1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm

80 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm
Tác giả Nguyễn An Nhân
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Tráng
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật dân sự và tố tụng dân sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,15 MB

Nội dung

Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh ch p là tài sản côn

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VĂN TRÁNG

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2023

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, nội dung được trình bày trong luận văn là nghiên cứu khoa học độc lập của tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của của TS Nguyễn Văn Tráng Các kết quả nghiên cứu từ công trình khoa học khác được sử dụng trong luận văn đều được giữ nguyên và được trích dẫn đầy đủ, đảm bảo trung thực, chính xác và đúng quy định

Vậy tôi viết lời cam đoan này, kính đề nghị Trường Đại Học Kinh Tế - Luật xem xét cho tôi được bảo vệ luận văn của mình

TÁC GIẢ

NGUYỄN AN NHÂN

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

PH N M Đ U 1

1 do chọn đề tài 1

2 T nh h nh nghiên cứu 3

3 ục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 ết c u đề tài 7

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM VÀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM 8

1.1 Khái quát phiên tòa dân sự sơ thẩm 8

1.1.1 hái niệm và đặc điểm phiên tòa dân sự sơ thẩm 8

1.1.2 Vai trò và thành phần tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm 12

1.2 Quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm 15

1.2.1 hái niệm quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm 15

1.2.2 Đặc điểm quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm 17

1.2.3 Phân loại quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm 20

1.2.4 Điều kiện để luật sư tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm 24

1.2.5 Ý nghĩa của việc quy định quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm 25

Kết luận Chương 1 31

Trang 6

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 32 2.1 Thực tiễn pháp luật về quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự

sơ thẩm 32

2.1.1 Quy định pháp luật về nhóm quyền của luật sư khi tham gia phiên tòa dân sự

sơ thẩm 322.1.1.1 Quy định pháp luật về nhóm quyền của luật sư trong việc tham gia phiên tòa 322.1.1.2 Quy định pháp luật về nhóm quyền của luật sư đối với chứng cứ và hoạt động chứng minh tại phiên tòa sơ thẩm 332.1.1.3 Quy định pháp luật về nhóm quyền liên quan đến việc tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm 352.1.1.4 Quy định pháp luật về nhóm quyền của luật sư đối với những người tiến hành hoạt động tố tụng và những người tham gia tố tụng khác 392.1.2 Quy định pháp luật về nhóm nghĩa vụ của luật sư khi tham gia phiên tòa dân

sự sơ thẩm 432.1.3 Những hạn chế, b t cập trong các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm 452.1.3.1 Luật sư còn gặp khó khăn trong việc đăng k trở thành người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự 462.1.3.2 B t cập khi thực hiện quy định về đảm bảo trách nhiệm cung c p tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền 472.1.3.3 Còn tồn tại nhiều hạn chế, b t cập trong quá trình thực hiện quyền tranh tụng của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm 51

Trang 7

2.1.3.4 Các hạn chế, b t cập trong việc áp dụng các quy định pháp luật về nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa sơ thẩm 522.1.4 Đánh giá về quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm 54

2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm 57

2.2.1 Nguyên tắc và định hướng trong việc hoàn thiện quy định pháp luật về quyền

và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm 572.2.2 Kiến nghị cụ thể để hoàn thiện quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm 59

Kết luận Chương 2 67

ẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

PH N M Đ U

1 L do chọn ề tài

Hiện nay ở Việt Nam, nghề luật sư đang dần khẳng định vị trí quan trọng của mình trong việc góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và tỷ lệ

số lượng luật sư trong tổng dân số được xem là một đại lượng để đánh giá uy tín,

ch t lượng của hoạt động tư pháp Đặc biệt, vai trò, hoạt động của luật sư càng được nâng cao sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 08- NQ/TW ngày 02/01/2002

và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020, trong đó nêu rõ việc phải hoàn thiện cơ chế bảo đảm để luật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời xác định rõ chế độ trách nhiệm đối với luật

sư Tiếp đó, vào ngày 05/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ đã có “Chiến lược phát

triển nghề luật sư đến năm 2020” kèm theo Quyết định số 1072/QĐ-TTg trong đó

nêu rõ: Các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như đội ngũ luật sư đã có nhiều chuyển biến tích cực trong việc thực hiện chức năng tố tụng theo nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa; vị trí, vai trò của luật sư trong quá tr nh giải quyết vụ án ngày càng được tăng cường

Tiếp tục thể chế hóa các Nghị quyết của Bộ Chính trị, kế thừa những quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001, đồng thời nhằm khắc phục những hạn chế, b t cập, Quốc hội khóa XI đã ban hành Luật Luật sư số 65/2006/QH11 ngày 29/6/2006 được sửa đổi bổ sung năm 2012, và Quốc hội khóa XIII đã ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25/11/2015 thay thế Bộ luật dân sự số 24/2004/QH11 ngày 15/6/2004 với các quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của luật sư khi tham gia tố tụng dân sự đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của luật sư Vừa qua, Ban Ch p hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới”

Trong đó, tại phần mục 7, phần IV của Nghị quyết đã nêu: “Hoàn thiện thể chế về

Luật sư và hành nghề Luật sư, bảo đảm để Luật sư thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ,

Trang 9

trách nhiệm theo quy định của pháp luật Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp đối với Luật sư, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động hành nghề Luật sư Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và phát triển đội ngũ Luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, am hiểu pháp luật, giỏi về kỹ năng hành nghề và ngoại ngữ, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế…”

Đồng thời, trong công cuộc đổi mới phát triển đ t nước và xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, số lượng các doanh nghiệp thành lập ngày càng nhiều, các giao dịch giữa các doanh nghiệp, thương nhân, cá nhân ngày càng tăng nhằm đáp ứng việc phát triển kinh tế, xã hội, nhưng bên cạnh những thời cơ phát triển này, còn những rủi ro pháp lý dẫn đến tranh ch p giữa các chủ thể tham gia giao dịch, hợp đồng Ngoài ra, nhu cầu về giao kết và thực hiện các giao dịch trong quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đ nh, lao động cũng đang diễn ra r t mạnh mẽ và đương nhiên trong quá tr nh giao kết, thực hiện các quan hệ pháp luật này cũng sẽ phát sinh các hạn chế và tiềm ẩn các rủi ro pháp lý

Khi các giao dịch phát sinh tranh ch p, mâu thuẫn, giải quyết tranh ch p tại Tòa án nhân dân là một trong phương án khá phổ biến và điều này dẫn đến một nhu cầu thiết yếu của các doanh nghiệp, tổ chức, thương nhân, cá nhân cần sự hỗ trợ về pháp lý của luật sư, những người có đủ điều kiện cũng như, kinh nghiệm tr nh độ chuyên môn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ tại trong suốt quá trình tố tụng dân sự Trong đó, phiên tòa dân sự là một trong những hoạt động trung tâm và

có thể nói là quan trọng nh t của hoạt động tố tụng dân sự

Từ các định hướng, chính sách của Đảng và Nhà nước, cùng với các đổi mới

về hành lang pháp lý và tình hình thực tế xã hội, trong những năm gần đây pháp luật

về luật sư cũng như các hoạt động lập pháp trong lĩnh vực này đã có những thành quả tích cực giúp luật sư chứng minh được sự vai trò và hoạt động của mình Đồng thời, thông qua việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tại phiên tòa dân sự, luật sư đã khẳng định sự cần thiết của mình trong công cuộc cải cách tư pháp, góp phần tạo

Trang 10

lập môi trường pháp lý thuận lợi, bảo vệ an toàn cho các giao dịch dân sự cũng như các hoạt động đầu tư, kinh doanh, thương mại trong nước và quốc tế Tuy nhiên, bên cạnh các thuận lợi, phát triển vẫn còn r t nhiều v n đề cần được quan tâm một cách th u đáo hơn trong thực tiễn cải cách tư pháp nói chung và v n đề pháp luật về quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự nói riêng

