1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Hien tuong tac gia trong truyen ngan cua Nguyen Khaithoi ky doi moi

121 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 906,44 KB

Nội dung

Trong sáng tác của Nguyễn Khải, giọng điệu tranh biện làm nên một sức hấp dẫn riêng. Giọng tranh biện trong truyện ngắn của ông thường mang tính đối mặt, nhằm chà xát giữa các t[r]

(1)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG THỊ ANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

(2)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG THỊ ANH

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS ĐÀO THUỶ NGUYÊN

(3)

MỞ ĐẦU

NỘI DUNG 10

Chương 1: LÝ THUYẾT VỀ HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ NGUYỄN KHẢI VÀ TRUYỆN NGẮN CỦA ÔNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 10

1.1 Lý thuyết hình tượng tác giả .10

1.1.1 Tác giả hình tượng tác giả văn học .10

1.1.1.1 Khái niệm tác giả văn học .10

1.1.1.2 Hình tượng tác giả văn học .13

1.1.1.3 Nội dung biểu hình tượng tác giả văn học 16

1.1.2 Ý nghĩa lý luận thực tiễn việc nghiên cứu hình tượng tác 22 1.1.2.1 Ý nghĩa lý luận .22

1.1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn .23

1.2 Nguyễn Khải truyện ngắn ông thời kỳ đổi .24

1.2.1 Vài nét Nguyễn Khải hành trình sáng tác nhà văn 24

1.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi .28

Chương 2: CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN KHẢI THỜI KỲ ĐỔI MỚI 33

2.1 Cái nhìn thực tỉnh táo 34

2.2 Cái nhìn sắc sảo, tinh tế 44

2.3 Cái nhìn giàu tính phân tích .53

Chương 3: GIỌNG ĐIỆU VÀ SỰ TỰ THỂ HIỆN CỦA TÁC GIẢ THÀNH HÌNH TƯỢNG 67

3.1 Giọng điệu trần thuật - nét đặc sắc hình tượng tác giả truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi 67

(4)

3.1.3 Giọng điệu chiêm nghiệm, triết lý .88

3.2 Sự tự thể tác giả thành hình tượng .95

3.2.1 Lối trần thuật thứ ba .97

3.2.2 Lối trần thuật thứ .103

KẾT LUẬN 112

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

(5)

MỞ ĐẦU 1 Lý chọn đề tài

1.1 Nguyễn Khải bút tiêu biểu văn xuôi Việt Nam đại từ sau Cách mạng tháng Tám Ơng thuộc số nhà văn sớm xác định cho quan niệm độc đáo nghệ thuật, vai trò văn học trách nhiệm nhà văn Ơng thuộc số nhà văn có sức viết dẻo dai, bền bỉ ln có mặt nơi "mũi nhọn" sống Bám sát bước đời sống với niềm hứng thú đặc biệt hướng vào "cái hôm nay" để nghiên cứu,

phân tích đối thoại, sáng tác Nguyễn Khải vừa nóng hổi tính thời vừa có tầm khái quát nhiều vấn đề thiết cốt đặt từ đời sống xã hội người đương thời Tác phẩm ơng, thế, ln giới nghiên cứu phê bình quan tâm luận bàn đơng đảo bạn đọc hào hứng đón nhận Đúng ý kiến Vương Trí Nhàn Lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Khải:

"Ông nhà văn dẫn đầu thời đại Sáng tác ông luôn đánh dấu biến chuyển xã hội Với cách mạng này, những năm tháng đấu tranh gian khổ này, tác phẩm ông chứng, tài liệu tham khảo thực Và muốn hiểu người thời đại với tất hay dở họ, đời sống tinh thần họ, phải đọc

Nguyễn Khải" [32, tr.61] Với ngòi bút thực đặc sắc, lực quan sát

óc phân tích sắc sảo, Nguyễn Khải đem đến cho người đọc trang văn mang thở sống đất nước người đương thời

Nguyễn Khải sáng tác nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, ký, tạp văn có tác phẩm có giá trị tất thể loại

Trong nửa kỷ cầm bút, ông để lại cho đời khoảng bảy chục truyện ngắn Sự kết tinh nghệ thuật độ "chín" văn nghiệp Nguyễn Khải

(6)

đặc sắc riêng giới nghệ thuật Nguyễn Khải truyện ngắn thời kỳ đổi hình tượng tác giả Hình tượng tác giả biểu tác phẩm cách đặc biệt Nhà thơ Đức I.W.Goethe nói: "Mỗi nhà

văn, muốn hay không, miêu tả tác phẩm của

mình cách đặc biệt" Viện sĩ Nga V.Vinôgrađôp khẳng định: "Hình

tượng tác giả sở, trung tâm phong cách ngôn ngữ" Việc nghiên

cứu hình tượng tác giả truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi hướng tiếp cận văn học từ phương diện thi pháp Cách tiếp cận giúp có thêm góc nhìn để phát khám phá vào chiều sâu tác phẩm Nguyễn Khải

Nguyễn Khải truyện ngắn ơng thời kỳ đổi tìm hiểu nghiên cứu số phương diện Song chưa có chuyên luận sâu nghiên cứu hình tượng tác giả - phương diện quan trọng thi pháp Nguyễn Khải Việc nghiên cứu hình tượng tác giả truyện ngắn ông thời kỳ đổi việc làm cần thiết, góp phần thiết thực vào việc tìm hiểu phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải làm sáng rõ đóng góp nhà văn văn học nước nhà

1.2 Nguyễn Khải số nhà văn có tác phẩm đưa vào giảng dạy nhà trường phổ thơng Trong chương trình Sách giáo khoa cũ ơng có truyện ngắn Mùa lạc chương trình Sách giáo khoa ơng có truyện ngắn Một người Hà Nội Việc nghiên cứu hình tượng tác giả truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi có ý nghĩa thiết thực việc nghiên cứu, giảng dạy học tập tác phẩm ông nhà trường phổ thông

2 Lịch sử vấn đề

(7)

Từ sáng tác đời thời kỳ vào nghề như: Xung đột, Mùa lạc, Nguyễn Khải giới nghiên cứu phê bình đánh giá ngịi bút thơng minh, sắc sảo khám phá nắm bắt thực Sự mẫn cảm với ngày, với diễn ra, với vấn đề hôm khiến trang viết sắc sảo, đầy "chất văn xuôi" Nguyễn Khải khơng ln ln có độc giả mà cịn khơi gợi hứng thú tranh luận, trở thành nơi "giao tiếp đối thoại" với đông đảo bạn đọc

Cùng với đời hàng loạt tác phẩm nghệ thuật khẳng định tài sáng tác Nguyễn Khải, người đọc cịn tìm thấy số lượng lớn, phong phú nghiên cứu phê bình Nguyễn Khải cơng bố nhiều dạng khác đề cập đến nhiều phương diện khác sáng tác Nguyễn Khải

Nghiên cứu cách khái quát toàn diện tác gia, tác phẩm Nguyễn Khải có viết Phan Cự Đệ Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975 (tập II), Đoàn Trọng Huy Giáo trình văn học Việt Nam 1945 - 1975 (phần tác giả) Ngồi cịn phải kể đến "Lời giới thiệu" Vương Trí Nhàn tuyển tập Nguyễn Khải (3 tập) Nguyễn Khải: đời gắn bó với thời đại dân tộc Bích Thu

Những cơng trình đưa đến cho người đọc hình dung cụ thể Nguyễn Khải nghiệp sáng tác, giá trị tác phẩm phong cách riêng ông Hầu hết tác giả khẳng định: Nguyễn Khải nhà văn tiêu biểu văn học Việt Nam từ sau 1945

(8)

Những truyện ngắn thời kỳ đổi Nguyễn Khải tạo ý công chúng độc giả Các viết khẳng định đặc điểm sáng tác Nguyễn Khải: khả phát vấn đề, ý thức tìm tịi lật xới thực, kiểu nhân vật tư tưởng, sở trường tổ chức đối thoại, nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn Ở đây, xin đề cập đến viết có liên quan đến vấn đề hình tượng tác giả truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi

Trong Nhà văn Việt Nam 1945-1975 (tập II) nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ phong cách văn xuôi thực tỉnh táo sáng tác Nguyễn Khải Theo ông, sức hấp dẫn truyện ngắn Nguyễn Khải nhờ chi tiết tâm lý sâu sắc chi tiết việc sống động:" Truyện ngắn truyện vừa có màu sắc trí tuệ Nguyễn Khải tạo nên sức hấp dẫn

đặc biệt nhờ ở tính thời nhạy bén kiện ý nghĩa lâu dài

các vấn đề đặt ra, nhờ chi tiết tâm lý sâu sắc chi tiết việc sống động - chi tiết lấp lánh rải rác truyện anh- nhờ lối

kể chuyện linh hoạt có sự kết hợp khiếu quan sát tinh tế nghệ sĩ

trên mặt trận tư tưởng" [41,tr.51] Như vậy, nhìn nghệ thuật thể

hệ thống chi tiết - yếu tố đặc trưng hình tượng tác giả nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ khẳng định coi dấu hiệu tạo nên hấp dẫn truyện ngắn Nguyễn Khải

Tác giả Nguyễn Văn Hạnh Vài ý kiến tác phẩm Nguyễn Khải nhận hình tượng tác giả qua nhìn đặc trưng nhà văn: "Nhà văn có nhìn nhạy bén, thấu suốt vào số mặt chủ yếu,

những vấn đề phức tạp của cuộc sống" [8, tr.53] Thống với ý kiến

(9)

nhìn vào ngõ ngách sống, Nguyễn Khải nhanh

nhạy phát vấn đề phức tạp" [28,tr.65]

Trong luận bàn sáng tác Nguyễn Khải, hai nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân Trần Đình Sử tìm nguyên nhân: sáng tác Nguyễn Khải gây ý độc giả Theo Lại Ngun Ân người đọc thích Nguyễn Khải " chất văn xi" Đó tính thực tác phẩm Nguyễn Khải viết "những người, việc

vấn đề hôm nay", "đề tài nhằm thẳng vào đời sống tại" Cái tại,

cái hôm luôn trung tâm ý nhà văn Nguyễn Khải Trần Đình Sử trí với ý kiến rằng: "Cái nhìn tỉnh táo" Nguyễn Khải giúp người đọc nhận thức sống người cách chân thực [2,tr.77-79]

Để công dồn nhiều tâm huyết nghiên cứu người văn chương Nguyễn Khải nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn Với viết Nguyễn Khải vận động văn học cách mạng từ sau năm 1945, nhà nghiên cứu giúp người đọc nhận nét sáng tác Nguyễn Khải thời kỳ đổi là: "Cái nhìn sắc sảo vốn có từ sớm khao khát có mặt ngày hơm Đối thoại với tự phát trở

lại -một phong cách vừa dân dã vừa đại" [31,tr.114] Trong viết, nhà

nghiên cứu rằng: "Những truyện ngắn Nguyễn Khải viết từ 1988 - 1999 đến thời gian gần đây, khơi vào hai mạch chính: Một sống hôm người chung quanh, bạn bè đồng nghiệp quen biết, cùng tuổi tác tâm Hai số phận người thân gia đình họ hàng nội ngoại tác giả, ông cậu, bà mợ mà tâm tư tình cảm

Nguyễn Khải cịn nhiều quyến luyến" [31,tr.116] Viết người thân

(10)

của Thơng qua nhân vật này, hình tượng tác giả lên rõ sâu sắc

Tác giả Đào Thuỷ Nguyên Phương pháp tiếp cận sáng tác của Nguyễn Khải giảng dạy văn học Việt Nam đại [29] lưu ý tới nhìn xốy sâu vào nhiều vấn đề đời sống người đương thời: người thời gian lịch sử; người khả lựa chọn thích ứng; người quan hệ gia đình; người mâu thuẫn tiếp nối hệ

Cũng đề cập đến hình tượng tác giả, Nguyễn Thị Bình viết Nguyễn Khải tư tiểu thuyết hình tượng người kể chuyện đặc biệt sáng tác Nguyễn Khải: "Có người kể chuyện đóng vai tác giả nhà văn, nhà báo, "chú Khải", "ông Khải" với nhiều chi tiết tiểu sử biểu nhu cầu nhà văn muốn nói mình,muốn

coi đối tượng của văn chương( ) Nhân vật góp phần tạo

giọng điệu tự nhiên, chân thành mà phóng túng trang văn

Nguyễn Khải" [4,tr.141] Vương Trí Nhàn cho rằng: "Trong

trường hợp thành cơng mình, Nguyễn Khải người kể chuyện thông minh, la cà khắp nơi chia sẻ với người vui buồn

quan sát việc đời" [31,tr.120]

Nhà nghiên cứu Đoàn Trọng Huy viết Vài đặc điểm phong cáchnghệ thuật Nguyễn Khải nhận tính chất đa giọng điệu sáng tác Nguyễn Khải: "Ngôn ngữ Nguyễn Khải giàu chất sống, chất văn xuôi

là ngôn ngữ thực Đặc biệt tính chất nhiều giọng điệu Nhà văn thường đứng nhiều góc độ, nhiều bình diện để tả kể Khơng kể

giọng mình, lời người dẫn truyện, tác giả cịn biết biến hố

(11)

giọng điệu - yếu tố đặc trưng hình tượng tác giả nhà nghiên cứu Đoàn Trọng Huy đề cập đến

Trong chuyên luận Giọng điệu trần thuật truyện ngắn Nguyễn Khảinhững năm tám mươi đến nay, nhà nghiên cứu Bích Thu tập trung ý vào yếu tố quan trọng tạo nên phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải, yếu tố đặc trưng hình tượng tác giả Theo Bích Thu: "Sức chinh phục truyện ngắn Nguyễn Khải năm gần

phần đáng kể nghệ thuật kể chuyện, giọng điệu trần thuật

một yếu tố quan trọnglàm nên sức hấp dẫn sáng tác tự

sự nhà văn" [39,tr.122] Tác giả phức hợp giọng điệu

thể sáng tác Nguyễn Khải như: giọng triết lý, tranh biện; giọng điệu thể trải nghiệm cá nhân, tâm tình, chia sẻ; giọng hài hước hóm hỉnh Kết thúc viết, tác giả khẳng định: Sáng tác Nguyễn Khải từ năm tám mươi không "chệch khỏi quy luật tiếp nối đứt đoạn trình văn học Một giọng điệu trần thuật chịu sức hút chủ nghĩa tâm lý, kết hợp kể, tả, phân tích cách linh hoạt, thông minh sắc sảo Lời văn nghệ thuật Nguyễn Khải lời nhiều giọng, cá thể hố,

mang tính đối thoại tự đại" [39,tr.132]

Trên sở khảo sát viết, nghiên cứu nhà văn Nguyễn Khải sáng tác ông thời kỳ đổi mới, chúng tơi sơ rút nhận xét sau:

1 Số lượng viết, ý kiến đánh giá Nguyễn Khải tác phẩm ông phong phú Hầu hết nhà nghiên cứu khẳng định Nguyễn Khải nhà văn sắc sảo, đề cập đến nhiều vấn đề đời sống, có nhiều tìm tịi, sáng tạo đổi cách viết

(12)

giọng điệu ngơn ngữ Nhìn chung viết khẳng định: Truyện ngắn thời kỳ đổi Nguyễn Khải góp phần quan trọng việc đổi văn học nước nhà

2 Mặc dù nhà nghiên cứu đề cập đến số khía cạnh thi pháp hình tượng tác giả tác phẩm Nguyễn Khải chưa có chuyên luận sâu tìm hiểu hình tượng tác giả truyện ngắn thời kỳ đổi Nguyễn Khải Trên tinh thần tiếp thu, phát triển ý kiến người trước, chúng tơi mạnh dạn góp phần nghiên cứu làm sáng tỏ vấn đề: Hình tượng tác giả truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới.

3 Mục đích nghiên cứu

Đi sâu tìm hiểu lý giải nét riêng hình tượng tác giả truỵện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi như: nhìn nghệ thuật, giọng điệu, tự thể tác giả thành hình tượng, chúng tơi hy vọng góp phần nhỏ vào việc nghiên cứu văn chương nghệ thuật Nguyễn Khải khẳng định vị trí ơng văn học đại Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn sâu tìm hiểu, nghiên cứu hình tượng tác giả truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi Tuy nhiên trình nghiên cứu, đề cập đến số tác phẩm Nguyễn Khải giai đoạn trước để so sánh khẳng định luận điểm

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp khảo sát, thống kê 5.2 Phương pháp hệ thống

5.3 Phương pháp phân tích

(13)

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu Kết luận, nội dung luận văn gồm chương sau: Chương 1: Lý thuyết hình tượng tác giả Nguyễn Khải truyện

ngắn ông thời kỳ đổi

Chương 2: Cái nhìn nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi

(14)

NỘI DUNG

Chương

LÝ THUYẾT VỀ HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ NGUYỄN KHẢI VÀ TRUYỆN NGẮN CỦA ÔNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 1.1 Lý thuyết hình tượng tác giả

1.1.1 Tác giả hình tượng tác giả văn học

1.1.1.1 Khái niệm tác giả văn học

Tác giả khái niệm sử dụng nhiều lịch sử văn học phê bình văn học Cho đến nay, vấn đề tác giả chưa nghiên cứu nhiều "Có thể nói, lý luận tác phẩm tác giả trong giai đoạn xây dựng chưa có lý luận có đầy đủ sở

về hai khái niệm này" [37,tr.125] Trong Từ điển thuật ngữ văn học tác

giả đưa định nghĩa tác giả văn học: "Nhìn bề ngồi, tác giả làm văn ngôn từ: thơ, văn, báo, tác phẩm văn học Về thực chất tác giả văn học làm mới, người sáng tạo giá trị văn học Sự bắt buộc mô phỏng, theo đuôi thời thượng sáng tác khơng có sắc

khơng làm nên tác giả văn học đích thực" [5, tr.235] Tác giả người làm

(15)

Mọi hoạt động văn học, từ hoạt động tiếp nhận, thưởng thức đến nghiên cứu, phê bình thực bắt đầu tác phẩm nhà văn đời Cho nên nhà văn người khởi đầu nhiều hoạt động văn chương, giữ vai trò đặc biệt quan trọng đời sống văn học Ta gọi tác phẩm văn học cơng trình sáng tạo nghệ thuật lao động người nghệ sĩ lao động sáng tạo Tác phẩm văn học sản xuất đồng loạt theo khn mẫu có sẵn sản xuất cơng nghiệp Nghệ thuật ln địi hỏi nhà văn phải sáng tạo tác phẩm mẻ nội dung lẫn hình thức Vì vậy, tác giả văn học phải người tài năng, có văn hố, có quan điểm nghệ thuật riêng Tác giả văn học thực phải người có nhân cách, có lĩnh vững vàng có ý thức sâu sắc nghề nghiệp Nhà nghiên cứu Đơng Hồi Nhận thức và thẩm định khẳng định: "Tác giả văn học phải có

một kỹ miêu tả điêu luyện, bút pháp độc đáo lành nghề năng khiếu bẩm sinh có thật, cần kịp thời phát không ngừng

vun bồi bảo vệ" [7,tr.8]

Sáng tạo nghệ thuật địi hỏi nhà văn phải có khiếu, có tài tư hình tượng, có khả suy ngẫm vấn đề thực thơng qua giới hình tượng gồm cảnh vật nhân vật cụ thể, sống động, tồn mối quan hệ xã hội phong phú đa dạng Văn học trình sáng tạo bao gồm ba thành tố: nhà văn, tác phẩm cơng chúng Vai trị người đọc quan trọng Nhà văn sáng tạo tác phẩm tác phẩm thực có giá trị người đọc tiếp nhận Giữa người viết người đọc có tri âm Cao Bá Quát nói: "Xưa nỗi khổ người ta khơng chữ tình, mà khó đời khơng sự gặp gỡ".

(16)

đánh giá tác phẩm hoàn toàn theo cảm nhận chủ quan Nhiều trường hợp xảy văn học nhiều nước giới, chí sáng tác nhà văn lỗi lạc Chính mà tiểu luận Tác giả gì? Michel Poucatult cho rằng: "Song song với biến hố

khơng ngừng xã hội, chức tác giả ngoại vào khoảnh

khắc trình biến mất" Theo ông, tác giả chẳng qua "một biện

pháp dùng để ngăn trở tự hư cấu, tự chi phối cấu tạo lại tác phẩm

mà thôi" [37,tr.126] Một quy ước thay đổi tác

một người đọc

Việc cảm thụ tác phẩm văn học theo kiểu cảm nhận cá nhân điều bình thường Thực ra, đọc sáng tạo người đọc mở cách giải thích ý nghĩa khác nhau, không làm biến văn khách thể thẩm mỹ ấy, khơng xố bỏ yếu tố tác người tham gia kiện nghệ thuật qua tác phẩm Bởi "Tác giả trung tâm tổ chức nội dung hình thức nhìn nghệ thuật tác phẩm, người mang cảm quan giới đặc thù trung tâm tổ chức lại ngôn từ theo nguyên tắc nghệ thuật Do vậy, hình tượng tác giả, kiểu tác giả

phạm trù thi pháphọc đại" [37,tr.126]

Vì lẽ trên, việc tìm hiểu vấn đề có liên quan đến thời đại sống, q trình sáng tác nhà văn việc làm cần thiết Hoàn cảnh xuất thân, quê quán, thời gian sống hành trạng góp phần làm rõ khía cạnh tư tưởng, tâm lý tác phẩm Tìm hiểu tác giả nghiên cứu văn học khái niệm thi pháp học nghiên cứu "người xây dựng ngơn

ngữ nghệ thuật mới, có phong cách, có giọng điệu riêng, có mặt riêng

trong thể loại, có hệ thống hình ảnh biểu tượng, đặc trưng riêng" [5,tr242]

(17)

1.1.1.2 Hình tượng tác giả văn học

* Khái niệm chung hình tượng tác giả

Ở thể loại nào, tự sự, trữ tình hay kịch, chủ thể sáng tạo xuất hiện, dù đậm nhạt khác Với trí tưởng tượng phong phú, khả lựa chọn đề tài, chủ đề, vận dụng khéo léo thủ pháp nghệ thuật ngôn từ, người nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm nghệ thuật để thể tư tưởng tình cảm Do vậy, " Tác phẩm kết tinh quá trình tư nghệ thuật tác giả, biến biểu tượng, ý nghĩ, cảm

xúc bên nhà văn thành thực văn hoá, xã hộikhách quan cho

mọi người soi ngắm, suy nghĩ" [22,tr.241] Dấu ấn chủ thể sáng tạo để lại

trong tác phẩm văn học thể rõ nét hình tượng tác giả * Hình tượng tác giả văn học

Hình tượng tác giả hình tác phẩm phạm trù thi pháp học Nghiên cứu hình tượng tác giả xuất tác phẩm văn học với tư cách phạm trù thi pháp học việc làm cần thiết nghiên cứu văn học Bởi vì, thơng qua tác phẩm văn chương, người nghệ sĩ thể nhìn nhận đánh giá sống người Cơ sở tâm lý hình tượng tác giả hình tượng "tôi" nhân cách

người thể giao tiếp Cơ sở nghệ thuật hình tượng tác giả văn học tính chất gián tiếp văn nghệ thuật: văn tác phẩm lời người trần thuật, người kể chuyện nhân vật trữ tình Nhà văn xây dựng văn đồng thời với việc xây dựng hình tượng người phát ngơn văn với giọng điệu định Theo Từ điển Thuật ngữ văn học hình tượng tác giả là: "Phạm trù thể cách tự

ý thức tác giả vai trò xã hội vai trò văn học tác phẩm, vai trị người đọc chờ đợi ( ) Hình tượng tác giả tác

(18)

đa dạng mình" [5,tr.124] Như vậy, phạm trù tác giả yếu tố định phong cách cá nhân nhà văn phong cách tác phẩm nghệ thuật Hình tượng tác giả hình tượng sáng tạo tác phẩm hình tượng nhân vật theo nguyên tắc khác: "Nếu hình tượng nhân vật xây dựng theo nguyên tắc hư cấu, miêu tả theo quan niệm nghệ thuật người theo tính cách nhân vật, hình tượng tác giả thể theo nguyên tắc tự biểu cảm nhận thái độ thẩm

mĩ đốivới giới nhân vật" [37,tr.127]

Nếu giao tiếp, người ta có nhu cầu muốn biểu "tơi " với người đối thoại người un bác, trí tuệ, giàu lịng vị tha theo yêu cầu xã hội, văn học vậy, nhà văn muốn biểu người khám phá mới, người có nhãn quan cấp tiến, có cá tính nghệ sĩ L.Tơnxtơi nói, đại ý: Nếu trước mắt ta tác giả mới, câu hỏi tự nhiên đặt liệu nói điều bạn đọc ? L.Tônxtôi khẳng định rằng, đọc tác phẩm văn học, hứng thú chủ yếu tính cách tác giả thể Một nhà văn khơng có mới, khơng có sáng tạo nghệ thuật, khơng có nét riêng, tác phẩm khơng gây ý người đọc

(19)

Tác giả A.Chichêrin Nhịp điệu hình tượng cho rằng: "Hình tượng tác giả sáng tạo hình tượng nhân vật Đây sự chân thật nghệ thuật, chân lý kiện, mà chân lý

