Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) là nhà tư tưởng lớn, nhà hoạt động chính trị, giáo dục có cống hiến nổi bật trong lịch sử dân tộc ta cuối thế kỷ XVIII. Ở Ngô Thì Nhậm có sự kết hợp nhuần nhuyễn con người hành động và con người suy tư triết học. Ông chủ trương giáo dục đạo làm người theo các chuẩn mực của Nho giáo, tập trung vào các phẩm chất: “Trung” và “hiếu”. Bài viết tập trung luận giải quan niệm của Ngô Thì Nhậm về đạo trung hiếu.
JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE Social Sci., 2012, Vol 57, No 6, pp 111-120 QUAN NIỆM CỦA NGƠ THÌ NHẬM VỀ ĐẠO TRUNG, HIẾU Nguyễn Bá Cường Trường Đại học Sư phạm Hà Nội E-mail: cuongnb@hnue.edu.vn Tóm tắt Ngơ Thì Nhậm (1746 - 1803) nhà tư tưởng lớn, nhà hoạt động trị, giáo dục có cống hiến bật lịch sử dân tộc ta cuối kỷ XVIII Ở Ngơ Thì Nhậm có kết hợp nhuần nhuyễn người hành động người suy tư triết học Ông chủ trương giáo dục đạo làm người theo chuẩn mực Nho giáo, tập trung vào phẩm chất: “trung” “hiếu” Bài viết tập trung luận giải quan niệm Ngơ Thì Nhậm đạo trung hiếu Từ khóa: Ngơ Thì Nhậm, đạo trung, hiếu, quan niệm, phẩm chất đạo đức Mở đầu Trung, hiếu phẩm chất đạo đức đặc biệt quan trọng người theo mẫu hình Nho giáo Ngơ Thì Nhậm (1746 - 1803) nhà Nho tiêu biểu lịch sử dân tộc Do điều kiện trị, văn hóa, tư tưởng thời đại, với trình độ học vấn uyên bác, lực hoạt động thực tiễn sơi mà tư lý luận ông trở nên sắc bén so với nhà Nho trước đương thời Cho đến nay, học giới cịn có ý kiến chưa thống người nghiệp trị ông Bởi vậy, viết tập trung luận giải quan niệm đạo trung, hiếu để qua góp phần làm rõ người nghiệp trị 2.1 Nội dung nghiên cứu Quan niệm Ngơ Thì Nhậm đạo “trung” Trung phạm trù luân lý Nho gia dùng để thái độ chân thành, trung thực, có trách nhiệm, hết lòng việc đối xử với người Hàm nghĩa trị “trung” chuẩn mực đạo đức bề vua, tức suy nghĩ, lời nói, chức vị, sức lực bề thành thực, không giả dối Trong lịch sử phát triển Nho giáo, chữ “trung” gắn liền với xác lập chế độ phong kiến Ở Nho giáo Khổng - Mạnh (thời Tiên Tần), “trung” có tính chất hai chiều, tức nhà vua (hoặc bề trên) bề tơi có trách nhiệm nghĩa vụ với Khổng Tử khẳng định: “Quân sử thần dĩ lễ, thần quân dĩ trung” (Vua sử dụng bề theo lễ, bề phụng vua theo “trung”) (Luận ngữ, “Bát dật” - 3) Kể từ Hán Nho Tống Nho trở đi, chữ “trung” dần mang tính 111 Nguyễn Bá Cường áp đặt chiều, bề tơi phải có trách nhiệm nghĩa vụ phụng nhà vua (hoặc bề trên), nhận đối xử nào, chí dẫn đến quan điểm cực đoan: vua bắt bề phải chết, bề mà không chết bề bất trung (“Quân xử thần tử, thần bất trung”) Đối với nhà Nho nước ta, quan niệm “trung” người, thời khác có cách hành xử, đánh giá khác Ngơ Thì Nhậm có quan niệm cách hành xử, đánh giá không giống quan niệm truyền thống Nho giáo phong kiến “trung” với vua, dòng họ (“trung thần bất nhị quân”) mà thực “trung” với vua, với triều đại biết nước, dân Chính việc thực “trung” với vua gắn liền với tinh thần yêu nước ông điểm khác biệt so với nghĩa gốc chữ “trung” Nho giáo Trung Quốc Ngơ Thì Nhậm xuất thân gia đình nhiều đời làm quan triều Lê - Trịnh Ông trưởng thành triều Lê, chúa Trịnh tin dùng (coi ông “tuấn mã”, làm nhiều việc) Tháng 10 năm 1782, sau chúa Trịnh Sâm mất, loạn kiêu binh nổ ra, Trịnh Tông lên chúa Những người bị cho đứng phe tố giác vụ án năm Canh Tý (1780) khiến cho Trịnh Tông bị giáng làm thứ không nối ngơi chúa, bị bắt, giết Trước đó, nhiều có liên