bị giặc
Minh bắt Nguyễn Cảnh Dị bị giết vừa bị bắt Trùng Quang Đế, Đặng Dung Nguyễn Suý bị giặc giải Yên Kinh (Trung Quốc) Dọc đường bị áp giải, nhân lúc lính canh
sơ hở, Trùng Quang Đế Trần Quý Khoáng nhảy xuống nước để tự tử, Đặng Dung nhảy
xuống chết theo Riêng tướng Nguyễn S có cách xử trí khác Sử cũ chép Nguyễn
Suý "ngày ngày chơi cờ với viên Chỉ huy coi giữ mình, thấy quen nên khơng
phịng bị, (Nguyễn S) bất ngờ lấy bàn cờ đánh ngã xuống nước chết, xong, (Nguyễn)
Suý nhảy xuống nước tự tử"
Nguyễn Suý nhân vật cao cấp cuối nhà Hậu Trần anh dũng ngã xuống
nghiệp cứu nước Cùng với anh hùng hào kiệt lừng danh khác Đặng Tất, Đặng Dung,
Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Biểu ông thực xứng đáng
biểu tượng sáng ngời ý chí quật khởi, xứng dáng đời đời kính trọng Ông góp phần
chứng minh cách thật sinh động : "chính khí khắp cõi trời đất bao la, có sấm
sét gầm vang, có gió bão dội khơng sợ, có hăng lũ quỷ thần
chẳng dám tới gần."
3 LA BÌNH VƯƠNG PHẠM NGỌC
Phạm Ngọc danh Thiền Sư chưa rõ đạo hiệu ơng Chính sử thời Nguyễn cho biết ông người làng An Lão, đất làng quê ông thuộc thị xã Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng Sinh thời, Phạm Ngọc người mộ Phật, tu hành chùa Đồ
Sơn
Sau thất bại Trần Quý Khoáng (1413), quân Minh thẳng tay tiến hành hàng loạt
cuộc đàn áp tàn khốc Mặc dù vậy, phong trào đấu tranh với nhiều quy mô lớn nhỏ khác
nhau liên tục nổ Phạm Ngọc số lãnh tụ phong trào đấu tranh
sơi động Dẫu nhà tu hành, Phạm Ngọc khơng chịu khoanh tay
(101)truyền thuyết dân gian vùng Hải Phịng La Bình Vương thần tích cho biết : để có danh nghĩa
chính thống cho việc tập hợp lực lượng nồi dậy, Phạm Ngọc cho phao tin khắp nơi ông
là người Trời tin cậy ban cho ấn thiêng gươm báu, đồng thời, sai xuống địa giới cho
nắm quyền làm chủ thiên hạ Vì thế, ơng xưng La Bình Vương đặt niên hiệu Vĩnh Ninh
Tin vừa truyền lập tức, số thủ lĩnh phong trào đấu tranh
những vùng lân cận nô nức đem lực lượng theo với Phạm Ngọc Trong số có :
- Trịnh Công Chứng Lê Hành Hạ Hồng (Nay Hạ Hồng tương ứng với đất dai huyện
Gia Lộc, Thanh Môn, Ninh Giang Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương)
- Phạm Thiên Tân Minh (nay huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng) - Nguyễn Đặc Khoái Châu
- Nguyễn Đa Cấu Trần Nhuế Hoàng Giang
Khi lực lượng tương đối hùng hậu, vào cuối năm Kỉ Hợi (1419) Phạm Ngọc liền thành lập
guồng máy quyền (thực chất huy nghĩa quân) với tham gia
các bậc hào kiệt đương thời :
+ Ngô Trung làm Nhập nội Hành Khiển
+ Đào Thừa làm Xa Kị Đại Tướng Quân
+ Phạm Thiện làm Nhập Nội Kiểm Hiệu Tả Tướng Quân
+ Lê Hành làm Tư Không