ý nghĩa, tư duy, chân lý thi ca" [36,tr.107- 108] Việc tìm hiểu hình

tượng tác giả phải bắt nguồn từ tác phẩm nghệ thuật

M.Bakhtin hiểu vấn đề hình tượng tác giả có khác Ơng không tán thành gọi biểu tác giả hình tượng tác giả sợ lẫn lộn: "Khơng có hình tượng tác giả ngồi tác phẩm, tư tưởng nghệ thuật nhà văn tồn tại

trong tác phẩm" [3,tr.78] Nhân vật thuộc không gian thời gian, cịn tác

giả thuộc khơng gian thời gian khác, bao quát cảm thụ không gian thời gian nhân vật Tác giả nhập vào thoát khỏi khơng gian thời gian nhân vật Ơng cho tác giả nằm giới nhân vật, tiếp giáp với mặt biểu nhân vật: "Tác giả nên đường ranh giới giới

anh ta sáng tạo ( ) lập trường tác giả có thể xác định qua cách mà anh

ta miêu tả bề ngồi giới đó" [37,tr.129] Như vậy, tác giả diện

hình thức tác phẩm nguyên tắc thẩm mĩ tạo hình cho giới nghệ thuật Ơng cịn khẳng định: Tác giả diện điểm nhìn, nhìn

Tác giả L.Ghindơbua nghiên cứu tác giả thơ trữ tình nhìn thấy nhà thơ thường xuyên hình dung mình, tự giới thiệu Nhà lý luận Văn học Mỹ W.Booth gọi "tác giả hàm ẩn", xem thứ hai tác giả diện tác phẩm Nhiều nhà lý luận đại hiểu tác giả suy ra, sản phẩm người đọc phát

Như nói rằng, vấn đề hình tượng tác giả tiếp cận nhiều góc độ lý luận văn học Đó biểu "tơi" thứ

(20)

1.1.1.3 Nội dung biểu hình tượng tác giả văn học

Cho đến nay, biểu hình tượng tác giả sáng tác văn học vấn đề nghiên cứu nhiều góc độ khác " người xem hình tượng tác giả biểu phương diện ngơn ngữ, có người xem hình tượng tác giả biểu tất yếu tố cấp độ tác phẩm: từ cách quan sát, cách suy nghĩ, thích gì, ghét lập trường đời sống, đến giọng điệu lời văn Trong giọng điệu khơng giọng điệu

người trần thuật mà giọng điệu nhân vật" [37,tr.129] Có người cho

rằng hình tượng tác giả biểu ở: nhìn nghệ thuật tác giả, sức bao quát không gian thời gian, cấu trúc, cốt truyện, nhân vật giọng điệu

Như vậy, tìm hiểu hình tượng tác giả biểu chủ yếu số phương diện như: Cái nhìn riêng, độc đáo, quán có ý nghĩa tư tưởng, đạo đức thẩm mĩ ; giọng điệu tác giả thâm nhập vào giọng điệu nhân vật miêu tả; tự thể tác giả thành hình tượng

* Cái nhìn nghệ thuật

Cái nhìn nghệ thuật yếu tố quan trọng biểu hình tượng tác giả văn học "Cái nhìn lực tinh thần đặc biệt người, thâm nhập vào vật, phát đặc điểm của mà ngồi vật, bảo lưu tồn vẹn thẩm mĩ vật, cái nhìn vận dụng mn vẻ nghệ thuật Nghệ thuật khơng thể thiếu

cái nhìn" [37,tr.130]

Nói nhìn nghệ thuật, M.B Khrapchencơ nhận xét: "Chân lý

sống sáng tác nghệ thuật khơng tồn bên ngồi nhìn nghệ thuật có

tính cá nhân giới, vốn có nghệ sĩ thực thụ" Đối với nghệ

(21)

như nhà hoạ sĩ, phong cách vấn đề kỹ thuật mà vấn

đề nhìn " [37,tr.1301 ] Do vậy, nhìn biểu tác giả

Cái nhìn thể tri giác, cảm giác, quan sát, phát xấu, đẹp, hài, bi Cái nhìn có lại xuất phát từ cá thể, mang thị hiếu tình cảm yêu, ghét Có nhìn gắn với liên tưởng, tưởng tượng, cảm giác nội tâm, biểu ví von, ẩn dụ, đối sánh Cái nhìn đem thuộc tính xa đặt cạnh nhau, đem tách rời khỏi vật cách trừu tượng "Cái nhìn thể hiện chi tiết nghệ thuật,

chi tiết điểm rơi nhìn" [37,tr.106] Chi tiết nghệ thuật có ý nghĩa vơ

cùng quan trọng việc thể nhìn nhà văn Nghiên cứu chi tiết nghệ thuật, ta khám phá nhìn nghệ thuật nhà văn Khi nhà văn trình bày họ nhìn thấy cho ta nhìn thấy ta tiếp thu nhìn họ, tức bước vào phạm vi ý thức họ, ý mà họ ý Khi ta nhận thấy nhà văn ý này, nhà văn ý kia, tức ta nhận người nghệ sĩ tác giả

(22)

điều độ, Sống mòn viết miếng ăn với tất tâm huyết Nhưng ơng khơng bàn luận miếng ăn thứ thực phẩm Ông đau đớn đề cập đến phương diện: miếng ăn miếng nhục Nhân vật Nam Cao thường bị đói, nghèo đẩy tới chỗ phải vứt bỏ nhân cách, phải chịu bị lăng nhục miếng ăn

Việc sử dụng từ ngữ truyện Kiều đại thi hào dân tộc Nguyễn Du thể nhìn nghệ thuật nhà văn Chúng ta thấy cách mà Nguyễn Du nhân vật tự xưng với nhau: "Trách lòng hờ hững với lòng ", "Lấy lòng gọi chút sang gọi lịng" Đó cách xưng hơ kiểu nhân vật Nguyễn Du Ơng nhìn thấy qua chữ "ai" người cá thể

bình thường đầy nhân tính: "Đêm xn dễ cầm lòng cho đang ", "Tấm lòng

ân ai lịng " Ơng nhìn người giá trị mong manh dễ

hư nát qua từ "chút ": "Thưa chút phận ngây thơ ", "Được nhờ chút

thơm rơi", "Rằng bèo bọt chút thân ". Có thể nói Nguyễn Du diện

qua từ ngữ độc đáo riêng ơng sử dụng cách có hệ thống Như vậy, thơng qua nhìn nghệ thuật, người đọc nhận người nghệ sĩ tác giả Mỗi nhà văn lại có nhìn riêng độc đáo thể phong cách riêng Đi tìm hiểu nhìn nghệ thuật nhà văn biểu giới nghệ thuật tức nhận người nghệ sĩ tác giả

* Giọng điệu trần thuật

Giọng điệu yếu tố đặc trưng hình tượng tác giả tác phẩm Nếu đời sống có ta nghe giọng nói mà nhận người, văn học vậy, giọng điệu giúp ta nhận tác giả

Theo Từ điển văn học giọng điệu "Thái độ, tình cảm, lập trường

(23)

Giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm thị hiếu thẩm mĩ của tác giả, có vai trị lớn việc tạo nên phong cách nhà văn tác dụng truyền cảm cho người đọc Thiếu giọng điệu định, nhà văn chưa thể viết tác phẩm, có đủ tài liệu xếp xong hệ

thống nhân vật [5,tr.111- 112]

Giọng điệu không đơn giản tín hiệu âm có âm sắc đặc thù để nhận người nói, mà giọng điệu mang nội dung tình cảm, thái độ, ứng xử trước tượng đời sống "Hệ số tình cảm lời văn

biểu hiện trước hết giọng điệu bản " [37,tr.132] Giọng điệu

văn học không biểu cách xưng hơ, trường từ vựng, mà cịn hệ thống tư thế, cử biểu cảm tác phẩm

Khrapchencô khẳng định: "Giọng điệu trang sức,

không phải yếu tố thứ yếu mà đặc tính hữu cấu tạo tác phẩm, của

những khái quát hình tượng tác phẩm" [11,tr.188]

Giọng điệu có cấu trúc Xét lời văn quan hệ với chủ đề ta có giọng điệu Xét lời văn quan hệ với người đọc ngồi văn ta có ngữ điệu Sự thống hai yếu tố tạo giọng điệu Nền tảng giọng điệu trần thuật cảm hứng chủ đạo nhà văn V.Biêlinxki nói: "Cảm hứng sức mạnh hùng hậu Trong cảm hứng nhà thơ người yêu say tư tưởng, yêu đẹp, yêu sinh thể, đắm đuối vào ngắm khơng phải lý trí, lý tính, khơng phải tình cảm hay lực tâm hồn, mà tất tràn đầy tồn vẹn tâm hồn mình, tư tưởng xuất trong tác phẩm suy nghĩ trừu tượng, hình

thức chết cứng, mà sáng tạo sống động" [37,tr.108]

(24)

ngữ cổ kính có âm hưởng biểu thống thiết Nếu nhà văn có cảm hứng luận, phê phán, tác phẩm có giọng điệu lên án, tố cáo nhà văn sử dụng biện pháp châm biếm, mỉa mai Yếu tố tình thái, biểu đánh giá tác giả phát ngôn yếu tố quan trọng hình tượng tác giả Như giọng điệu tác phẩm phụ thuộc vào cảm hứng chủ đạo như: anh hùng, bi kịch, cảm thương, lãng mạn Chẳng hạn, Vang bóng thời nhà văn Nguyễn Tuân tạo giọng điệu riêng đầy hấp dẫn Giọng điệu chủ đạo giọng điệu trang trọng, cổ kính, thiêng liêng Giọng điệu bắt nguồn từ người nhìn nhà văn đời lắng sâu Ẩn sâu bên tình cảm nồng ấm, niềm hoài niệm, tiếc nhớ thời xa xưa cịn vang bóng Chính nhờ giọng điệu mà Vang bóng thời có sức sống vĩnh viễn với thời gian Trong Cá tính sáng tạo nhà văn sự phát triển văn học, tác giả M.B.khrapchencô khẳng định: "Những đặc tính lĩnh vực giọng điệu tác phẩm nghệ thuật nhà văn, ưu tiên của phong cách có liên quan mật thiết với cảm hứng chủ đạo sáng

tác nhà văn" [10,tr.172]

Như vậy, giọng điệu phương diện quan trọng tác phẩm nghệ thuật Cùng với yếu tố nghệ thuật khác, giọng điệu chìa khố để mở cánh cửa văn học đích thực Nhiều nhà văn thường xây dựng cho hệ thống giọng điệu độc đáo, phù hợp với cách cảm, cách nghĩ Các nhà nghiên cứu nói đến giọng điệu Tơnxtơi Chiến tranh và hồ bình "một giọng điệu mềm mại, tỉnh táo, đôn hậu người vững tin

vào đạo đức chân lý Giọng điệu L.Tônxtôi vang lên khắp nơi tác

phẩm ông từ Thời thơ ấu, Thời niên thiếu, đến Phục sinh và tác

(25)

của đại uý Tusin, giọng điệu vui vẻ, âm vang Natasa thể

tình cảm sáng, chân thành, tình cảm mà tác giả yêu mến, bảo

vệ" [37,tr.134]

Có thể nói giọng điệu thước đo chuẩn mực đánh giá tài nghệ thuật nhà văn Nếu chưa tạo cho giọng điệu riêng nhà văn chưa coi nghệ sĩ chân chính, có tài đích thực Tạo tác phẩm hệ thống giọng điệu vừa độc đáo

vừa phong phú, cách nhà văn khẳng định vị trí văn đàn

* Sự tự thể tác giả thành hình tượng

Bên cạnh yếu tố nhìn nghệ thuật, giọng điệu trần thuật tự thể tác giả thành hình tượng mang đến cho người tiếp nhận nhiều hứng thú trình cảm thụ văn học Trong tác phẩm, có nhiều trường hợp tác giả tự hình dung hình tượng Các tác giả tuỳ bút, bút ký, ký tiểu thuyết khơng trường hợp miêu tả tác phẩm Chẳng hạn, M.Gorki ba tự thuật: Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học tôi Nguyên Hồng trong Những ngày thơ ấu Nam Cao Đời thừa, Sống mịn, Đơi mắt Ví dụ, Nguyễn Tn viết: "Tơi muốn ngày cho cái say rượu tối tân hôn", "Rồi vênh

váo đời viễn khách khơng có q hương định"

Khi Thế Lữ viết:

Tôi kẻ hành phiêu lãng

Đường trần gian xuôi ngược để vui chơi

Hoặc Xuân Diệu viết:

(26)

thì người đọc nhận hình tượng tác giả tác phẩm Tuy nhiên, không đồng hình tượng tác giả với thân tác giả ngồi đời

Cái nhìn, giọng điệu tự thể tác giả thành hình tượng ba yếu tố tạo thành hình tượng tác giả giới nghệ thuật người nghệ sĩ mà người đọc luôn bắt gặp trình giao tiếp, thưởng thức Khi tìm hiểu hình tượng tác giả cần ý đến quan điểm nghệ thuật mà nhà văn gửi gắm Có trường hợp, nhà văn ngược lại quan điểm giai cấp để có nhìn dắn, đầy cảm phục với tầng lớp quần chúng tác giả Hồng Lê thống chí vượt qua ảnh hưởng quy tắc đạo đức Nho gia phong kiến để có nhìn cảm phục người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ

Khi nghiên cứu hình tượng tác giả tác phẩm, cần ý khơng nên đồng hình tượng tác giả với đời cá tính nhà văn Nhiều đời cá tính bên ngồi người trần thuật tác phẩm lại Chẳng hạn, Vũ Trọng Phụng đời thực người bình dị, người khn phép, nếp đọc tác phẩm nhà văn ta thấy người trần thuật nhiều loạn phẫn uất

Tóm lại, hình tượng tác giả tác phẩm phạm trù thi pháp nhà văn sáng tạo Hình tượng tác giả tạo thành yếu tố sau: nhìn nghệ thuật, giọng điệu tự thể tác giả thành hình tượng Những thể loại văn học khác biểu hình tượng tác giả khác

1.1.2 Ý nghĩa lý luận thực tiễn việc nghiên cứu hình tượng tác giả

1.1.2.1 Ý nghĩa lý luận

(27)

người đọc nhận khác nhà văn với nhà văn khác Chẳng hạn nhà văn thực phê phán viết đề tài nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám nhà văn Nam Cao khác với Ngô Tất Tố, khác với Nguyễn Công Hoan, khác với Vũ Trọng Phụng Mỗ i nhà văn có cách thể riêng Đó khác cá tính sáng tạo nhà văn

Nghiên cứu hình tượng tác giả không giúp người đọc nhận phong cách cá nhân nhà văn mà giúp người đọc tìm hiểu tính hệ thống văn tác phẩm nhìn nghệ thuật, giọng điệu, tự thể thành hình tượng tác giả để từ tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật tác phẩm văn học "Văn học hình thái hoạt động tư tưởng, nghiên cứu

một nhà văn, xét đến nghiên cứu tư tưởng ông ta" [25,tr.9]

1.1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu hình tượng tác giả giúp người đọc hiểu quan điểm nghệ thuật, lập trường tư tưởng tác giả thể tác phẩm Tuy hình tượng tác giả khơng hồn tồn trùng với nhà văn đời đối chiếu tư tưởng nhà văn nghệ thuật với người đời sống có ý nghĩa lớn Thơng qua hình tượng tác giả, người nghiên cứu có đáng tin cậy để kiểm nghiệm xác kết luận giới nghệ thuật nhà văn, hiểu sâu sắc cấp độ biểu phối hợp hình thức tác phẩm, tạo điều kiện cần thiết cho việc phân tích cảm thụ văn chương có hiệu cao

(28)

quan niệm nghệ thuật nhà văn, có nhìn sâu sắc đầy đủ truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ quan trọng trình lao động sáng tạo nghệ thuật nhà văn Từ đó, tìm nét riêng phong cách nghệ thuật đóng góp Nguyễn Khải văn học Việt Nam đại 1.2 Nguyễn Khải truyện ngắn ông thời kỳ đổi

1.2.1 Vài nét Nguyễn Khải hành trình sáng tác nhà văn

Nguyễn Khải tên khai sinh Nguyễn Mạnh Khải Ông sinh ngày tháng 12 năm 1930 Hà Nội gia đình quan lại, ơng khơng thừa hưởng giàu sang, no đủ gia đình thân phận vợ lẽ Chính mà tuổi thơ Nguyễn Khải phải trải qua nhiều phen khốn nhục, sống ghẻ lạnh, khinh bỉ gia đình, họ hàng, chí người cha đẻ Từ bé đến năm 15 tuổi, Nguyễn Khải chưa lần nhìn rõ mặt cha, ông quan tri huyện Lúc gặp cha, Nguyễn Khải khúm núm, len lén, sợ hãi kẻ có tội Ơng sống với mẹ em trai sống tẻ nhạt thiếu thốn vật chất lẫn tình cảm Cha Nguyễn Khải làm quan, ông quan tri huyện hết thời nên chẳng thể "trợ cấp" cho sồng khốn quẫn ba mẹ Nguyễn Khải khỏi cảnh đói nghèo Nguyễn Khải sớm phải lăn lộn đời để kiếm sống, nuôi mẹ nuôi em Có thể nói, trải nghiệm cay đắng, đầy éo le, tủi nhục khiến cho đời văn chương ơng sớm có đặc điểm riêng Đó hiểu đời, hiểu người, khơn ngoan, tỉnh táo, tình cảm, u ghét, khinh trọng rạch rịi Và từ sớm, ơng có giọng văn trải đời

(29)

công tác tờ Sinh hoạt văn nghệ Tổng cục trị (từ năm 1957 tạp chí Văn nghệ Quân đội) Cuộc đời viết báo, viết văn Nguyễn Khải Là nhà văn- chiến sĩ trưởng thành từ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ xâm lược, Nguyễn Khải có quan niệm đắn vai trò, sứ mệnh văn học nghệ thuật Ơng người có ý thức dùng ngịi bút làm vũ khí chiến đấu phục vụ nghiệp cách mạng dân tộc góp phần xây dựng sống Điều trước hết thể việc ơng ln người tiên phong, tìm đến vùng đất nóng bỏng, gian khổ đầy sôi động đất nước Ông tiếng người chịu khó thực tế Bước chân nhà văn đặt tới nhiều miền đất nước: Một vùng nơng thơn cơng giáo tồn tịng, nông trường Điện Biên miền Tây Bắc xa xôi, hợp tác xã tiên tiến, đảo anh hùng kiên cường chiến tranh phá hoại Ông miệt mài miệt mài viết

Có thể nói, Nguyễn Khải người có sức mạnh tinh thần to lớn, có khả làm việc bền bỉ với bút lực phi thường Văn ông viết duyên, "cái duyên dáng dân dã làm điệu, làm dáng mà có" (Vương Trí Nhàn)

(30)

cuộc sống đầy phức tạp sôi động, với nhận xét sắc sảo, tinh tế, Xung đột báo hiệu "phong cách văn xuôi thực tỉnh táo đầy hứa

hẹn" (Phan Cự Đệ)

(31)

phẩm thời kỳ Nguyễn Khải hướng tới câu hỏi lớn: Làm để người giải phóng ? Làm để người có tự hạnh phúc ? Khi đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, Nguyễn Khải có mặt nơi nóng bỏng chiến đấu Đến với chiến sĩ đảo Cồn cỏ, nhà văn cho đời thiên ký Họ sống chiến đấu Những chuyến đến với chiến sĩ công binh trấn giữ địa điểm ác liệt trường Sơn, ông viết Đường mây. Vào đất lửa Vĩnh Linh, đến với người xông pha hiểm nguy để đưa hàng tiếp tế Cồn cỏ, nhà văn viết Ra đảo Ông viết Chiến sĩ chiến dịch Đường Chín - Nam Lào, viết Tháng ba ở Tây Nguyên tham gia chiến dịch giải phóng miền Nam Nguyễn Khải nhà văn mặc áo lính nên viết người anh hùng, ngịi bút ơng đầy hào hứng nhiệt huyết Cuộc chiến tranh ác liệt nhân dân quân đội ta ông phản ánh rõ nét vào tác phẩm thời kỳ Âm hưởng chủ đạo tác phẩm Nguyễn Khải giai đoạn ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng ca ngợi người sống có lý tưởng độc lập dân tộc chủ nghĩa xã hội

Giải phóng miền Nam, đất nước thống nhất, dân tộc hân hoan bước vào chặng đường lịch sử Sự nhạy bén giúp Nguyễn Khải khám phá thực mẻ - thực sống miền Nam sau ngày giải phóng Các tác phẩm: Cách mạng, Gặp gỡ cuối năm, Thời gian người đề cập đến thay đổi sống sau chiến tranh, đổi thay nhận thức, tư tưởng, tình cảm người vốn gắn bó với chế độ Sài Gịn cũ

(32)

của ngòi bút Nguyễn Khải nằm vận động văn học trước sau đổi Tuy nhiên, chuyển biến phong cách Nguyễn Khải thống nhất, không đứt đoạn

Đất nước tiến hành nghiệp đổi mới, xuất kinh tế thị trường đem lại nhiều biến chuyển lớn lao cho xã hội Nguyễn Khải tiếp tục viết Dù đến với nhiều miền đất lạ hay trở lại mảnh đất mà ông qua, Nguyễn Khải khắc khoải với người, số phận đau khổ, éo le sống xô bồ Ơng ghi lại đổi thay nhanh chóng đời sống, nói lên trải nghiệm cá nhân, suy nghĩ thời gian, giới hạn đời, khả vượt qua giới hạn người, hệ Nguyễn Khải bắt nhịp nhanh với thở sống tại, nhiều truyện ngắn ông thời kỳ phát nhiều vấn đề nhân sinh ẩn giấu sau đời, quan niệm đạo đức truyền thống, lợi ích kinh tế, giá trị đồng tiền : Cái thời lãng mạn, Hai ông già Đồng Tháp Mười, Anh hùng bĩ vận, Người kể chuyện thuê, Tiền, Chúng bọn hắn So với sáng tác thời trẻ, truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đằm thắm, bao dung cách nhìn đời, nhìn người

Men theo thời gian phác hoạ chặng đường nghệ thuật nửa kỷ cầm bút đời văn Nguyễn Khải Ông nhà văn lý tưởng, triết lý nhân sinh, khát khao vô tận sống để sáng tạo nên nhiều tác phẩm văn chương đích thực phục vụ cho nghiệp cách mạng dân tộc nhiệm vụ xây dựng người cho xã hội 1.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi

(33)

là bút truyện ngắn có duyên Đặc biệt truyện ngắn thời kỳ đổi ơng có sức hấp dẫn kì lạ

Nhà văn tự phân chia trình sáng tác thành hai thời kỳ: "Từ

1955 đến 1977 sáng tác theo cách Từ 1978 đến sáng tác theo cách khác" Thực chuyến biến tư tưởng nghệ thuật từ sau 1975

hiện tượng chung nhiều bút, không riêng Nguyễn Khải Tuy nhiên mức độ chuyển biến bút có khác nhau, tuỳ theo lĩnh nhạy cảm với thời người Đại hội lần thứ VI Đảng với tinh thần dân chủ hiệu: "nhìn thẳng vào thật, nói thật" dường đáp ứng nhu cầu tự thân Nguyễn Khải Sáng tác Nguyễn Khải thời kỳ đặc biệt nở rộ, có thành cơng thể loại truyện ngắn

(34)

nhám, xù xì, đầy cam go thử thách vốn có Như vậy, giá trị sáng tác Nguyễn Khải gắn bó sáng tác sống

Sáng tác Nguyễn Khải thời kỳ tập trung vào hai đề tài chủ yếu: "Một sống hôm người chung quanh, bạn bè đồng

nghiệp quen biết, tuổi tác tâm Hai số phận người thân họ hàng nội ngoại tác giả, ông cậu bà mợ mà tâm tư

tình cảm Nguyễn Khải cịn quyến luyến" [41,tr116] Đây thời kỳ cảm hứng

triết lý, tranh biện tác giả có hội thể Triết lý ưu tạo phong cách riêng cho văn Nguyễn Khải Người ta ví ơng "Chế Lan

Viên văn xuôi" không sai, ông người tỉnh táo, tỉnh táo

trước Thời Thế giàu khả triết lý trước vấn đề đời sống nhân sinh

Thế giới nhân vật Nguyễn Khải thời kỳ thực phong phú: từ già đến trẻ; từ thông minh, tháo vát đến vụng về; từ lạc thời, bế tắc đến gặp thời; từ chân thật đến xảo trá Mỗi nhân vật vẻ họ chứa đựng triết lý sống "thì tại" Trong Chút phấn đời, niềm tin, hạnh phúc cho Trong Hai ông già Đồng Tháp Mười lẽ sống quý giá đời - "một niềm tin, niềm vui mà đến lúc

đứng tuổi nhận ra ý nghĩa thâm trầm nó" Nguyễn Khải sâu vào

khám phá giới nội tâm người, người nhỏ bé, qua số phận họ nhà văn nói lên nhiều điều Đó mảnh đời khốn khổ chị Vách (Đời khổ), anh Khang (Cái thời lãng mạn) dù bị tủi hờn, thách thức khổ đau thời gió bụi họ kiên trì nhẫn nại, chịu đựng vượt qua

(35)

thị trường Định (Cái thời lãng mạn), Lộc (Chúng bọn hắn) Nhưng ông tỉnh táo nhìn nhận khiếm khuyết tuổi trẻ đặt vấn đề cho lớp trẻ phấn đấu tạo nhũng giá trị có ý nghĩa chấn hưng dân tộc Với mắt thông cảm, chia sẻ nhà văn viết người hết thời tuổi trẻ muốn cống hiến sức cho sống hơm nay: Hợp (Người kể chuyện th), ơng Trắc (Lạc thời), nhân vật nhà văn (Anh hùng bĩ vận )

