4 Tiền thuê điện thoại 4 Tiên trả cho việc sử dụng điện thoại có thể được tính theo mức độ gọi hoặc tính cước khoán, một khi máy điện thoại trong mạng tăng lên cũng có nghĩa là tăng lưu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRUONG DAI HOC SU’ PHAM KY THUAT
THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH
HGMUIIE
ĐỎ ÁN TÓT NGHIỆP NGÀNH LUẬN VĂN TÓT NGHIỆP
THIẾT KÉ HỆ THÓNG
TÍNH CƯỚC ĐIỆN THOẠI GIAO TIẾP MÁY TÍNH
GVHD: TRƯƠNG THỊ BÍCH NGÀ SVTH: NGUYÊN THẺ VINH
ce SKLOC
TP Hồ Chí Minh, tháng 3/2001
Trang 2
iv
cò ty STRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHAM KỸ THUẬT
3,92 ¿ạ, KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
TINH CUOC BIEN THOAI GIAO TIEP MAY TINH
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THẾ VINH
Trang 3NHIEM VU DO AN TOT NGHIEP '
Sinh viên thực hiện: NGUYỀN THẾ VINH
4 Giáo viên hướng dẫn : Cô TRƯƠNG THỊ BÍCH NGÀ
5 Ngày giao nhiệm vụ :02— 12-2000
6 Ngay hoàn thành nhiệm vụ :03~ 03 - 2001
Trang 4ethan -maL 4 cung a,
tthe MA lÀ 1) CÁ cue say Aten, oa aq ở hs
Mack {hy chug châu ’
Trang 5
4 NHAN XET CliA GIAO VIEN DUVET
Trang 6
MỤC Lục
PHAN A: GIGI THIEU CHUNG VE HE THONG BIEN THOAT
Chương 1: Giới thiện chàng,
Chương 9: Giải thiậu về máy điện thea
Chương 3: Giới thiêu về điện Hhoai hãu tuyến,
Chương Ái Cuối thiệu về Hán «
Cang Or) Cah year tinh lee chính
Chem 7 Mach nhatn t
PHAN C Ke TLUAN VA HUONG PHAT TRIEN BE TAI
Trang 7
LOI CAM ON
Thực hiện Đồ An Tốt Nghiệp là giai đoạn hoàn tất quá trình học đại học của một sinh viên Để có được kết quả hôm nay, em đã phải cố gắng phấn đấu ngay từ khi mới bước chân vào trường Trong đó công lao giảng dạy, hướng dẫn của tất cả các thầy
cô từ giai đoạn Đại Cương cho đến khoa Điện - Điện Tử và bộ môn Điện Tử vô cùng to lớn Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả các thấy cô Trường Dai Học Sư Phạm Kỹ Thuật nói chung và khoa Điện Diện - Điện Tử nói riêng, đặc biệt là
các thầy cô bộ môn Điện Tử Cúc thấy cô đã trang bị cho em một kiến thức vững chắc
để từ đó em có thể thành công trên con đường su nghiép sau nay
PHÚ đã tân tình hướng dẫn, giúp em Gong quá trình hoàn thành luận vấn này Sự giúp
đỡ thực xử quy báu vì lần đầu tiên thực hiện một để tài khá lớn, chưa có kinh nghiệm
ảng tự quyết của cơn Một lần nữa em xin gởi đến
“Tôi cũng xin cảm ơn những người bạn đặc biệt là những người bạn cùng khoa đã
động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình làm Đổ An Tốt
Trang 8
PHẦN A
GIƠÍ THIỆU CHUNG VỀ
HỆ THÔNG ĐIỆN THOẠI
Trang 9
GIOT THIEU CHUNG
| Điện thoại đã được phát minh và được sử dụng như một thiết bị có ích trong xã hội cách
thiết bị mà nó dùng để gởi nhiều tín hiệu điện báo trên một đường dây thép Alexander
Graham Bell(14-1-1876), người quốc tịch Scotand, trong khi thí nghiệm về vật dẫn điện ông
đã để làm lấm acid lên quần áo Chính từ những thí nghiệin đó mà vào ngày 2-6-1875 điện thoại đã được ông phát minh ra nhưng đó chỉ là sự khởi đầu Một năm sau, vào ngày 6-3-1876 lĩnh vực điện thoại mới được công chúng biết đến khi ông cùng đồng nghiệp nhận được bằng