Vì vậy, sự cần thiết của việc tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng các quy định về quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm sẽ góp phần vào công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hiệu quả trong việc thực thi pháp luật một cách thống nh t, làm cho vai trò và hiệu quả hoạt động của luật sư ngày càng cao hơn Chính v các

lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Quyền và nghĩa vụ của luật sƣ tại phiên

tòa dân sự sơ thẩm” làm đề tài luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Luật Dân sự và Tố

tụng dân sự

2 T nh h nh nghi n c u

Trong quá trình tìm kiếm tài liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, tác giả nhận th y hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu bao gồm luận văn thạc sỹ, bài viết trên tạp chí chuyên ngành luật liên quan đến đề tài đã được công bố Nhưng các nghiên cứu về hoạt động của luật sư tại phiên tòa, đặc biệt là quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm chưa được nghiên cứu chuyên sâu, và mới dừng ở việc phân tích một số quy định nh t định

Về các đề tài luận văn, bài viết khoa học trong lĩnh vực Luật học có những công trình liên quan đến đề tài gồm:

Luận văn thạc sĩ, “Vai trò của luật sư trong tố tụng dân sự”, Phạm Thị

Hường, hoa uật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013 Luận văn nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, nghĩa về sự tham gia tố tụng của luật sư trong TTDS và nghiên cứu lược sử các quy định của pháp luật về vai trò của luật sư trong TTDS và điểm lại các quy định pháp luật về vai trò của luật sư ở một số nước đại diện cho các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới Đề tài phân tích cụ thể để làm rõ vai trò

Trang 11

của luật sư trong TTDS theo pháp luật hiện hành, đồng thời đề cập thực tiễn hoạt động của luật sư, phân tích nguyên nhân để từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của luật sư trong TTDS Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của

đề tài về vai trò của luật sư trong TTDS và công trình nghiên cứu được thực hiện trước khi B TTDS 2015 được ban hành Vì vậy, đối tượng nghiên cứu của luận văn này không còn tính thời sự, vẫn còn chung và không còn phù hợp

Luận văn thạc sĩ, “Pháp luật về hành nghề luật sư ở Việt Nam”, Hoàng Thị

Anh Thư, hoa uật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014 Luận văn hệ thống, làm rõ được các quy chế về nghề luật sư và hành nghề luật sư, hệ thống được các quy định pháp luật về hành nghề luật sư ở Việt Nam Thông qua thực tiễn áp dụng pháp luật để th y được những b t cập của pháp luật và chỉ ra những điểm b t cập đồng thời đề xu t hướng hoàn thiện pháp luật Tuy nhiên, luận văn nghiên cứu về các quy định pháp luật và việc hành nghề của luật sư mà chưa đi sâu vào các quyền

và nghĩa vụ của luật sư trong TTDS Do đó, việc nghiên cứu của luận văn này khác với hướng của đề tài mà tác giả đã chọn

Luận văn thạc sĩ, “Văn hóa pháp luật của luật sư ở Việt Nam”, Trần Thị

Ngọc, hoa uật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015 Luận văn nghiên cứu làm

rõ các cơ sở lý luận và thực tiễn về văn hóa pháp luật của luật sư Trên cơ sở đó đưa

ra các giải pháp nhằm xây dựng, củng cố và phát huy các giá trị vật ch t, tinh thần của văn hóa pháp luật của luật sư ở Việt Nam Luận văn đã phân tích thực tiễn văn hoá pháp luật của luật sư trong hoạt động nghề nghiệp nhằm đưa ra giải pháp xây dựng và phát triển các giá trị văn hoá của luật sư trong hoạt động hành nghề, từ đó đưa ra các giải pháp góp phần cải cách, hoàn thiện nền tư pháp trong sạch vững mạnh, phù hợp với nét văn hoá đặc trưng của luật sư Việt Nam Luận văn tập trung nghiên cứu về văn hóa pháp luật và sự ảnh hưởng đến văn hóa hoạt động nghề nghiệp cũng như thực tiễn hành nghề của luật sư Tuy nhiên, luận văn chưa đi sâu vào hoạt động nghề nghiệp của luật sư, cụ thể là các hoạt động liên quan đến TTDS

Vì vậy, đối tượng nghiên cứu của luận văn này cũng khác và không trùng với hướng nghiên cứu mà tác giả lựa chọn

Trang 12

Luận văn thạc sĩ, “Vai trò của luật sư trong tố tụng dân sự”, Nguyễn Thị

Thu Thảo, hoa uật Dân sự - Trường Đại học Kinh tế-Luật, năm 2019 Luận văn nghiên cứu về sự tham gia của luật sư với vai trò người bảo vệ quyền lợi cho đương

sự trong giai đoạn tố tụng tại Tòa án Từ đó chỉ ra những hạn chế, b t cập trong các quy định của pháp luật cũng như những vướng mắc luật sư gặp phải trong quá trình tham gia TTDS tại Tòa án Tuy nhiên, luận văn vẫn phân tích hoạt động hành nghề chung của luật sư trong cả quá trình khi tham gia TTDS tại Tòa án mà chưa nêu được các v n đề cụ thể khi luật sư tham gia phiên tòa dân sự Do đó, luận văn này vẫn còn chung và không trùng với đề tài nghiên cứu của tác giả

Có thể th y những công trình nghiên cứu nói trên tuy có phạm vi nghiên cứu khác nhau, mức độ khác nhau Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đây đều nghiên cứu địa vị pháp lý của luật sư trong suốt quá trình tố tụng nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, nêu bật được những đặc trưng trong hoạt động của luật sư trong hoạt động tố tụng này Do đó, có thể khẳng định công trình nghiên của tác giả về đề tài này là hoàn toàn khác biệt, có tính mới, không có sự trùng lặp với các công trình khoa học đã được liệt kê trên đây Tuy nhiên, những tài liệu nêu trên vẫn là những tài liệu quan trọng được tác giả lựa chọn tham khảo khi thực hiện việc nghiên cứu

đề tài luận văn của mình

3 Mục ti u và nhiệm vụ nghi n c u

Mục đích nghiên cứu đề tài nhằm:

Xem xét, nghiên cứu, làm rõ quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm;

Đề cập, làm rõ thực tiễn áp dụng pháp luật, qua đó nêu lên những b t cập, hạn chế trong việc thực hiện thực hiện quyền, nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân

sự sơ thẩm, nhằm đóng góp kiến hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này

Để thực hiện được mục đích trên, đề tài tập trung vào những nhiệm vụ cụ thể sau:

Trang 13

- Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về luật sư và quyền, nghĩa vụ của luật sư tại

phiên tòa dân sự sơ thẩm

- Thứ hai, nghiên cứu, phân tích chuyên sâu về quyền và nghĩa vụ của luật sư

trong từng thủ tục của phiên tòa dân sự sơ thẩm để tìm ra các hạn chế của các quy

định pháp luật trong lĩnh vực này

- Thứ ba, tìm hiểu, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc thực hiện

quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa sơ thẩm nhằm phát hiện những b t cập,

vướng mắc, khó khăn phát sinh

- Thứ tư, đưa ra một số kiến nghị, đề xu t cụ thể nhằm hoàn thiện quy định

của pháp luật, cơ chế thi hành pháp luật về quyền và nghĩa vụ của luật sư trong từng

giai đoạn của phiên tòa dân sự sơ thẩm

4 Đối tƣ ng và phạm vi nghi n c u

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là luật sư

tham gia phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự Do

đó, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của

luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, bên cạnh đó luận văn còn nghiên cứu về thực

tiễn áp dụng các quy định của pháp luật để làm rõ các tồn tại, vướng mắc, khó khăn

trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm

Phạm vi nghiên cứu: Trong thực tiễn xét xử vẫn có trường hợp luật sư tham

gia phiên tòa dân sự sơ thẩm với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của đương

sự Tuy nhiên, trong phạm vi của đề tài chỉ tập trung quyền và lợi ích hợp pháp của

luật sư tham gia phiên tòa sơ thẩm với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của đương sự để làm rõ tính đặc trưng, nổi bật của luật sư khi tham gia phiên

tòa với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Trang 14

- Phương pháp tổng hợp, phân tích luật viết: Đề tài đề cập đến nhiều quy định pháp luật về tố tụng dân sự, về quyền và nghĩa vụ của luật sư Vì vậy, cần áp dụng phương pháp tổng hợp những v n đề thuộc phạm vi đề tài, đồng thời phân tích để t m và đưa ra giải pháp phù hợp

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Để giúp đề tài có những cơ sở, lập luận vững chắc nhằm khẳng định hướng nghiên cứu đúng và hiệu quả, cần áp dụng phương pháp so sánh, đối chiếu quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự

sơ thẩm và quyền và nghĩa vụ của các đối tượng khác trong các giai đoạn tố tụng khác trong từng vụ việc cụ thể

- Phương pháp diễn giải, bình luận: Phương pháp này sử dụng khi đánh giá các quy định pháp luật có liên quan đến đề tài giúp tìm và nêu ra những thực trạng

để kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện quyền và nghĩa vụ của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm

6 ết c u ề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết c u đề tài gồm 02 chương:

Chương 1 Lý luận về phiên tòa dân sự sơ thẩm và quyền, nghĩa vụ của luật

sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm

Chương 2 Thực tiễn áp dụng quyền, nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân

sự sơ thẩm và kiến nghị hoàn thiện

Trang 15

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VỀ PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM VÀ QUYỀN,

NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM 1.1 Khái quát phiên tòa dân sự sơ thẩm

1.1.1 Khái i m và đặc điểm phiên tòa dân sự sơ thẩm

Theo từ điển tiếng Việt, “phiên” là lần mà mỗi người theo thứ tự cùng làm một loại việc như người trước và sau m nh để đảm bảo sự liên tục Dưới góc độ pháp l , “phiên tòa” được hiểu là “h nh thức hoạt động xét xử của Tòa án”

Có thể hiểu, “phiên tòa” là phiên họp để xét xử của Tòa án, phiên họp này có những đặc thù riêng về người chủ tr , người tham gia, nguyên tắc, trình tự và thủ tục tiến hành Người chủ tr là HĐXX, người tham gia có thể là bị cáo, đương sự, người làm chứng, người phiên dịch, người giám định, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự… Phiên họp này được tiến hành công khai, tuân theo những nguyên tắc và trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Tại phiên họp này, HĐXX sẽ nhân danh Nhà nước xem xét, đánh giá tính ch t, mức độ của hành vi vi phạm pháp luật, đánh giá bản ch t của các quan hệ pháp luật, áp dụng các quy phạm pháp luật tương ứng để ra bản án quyết định về quyền và nghĩa vụ của các bên Bản án này được đảm bảo thi hành bằng các cơ chế do pháp luật quy định Tùy theo tính ch t của từng vụ án sẽ có phiên tòa hình sự, phiên tòa dân sự, phiên tòa hành chính

Trong khoa học pháp l , phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự (Sau đây gọi là

“phiên tòa dân sự sơ thẩm”) không phải là một thuật ngữ mới mẻ, nhưng từ trước đến nay ít người quan tâm và hầu như không có sự tranh luận về khái niệm phiên tòa dân sự sơ thẩm Có quan điểm rằng, phiên tòa sơ thẩm được hiểu “là một phiên họp đặc biệt và các trình tự của phiên họp này do pháp luật về tố tụng quy định chặt

Trang 16

chẽ, mà ở đó HĐXX sơ thẩm vụ án không thể tùy tiện thêm, bớt các bước trong quá trình xét xử hoặc làm sai các trình tự này”1

Khái niệm này tác giả mới chỉ dừng lại ở việc mô tả các d u hiệu của một phiên tòa nói chung mà chưa nêu được bản ch t của phiên tòa dân sự sơ thẩm Theo Giáo trình Luật Tố tụng dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội: “Phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự là phiên xét xử vụ án dân sự lần đầu của Tòa án”2 Khái niệm này, chỉ mới dừng lại ở việc mô tả khái quát và xác định vị trí của phiên tòa dân sự

sơ thẩm trong toàn bộ quá trình tố tụng dân sự, mà chưa nêu lên được bản ch t của phiên tòa dân sự sơ thẩm Theo tác giả Bùi Thị Huyền: “Phiên tòa sơ thẩm dân sự là phiên họp công khai lần đầu của Tòa án với sự tham gia của những người tham gia

tố tụng theo những nguyên tắc và thủ tục nh t định để Tòa án ra phán quyết về toàn

bộ vụ việc dân sự hoặc những v n đề còn tranh ch p giữa các bên đương sự”3 Với khái niệm này, tác giả đã đưa ra được đầy đủ các d u hiệu và bản ch t của phiên tòa dân sự sơ thẩm như là một phiên họp, phiên họp này được Tòa án tiến hành công khai, có sự tham gia của những người tham gia tố tụng, được tiến hành theo một thủ tục chặt chẽ, là phiên họp lần đầu của Tòa án, để đưa ra phán quyết về việc giải quyết toàn bộ vụ việc dân sự Tuy nhiên, theo tác giả, nếu đưa ra d u hiệu “công khai” trong khái niệm này sẽ không thật chính xác, vì có những trường hợp đặc biệt, giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đ nh của đương sự, Tòa án vẫn có thể xét xử kín Ngoài ra, phiên tòa sơ thẩm dân sự có sự phân biệt với phiên họp giải quyết việc dân sự Do vậy, trong phạm vi luận văn này, tác giả sẽ không đề cập đến khái niệm giải quyết việc dân sự, vì vậy thuật ngữ “vụ việc dân sự” mà khái niệm này đưa ra sẽ không được sử dụng mà

1

Duy Kiên (2017), “Một số v n đề trong phần quy định chung về phiên tòa sơ thẩm trong Bộ luật Tố tụng

dân sự sửa đổi”, Tạp chí Kiểm sát, số 18/2017, tr 29

2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, NXB CAND, tr.278

3 Bùi Thị Huyền (2007), “Hoãn và tạm ngừng phiên tòa sơ thẩm dân sự”, Tạp chí Luật học, số 07/2007, tr

34

Trang 17

thay vào đó là khái niệm “vụ án dân sự” Ngoài ra, việc đưa khái niệm “lần đầu” chưa thực sự chính xác và bao quát hết khái niệm sơ thẩm, bởi lẽ một vụ án dân sự tại c p sơ thẩm có thể tổ chức nhiều phiên tòa qua nhiều ngày khác nhau, nh t là đối với vụ án phức tạp, số lượng đương sự lớn

Trên cơ sở phân tích, đánh giá các khái niệm nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm “phiên tòa dân sự sơ thẩm” như sau: Phiên tòa dân sự sơ thẩm là phiên họp xét

xử vụ án tại c p xét xử đầu tiên do Tòa án tổ chức với sự tham gia của những người tham gia tố tụng theo những nguyên tắc, thủ tục luật định để Hội đồng xét xử ra bản

án, quyết định giải quyết vụ án dân sự

Từ khái niệm phiên tòa dân sự sơ thẩm đã được phân tích và trình bày, phiên tòa dân sự sơ thẩm có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, phiên tòa dân sự sơ thẩm là phiên họp của Tòa án để đưa vụ án ra

xét xử tại c p xét xử đầu tiên với mục đích để Hội đồng xét xử có căn cứ, cơ sở giải quyết vụ án đó Trong một vụ án dân sự tại c p sơ thẩm, Tòa án phải thực hiện các quá trình bao gồm tiếp nhận yêu cầu khởi kiện, thụ lý, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, chuẩn bị xét xử và mở phiên tòa sơ thẩm Phiên tòa dân sự sơ thẩm là khâu cuối cùng của quy trình tố tụng sơ thẩm, tại đó Tòa án sẽ xét xử và ra phán quyết về vụ án dân sự Do vậy, phiên tòa dân sự sơ thẩm là phiên họp của Tòa án để xét xử lần đầu vụ án dân sự

Thứ hai, phiên tòa dân sự sơ thẩm được Tòa án tổ chức và thường được tiến

hành với sự có mặt của những người tham gia tố tụng bao gồm đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch Đặc điểm này giúp phân biệt phiên tòa dân sự sơ thẩm với phiên hòa giải, tự thương lượng giữa các đương sự với nhau hoặc được tổ chức bởi bên thứ ba như hòa giải viên thương mại, hòa giải viên lao động Từ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án sẽ đưa ra quyết định giải quyết một cách toàn diện, khách quan, chính xác, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của

Trang 18

các đương sự4 Không giống như phiên tòa dân sự sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, phiên tòa giám đốc, tái thẩm không nh t thiết phải có mặt đầy đủ người tham gia tố tụng Tại phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự, chỉ cần sự có mặt của người kháng cáo

và những người có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị Phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm được tiến hành mà không cần sự có mặt của những người tham gia tố tụng, họ chỉ được triệu tập khi cần thiết