Còn loại nhân vật mà nhà văn viết hay họ, người Hà Nội Những người gắn với mảnh đất nơi ông sinh mang bao kỷ niệm thời tuổi trẻ Đó Hiền, người bình thường sống chuẩn mực, gia giáo, làm nên phong cách Hà Nội (Một người Hà Nội), chị Khuê, bà Mặm , người bình dị ẩn chứa bên bề sâu văn hoá lâu đời đất kinh kì Họ "hạt

bụi vàng" Hà Nội, khiến cho tác giả phải ao ước "những hạt bụi vàng lấp

lánh góc phố Hà Nội, mượn gió mà bay lên cho đất kinh kỳ

chói sáng ánh vàng" (Một người Hà Nội) Trong câu chuyện

cảm động Nguyễn Khải người bình thường Hà Nội thường lấp lánh suy tư khiến người đọc phải chiêm nghiệm, thấm thía: "Chỉ có tâm tốt người làm nảy nở mầm yêu thương" (Nắng chiều); "Cái nghĩa tình thầm lặng, nhỏ nhoi gia đình,

vùng đất luôn bị quên ạt, xáo động, ngầu đục dòng đời vẫn mạch nước ngầm suốt, vô nhiễm để nuôi sống tinh hoa

của dân tộc" (Đất kinh kì); "Ở đời có đức trường tồn, có

nhiều tốt, khơng sợ thừa Kì dư thứ khác phù du cả, có

đấy, phúc đấy, hoạ đấy, khơng tính trước đâu" (Người ngày xưa)

(36)

bao muốn khám phá vấn đề thực chiều sâu Nguyễn Khải quan niệm thiên chức văn học: "Tác phẩm mảnh của đời sống chung, phải tham gia tích cực vào đấu tranh cho nghiệp

chung" Phương hướng đề tài nhằm thẳng vào sống khiến cho

tác phẩm Nguyễn Khải trở thành nơi giao tiếp, đối thoại với bạn đọc hệ bạn đọc hệ sau tác giả "Đến với truyện ông, người ta đươc đến với giới đa dạng hơn, nhiều sắc thái hơn, anh hùng xen với bình thường, đáng căm giận đáng phỉ nhổ khơng thiếu, nhưng đáng cảm động, đáng để tin yêu, góp phần làm

nên sống thú vị có tiếng cười lẫn nước mắt" [31,tr119]

Một buổi chiều mùa đông năm 2007, Nguyễn Khải trút thở cuối Sinh thời Nguyễn Khải tâm bạn đọc: "Nếu trái tim chưa

nguộilạnh" nhà văn vẫn viết Và nhà văn vào cõi vĩnh

(37)

Chương

CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN KHẢI THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Từ sau năm 1986, Nguyễn Khải viết nhiều truyện ngắn, mà theo thống kê ông viết 70 truyện Lý giải cho tượng này, theo chúng tôi, bước sang thời kỳ đổi với nhiều biến động lốc thị trường, thể loại truyện ngắn phù hợp với nhịp sống người đại (ngắn, súc tích, phù hợp với quỹ thời gian khan dần sống đại) Nguyễn Khải lại "bước vào đợt viết sôi

nữa sau hai đợt viết hào hứng trước (một thời kỳ Xung đột, Mùa lạc,

Tầm nhìn xa; thời kỳ Cách mạng, Gặp gỡ cuối năm) [31,tr.116] Với ơng, có lẽ già dặn đời người biết tìm đến cô đọng thể loại cảm hứng tìm tịi, khám phá sống người khơng ngừng theo cách nghĩ, cách viết khác Bởi Nguyễn Khải coi "văn học khoa học lòng người", ơng ln quan tâm miêu tả đời sống nội tâm nhân vật miêu tả ngoại hình Nhưng dù miêu tả vẻ đẹp tâm hồn hay vẻ đẹp hình thể mục đích sáng tác ông phục vụ người đời sống người Quan điểm Nguyễn Khải gắn liền với quan điểm nhà văn vô sản Nga M.Gorki (1868 - 1936): "Văn

học lànhân học "

(38)

cho nhiều tị mị, nhiều thích thú, háo hức kẻ vào nghề Vì tơi có quan niệm người Việt Nam đại,

những nhân vật văn học có khả làm bạn với bạn đọc lâu dài" [17,tr.42]

Đi thực tế Nguyễn Khải để kiếm tìm "tư liệu" đưa vào tác phẩm Cũng có để trải nghiệm triết lý, để trang viết đa dạng, gần gũi với sống Điều lý giải tác phẩm ơng chứa đựng kiến thức phong phú mối quan hệ, lẽ ứng xử, đạo đức, nhân cách người Có người coi văn ơng "túi khôn", đọc để

mở mang vốn hiểu biết Người đọc soi vào để liên tưởng tới sống thân mình, phát lại Có thành tựu Nguyễn Khải nghiêm túc trình lao động sáng tạo nghệ thuật Nghiêm khắc với thân, nhìn nhận sống, người nhìn nghệ thuật nhiều chiều để thấy vấn đề đặt ra, từ nâng lên thành triết lý- đường sáng tạo nghệ thuật cuả Nguyễn Khải Khảo sát nhìn nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới, ý số đặc điểm sau:

2.1 Cái nhìn thực tỉnh táo

Từ lâu, Nguyễn Khải ý độc đáo cá tính sáng tạo Nhà văn sớm định hình cho phong cách riêng ngày tỏ có lĩnh nghệ thuật Ở Nguyễn Khải, người ta thấy bật lên nhìn thực tỉnh táo Ngay từ năm trẻ nghề cầm bút, Nguyễn Khải có quan niệm rõ ràng thiên chức văn học Ông cho rằng: "Tác phẩm văn học mảnh đời sống chung, phải tham gia tích cực vào

cuộc đấu tranh cho sự nghiệp chung". Cũng từ đó, Nguyễn Khải có niềm

(39)

Lấy mảnh đất thực làm đối tượng phản ánh, ngòi bút Nguyễn Khải cố gắng vào ngõ ngách đời sống để tìm chân lý, thật bề sâu sống Với mắt sắc sảo mình, nhà văn phát nhanh vấn đề thực sống nơi tưởng êm đềm, phẳng lặng chí tốt đẹp Chính thế, thực truyện ngắn Nguyễn Khải thực "có vấn đề", mà khơng có nhìn thực tỉnh táo thái độ nghiên cứu, phân tích khó mà phát Nguyễn Khải viết liên tục, mà tác phẩm nhà văn đặt vấn đề có ý nghĩa thiết thực người sống đương thời

(40)

góc cạnh, vấn đề chưa phải sống nguyên vẹn, bề bộn nhiều mặt với truyền thống lịch sử, phong tục tập quán lẫn sắc thái địa phương, với vận động nhiều nhân vật, nhiều hệ, gia đình qua nhiều hồn cảnh khác Đúng sau ơng thú nhận thành thật: "Cuộc sống lại mục đích mà trình Từ mục đích cao mà tạo mẫu người, tạo tình tiết, tạo nhịp điệu cho tác phẩm Sự sống bị huy, bị quy định nên không cịn sống Nó lạnh lẽo, tẻ nhạt, bất ngờ,

quyến rũ Nó bã sống Và thứ bã giống nhau "

(Nghềvăn công phu)

Trong văn học thời kỳ đổi mới, có nhiều nhà văn viết sống từ thời điểm tại, từ "ngày hôm nay", cách nhìn lại khác Nếu Bảo Ninh Nỗi buồn chiến tranh lấy ngày hôm qua làm điểm tựa để nhìn lại khứ, xem xét lại khứ Nguyễn Khải lại tắm ngày hơm để nhìn Sự khác biệt họ mà ta nhìn thấy là: "Tiểu thuyết Bảo Ninh "tiếng gọi" (Kunđêra) kí

ức, thời q khứ cịn đa phần sáng tác Nguyễn Khải "tiếng gọi"

của thời tại, hay nói cách khác ngày hơm

cất lời" [27,tr.45] Và tắm khơng khí ngày hơm

nay nhìn Nguyễn Khải khơng giống với nhìn Ma Văn Kháng Ở Mùa rụng trong vườn, Đám cưới khơng có giấy giá thú Ma Văn Kháng đối diện với sống từ "ô cửa" gia đình, ngơi trường, khu chung cư mối quan tâm giá trị chân sống người "Ơng tái giới ngày hơm khủng hoảng

sâu sắc giá trị đạo đức, nhân cách truyền thống" [27,tr.46] Còn

(41)

người lát cắt đại Chính thơng qua "mơ măng" ấy, Nguyễn

Khải cho người đọc nhìn thấy chuyển động ngày hôm nay"

[27,tr.46]

Có thể thấy, Nguyễn Khải thường chọn cho mảng đề tài mang tính chất thời nóng bỏng Những vấn đề đặt tác phẩm vấn đề sống hôm "Nhà văn có nhìn nhạy bén, thấu suốt vào số mặt chủ yếu, vấn đề phức tạp sống" [8,tr.53] Chính nhìn nhạy bén đó, mà ơng phát nhiều điều mẻ, nhìn đâu thấy người lạ, chuyện lạ "Vẫn đất nước mà thêm bước bước lạ Vẫn người Việt Nam mà gặp thêm người lại tưởng buộc phải hiểu lại chút

người" (Hai ông già Đồng Tháp Mười) Khéo léo động nhạy bén,

ông bám sát bước đời sống, tìm kiếm khám phá lý giải vấn đề đời sống từ "cái hơm ngổn ngang, bề bộn" Hiện thực nhiều vẻ trở thành "mảnh đất phì nhiêu" cho ngịi bút ưa kiếm tìm mâu thuẫn xung đột Nguyễn Khải thả sức tung hoành

Khảo sát số phận người biến thiên thời cảm hứng nhiều bút thời đổi có tác phẩm gây dư luận sôi đời sống văn học: Phiên chợ Giát (Nguyễn Minh Châu); Kẻ sát nhân lương thiện (Lại Văn Long); Phố, Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai); Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh); Tướng hưu (Nguyễn Huy Thiệp) Nguyễn Khải chiêm nghiệm riêng góp vào văn học Việt Nam thời đổi trang viết giàu sức ám ảnh mối quan hệ người thời

(42)

bằng nhìn thực tỉnh táo để chiêm nghiệm hay - dở, - sai, - thời qua, từ "cái thời lãng mạn" đến "cái thời gió bụi" Khảo sát truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới, thấy nhà văn đề cập nhiều đến vấn đề thời thế, đến tâm trạng người trước đổi thay đến chóng mặt thời Có thể dẫn nhiều ví dụ cho thấy Nguyễn Khải nhiều trăn trở, băn khoăn lo âu trước đổi thay thời thế:

- Một xã vùng biển anh nhà văn thành phố lần đầu tới đó, hai

bên xa lạ hoàn toàn mà thân phận lại giống đến Bởi

hai thời tạo nên Thời đổi thay, hai lâm vào vận bĩ,

chưa biết thoát cách (Anh hùng bĩ vận)

- Mới biết thời đổi thay, đời người ngắn ngủi Đã ngắn lại

còn mơ mộng hão huyền, tham vọng vớ vẩn, việc làm vơ ích buồn cười nên lại ngắn Lúc khôn ra, tỉnh ra, hiểu già rồi (Cái thời lãng mạn)

- Khốn nỗi tuổi trẻ hôm với tuổi trẻ bọn lại khác

quá nhiều thời thay đổi (Anh hùng bĩ vận)

Nguyễn Khải ln nhìn thời vận động: thời trước - thời sau, thời xưa - thời nay, thời qua - thời tới:

- Trong đổi thay số phận nhiều cá nhân bi thảm, nhưn g

số phận cộng đồng thời sau thời trước cười lên để

tiễn biệt một thời qua đón chào một thời vừa tới cho thời

đang tớiấy khơng phải thời mình (Anh hùng bĩ vận)

- Tôi người anh hùng một thời qua, bọn họ anh

hùng thời bây giờ, hai thời khác nhau, có gặp khó nói chuyện

(43)

- Nhưng thời khác, thời họ khác, nghĩ ngợi hành động

khơng cịn giống nhau, tưởng tượng khó, nên lạ (Cái thời

lãng mạn)

- Phải đến lúc anh thấy hết ranh giới phân chia tuổi trẻ

với tuổi già, cái thời sống cho mình, cho xã hội với mộng

mơ giả thật với cái thời biết sống cho cái, lũ con,

khơng cịn hy vọng khác, niềm vui khác (Cái thời lãng mạn)

Giữa hai thời khoảng cách khó san lấp "hai thời khác nhau", chí trái ngược Mỗi thời có hay, dở Cái

dở thời xưa - thời "chỉ buồn No ăn mà buồn Không phải lo nghĩ mà lại buồn Ngày ngày giống nhau, đời người ngắn rất nhiều khơng có bất ngờ, may rủi, khơng có thăng trầm" [16,tr.14] Nhưng hay thời xưa tình nghĩa, tình ngườ i, "cái

nền nếp, trật tự" người Còn thời nay- "thời gió bụi" thời

" vội làm giàu, vội làm sang" Cái thời "thay đổi nhiều thứ quá, ngày

cũng có vừa thay đổi thay đổi, thay đổi lớn xã hội thay đổi nhỏ mối quan hệ vốn bất di bất dịch từ

nhiều đời người" [19,tr.409] Thời cách đánh giá nhà văn,

đang "thời giá trị cũ đánh tính tuyệt đối Cịn giá trị

thì loè nhoè, bảo phải mà bảo trái được" (Chúng

bọn hắn) Nhiều nhân vật bị phương hướng trước biến động tự phát thời cuộc, nhà văn, nhà báo "cũng bị tình

mới dắt kéo tên nô lệ" [16,tr.32] Bởi thời tại: "Đồng

tiền vừa đầy tớ, vừa ông chủ, vừa bạn đường vừa giặc cướp" (Nếp

(44)

hợp lý thiết thực Chính vậy, ngẫm nghĩ thời để buồn cho thân phận thất thế, lâm vào vận bĩ, dù người nhìn thẳng vào thật, chấp nhận thật: "Trong đổi thay số phận nhiều cá nhân bi thảm, số phận cộng đồng thời sau thời trước Hãy cười lên nhà văn hay ưu tư sầu muộn, cười lên để tiễn biệt thời qua đón chào thời vừa tới

cho thời tới thời mình" [16,tr.22]

Cái cảm giác "như sang hẳn kiếp khác" cảm giác có thật nhà văn sống sâu sắc, sống với người đời Và mà buồn

Nhân vật Nguyễn Khải phần lớn người già, người hệ với nhà văn; người sống qua thời chiến tranh chiêm nghiệm lại "thời vàng son" họ, nên buồn lẽ đương nhiên Nhưng buồn mà không tuyệt vọng, mà tỉnh táo để phân tích nhận hay dở thời, để lựa chọn cách sống, niềm tin mà vượt lên hoàn cảnh

Viết thực sống đời thường ngày hôm nay, Nguyễn Khải có nhìn thực tỉnh táo trước đổi thay sống thời tại, sống xô bồ, bộn bề, đầy biến động phức tạp Mọi giá trị sống bị đảo lộn sóng gió kinh tế thời mở cửa: "Thời buổi kinh tế thị trường sống nhân, nghĩa thời chiến tranh, sống phải thủ đoạn, phải vị kỉ bảo vệ

được thân và gia đình" Đến lúc này, "cái nhân nghĩa, danh dự

còn chuyện ngày xưa, chuyện cụ' "Bây người ta nhắm rượu

với danh lợi thơi, với người sang người có tiền thơi" (Lạc thời)

(45)

thước đo giá trị, thước đo thước đo, thành gậy huy thứ Cha mẹ, anh em, vợ tất quay quắt đồng tiền như: vợ chồng Bảy (Sống đời), hai người ơng Tú (Một thời gió bụi), Quắc (Sống đám đông), Hiền (Tiền) Lộc - vị giám đốc nổ tháo vát phát biểu sau: " Danh nghĩa thế, thực chất tiền

chỉ huy Đồng tiền lớn huy đồng tiền bé" (Chúng tơi và bọn hắn),

cái thứ "thuế đời" thời buổi Thế hệ trẻ tôn sùng vào giá trị đồng tiền mà quên truyền thống lịch sử, giá trị đạo đức nhân phẩm người Thế hệ trẻ hơm hồn tồn đối lập với khứ, họ bỏ quên thách thức với q khứ Quan niệm hệ trẻ là: "Ở đời phải làm cho người ta sợ mình, cần đừng mong mỏi thương Thời làm có chuyện tình cảm mà u với chả thương"

(Một thời gió bụi)

Nguyễn Khải, người vừa bước chân khỏi chiến tranh với dự định, hy vọng tương lai tươi sáng dân "sững" lại trước đổi thay chóng mặt sống Tất nhiên người già thích ứng với thay đổi chậm chạp khó khăn lớp trẻ, dù đổi thay hợp quy luật Nhưng với Nguyễn Khải chưa có Nguyễn Khải lại trăn trở nhiều, day dứt nhiều đồng tiền đến

Theo thống kê chúng tơi, có nhiều lần nhà văn phải kêu lên trước tác oai, tác quái đồng tiền:

- Bọn họ khinh rẻ Họ không tin cả, khơng tin có lịng tốt

ở đời Họ tin có tiền Tiền quân họ

- Đồng tiền vừa đầy tớ, vừa ông chủ, vừa bạn đường vừa giặc

cướp (Nếp nhà)

(46)

gia đình chờ sẵn nhà để giết nốt người chiến binh ng

ngác trước đổi thay thời thế (Nơi về)

- Danh nghĩa thế, thực chất tiền huy Đồng tiền lớn

huy đồng tiền (Chúng bọn hắn)

- Đồng tiền bộc lộ sức mạnh khuynh đảo nó, thay mọi giá trị trước xã hội tơn vinh Vì tất người chốc

rất cần tiền nhốn nháo, bồn chồn đến mù quáng trước cám dỗ

đồng tiền

- Xung quanh người ta bắt đầu nói đến tiền nhiều Gặp bạn bè

cũ, nửa câu chuyện than thở thiếu tiền

- Biết làm cho có tiền bây giờ, sáng tối băn khoăn có chuyện

tiền

- Trong thời buổi già lẫn trẻ thèm khát sung sướng, thèm

khát ăn chơi Mọi mối quan hệ tính thành tiền, thành đạt đo

tiền, chỗ nào thào, mua bán, đổi chác, lừa lọc công việc

ma quỷ bóng tối (Sống đời)

Qua quan niệm lớp trẻ, Nguyễn Khải phần phác hoạ mặt đời sống xã hội hôm Con người quan hệ với tình, nghĩa mà suy tính thiệt coi đồng tiền chất dung môi quan hệ cộng đồng Bởi mà có lúc nhà văn phải cay đắng lên: "Chân lý vĩnh cửu khơng cịn Hay dở, tốt xấu, thành bại đánh giá theo tiêu chuẩn Tiêu

chuẩn tiêu chuẩn tiền Nó vị giá trị" (Anh

hùng bĩ vận)

(47)

đan xen bóng tối ánh sáng, ngòi bút tỉnh táo nhà văn phát điều cần suy ngẫm Ông đặc biệt quan tâm tới phương diện đạo đức người trước biến thiên giá trị thời buổi kinh tế thị trường Cơ chế thị trường khiến cho giá trị tưởng bền vững lại bị lung lay Nguyễn Khải tỉnh táo phê phán tượng xuống cấp đạo đức phận niên lớn Chúng tỏ sỗ sàng, hành động nói thiếu giáo dục, vơ văn hố Những cảnh trái mắt đó, Nguyễn Khải coi "rác Hà Nội". Đó phản ứng nhà văn đầy trách nhiệm người sống

Viết người sống đời thường ngày hôm nay, Nguyễn Khải khám phá nhiều giá trị nhân văn sâu sắc ẩn chứa đằng sau người, nhân vật đỗi bình thường sống Nhân vật ơng bước từ đời vào trang sách tự nhiên, không thi vị mà đượm chất đời sống Đó chị Vách (Đời khổ), anh Khang (Cái thời lãng mạn), anh Hợp (Người kể chuyện thuê), hai ông già Đồng Tháp Mười, hai ông cháu ăn xin nghèo khổ (Ơng cháu), ơng trưởng họ (Ơng trưởng họ) Họ người không gây ý xuất thân, địa vị, ngoại hình lại sáng lên tâm hồn cao đẹp, nhân cách cao thượng, biết sống hy sinh hạnh phúc người khác

(48)

muôn màu, muôn vẻ màu có đẹp riêng nó, kể màu xám

và nỗi buồn" (Phía khuất mặt người)

Những số phận hẩm hiu truyện ngắn Nguyễn Khải phần có nét giống với số phận nhân vật Dì Hảo, Ở hiền nhà văn Nam Cao Một bà Vách Đời khổ, bà mẹ Mẹ con, hai ơng cháu Ơng cháu để lại lòng người đọc nỗi ám ảnh thân phận hiền chẳng gặp lành Cả Nam Cao Nguyễn Khải khơng giấu nỗi niềm xót thương trắc ẩn Nhưng qua hồi tưởng nhân vật, Nam Cao chủ yếu nhằm "tô đậm thảm thương" cay cực kiếp "sống mịn", từ điểm nhìn thực Nguyễn Khải chủ yếu muốn nhấn mạnh niềm ham sống số phận bất hạnh đời

Như là, thời kỳ đổi nhìn nghệ thuật Nguyễn Khải có nhiều chuyển biến theo xu hướng gần với đời "Ngòi bút thực tỉnh táo Nguyễn Khải ngày xúc động hơn, tình cảm hơn, giàu chất trữ tình lãng mạn nói chung nhân hậu tin yêu người n " [18,tr.501] Cái nhìn thực tỉnh táo Nguyễn Khải thời kỳ đổi nhìn có chiều sâu lịch sử văn hố Chính giọng điệu nghệ thuật ơng vừa có thâm trầm, hậu tuổi già, vừa có góc cạnh, trải đời người quen xông pha, lăn lộn Với lòng nhân hậu, tin yêu người tha thiết gắn bó với đời, tin nhà văn Nguyễn Khải tác phẩm ơng cịn có chỗ đứng lâu dài lịng độc giả

2.2 Cái nhìn sắc sảo, tinh tế

Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn - người đọc "tri âm" Nguyễn Khải

(49)

vừa dân dã vừa đại" nhà văn [31,tr.114] Với truyện ngắn thời kỳ đổi mới, Nguyễn Khải thể nhìn sắc sảo, tinh tế trước vấn đề thực sống người

Chi tiết nghệ thuật có vai trò quan trọng truyện ngắn, đặc biệt chi tiết hay, đắt giá Chi tiết "vật liệu xây dựng" để tạo nên truyện ngắn Chi tiết chìa khố, nấc thang để đưa người đọc đến với giới nghệ thuật truyện ngắn Cái nhìn thể chi tiết nghệ thuật, chi tiết điểm rơi nhìn Chi tiết nghệ thuật yêú tố Nguyễn Khải ý Vì vậy, có nhiều người cịn khẳng định truyện ngắn Nguyễn Khải thiếu cốt truyện lắt léo, li kì, thiếu nhân vật sắc sảo truyện ông không nghèo chi tiết Chi tiết nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Khải chi tiết đơn giản sống hàng ngày, từ chi tiết bình thường đó, thơng qua nhìn sắc sảo, tinh tế nhà văn vào chiều sâu vấn đề mà ông quan tâm

Khảo sát truyện ngắn Nguyễn Khải, chúng tơi thấy có nhiều chi tiết hay đặc sắc Chi tiết nghệ thuật trở thành điểm mạnh truyện ngắn Nguyễn Khải chi tiết nhà văn xây dựng chân thực, sinh động, độc đáo, đặc biệt chi tiết tâm lý "Ở văn xuôi của ta có nhiều nhà văn miêu tả tâm lý giỏi, phân tích tâm lý

ai làm anh Khải Đi trước anh, mặt này, Nam Cao"

[2,tr.83]

Để thể đổi thay đời sống đại tội nghiệp đáng thương kiếp sống lệ thuộc vào người già, nhà văn ý đến "cái nhìn" nhân vật truyện ngắn Chúng và bọn hắn Nhân vật Tôi - nhà văn đứng tuổi đến chơi nhà người bạn Mỗi lần đến thăm giữ lại ăn cơm, lần "ngồi đến 10 30 chả

(50)

xem họ có mời khơng nào" "Khơng phải bữa cơm, cơm bụi Hà Nội rẻ

lắm" "chỉ muốn gây khó chơi, xem họ phản ứng nào, mà thay

đổi" Nhà văn sử dụng chi tiết thật đắt: "mà tội lắm, ơng liếc mắt nhìn

bà, bà cúi mặt đưa mắt nhìn tơi, lại nhìn chồng, người có lỗi Tơi nhìn

họ thích thú cách độc ác, có chuyện rồi, chưa hiểu chuyện gì". Những

cái nhìn trái ngược, độc ác, tội nghiệp, lật tẩy

Những xáo trộn sống len lỏi vào mối quan hệ, gia đình, người khiến cho bao gia đình tan nát lốc xốy đồng tiền thời buổi kinh tế thị trường Đàn bà truyện ngắn hay Nguyễn Khải viết tan vỡ mái ấm gia đình người chồng- cảnh sát hình sự, khoẻ mạnh, đẹp trai - tưởng có sống gia đình hạnh phúc với người vợ đẹp, đứa khôn niềm ghen tị bạn bè Vậy mà thiếu tiền khiến sống gia đình trở nên tẻ nhạt, buồn thảm Vẫn gia đình sống hai người hai giới Lạc lõng Trống rỗng "Từ năm nay, chị (người vợ) có gương mặt lạ, khơng vui, không buồn, không giận Như mặt tượng

Vừa vợ, vừa người lạ" Để lột tả chán chường, mệt mỏi, rã rượi

của gia đình ấy, nhà văn sử dụng chi tiết sống vợ chồng: "Cũng có đêm anh muốn yêu vợ đưa tay khẽ vuốt cánh tay vợ

Chị hất tay anh người ghê tởm, nói làu nhàu: "Ơng ngủ đi, tơi mệt

q" Có lần anh nhẫn nại, năn nỉ chị quay mặt phía anh, gương

mặt trắng xanh, ánh đèn đường chiếu vào, nói dửng dưng: "Ơng muốn

làm làm nhanh lên" Ai mà tin cặp vợ chồng đẹp đôi thế,

nằm cạnh năm mà không đụng vào da thịt ai" [19,tr.399]