Không bao lâu sau các tổng đầi đến thoại lần lượt được ra đời và tổng đái điện thoại
Cho đến hôm nay, vải xự phát triển mạnh mế của hệ thống viễn thông nói chung vàlĩnh vực điện thoai nói tiếng thì nhú cầu thông tú biến lạc hàng ngày là điều không thế thiếu, Như chúng ta đã biết thẻ kỹ 21 được manh đánh tà thẻ Kỹ của công nghệ thông tin Vì thế lượng người tham vào các "Hoạt dòng liên luc”
tập ứng được nhú cầu này, việc ra đời và thành lập các tam bưu điện trở nền cẫn
ng tự động hóa thì vấn để tính cước điện thoại làm sao phái
Trang 10
Quer THIEU VE MAY BIEN THOAT
2 Nguyen tée cấu tạo mdy dién thoai +
M ấy điện thoại là thiết bị đầu cuối của hệ thống điện thoại, nó được lắp đặt
tại nơi thuê bao để hai người ở xa liên lạc với nhau Hiện nay tuy có
nhiều kiễu loại, nhưng mỗi loại đểu phải có 3 phần chính sau:
® Phân chuyển đổi mạch điện:
Phẩn này gồm hệ thông lá mía tiếp điểm và các cơ điện phụ có nhiệm vụ đồng
mỡ mạch điện khí có yêu cầu cần gói
© Phuần thị phát tín hiện gor
phẩn chính là mạch gửi xế và chuông, Chuông có nhiệm vụ biến đong tín hiệu
gọi thành tín hiện gọi
9 Phun thị phát thoại
Gốm hài bộ phân chính ông nói và ống nghe, ng nơ'Í có nhiệm vụ biến đổi
những tín hiệu âm thành Cả hài được lấp chúng rong một bộ phận gọi làtổ hợp,
MACH CAN BANG
TI lức năng tổng qaát của máy điện thoại :
ối với máy điện thoại , dù nhân công cổ điển đến loại tự động điện tử hiện đại đều thực hiện được các chức năng sau:
#8 Máy điện thoại phải cho người sử dụng biết cuộc gọi vào thông qua một Tone nghe đựơc rõ ràng như ring hay bell
#8 Máy điện thoại phải chuyển tiếng nói của người gọi thành tín hiệu điện Ngược lại, tín hiệu điện được truyền phải chuyển thành tiếng nói rõ ràng
Wary AD —> 34
Trang 11
#8 Máy đện thoại áp dụng phương pháp quay số thuê bao được thiết lập là các xung hay Tone quay số
#8 Máy điện thoại phải chỉnh biên độ tiếng nói của cuộc gọi bằng cách bù khoảng cách thay đổi đối với trạm điện thoại khu vực(Central Office)
#8 Máy điện thoại phải làm cho các Central Office biết ngay khi người sử dụng yêu cầu phục vụ bằng cách nhấc ống nói
®8 Máy điện thoại phải cung cấp một lượng hồi tiếp đầy đủ cho người sử dụng nghe được tiếng nói của chính mình từ ống nói đến ống nghe
'#® Khi máy điện thoại không sử dụng thì mạch điện DC ngắt khổi mạng Central Office
® Mặy điện thoại cũng có khả năng nhận các Tone xử lý cuộc gọi từ Central Office như Busy, Ringing Tone, chuyển tín hiệu tính cước, quay số ngắn, giữ mạch, truyền đưa số liệu, thụ phát vô tuyến
để quay số khi người gọi có nhu cu dam thoai( mat quay
gọt hay trả lời cuộc gọi, ống điện thoại phải nhac ra
Mach quay số sử dụng
số hay phím phát xung da tiny Kh
khỏi giá của nổ, mạch on- hook, off hook udi máy điện thoại vào mạng Nguồn được
cung cấp -4ÑVDC từ Central Office thông quá vòng thuế báo, Vì các vòng thuê báo này
Tà hai dây nên mạch sai đồng Lhybnd) cần để chuyển mạch 2 đáy thánh 4 dây chia tín