quan đến vụ án nên lúc này, Ngơ Thì Nhậm đành ẩn lánh q vợ Sơn Nam (nay huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình) Trong nhiều viết, ơng phải dựa vào thần linh trời đất để bày tỏ nỗi oan bị hiềm nghi liên đới vụ án [6;721-735] Trong Vi chi phú, ơng bày tỏ ý chí lĩnh mình: “Ta n tĩnh lịng ta, giữ điều kín đáo đơn giản ta Khi việc làm ta hợp với mệnh trời, đem thiên hạ bắc lên cân, không cho lớn Ta giữ gìn thân ta, đường rộng rãi ta Khi bước ta hợp với “lý”, dù có xéo lên hổ không cả” [10;93] Năm 1786, Nguyễn Huệ đánh đổ họ Trịnh, giao quyền bính lại cho họ Lê Ngơ Thì Nhậm trở kinh thành, Lê Chiêu Thống (mới nối vua) ban cho chức Hộ Đô cấp trung, sau thăng Hàn lâm viện Hiệu thảo kiêm Toản tu Quốc sử, bước đầu nhập trở lại Tuy nhiên, nhà Lê suy yếu, khơng cịn vai trị trị nữa, Ngơ Thì Nhậm nhận thức rõ xu thời đại nên ông không “ngu trung” mà thức thời hành động vượt khỏi khuôn mẫu cứng nhắc chữ “trung” Nho giáo phong kiến Dưới nhãn quan trí thức Nho học chân chính, ơng sẵn sàng giúp vua Quang Trung đánh giặc, cứu nước, lòng phò tá nhà vua xây dựng triều đại Tây Sơn theo tư tưởng mang tinh thần cải cách, thân dân Ông vượt bỏ quan niệm bảo thủ, hẹp hòi Nho giáo chữ “trung” để tiến tới quan niệm tiến - trung thành, tận tụy vua, nước Chỉ với cách nghĩ cách làm vượt thời đại thế, Ngơ Thì Nhậm cống hiến phương diện phát triển xã hội Đại Việt thời Quang Trung Nhưng tiếc thay, sau vua Quang Trung mất, lòng trung ông không triều đình ghi nhận Do phải đau đớn chứng kiến sụp đổ hoàn toàn nhà Tây Sơn Ngơ Thì Nhậm khơng khuất phục Nguyễn Gia Long nên chịu kết cục bi thảm Có thể nói, quan niệm “trung” Ngơ Thì Nhậm có phát huy tư tưởng “trung với vua” gắn liền trách nhiệm với đất nước Nguyễn Trãi Nguyễn Bỉnh Khiêm Ơng 112 Quan niệm Ngơ Thì Nhậm đạo trung, hiếu bổ sung điều kiện thực “trung” nêu cao trách nhiệm bề vua, với nhân dân đất nước Đối với Ngơ Thì Nhậm, chữ “trung” thực điều kiện nhà vua phải sáng suốt, công bằng, hiền đức, biết xem xét công việc coi trọng bề tơi Theo ơng, bề tơi có “lịng trung hăng hái” “vì có vua hiền trí, sáng suốt soi xét thần” [6;63] Ơng cịn nói: “Tôi hiền gặp vua thánh, thật hợp với công việc hơm nay” [7;332] Điều có nghĩa vua - bổ sung cho để tạo nên hài hịa cơng việc quốc gia, xây dựng triều đại rạng rỡ Ngơ Thì Nhậm nhận thức rằng, có vua anh minh bề tơi cúi đầu phụng tận tụy hết mình, khơng dám mưu đồ thí nghịch Nhưng có lúc ơng tỏ cực đoan, bảo thủ quan niệm Tống Nho không muốn xảy “cái biến lớn đạo người” nói rằng: “vua bất nhân, bề tơi không bất trung” (quân bất nhân, thần bất khả bất trung) [9;165-167] Hạn chế Ngơ Thì Nhậm khó tránh khỏi giới hạn nhà Nho phong kiến ẩn dật đọc Kinh Xuân Thu nêu lên “quản kiến” Trên thực tế, sau đó, thơng qua việc lựa chọn minh qn vua Quang Trung để phụng sự, ơng hồn tồn vứt bỏ lập trường cũ để thực bước ngoặt nhận thức hành động lịch sử đất nước sang trang triều đại Tây Sơn Ngô Thì Nhậm quan niệm lịng trung thành bề tơi phải thể lĩnh, trách nhiệm phụng tận tụy phải hành động để giúp vua khơng nói sng hay im lặng Vì thế, đạo làm bề cần phải “dựa vào nghĩa lý để phán xử”, “lấy trung thực làm trách nhiệm” [9;183] Ông rõ: “Làm người bề tôi, thờ ông vua tài giỏi, biết mà khơng làm, khơng trung; đứng triều đình nói mà lặng im khơng nói, khơng thành” [6;747] Bản lĩnh trí tuệ bề tơi trung thành thể chỗ: “muốn khuyên can nhà vua làm điều thiện, tất phải sửa đổi lịng