Cũng vào cuối năm Kỉ Hợi (1419), Phạm Ngọc bất ngờ cho quân công vào Kiến An
và dễ dàng chiếm toàn vùng Tại đây, ông cho xây dựng số chiến luỹ kiên
cố, đồng thời, biến Kiến An thành sào huyệt vững chắc, lực lượng Phạm
Ngọc mà lên nhanh
Thắng lợi to lớn dễ dàng khiến cho Phạm Ngọc huy
nghĩa quân có phần chủ quan Tháng năm Canh Tí (1420), tướng Tổng Binh nhà Minh
(lúc Lý Bân) đưa đại quân tới đàn áp, thay bình tĩnh tìm cách bảo tồn lực lượng cố
gắng phát cho dược chỗ yếu giặc để đánh Phạm Ngọc tổ chức trận
nghênh chiến Kiến An Chỉ trận tập kích chớp nhống, Lý Bân phá vỡ
hoàn toàn trận Phạm Ngọc, dồn tất lực lượng Phạm Ngọc tập hợp
non nớt kinh nghiệm trận mạc vào tình bi đát Các tướng Phạm Thiện
Ngô Trung bị bắt giải Đông Quan (tức Hà Nội ngày nay) Phạm Ngọc số tì tướng
phải chạy Đông Triều thời gian ngắn Đơng đảo nghĩa sĩ
đã bị bắt bị giết Do chưa rõ năm sinh nên chưa rõ mất, Phạm Ngọc hưởng thọ bao
nhiêu tuổi
Trong số nhân vật quan trọng Phạm Ngọc may mắn vịng vây
Lý Bân có Tư Khơng Lê Hành Ơng chạy Đa Cẩm tập hợp tàn binh, hợp với lực lượng
của Đào Cường để đánh giặc Nghĩa binh Lê Hành Đào Cường có lúc đơng đến 8.000 người,
nhưng, tất hoạt động thời gian ngắn bị Lý Bân đánh bại
4 THIÊN THƯỢNG HOÀNG ĐẾ LÊ NGÃ
Lê Ngã người làng Tràng Kênh, huyện Thuỷ Đường (Thủy Ngun, Hải Phịng) sinh năm
chưa rõ Ơng xuất thân gia nô Trần Thiên Lại tiếng là người có tướng mạo đẹp,
từng nhiều nơi, đến đâu người cúng dưỡng Khi quân Minh tràn sang xâm lược
và đô hộ nước ta, Trần Thiên Lại tên quý tộc đầu hàng giặc sớm Nhân
lúc loạn li, Lê Ngã bỏ chủ, đổi họ tên Dương Cung bỏ
(102)Sơn) Cũng tất người sục sơi ý chí cứu nước, Lê Ngã chí tập hợp lực lượng
để chiến đấu một với quân Minh Bấy giờ, phong trào đấu tranh bị đàn
áp tàn khốc, bất chấp tất cả, Lê Ngã dũng cảm khởi xướng lãnh đạo
khởi nghĩa riêng Tại đất Đan Ba, Lê Ngã Phụ Đạo xứ Lạng Sơn Bế Thuấn gả gái
cho, lại cịn tơn làm minh chủ Để có thêm thuận lợi cho việc huy động tập hợp lực lượng, Lê Ngã nhận huyền tơn (tức cháu đời) Hồng Đế Trần Duệ Tông vừa từ
nước Lão Qua trở Ơng tự xưng Thiên Thượng Hồng Đế, đặt niên hiệu Vĩnh Thiên
thế nữa, Lê Ngã tổ chức đúc tiền riêng cho guồng máy quyền Chẳng
chốc, quân số Lê Ngã đông tới vài vạn người Đan Ba nhanh chóng trở thành khu
căn kiên cố
Từ Đan Ba, Lê Ngã liên tục tiến hành cơng ạt vào qn Minh, đó,
bật cả, gây tiếng vang lớn ba trận diễn vào năm Canh Tí (1420)
:
- Đánh vào Bình Than tịch thu hàng loạt khí giới qn lương giặc
- Đánh vào An Bang chiếm trại Hồng Doanh
- Thiêu trụi thành Xương Giang
Khi nghĩa quân Lê Ngã riết hoạt động phạm vi ngày rộng lớn gây cho giặc tổn thất nặng nề Trần Thiên Lại xuất Hắn xin vào yết kiến phát