hiệu truyền và nhận của màng điện thoại thành 2 đường dấy riệng Một hoạt động song
ch thay đổi giữa Central Office và thuế báo ta
ngược với áp xuất R(điện trở) thay đổi ngược với thay đổi của dòng I Vì thế truyền
thông tiếng nói thành tín hiệu điện đến Central Office Central Office đến lượt nó tìm đường cho tín hiệu đến đích
© Ống nghe:
Dùng để chuyển tín hiệu AC thành âm thanh Một nam châm thường được sử
dụng để tạo ra vùng từ hằng, Dây cách điện được quấn quanh lõi từ để hình thành một
cuộc truyền tín hiệu AC Vùng từ tính được tạo ra bởi sự thay đổi tín hiệu AC thêm vào
và ngược dấu với vùng từ thường trực đang tổn tại Kết quả của sự ép buộc này gây ra
cho màng kim loại rung sự rung của màng phát ra sóng tương ứng với âm gốc từ bộ
truyền màng kim loại rung Sự rung của màng phát ra tiếng sóng tương ứng với âm gốc
từ bộ truyền
@ Chuông:
Dùng để thông báo cho cuộc gọi, chuông phải đủ cho cuộc gọi nghe trong một khoảng thời gian nhất định Trạm điện thoại sẽ đổ chuông nơi cuộc gọi bằng tín hiệu 90VRM§ tại 20Hz Tín hiệu chuông chồng chất lên tín hiệu DC-48VDC
® Bô sai đông điện thoại:
Dùng để giao tiếp cặp dây truyền với một vòng thuê bao 2 dây Một biến áp dùng phân chia tín hiệu truyền và nhận Điều này cho phép truyền và nhận đồng thời , nói dễ hiểu hơn là hoạt động song công
Trang 12
Mạch cần bằng trong bộ sát đồng cho phép nhà sản xuất điệu chỉnh một lượng
nhỏ hỏi tiếp từ ðng nói đến ông nghe Sự hổi tiếp này gọi là Slide Tone, cho phép người nói nghe được giong của mình Néu Sde Tone chỉnh quá nhỏ, người nghe sẽ nói lớn để
bù việc thiế nghe giong mình qua ống nghe và ngược lại, nếu Slide Tone quá lớn thì người nói sẽ nhỏ giảng lầm cho đối diện khó nghe được
© Cac Tone trong quá trình goi:2
Nhiều tín hiệu được nhận bởi máy điện thoại được hiểu và chỉ dẫn cho quá trình gọi Người gọi có khả năng nhận ra các Tone này để thiết lập cuộc gọi Hầu hết các TTone này được phát ở các tần số và được tắt mở theo các tốc độ khác nhau bao gồm:
$ Dial Tone:
Là các sóng sine từ 350Hz đến 440Hz do tổng đài trung tâm gửi đến thuê bao
Nó được hiểu là người gọi đang nhấc máy, thông tin cho người gọi dịch vụ sẵn sàng và
số phone đang chờ được nhận Để giảm chỉ phí, tổng đài chờ đợi trong lượng thời gian
giới hạn khoảng 20s số phone phẩi được quay trong khung thời gian này hay một thông,
điệp trợ giúp được phát ra
¢ Ring Back Tone:
“Thông tin cho người gọi biết là bên bị gọi đang được rung chuông Tín hiệu này sai với tín hiệu thực tế ( 90Vrms + 20Hz) sử dụng để reng chuông cho người được gọi Tín hiệu Ring -Back-Tone không cẩn đồng bộ với tín hiệu Ringing-Tone nên mới xẩy
ra tín hiệu bên được gọi trả lời điện thoại trước bên gọi nghe được tín hiệu Ring-Back- Tone nay
Tone trừ tốc độ tắt mở nhanh gấp hai lần Cuộc gọi đã bị nghẽn
Tín hiệu nhấc máy bên nhận tạo ra một Tone rất lớn tại bộ nhận dùng báo cho khách hàng ống điện thoại đã nhấc lên nguy hiễm và phải đặt trở lại gid dd Tone nay
Trang 13
đủ lớn để nghe trong khoảng cách lớn và khoảng 40s Thường thì thông điệp giúp đổ