bất nhà vua” [9;583] Đây điều táo bạo vượt khỏi khuôn mẫu khắc nghiệt Tống Nho Ngơ Thì Nhậm cịn khuyến khích bề Tơi nêu cao ý chí trở thành người anh hùng phụng vua hiền đức Theo ông, để xứng đáng với “chức phận kẻ làm tụi” khơng nên ẩn mà cần phải biết hành động (phải biết bay cao, vươn xa “ruổi rong vũ trụ” thi thố tài năng) [6;98] Nhằm mục đích giáo dục lịng trung thành ý chí phấn đấu bề tơi, Ngơ Thì Nhậm nêu lên khn mẫu bậc đại thần Thơng qua đó, ơng nhấn mạnh tính quán việc thực chữ “trung”, kể từ suy nghĩ, biểu ý chí tâm hành động phụng nhà vua, làm rạng danh gia đình, cống hiến cho đất nước “Trung” cịn thể phẩm chất đạo đức khác như: khoan dung, nghiêm túc, dũng mãnh, anh hùng, Đề cao chữ “trung”, ơng có riêng tác phẩm Biểu trung phú Ở đó, ơng điều kiện để lịng trung bộc lộ: “Thời đến lúc cùng, khí tiết phát hiện, nước gặp buổi loạn, trung thành hay” Ơng địi hỏi bề tơi trung thành phải có lĩnh khí chất “kiên cường đá núi; bền bỉ thông mùa đông phải nhường” Có “đem thân văn kiêm võ; nêu nghĩa mn đời vua tơi” Ơng nêu tác dụng lịng trung khơng phạm vi khơng gian tự nhiên (“chính khí lẫm liệt tràn khắp vũ trụ, ; tinh trung rực rỡ đầy xn thu” “lịng trung thành thấu qua bóng nhật; chí tráng liệt ngang chắn trời thu”) mà cịn giúp cho “luân lý đời người 113 Nguyễn Bá Cường nhờ mà chống chọi cho” [6;389-391] Ngơ Thì Nhậm cịn so sánh việc thực lịng trung khơng phải đơn giản việc người ta làm theo lễ (những quy phạm chế độ phong kiến) mà vấn đề hành động tận trung nghĩa Ơng dựa vào nhân vật lịch sử để phân định lịng trung đề cao nghĩa, đồng thời giáo dục người đời noi gương bậc trung liệt, trực nhiệm vụ phụng triều đình Từ kinh nghiệm thân, ông nêu yêu cầu suy nghĩ, cách thức xử bề vua Vì “làm bầy tơi chẳng dễ, đường khó khăn”, “trên khơng thường, tiến lui chẳng định”, bốn phương không phẳng mà hiểm nghèo nên cần lấy việc siêng làm cốt yếu thuận theo lẽ phải [6;344] Ơng tổng kết: “Nói tóm lại, bầy tơi thờ vua, khơng khó gặp lúc gian nguy cần hy sinh, khó biết làm theo lễ” [9;183] Ngơ Thì Nhậm quan niệm chức phận bề không trung với vua mà cịn phải đảm trách việc giáo hóa làm cho dân hưởng sách triều đình [6;124] Ơng u cầu trách nhiệm phải thực lúc nơi (“Dù cửa khuyết hay chốn giang hồ, bầy tơi,/ Lịng ln lo lắng việc vua, việc dân”) [8;321] Thậm chí bề tơi phải biết “vì nước qn nhà”, coi trọng trước hết công việc quốc gia, không mảy may làm việc nhỏ [9;542] Điều khơng mong muốn ơng mà cịn đòi hỏi cần thiết xã hội đội ngũ quan lại Ngơ Thì Nhậm phải cổ vũ nỗ lực cố gắng quan lại: “Sớm tối dốc hết lịng, trung nước u dân, kính giữ phận thần tử” [7;485]; “Làm việc nhà vua phải thận trọng”, “Giúp việc nhà nước phải quên mình” [8;616] Tuy nhiên, thực tế, thực giáo lý Nho gia có thực tâm phụng nhà vua giúp dân, giúp nước Gắn việc giáo dục thực “trung với vua” trách nhiệm với đất nước, Đề yết tâm xứ, Ngơ Thì Nhậm nêu lên tư tưởng hành đạo khơng ngừng nghỉ Ơng cho rằng, “đức” lịng khơng nên dừng (tức), khơng nên nghỉ (yết) theo quan niệm nhà Phật “việc cần kíp nhà Nho chúng ta” “ở chốn sơng hồ lo cho vua, ngồi chốn miếu đường lo cho dân”, bình tĩnh mà suy, khơng lúc yết Như lịng khơng hổ thẹn, yết nhiều” [8;165] Quan niệm ơng vận dụng suốt nghiệp trị Ngơ Thì Nhậm vua Quang Trung tin tưởng cử giữ chức soạn thảo chiếu thư Ngay bị bệnh nghĩ đến việc vua, việc nước, ông không quản khó khăn mà gắng gượng để thêm hăng hái tinh thần Ơng tự nhủ “giữ lịng trung tín” “ở đâu non sơng phù trì tốt” “phần nhiều bệnh tự khỏi” [8;225] Sự lạc quan ơng có tính chất huyền có ý nghĩa giáo dục niềm tin việc giữ gìn lịng trung tín, đồng thời nêu rõ tác dụng phương cách ứng xử trọng dụng người hiền tài nhà vua Đối với thân, dù “phận làm tơi phải khó nhọc” Ngơ Thì Nhậm ln nâng cao trách nhiệm, giữ lịng trung trinh, khơng nhãng việc nước [8;173] Quan niệm “trung” Ngơ Thì Nhậm bắt nguồn từ tư tưởng Khổng - Mạnh, ơng thực quan niệm “trung” xã hội thực thông qua 114 Quan niệm Ngơ Thì Nhậm đạo trung, hiếu nghiệp trị mà phải đương đầu Mặt khác, “trung” ông thực bổn phận bề nhà vua trách nhiệm nhà vua đất nước Trong quan niệm thực tiễn hoạt động trị, ơng địi hỏi đội ngũ quan lại, nho sĩ, quân sĩ phải trung thành với nhà vua, trung với nước Điều cho thấy quan niệm chủ trương thực giáo dục “trung” ơng có điểm khác biệt so với Nho giáo Trung Quốc Từ quan niệm Ngơ Thì Nhậm, nhận thấy rằng: “Trong Nho giáo Việt Nam, việc lựa chọn giá trị đạo đức lấy “trung thay hiếu”, “trung với nước”, “trung quân” phải “ái quốc”, lựa chọn hàng đầu hồn cảnh địi hỏi [1;24] Điểm khác biệt Ngơ Thì Nhậm thể chủ trương thực “trung” gắn liền với thực “hiếu” 2.2 Quan niệm Ngơ Thì Nhậm đạo “hiếu” Hiếu phạm trù luân lý Nho gia, coi gốc nhân luân, nguồn đạo đức “Nho gia tiếng mặt coi trọng luân lý đạo đức “hiếu” nội dung đứng hàng đầu quan niệm luân lý đạo đức Nho gia” [4;39] Đạo hiếu coi tảng tam cương, ngũ thường, sản phẩm chế độ phong kiến tông pháp lấy kinh tế tiểu nông làm sở, lấy quan hệ huyết thống làm quan hệ xã hội chủ yếu người với người Nho giáo ý giáo dục tình yêu thương cha mẹ cái, lấy làm quan hệ kết cấu xã hội Nho giáo coi “nhân” đức mục cao có người quân tử, “hiếu” đức hạnh có tất người Chú trọng giáo dục “hiếu”, Nho gia muốn học trò trở thành người hồn thiện, đảm đương việc trị quốc, an dân Vì thế, Nho gia mở rộng khả thực “hiếu” tất người, coi gốc “nhân” Chủ trương thực đạo “hiếu” lịch sử phát triển Nho giáo chứng tỏ ý nghĩa tích cực là: đề cao công lao cha mẹ cái, coi trọng kính thuận cha mẹ, Điều tạo nên đạo lý tốt đẹp văn hoá truyền thống nước “đồng văn” Về chữ “hiếu”, chữ “trung”, Ngơ Thì Nhậm tiếp tục kế thừa quan niệm Nho giáo Khổng - Mạnh có bổ sung thêm nhiều nội dung cụ thể “hiếu” bàn đến cách sâu sắc mối quan hệ “hiếu” với “trung” Thứ nhất, hiếu đứng đầu vị trí mối quan hệ người với người, tiêu chí cao để đánh giá phẩm chất đạo đức người Cơ sở đạo hiếu Ngơ Thì Nhậm nêu rõ “phận làm phải chăm chỉ, gắng tiến bước, xứng với lòng cha, lo lắng việc nhà” trách nhiệm người làm cha phải có hiểu biết để định hướng cho [8;312-313] Ông quan niệm: “Người làm cha làm anh, không hiểu biết ý nghĩa việc ứng xử lúc biến, tất đưa em đến chỗ lỗi lầm” [9;413] Ngơ Thì Nhậm từ quan hệ máu thịt tự nhiên để lý giải quan hệ tình cảm phương cách ứng xử: “Cha quan hệ thân mật theo tính thiên nhiên Nhưng thiên lệch mà sáng suốt, sáng suốt sinh nghi ngờ Nghi ngờ sinh ghét bỏ Ghét bỏ sinh tàn nhẫn” Nếu “người làm cha nghe lời gièm pha 115 Nguyễn Bá Cường mà không suy xét, cố nhiên tổn thương đến ân tình Những nghe người khác nói lời ly gián mà khơng biết phân tách nhận xét, bị lời khen ngợi che lấp mà rõ mặt xấu, xảy biến cố từ nơi khủy nách (trong gia đình)” [2;455] Do quan niệm đạo trị gia trực tiếp liên quan đến đạo trị nước nên ông coi phức tạp biến cố gây tổn thương gia đình “là điều đáng lo ngại việc đứng đầu nhà nước” Bởi