Thứ ba, phiên tòa dân sự sơ thẩm được tiến hành theo những nguyên tắc và

thủ tục được pháp luật quy định Đặc điểm này làm rõ sự khác biệt giữa phiên tòa dân sự sơ thẩm với phiên họp trong giải quyết tranh ch p bằng Trọng tài thương mại với các thủ tục do các bên tự thỏa thuận hoặc theo quy tắc tố tụng của Trung tâm Trọng tài Theo đó, các nguyên tắc đặc trưng của phiên tòa sơ thẩm dân sự có thể kể đến như nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai, quyền tự định đoạt của đương sự, nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự Thủ tục phiên tòa dân sự sơ thẩm bao gồm: Thủ tục bắt đầu phiên tòa, hỏi, tranh tụng, nghị án và tuyên án được quy định chặt chẽ trong B TTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành

Thứ tư, kết quả của phiên tòa dân sự sơ thẩm thường là bản án, quyết định

của Hội đồng xét xử giải quyết, phân xử hoặc quyết định toàn bộ các tranh ch p trong vụ án dân sự Đặc điểm này giúp phân biệt phiên tòa dân sự với các phiên hòa giải, buổi làm việc được diễn ra trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm Trong quá trình giải quyết một vụ án dân sự, Tòa án có thể tổ chức nhiều phiên họp khác nhau, nhưng chỉ có phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử mới ra phán quyết về việc giải quyết toàn bộ vụ án Pháp luật tố tụng của nhiều nước trên thế giới như pháp luật của Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Liên bang Nga, Hàn Quốc…, trước khi mở phiên tòa

sơ thẩm dân sự, Tòa án mở nhiều phiên họp để các bên xu t trình chứng cứ và trao đổi về những v n đề mà các bên đưa ra, Tòa án sẽ hòa giải những v n đề mà các

4 Bùi Thị Huyền (2011), Phiên tòa sơ thẩm dân sự - Những v n đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia, tr 26

Trang 19

bên đã thống nh t được5 Tại phiên tòa sơ thẩm, Tòa án chỉ đưa ra phán quyết về những v n đề mà các bên còn có tranh ch p

Thứ năm, phiên tòa dân sự sơ thẩm nhằm giải quyết các tranh ch p phát sinh

giữa các chủ thể b nh đẳng về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật dân

sự, lao động, kinh doanh thương mại Đặc điểm này giúp phân biệt rõ ràng giữa phiên tòa dân sự sơ thẩm với phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự Do bản ch t các quan

hệ pháp luật dân sự và hình sự là khác nhau, dẫn đến sự khác nhau giữa các phiên tòa sơ thẩm này Trong đó sự khác nhau rõ nét nh t thể hiện giữa phiên tòa dân sự

sơ thẩm và phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự Việc giải quyết vụ án dân sự xu t phát

từ việc thực hiện quyền khởi kiện của một bên đương sự Trong quá trình giải quyết

vụ án dân sự, nếu nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, không có căn cứ để đ nh chỉ hoặc tạm đ nh chỉ và không có căn cứ ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự thì Tòa án phải mở phiên tòa dân sự sơ thẩm để giải quyết

vụ án Do vậy, phiên tòa dân sự sơ thẩm được mở xu t phát từ quyền khởi kiện của đương sự Đối với việc giải quyết vụ án hình sự là việc Tòa án ra phán quyết về trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự đối với người vi phạm pháp luật hình sự Việc mở phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự dựa trên cơ sở quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng (cơ quan công an, cơ quan công tố)

1.1.2 Vai trò và thành phần tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm

Phiên tòa dân sự sơ thẩm là khâu cuối cùng của sơ thẩm dân sự và tại đó Tòa

án sẽ xét xử để ra phán quyết về vụ án dân sự Phiên tòa dân sự là nơi thể hiện kết quả của cả một quá trình tố tụng của Tòa án để giải quyết một vụ án dân sự Do đó, phiên tòa dân sự sơ thẩm có nghĩa đặc biệt lớn

Về phương diện pháp lý: Phiên tòa dân sự sơ thẩm là hoạt động trung tâm để Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi các đương sự không thỏa thuận được với nhau

về việc giải quyết nội dung tranh ch p Xem xét một cách tổng thể đối với toàn bộ

5 Bùi Thị Huyền (2011), Phiên tòa sơ thẩm dân sự - Những v n đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia, tr 31

Trang 20

quá trình giải quyết vụ án dân sự thì phiên tòa dân sự sơ thẩm đóng vai trò trung tâm, tác động và chi phối các hoạt động tố tụng trước và sau nó Phiên tòa sơ thẩm

là giai đoạn để kiểm tra, đánh giá ch t lượng hoạt động của Tòa án ở các giai đoạn trước đó bao gồm thụ lý, thu thập chứng cứ, hòa giải, chuẩn bị xét xử sơ thẩm Bởi

vì, tại phiên tòa sơ thẩm, các yêu cầu của đương sự, các tài liệu, chứng cứ được xem xét một cách toàn diện, trực tiếp, công khai và khách quan, qua đó HĐXX có thể làm rõ được các thủ tục tố tụng trước đó đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật chưa, chứng cứ đã được thu thập đầy đủ để có thể đưa ra được phán quyết cuối cùng hay chưa Từ việc phát hiện ra các sai sót ở các giai đoạn tố tụng trước, Tòa án

có thể có giải pháp khắc phục kịp thời, hạn chế tối đa việc hủy, sửa án sơ thẩm ở các thủ tục xét xử tiếp theo Kết quả của phiên tòa dân sự sơ thẩm là căn cứ để phát sinh thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm

Về mặt chính trị: Phiên tòa dân sự sơ thẩm đáp ứng những đòi hỏi của nhà nước pháp quyền Nhà nước pháp quyền có hai đặc trưng cơ bản là dân chủ và tổ chức quyền lực nhà nước, trong đó phải đảm bảo tính thượng tôn của pháp luật Trong mối quan hệ với công dân, Nhà nước phải bảo vệ được các quyền và lợi ích chính đáng của công dân Trong mối quan hệ giữa nhà nước với công dân, phiên tòa dân sự sơ thẩm được tiến hành trên cơ sở tố quyền của công dân, còn việc mở phiên tòa dân sự sơ thẩm là trách nhiệm của nhà nước đối với công dân trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong đó bao gồm cả quyền lợi và tố quyền Các phán quyết của Tòa án tại phiên tòa dân sự sơ thẩm góp phần đáp ứng đòi hỏi của nhà nước pháp quyền Phiên tòa tiến hành tốt sẽ là cơ sở để Tòa án ra các bản án, quyết định chính xác, bảo vệ tốt nh t quyền và lợi ích chính đáng của công dân Cũng thông qua phiên tòa dân sự sơ thẩm, ý thức pháp luật của công dân được nâng cao, bởi vì thông qua phán quyết của Tòa án, công dân biết được hành vi của mình

là đúng hay là vi phạm pháp luật và cách thức hành xử đúng là g Từ đó, công dân

sẽ có những hiểu biết sâu sắc hơn về các quy định pháp luật của Nhà nước Đây là một trong những yếu tố để đảm bảo xây dựng Nhà nước pháp quyền

Trang 21

Về mặt nghĩa xã hội: Việc tổ chức tốt tại phiên tòa dân sự sơ thẩm sẽ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, bảo đảm công bằng, ổn định

xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động xét xử của Tòa án nói riêng, qua đó nâng cao và bảo đảm uy tín của Tòa án Phiên tòa dân sự sơ thẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án c p sơ thẩm Kết quả của phiên tòa là bản án sơ thẩm trong đó xác định rõ quan hệ pháp luật tranh ch p, quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ án Do

đó, phiên tòa sơ thẩm xác định lại cho đúng nội dung của quan hệ pháp luật, vị trí, quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong quan hệ đó Qua đó đảm bảo việc thực

hiện chức năng xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án

Theo quy định của BLTTDS năm 2015 chủ thể tham gia phiên tòa gồm có người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng

Những người tiến hành tố tụng được quy định tại Điều 63 BLTTDS năm

2015, gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân Trong trường hợp đặc biệt thì

có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân

Ngoài ra theo quy định tại khoản 2 Điều 21 B TTDS năm 20156

, Viện kiểm sát phải cử Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với những vụ án do tòa án thu thập chứng hoặc đối tượng tranh ch p là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng

đ t, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người m t năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Cũng theo quy định của BLTTDS năm 2015 những người tham gia tố tụng tại phiên toà sơ thẩm gồm có: đương sự gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người tham gia tố tụng khác bao gồm đại diện của đương sự,

6

Khoản 2 Điều 21 B TTDS năm 2015 quy định: “2 Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh ch p là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đ t, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người m t năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này.”