trước Tone này
+ Bảng Telephone call progress Tones:
đ Quay vô điền thoar
` Oudv vô bằng sung thedp phdn(pulse):
LÀ uường hợp quay xố bằng xung đĩa quay, mạch vòng được ngất hay đóng bởi
một chuyển mạch được nội với it cơ cấu quay số, Các chuỗi xung đồng nhất được tạo
ứng với xố được quay
Với chu kỳ xung thường là 100ms, trong đó khu kỳ bổn phận xấp xĩ 33%
Khoảng cách giữa hai chuỗi xung > 500ms
Trang 14
bo T =
Khi sử dung DTME để quay số, các íc số được chọn bởi cán công ức bằng một ma
trận nút bấm và mỗi cặp tân số riêng được phát ra đồng thời với mỗi số
Gém 16 phim 0 dé 9, # và A đến D, bàn phím 4 hàng và 4 cột hình thành ma trận tần số band thấp và band cao Các tẩn số mỗi cột và hàng sai lệch khoảng 10% Tân số 2 band phân biệt sai khác nhau 25%
Đối với các Tone được phát ra bởi các phím khác nhau các hài không bằng
nhau Lợi điểm của quay số touch Tone là ở tốc độ chỉ cần tối thiểu 50ms để tổng đài
dò và giải mã số quay Số phone 7 số sẽ được gửi trong thời gian ( Ims, trong khi quay
số pulse đối số 0 đã lên đến Is
Mỗi cap tin số ( tương ứng với nút nhấn) xuất hiện tối thiểu là 40ms, thời gian
tối thiếu giữa các số là 60ms
c1, Phân loại các kiểu máy điện điện thoại :
® Phân loại theo phương thức tiếp dây:
A Máy điện thoại nhân công :
Liên lạc với nhau qua tổng đài nhân công, gồm có hai loại:
+* Máy điên thoai từ thạch :
Nguồn cung cấp để đàm thoại và để gọi chuông đều được trang bị từng máy riêng
lẽ, nguồn điện thừơng dùng máy lẻ, nguồn đàm thoại thường dùng pin, nguồn gọi
chuông thường là máy phát điện magneto
** Máy điên thoai công điên :
'Nguôn cung cấp để đàm thoại và để gọi chuông đều đặt tại tổng đài, sử dụng nguôn một chiêu 24V
Trang 15
B Máy điện thoại tự động :
Liên lạc với nhau qua tổng đài tự động bằng cách quay số hay ấn nút gọi số Nguồn cung cấp để đàm thoại là nguồn một chiểu 48V hay 60V, nguồn để gọi chuông từ 90VAC đến 110VAC, tần số 25 đến 50Hz
Máy điện thoại âm tần còn được gọi là máy sóng âm đa tần(DTMF) Máy âm tần phát đi tín hiệu gọi không phải là những chuỗi xung mà là tín hiệu tổ hợp của sóng âm tân hình sine hợp thành
Mội khi thuê bao ấn một chữ sổ trên bàn phím thì trong mạch phát đi tín
của 2 sóng hình sine âm tấn tưởng ứng, như vậy ở tổng đài điện thoại loại
nhận được tín hiệu sóng tổ hợp này sẽ tiến hành phân tích và khi hoàn thành việc thông
§25Hz xông tổ húp này được đưa tức tổng đại điện thoại số và ở đi
một cách chính xác Nếu như một hằng dọc hay cùng một hàng ngang ta ấn cùng một lúc hai phim, nó sẽ xinh rà đơa dm tin cia hang doc hay hang ngang, Néu nhu theo đường chéo góc cùng một luc ta ấn hai phím tở lên, nó sẽ không sinh ra tín hiệu sống fim tẩn, lúc này tổng đài điện thoại số sẽ không biết, tín hiệu phát đến tổng đái sẽ
Không có tác dụng, Khi mày điện thoại âm tần phát đi tín hiệu gọi, vì để ngăn ngừa các tín hiệu âm tấn khác thông qua mạch điện thoại làm cho tổng đài tác động nhầm Để
nâng cuo được nàng lực phòng hộ các tín hiệu tạp âm ảnh hưởng tới âm thoại, thông thường máy điện thoại âm tần áp dụng các biện pháp sau đây:
® Trong các tần số kể trên, bất kỳ hai tần số nào đó đều không liên quan hệ sóng hài Bất kỳ một tần số nào trong 8 tần số đều không bằng hiệu hay tổng của hai tân số khác
® Chọn tần số nào mà thông thoại hằng ngày xác suất xuất hiện tân số đó ít nhất
để làm tân số gọi
© Nghiém ngặt quy định sự sai lệch của tần số Thông thường yêu cầu dưới 1,8%
© Quy định thời gian phát của tín hiệu nhất định và mức điện của tín hiệu
“> May tin hiệu dang xung:
Ở máy điện thoại mạch xung dòng điện một chiều, nếu ta ấn phím có chữ số
“0”, nó sẽ phát ra 10 xung dòng điện mt chiéu, thời gian quy định xung của nó là 1000ms
Nếu ta ấn phím có chữ số “1”, nó sẽ phát ra đồng điện xoay chiều, thời gian quy định xung của nó là 100ms
'Vậy trị số bình quân của chúng là : t =(1000+100)/2=550ms
C So sánh máy điện thoại âm tân với máy điện thoại xung ta thấy có hai
đặc điểm sau:
“+ Tốc đô phát tín hiệu nhanh:
Máy điện thoại xung nếu lấy khoảng cách thời gian giữa các số là 800ms để tính Bây giờ lấy số điện thoại có 6 chữ số làm thí du
Trang 16Bây giờ vẫn lấy số điện thoại có 6 chữ số để tính:
Thí dụ:
gọi là:
tạ= 6x40+5x50 = 490ms
Từ tính toán thời gian trên đây cho thấy: thời gian phát đi tín hiệu gọi của máy điện
thoại âm tần nhanh hơn thời gian phát đi tín hiệu gọi của máy điện thoại mạch xung rất nhiều Như vậy có thể rút ngắn thời gian rất nhiều để tiếp nối thông thoại và do đó
Nhu ding phin “R", phim “#", phim"*" ta ¢6 thé thuc hién được việc rút gọn số
điện thoại, có thể mở ra được dịch vụ báo thức , thông thoại 3 bén, chờ đợi chuyển dịch
© Nêu máy điện thoại ấn phím có chữ “P" là loại máy điện thoại xung
O Nếu máy điện thoại ấn phím có chữ “P/T” là loại máy điện thoại có thể dùng cho cả hai loại ( điện thoại xung và điện thoại âm tần)
© Sơ đồ khối máy điện thoại song âm đa tân(DTMEF):
phím
Trang 17
_
'Từ hình trên ta thấy, bộ giao động thạch anh có tần số phát ra là 3,57945Mhz Tân
số này đông thời được đưa đến hai bộ ghỉ số sóng âm tần hình size của nhóm tẫn số cao
và nhóm tần số thấp để phân tần Hai bộ nghỉ số này đều chịu sự khống chế của tin hiệu của hàng đọc và hàng ngang của bàn phím là hai nguồn khống chế
Tín hiệu ra từ bộ ghỉ số là tin hiệu số Tín hiệu này sau khi qua bộ biến đổi số/ tương tự ta được hai nhóm tín hiệu có tần số cao và thấp hình sine Cuối cùng tín hiệu qua bộ trộn tần, bộ lọc và khuếch đại ra sẽ được tin biệu tổ hợp sóng âm tần có thể dùng trực tiếp ở tổng đài điện thoại số có lấp bộ thu tín hiệu âm tần
Ý Máy đi đường:
Ý Mãy dùng trong hẳm mó, trên tầu biển
¢ Khi tín hiệu gọi bộ phận thu phát tín hiệu gọi lại phải tách ra khỏi đường dây điện, lúc đó trên đường dây điện chỉ có dòng tín hiệu thoại
+3 Khi thu phát tín hiệu đầm thoại bộ phận thu phát tín hiệu gọi lại phải tách ra khỏi đường đây điện, lúc đó trên đường dây chỉ còn có dòng tín hiệu thoại
SL 000905”
Trang 18
Trình tực hoạt động ciia tang dai 1
¥ Khi bên gọi nhị Điền thoại viên sẽ được nơi cần gọi