thế, ông chủ trương “đường lối đề phịng lúc bé tí, ngăn ngừa lúc chớm nở” [2;455] Ông nêu dẫn chứng kiện Kinh Xuân Thu để nói mối quan hệ cha - qua khẳng định đạo hiếu cần thiết ổn định xã hội Theo ông, cần phải ngăn cấm bạo loạn từ quan hệ gia đình ngăn chặn sâu xa bạo loạn xã hội [2;643-644] Coi “đạo nhà gốc đạo nước”, ông tán thành quan điểm Kinh Dịch: “Cha phải đạo cha, phải đạo con, đạo nhà thẳng thiên hạ bình trị” [9;218-219] Do đó, “hiếu” đứng đầu tiêu chí để đánh giá phẩm chất đạo đức người Ông khẳng định: “Một chữ hiếu tạo vị trí đứng đầu mối giường thứ bậc” [8;836] Chủ trương thực đạo làm người theo Nho giáo ông xác lập là: “Hiếu kính trị gia đình; trang nghiêm đối quyến thuộc” [6;645] Ơng coi đạo hiếu có giá trị giáo dục lâu dài, có tác dụng “giữ đạo người” [6;497] Thứ hai, hiếu kính thuận với cha mẹ, biết ơn đền đáp công lao cha mẹ tạo dựng cho thân thể nghiệp Ngơ Thì Nhậm khẳng định: “Làm phải biết dừng lại đạo hiếu” [9;402] Để thực đạo “hiếu”, ông nêu lên số hành động cụ thể, là: ghi nhớ công ơn sinh thành cha mẹ, giữ gìn thân thể cha mẹ sinh lành mạnh, có ý chí lập thân để làm vinh hiển cho thân cho cha mẹ, phụng dưỡng cha mẹ già chơn cất, thờ cúng cung kính cha mẹ Theo ông, học để thành người khó khăn Do đó, làm cần phải biết công ơn sinh thành lớn lao cha mẹ, ghi nhớ chín chữ cù lao Kinh Thi sinh, cúc, dục, phủ, xúc, trưởng, cố, phục, phúc [6;117-118] Ông nêu rõ: làm người có hiếu với cha mẹ, trước hết phải giữ thân thể lành mạnh, sau thành đạt, bạn bè tin tưởng, anh em hịa thuận, để lại phúc cho cháu Ơng viết: “Cha mẹ vất vả có thân ta Thân ta lành mạnh bảo toàn thân thể sót lại cha mẹ Bản thân ta vốn không trụy lạc, không bị vua chúa bỏ rơi, không bị anh em khinh bỉ, cháu tớ hưởng phúc ấm, Người có lịng đại hiếu tơn kính cha mẹ, thứ đến không để nhục cho cha mẹ” [7;329 - 330] Từ quan điểm Khổng Tử: “Phải biết giữ gìn thân thể khoẻ mạnh, tránh nỗi lo cho cha mẹ” (Luận ngữ, “Vi chính” – 6), Ngơ Thì Nhậm cho rằng, “mảng da sợi tóc, nhọc nhằn” cơng lao to lớn cha mẹ “khó mà đem gân cốt đáp đền cơng đại tạo” [7;430] Nếu Khổng Tử quan niệm hiếu tránh lo lắng cha mẹ nên “đi chơi xa phải nói rõ nơi chốn để cha mẹ an lịng” (Luận ngữ, “Lý nhân” – 19), Ngơ Thì Nhậm đề cao tình cảm với cha mẹ đồng thời giáo dục ý thức trách nhiệm người cha mẹ Theo ơng, “đạo người, tình người, khơng thân thiết cha mẹ Khi cha mẹ cịn, khơng dám chơi xa, chơi phải có nơi có chốn, phải coi trọng xa cách cha mẹ” [7;580] Đối với việc phụng dưỡng cha mẹ, Ngô Thì Nhậm từ tình yêu thương cha 116 Quan niệm Ngơ Thì Nhậm đạo trung, hiếu mẹ dành cho để giáo dục thái độ ân cần, chu đáo, cẩn thận, cung kính người q trình chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ Ông nhấn mạnh tình cảm mà cha mẹ dành cho khn mẫu, mà ni dưỡng mãi không đến độ trưởng thành [7;480] Đó khơng trách nhiệm bậc làm cha làm mẹ mà “cốt đức hạnh để lại cho cháu” [9;555] Ông viết: “Cha mẹ con, lo đau ốm, lòng thương yêu tự nhiên Nên phụng dưỡng cha mẹ, mùa đông ấp lạnh, mùa hè quạt nồng, sớm tối chăm lo, thăm hỏi hầu hạ, hết lịng cung kính vơ sự, hầu thuốc nếm thang thêm cẩn thận trái gió trở giời, dốc lịng thành khẩn, e khơng đủ để báo đáp ơn đức sinh thành khơng sánh nổi” [2;643] Những yêu cầu cụ thể việc phụng dưỡng cha mẹ mà Ngơ Thì Nhậm nêu lên trăn trở, nỗi ân hận trước Nguyễn Trãi ơng khơng có hội để “sớm thăm tối viếng”, “quạt nồng ấp lạnh” cho cha mẹ Theo Ngơ Thì