(51)

ấy tạo nên hai tổ ấm khác Cuộc hôn nhân gia đình Lưu (người chiến sĩ cơng an) tan vỡ người vợ khơng thể chấp nhận sống khó khăn Trong đó, người vợ tên Tích híp lại sẵn sàng đứng che chắn cho chồng, tạo dựng niềm tin cho Từ chỗ Lưu cho rằng: "Đàn bà tham tiền, ham

vui cạn nghĩ cả", anh phải thay đổi cách nhìn mình: "Lời nói

dịu dàng, cung cách nhà gia giáo mà chịu làm vợ thằng đàn ông ngu

quá.Cũng có đàn bà ngu" (Đàn bà) Từ chi tiết

nhà văn Nguyễn Khải muốn nói với người đọc: giá hạnh phúc gia đình Cái tổ ấm để người đàn ơng tìm thấy bến bình n trở sau giơng bão ngồi đời phải gia đình, gia đình tạo dựng bàn tay đảm đang, nhân hậu đức hy sinh cao người phụ nữ

Cũng miêu tả hạnh phúc gia đình, truyện ngắn Nắng chiều nhà văn lại phát thay đổi tinh tế tâm hồn người già hồi sinh tình u Đó câu chuyện chị Bơ, bà chị họ, "năm nhận lời xuất giá vừa tròn bảy chục tuổi" Ngòi bút nhà văn thực cảm phục, xúc động, trân trọng, nâng niu hạnh phúc muộn mằn tuổi già Ông giỏi phát chi tiết trẻ thơ sống hồn hậu, ấm cúng đơi vợ chồng già: "Ơng anh rể lom khom ghế, gậy

kẹp trong đùi, vừa nhìn vợ làm cơm, vừa kể chuyện Đông Tây kim cổ, chuyện

vui chuyện buồn, giọng kể ngào âu yếm, bà vợ chạy lui chạy tới, quay trước quay sau, hai bàn tay không lúc ngưng nghỉ, lại

quay phía chồng, hỏi cách ngây thơ, cách nũng nịu: "Lại hở

ông ?" "Con người đẹp thế, tốt mà bạc phận ông nhỉ ?" [19,tr.250] Quả

(52)

Chi tiết tâm lí chi tiết chứa đựng cảm xúc, tâm trạng chiều sâu giới nội tâm nhân vật mà qua chi tiết đặc sắc đó, người ta hiểu tính cách, cảnh ngộ, số phận, tâm lí nhân vật chủ đích nghệ thuật mà tác giả muốn truyền đạt Truyện ngắn Ông cháu, Cái thời lãng mạn thể chi tiết tâm lí thật đặc sắc Đây bước chân người ông, tự cảm thấy già, yếu trở thành gánh nặng cho đứa cháu mồ cơi vừa tìm thấy việc làm chốn thị thành: "Ơng bước

chân nhon nhón, đi qng lại quay lại nhìn nó, miệng cười" (Ơng

cháu) Ai hiểu nỗi lịng cuộn giơng bão ông nỗi lo mai ông chết vật chết vạ phương trời xa lạ ! Đây giọt nước mắt chua xót đời người Khang ngày giỗ vợ: "Bưng mâm cơm cúng lên bàn thờ vợ, thắp nén nhang, chẳng kịp khấn khứa

đứng xi tay mà khóc, khóc cho vợ, khóc cho mình " (Cái thời lãng mạn)

Khơng có vậy, nhìn tinh tế, sắc sảo nhà văn cịn thể việc khắc hoạ nội tâm nhân vật Nhân vật người bố truyện ngắn Luật trời nhân vật điển hình Nguyễn Khải nhập sâu vào câu chuyện để cảm thơng với nỗi niềm đau đớn, dằn vặt đứa hiếu thảo: lần bị ông bố say rượu đuổi đánh, "vẫn chạy lần

ơng đuổi theo bị vấp ngã, ngã đau nên lại khơng dám chạy" để

sau đó, lỡ tay mà "giết" chết bố Ngịi bút nhà văn đào sâu vào giới nội tâm nhân vật chi tiết ám ảnh đầy day dứt Khi "đứa con gườm gườm nhìn bố, nói phụng phịu: Con nói thèm cá,

thèm mà" "Y vừa chạm vào nhìn hờn giận liền buông búa,

búa rơi xuống chân làm toé máu đầu ngón" Rồi đứa "quỳ xuống

lấy bàn tay bịt tia máu Y bừng tỉnh, hất mạnh tay ra, nói người

(53)

bẩy, nhìn thất thần kẻ trí" Khi y làm về,"dắt xe đến đầu

nhà, vừa nhìn thấy vung rìu bổ củi gộc, y liền quăng xe lao người lại Y

ôm chặt lấy con, giằng búa tay con, quẳng vào góc, nói líu lưỡi: "Khơng dùng rìu, bố xin đừng dùng rìu, bố sợ lắm, bố sợ" [19,tr.461] Rồi y ngồi rụi xuống chuối bị phạt " Hoá chi tiết "thèm cá", "chiếc rìu", "máu bố" ám ảnh tâm thức suốt đời dằn vặt, đầy đoạ hành hạ tâm trí ơng, đứa lỡ tay cầm rìu (để gạt đỡ gậy tre ơng tới) mà "giết' chết bố đẻ Với nhìn sắc sảo tinh tế nhà văn sâu vào giới nội tâm nhân vật để phát giằng xé, day dứt, đau đớn lương tâm cắn dứt không yên trước tội lỗi Và yếu tố quan trọng tạo nên sức hấp dẫn cho truyện ngắn Nguyễn Khải

Nguyễn Khải nhà văn thực tỉnh táo.Vì thế, sáng tác ơng miêu tả thiên nhiên Những trang miêu tả thiên nhiên truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi đếm dễ dàng Ít ỏi vậy, Nguyễn Khải có nhìn tinh tế với thiên nhiên Trong văn xuôi đương đại, thường biết đến sở trường số nhà văn khả miêu tả thiên nhiên như: Đoàn giỏi với thiên nhiên Nam Bộ, Kim Lân, Đỗ Chu với thiên nhiên làng quê Bắc Bộ, Nguyên Hồng với biệt tài miêu tả nắng Nguyễn Tuân với biệt tài miêu tả gió

Cịn Nguyễn Khải ? Từ truyện ngắn ông viết thời kỳ đầu, người đọc ngây ngất trước khung cảnh thiên nhiên mênh mông đầy chất thơ Mùa Lạc Đấy nông trường Điện Biên bao la với "màu xanh thẫm đỗ, ngô, lạc, màu xanh non mạ, màu đỏ

tươi ớt chín lấn dần lên màu nham nhở, man rợ khác đất

hoang " "Đầu thu với gió mát dịu bay lướt lên khóm

(54)

cây rau tàu bay, bơng hoa rền tía đỏ thắm hình tháp bút Mùa thu

hoạch lạc vào chặng cuối" Ở thời lãng mạn, nhìn tác giả

thiên nhiên mang thở, hồi sinh sống, thiên nhiên đầy sức sống Trong Tháng ba Tây Nguyên, thiên nhiên mang vẻ đẹp núi rừng hùng vĩ, rộng lớn, đậm chất sử thi

Ở truyện ngắn thời kỳ đổi mới, Nguyễn Khải thể nhìn sắc sảo tinh tế nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, thủ pháp nhân hoá thiên nhiên Nhà văn hồ nhập lịng với thiên nhiên, thổi linh hồn vào tạo vật biến chúng trở thành nhân vật hay thực thể tâm trạng nhân vật Chính mà thiên nhiên truyện ngắn Nguyễn Khải vơ gần gũi, bứng từ sống để đặt vào tác phẩm cách tài hoa Cái nhìn tinh tế giúp nhà văn soi chiếu vào thiên nhiên mà nhận hình ảnh tâm trạng người truyện ngắn Đất mỏ: "Cuối thu trời se lạnh tối tảng sáng, đất mỏ nồng nàn hương

vị quen thuộc cỏ cây, đất đá, than bụi mùi da thịt người Nắng và mây cuối mùa thu ngập ngừng, e ấp, thấp thoáng buồn lại thấp

thoáng vui" [19,tr.360] Hình ảnh "nắng mùa thu ngập ngừng, e ấp" thật đẹp,

vẻ đẹp vẻ đẹp nắng hay cô gái xuất gia đình buồn tẻ kia? Cịn tâm trạng "thấp thống buồn, thấp thoáng vui" nắng phải tâm trạng thành viên gia đình anh thợ mỏ Chỉ vài nét phác hoạ, ngòi bút Nguyễn Khải vẽ nên tranh tâm trạng người thật tinh tế

(55)

cuối thu, mùa đông ký hiệu tâm trạng để tiếp xúc với nó, người đọc gọi tên

Trong truyện ngắn Lạc thời, có đến hai lần nhà văn miêu tả thiên nhiên cuối đông thiên nhiên cảm nhận ông Trắc, dường lạnh lẽo, tê tái cả: "Giữa tháng chạp ta, trời tối sẫm ngày, mưa nhỏ ngày và gió lạnh thổi rát mặt ( ) Tiếng mưa gõ mái tôn nghe nặng mau, mặt đường tối sẫm bóng lống Những khóm tre làng bao quanh phố lùi có sương che Một đốm lửa phái xa đỏ thẫm lại, lửa một gia đình hạnh phúc ( ) Trời tối hẳn Mưa thưa dần tạnh Nhưng gió thổi mạnh buốt hồi chiều Ngày mai trời khơng mưa lạnh lắm, lạnh khô, da mặt, da tay chân sần lên,

nẻ ra" [19,tr.350-356] Vẫn biết mùa đông gắn liền với mưa phùn gió

lạnh Nhưng sống khơng khí đầm ấm gia đình hay người xung quanh, có lẽ buốt giá giảm nhiều Đối với ông Trắc - ông lão " lạc thời" dường "mùa đông năm lạnh

năm ngoái" Và lời dự báo "ngày mai trời khơng mưa

lạnh lắm", chứng tỏ thiên nhiên chứa đầy tâm trạng ông Cái giá

buốt, lạnh lẽo thiên nhiên phải lạnh lẽo, tái tê, trống trải lòng người?

Nguyễn Khải ln "đặt" nhân vật vào tình khó khăn để thử thách lĩnh nhân vật Vì vậy, mà nhân vật ông xuất vào mùa thu mùa đông - mùa buồn lạnh, vào buổi sáng sớm buốt lạnh Truyện ngắn Đời khổ ví dụ điển hình Cuộc "đời khổ" chị Vách nhà văn miêu tả chủ yếu gói gọn khu tập thể nghèo: "Lối vào khu tập thể đường đất nhỏ, bên hồ,

một bên trồng mía, trời mưa dầm phải tụt dép bấm chân mà đi" Chị Vách

(56)

như lẽ dĩ nhiên đời người phụ nữ Có lĩnh âý, chị vượt qua tất Vì mà thiên nhiên: "vừa mưa, vừa rét, nhầy nhụa tối

đen gió lạnh quất vào mặt roi đánh" chị Dường thiên

nhiên khắc nghiệt người cố gắng vật lộn với vượt lên

Thiên nhiên truyện ngắn Ông cháu, Mẹ con thiên nhiên khắc nghiệt Đó tháng cuối năm "mưa sập sùi ngày, trời

đất nhọ nhem" (Ông cháu) Thiên nhiên Nguyễn Khải mang đầy tâm

trạng, chứa đựng buồn người xa quê, xa người thân Còn Mẹ con nhà văn để bà Mão làm việc bối cảnh: "Trời bắt đầu vào

đông Nắng nhạt dần Gió lạnh dần Mặt đường khơ trắng" Vào

mùa bà lão không nhặt hoa đại mà khắp nơi nhặt dây tơ hồng, ngải cứu nhiều thứ khác để bán kiếm sống

Có thể thấy, thiên nhiên ngịi bút Nguyễn Khải thời kỳ đổi thường buồn, tê tái, khắc nghiệt, mang nỗi niềm tâm trạng Thiên nhiên buồn tẻ thường để nhân vật "đời khổ" nhà văn xuất Nhân vật buồn, thiên nhiên buồn, cộng với buồn lịng người làm cho tác phẩm ơng da diết nỗi buồn Nhưng nỗi buồn dù tê tái đến đâu khơng đè bẹp ý chí lĩnh họ Ông Trắc bộc lộ gắng gỏi mình: "Thời tiết có ăn nhằm với tơi Chết khó lắm" (Lạc thời)

Thiên nhiên truyện ngắn Nguyễn Khải không mang vẻ buồn, tê tái mà đơi lúc thiên nhiên cịn lên với vẻ đẹp thơ mộng Đó trang văn ông viết Hà Nội Sự tinh tế sắc sảo nhìn nghệ thuật Nguyễn Khải thể rõ nét đoạn miêu tả cảnh sắc thiên nhiên Hà Nội vào thu, vào xuân:

"Dạo vào cuối thu, mùa thu đẹp Hà Nội Đạp xe dọc

(57)

vừa có chút nắng vừa có chút sương gió thổi vào mặt lạnh Người như nhỏ lại, mặt đường rộng biệt thự ẩn vịm

cây trở nên cổ kính bí mật " (Nghệ nhân làng)

"Mùa xuân Hà Nội đẹp Với nhiều năm không

được sống Hà Nội vào mùa xuân lại thấy đẹp Một chút lạnh gió tạt qua mặt Một chút mưa bụi bay lây rây có khơng Trời tối, đường sẫm mặt người quần áo rét họ mặc sáng bừng lên

những sắc màu tươi tắn"

"Cảnh nhập vào thơ nhập vào hạ, gợi lên bâng khuâng khôn tả

người ngắm cảnh Phía xa có mảng tường cũ, lở lói cách cố ý, phủ lên lượt vẩy ốc xanh rì Một mai trắng, trời rét hoa nhiều, trắng tuyết, khơng có khơng cịn chút tục nào,

ngạo nghễ với gió bấc, Hàn mai" (Đất kinh kỳ)

"Những tiếng rao hàng ăn Hà Nội vào lúc mờ sáng lúc đêm xuống,

người giọng gắt, người giọng khàn, có giọng lại lảnh lót hát, cung bậc khơng có cách qn giọng Hà Nội thời thơ

ấu " (Một giọt nắng nhạt)

Đọc văn ông người ta cảm nhận sâu sắc hương vị Hà Nội mùa thu Cái se lạnh tiết thu, vàng rực chút nắng buổi chiều, sương gió Mùa thu đẹp, mùa xuân Hà Nội đẹp lung linh mưa bụi lây rây Chỉ có xa Hà Nội khao khát mãnh liệt trở với Hà Nội Nguyễn Khải miêu tả Hà Nội hay đến

2.3 Cái nhìn giàu tính phân tích

(58)

diện Cuộc sống nhìn nhà văn, đây, khơng cịn đường thẳng, nhất theo hướng mà toả muôn ngả với nhiều ngõ ngách quanh co Con người khơng cịn suy nghĩ chiều giản đơn mà tất thứ trở nên xù xì, góc cạnh biến hố bí ẩn Nguyễn Khải tập trung cao độ tâm lực vào việc trình bày trước người đọc chân dung sống đa chiều, phức tạp, phong phú, với "phía khuất mặt người", hay ngõ ngách sâu kín tâm hồn Xác định thế, nên nhìn nghệ thuật sống người Nguyễn Khải thời kỳ nhìn giàu tính phân tích

Vẫn dựa tảng vững nhìn thực tỉnh táo, sắc cạnh, có chiều sâu, năm đổi mới, nhìn giàu tính phân tích người sống Nguyễn Khải có phần thâm trầm, hồn hậu, thắm thiết yêu thương Cái nhìn xuất phát từ lịng tin yêu tha thiết gắn bó với đời Nếu trước đây, Nguyễn Khải quan tâm tới người mối quan hệ với trị, ông soi chiếu người thực từ góc độ: gia đình, nghề nghiệp người

trong mối quan hệ với thân nó Với nhìn giàu tính phân tích,

Nguyễn Khải nhìn sống người chiều sâu khám phá, với khát vọng kiếm tìm chân lý đời sống tầng, vỉa ẩn ngầm mà trước nhiều lý chúng chưa thể phát

(59)

Nguyễn Khải, người tìm thấy hồ hợp với thời thế, phải tìm cách ứng xử cho thích hợp

Trước hết ta bắt gặp lựa chọn người có nhân cách tự do, họ có đủ quyền để tự định số phận, đường đời nhân vật ông Ba Quốc Hội (Hai ông già Đồng Tháp Mười), ông Hai ( già chùa Thắm ông Đại tá hưu) Những nhân vật lão thành cách mạng thời xông pha lửa đạn, họ sống nào, lựa chọn cách sống cho phù hợp với hoàn cảnh đất nước ? Đó điều mà Nguyễn Khải quan tâm dành nhiều tâm sức phân tích, nghiên cứu

Cách sống ông Ba Quốc Hội (Hai ông già Đồng Tháp Mười) thật đáng khâm phục Những năm đầu sau giải phóng miền Nam, sống cịn bao bộn bề, khó khăn, khơng phiền tối Một người có cơng kháng chiến ơng Ba lại bị nghi vấn, bị gây khó dễ Giải phóng miền Nam, ơng trở q, lên trình diện xã "chẳng giấy má mà khơng khai báo hết" Bị chủ tịch xã hăm lăm, hăm sáu tuổi vặn, hăm doạ, chí ức hiếp, bà vợ ơng uất ức bảo ơng trình giấy nói thật cơng lao với cách mạng ông lại nghĩ khác "làm việc cho cách mạng nghĩa vụ đời,

theo lương tâm không cốt làm để mai kể công, hưởng lợi"

[21,tr.153] Một nhân cách thật đáng trân trọng Nhà văn ca ngợi ông: "Cái tiềm lực tinh thần ông già lớn thật Người mạnh rẽ

sóng, rẽ gió mà đi, có tai hoạ rủi ro dám bén mảng Thoạt nghe tưởng có số may, nghe ngẫm nghĩ người thật mạnh tạo cho

mình may mắn đến có" [21,tr.153]

(60)

Viết lựa chọn người bình thường, Nguyễn Khải thấy họ nhân cách sống đẹp đẽ Trước thay đổi thời thế, họ sống hợp thời mà không xu thời Nhân vật Hiền (Một người Hà Nội), Bà cô (Nếp nhà), người vợ nhà văn Trần Dần (Người vợ) , người phụ nữ đáng để ta nể trọng Họ vượt qua hỗn tạp, xô bồ sống để khẳng định ổn định nếp gia phong vững bền

Bà Hiền (Một người Hà Nội) người phụ nữ nhạy cảm, thức thời Người phụ nữ xinh đẹp, khôn khéo nhạy bén với thời lại chọn cho người chồng ơng giáo tiểu học Khi kháng chiến chống Pháp kết thúc, đất nước bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, bà nhận thức rõ: "Chế độ khơng thích cá nhân làm giàu, cần họ đủ ăn, thiếu ăn

chút hay, thiếu ăn vinh không nhục nên tao cần đủ ăn" [21,tr.189] Sau tiễn lên đường trận, bà hiểu rõ trách nhiệm đất nước thời đại mới: "Tao muốn sống bình đẳng với bà mẹ khác, sống cả, chết cả, vui lẻ có hay

hớm gì" [21,tr.192] Ở tuổi 70, nhìn đa cổ thụ trước đền Ngọc Sơn bật rễ

vì bão, bà nghĩ đến điều xấu, đến thời Bà hiểu rằng: "Với người già, ai, thời qua luôn thời vàng son Mỗi

hệ có thời vàng son họ" [21,tr.198] Phải có tâm hồn lạc quan,

khoẻ khoắn có đựơc suy tư sau bao trải nghiệm

Bà (Nếp nhà) tạo dựng cho gia đình nếp vững chãi Bà người biết giữ gìn êm ấm hạnh phúc gia đình "cảng trong

cơn bão" mà biến động xã hội lay chuyển Chị Khuê

(61)

sướng mãi, không khổ mãi, miễn phải ăn học" Tất tần tảo chồng Sự hy sinh dường thiên tính người phụ nữ

Trong cách nghĩ Nguyễn Khải, người có cách lựa chọn đắn họ biết sống với đời thường, sống cho mình, cho người thân Đó cách sống đắn phù hợp với thời đại mà không vị kỷ cá nhân Thể vấn đề đó, nhà văn nhìn người tính đa dạng, tồn vẹn đời sống xã hội

Cái nhìn giàu tính phân tích ngịi bút Nguyễn Khải cịn soi chiếu đời, số phận "người gặp ngày" mối quan hệ gia đình Với Nguyễn Khải, viết số phận, mảnh đời bất hạnh cần cảm thông trở thành niềm trăn trở, có lần tác giả bộc bạch: "Cuộc đời người bé nhỏ với nỗi buồn, lo lắng vặt vãnh ám ảnh tôi suốt đời Cho đến tận số phận bất hạnh, đời ngang trái, trớ trêu nhiều cảnh ngộ quyến rũ Bởi

đó tơi gặp lại tơi, gặp lại người thân thiết tôi" [41]

Ở giai đoạn trước nhà văn quan tâm nhiều đến số phận, hạnh phúc người lao động chị Đào, bé Tấm, cô Thoa Cuộc đời họ thực hồi sinh sống mơi trường tập thể lành mạnh, giàu lịng nhân người lao động Ở truyện ngắn thời kỳ đổi mới, tác giả quan tâm đến số phận, hạnh phúc người nhiều dạng khác nhau: có số phận nạn nhân đáng thương hoàn cảnh, họ rơi vào bi kịch gia đình tan vỡ, buồn tẻ; có số phận vượt lên hoàn cảnh để tự khẳng định lĩnh đời

(62)

đây - đất kinh kỳ - mong kiếm việc làm, tìm sống cho thằng cháu nội Người ơng tương lai đứa cháu mà chọn cho cách giải đau đớn Sự người ông lúc bệnh nặng, tiết trời đông lạnh giá thể hy sinh cao thượng người thân Hình ảnh đứa cháu trai chiều đến lại nhìn phía cửa qn ngóng ông, nhiều đêm chờ đợi khắc khoải, tiếng gọi "Ơng ơi"chìm vào mênh mơng đêm tối trở thành nỗi ám ảnh day dứt lịng người

Giống ơng lão, bà lão Mẹ con chịu số phận Bà Mão phải sống "vòm cửa nhà quan", phải tự mưu sinh nghề bán thuốc nam cho hàng mua dược liệu Bà có đứa thành đạt tay bà ni nấng cơng việc qt rác Nhưng bà khơng muốn ni bà, chúng tìm cách đẩy bà quê sống lý đơn giản: Trước bà quét rác, chúng sợ sống làm ảnh hưởng đến cháu Mặc dù bị đối xử vậy, bà luôn nghĩ đến con, đến cháu: "Sống không lo cho cho cháu

sống để ăn hại giời ? Sống tơi chả thiết" [19,tr.427]

(63)

người, rõ chán" Giữa hai người, bên vợ bên mẹ, Dũng dung hoà hai Anh phản ứng hời hợt Giải pháp tiêu cực cho gia đình bà Tuất quê sống với nghề làm tương

Gia đình bà Tuất, bà Mão gia đình hai ơng cháu gia đình thuộc nhiều hệ Có thể mà khó dung hồ Thực tế, để dung hồ mối quan hệ người cần bỏ chút thói ích kỷ người sống hạnh phúc Nếu vợ Dũng tôn trọng mẹ chồng chút, có lẽ bà Tuất sống an nhàn - điều hạnh phúc người già Nếu bà lão nghĩ đến cơng ơn sinh thành dưỡng dục mẹ chúng khơng đối xử với bà Mão Nếu dâu ơng lão mở rộng lịng ra, ơng ni dạy đứa cháu khơn lớn san sẻ gánh nặng sống ơng lão đưa đứa cháu tận chốn Hà Thành kiếm ăn Miêu tả đời, số phận mối quan hệ người mối quan hệ gia đình, nhìn giàu tính phân tích, Nguyễn Khải đặt nhiều vấn đề đời sống, gợi suy ngẫm người đọc người sống

(64)

cái, có phải dóc thịt ni chẳng từ Chứ mẹ biết lo cho thân

mẹ chả hố nước chảy ngược à" [19,tr.428] Lời nói bà lão

triết lý muôn đời sống

Cái nhìn giàu tính phân tích nhà văn soi chiếu để phát lĩnh sống tiềm lực tinh thần người tâm chống lại hồn cảnh Đó người vượt lên thử thách, đứng vững sống, nhân vật tác phẩm: Một bàn tay chín bàn tay; Cặp vợ chồng chân động Từ Thức

Trong Cặp vợ chồng chân động Từ Thức, Nguyễn Khải viết gia đình thương binh nghèo, ln bị đói ám ảnh Đó gia đình anh thương binh Tồn, chồng bị mù hai mắt, vợ y tá buộc phải nghỉ hưu Họ có ba đứa thơ Ấy mà tiếng cười thấp thống mơi họ, khơng khí vui vẻ diễn ngày Hạnh phúc cách sống, quan niệm sống, hy sinh, chia sẻ hết lịng yêu thương Cái vững xây dựng hạnh phúc gia đình đơn sơ, mộc mạc lâu bền Chính hạnh phúc động lực giúp hai vợ chồng vượt qua khó khăn đời

(65)

con đẹp đẽ tuổi xuân họ qua Ngắm nhìn hạnh phúc gia đình ấy, nhà văn thức ngộ lẽ sống đời lên: "Cứ nhìn xem hai thân xác bị đốt cháy, bị băm nát, đợi thành bọ, thành bùn mà hồi sinh được, làm cho trở thành dịng giống mình, nghiệp tình u khơng

dễ quên" [19,tr.349]