hiện ta Lê Ngã gia nơ cũ Vừa từ đại doanh Lê Ngã ra, Trần
Thiên Lại tuyên bố : hắn vốn gia nơ ta, việc ta phải lạy nó Đó thực câu nói
kết tinh sâu sắc chất phẫn bội đê hèn Trần Thiên Lại Lê Ngã biết
cho người đuổi theo để bắt lại không kịp
Bởi chất phản bội đê hèn này, thay tìm cách ủng hộ Lê Ngã thiết thực góp phần vào
cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung, "Trần Thiên Lại truyền hịch khắp phủ huyện, tự
xưng Hưng Vận Quốc Thượng Hầu, kêu gọi dấy quân để đánh Lê Ngã, việc chưa
thành, bị Lê Ngã giết chết."
Tên phản bội Trần Thiên Lại bị trừng trị đích đáng lực lượng nghĩa quân
bị tổn thất nặng nề Tướng nắm quyền Tổng Binh giặc lúc Lý Bân nói : "Thiên
Lại Lê Ngã hai thú thôi" Hắn cho quân sĩ tới đàn áp Sau nhiều trận ác
chiến kịch liệt, Lê Ngã thua, với Bế Thuấn (nhạc phụ, chỗ dựa tin cậy
người sát cánh chiến đấu đắc lực mình), nhân đêm tối bỏ trốn Số phận Lê Ngã
(103)VÀI LỜI CUỐI SÁCH
Bạn đọc yêu quý !
Sau hồn tất dịng cuối thảo, tác giả thấy tập DANH TƯỚNG
VIỆT NAM mà khô khan gần gồm toàn trang chữ dày đặc Bao nhiêu hình
tư liệu chụp cho in chục sách xuất trước rồi,
không nên cho in lại Đang lúc lúng túng chưa biết phải xoay xở may mắn
thay, số bạn đồng nghiệp hào hiệp tay giúp đỡ Tiến sĩ Phạm Hữu Công Nghiên cứu
sinh Sử học Phí Ngọc Tuyến (hiện cơng tác Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Thành phố Hồ
Chí Minh) cấp tốc liên hệ với số nhà Bảo tàng tỉnh Và ngày sau, Nghiên
cứu sinh Sử học Phí Ngọc Tuyến hồ hởi đem đến tặng tơi số ảnh tư liệu Bảo tàng tỉnh
Hà Tĩnh Bảo tàng tỉnh Nghệ An gửi vào Tôi thật cảm kích trân trọng sử dụng
ảnh với lời thích nguồn gốc cụ thể rõ ràng
Một số đồng nghiệp mà đặc biệt quý mến Thạc sĩ Võ Văn Tường, bộn
rộn cơng việc, chúng tơi khơng có dịp để đàm đạo với nhau, cần
tấm ảnh tư liệu cần gọi điện thoại tới anh gửi tặng Bạn đọc gần xa hẳn
rõ, anh Thạc sĩ Khoa học Xã hội Nhân văn đồng thời nhà nhiếp ảnh
rất chịu khó có tài, tác giả VIỆT NAM DANH LAM CỔ TỰ tiếng
một số cơng trình nghiên cứu khác chùa chiền Việt Nam Cũng lần trước, anh lại
tiếp tục gửi tặng số ảnh mà tơi muốn có, khơng kèm theo điều kiện nhỏ
nào Tự đáy lịng mình, tơi chân thành cảm ơn anh
Nhân nói ảnh tư liệu, tác giả xin lần cảm ơn bà Hoàng Phương Châm Bảo tàng
Hoa Lư (tỉnh Ninh Bình) Thượng Toạ Thích Thiện Bảo tuần báo Giác Ngộ người gửi
tặng cho tác giả hàng chục tấmảnh quý Phật giáo Việt Nam Phật giáo Ấn Độ Tác giả
trân trọng sử dụng thích đầy đủ xuất xứ sách xuất trước
Sách mang tên tơi tên tơi lại gắn bó chặt chẽ với tình cảm nồng hậu
bạn đồng nghiệp sống làm việc khắp miền đất nước Những người bạn có
tâm luôn ngời sáng vô tư
NGUYỄN KHẮC THUẦN
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