Nhậm, đạo làm phụng dưỡng cha mẹ phải kiên trì cốt làm cho cha mẹ vui lịng Bởi “cha mẹ vui lịng lịng hiếu thảo kẻ làm có điều làm vừa lịng cha mẹ Nếu lúc lời nói, vẻ mặt cha mẹ tỏ ý bực bội phật lịng, kẻ làm nên ăn năn hối lỗi, mong cha mẹ vui lòng thơi” [2;641] Cịn người làm việc phụng dưỡng cha mẹ xảy sơ suất dẫn tới biến cố bất ngờ gây phải mang trọng tội (cũng bị coi phường loạn tặc) mà nỗi ân hận khơng ngi dứt Ơng coi điều thánh nhân dạy bảo kẻ làm đời sau phải có trách nhiệm cao, tận tình phụng dưỡng cha mẹ Bởi thế, ông gửi lời nhắn nhủ gian, cịn cha mẹ phải biết trân trọng tận hiếu với cha mẹ Ông viết: “Mọi người cha gian, mà không yêu con, vào năm trước phải vỗ ni nấng ( ) Các gian, có cha lâu dài mãi, phải xa cách, liền trở thành kim cổ” [7;586] Như vậy, qua điều đây, Ngơ Thì Nhậm khơng thể người hiếu thảo với cha mẹ mà lời ơng nói lên có tính chất khun răn có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đạo hiếu Khơng có thế, Ngơ Thì Nhậm cịn nêu lên nội dung giáo dục chữ “hiếu” gắn liền với chữ “trung”, giáo dục trách nhiệm gia đình gắn với trách nhiệm xã hội Đây đóng góp ơng khơng phương diện lý luận mà phương diện thực tiễn - thực hành đạo trung với dân, với nước 2.3 Quan niệm thực đạo “trung” gắn liền với đạo “hiếu” Như nói, nhà Nho nước ta, “hiếu” “trung” coi phẩm chất đạo đức hàng đầu Xét theo quan điểm Nho gia, “nước gốc nhà”, trị quốc trước hết phải tề gia nên thực đạo trung phải gắn liền với thực đạo hiếu Ngơ Thì Nhậm tiếp tục kế thừa Nho giáo Khổng Mạnh có bổ sung thêm nhiều nội dung cụ thể “hiếu” bàn đến cách sâu sắc mối quan hệ “hiếu” với “trung” Ngơ Thì Nhậm nêu lên mối quan hệ việc thực đạo hiếu thực đạo trung Từ việc phân tích tác hại suy vong đạo đức xã hội, ông coi bất trung bất hiếu đưa xã hội lâm vào “cái cảnh cầm thú ăn thịt người” Ông chủ trương cần phải trọng giáo dục đạo đức, đặc biệt trung hiếu Điều ông rõ: “Học để biết đạo, 117 Nguyễn Bá Cường mà cửa đến đạo khơng gần Kinh Xn Thu Đạo khơng khác, trung hiếu mà thơi! Những điều dạy Kinh Xn Thu làm phải trung với vua, làm phải hiếu với cha, to, gốc lớn Sở dĩ lập to, gốc lớn ni dưỡng khí hạo nhiên Được giữ lĩnh người học đạo Nho: “phú quý bất dâm, bần tiện bất di, uy vũ bất khuất”, đồng thời làm cho “nền trung hiếu” vững [9;18-19] Nếu Nguyễn Trãi Nguyễn Bỉnh Khiêm trước khơng nguôi thực nghĩa “quân thân” (vua cha) Ngơ Thì Nhậm ln trọng khơng ngừng thực đạo “thờ vua thờ cha” Theo ông, “nghĩa vua tơi gốc trời đất, tình ơn cha vậy” [6;727] mà “biết không cha, biết bầy không vua” [8;732] Ông khẳng định trung hiếu cốt lõi đạo làm người: “Đại để, vua cốt nghĩa, cha cốt ân, luân lý lớn đạo làm người một” [7;190] Do đó, “đạo tơi vua cha, thờ thờ trời” [8;577] Trải qua biến cố đời sống, Ngơ Thì Nhậm chiêm nghiệm: “mới biết lịng trung hiếu, khó hai [7;432] Song, ơng kiên trì thực ông quan niệm biết dạy đạo trung, đạo hiếu chắn đạo trị nước thực vững bền Như thế, Ngơ Thì Nhậm gắn trách nhiệm cá nhân vào trách nhiệm chung xã hội việc thực trung, hiếu Ông viết: “Giữ phận khơng sai phạm để dạy người đạo trung, thuật thời không sai trái để dạy người đạo hiếu, đạo trị nước chỗ ấy” [9;328] Dưới cách nhìn nhà Nho lịng trời lịng người, Ngơ Thì Nhậm thần thánh hóa việc thực đạo trung đạo hiếu Ông người có lịng trung, hiếu với đấng qn vương cha mẹ trời chiều lịng người [8;47] Không chủ trương “đem trung, hiếu làm khn phép cho gia đình” để “nghiệp lớn rực rỡ, yên