Trong sáng tác Nguyễn Khải, ta thấy nhà văn dành tình cảm trân trọng cho người khơng cam chịu chấp nhận sống tù túng, quẩn quanh, tẻ nhạt Cô Lượm truyện ngắn Đất mỏ người không chấp nhận sống quẩn quanh, đơn điệu Cơ nhờ gia đình người thợ mỏ, sống gia đình họ lặng lẽ, buồn tẻ, người gia đình biết sống lặng im bóng Một ngơi nhà tẻ ngắt buồn, vì: "Là gia đình khơng có vui buồn

chung, khơng có tính tốn chung nên khơng có câu chuyện chung"

[19,tr.359] Khi Lượm với gia đình người thợ mỏ, đem đến luồng gió mát cho thành viên gia đình: "Bà cụ lại nhẹ nhàng, nói cười ln miệng ( ) Ơng cười nói tự nhiên, khơng bị cụt hơi, khơng thở gấp và bắt đầu hay nói ( ) Anh thở dài nhỏ, nước mắt muốn ứa ra, vì

đã nhớ rồi, lo sợ rồi, khơng trở lại nữa"

[19,tr.363] Mặc dù Lượm không muốn xa gia đình người thợ mỏ, xa người trai Nhưng "em không thể, anh Em chưa yêu

em u anh, khơng thể làm vợ anh" [19,tr.367] Bởi

sống đây: "mọi vui buồn biết trước, giống hệt

người trước. " Cô không muốn "đưa đầu vào cạm bẫy êm ái,

ngào tổ ấm hạnh phúc chuẩn bị sẵn" Vậy Lượm muốn

gì ? Cơ "muốn đến vùng đất mới, sống hoàn cảnh mới, tự

(66)

"Với phụ nữ, lựa chọn có lần Lầm lỡ lần

đời phó mặc cho may rủi, cho số phận" Điều giải thích cuối tác

phẩm, Lượm định khỏi gia đình Cơ ý thức nhàm chán sống nơi Cơ khơng muốn bó nhàm chán

Tiến sĩ Văn học Nguyễn Thị Bình khẳng định: "Chỗ khác người người Nguyễn Khải khơng quan tâm "tính vấn đề", "nghĩ vấn đề " Điều quan trọng nằm chỗ ơng biết nhìn "vấn đề", nơi người

khác thấy" [4,tr.133] Quả là, Nguyễn Khải gây người

đọc ngạc nhiên, thú vị thán phục tài phát "những vấn đề ẩn

sau sựvật, tượng tưởng thật quen thuộc" Tầng lớp trí thức nhà

văn, nhà báo xuất trang viết Nguyễn Khải với suy tư, trăn trở đấu tranh gay gắt tư tưởng trước thời để khao khát giữ tâm thiện, giữ nhân cách dòng đời nhiều nghịch lý Vấn đề người trí thức mối quan tâm nhiều tác Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng Bởi họ trí thức "như thước đo của dân trí văn hố, trở thành nơi gửi gắm thích hợp tự ý thức văn học" [34,tr.223] Viết người trí thức, Nguyễn Khải thường ý đến lựa chọn đường họ trước biến chuyển thời

Nhà văn từ chỗ dự cảm tính phức tạp đời sống đến chỗ ý thức rành rõ người lạc thời Cái nhìn giàu tính phân tích nhà văn phanh phui vào khía cạnh đời sống xã hội tượng lạc thời

(67)

(Lạc thời), nhà văn Hạnh (Phía khuất mặt người) Đi sâu vào số phận, nhà văn muốn lý giải, truy tìm ngun nhân lại có tình trạng

Tú (Một thời gió bụi) ln cảm thấy người thừa qua thời miệt mài, lăn lộn với nghề Cùng lúc Tú cảm nhận "người thừa" quan gia đình Bởi thế, Tú bế tắc, anh xin nghỉ hưu non để bảo tồn lịng tự trọng Nhưng nói chuyện với vợ con, anh thực thấm thía tình bi kịch mình: "Vợ anh chép

miệng: đến tuổi nghỉ đâu mà xin nghỉ, nhà ông làm gì ?"

Con trai anh nói với bố: "Người ta buộc phải cịn chẳng chịu về, bố lại

xung phong trước, làm chẳng khen đâu!" Tú nói muốn giãi bày

tâm với con: "Anh em họ khơng cịn thương lại làm qi " Con trai Tú nói: "Ở đời phải làm cho người ta sợ mình, cần

đừng mong họ thương Thời làm có chuyện tình cảm mà yêu với

thương" Tú hỏi: "Chuyện vợ chồng thếà" Con trai: "Cũng thế, mà

không kiếm tiền vợ chạy theo thằng khác ngay"

[16,tr.56] Làm người Tú chấp nhận thật này, anh rõ ràng bác bỏ lý lẽ đứa Cuộc sống hưu trí bên cạnh vợ thật vơ nghĩa Vợ tất bật suốt ngày kiếm tiền Tú chẳng biết làm Với ý định quê sống, Tú trở lại mảnh đất mà lâu anh ấp ủ giấc mộng đẹp đẽ bình dị, yên ả Nhưng vài ngày sống quê anh hiểu tất Những giá trị bền vững từ xưa mảnh đất đâu Nghĩa tình bao giá trị văn hố truyền thống bị chi phối đồng tiền

(68)

Nhà báo già nghĩ: "Ở quê, người ta sống với tình nghĩa

khơng tiền", ông em họ "mở mắt": "Ở nhà quê quanh năm

túng đói thấy có đồng tiền to thơi" Tú đau đớn, xót xa trước giá

trị tinh thần, đạo đức bị xói mịn: "đền miếu tan hoang", cháu "vặt cảđầu

tiên tổ để lấy vàng" Niềm tin vào giá trị truyền thống Tú bị lung

lay tới tận gốc nhanh chóng ném trả Tú vạch xuất phát Anh lựa chọn lần, lại phải lựa chọn lần Bước dừng cuối Tú gia đình, vợ con: "Tơi lịng chứ, tuổi tơi ngồi khơng chóng chết Tơi

sẽ xin chân chạy bàn" [16,tr.76]

Cũng kẻ bị lạc thời ơng Trắc (Lạc thời) lại có tâm trạng, nỗi khổ thật khó giãi bày Ơng tự minh oan cho ý nghĩ phân bua, tự nhìn lại, tự đánh giá lại nói, làm, phải trải qua bữa tiệc hôm Cảm giác bị xúc phạm, bị bỏ quên, bị lạc thời khiến ông cảm thấy cô đơn sống đồng loại Đau đớn ghê sợ bị đồng loại hiểu lầm, nhân phẩm bị hạ thấp, ơng Trắc tê tái, thấm thía hết: "Chỉ chuyện bữa hôm qua làm tôi chết nửa người Chỉ có lạnh nhạt, trống vắng xung quanh có

thể giết chết tơi thơi" [19,tr.358]

Hồn cảnh "cơn gió lạ" làm lung lay tới tận gốc rễ "gia

đình nhỏ bé vững chắc" Tần (Đổi đời) Gia đình vốn yên ấm Tần

nay bị chao đảo, có nguy tan vỡ trước đợt sóng ngầm Thủ phạm đồng tiền thời kinh tế mở cửa Vợ anh lao vào vịng cám dỗ đồng tiền Nếu nói vợ Tần tha hố Tần phải chịu trách nhiệm tha hố ấy, họ khổ, họ mong "đổi đời" mà anh "khơng làm trịn tráchnhiệm làm cha làm chồng" Tuyệt vọng, bất lực, anh

(69)

trong năm qua" cuối giết để kết thúc câu chuyện Một người chồng, người cha lương thiện muốn trở thành kẻ sát nhân Bi kịch Tần kéo theo nỗi đau nhức nhối khôn tả: để tồn tại, người phải chấp nhận xấu, khơng thể chấp nhận phải từ bỏ nhân tính, có nghĩa từ chối tồn Hoá "tội ác gần gũi quen thuộc chúng ta nghĩ nhiều Nó có khả thâm nhiễm tiềm phục tận đáy

sâu tiềm thức ( ) Khi có hội, thường bất ngờ" [34] Sự lựa chọn

của Tần liệt bế tắc

Còn Tú truyện ngắn Người nghề rơi vào bi kịch lạc thời Tú người có ý chí, tha thiết với nghề văn, khát khao "viết vài sách để

lại với đời" Nhưng văn chương, nói Nguyễn Huy Thiệp lại thứ "lỡm

người bạc phúc" Từ làm phóng viên tờ báo trung ương, Tú

"đi chăm, đọc nhiều, viết nhiều mà chưa có

dùng cả", đơn giản viết văn khơng phải sở trường Tú Vốn "tháo

vát", "thích quan tâm có nhìn nhạy bén nhu cầu trần tục

gian này", cộng thêm "cách giao tiếp" "tự nhiên", "thân tình", Tú tỏ có tài

làm cơng việc hành chính: "Trong giới vật chất, Tú ngun sối, trí tuệ sáng láng, hành động táo bạo, nói sắc bén Nhưng bước sang

thế giới trừu tượng của triết học, văn học có mặt anh luôn

là người thừa" [14,tr.410] Khi Tú đinh ninh giá trị

đối với bút tập tọng vào nghề ngờ đâu mắt anh bạn viết trẻ Tú "một kẻ vô danh tiểu tốt" Người anh "dạy dỗ" văn chương nói toạc vào mặt anh thật phũ phàng: "Mấy ơng làm

hành hiểu chó nào được!" Nhiều người nghề nhận

xét: "Tú không trở thành nhà văn Trời sinh Tú

để viết văn mà để làm việc khác có cịn ích lợi văn chương nhiều "

(70)

trong địa hạt đẹp, sáng tạo nghệ thuật Cái định sáng suốt từ bỏ mơ ước trở thành nhà văn để làm sở trường mình, phần Tú nhận học từ bà Tuất (mẹ Dũng, hàng xóm Tú)

Nhìn chung, nhân vật trí thức Nguyễn Khải thể nhận thức, suy ngẫm thân, thời lựa chọn trước hồn cảnh để có thích ứng với Nét chung tầng lớp trí thức truyện Nguyễn Khải mặc cảm lầm thời, lạc thời khơng mà trở thành kẻ hèn Họ ln tìm cách vượt lên hồn cảnh để có thích ứng với Và ta nhận thấy, dường trăn trở, nỗi day dứt nhân vật trí thức hình bóng xa gần, suy tư chiêm nghiệm thân tác giả Nguyễn Khải

Viết tâm trạng đơn, người thừa gia đình hay cộng đồng, Nguyễn Khải thể nhìn giàu tính phân tích Đi sâu truy tìm ngun nhân khiến người rơi vào tình trạng lạc thời, Nguyễn Khải thể nhìn khơng đơn giản thực Soi chiếu qua số phận cá nhân, thực vừa cụ thể vừa sống động vừa phong phú, phức tạp nhiêu

(71)

Chương

GIỌNG ĐIỆU VÀ SỰ TỰ THỂ HIỆN CỦA TÁC GIẢ THÀNH HÌNH TƯỢNG

3.1 Giọng điệu trần thuật - nét đặc sắc hình tượng tác giả truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới

Trong tác phẩm tự sự, giọng điệu trần thuật có vị trí quan trọng, "cần thiết cho xếp liên kết yếu tố hình thức khác nhau, làm cho

tác phẩm có âm hưởng, khuynh hướng Giọng điệu thiết kế mối quan hệ, trình độ, lập trường tư tưởng, tình cảm người kể

chuyện với hình tượng, kiện miêu tả" Giọng điệu

thái độ, tình cảm nhà văn vật, tượng miêu tả tác phẩm mà người đọc cảm nhận qua sắc thái biểu cảm lời văn

Bất kì nhà văn sáng tạo tác phẩm mong muốn tạo phong cách nghệ thuật riêng Giọng điệu trần thuật góp phần tạo nên phong cách nghệ thuật nhà văn có tác dụng truyền cảm cho người đọc Như vậy, có giọng điệu phù hợp giúp câu chuyện sinh động thể sâu sắc lý tưởng thẩm mỹ nhà văn

"Sức chinh phục truyện ngắn Nguyễn Khải năm gần

phần đáng kể nghệ thuật kể chuyện, giọng điệu trần thuật một yếu tố quan trọng làm nên sức hấp dẫn sáng tác tự

sự nhà văn" [39,tr.122] Những truyện ngắn thời kỳ đổi Nguyễn

Khải đạt nhiều thành công phần nhờ giọng điệu trần thuật hấp dẫn Đó giọng văn "vừa tự nhiên, vừa duyên dáng, hiền hoà thục" [13,tr.59]

(72)

người sống hồ bình sau hàng chục năm chiến tranh, mặt khác phải tiếp tục đấu tranh vũ trang chống xâm lược Một thời kỳ văn học thế, tất nhiên phải khai thác vào nguồn tình cảm lớn nhất, tha thiết nhất: "Lịng u nước, căm thù giặc, tình đồng chí, tình qn dân" [23,tr.31] lẽ đương nhiên, văn xi giai đoạn có quán giọng điệu Đó giọng khẳng định, ngợi ca với thái độ tin tưởng, lạc quan bao trùm hầu khắp tác phẩm tác giả Sáng tác Nguyễn Khải nằm mạch chung ấy, nhà văn tạo cho chất giọng riêng vừa say mê ngợi ca khẳng định, vừa lạnh lùng tỉnh táo phê phán, lại vừa có chất riêng suy tư luận

Sau 1980, chiến tranh qua đi, nhịp sống đời thường trở lại, người trở với hối hả, bon chen sống đời thường Từ văn học mang tính độc thoại chuyển sang đối thoại với bạn đọc vấn đề sống, văn học không ngợi ca mà cần phải có đối thoại, biểu mối quan hệ bình đẳng nhà văn độc giả Và Nguyễn Khải nhà "nghiên cứu đời sống" tạo nên nhiều đối thoại lý thú tác phẩm

Chất liệu thực đời sống ngổn ngang, bề bộn tìm thấy giọng điệu trần thuật Nguyễn Khải phương thức thể phù hợp Nhà văn nhìn sống qua lăng kính đời tư - sự, quan tâm đến người tư cách cá nhân nên giọng điệu trần thuật ông mang tính bình đẳng, đặc biệt tính nhiều giọng điệu "Ngôn ngữ Nguyễn Khải giàu chất sống,

chất văn xuôi ngôn ngữ thực Đặc biệt tính chất nhiều giọng điệu"

(73)

chuyện với nhiều sắc thái âm điệu khác nhau, hoà trộn, đan xen, tranh cãi

đối đáp, tạo dựng lối văn tiểu thuyết đa đại" [40] Giọng điệu

trần thuật truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi góp phần hình thành nên phong cách văn học - phong cách Nguyễn Khải

Sau đây, tìm hiểu giọng điệu trần thuật truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới: giọng điệu xót xa, cảm thơng chia sẻ; giọng điệu hài hước, hóm hỉnh, tự trào; giọng điệu tranh biện giọng điệu chiêm nghiệm, triết lý

3.1.1 Giọng điệu xót xa, cảm thơng chia sẻ

Từ truyện ngắn trước 1975, văn chương Nguyễn Khải thể giọng điệu xót xa, cảm thơng chia sẻ Đến truyện ngắn sau 1975, giọng điệu thể rõ nét Với nhìn trải, đầy chiêm nghiệm, nhà văn xót thương cho người có số phận bất hạnh, người lương thiện chịu nhiều thiệt thòi, người thời cống hiến cho cách mạng hưu, khơng cịn nhân vật quan, bạn bè, đồng nghiệp Giọng điệu xót xa, thương cảm thể qua tác phẩm: Lạc thời, Sống đám đông, Cặp vợ chồng chân động Từ Thức, Một bàn tay chín bàn tay, Ơng cháu

Có thể nhận thấy rõ giọng điệu truyện ngắn Nguyễn Khải ông viết người lương thiện chịu nhiều thiệt thòi sống Trong truyện Cặp vợ chồng chân động Từ Thức, giọng điệu xót xa, thương cảm thể lời người kể chuyện đời hai vợ chồng anh Toàn Anh Toàn bị mù, sống gia đình dồn hết vào đơi vai người vợ Bao nhiêu khó khăn sống vợ anh gánh vác: "Đẻ ba bận, ốm, chồng đau, việc đồng, việc nhà, việc họ, việc làng, tính tốn cơng nợ, tính tốn no đói, chị phải cắn

(74)

người vợ: "Mười lăm năm làm vợ, làm mẹ, phải nuốt buồn

tủi, cay đắng" Nhưng bù lại chị có gia đình hạnh phúc Nhà

văn dành tình cảm thương yêu, cảm thơng chia sẻ với vợ chồng anh Tồn: "Tơi bưng bát cơm gạo xấu lên mà lịng ngậm ngùi Những người giàu lòng tự trọng, lại có tính hay xấu hổ sống gian trn Nhưng khơng có người gàn dở ấy, số phận gặp

may mắn đời nhạtnhẽo biết chừng nào" [30,tr.288]

Kết thúc chiến tranh, người chiến sĩ Một bàn tay chín bàn tay may mắn trở về, thể anh khơng cịn ngun vẹn: "Cái mảng thịt

bầy nhầy với hốc mắt, hốc mũi, lỗ miệng đầu người tan

rữa lịng đất vừa móc lên" Giọng điệu xót xa nhà văn diễn

tả nỗi đau người lính chia tay với người bạn gái gặp lại người mẹ mình: "Lần anh biết nỗi buồn đáng sợ, buồn đến xé ruột xé gan, không chết sống ( ) Mẹ anh nhon nhón tới Anh ngồi im, mồ hôi vã kẻ bước lên đoạn đầu đài Anh chịu nhát chém không chịu tiếng

khóc, tiếng kêu mẹ" Dường Nguyễn Khải vừa viết vừa cố ghìm lịng

mình lại, phía sau trang giấy nỗi xót xa thương cảm trào dâng Hai người bị tàn phá chiến tranh xây dựng gia đình hạnh phúc ấm no Ngắm nhìn cặp vợ chồng hạnh phúc ấy, nhà văn "đột nhiên

thức ngộ": "Cứ nhìn xem, hai thân xác bị đốt cháy, bị băm nát,

còn đợi thành bọ, thành bùn mà hồi sinh được, làm cho trở thành dịng giống mình, nghiệp

một tình u khơng dễ qn" [19,tr.349]

(75)

họ, Nguyễn Khải cảm thông chia sẻ nỗi đau khổ nhân vật Trong Ông cháu, người đọc dễ nhận giọng điệu xót xa, thương cảm nhà văn ơng miêu tả hai ơng cháu ăn xin nghèo khổ Đó dòng độc thoại nội tâm nhân vật người ơng trai chết: "Tại ơng khoẻ thế mà ông lại bệnh tật ? Tại ông không chết mà ông lại chết

để vợ chịu cảnh gố bụa sớm ? Tại ông nghèo thế " Niềm thương

cảm tác giả gửi gắm câu văn: "Bữa ăn ơng nuốt nghẹn, hết nghẹn đến nấc, mặt tím bầm, nước mắt ứa giàn giụa Mẹ lườm bố chồng lại cắm cúi ăn Cịn vừa ăn vừa nhìn trộm ơng nó,

muốn khóc thương ông quá" [19,tr.313] Và cậu bé, lẽ tuổi mười ba

em học, vui chơi bạn khác, mà tác động đời làm em lớn hơn, chín chắn từ suy nghĩ đến hành động, em sung sướng có cơng việc để "ni ơng khơng để ơng phải điăn xin" Nhà văn đem đến nhìn nhân cách lựa chọn người

ông cuối truyện, lựa chọn đau đớn, nhức nhối, bên cạnh "niềm vui cho, hy sinh"

Cịn giọng xót xa, nghe chị Vách (Đời khổ) kể đời Dõi theo đoạn đời chị Vách, người kể luôn ngạc nhiên khâm phục sức chịu đựng, hy sinh người khác chị: "Chị khơng có ý thức tồn làm thơi, làm mệt nhọc,

đến ốm đau, đến nguy hiểm" [19,tr.273] Ẩn sau lời văn chua

(76)

chúng đâu đến nỗi Tôi nôn miếng xôi ra, cổ họng tắc nghẹn lại,

chính tơi, tơi muốn bật khóc" [19,tr.277]

Giọng điệu trần thuật truyện Lạc thời, Sống đám đông, cảm nhận đến tận nỗi niềm, tâm trạng người lạc thời xã hội tại Lạc thời truyện ngắn thể rõ nét giọng điệu xót xa, thương cảm nhà văn Nguyễn Khải Trên trang truyện ngắn, tâm trạng nặng nề, chua chát, đau đớn, thấm đẫm nỗi buồn, cô đơn nhân vật trở trở lại Đó nỗi buồn khắc họa khuôn mặt ông Trắc: "Gương mặt tạc buồn, thất vọng, nhiều chán chường cam chịu Gương mặt tháng chạp Một đời

người kết thúc" [19,tr.350] Giọng điệu xót xa, đau khổ, tê tái thấm đẫm

trong suy nghĩ nhân vật, dòng độc thoại nội tâm đầy trăn trở: "Có nỡ đối xử với ơng ngày vừa rồi, ngày thật buồn, lần đầu ông nhận mặt thừa mình, lời nói thừa, chỗ ngồi chỗ đứng hồn tồn thừa Khơng cần đến ông cả, không

muốn có mặt ông bàn tiệc đãi đằng bạn bè họ" [19,tr.351] Nỗi

đau tê tái thấm vào lời văn, có lúc tiếng nấc ốn: "Nhưng mà họ quên Tôi ngồi sờ sờ họ muốn quên, lời mời cho tử tế chẳng có Vì quen biết tôi, bầu bạn với vị chả chút lợi lộc Tơi khơng có tiền, lại khơng có danh, có cịn gây phiền

Buồn ? Tôi buồn người !" [19,tr.356] Đọc đoạn văn,

(77)

cửa để đón chồng lần cuối Hai anh em cáng bố hôn mê đặt lên giường của bố mẹ Bà quỳ bên giường nhìn chằm chằm vào gương mặt vàng như sáp chồng, ruột đau xé khơng khóc Ông cựa mình, mở mắt ngước nhìn lơ láo, gọi nhỏ: "Mình ơi!" Rồi ơng tắt thở ln Suốt năm bà sống với giây phút vĩnh biệt giờ, nửa đêm thức giấc lại nghe có

ai gọi "Mình ơi!" ". Đấy đoạn thơ tình yêu thắm thiết sâu sắc

Đứng trước cảnh đời, số phận, niềm vui hay nỗi buồn nhân vật, giọng văn người kể bộc lộ niềm xót xa, cảm thông chia sẻ Gặp ông Hai (Hai ông già Đồng Tháp Mười) dáng vẻ e ngượng, nép trước người, tác giả "trông người mà ngẫm đến ta", lại ngậm ngùi nhớ đến cảnh phải sống đời ăn gửi nằm nhờ thuở nào, lại thương thương cho nhân vật: "Tơi đói, bữa ăn nấu ngon không tài nuốt nổi, có tuổi thơ đó, thương chút

nhưng thương người nhiều hơn" [12,tr.87] Giọng điệu người kể

không khỏi ngậm ngùi, xót xa: "Lúc khơn ra, hiểu ra, tỉnh già rồi, làm lại khơng nên buồn, buồn giận, giận khơng giận đời"

Khảo sát truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới, nhận thấy: Khi viết số phận người trước xáo trộn thời thế, nhà văn thực xót xa, thương cảm Thương cho người, thương cho đời thương cho Khơng phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Khải sử dụng nhiều từ "buồn" để diễn tả tâm trạng người trước đổi thay thời Trong nhiều truyện ngắn thời kỳ đổi nhà văn, bắt gặp nhiều từ "buồn" Nhân vật buồn, người kể chuyện buồn nỗi buồn giăng mắc khắp truyện ngắn Nguyễn Khải

- Chỉ buồn No ăn mà buồn Không phải lo nghĩ mà lại buồn Ngày

(78)

đi nhiều khơng có bất ngờ, may rủi, khơng có thăng trầm

- Chuyện xã N buồn thế, nghĩ cho chẳng có đáng

để buồnbuồn cho thân phận riêng mà Bởi

một đời người ngắn (Anh hùng bĩ vận)

- Rồi cậu xem, kết thúc câu chuyện ba xác chết Nghe khơng

thể tin mà hố chuyện xảy ra Buồn (Đổi đời)

- Một khoảng thời gian đủ dài để gói gọn chiến tranh, nhiều

đời người, nhiều buồn vui thay đổi mối quan hệ

Như sang hẳn kiếp khác

- Lúc khôn ra, tỉnh ra, hiểu già rồi, làm lại không được, nên

buồn, buồn giận, giận khơng dám giận đời.(Cái thời lãng mạn)

- Bây người ta nhắm rượu với lợi danh thôi, với người

sang người có tiền thơi Tơi nói có khơng vị ? Buồn ?