Trang 22

người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch

1.2 Quyền và nghĩa vụ của luật sƣ tại phiên tòa dân sự sơ thẩm

1.2.1 h i i quyề và ghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước, là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội vì sự tồn tại và phát triển của cả xã hội, đồng thời vì lợi ích, mục đích của giai

c p thống trị

Pháp luật theo nghĩa rộng: là những quy định do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt ra để hướng dẫn cách xử sự bắt buộc mọi người, mọi tập thể, tổ chức và là căn cứ để xử lý những xử sự không đúng với các quy định y Những quy định của pháp luật có thể là xử sự được làm (một quyền) xử sự bắt buộc phải làm (nghĩa vụ) xử sự không được làm (điều c m), xử sự được lựa chọn, được thỏa thuận với nhau Nghĩa hẹp7: là những quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban

7

Điều 4 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2020 quy định:

“Điều 4 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

1 Hiến pháp

2 Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội

3 Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

4 Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

5 Nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

6 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

7 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

8 Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước

9 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là c p tỉnh)

10 Quyết định của Ủy ban nhân dân c p tỉnh

11 Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Trang 23

thường vụ quốc hội và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới hình

thức hiến pháp, bộ luật, luật, nghị quyết, nghị quyết liên tịch, pháp lệnh, lệnh, quyết

định, nghị định, thông tư và văn bản quy phạm pháp luật khác Những nhận định về

pháp luật kể trên đều có những điểm chung sau: do cơ quan nhà nước có thẩm

quyền ban hành; nhằm điều chỉnh, hướng dẫn mọi người xử sự trong quan hệ xã hội

phát sinh; bảo đảm quyền lợi chính đáng cho các chủ thể tham gia

Như vậy, tác giả đưa ra khái niệm pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư tại

phiên tòa dân sự sơ thẩm như sau: Pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư tại phiên

tòa dân sự sơ thẩm là tổng thể các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành, điều chỉnh

các quan hệ phát sinh giữa luật sư và các chủ thể pháp luật trong quá trình giải quyết

vụ án dân sự khi tiến hành bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Tuy các nhận định trên có sự khác nhau, song tựu trung có những đặc trưng

sau: Thực hiện pháp luật là hành vi pháp luật (hành động hoặc không hành động)

hợp pháp; Thực hiện pháp luật là hành vi thực tế của chủ thể và Thực hiện pháp luật

là hiện thực hóa các quy định pháp luật thông qua xử sự của các chủ thể Thực hiện

pháp luật thông qua các hình thức: tuân thủ, ch p hành, sử dụng và áp dụng Từ

phân tích trên tác giả đưa ra khái niệm về thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ

của luật sư trong phiên tòa dân sự sơ thẩm như sau: Thực hiện pháp luật về quyền,

nghĩa vụ của luật sư trong phiên tòa dân sự sơ thẩm là hành vi thực tế hợp pháp của

luật sư và các chủ thể nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật về quyền,

nghĩa vụ của luật sư với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích cho các đương sự

trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

12 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố

trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là c p huyện)

13 Quyết định của Ủy ban nhân dân c p huyện

14 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị tr n (sau đây gọi chung là c p xã)

15 Quyết định của Ủy ban nhân dân c p xã.”

Trang 24

1.2.2 Đặc điể qu ền và ghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm

Luật sư được định nghĩa tại Luật Luật sư như sau: “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp

lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức” Theo đó, dịch vụ pháp lý của luật sư bao gồm tham gia tố tụng, tư v n pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng

và các dịch vụ pháp l khác Như vậy, việc tham gia phiên tòa sơ thẩm của luật sư

là thực hiện công việc tham gia tố tụng theo hợp đồng, thỏa thuận dịch vụ pháp lý giữa luật sư và khách hàng Từ định nghĩa trên đây, tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng luật sư là danh từ chỉ người được công nhận là luật sư khi có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật và hành nghề luật sư là việc luật sư được làm những việc theo chuyên môn, nghề nghiệp của m nh đã được pháp luật quy định Còn nghề luật sư là nói đến một nghề trong xã hội, nghề của những người được pháp luật công nhận là luật sư Nói đến nghề luật sư là nói đến cái chung, còn nói đến luật sư

là nói đến cái cụ thể, đến con người cụ thể, đến chức danh cụ thể Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào pháp luật và tính truyền thống của từng nước mà khái niệm, tiêu chuẩn luật sư và điều kiện, phạm vi hành nghề luật sư, cũng như thủ tục, thẩm quyền công nhận luật sư được quy định khác nhau8

Tuy nhiên, luật sư là một chức danh nghề nghiệp nhưng để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm luật sư phải thực hiện các thủ tục về đăng k để trở thành người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người đại diện theo ủy quyền Trong phạm vi của luận văn này chỉ đề cập đến việc luật sư chỉ tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không bao gồm việc nghiên cứu địa vị pháp lý của luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho đương sự Điều kiện để Luật sư tham gia phiên tòa sơ thẩm với tư cách

8 Nguyễn Văn Tuân (2012), “Bàn về khái niệm luật sư và thẩm quyền công nhận luật sư”, Tạp chí Dân chủ

và Pháp luật, số 02/2012, tr 22

Trang 25

là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ được phân tích ở mục 1.2.4 dưới đây

Khi tham gia tố tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, quyền và nghĩa vụ của luật

sư có các đặc điểm như sau:

Một là, thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa sơ thẩm là hành vi thực tế hợp pháp nhằm hiện thực hóa các quy tắc xử sự giữa luật sư

và các chủ thể khi giải quyết vụ án dân sự Pháp luật về quyền, nghĩa vụ luật sư trong TTDS được đặt ra để điều chỉnh hành vi của luật sư và chủ thể liên quan nên việc thực hiện pháp luật phải thể hiện ở hành vi thực tế của luật sư và chủ thể liên quan Hành vi về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong phiên tòa dân sự sơ thẩm là toàn

bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài của luật sư trong một mối quan

hệ TTDS cụ thể Hành vi hợp pháp của luật sư tham gia TTDS là những hành vi mang tính pháp lý phù hợp với các quy định của pháp luật luật sư và pháp luật TTDS, nghĩa là hành vi làm đúng theo những gì mà pháp luật quy định Vì vậy, luật

sư thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ phải bằng hành vi hợp pháp, có thể là hành vi hành động hoặc không hành động nhưng phải làm đúng, đủ, không trái với những quy định pháp luật có liên quan

Hai là, thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động TTDS là đồng thời thực hiện quyền, nghĩa vụ của luật sư và thực hiện quyền, nghĩa

vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Mặc dù, có nhiều chủ thể có thể trở thành người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự bao gồm

cả luật sư và những nhóm đối tượng khác (trợ giúp viên pháp l , đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động, công dân có đủ điều kiện theo quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 75 B TTDS) Tuy nhiên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là luật sư sẽ có vai trò khác biệt và ưu việt hơn so với những nhóm đối tượng khác: Luật sư thường hành nghề tư v n và tham gia tố tụng chuyên nghiệp đã tham gia nhiều vụ án, trải qua các lớp đào tạo để hành nghề trong đó đã được bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng tham gia vụ án dân sự

Trang 26

Ba là, thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động TTDS phải theo trình tự, thủ tục TTDS Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự được thực hiện theo quy định pháp luật TTDS Luật sư tham gia TTDS thì phải thực hiện các hành vi hợp pháp về quyền, nghĩa vụ của mình theo trình tự, thủ tục TTDS, nghĩa là trong b t kỳ giai đoạn nào của TTDS, luật sư với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cũng phải bảo đảm thực hiện đúng tr nh tự, thủ tục tố tụng của giai đoạn đó