Báo hiệu cho máy bị gọi và chờ cho đến khi máy bị gọi nhấc
máy đèn báo sáng
may
¥ Ket ndi thang thoai cho hai ben
Ý Nhận liết gác máy hài bên
v Giải tổa cuộc gọi Quy wie cho cdc thud bao hau tuyén +
¥ Khrahac may thi tổng trở đường day khodng 6000hm
` Khi pac may thi tổng trở rất lớn khoảng 20K
Xung mời quay số kéo dài đều đặn trong khoảng tẩn số 400Hz đến
hư hồng khó tìm lỗi và sữa chữa
+* Ngày nay do kỹ thuật phát triển nhanh, công nghệ vi mạch càng phát triển với mật độ tích hợp cao, người ta dễ dàng chế tạo các IC chuyên dụng cho một mục đích nào đó mà kích cỡ IC vẫn nhỏ Từ đó phát sinh tổng đài điện tử mới, cấu tạo gọn,
số thuê bao lớn và ngày càng có khả nãng tăng thêm
+* Tổng đài điện tử với kỹ thuật điều khiển là điện tử nhưng chuyển mạch là
Trang 19như mã hóa PCM có nén dãn theo luật A hay luật M, mã hóa vi sai DPSM, mã hóa
DELTA, mã hóa có dự báo Ngoài ra còn có các kiểu mã hóa đặc biệt có chất lượng, cao và thường được sử dụng trong những trường hợp đặc biệt
s* Xét về phương điện quay số, ở tổng đài cơ khí cũ, thuê bao sẽ phát tương ting
với số phím quay với tần số phát xung 10Hz
+ Trong tổng đài điện tử, người tì chế tạo được IC chuyên dụng trong việc nhận diện phím bấm và phát đi Tone mã hóa tường ứng với phím được nhấn ở chế độ đa tân, tên gọi của 1C là IYYME(dual Tone multilex frequency)
heo tên gói của nó, mỗi phím được nhấn sẽ phát đi không chỉ một Tone mà tới hai Tone, một Tone nhận điện hàng và một Tone nhận điện cột, như vậy chỉ với 8
tẩn số ta có thể mã hồn 16 phím Biến Trung bình thời gián để đi 1 tán số lá 20ms
te thing am hidu ng dai:
® Dial Tone
à ấm hiệu mời gọi báo cho người nhấc máy biết cuộc gọi đã sẵn săng mời
quay số Điai Tone có tần số 425Hz, phát liên tục cho đến khi bất đầu quay
số thư nhật, trong trường hợp người gọi nhấc máy nhưng không quay số thì
sau [Ss tổng đầi cắt Dial Tone và phát Busy Tone về các thuê bao
Busy Tone tổn tại trong suốt 60s, sau đó dial Tone được phát trở lại 25s nữa
Nếu máy vẫn ở trạng thái cũ, tổng đài sẽ hiểu rằng máy bị bỏ ra ngoài và tự động cắt
mạch cho đến khi được đặt trở lại, sự ngắt mạch này mới chấm dứt
® Busy Tone:
+* Là âm hiệu báo cho chủ thuê bao biết thuê bao bị gọi đang bận cuộc đàm thoại
+ Busy c6 tin số 425Hz được ngắt quầng 1/2s có và 1/2s không
© Ring Back Tone:
+* Là tín hiệu hổi âm bsáo cho biết tổng đài đang phát Tone về phía máy
Trang 20ong việc cung cấp các dịch vụ thông tin liên lạc , cước phí nói chung và
tấn» phí điên thoại nới riêng có một tâm quan trọng đặc biệt, nó góp phân bảo đẩm các điều kiện vật chất, tài chính cho việc cung dịch vụ , bảo hành trang
thiết bị và mở rông mạng lưới điện thoại phải bảo đầm bù đấp được các chỉ phí cho việc cùng cấp các dịch vụ điện thoại - Chỉ phí này có thể phân chía thánh 2 loại: chỉ phí đầu
tứ và chí phí vận hành
# Chỉ phí đầu tư
Là phí tấn cho việc mua sấm tài sẵn, xây dưng nhà cửa, lắp đát các trang thiết bị
kỹ thuật như tổng đải nội hạt, tổng đầi đường dài, thiết bị truyền dẫn mạng dây cấp chỉ phì để trả các khoản nợ và Khẩu hào trang thiết bị