Tôi buồn người ! (Lạc thời)

- Mới mười năm mà hai kiếp người! Buồn nhỉ! Năm

ấy tơi bốn chục tuổi thống cảm nhận buồn

đời người Tất nhiên chỉ buồn thoáng, linh cảm mà buồn

chua phải trải mà buồn (Một chiều mùa đông)

- Mọi lứa tuổi có vui buồn riêng, khơng hồn toàn giống

nhau Những buồn vui tuổi trẻ hướng tương lai ( ) Mình buồn

mình chết, khơng cả, buộc gái phải buồn theo để lỡ vận

may, san sẻ với khổ sau ( ) nghĩ chuyện buồn

nhưng lại không buồn ( ) Mãi lâu sau tơi hiểu, khơng

cịn để buồn, để lo, để hy vọng chữ nghĩa héo dần, chết dần (Bạn

(79)

Bằng giọng điệu xót xa, chứa đầy nỗi niềm suy tư, nhà văn kéo người đọc lại gần để tâm sự, giãi bày, chia sẻ Mọi người đọc cảm thấy có đó, khoảng cách nhà văn độc giả rút ngắn 3.1.2 Giọng điệu hài hước, hóm hỉnh, tự trào

"Đọc truyện ngắn gần Nguyễn Khải, người đọc quên

được phong vị hài hước có duyên thấm giọng điệu trần thuật ơng" [41,tr.129] Có nhà nghiên cứu nhận xét: "Nguyễn Khải có chất trào

lộng hóm hỉnh, đằng sau dịng chữ anh viết, tình anh mơ tả.( ) đoạn đối thoại anh dựng lên thấp thoáng ẩn bóng dáng người kể chuyện vui tính, hóm hỉnh có phần lém lỉnh, tinh nghịch, sẵn sàng rình chộp lấy sống khía cạnh ngộ nghĩnh,

hoặc trẻ trung, hóm hỉnh" [24] Trong tác phẩm Nguyễn Khải đan

xen đối thoại giàu kịch tính để tạo hài Tác giả sử dụng ngơn từ chắt lọc từ lời ăn tiếng nói hàng ngày nhân dân, lúc trang trọng, lúc đôn hậu, lúc thân mật suồng sã Giọng điệu khôi hài ông khơng tinh qi, sắc bén Tơ Hồi, hay cường điệu Nguyễn Cơng Hoan, Vũ Trọng Phụng mà hóm hỉnh, dí dỏm, thâm thuý

(80)

chớ có tự phụ lứa tuổi bạn biết mãnh lực tình yêu ( ) các bà nội có, ma lực khơng tiêu xài q phung phí

lúc thiếu thời" [14,tr.49]

Cũng miêu tả hạnh phúc để cười cười để lại ngao ngán Đây đối thoại Dụ vợ tương lai nói đến chuyện xây dựng hạnh phúc gia đình Cả hai nói tình u mà thản nhiên đến lạnh lùng: "Anh có lịng xây dựng gia đình với em khơng? Tơi nói đùa "Cô muốn làm lẽ à? Tôi sẵn sàng" Cơ ta nói khơng cười: "Tơi điều tra lý lịch anh

kỹ, anh nói dối tổ chức" [14, tr.300] Đằng sau đối thoại tẻ nhạt,

là giọng hài hước, giễu cợt thân nhân vật bi kịch sau Và kết cục nhân vật Dụ vốn đẹp trai, khoẻ mạnh, có tài lại phải suốt đời cam chịu trừng phạt lựa chọn thiếu lĩnh

Khi nhìn nhận chuyển đổi chế thị trường xóm nhà binh vốn bình lặng xưa nay, nhà văn có chút hài hước, bỡn cợt, giễu nhại lời miêu tả:

"Đất cũ nhà lên lầu, tiền lợp tơn có tiền

(81)

cịn chuẩn mực chung giá trị Họ tôn sùng khôn ngoan, gian

xảo, lì lợm hệ họ đức tính để kiếm nhiều tiền Cái

danh dự chuyện ngày xưa, thời cụ nghe nói có chưa hẳn có Nếu có thật danh dự đóng khung treo dãy

tường nên quên đi" [20, tr.65]

Có lúc tiếng cười vang lên với âm sắc khác nhau, trào lộng mà nghiêm trang, cười để nhận thức đời sống: "Nói lại nhăn cười, cười ha há ngồi nghe cười, cười chảy nước mắt Dân háo danh nhỉ! Nhưng người ta phải nên sống danh nữa miễn danh cho đích đáng cho đàng hoàng Cái đức háo danh cũng hun đúc nên nhiều bậc kỳ tài thiên hạ Và tài danh lại

hội tụ đất kinh kỳ để nhận phát ánh sáng văn hoá ngàn năm" [6, tr.55]

Trong truyện ngắn Người nghề, thông qua đối thoại Nguyễn Khải tạo chất hài cách để nhân vật nhận lầm đất dụng võ Nhân vật Tú có khả cơng việc hành lại ơm mộng viết văn Bà mẹ nhân vật Dũng lẽ phải giữ nét chân quê lại muốn diễn vai người đàn bà đô thị, quê không quê, tỉnh không tỉnh, tự đánh

(82)

trên đất gan gà Đến năm, chả biết cấp tỉnh, cấp huyện nghĩ gộp ba hợp tác xã ba làng thành hợp tác xã nơng nghiệp tồn xã Lý lẽ rằng: tập trung phân tán, dồn lại xé lẻ, suất ba máy cày hẳn một máy cày Ba máy hẳn máy lẽ đương nhiên, ba người

chưa hẳn người, điều mãi sau người nghĩ

tới Ba ông hùng dồn vào túi, cọ xát nhau, bắt đầu bốc khói, xoè lửa Họ người mạnh, lượng nổ lớn, thuốc lại tốt nên dễ gây nổ Và

nổ thật Nổ lớn Vì chả chịu cả!" [30,tr.393]

Trong Anh hùng bĩ vận, người kể chuyện tự nhận người hội thuyền với anh hùng lâm vào vận bĩ Ở vào vị trí đó, người kể chuyện thoải mái nhận xét, thoải mái đánh giá, bình phẩm khơng chút e dè Ngay từ mở đầu câu chuyện, giọng đồng cảm người kể chuyện pha chút khôi hài: "Một xã vùng biển anh nhà văn thành phố lần đầu tới đó, hai bên xa lạ hồn toàn mà thân phận lại giống đến Bởi hai thời tạo nên Thời đổi thay hai lâm

vào vận bĩ, chưa biết phải thoát cách nào" [21,tr.272] Giọng điệu

hài hước người kể chuyện lúc tăng lên dòng độc thoại, tự vấn thời thế, thân, nghề nghiệp Theo dõi dòng ý thức người kể chuyện Anh hùng bĩ vận người đọc tránh bật tiếng cười: "Vậy nên ví thân phận anh nhà văn với nhỉ? Chắc phải xếp thầy cúng thầy bói Mấy nghề hái tiền cịn cần thiết cho cái mộng tỉ phú Chỉ so sánh anh nhà văn với người

dân làm cói xã N mà thơi Lẫm liệt thời mà tội nghiệp quá"

[21,tr.277] Dường đằng sau trang sách thấp thoáng nụ cười buồn nhà văn

(83)

nhận: "Nếu thấp thống nụ cười, mỉm cười

hiền lành, vui chút, nghịch chút cho câu chuyện đậm đà".

một khía cạnh làm nên độc đáo giọng điệu trần thuật Nguyễn Khải lối nói tự trào, đùa tếu chủ thể trần thuật - khơng phải lúc khăng khít với nhà văn Là người giới nhà văn, hoà nhập, sát cánh nhà văn nhìn nhận, quan sát, bộc lộ thái độ người phán xét, thẩm định vấn đề Trong truyện ngắn Phía khuất mặt người, việc dẫn yếu tố tương phản tính chất, phong cách văn chương, lời văn nghệ thuật Nguyễn Khải lấp lánh nét hài, tự chế nhạo, tự giễu mà không "Anh giống người chịu nhiều thất bại, thất bại nghề nghiệp, trường tình, tình

bạn nói nửa lời, cười nửa miệng" "Cịn tơi thuộc loại hãnh tiến,

muốn làm ào, viết ào Anh người mùa thu, mùa đông, mùa buồn lạnh gương mặt héo hon bị hút trong khăn len, cổ áo, vành mũ, nom buồn q, đơn q Tơi

thì trái ngược anh hồn tồn, cười há, nói toang tốc người

luôn mãn nguyện Văn anh buồn, chữ nghĩa mệt mỏi đọc khơng thể qn được, dính vào da thịt đến tận "Văn tơi khác, người kẻ vào ồn ào, nói băm bổ, chõ vào mặt mà nói, mà lý thì người đọc không kịp thở, không kịp cãi, phải sau thấy cịn nhiều

chuyện phải bàn cãi" [21,tr.454-455-458]

(84)

Tố Hữu khen nhất, ơng Đảng Chính phủ" [6, tr.36] Tất vui vẻ, suồng sã, nụ cười hóm hỉnh, hồn hậu người trải

Giọng điệu hài hước, hóm hỉnh khơng phải giọng "chủ âm" góp phần tạo nên phong cách nghệ thuật riêng Nguyễn Khải Đó phong vị hài hước có duyên thấm lời văn ông, đọc quên Nhưng hóm hỉnh "kiểu Nguyễn Khải" khơng dễ hiểu được, mà phải có thời gian tìm hiểu nhận ý nghĩa sâu xa mà nhà văn cài đặt sau tiếng cười

Trong tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm, Nguyễn Khải cho rằng: "Viết được truyện hay, chinh phục lịng người người viết cịn có quyền đơi lúc giỡn mặt bạn đọc tí chút Là nhà văn có tài nghĩ

sướng thật, viết đùa, triết lý đùa mà quyến rũ biết bao" Với sáng

tác Nguyễn Khải có quyền tự hào hưởng niềm hạnh phúc 3.1.3 Giọng điệu tranh biện

Trong sáng tác Nguyễn Khải, giọng điệu tranh biện làm nên sức hấp dẫn riêng Giọng tranh biện truyện ngắn ơng thường mang tính đối mặt, nhằm chà xát tiếng nói khác nhiều chủ thể đối thoại tư tưởng tác phẩm biểu qua đối thoại đầy hấp dẫn Khi nói giọng điệu tranh biện truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới, Lại Nguyên Ân nhận xét tinh tế: "Đọc Nguyễn Khải, riêng tơi, tơi thích đối thoại Tơi cảm thấy nghe tranh cãi, luồng suy nghĩ, luồng tư tưởng có thực đời" [2,tr.80]

(85)

một chủ thể độc lập Trong đối thoại điều quan trọng không nhân vật người mà cịn cách nhìn nhận, đánh giá người sống quanh Giọng điệu tranh biện truyện ngắn Nguyễn Khải khơng phải tốt lên từ đối thoại nhân vật có mặt mà cịn thể đoạn văn có lời người thuật chuyện Ở lời văn mang tính chất hai giọng Hình thức biện pháp kết cấu thay cho lời văn tác giả vốn vắng mặt Chúng ta thấy quan niệm tác giả khúc xạ tinh tế thận trọng qua lời nói nhân vật người kể chuyện Chúng ta xét đoạn văn Anh hùng bĩ vận tiêu biểu cho phong cách truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi

"Cũng người làm cói Tơi tin tưởng nghề viết bọn tơi

sẽ khơng có thay đổi, mãi Nền văn học tương lai nền văn học xã hội chủ nghĩa, mà nghi ngờ Bạn đọc tương lai bạn đọc quen thuộc từ nhiều năm, lại nhân lên gấp nhiều lần Có thể sức viết chậm năm trước, nhưng viết nhà xuất nhận in, nhận in có tiền Dẫu tơi có hưu giữ mức sống đàng hoàng nhiều chục năm trước Cái viễn cảnh có hoang đường ? Vậy mà chốc chốc thảo đưa tới nhà xuất từ nửa năm bị trả lại Tại ? - Anh viết trị quá, cao siêu quá, bạn đọc khó mua - Bạn đọc ? Bạn đọc trung thành với mà ! - Bạn đọc quen thuộc anh tới tuổi hưu rồi, hưu tiền ăn chả đủ lấy đâu tiền mua sách Những người có tiền người làm việc, họ

còn trẻ, trẻ Hãy viết cho tuổi trẻ ! Khốn nỗi cái tuổi trẻ hôm với

(86)

cửu khơng cịn Hay dở, tốt xấu, thành bại đánh giá theo những tiêu chuẩn Tiêu chuẩn tiêu chuẩn tiền Nó vị giá trị Chẳng hạn nhà văn mà không kiếm tiền là nhà văn tồi, nhà văn thất bại đáng bị bạn bè khinh rẻ Chứ ! Trò chuyện với bạn đọc tr,ẻ họ khuyên nên thức thời, nên thay đổi mặt hàng, thay đổi mẫu mã, khơng muốn chết đói Vì niềm tin mà tôi trở thành người cầm bút Nay vứt bỏ nó, thay vào khác thành giám đốc, cố vấn chuyên gia kinh tế đâu nhà văn - Ôi trời ! Chẳng lẽ cái giá nhà văn lại giám đốc ? Người ta thấy nhà văn chạy quanh giám đốc chưa thấy giám đốc chạy quanh nhà văn

bao giờ - Ờ, mà thật Vậy nên ví thân phận anh nhà văn với nhỉ?

Chắc xếp thầy cúng thầy bói Mấy nghề hái tiền cịn rất cần thiết cho mộng tỉ phú Chỉ so sánh anh nhà văn nay với người dân làm cói xã N mà Lẫm liệt thời mà

tội nghiệp quá" [21,tr.175 - 277] Hồn tồn khơng lời trần thuật

người kể chuyện - trần thuật từ thứ nhất, vang vọng từ đoạn văn giọng tranh biện, đối đáp đối thoại Mỗi lời đối đáp hướng tới đối tượng, đồng thời phản ứng lại cách gay gắt Hầu sau lời người kể chuyện đáp lại lời người tiếp chuyện vắng mặt Tính chất căng thẳng, mức độ quan trọng vấn đề bàn đến, tăng lên

"Đối thoại nhà văn Nguyễn Khải chủ yếu đối thoại tư tưởng,

nhằm bộc lộ cách nhìn, cách nghĩ nhà văn trước sống Bằng đối thoại, nhà văn bộc lộ chất tư cách cá nhân Nhu cầu đối thoại nhu

cầu tự nhiên nhu cầu nội nhân vật" [29,tr.62] Quan hệ đối

(87)

tầng nổi, nhân vật đối thoại trực diện với người khác, tầng chìm đối thoại ngầm với ý thức khác đối thoại với

Truyện ngắn Nguyễn Khải bắt nguồn từ sống, đối thoại nhà văn sống động, chân thực, góc cạnh Nhà văn nhân vật tự thoải mái tranh luận, bàn cãi, đối thoại với tất mọ i vấn đề sống Những đối thoại diễn dồn dập, câu hỏi lời đáp tiếp nối khiến ngôn ngữ nhân vật cuộn xoắn, kết chuỗi, tạo tâm lý sức lôi với độc giả Chẳng hạn đối thoại làm bật nỗi trăn trở, suy tư nhà văn thời cuộc:

"Anh Hợp hỏi tôi:

- Sắp tới định viết

- Nhiều chuyện để viết chả muốn viết - Sao thế?

- Một đời viết văn để bán cho Nhà nước, nhà xuất Nhà nước khơng mua bán cho ai? Hợp cười:

- Cậu nên nghĩ lại lời mời thằng Thụy Bọn làm ăn đứng đắn - Tôi biết Nhưng nhà triệu phú có cho phép tơi được quyền châm chọc, chế giễu họ tí chút khơng Có cho phép lên án cách sống đó, cách làm ăn bọn họ mà không thuận mắt

Hợp lại cười:

- Nếu khơng ưng họ trả lại thảo, có mà sợ - ( )

- Tơi khơng nói điều tơi nghĩ mà trả lời Hợp với nụ cười bẽ bàng - Để nghĩ đã, không cịn cách khác để khỏi đói

(88)

Thời này, giai cấp hữu sản nắm giữ quyền lực, họ chẳng làm anh nhà văn họ khơng ưa Anh châm chọc chế giễu họ họ bỏ anh chết đói, cịn khơng muốn đói làm theo ý họ, trở thành người làm thuê ăn lương cho chủ nghĩa tư Điều này, Nguyễn Khải chưa nghĩ tới từ trước đến ơng ln giữ vững lĩnh nhà văn có trách nhiệm nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, chấp nhận đầy tớ nhân dân không kẻ làm thuê cho giai cấp tư sản

"Lời thoại Nguyễn Khải thường dồn đẩy, va xiết, tất phải "chạm nọc" nhân vật, kích động, chất vấn, từ tốt lên khuynh hướng chủ đề" [39,tr.124] Qua lời thoại, vấn đề bật lên nhiều tác phẩm ông khoảng cách hai hệ già trẻ, khứ Trong Chúng tôi bọn đã diễn đối thoại chan chát, va đập nảy lửa, kích thích tranh biện người kể nhân vật Đó đấu lý hai người thuộc hai thời khác thơng qua hình thức vấn "Tơi hỏi: Anh khơng thích nói chuyện với bọn tơi ? Nó nhè miếng xương, nhăn mặt: "Tồn chuyện ơng ra, ơng vào, ơng lên, ông xuống, chuyện của quan quyền lực dính líu đến bọn cháu" - Quyền lực huy kinh tế anh ạ" Nó cười: "Danh nghĩa thế, cịn thực chất tiền huy Đồng tiền lớn huy đồng tiền bé Chúng cháu có ơng chủ thơi, đó thị trường, mà quy luật thị trường bất biến nên dễ ứng xử lắm" Rồi hỏi, giọng xỏ xiên: "Ơng chủ ?" Tôi huênh hoang: "Tơi có ơng chủ anh, bạn đọc" Nó cười đểu, hai chúng tơi, thằng đểu: "Bạn đọc đâu có thích

văn Tồn né, nói nói cách né" Cuộc đối

(89)

về sống, nghệ thuật, bên muốn lấy đồng tiền làm cán cân cho vấn đề Lời nhân vật tự tin, điềm tĩnh, có phần châm chọc, giễu cợt, lời người kể biện hộ cho quan điểm có lúc lại cao giọng, bực dọc, gay gắt khiến ngôn ngữ đối thoại căng thẳng, dồn nén làm bật khoảng cách hai hệ già trẻ, khứ

Trong truyện ngắn Đổi đời, giọng điệu tranh biện thể rõ nhà văn xây dựng đoạn đối thoại thành cơng: "Ơng viết lách mà

ốm thế?" Con gái đưa mắt nhìn mẹ, mẹ đưa mắt lườm nhẹ nhìn chồng: "Lúc

nào chả viết Viết đời mà vợ có nhìn thấy đồng tiền, phân bạc

nào, tiếng tăm chẳng có" Con gái vừa cười vừa bảo: "Bố cháu viết

"Bơn" q nên bọn trẻ khơng thích đọc" Bà vợ nói thêm: "Viết trị lắm,

chả có tí tình cảm nào, tơi đọc vài dịng bỏ" Tơi nói đỡ cho bạn:

"Tơi viết trị lắm, khơ khn với ơng nhà mà" Chị Tần nói hoảnh: "Vậy phải đổi cách viết đi" Anh Tần lấy thuốc hút nói đủng đỉnh: "Lương nhà nước đủ sống ngày hai bữa cơm rau" Bà vợ

buông đũa nhìn chồng mặt hằm hằm: "Thế vợ ơng bỏ đói à?" Anh Tần nói giọng trễ nải: "Vợ có lương hưu, đã trưởng thành, chả

phải nuôi cả". Bà vợ quên ông khách mời, hét lên: "Thế giải

tán gia đình đi" Anh Tần cười mệt mỏi: "Giải tán đâu bây giờ?"

(90)

Những đối thoại hội để nhân vật Nguyễn Khải khám phá lẫn khám phá Khơng khí đối thoại dân chủ tạo cho nhân vật bình đẳng, thoải mái tiếp xúc Trong truyện ngắn Một thời gió bụi lời thoại nhân vật thể rõ ý kiến, quan niệm sống khác trước thực: Tú muốn q sống khơng tìm dược chỗ đứng quan gia đình Bằng đối thoại, nhân vật bộc lộ chất tư cách cá nhân: "Thằng lớn hỏi: "Chuyện đứng đắn bố?" Con gái liếc nhìn chị dâu tủm tỉm cười, ý giả ơng già trái nết, tính tốn trẻ Thằng nói tiếp: "Con xin biếu bố vài trăm ngàn quê chơi chuyến Nghỉ hưu nên chơi cho vui, ngồi nhà đọc sách dễ mụ người" Anh nói: "Tao cần cầm nhiều tiền quê Ở người ta sống với tình khơng tiền" Con gái cười to: "Thời buổi mà dám chê tiền lạ ?" Thằng cười: "Thảo từ ngày hết chiến tranh, bố không viết báo hay" Bà mẹ vênh mặt nói khinh khỉnh: "Bố chúng mày người trời

rơi xuống ấy" [16,tr.57] Rồi chứng kiến thay đổi nhanh chóng

thơn q: "Một vùng q khơng khứ Một quần thể sống với hôm

nay, với khao khát, thủ đoạn làm giàu" Các nhân vật bộc lộ

một suy nghĩ, thái độ riêng trước thayđổi thời thế: "Anh nói buồn rầu: "Một vùng quê nhiều thời oanh liệt mà khơng cịn dấu tích nào vùng kinh tế mới" Ơng Trung nói: "Các cụ hơ hào góp tiền sửa chữa lại đình Bồng, vừa di tích lịch sử, vừa di tích cách mạng, xem chừng không hưởng ứng cả" Thành cười hô hố: "Muốn dân bỏ tiền tu bổ đền miếu ông thần bà thánh phải thiêng, xin mười, không

dưng chịu cởi hầu bao để mua lấy tiếng hão" [16,tr.63]

Giọng điệu tranh biện cịn thể "tơi" vừa tranh luận với

(91)

thân vào Nhân vật Tôi truyện ngắn Người ngu trường hợp Đang đường có người giữ xe lại, bắt đền hai chai rượu đắt tiền, nhân vật Tôi "không có chút cảm giác

nào đụng phải xe người khác, làm rơi bể người khác"

Biết mạch suy nghĩ nhân vật Tôi nối sang phía người bắt đền mình, lo lắng, hốt hoảng thay cho cảnh ngộ họ Hoá thân, lo cho người khác chấp nhận đền lại muốn cãi lại họ, muốn "thét ầm ĩ lên để có nhiều người xúm đến nhờ họ phân xử giùm" Vừa có thái độ "thà bị thua thiệt đến chín lần để khỏi có lần xúc phạm tới

nhân cách người lương thiện" lại vừa dằn vặt, đau đớn, đầy đọa

đã ngu, để tiền cách qúa ngớ ngẩn Đau uất ức, khơng thể trả lời lại để tiền cách vô lý

Đọc truyện Nguyễn Khải người đọc có ấn tượng giọng điệu tranh biện ông Nhiều vấn đề nhân sinh trao đổi cách thoải mái, công chưa có câu trả lời cuối bộc lộ nghiền ngẫm, chiêm nghiệm cá nhân thời cuộc, người, lẽ sống, niềm tin Tính chất trí tuệ văn Nguyễn Khải chỗ mở ra, đánh thức suy nghĩ người nhiều vấn đề sống.Trong truyện ngắn Nguyễn Khải năm gần đây, nhân vật người làm chủ mình, có giọng điệu riêng độc lập tự nó: "Nhà văn giải phóng tối đa cho tự ý thức ngôn từ nhân vật, thu hẹp nhận

xét, cắtnghĩa từ phía người trần thuật" (Trần Đình Sử) Nhờ giọng điệu tranh

(92)

3.1.4 Giọng điệu chiêm nghiệm, triết lý

"Văn Nguyễn Khải không màu mè, không thiên tả trời, mây,non nước

Bắt đầu vào trang viết gặp nhân vật, biến cố, kiện; theo giăng mắc suy tưởng, ký ức, cảnh ngộ, lẽ đời, lịng lịng

người Văn ơng thật giàu chiêm nghiệm" [38,tr.383] Giọng điệu chiêm

nghiệm, triết lý hình thành Nguyễn Khải từ sớm Từ Mùa lạc, người đọc nhiều thấy Nguyễn Khải "thông qua nhân vật để nêu lên

vấn đề triết lý, bình luận tượng sống" Tuy nhiên

chiêm nghiệm, triết lý dường chưa có đủ chiều sâu chiêm nghiệm tác giả nhân vật: "Sự sống nảy sinh từ chết, hạnh phúc hình từ hy sinh, gian khổ, đời khơng có đường cùng, có ranh giới, điều cốt yếu phải có sức mạnh để

bước qua ranh giới ấy. " (Mùa lạc) Ở "cái thời lãng mạn", Nguyễn

Khải chủ yếu chiêm nghiệm, triết lý vấn đề lớn lao đời sống Các truyện ngắn viết thời kỳ đổi mới, nhà văn không dừng lại suy tư chiêm nghiệm lẽ sống, lý tưởng mà quan sát, lý giải chiêm nghiệm người bình diện tồn khác Nhà văn chiêm nghiệm, triết lý không vấn đề lớn lao hạnh phúc, niềm tin, lý tưởng mà chuyện nhỏ nhặt đồng tiền, miếng ăn, nỗi nhục

Suy nghĩ thời cuộc, Anh hùng bĩ vận, tác giả với tư cách người kể chuyện phát biểu: "Chuyện xã N buồn thế, nghĩ cho cùng chẳng có đáng để phải buồn Có buồn cho thân phận riêng mà Bởi đời người ngắn phép thắng bại có một lần Cịn đời sống cộng đồng vơ hạn, có khả lột xác đến

vĩnh viễn" [30,tr.215] Chiêm nghiệm sự, truyện ngắn Nguyễn Khải

(93)

thời trước Hãy cười lên nhà văn hay ưu tư sầu muộn, cười lên để tiễn biệt một thời qua đón chào thời tới cho thời tới

không phải thời mình" [30,tr.215]