Bốn là, thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động TTDS thể hiện ý chí của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhưng vẫn đề cao tính độc lập và tự chịu trách nhiệm của luật sư Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận và bảo đảm quyền, nghĩa vụ của luật sư trong phiên tòa dân sự sơ thẩm, nêu cao tinh thần, ý thức trách nhiệm của chính luật sư và các chủ thể liên quan “góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,

cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và răn đe các hành vi vi phạm pháp luật” Pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong phiên tòa dân sự sơ thẩm là công cụ để Nhà nước công nhận, bảo đảm và quản lý hoạt động hành nghề của luật sư khi tham gia TTDS

Năm là, thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động TTDS thể hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan tiến hành tố tụng với luật sư và các chủ thể khác trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Bản ch t của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, v Nhân dân”, các quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Bên cạnh đó, các Nghị quyết của Đảng như Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nêu rõ phải hoàn thiện thể chế dân sự, thủ tục tư pháp và các thiết chế bổ trợ tư pháp mà trung tâm là tòa án và khâu đột phá là tăng cường tranh

Trang 27

tụng dân chủ; hoàn thiện cơ chế đảm bảo để luật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại tòa, đồng thời xác định rõ chế độ, trách nhiệm đối với luật sư Gần đây nh t là trong văn kiện Đại hội Đảng XII xác định phải nâng cao ch t lượng, hiệu quả hoạt động của luật sư

Sáu là, thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong phiên tòa dân sự sơ thẩm phải theo đường lối, chủ trương nêu trên của Đảng và Nhà nước, là trách nhiệm của t t cả các chủ thể có liên quan trong quá trình giải quyết vụ án dân

sự Vì vậy, đặt ra yêu cầu về sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan tiến hành tố tụng với luật sư và các chủ thể khác trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của luật sư trong phiên tòa dân sự sơ thẩm

1.2.3 Phân loại quyền và ghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm

Do tính ch t đặc thù của luật sư là một chức danh tư pháp được quy định bởi Luật Luật sư và khi tham gia tố tụng tại phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự được quy định tại BLTTDS

Tuy nhiên, Luật Luật sư chỉ quy định quyền và nghĩa vụ chung cho luật sư trong toàn bộ hoạt động hành nghề mà không quy định riêng biệt cho hoạt động của luật sư tại phiên tòa sơ thẩm Trong đó, cụ thể có một số quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp với luật sư tại phiên tòa sơ thẩm bao gồm:

- Được pháp luật bảo đảm quyền hành nghề luật sư theo quy định của Luật này và quy định của pháp luật có liên quan

- Nghiêm chỉnh ch p hành nội quy và các quy định có liên quan trong quan

hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng; có thái độ hợp tác, tôn trọng người tiến hành

tố tụng mà luật sư tiếp xúc khi hành nghề;

- Tham gia tố tụng đầy đủ, kịp thời trong các vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu;

Trang 28

Đối với BLTTS tại các Điều 75, 76 của bộ luật này đã ghi nhận các quyền và nghĩa vụ của luật sư với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, chi tiết nội dung các quyền và nghĩa vụ tại BLTTDS sẽ được tác giả phân tích tại Chương II của Luận văn này

Ngoài hai văn bản quy phạm pháp luật trên đây, luật sư tại phiên tòa sơ thẩm còn phải tuân thủ Bộ Quy tắc Đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam Tuy nhiên, văn bản trên là chỉ quy tắc hành xử do iên đoàn luật sư ban hành thực hiện việc giám sát, xem xét khen thưởng, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý kỷ luật đối với luật sư trong phạm vi tổ chức xã hội - nghề nghiệp và không phải là văn bản quy phạm pháp luật

Khác với vai trò đại diện của đương sự, luật sư với vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không thay mặt và quyết định toàn bộ thay cho đương sự như người đại diện, luật sư có nhiều quyền hạn hơn trong tố tụng như quyền đọc, nghiên cứu hồ sơ vụ án; quyền tự thu thập tài liệu, chứng cứ; quyền xác minh các tình tiết của vụ án…và luật sư lại là người có kinh nghiệm tham gia tố tụng nên trong phiên tòa tại phần tranh luận, luật sư thường là chủ thể chính của việc tranh tụng Thực tế hầu hết các phiên tòa chứng minh, trong vụ án có luật sư tham gia với vai trò người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự, luật sư luôn

là người tr nh bày chính và là người nắm rõ, bao quát hầu hết các nội dung mà đương sự muốn trình bày Hiện nay, theo quy định của BLTTDS về việc trình bày tại phiên tòa dân sự sơ thẩm thì luật sư là chủ thể thay mặt cho đương sự trình bày yêu cầu của họ bao gồm yêu cầu khởi kiện, phản tố, hoặc yêu cầu độc lập Như vậy, với vai trò là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì luật sư gần như là người “nói hết những gì cần nói” đương sự chỉ có việc bổ sung trong trường hợp cần thiết Khi tham gia tố tụng với vai trò là người bảo vệ quyền lợi của đương

sự, luật sư có vị trí pháp l tương đối độc lập với đương sự Đương sự phải cùng với luật sư là người bảo vệ quyền lợi của mình tham gia tố tụng trước Tòa án

Trang 29

Với vai trò của mình, quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm được phân loại thành các nhóm quyền và nghĩa vụ như sau:

Các nhóm quyền của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm

- Nhóm quyền được tham gia tố tụng tại phiên tòa: Bao gồm việc được tham gia phiên tòa và được gửi văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cho Tòa án xem xét

- Nhóm quyền liên quan đến các yêu cầu đối với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác: quyền thay mặt cho đương sự thay đổi những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác; quyền đưa người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan vào tham gia tố tụng

- Nhóm quyền về liên quan đến chứng cứ tại phiên tòa: Nghiên cứu hồ sơ vụ

án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự;

- Nhóm quyền được tham gia tranh tụng tại phiên tòa: Bao gồm đưa ra câu hỏi với người khác về v n đề liên quan đến vụ án hoặc đề xu t với Tòa án những

v n đề cần hỏi người khác; tranh luận tại phiên tòa, đưa ra lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng

- Nhóm quyền trong việc trợ giúp pháp lý với khách hàng: Giúp đương sự về mặt pháp l liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; trường hợp được đương sự ủy quyền thì thay mặt đương sự nhận gi y tờ, văn bản tố tụng mà Tòa án tống đạt hoặc thông báo và có trách nhiệm chuyển cho đương sự

- Nhóm quyền liên quan đến việc giải quyết vụ án bao gồm: quyền đề nghị Tòa án tạm đ nh chỉ giải quyết theo quy định pháp luật

Như vậy, với vai trò bảo vệ quyền lợi cho đương sự, luật sư có nghĩa vụ hỗ trợ cho đương sự về mặt pháp l , giúp Tòa án xác định quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự thông qua chứng cứ, tài liệu và căn cứ pháp lý Từ việc giúp Tòa án xác định các v n đề đó, luật sư sẽ bảo vệ được các quyền và lợi ích

Trang 30

hợp pháp của thân chủ m nh Đây chính là l do tại sao các nhà làm luật đặt vai trò của luật sư khi tham gia TTDS là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Các nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm:

- Nhóm nghĩa vụ của luật sư với tư cách là người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS: Tôn trọng Tòa án, ch p hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa; Phải có mặt theo gi y triệu tập của Tòa án và ch p hành quyết định của Tòa án trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc

- Nhóm nghĩa vụ của luật sư với tư cách là một chức danh tư pháp được quy định tại Luật Luật sư: Nghiêm chỉnh ch p hành nội quy và các quy định có liên quan trong quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng; có thái độ hợp tác, tôn trọng người tiến hành tố tụng mà luật sư tiếp xúc khi hành nghề; Tham gia tố tụng đầy đủ, kịp thời trong các vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu

Tuy vậy, khác với việc phân định nhóm các quyền của luật sư, các nội dung

về nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa sơ thẩm được quy định BLTTDS và Luật Luật

sư có sự tương đồng nh t định, nhằm đảm bảo việc tham gia phiên tòa của luật sư với tư cách là người tham gia tố tụng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật, sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa, thể hiện sự hợp tác, hỗ trợ của luật sư trong việc thực hiện hoạt động của mình tại phiên tòa sơ thẩm