vui kéo dài phúc lộc, điềm tốt trùng trùng” [7;468] mà ơng cịn mong muốn người noi gương bậc trung hiền để nhà hưởng phúc nối tiếp dài lâu [8;392] Và thế, ơng, đạo trung, hiếu mang tính phổ biến tồn dân, khơng người học đạo Nho Ông viết: “Làm trung, làm hiếu, dân không ngồi bổn phận,/ Có vũ bị, có văn chương, đạo thánh giúp đỡ phù trì” [7;493] Sở dĩ ơng quan niệm chủ trương mở rộng giáo dục trung hiếu tồn dân ơng nhận thấy tác dụng đạo hiếu người cầm quyền cao (vua) coi trọng thực Khi đó, “đức lớn soi tỏ nơi trăm họ, thấu hết tình mà đạt hết nghĩa, ơn trạch tràn đầy”; “mưu thánh sáng rõ chốn vạn bang, chuộng người thân mà dấy điều nhân” [7;826]; Điều mà Ngơ Thì Nhậm mong muốn ước nguyện Khổng Tử cách hai nghìn năm (theo Khổng Tử: “Mình ăn hiếu với cha mẹ, từ với người dân trung thành với mình”; “Người quân tử mà trọn đạo với cha mẹ, dân chúng hướng Nhân”, dân hiểu “hiếu”, dân biết “hiếu” khơng phạm thượng, tác loạn (Luận ngữ, “Vi chính” - 20; “Thái Bá” - 3) Như thế, việc thực “hiếu” gia đình phạm vi xã hội “hiếu” trở thành “trung” Ngơ Thì Nhậm tán thành quan điểm Kinh Xuân Thu Kinh Dịch nói đạo hiếu, nghĩa cha con, anh em, chồng vợ Luận điểm: “Đạo nhà thẳng thiên hạ bình trị” [9;218-219] cho thấy ơng chủ trương để tránh trở thành kẻ bất trung (với vua, 118 Quan niệm Ngơ Thì Nhậm đạo trung, hiếu với nước) gia đình, cần phải giáo dục em trở thành người có hiếu (với cha mẹ) Ông coi lời giáo huấn xử cho sĩ phu Mục đích đề cao việc giáo dục thực trung hiếu Ngơ Thì Nhậm nhằm trì gốc, đạo đức từ gia đình đến ngồi xã hội Đúng nhà nghiên cứu Phan Đại Doãn nhận định: “Các nhà nước phong kiến (bao gồm Lê sơ) lấy “hiếu” để trị thiên hạ sử dụng quan hệ tông tộc để ràng buộc làng xã với triều đình mối liên kết gia đình làm mặt bằng, làm chất keo xã hội thuận lợi cho thống trị Đồng thời họ lấy “trung” để cai trị thiên hạ tạo nên nội dung cho quan hệ công dân (cấp với cấp dưới, thần dân hoàng đế) trục đứng để xây dựng củng cố quyền Có thể nói “mặt bằng” “trục đứng” nội dung Nho giáo trì từ kỷ XV sau” [5;254-55] Ngơ Thì Nhậm giữ ngun quan điểm xác lập Nho giáo coi việc thực “hiếu” gốc việc thực “trung”, coi tề gia gốc trị quốc Đó là: “Cha phải đạo cha, phải đạo con, chồng phải đạo chồng, vợ phải đạo vợ, anh phải đạo anh, em phải đạo em” Tuy nhiên, với quyền Lê - Trịnh mà Ngơ Thì Nhậm có thời kỳ phụng rõ ràng thực mối quan hệ vua - tôi, cha - con, anh - em khơng cịn thực giáo lý Nho gia Bởi thế, ông cứng nhắc bắt người ta phải thực quy phạm mà Tống Nho nêu “cha khơng hiền không bất hiếu, vua bất nhân, bề khơng bất trung, anh khơng hịa, em khơng bất kính” [9;165] hẳn quan điểm Ngơ Thì Nhậm mang tính bảo thủ khắc nghiệt Có thể với thân phận nhà Nho ẩn dật mà đọc Kinh Xn Thu tư tưởng hồi cổ tránh ông không mong muốn lần lại xảy “cái biến lớn đạo người” (tôi giết vua, giết cha) Sau này, với bước chuyển mạnh mẽ lịch sử, Ngô Thì Nhậm nhận thức lại đạo trung ơng sẵn sàng vứt bỏ quan niệm giáo điều Nho gia để phụng triều đại Tây Sơn Ông “suy từ việc thờ cha để thờ vua, chẳng quản ngại hiểm trở hay gập ghềnh, để với lời dạy nghĩa phương thực khơng hổ thẹn; bắt chước việc kính trời mà kính Hồng thượng, lời khun giữ vững, thường chăm với công việc” Với mong muốn “giữ cảnh vui chung phúc khánh”, ơng nguyện “giúp rập hồi lịng trung” [7;826] Như vậy, Ngơ Thì Nhậm coi trọng “hiếu” chủ trương giáo dục làm người hiếu để thực làm người tơi trung Ơng quan niệm “hiếu” gia đình “trung” ngồi xã hội xã hội bình an, thịnh trị Như thế, việc ông chủ trương giáo dục “hiếu” gắn liền với giáo dục “trung” nói lên đường lối trị “tu thân, tề gia trị quốc” Nho gia Là nhà Nho yêu nước nên gia đình xã hội, thân Ngơ Thì Nhậm thực “hiếu” cách tương đối trọn vẹn với thực “trung” cách linh hoạt, quyền biến Những tư tưởng tích cực trung, hiếu đời sống thực tiễn trị sơi động ông có ý nghĩa giáo dục đạo đức, nhân cách cho người Việt Nam mai sau 119 Nguyễn Bá Cường Kết luận Từ quan niệm Ngơ Thì Nhậm đạo trung, hiếu, khẳng định trước sau ơng thực đạo làm người theo Nho giáo Ở nội dung này, ơng thường vận dụng mặt tích cực Nho giáo, đồng thời mở rộng đưa thêm nội hàm vào khái niệm gốc, làm cho chúng gần gũi với đời sống người Việt “Trung hiếu” khái quát vận dụng “trung với vua”, “hiếu với cha mẹ” tiến dần đến tư tưởng “trung với nước”, “hiếu với dân” Những quan niệm Ngơ Thì Nhậm chứa đựng giá trị lý luận định có ý nghĩa thực tiễn việc giáo dục người Việt Nam TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Lê Thị Lan, 2009 Nho giáo chủ nghĩa dân tộc Việt Nam thời đại tồn cầu hóa Tạp chí Triết học, số 12, tr 19 - 26 [2] Mai Quốc Liên chủ biên, 2001 Ngơ Thì Nhậm tác phẩm, IV Trung tâm nghiên cứu Quốc học Nxb Văn học, Hà Nội [3] Trần Lê Sáng chủ biên, 2002 Ngữ văn Hán Nôm, tập I - Tứ Thư Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội [4] Chương Thâu, 2006 Về việc nghiên cứu ứng dụng Nho giáo, Đạo giáo Trung Quốc Tạp chí Triết học, số 10 [5] Nguyễn Tài Thư chủ biên, 1993 Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập I, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội [6] Viện nghiên cứu Hán Nơm, 2003 Ngơ Thì Nhậm toàn tập, tập I Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội [7] Viện nghiên cứu Hán Nôm, 2004 Ngô Thì Nhậm tồn tập, tập II Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội [8] Viện nghiên cứu Hán Nôm, 2005 Ngơ Thì Nhậm tồn tập, tập III Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội [9] Viện nghiên cứu Hán Nôm, 2005 Ngơ Thì Nhậm tồn tập, tập IV Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội [10] Viện Triết học, 1972 Tư tưởng Việt Nam kỷ XVIII (trích tuyển tư liệu), tập II ABSTRACT Ngo Thi Nham’s thought on loyalty and filial piety Ngo Thi Nham (1746 - 1803) was a great thinker, politician and educator who had a strong influence on the history of our nation in the late eighteenth century In Ngo Thi Nham were combined a man of action and a man of philosophical reflection He advocated educating the masses to instill proper behavior in accordance with Confucian standards, focusing on the virtues: loyalty, filial piety, benevolence and righteousness This essay attempts to interpret ‘Ngo Thi Nham’s thoughts on Loyalty and filial piety 120 ... Điểm khác biệt Ngơ Thì Nhậm thể chủ trương thực “trung” gắn liền với thực ? ?hiếu? ?? 2.2 Quan niệm Ngô Thì Nhậm đạo ? ?hiếu? ?? Hiếu phạm trù luân lý Nho gia, coi gốc nhân luân, nguồn đạo đức “Nho gia tiếng... thể nói, quan niệm “trung” Ngơ Thì Nhậm có phát huy tư tưởng “trung với vua” gắn liền trách nhiệm với đất nước Nguyễn Trãi Nguyễn Bỉnh Khiêm Ông 112 Quan niệm Ngơ Thì Nhậm đạo trung, hiếu bổ sung... “đồng văn” Về chữ ? ?hiếu? ??, chữ “trung”, Ngô Thì Nhậm tiếp tục kế thừa quan niệm Nho giáo Khổng - Mạnh có bổ sung thêm nhiều nội dung cụ thể ? ?hiếu? ?? bàn đến cách sâu sắc mối quan hệ ? ?hiếu? ?? với “trung”