Đứng trước cảnh đời, số phận, niềm vui hay nỗi buồn nhân vật, giọng văn người kể bộc lộ xúc cảm qua triết lý sâu sắc đời Trong Nắng chiều, người đọc dễ nhận giọng điệu chiêm nghiệm, triết lý nhà văn miêu tả hạnh phúc muộn mằn bà Bơ Hình ảnh nhân vật Bà Bơ hình ảnh nhân vật chị Đào trước có thật gần gũi Nhưng trước đây, chị Đào tìm hạnh phúc sống tập thể bà Bơ sau lại tìm hạnh phúc tự vượt lên định kiến hẹp hòi Bà Bơ gắn bó với ơng Phúc khơng phải cần có người ni nấng chăm sóc lúc tuổi già mà nhu cầu tình cảm Cái hạnh phúc muộn mằn mà đẹp đẽ bà chi chút, nâng niu hy sinh chăm sóc ơng chồng Đó dâng hiến tự nguyện tất ước nguyện đẹp đẽ cho mà không cần lấy lại Ông Phúc bị ngã xe vào viện Ra viện ơng nhà để bà chăm sóc: "Ơng nằm đọc sách, chăn nệm trắng tinh, vẻ mặt thoả mãn lịng với số phận Chỗ ơng nằm sạch sẽ, chỗ bà nằm bừa bộn bếp Đúng bếp thật với đủ thứ dụng cụ phức tạp để phục vụ cho ăn người nằm phòng trong Mà hầu hạ cách tươi vui dịp báo đáp ơn nghĩa

khó trả" [19,tr.247] Khơng phàn nàn vất vả mà chịu đựng,

bà "lại cịn vui lắm, lại chẳng ốm đau gì, khoẻ ra, mắt sáng dần, lại

phăm phăm, nói nhiều hoạt bát tinh tường hẳn" Chứng

kiến điều người kể chuyện phải băn khoăn tự hỏi: "Cái sức mạnh thầm kín khiến bà lão trẻ lại, vui hẳn lại, ham sống trước,

cịn dám tính tốn việc tương lai? Là tình yêu chăng?" Cuối

(94)

tình u" mà " các cụ khơng tiêu xài phung phí lúc thiếu thời" [19,tr.249] Trong Giận ông giời, giọng điệu chiêm nghiệm thể rõ tác giả miêu tả đời nhân vật ơng Quải Ơng Quải bao chiến sĩ qua thời khói lửa bom đạn chiến tranh, trở với sống đời thường lại chịu nhiều thua thiệt Cũng người khoẻ mạnh, chăm làm ăn, biết tính tốn, khơng cờ bạc mà gia đình khơng giả Điều mà ông Quải chiêm nghiệm giống bao người chiêm nghiệm: "Về già ngẫm lại nhiều đời người biết, không tin phải tin người ta có số thật Người có số may tài cán chả may lót bàn chân từ trẻ đến già, đời phú q song tồn mà khơng

mồ khơng, máu lại khơng" [20,tr.166] Mặc dù đời cịn nhiều

bất công quan niệm sống bà vợ ông lại lạc quan: "Ông giời ghét mình, cười lên tiếng thêm nào, mà hố ơng khơng thể trói mình, cịn lại ngồi thở than, rên rẩm có phải chịu

thua hồn tồn khơng?" [20,tr.172] Đó nụ cười người biết vượt lên

trên hoàn cảnh thực đầy khắc nghiệt Viết họ nhà văn thể triết lý sâu sắc trải, kinh nghiệm sống

(95)

bền vững Giữa thời buổi thiên hạ nháo nhác kiếm tiền, tôn vinh giá trị đồng tiền bà lại quan niệm: "Thời có vài trăm vàng khơng phải là khó, khơng phải lâu, có gia đình hạnh phúc phải vài đời người, phải giáo dục vài đời Hạnh phúc không bao giờ q tặng bất ngờ, khơng thể tìm, mà khơng nên cầu xin Nó cách sống, quan niệm sống, nếp nhà, tay mình,

nhận nó, có ý thức vun trồng nó, lại hồn tồn khơng dễ" [12,tr.231]

Giọng điệu chiêm nghiệm thể rõ qua quan niệm bà cụ: "Càng ít sờ tới tiền tốt Nó có độc đấy! bàn tay thương vợ, bàn tay yêu con, bàn tay nắm bàn tay bạn bè, đếm tiền nhiễm độc lúc không hay,

khơng cịn bàn tay người nữa" "Khơng cần đến tiền khơng nên

lúc cầm quá nhiều tiền", lẽ "mầm mống nhiều tai hoạ". Bà cụ

hiểu rằng: "Đồng tiền vừa đầy tớ vừa ông chủ, vừa bạn đường, vừa

giặc cướp" [12,tr.235] Và cuối giọng điệu triết lý vang lên bà triết

lý cách sống người trải: "Con người ta có phần thiện, phần ác Muốn dưỡng thiện, diệt ác nhà phải có gia pháp, ngồi xã hội phải có pháp luật Trong gia pháp có phần truyền thống danh dự dịng họ, có phần đạo đức người nghĩa vụ kẻ Gia pháp cũng phải theo thời mà điều chỉnh, q ngược với thời cháu khó

theo, xu mị thời bỏ gốc rễ" [12,tr.234]

(96)

đời Phong cách, lối sống bà phong thái người Hà Nội Nhà văn không bày tỏ ngưỡng mộ: "Một người cô phải chết đi thật tiếc, lại hạt bụi vàng Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ" [19,tr.265] Những người góp phần làm nên vẻ đẹp, rực rỡ đất kinh kỳ: "Những hạt bụi vàng lấp lánh góc phố Hà Nội

hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kỳ chói sáng ánh vàng"

[19,tr.265]

(97)

cái một" [21,tr.65] Lớp trẻ hôm nay: "Họ tôn sùng khôn ngoan, gian

xảo, lì lợm hệ họ, đức tính cần thiết để kiếm

nhiều tiền" [21,tr.65] "Cái nhân nghĩa, danh dự chuyện ngày xưa,

thời cụ nghe nói có chưa hẳn có Nếu có thật danh dự

ấy đóng khung treo dãy tường nên quên đi"

[21,tr.65] Lớp trẻ sống: "Không cần biết đến danh dự, tín nghĩa

Sống cộng đồng nguy to, không nguy lúc nguy lúc khác"

[21,tr.73] Người kể chuyện bộc lộ ý kiến thời hôm nay, thời kinh tế thị trường thời lớp trẻ: "Đám trẻ chúng kiếm tiền liệt lắm lạnh lùng, tàn nhẫn bọn em nhiều khơng cả, khơng thương Có tiền để trở thành người mạnh, thành ông chủ, chúng

bảo Mỗt thời cách dùng đồng tiền lại khác " [30,tr.378]

Vai trò đồng tiền xã hội kinh tế thị trường nhân vật Chúng bọn hắn phát biểu: "Danh nghĩa thực chất

vẫn tiền huy Đồng tiền lớn huy đồng tiền bé Chúng cháu có một ông chủ thôi, thị trường, mà quy luật thị trường bất biến nên

dễ ứng xử lắm" [30,tr.350] Đôi người kể chuyện đúc kết kinh nghiệm

trong sống: "Đồng tiền may mắn mà có, đổi thay mà có, dễ mầm mống nhiều tai hoạ Vì người có tiền chưa học cách tơn trọng đồng

tiền, sai khiến đồng tiền" Bởi vậy, nhà văn phải cay đắng đưa triết lý:

"Chân lý vĩnh cửu khơng cịn Hay dở, tốt xấu, thành bại

đáng giá theo tiêu chuẩn Tiêu chuẩn tiêu chuẩn bây

giờ tiền Nó vị giá trị" [16,tr.10]

(98)

bộc lộ nhu cầu nhà văn muốn nói mình, muốn coi đối tượng văn chương Đó cịn nhà văn "vừa biết lắng nghe, thán phục, đồng thời biết bợp tai thiên hạ Người biết tự thú, biết khiêm nhường,

đặc biệt biết rõ chỗ non mình" [4] Giọng điệu chiêm nghiệm cá

nhân người kể muốn đúc kết vấn đề thời vận, nhân sinh sau thời gian dài tự nghiệm: "Mới biết thời đổi thay, đời người ngắn ngủi Đã ngắn lại giấc mộng hão huyền, tham vọng vớ

vẩn, việc làm vơ ích buồn cười" [14,tr.181] Và ông không khỏi

không cảm thấy ngậm ngùi nuối tiếc: "Lúc khôn ra, hiểu ra, tỉnh già mất rồi, làm lại khơng nên buồn, buồn giận, giận

không giận đời" [16, tr.169] Nhà văn chiêm nghiệm lẽ được,

đời: "Có điều gan góc mộng mơ trải đời lại hố

ra lì lợm Khơn lên tức tin đi, mất, to" [12,tr.46]

Khi Nguyễn Khải có dịp gặp lại nhân vật hơm xưa khoẻ mạnh, đẹp đẽ, tự tin lúc bừng bừng nhiệt huyết, muốn khẳng định vai trò làm chủ tương lai, mà nay, đổi chế thị trường, họ trở thành "Anh hùng bĩ vận" ơng cảm thấy hết biến đổi đời Trong truyện ngắn Cái thời lãng mạn, gặp lại anh Khang - người tác giả gửi gắm nhiều niềm say mê trước kia, là: "một ông bủ 50 tuổi xấp xỉ với tuổi bủ Sen, bủ Kiều năm xưa với

những đứa trứng gà, trứng vịt ( ) với ông bố sáng cởi trần, đầu hói, bụng vú nhăn nhúm vừa ngồi vừa nói chuyện ( ) ( ) lại

hị hét cái" Nhà văn xót xa, chiêm nghiệm: "Hơm xưa chúng tơi nói

chuyện đạo, bữa gặp lại tồn nói chuyện đời, đời người đến trầm luân khổ ải, chết được, gan góc người ta

(99)

Trung thực với mình, chân thành bày tỏ suy nghĩ riêng mình, diễn đạt nhu cầu đổi văn học, xã hội Nguyễn Khải nhà văn khác nhìn lại sáng tác trước nhận đâu giá trị đích thực Một nhân vật Nguyễn Minh Châu nói: "Dám tước bỏ hết phù phiếm, lớp bề ngồi vơ bổ, tất lấp

lánh dối lừa người khác" để "tìm lại mình" (Sắm vai)

Cịn nhân vật người kể chuyện Nguyễn Khải "tự thú": "Đọc lại

trang viết thời mà tiếc cho năm tháng sống vất vả, sống nguy hiểm, sống hào hùng, rút lại cịn báo nhạt nhẽo, khơng có chi tiết thật, khơng có khung cảnh day dứt gợi nhớ,

khơng có gương mặt cám dỗ, ám ảnh" [14, tr.634]

Giọng điệu chiêm nghiệm, triết lý giọng điệu chủ âm truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi Giọng điệu rút từ trải nghiệm nhà văn nhân vật Vì mà có sức hấp dẫn lơi người đọc

3.2 Sự tự thể tác giả thành hình tượng

"Hình tượng tác giả phạm trù thể cách tự ý thức tác giả về vai trò xã hội văn học tác phẩm, vai trò người

đọc chờ đợi" [5,tr.100] Có nghĩa tác phẩm văn chương

có thể hình tượng tác tự ý thức nhà văn vai trò chủ thể tư tưởng quan sát, miêu tả vật tượng, đánh giá sống Hình thức tự thể hình tượng tác giả thường thông qua nhân vật Người kể chuyện thứ ba - người quan sát, thông qua nhân vật Tôi tác phẩm

(100)

cịn biến hố thành nhiều giọng điệu phong phú khác tạo nên đa tác phẩm Đọc truyện Nguyễn Khải ta thường tiếp xúc với nhân vật người kể chuyện Người kể chuyện nhân vật kể lại câu chuyện mình, lấy làm đối tượng để suy ngẫm, nhân vật phụ vai trị người tổ chức, dẫn chuyện nhân vật tự kể mình, trực tiếp kể lại câu chuyện nhân vật Nhân vật

Người kể chuyện trực tiếp tham dự vào câu chuyện nhiều vị trí linh hoạt, để

phù hợp với mục đích kể chuyện chiêm nghiệm tác giả

Trong truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đầu, hình thức trần thuật phổ biến trần thuật thứ ba - trần thuật khách quan Ỏ đó, nhà văn nhân vật tồn khoảng cách Nhà văn người biết hết điều, dẫn dắt nhân vật, chèo lái câu chuyện theo ý

(101)

tác phẩm, Nguyễn Khải ý thức trải nghiệm mình, ơng muốn lên tiếng, giãi bày, đối thoại với bạn đọc vấn đề sống với mong muốn "khám phá giới bí ẩn, đầy bất trắc bất thường bên

trong người, bên - thể - người" [1] Sau đây, chúng tơi

lần lượt khảo sát hình thức tự thể hình tượng tác giả kể thứ ba thứ

3.2.1 Lối trần thuật thứ ba

Trước Nguyễn Khải có nhiều nhà văn sử dụng phương thức trần thuật thứ ba - phương thức trần thuật khách quan ẩn sau hình tượng tác giả Ưu điểm phương thức trần thuật là: "Nó khơng tái hiện kể mà cịn tái người kể Nó mang dấu ấn cách nói, cách cảm thụ giới cuối tư chất trí tuệ tình cảm người

trần thuật" [35,tr.89-90] Mỗi nhà văn sử dụng phương pháp trần thuật

này để lại dấu ấn mình: Ngơ Tất Tố nghiêm túc tỉnh táo; Nguyễn Công Hoan hóm hỉnh tinh quái; Nam Cao dửng dưng lạnh lùng; Nguyên Hồng xót xa, đau đớn; Nguyễn Tuân dềnh dàng tự tin, bình tĩnh Đến Nguyễn Khải, qua phương thức trần thuật khách quan, người ta thấy lên chân dung tác giả thâm trầm, chiêm nghiệm triết lý sâu sắc Ở số truyện ngắn, Nguyễn Khải sử dụng nhân vật "người kể vơ hình" đứng ngơi thứ ba, khơng xuất trực tiếp tác phẩm,

Người kể chuyện lại giữ vai trò tổ chức đường dây kiện Sử dụng quan điểm trần thuật khách quan tạo cho nhà văn nhân vật có khoảng cách, tiện lợi cho việc quan sát đối tượng mà nhà văn cần miêu tả

Dễ nhận hình thức trần thuật cách mở đầu tác phẩm - cách mở đầu hoàn toàn khách quan Mở đầu truyện ngắn Một thời gió bụi tác giả viết: "Năm 55 tuổi, Tú người phụ trách văn nghệ tờ

(102)

Từ Thức: "Còn cách động Từ Thức khoảng vài trăm mét, có ngơi nhà

lợp ngói mộtvùng tre mới " [30,tr.282] Mở đầu Người nghề:

"Tú khu tập thể bãi Nghĩa Dung hai năm bà Tuất quê bế

cháu nội" [30,tr.405] Đấy cách giới thiệu truyện điểm nhìn bên ngồi Sử dụng cách giới thiệu này, dường tác giả muốn cho câu chuyện thật khách quan

Trong truyện ngắn Người nghề, người trần thuật chăm chú, quan sát từ bên ngoài, để câu chuyện dàn trải với chi tiết chân thực, tỉ mỉ, cụ thể tới mức người đọc có cảm giác tận mắt chứng kiến thực Người trần thuật sử dụng bút pháp thực tỉnh táo để "điềm nhiên" hướng "ống kính" vào chi tiết vụn vặt làm dần giản dị tốt đẹp người phụ nữ nơng thơn bà Tuất Từ giọng nói "lịch thiệp giả dối ( )

uốn éo, cười gượng gạo, thớ lợ" Cách ăn mặc "áo cổ bẻ, tay áo có khuy

i, quần thâm đũng cao" lại để "răng đen" [19,tr.288] Chỉ

vài chi tiết nhỏ, nhà văn khéo léo phô bày "nghịch lý" vai diễn bà Tuất Cách miêu tả tác giả khách quan bao nhiêu, người đọc thấy rõ lố bịch nhân vật nhiêu Miêu tả Tú, tác giả nhận anh "trí tuệ sáng láng, hành động táo bạo, nói sắc bén giới vật chất bước sang giới trừu tượng, giới triết học,

có mặt anh ln thừa" [19,tr.287] Để cho câu chuyện có tính khách quan

(103)

nhìn, giọng nói, cử xem thường bút trẻ, cịn bối rối, khó xử ông tổng biên tập vai trò nhà báo bất đắc dĩ Tú Tất lời kể khách quan tỉnh táo nhà văn Bằng cách kể khách quan, kết hợp với lời văn vừa hài hước vừa trang nghiêm người trải, tác giả hướng người đọc vào thân việc để từ rút học thấm thía: Đừng đánh tơi ảo tưởng, người phải có nghề, đam mê, sống chết nó, cơng việc bình thường nhất, thực yêu mến nó, trân trọng tài năng, nhân cách nhân lên gấp bội Và thành công hay thất bại, đáng trọng hay đáng cười lựa chọn - sai người

Trong truyện ngắn Đàn bà, mạch truyện gần lời phẩm bình sống bi kịch gia đình Lưu Người trần thuật quan sát từ bên ngoài, miêu tả với chi tiết chân thực, tỉ mỉ: "Căn hộ vợ chồng trẻ khơng có tiếng cười, khơng có tiếng nói Chồng khuya cũng nghe có tiếng mở cửa tiếng dội nước, không thấy bật dèn, không nghe hỏi ( ) Họ nói với có bạn bè tới thăm trước mặt hàng xóm Con bé lên năm, mẫu giáo ngoan, đến đón con mà bố mẹ chưa bác hàng xóm đón ( ) nũng nịu với anh chị, hỏi han cười đùa đứa trẻ khác Nhưng với bố mẹ ( ) ngày

khơng nói, cười khơng, mắt nhìn lấm lét sợ" [19,tr.398] Bằng

điềm nhiên người trần thuật, ông thực phát "tảng băng chìm" ẩn sâu sống vợ chồng Lưu

(104)

mừng rỡ và biết ơn" người phụ nữ câu hỏi đầy ngạc nhiên nghi ngờ Lưu việc "một thúc anh vào ngực thằng niên phải

há miệng buông tay, hồ " lại người phụ nữ teo tóp, nhỏ bé Chính

sự điềm tĩnh đến thản nhiên người mẹ cậu trai học trước thắc mắc tiếng "ầm ầm có đánh nhau" hàng xóm khiến Lưu bàng hồng Sự tức giận anh chuyển sang thán phục đến mức kinh ngạc: "lời nói dịu dàng, cung cách nhà gia giáo mà chịu làm vợ thằng tướng cướp ? Vợ thế, trời ưu đãi đến mà khơng chịu làm người đàng hồng thật uổng quá, thằng đàn ông ngu Cũng

đã có đàn bà ngu" (Đàn bà).

Sự bình tĩnh đến kỳ lạ người phụ nữ trước biến cố lớn lao gia đình lẽ ? Con người gầy gò lấy đâu sức mạnh kỳ diệu đến sức lực lẫn tinh thần ? Sức mạnh hạnh phúc gia đình, tương lai đứa Nó thất vọng biết bố tên lưu manh nhục nhã, đau khổ tăng lên gấp bội bố bị bắn chết Trong vai trò "vị thần" biết hết, nhân vật trần thuật từ thứ ba, Nguyễn Khải ln tạo khoảng cách cần có để câu chuyện mang tính khách quan

Trần thuật khách quan, Nguyễn Khải thường miêu tả thực thời tại, câu chuyện ơng diễn ra, mảnh đời nhỏ bé xung quanh Tác phẩm ông thông tin đời sống người đổi đất nước Mỗi truyện mảng thực sống động, xã hội thu nhỏ nhà văn đưa lên trang viết để người đọc suy ngẫm chiêm nghiệm

(105)

chuyển điểm nhìn trần thuật vào bên nhân vật để tái giới tâm hồn họ Khi có thâm nhập chủ thể trần thuật vào nhân vật "khoảng cách người trần thuật nhân vật, thực tế bị thủ tiêu, điểm nhìn hai phía hồ làm Nhân vật mà người trần thuật ghé vào miêu tả dường từ bên "cần phải dời chỗ vào nhân vật"" [35, tr.91]

Nam Cao nhà văn vận dụng tài tình quan điểm trần thuật này, làm nên đặc sắc truyện ngắn Nam Cao Điểm nhìn khách quan bên chuyển vào nội tâm nhân vật, buộc nhân vật phải nói lên ý nghĩ Trong truyện ngắn Nguyễn Khải, người trần thuật nhân vật Tôi trực tiếp kể chuyện mà "ẩn sau nhân vật" để phản ánh thực mô tả tâm lý nhân vật cách sắc sảo sinh động Đặt điểm nhìn từ bên nội tâm nhân vật, Nguyễn Khải tái dòng ý thức ông Trắc (Lạc Thời) ngôn ngữ nửa trực tiếp Bắt đầu từ điểm nhìn khách quan tác giả giữ khách quan tuyệt đối mà nhập vào nhân vật để khắc hoạ dòng độc thoại nội tâm ông Trắc vấn đề nhức nhối đời sống nhân sinh Vì sao: người hơm qua cịn bạn bè, cịn có tình thân lại coi người xa lạ ? Cảm giác bị "bỏ quên" xoáy sâu vào lịng ơng Trắc Cái đẹp đẽ cịn lưu lại, vương vấn chút

tình đời mà ơng cố níu giữ "cái thời xưa", "cái thời gian nan bạn bè

ấm cúng khơng nỡ để gia đình bị đói tỉnh

ln đói" "cái thời cách năm mấy, có nỡ đối xử

với ông ngày vừa rồi, ngày thật buồn" [19,tr.351] Lời văn vừa

chứa đựng tủi hờn người "lạc thời" vừa lời suy tư, cảm thông

của tác giả

(106)

tâm huyết ( ) Nhưng họ quên Tôi ngồi sờ sờ mà họ muốn quên, lời mời cho tử tế chả có Mà quen biết tôi, bầu bạn với tôi, vị chẳng chút lợi lộc Tơi khơng có tiền lại khơng có danh, có cịn gây phiền Nhưng tơi có lịng trung thực ( ) tiếc tấm lịng khơng thể bày lên bàn tiệc mà nhắm rượu Bây người ta

nhắm rượu với lợi, cáidanh thôi, với người sang người có tiền thơi

Tơi nói có khơng vị? Buồn nhỉ? Tơi buồn q người ơi!"

[19.tr.355-356]

Ngịi bút uyển chuyển linh hoạt nhà văn kết hợp khéo léo ngôn ngữ độc thoại nội tâm ngơn ngữ tác giả, hồ trộn tinh vi đến mức người đọc khó lịng nhận biết nhân vật nói hay nhà văn nói Như vậy, dù người kể thứ ba đến hồn tồn nhập vào nhân vật để kể, suy nghĩ thứ Nhờ kết hợp tài tình này, chân dung tính cách nhân vật tư tưởng tác phẩm khắc hoạ rõ nét

Mở đầu chuyện ngắn Ơng cháu, nhìn khách quan giúp người đọc hình dung phần cảnh ngộ éo le nhân vật Người trần thuật phác hoạ đôi nét sống hai ông cháu ngày tha phương cầu thực Dõi theo mạch trần thuật, nhìn thấy điểm nhìn từ bên phần đầu câu chuyện di chuyển vào bên nhân vật nhằm tái lại đời cay đắng, nhọc nhằn người bị số phận "đùa giỡn" "Trời bắt ông khoẻ để hầu vợ chôn vợ, để hầu chơn con" Nhìn câu văn bề ngồi ngôn ngữ người trần thuật, nội dung thông báo lại nhân vật Lúc ông vang lên câu hỏi cứa thêm vào trái tim vốn tan nát ông: "Tại ông lại khoẻ mà ông lại bệnh tật ? Tại ông không chết mà ông lại chết để vợ nó chịu cảnh gố bụa sớm? Tại ông lại nghèo thế, chết rồi, nhà cửa

(107)

thuật nói nhân vật lời tự vấn lương tâm nhân vật ? Câu văn chứa đựng nhiều ý nghĩa, vừa tâm trạng đau đớn đến người cha, vừa niềm thương cảm tác giả gửi gắm vào câu văn, hay nói hoá thân Nguyễn Khải vào nhân vật để lột tả diễn biến nội tâm giằng xé trái tim yêu thương nhân hậu Ngịi bút Nguyễn Khải đứng tách quan sát nhân vật thái độ, hành vi nhau, lại nhập hẳn vào nhân vật ý nghĩ, tình cảm để bình xét, để phân tích Nguyễn Khải đưa lại hiệu đặc sắc cho lối trần thuật vốn thông dụng cổ điển

3.2.2 Lối trần thuật thứ

M.Gorki nói: "Trong tiểu thuyết hay truyện, người được tác giả thể hành động với giúp đỡ tác giả Tác giả ở bên cạnh họ, mách cho người đọc biết rõ phải hiểu họ nào, giải thích cho người đọc hiểu ý nghĩ thầm kín, động bí ẩn phía sau nhân vật miêu tả, tô đậm thêm cho tâm trạng họ đoạn miêu tả thiên nhiên, trình bày hồn cảnh nói chung ln giật dây cho họ thực hiện mục đích mình, điều khiển cách tự nhiều khéo léo người đọc không nhận thấy hành động, lời nói,

những việc làm, mối tương quan họ" [5,tr.247] Trong truyện ngắn

(108)

hình tượng tác giả Tất nhiên khơng nên đồng hoàn toàn nhân vật người kể chuyện dạng với người thật tác giả đời

Nguyễn Khải nhập vai Tôi cách thật đa dạng, sinh động, với tư cách người chứng kiến, xác nhận (Đàn ơng, Phía khuất mặt người, Một bàn tay chín bàn tay, Lãng tử, Chuyện tình người), khác người cuộc, tự nếm trải giãi bày (Người ngu, Mẹ bà ngoại, Một chiều mùa đông, Chút phấn đời) Với nhập vai này, nhà văn sâu vào giới nội tâm nhân vật để phân tích phát vấn đề Với Tôi riêng tư, nhân vật soi chiếu nhiều góc cạnh nhờ tự bình luận, bày tỏ quan điểm theo ý nghĩ chủ quan Sử dụng lối trần thuật theo ngơi thứ nhất, Tôi truyện ngắn Nguyễn Khải thường thể hai dạng:

3.2.2.1."Tôi" nhân chứng, người quan sát kể lại câu chuyện

Với tư cách người chứng kiến, người kể chuyện xuất truyện ngắn từ đầu "Tôi xã Đồng Tiến rủ rê người bạn" (Cái thời lãng mạn), "Mỗi lần Hà Nội tơi thường dùng bữa qn cơm

nhìn sang bãi xe khách Bến Nứa" (Chuyện tình người), "Chúng

gọi cô cô Hiền, chị em đơi dì ruột với mẹ già tôi" (Một người Hà

Nội) Đấy cách mở đầu quen thuộc từ điểm nhìn trần thuật nhân vật người kể chuyện truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ Đổi

(109)

hết sức cho gia đình vốn khơng lấy làm bé nhỏ hết mắt tác giả, chị người đàn bà "vô lo, vô nghĩ" Dõi theo đoạn đời chị Vách, người kể luôn ngạc nhiên khâm phục sức chịu đựng, hy sinh người khác chị Đứng vị trí quan sát vơ tiện lợi - người hàng xóm, người kể nhận thấy rõ ràng kiện đời chị Vách, sống riêng tư chị nhân vật Tôi miêu tả giọng kể chân thực khách quan Ẩn sau lời văn chua xót, thương cảm người kể nỗi khổ đeo đẳng suốt đời chị Vách Và nỗi xót thương nhân vật đồng vọng lời bình luận Tơi: "Vâng chị cả, trăm tội, ngàn tội phải đổ lên đầu chị ông chồng siêu đẳng chị cịn sống

chúng đâu ( ) tơi muốn bật khóc"

Truyện Nắng chiều với chi tiết, hình ảnh giản dị, người kể giúp người đọc hình dung ngào hạnh phúc muộn mằn người "xế bóng" Cả đời chị Bơ phải chịu thiệt thịi, thiếu thốn tình cảm Một người đàn bà tưởng dịng cháu giống hố đời hầu hạ em, cháu, già có chút hạnh phúc riêng Tái đời chị Bơ, lời kể ẩn chứa nhiều xót xa thương cảm, có niềm vui, xúc động trước tình cảm người dành cho chị Niềm hạnh phúc đến với chị, theo người kể, phần "mãnh lực tình yêu" cụ "khơng tiêu xài phung phí lúc

thiếu thời" phần quan trọng "ở tâm tốt người" Qua

cuộc đời, số phận niềm hạnh phúc người chị họ, người kể dường muốn khái quát lên thành vấn đề có ý nghĩa triết lý nhân sinh hạnh phúc, tình u, mối quan hệ với chữ "tâm" của

con người"

(110)

nghệ nhân làng, đến người lăn lộn với thương trường hôm qua Hiền (Tiền) hôm Lộc (Chúng bọn hắn) Người đẹp, có nhân cách, nhân cách người khác theo cách ứng xử trước thời thế, họ gương mặt hay mặt Tất nhân vật sống động sống thực Chọn phương pháp kể chuyện ngơi thứ nhất, nhà văn có điều kiện bày tỏ tình cảm cách chân thành nhất, đồng thời tái nhân cách cao đẹp

Ở truyện ngắn Cặp vợ chồng chân động Từ Thức, nhân vật Tơi đến thăm gia đình Tồn Với lịng cảm thơng, khâm phục trước sống anh thương binh mù người vợ tần tảo, niềm xúc động trước lĩnh sống họ, người kể có câu văn chân thành, xúc động: "Tôi bưng bát cơm gạo xấu lên mà lòng ngậm ngùi Những người

q giàu lịng tự trọng, lại có tính hay xấu hổlà sống gian trn Nhưng

khơng có người gàn dở ấy, số phận gặp may

đời nhạt nhẽo biết chừng nào" [19,tr.283]

Có tác giả người trần thuật ban đầu sau tham gia vào cốt truyện, gia nhập vào cảnh ngộ để nói lên tiếng nói người nếm trải truyện Hai ông già Đồng Tháp Mười Hai người hoàn toàn xa lạ, thời họ gặp dựa vào để có chỗ đứng sống Nhưng Nguyễn Khải không dừng lại miêu tả tỉ mỉ biến cố đời họ mà dừng lại miêu tả tâm lý, tinh thần người trước tai hoạ Ông Hai trải qua bi quan tuyệt vọng có lúc nghĩ đến chết nhờ có tình cảm đùm bọc, u thương người, sống ông hồi sinh trở lại Một ngưòi biết "cái mặn chát kiếp người" phải ứa nước mắt "vì khắc nghiệt đời có mà bao dung

(111)

công nhận hay khơng, ơng khơng cần nói ra, gặp người lương tâm ông thản "không phải ngượng nghịu, xấu hổ" Trực tiếp đối thoại nhân vật, người kể phát tiềm lực tinh thần người: "Cái tiềm lực ông già lớn thật, người mạnh rẽ

sóng, rẽ gió mà đi, có tai hoạ rủi ro dám bén mảng" [19,tr.215] Sâu sắc

hơn tình cảm người kể chuyện người đời: "Một gương mặt rạng rỡ, tự tin, gương mặt nhẫn nhục chịu đựng, hai gương mặt một kiếp người khéo gặp để gợi nên niềm vui, niềm tin mà

chỉ lúc đứng tuổi nhận ý nghĩa thâm trầm nó" [19,tr.223]

3.2.2.2 "Tơi" nhân vật tự kể

Sáng tác theo kiểu trần thuật Tơi tự bộc bạch tâm tư tình cảm mình, chủ thể trần thuật "nhân vật hố" trực tiếp làm người kể chuyện, kể lại chuyện Cái Tơi người kể chuyện nhiều trùng hợp với kiện đời sống tâm tư tình cảm thân nhà văn Nhưng có để thể "cái ngồi mình", thực sống "khúc xạ qua lăng kính nhà văn" Và Tơi khơng hồn tồn đồng với số phận, tính cách nhà văn Kiểu trần thuật thể qua tác phẩm: Một giọt nắng nhạt, Nghề văn công phu, Chút phấn đời, Anh hùng bĩ vận Những sáng tác

"hình thức trần thuật có tính bộc lộ chủ quan mang sắc thái cảm xúc cao độ" [33,tr.150]

(112)

với tự ý thức thân cao độ Đó người phụ nữ tuổi 40 mà đẹp, đầy sức thu hút chinh phục người khác phái Người phụ nữ có quyền mơ ước sống cao sang hồn tồn thực niềm mơ ước Thế nhưng, không chạy theo ảo tưởng xa xôi người đàn bà đẹp ý thức vị mình, ý thức quy luật "cho" "nhận" sống Nhập vai vào nhân vật, thể nội tâm đầy phức tạp người phụ nữ đẹp chấp nhận đời làm vợ, làm mẹ bình thường với vất vả, người kể chuyện thể cảm thông, chia sẻ, thấu hiểu cung bậc tình cảm tâm hồn nhân vật Lời tâm nhân vật trang sách ta nghe lời chuyện trò, giãi bày người bạn ngồi đời: "Tơi vui chứ! Nhưng niềm vui cho, hy sinh, chút phấn đời giúp sống n ổn năm cịn lại Ở hồn cảnh tơi, lứa tuổi tơi cịn mong nhận để bù lại nhiều năm thiếu tức tìm niềm vui gai nhọn Tơi cịn có nhiều máu đâu để hy vọng

hồi sinh Đó bí mật nho nhỏ tơi muốn giữ riêng chết" (Chút

phấn đời)

Trong truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi "có người kể

chuyện đóng vai tác giả nhà văn, nhà báo, "Chú Khải", "Ông Khải "

cùng với nhiều chi tiết tiểu sử biểu nhu cầu nhà văn muốn nói

mình, muốn coi đối tượng văn chương" [4,tr.141] Trong lời Tự

bạch, nhà văn tâm sự: "Nếu truyện ngắn tuểu thuyết có chuyện người khơng có chuyện mạng sống nó khơng thể dài báo ( ) Mọi truyện ngắn tiểu thuyết tơi, nói cho tơi tơi, nên có truyện viết cách bốn chục năm, đọc lại đem lại cho nhũng

cảm nghĩ bây giờ, xúc động bây giờ" [26,tr.421] Tâm lý chung

(113)

thân mà kể, chờ đợi lời khuyên bảo, phán xét từ phía người nghe độc giả tác giả tự nhiên thiết lập mối quan hệ tâm tình bè bạn Tâm lý thuận lợi để tiếp nhận thái độ yêu ghét người kể thể qua giọng kể nói riêng tác phẩm nói chung

Người ta thấy, "Nguyễn Khải hay viết thân mình, lối hồi ký,

tự truyện" (Nguyễn Đăng Mạnh) Và giới nghệ thuật ông, người

ta thường thấy có bóng dáng ơng, hình mẫu lí tưởng ơng hay bóng dáng người dì, người mẹ, bóng dáng kỷ niệm ngào cay đắng tuổi thơ ơng Ơng khai thác triệt để vào kho kinh nghiệm riêng, vốn trải nghiệm riêng để viết nên nhiều truyện ngắn mang tính chất hồi ức Cầm bút viết văn, Nguyễn Khải nghĩ: "Tơi gặp lại tơi, gặp lại

những người thân thiết tơi để có dịp nhìn lại, ngẫm lại" người

cuộc đời (Hồi ức). Đó câu chuyện thật, chân thành, xúc động, "mọi truyện ngắn tiểu thuyết tơi, nói cho tơi

hoặc tơi". Nhà văn đặt bút viết "được chạm vào việc

và cảnh ngộ có thật cuộc sống" "tôi mượn vỏ, xác

của người này, người kia, hồn phải mình" [19, tr6-7]

(114)

tự vệ Nguyễn Khải có ý thức việc xây dựng "Tôi" tự hoạ

Trong nhiều truyện ông, bật tình tiết li kì hay nhân vật khác lạ, mà chủ yếu xoay quanh suy ngẫm, thái độ, tình cảm hay cách đánh giá "Tôi" - nhà văn sống người

Ở truyện ngắn Một giọt nắng nhạt người ta thấy Nguyễn Khải đưa tất đời lai lịch riêng lên trang giấy, "cánh cửa bị đóng chặt" (theo cách nói nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn) mở toang Tác giả đem đời tư viết nên dịng tự truyện hấp dẫn Mạch trần thuật Một giọt nắng nhạt nối tiếp, đan xen khứ Nhân vật Tơi sau mà tuổi ấu thơ nếm trải, ý thức để vượt lên Tồn truyện "những lời thiết tha thầm kín,

những hồi ức tơi đau khổ, tự trình bày đời riêng"

Tuổi thơ Tơi in đậm nỗi khổ đau cậu bé vốn khờ khạo, vụng về, lại người vợ lẽ, bị chồng hắt hủi, ghẻ lạnh nên sống cực phải chạy ăn bữa Đó sống ê chề, nhục nhã vài chục năm sau nhớ lại, tác giả thấy "ớn rợn": "Con chẳng

con, đầy tớ chẳng đầy tớ, bỏ không được, nhẫn nhục trơ tráo mà sống" [15,tr.510] Dòng tự truyện nhân vật xoay quanh thời thơ ấu gian khổ, đắng cay, có lẽ khơng có nỗi khổ mà nhân vật trải qua, bị nghi ăn cắp bị đuổi khỏi nhà Tôi quay trở với mẹ em thân hình ghẻ lở, ốm yếu sống bi đát đến mức ba mẹ nghĩ đến chuyện tự tử Tất tái cách chân thực qua lời tự truyện người kể Cuộc sống, người kể khẳng định: "Cái khổ có giới hạn nó, khổ người ta chết,

mà chết hết chuyện, hết lo, hết sợ, hết nhục, hết đói"

(115)

Tơi Nghề văn công phu kể bước đầu "chập

chững" đến với văn học, qua trau dồi, rèn luyện trở nên vững

vàng, gắn bó với đến mức "dù nghề bạc đãi tôi, hành hạ dù

vẫn tự nhủ không bỏ" [15,tr.666] Nhân vật Tơi truyện khơng có

sự giằng xé nội tâm, dằn vặt, mổ xẻ tâm lý người hoạ sĩ truyện ngắn Bức tranh (Nguyễn Minh Châu) mà lời kể, dẫn dắt người đọc đến với kỷ niệm vui buồn nghề viết văn

Trong văn học thời kỳ đổi mới, nhà văn Nguyễn Minh Châu hay sử dụng lối trần thuật thứ Nhân vật Tôi Nguyễn Minh Châu thường nhân vật trí thức làm nghề viết văn, viết báo Nhưng Nguyễn Khải, "nhân vật Người kể chuyện hữu hình mang dáng dấp tự hoạ đầy

ý thứccủa nhà văn" đậm nét Và "là sáng tạo nghệ thuật đặc sắc

của Nguyễn Khải kiểu người tự ý thức văn học, đặc biệt văn

học thời kỳ Đổi mới" [29,tr.190] Trên vài phương diện nói, kiểu

chân dung tự hoạ Nguyễn Khải có điểm tương đồng với kiểu chân dung tự hoạ Nam Cao khát vọng nhận thức nhu cầu giãi bày, chiêm nghiệm

Trong sáng tác Nguyễn Khải, điểm nhìn trần thuật nhà văn lựa chọn phù hợp với kiểu loại nhân vật để gửi gắm tình cảm, tư tưởng ý đồ nghệ thuật Các điểm nhìn trần thuật này, mặt, tạo nên chiều sâu cho bối cảnh, cho nhân vật, mặt khác góp phần quan trọng vào việc tạo giọng điệu Tuy nhiên, "dù có xuất hay không xuất nhân vật Người kể chuyện (hữu hình hay vơ hình), người đọc thấy ám ảnh

bóng dáng tư tưởng hình tượng tác giả - nhà văn Nguyễn Khải"

[29,tr.192] Đúng ý kiến nghiên cứu Vương Trí Nhàn: "Trong

trường hợp thành công mình, Nguyễn Khải người kể chuyện thông minh, la cà khắp nơi chia sẻ với người vui buồn quan

(116)

KẾT LUẬN

Với nửa kỷ sáng tạo nghệ thuật, Nguyễn Khải thể tài năng, cá tính sáng tạo nhà văn có phong cách Ơng khiêm tốn tự cho đời "một giọt nắng nhạt", đời viết văn công chức, thực đời người khơng ngừng hướng tới sáng tạo tự hồn thiện Những cơng trình nghệ thuật Nguyễn Khải khẳng định vị trí đóng góp lớn lao ông phát triển văn chương Việt Nam thời đại

Luận văn Hình tượng tác giả truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳđổi mới đóng góp nhỏ bé chúng tơi vào tiến trình tìm hiểu giá trị sáng tác Nguyễn Khải Qua việc nghiên cứu hình tượng tác giả truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi mới, chúng tơi rút số kết luận sau đây:

1. Truyện ngắn Nguyễn Khải thời kỳ đổi thực bạn đọc mến mộ Truyện ngắn ông nắm bắt thể bao đổi thay người, sống thời kỳ đổi đất nước Ngòi bút sắc sảo, đầy "chất văn xuôi" nhà văn ln hấp dẫn độc giả họ tìm thấy "cái cần" chiêm nghiệm tác giả bám sát bước đời sống xã hội quan tâm đặc biệt tới số phận người trước thay đổi lịch sử

(117)

nghệ thuật nhà văn người đời trở nên đa dạng, phong phú sâu sắc hơn: vừa thực tỉnh táo, vừa sắc sảo tinh tế lại vừa giàu tính phân tích

3. Cảm hứng nghiên cứu, khám phá chiêm nghiệm đời sống chi phối giọng điệu tác phẩm nhà văn, giọng điệu trần thuật đa thanh, phức điệu, mang đậm chất tiểu thuyết: chia sẻ với nỗi niềm người trước đời; hài hước, hóm hỉnh, thâm trầm lối diễn đạt; tranh biện để kiếm tìm, chân lý đời sống; chiêm nghiệm, triết lý vấn đề, tượng đời

4. Đến thời kỳ đổi mới, lối trần thuật nhà văn có nhiều biến đổi, từ nhìn khách quan gần tuyệt đối chuyển sang nhìn chủ quan Nhà văn khơng đứng quan sát miêu tả nhân vật cách lạnh lùng mà thâm nhập sâu vào giới nội tâm nhân vật, thăm dò khám phá chiều sâu bí ẩn đời sống tinh thần người

Nhân vật người kể chuyện sáng tạo độc đáo Nguyễn Khải Hình tượng người kể chuyện ngơi thứ có tham dự nhà văn, nhà báo có mang tên Kh, Khải với nhiều yếu tố tiểu sử nét truyện ngắn Nguyễn Khải Ở đây, ta thấy lên người kể thơng minh, chịu đi, chịu tìm tòi, hay nhận xét, la cà khắp nơi, chia sẻ với người suy nghĩ, vui buồn quan sát việc đời Sự xuất người kể trải, hiểu đời, hiểu người, với triết lý thông minh, sắc sảo truyện ngắn Nguyễn Khải hút bạn đọc Bởi người kể hôm người truyền phán chân lý mà chủ yếu kích thích bạn đọc bàn bạc tìm kiếm chân lý đời sống Mong muốn đối thoại biểu mối quan hệ bình đẳng nhà văn bạn đọc

(118)

"Ông mải miết dịng đời xi ngược, chăm nhìn ngắm

người sống xung quanh, dừng lại khen người câu, bình luận việc chút, tự giễu mình, nhạo đời, tưng tửng đùa mà thật ông phát bao điều nghiêm túc nhân sinh

thế Ông nhìn ơng nhìn lại, ơng chiêm nghiệm ông triết lý"

[29,tr.192] Đó người nhìn sống người với nhìn nhiều chiều, nhiều mối quan hệ, nhìn mang tính tồn vẹn Nguyễn Khải

6. Trải qua nửa kỷ cầm bút, Nguyễn Khải để lại dấu ấn riêng qua truyện ngắn viết cuối kỷ XX Mỗi trang văn ông trang đời người cầm bút suốt đời khơng thơi trăn trở, nghĩ suy, mải mê kiếm tìm thật bề sâu sống Những trang đời không chút hổ thẹn với danh dự danh phận người cầm bút, lẽ qua năm tháng đời, ông sống viết người chiến sĩ mặt trận tư tưởng, đem ngịi bút trọn đời cống hiến cho nghiệp cách mạng dân tộc, nhân dân Cuối cùng, xin lấy lời nhận xét Vương Trí Nhàn làm lời kết cho luận án mình: "Muốn hiểu người thời đại với tất hay dở họ, muốn hiểu cách nghĩ họ,

đời sống tinh thần họ phải đọc Nguyễn Khải" [32] Đó lời khẳng định

(119)

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Vũ Tuấn Anh (1994), "Đổi văn học phát triển", Tạp chí Văn học, (4) Lại Nguyên Ân (1984), "Văn học phê bình", Nguyễn Khải tác gia

tác phẩm, Nxb Giáo dục

3 M Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Nxb Giáo dục, Hà Nội

4 Nguyễn Thị Bình (1998), "Nguyễn Khải tư tiểu thuyết", Văn học, (7) Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1997), Từ điển thuật ngữ Văn

học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội

6 Hà Nội mắt tôi (1998), Nxb Hà Nội

7 Đơng Hồi (1983), Nhận thức thẩm định, Nxb Văn học, Hà Nội

8 Nguyễn Văn Hạnh (2002), "Vài ý kiến tác phẩm Nguyễn Khải",

Nguyễn Khải tác gia tác phẩm, Nxb Giáo dục

9 Đoàn Trọng Huy (1990), "Vài đặc điểm phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải", Nguyễn Khải tác gia tác phẩm, Nxb Giáo dục

10 M.B Khrapchenco (1978), Cá tính sáng tạo nhà văn phát triển

văn học, Nxb Tác phẩm mới, Hội nhà văn Việt Nam

11 M.B Khrapchenco (2002), Những vấn đề lý luận phương pháp luận

nghiên cứu khoa học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội

12 Nguyễn Khải (1996), Truyện ngắn chọn lọc, Nxb Hội nhà văn, H

13 Nguyễn Khải (1996), Tuyển tập Nguyễn Khải, Tập I, Nxb Văn học, Hà Nội 14 Nguyễn Khải (1996), Tuyển tập Nguyễn Khải, Tập III, Nxb Văn học, Hà Nội 15 Nguyễn Khải (1996), Tuyển tập Nguyễn Khải, Nxb Văn học, Hà Nội 16 Nguyễn Khải (1997), Một thời gió bụi, tập truyện ngắn, Nxb Lao động 17 Nguyễn Khải (1999), Chuyện nghề, Nxb Hội nhà văn, H

(120)

19 Nguyễn Khải (1999), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học

20 Nguyễn Khải (2001), Sống đời, Tập truyện ngắn, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh

21 Nguyễn Khải (2002), Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải (tuyển chọn), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội

22 Phương Lựu, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà (1986), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội

23 Nguyễn Đăng Mạnh, Lại Nguyên Ân, Trần Đình Sử, Nguyễn Thảo (1987), Một thời văn học mới, H

24 Nguyễn Đăng Mạnh (1982), Hai tiểu thuyết gần đây,Tác phẩm 25 Nguyễn Đăng Mạnh (2000), Con đường vào giới nghệ thuật

nhà văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội

26 Nguyễn Đăng Mạnh (2000), "Nguyễn Khải - Đời người đời văn", Nguyễn

Khải tác gia tác phẩm, Nxb Giáo dục

27 Tuyết Nga (2004), Phong cách văn xuôi Nguyễn Khải, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội

28 Chu Nga (2002), "Điểm nhìn ngịi bút thực Nguyễn Khải", Nguyễn

Khải tác gia tác phẩm, Nxb Giáo dục

29 Đào Thuỷ Nguyên (2008), Phương pháp tiếp cận sáng tác Nguyễn

Khải giảng dạy Văn học Việt Nam đại, Nxb Giáo dục

30 Vương Trí Nhàn (1996), Tuyển tập Nguyễn Khải (tuyển chọn giới thiệu), tập 3, Nxb Văn học, H

31 Vương Trí Nhàn (1996), "Nguyễn Khải vận động văn học cách mạng từ sau 1945", Nguyễn Khải tác gia tác phẩm, Nxb Giáo dục 32 Vương Trí Nhàn (1996), Lời giới thiệu tuyển tập Nguyễn Khải, tập 1, Nxb

Văn học, H

(121)

34 Nhiều tác giả (1996), 50 năm Văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

35 G.N Pôspêlôv (1985), Dẫn luận nghiên cứu văn học, tập 1, 2, Nxb Giáo dục 36 Trần Đình Sử (1996), Lý luận phê bình Văn học, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 37 Trần Đình Sử (1998), Giáo trình dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục 38 Nguyễn Hữu Sơn (1999), "Đọc truyện ngắn tạp văn Nguyễn Khải",

Nguyễn Khải tác gia tác phẩm, Nxb Giáo dục

39 Bích Thu (1997), "Giọng điệu trần thuật truyện ngắn Nguyễn Khải năm 80 đến nay", Nguyễn Khải tác gia tác phẩm, Nxb Giáo dục 40 Bích Thu (1998), Theo dịng Văn học, Nxb Khoa học Xã hội, H

41 Hà Công Tài, Phan Diễm Phương (2002), Nguyễn Khải tác gia tác

Ngày đăng: 15/05/2021, 02:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1994), "Đổi mới văn học vì sự phát triển", Tạp chí Văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1994
2. Lại Nguyên Ân (1984), "Văn học và phê bình", Nguyễn Khải về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1984
3. M. Bakhtin (1993), Những vấn đề về thi pháp Đôxtôiepxki, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
4. Nguyễn Thị Bình (1998), "Nguyễn Khải và tư duy tiểu thuyết", Văn học, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khải và tư duy tiểu thuyết
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1998
5. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1997), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1997
6. Hà Nội trong mắt tôi (1998), Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội trong mắt tôi
Tác giả: Hà Nội trong mắt tôi
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1998
7. Đông Hoài (1983), Nhận thức và thẩm định, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức và thẩm định
Tác giả: Đông Hoài
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1983
8. Nguyễn Văn Hạnh (2002), "Vài ý kiến về tác phẩm của Nguyễn Khải", Nguyễn Khải về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài ý kiến về tác phẩm của Nguyễn Khải
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
9. Đoàn Trọng Huy (1990), "Vài đặc điểm phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải", Nguyễn Khải về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài đặc điểm phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải
Tác giả: Đoàn Trọng Huy
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1990
10. M.B. Khrapchenco (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, Nxb Tác phẩm mới, Hội nhà văn Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học
Tác giả: M.B. Khrapchenco
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1978
11. M.B. Khrapchenco (2002), Những vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: M.B. Khrapchenco
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2002
12. Nguyễn Khải (1996), Truyện ngắn chọn lọc, Nxb Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn chọn lọc
Tác giả: Nguyễn Khải
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1996
13. Nguyễn Khải (1996), Tuyển tập Nguyễn Khải, Tập I, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nguyễn Khải
Tác giả: Nguyễn Khải
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1996
14. Nguyễn Khải (1996), Tuyển tập Nguyễn Khải, Tập III, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nguyễn Khải
Tác giả: Nguyễn Khải
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1996
15. Nguyễn Khải (1996), Tuyển tập Nguyễn Khải , Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nguyễn Khải
Tác giả: Nguyễn Khải
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1996
16. Nguyễn Khải (1997), Một thời gió bụi, tập truyện ngắn, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thời gió bụi
Tác giả: Nguyễn Khải
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1997
17. Nguyễn Khải (1999), Chuyện nghề, Nxb Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện nghề
Tác giả: Nguyễn Khải
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1999
18. Nguyễn Khải (1999), Tuyển tập tiểu thuyết, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tiểu thuyết
Tác giả: Nguyễn Khải
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1999
19. Nguyễn Khải (1999), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Khải
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
20. Nguyễn Khải (2001), Sống ở đời, Tập truyện ngắn, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống ở đời
Tác giả: Nguyễn Khải
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2001

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w