Trang 31

1.2.4 Điều ki để luật sư tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm

Về điều kiện thực hiện vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương

sự Trong tố tụng dân sự, ngoài người đại diện th đương sự có thể nhờ những người khác tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của m nh Người này có thể

là luật sư hay người khác là công dân Việt Nam khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện cần thiết Luật sư với vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định của Luật Luật sư được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007, phải đáp ứng các điều kiện về hành nghề luật sư như sau:

- Tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật (tốt nghiệp Đại học Luật hoặc Khoa Luật tại các trường Đại học có khoa luật);

- Qua đào tạo nghề luật sư (có gi y chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật

sư do Học viện Tư pháp thuộc Bộ Tư pháp và Tổ chức luật sư toàn quốc hoặc do cơ

sở đào tạo nghề luật sư của nước ngoài c p được Bộ trưởng Bộ Tư pháp công nhận);

- Có Chứng chỉ hành nghề luật sư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Bộ

Tư pháp) công nhận đáp ứng đủ tiêu chuẩn về chuyên môn (có bằng cử nhân luật,

đã qua đào tạo nghề luật sư, tập sự hành nghề luật sư) yêu cầu về đạo đức và có khả năng hành nghề luật sư;

- Phải gia nhập Đoàn luật sư để hành nghề luật sư tại một Văn phòng luật sư hoặc Công ty luật

Theo quy định tại Điều 75 BLTTDS năm 2015 thì luật sư với vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải “được làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi có yêu cầu của đương sự và được Tòa án làm thủ tục đăng k người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự” Quy định này đã thể hiện sự tiến bộ so với B TTDS năm 2004 khi muốn trở thành người bảo vệ, quyền và lợi ích hợp pháp thì phải là người được đương sự nhờ và được Tòa án

ch p nhận tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự” Như

Trang 32

vậy, theo pháp luật hiện hành thì luật sư với vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự ngoài điều kiện về tiêu chuẩn của một luật sư cần có hai điều kiện là được đương sự nhờ và được Tòa án làm thủ tục đăng k người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự Ngoài ra, B TTDS cũng quy định một luật sư có thể tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho nhiều đương sự trong một vụ án nếu quyền lợi của các đương sự không đối lập nhau

Theo quy định của BLTTDS và Luật Luật sư, để thực hiện thủ tục trở thành người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, luật sư phải xu t trình cho Toà án các gi y tờ, tài liệu sau đây:

+ Gi y giới thiệu của Văn phòng luật sư nơi họ là thành viên hoặc có hợp đồng làm việc cử họ tham gia tố tụng tại Toà án;

không gây cản trở cho Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án

1.2.5 Ý ghĩa của vi c qu định quyề và ghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm

Đối với thủ tục giải quyết vụ án dân sự thì hoạt động xét xử được coi là những khâu trọng tâm vì ở đây biểu hiện sự tập trung và là cơ sở để Tòa án ra bản

Trang 33

án dân sự khách quan, chính xác, có thể nói hoạt động xét xử là biểu tượng công lý trong tiềm thức của người dân9

Để đáp ứng nhiệm vụ cải cách tư pháp nói chung và phát huy hiệu quả hoạt động tham gia giải quyết các vụ án dân sự thì việc quy định quyền và nghĩa vụ luật sư

là có vị trí r t quan trọng và vô cùng cần thiết hi nói đến luật sư khi tham gia vào hoạt động tố tụng thì việc quy định các quyền của luật sư có nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của của các chủ thể được pháp luật tố tụng dân sự điều chỉnh Những quy định về vai trò của luật sư trong tố tụng dân sự với các quyền và nghĩa vụ quan trọng tại phiên tòa sơ thẩm là điều kiện quan trọng để đương sự được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình và còn mang ý nghĩa quan trọng trong việc thi hành pháp luật tố tụng dân sự Cụ thể:

* Xét về việc đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự

Trong lịch sử, nghĩa và vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự trước Toà không phải ở mọi lúc, mọi nơi được tôn trọng Ở những nước mà mối quan hệ giữa con người với con người bị ảnh hưởng của tâm linh, thần cảm thì nghề luật sư chậm phát triển Ví dụ như ở các nước Hồi giáo nghề luật sư ít phát triển thậm chí không có nghề luật sư Nghề luật sư được phát triển và giữ vai trò quan trọng trong các nước dân chủ, phát triển Để bảo đảm công lý các bên khi tham gia tố tụng đều có sự giúp đỡ từ phía những nhà chuyên nghiệp là luật sư Theo quan điểm của luật sư phương Tây th luật sư khi tham gia bảo vệ quyền lợi cho khách hàng, cho cá nhân, phải đặt quyền lợi của cá nhân cao hơn hoặc bằng quyền lợi của cộng đồng xã hội Vai trò của luật sư có sự khác nhau trong các nền văn minh khác nhau Ở Nhật Bản trước đây các quan hệ trong xã hội được điều chỉnh bằng tập quán, đề cao sự hoà thuận, tránh cưỡng ép

Khoản 7 Điều 103 Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền bào chữa của bị can,

bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm” và được cụ thể

9 Đặng Công Cường (2016), Vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay,

Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 61

Trang 34

hóa trong các văn bản luật rằng: công dân có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của m nh trước tòa

án Từ việc nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, luật sư và nghề luật sư xu t hiện để đáp ứng nhu cầu được hỗ trợ tư v n pháp lý và tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trong các lĩnh vực hoạt động của luật sư, bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án dân sự là một trong những hoạt động đóng vai trò quan trọng Trong quá trình giải quyết vụ án, để thực hiện hoạt động này luật sư tham gia tố tụng với tư cách người bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ

án dân sự

Ngoài ra, trên cơ sở kế thừa Điều 9 B TTDS 2004 (SĐBS 2011), Điều 9

B TTDS 2015 quy định như sau: “1 Đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ luật

sư hay người khác có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; 2 Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ của họ; 3 Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm trợ giúp pháp lý cho các đối tượng theo quy định của pháp luật để họ thực hiện quyền bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp trước Tòa án; 4 Không ai được hạn chế quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự” B TTDS 2015 không chỉ

dừng lại ở việc thừa nhận đương sự được bảo đảm quyền bảo vệ mà xác định rõ là bảo đảm bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự”10

* Đối với công tác thi hành BLTTDS và giải quyết vụ án dân sự

Hiện nay, với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đ t nước thì việc nâng cao của quyền của con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối đổi mới kể trên không chỉ tác động đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chi phối mạnh mẽ nhận thức và thực tế bảo đảm quyền con người ở nước ta trong thời gian qua Vì vậy, trong pháp

10 Nguyễn Thị Hoài Phương (2016), Bình luận những điểm mới trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015, NXB Hồng Đức, tr 47

Trang 35

luật tố tụng dân sự cũng vậy, việc B TTDS quy định rõ ràng về vai trò của luật sư cũng là thể hiện sự nhận thức trong việc coi trọng vị thế và vai trò của luật sư, v n

đề quyền của luật sư cũng được coi trọng và đánh giá tương ứng

* Đối với công tác giải quyết các vụ án dân sự

Việc thể hiện và thực hiện vai trò của luật sư trong việc giải quyết các vụ án dân sự là vô cùng quan trọng Tuy vậy, không phải tự nhiên mà đương sự tham gia

tố tụng trong thực tế có sự thay đổi trong nhận thức cũng như các quy định pháp lý này nhằm bảo vệ quyền lợi của các đương sự được B TTDS quy định nhằm đảm bảo tính khách quan, công bằng Thông qua hoạt động đó góp phần nâng cao ch t lượng xét xử các vụ án dân sự theo đúng tinh thần của cải cách tư pháp th quyền của luật sư cần phải được cụ thể hóa hơn nữa trong Bộ luật Tố tụng dân sự theo tinh thần cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay

Thông qua hoạt động tranh tụng tại Tòa án, luật sư cùng với cơ quan tiến hành

tố tụng, những người tham gia tố tụng đều cùng có chung mục đích là góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, quá trình thẩm v n, xét xử công khai tại tòa sẽ giúp cho tòa án ra những phán quyết đúng pháp luật, trên cơ sở tôn trọng sự thật khách quan của vụ án và bản ch t của vụ việc Thực tế xét xử tại tòa án cho th y rằng nếu chỉ đơn thuần căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ th nhiều khi sự thật khách quan của vụ án cũng không thể được làm sáng tỏ Việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án có nghĩa quan trọng để tòa án có thể phán quyết một cách đúng đắn và công bằng; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Kết quả này chỉ có thể có được thông qua tranh tụng kết hợp với tranh luận tại tòa án

Có thể th y đối với quy định pháp luật hiện hành vai trò của luật sư được ghi nhận và

có nhiều điều kiện thuận lợi để thực hiện vai trò của mình

Ở nước ta hiện nay, trong quá trình Việt Nam gia nhập WTO cũng như việc tham gia các hiệp định tương trợ tư pháp đã tác động trong việc xây dựng và hoàn thiện quy định về B TTDS nói chung và quy định vai trò của luật sư nói riêng Quá

Trang 36

trình học hỏi, tham khảo quy định của pháp luật các nước có hệ thống tố tụng tranh tụng nói chung có thể th y rằng vai trò bảo đảm quyền và lợi ích các chủ thể trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là hết sức quan trọng Việc quy định rõ địa vị pháp

lý của luật sư tại phiên tòa là hoạt động r t được coi trọng Với quá trình hội nhập quốc tế thì việc sửa đổi các quy định về vai trò của luật sư nhằm phù hợp với tình

h nh trong nước và quốc tế sẽ góp phần quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam nói chung

* Đối với công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật

Đồng thời, việc tham gia của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm góp phần không nhỏ trong việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Theo quy định Điều 3 Luật luật sư sửa đổi bổ sung 2012 thì chức

năng xã hội của luật sư được quy định như sau: “Hoạt động nghề nghiệp của luật sư

góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” à

người hiểu biết pháp luật, thông qua việc hành nghề, luật sư góp phần tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho cộng đồng xã hội Thông qua tổ chức xã hội nghề nghiệp của mình, luật sư có trách nhiệm tham gia xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Luật sư đóng một vai trò quan trọng trong việc góp phần bảo vệ quyền cơ bản của công dân và phát triển xã hội Cùng với thời gian, đội ngũ luật sư Việt Nam dần dần khẳng định rõ vị trí, vai trò của mình trong xã hội Luật sư với tư cách là người có kiến thức sâu, rộng về pháp luật trong quá trình hoạt động của mình luật

sư sẽ chú ý tới những hạn chế trong việc thi hành pháp luật, những tiêu cực trong cơ quan hành pháp, cơ quan tố tụng, từ đó có kiến, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và góp phần nâng cao tr nh độ, trách nhiệm của những người thực thi pháp luật

Tóm lại, việc quy định về quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự

sơ thẩm là chế định vô cùng quan trọng được thể chế hóa trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta Song, thực tiễn cho th y do nhiều nguyên nhân

Trang 37

khách quan và chủ quan thì việc quy định và thực hiện những quy định về quyền và nghĩa vụ của luật sư chưa thực sự phát huy một cách hiệu quả trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ được pháp luật tố tụng dân

sự quy định

Trang 38

ết luận Chương 1

Có thể nói, quy định của pháp luật vai trò của luật sư trong tố tụng dân sự là

cơ sở pháp lý quan trọng trong việc hình thành nền tảng pháp lý của pháp luật dân

sự nói chung Việc xác định đặc điểm có liên quan đến vai trò của luật sư trong tố tụng dân sự sẽ hỗ trợ một phần lớn trong việc thiết lập các quy phạm pháp luật chặt chẽ nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật về tố tụng dân sự tại Việt Nam Đây việc làm cần thiết cho nước ta khi hội nhập kinh tế xã hội trong khu vực và trên thế giới Trong tương lai, pháp luật về vai trò của luật sư với những quy định rõ ràng hơn sẽ tạo thuận lợi cho các chủ thể, tạo ra sự chủ động trong việc xây dựng và

áp dụng một cách hoàn chỉnh vào từng quốc gia Hy vọng, những quy định của pháp luật Việt Nam về v n đề này sẽ được áp dụng một cách tốt hơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể được pháp luật tố tụng dân sự quy định, hình thành nên một nền tảng pháp l trong lĩnh vực tố tụng dân sự nói riêng và pháp luật nói chung, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta, phù hợp với xu thế hội nhập và phát triển trong khu vực và trên thế giới

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM

VÀ IẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 2.1 Thực tiễn pháp luật về quyền và nghĩa vụ của luật sư tại phiên tòa dân sự sơ thẩm

Quá trình tham gia trong các quy định của pháp luật tố tụng dân sự đã có những chuyển biến tích cực, đặc biệt là đối với quyền của người tham gia tố tụng nói chung, luật sư nói riêng khi tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự cho th y, các cơ quan tiến hành tố tụng đã tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để luật sư thực hiện các quyền của mình

Đồng thời, luật sư khi hành nghề là góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự

do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh V vậy, bên cạnh các quyền mà luật sư được làm, pháp luật đã quy định về nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động TTDS để bảo đảm được chức năng trên

2.1.1 Qu định pháp luật về nhóm quyền của luật sư khi tha gia phiê tòa dân sự sơ thẩm

2.1.1.1 Quy định pháp luật về nhóm quyền của luật sư trong việc tham gia phiên tòa

Điều này đã được hiện thực hóa tại quy định của khoản 3 Điều 76 BLTTDS

Để thực hiện quyền này của luật sư với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Tòa án phải tạo điều kiện cho luật sư tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự bao gồm: Tòa án phải thực hiện việc tống đạt đầy đủ

và kịp thời các văn bản tố tụng của Tòa án gồm có Quyết định đưa vụ án xét xử sơ thẩm, các gi y mời, triệu tập nhằm thể hiện thông báo của Tòa án về việc mở phiên tòa sơ thẩm Việc tống đạt các văn bản tố tụng về phiên tòa một cách hợp lệ cho luật

Trang 40

sư theo quy định tại Chương X B TTDS là cơ sở để luật sư thực hiện quyền tham gia phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm quyền lợi cho khách hàng Ngoài ra, để luật sư kịp thời thực hiện quyền tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm, B TTDS 2015 đã quy định

cụ thể thời gian để Tòa án thực hiện thủ tục vào sổ đăng k người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và xác nhận vào gi y yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự để luật sư có đầy đủ tư cách tố tụng và tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm

2.1.1.2 Quy định pháp luật về nhóm quyền của luật sư đối với chứng cứ và hoạt động chứng minh tại phiên tòa sơ thẩm

Theo quy định của BLTTDS thì nhóm quyền này của luật sư thể hiện ở các nội dung gồm (i) quyền được thu thập tài liệu, chứng cứ và giao nộp cho Hội đồng xét xử tại phiên tòa; và (ii) nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Tại phiên tòa sơ thẩm, việc quy định quyền thu thập tài liệu chứng cứ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là r t cần thiết Đặc biệt, với luật sư là người hành nghề tư v n, tham gia tranh tụng một cách chuyên nghiệp thì

họ sẽ có cơ hội vận dụng kiến thức pháp lý, kỹ năng hành nghề để đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật; trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến tình tiết vụ án, luật sư được kiểm tra, đánh giá, tr nh bày kiến và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá Quyền này giữ vai trò quan trọng đối với giải quyết các v n đề liên quan trong vụ án dân sự khi luật sư bằng kinh nghiệm, kỹ năng của mình sẽ thực hiện việc thu thập chứng cứ một cách hiệu quả Tuy nhiên, việc thu thập tài liệu chứng cứ thường được thực hiện trước phiên tòa và sau đó luật

sư có thể giao nộp những tài liệu, chứng cứ và giao nộp cho Hội đồng xét xử (khoản

2 Điều 76 BLTTDS 2015)

Quyền thu thập và giao nộp bổ sung chứng cứ của luật sư còn gắn liền với các quy định liên quan về thời điểm giao nộp tài liệu chứng cứ được quy định tại

Ngày đăng: 16/12/2024, 09:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w