@ Chỉ phí vận hành
Là chỉ phí cho công tác quần lý và khai thác, điều hành mạng lưới bao gỗm: tiễn
hưng trả cho công nhân viền, tiển cước và các khoản chỉ phí chám sóc tài sản, chỉ phí
bio wi tang thiết bị, chỉ phí nguồn cung cấp Tất cà các nguồn chỉ phí trên thông
thường được bù đắp từ lợi tức, lợi tức này ít ra là một phần nào đó được thu từ tiền cước thu được từ cúc dịch vụ điện thoại theo một hệ thống tính cước thích hợp Tiền cước tổng cộng mà nhà thuê bao phải trả có thể được phân chia như sau:
4 Một phần chỉ phí ban đầu để lắp đặt máy điện thoại
4 Tiền thuê điện thoại
4 Tiên trả cho việc sử dụng điện thoại có thể được tính theo mức độ gọi hoặc tính cước khoán, một khi máy điện thoại trong mạng tăng lên cũng có nghĩa là tăng lưu thoại, cần mở rộng các phương tiện, nó sẽ dẫn đến việc tăng thêm phí tổn tiêu dùng và
cố gắng để bù đắp các chỉ phí lúc đó là thu lợi từ các cuộc gọi
2 Các phương pháp tính cước :
Tùy theo các cuộc gọi đường dài được nối dây theo phương thức nhân công bán
tự động hoặc tự động mà có các phương pháp ghi cước thích hợp Sau đây là các phương pháp ghỉ cước cho các cuộc gọi đường dài theo các phương thức nối dây khác nhau
A Vận hành nhân công :
Đối với các cuộc gọi đường dài được nối đây theo phương pháp nhân công hoặc
: là bán tự động ngay khi bắt đầu thiết lập cuộc gọi, điện thoại viên sẽ ghỉ nhận tất cả
èác tin tức cẩn thiết để tính tiền Điện thoại viên sẽ thiết lập một tấm phiếu cho mỗi cuộc gọi, trên đó ghi đẩy đủ các chỉ tiết : các số và vùng nội hạt của thuê bao và bị gọi cùng với thời gian gọi Một thiết bị tính cước hay một phép đánh dấu thời gian gọi có
Trang 21kết nối cuộc gọi đường dài, tiền cước được tính ít nhất là 3 phút, nếu như khoảng thời
gian nói chuyện thực sự lớn Tiển cước có thể tăng lên từng bước 1⁄3 so với số tiền cơ bản này(số tiền 3 phút đầu)
Việc tính toán tiễn cước có thể được đơn giản hóa bằng cách dùng các bảng, trong đó các số tiền phải trả cho các khoảng thời gian khác nhau dược kê khai theo các khoảng giữa trung tâm
Vì tấm phiếu được dùng như giấy bảo đấm phụ trợ cho việc thống kê điện thoại
nên thuê bao có thể nhân được các số liệu về các cuộc gọi mà họ tiến hành trong tờ
phiếu tính tiền
H Vân hành tự động : Các cuộc gọi đường đài được tối dây hoàn toàn tư động
ông phải qua các điện thoại viên như rong các phưàng thức nhân công hay bán tự động Trong tổng đái phải được trang bị cắc thiết bị kỹ thuật thích hợp để tự ghi cước của các cuộc gọi này
4 Tình cước bộieu€ gốp)
4 Với hệ thông này, cước phí của các cuộc gọi đường dài được ghi bằng các
đồng hồ tình cuc được nồi trực tiếp đến thiết bị cá nhân của mỗi thuê bao, các đồng hỗ
này có thể được dùng chung với đồng tính cước nội hạt, cước phí của các cuộc gọi đường dài lúc đỏ sẽ là bội số của cước phí nội hạt Đồng hé sẽ được tác động bởi các
$ Phương pháp thứ nhất :
“Tùy theo mỗi mức cứơc, một số các xung liên tiếp được phát nhanh đến đồng hỗ
ở mỗi đơn vị 3 phút hoặc là một phút