I TÀI LIỆU CHỮ HÁN CỦA TRUNG QUỐC
01 Âu Dương Tu - Tống Kỳ : TẤN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán
02 Âu Dương Tu - Tống Kỳ : TÂN ĐƯỜNG THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư
Quán
03 Ban CỐ : TIỀN HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán
04 Cát Hồng : BÃO PHÁC TỬ NỘI NGOẠI THIÊN Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư
Quán
05 Cốc Ứng Thái : MINH SỬ KỈ SỰ BẢN MẠT Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán
06 Hồi Nam Vương Lưu An : HỒI NAM TỬ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán
07 Lịch Đạo Nguyên : THUỶ KINH CHÚ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán
08 Ngụy Trưng : TUỲ THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán
09 Phạm Việp : HẬU HÁN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán
10 Phòng Kiều : TẤN THƯ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán
(104)12 Tư Mã Thiên : SỬ KÍ TƯ MÃ THIÊN Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán
13 Nhạc sử : THÁI BÌNH HỒN VŨ KÍ Kim Lăng ấn
14 Thung Đình Ngọc : MINH SỬ Súc Ấn Bách Nạp Bản Thương Vụ Ấn Thư Quán
II TÀI LIỆU CHỮ HÁN CỦA VIỆT NAM
01 Khuyết danh : ĐẠI VIỆT SỬ LƯỢC
02 Ngô Sĩ Liên sử thần triều Lê : ĐẠI VIỆT SỬ KÍ TỒN THƯ
03 Quốc Sử quán triều Nguyễn : KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC
04 Quốc Sử Quán triều Nguyễn : ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ
05 Ngơ Thì Sĩ : VIỆT SỬ TIÊU ÁN
06 Phan Huy Chú : LỊCH TRIỀU HIẾN CHƯƠNG LOẠI CHÍ
07 Vương Duy Trinh : THANH HỐ QUAN PHONG
III TÀI LIỆU CHỮ VIỆT CHỌN LỌC
01 Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn : LỊCH SỬ CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN VIỆT NAM (tập 1) Nxb
Giáo dục Hà Nội 1960
02 Phan Huy Lê : LỊCH SỬ CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN VIỆT NAM (tập 2) Nxb Giáo dục Hà Nội
1960
03 Phan Huy Lê - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn - Lương Ninh : LỊCH SỬ VIỆT NAM (tập 1)
Nxb Đại học Trung học chuyên nghiệp Hà Nội 1983
04 Nguyễn Khắc Thuần : CÁC ĐỜI ĐỀ VƯƠNG TRUNG QUỐC Nxb Giáo dục 2002
05 Nguyễn Khắc Thuần : ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ VĂN HOÁ VIỆT NAM Nxb Giáo dục, tập - 2000 tập - 1998
06 Nguyễn Khắc Thuần : ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ CỔ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM Nxb Văn hố - Thơng Tin 2002
07 Nguyễn Khắc Thuần : TRÔNG LẠI NGÀN XƯA (tập 2) Nxb Giáo dục 1998
IV THẦN TÍCH, TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN VÀ CÁC HỔ SƠ KHẢO SÁT THỰC ĐỊA (vì số lượng nhiều nên xin phép miễn phần liệt kê danh mục cụ thể)