$ Phương pháp thứ tư:
Tùy theo mức cước, một xung hoặc một chuỗi xung được phát đến đồng hồ khi thuê bao được gọi nhấc máy trả lời Sau đó là các xung ở các khoảng thời gian đều đặn
trong khi điện thoại, khong thời gian giữa các xung phụ thuộc vào mức cước
Trong phương pháp thứ nhất, gần giống với thủ tục tính cước vận hành nhân công, cần phải có một thời gian để chờ vài giây lúc bắt đầu của một cuộc gọi trước khi có thể bắt đầu tính cước Nhờ vậy ngay khi thuê bao nhận thấy rằng quay số xa, họ vẫn có đủ thời gian giấi tổa đường dây mà không cẩn phải trả đẩy đủ cho 1 hoặc 3 phút Tuy nhiên thuê bao phải trả cước đẩy đủ cho khoảng thời gian hơi đài hơn Để tránh cho
Trang 22
cước được phát đến đồng hổ của thuê bao gọi, ở các khoảng thời gian đều đặn trong
suốt cuộc gọi mà không can nhiễu đến cuộc gọi đàm thoại
Khoảng thời gian giữa các xung thông thường thay đổi nghịch đảo với khoảng cách giữa các thuê bao Các loại thiết bị đặc biệt có thể được tập trung tại tổng đài đường dài, sẽ xác định tốc độ tính cước từ mã đường dài của thuê bao bị gọi và nối một
bộ phát xung thích hạp với đường đây, Thông thường khi thuê bao bị gọi nhấc máy trả lời, việc
một khoảng cước cho việc xứ dụng thiết bị chuyển mạch và chiếm dụng đương dài còn cuộc gọi thì được nối thông Như váy khoảng thời gian đợi không bị tính cước sẽ không cẩn thiết nữa vì chỉ một đơn vị tính cước được nh, Nếu sau khi nhận ra kết nối nhằm
thuế bao gọi sẽ lắp tức giất tôa mạch, như thế sẽ không có khả náng thuế bao thực hiện
một cuộc gọi ngắn mà không trả tiền
Việc phát yung noi tiếp tuần hoàn theo sau các xung tính cước đầu tiên sẽ dẫn đến một vẫn để dag bist, vi trí pha của xung tính cước được phát tập trung ở bộ phát xung hoàn toàn ngầu nhiên ở mức bắt đầu của cuộc gọi và vì váy mà cũng ngẫu nhiên
với xung tính cước đầu tiên được bật bởi tín hiệu trả lời Do đó thông thường xung đầu
tiên trong chuồi xung tuần hoàn theo các xung tính cước tính cứơc đầu tiên sẽ không được phát ở thời điểm chính xác được xác định theo một dung sai nào đó, có nhiều cách
để giảm tối thiểu sự không chính xác là để đưa ra phương pháp tính cước công bằng hơn cho các thuê bao
ân tín hiệu tá lời sẽ là một xung tính cước đấu tiên, xung này diễn tả thực sự
‹Sau đây lÀ một số cách thường dàng :
+ Xung tính cước đầu tiên trong chuỗi xung tuần hoàn có thể được triệt đi để chỉ
có các xung tiếp theo sau được phát đến đồng hồ Sự mất chính xác sẽ không tổn tại ở thuê bao
$ Người ta có thể không dùng xung tính cước đâu tiên được lấy từ tín hiệu trả lời
mà chỉ đưa chuỗi xung tuần hoàn lên đường dây Khi đó vấn để bao lâu thì chuỗi xung tuần hoàn đầu tiên được ghi nhận là ngẫu nhiên Sự mất chính xác sẽ luôn giắm xuống đến một giá trị nhỏ không đáng kể khi số cuộc gọi tăng lên
& Xung tuần hoàn đầu tiên được lấy từ tín hiệu trả lời và nhịp tính cước thích hợp từ bộ phát xung trung tâm được cấp cho đường dây ở cùng một thời điểm Tuy nhiên chuỗi là bội số ø của khoảng thời gian mà đồng hỗ tính cước nhảy bước Các xung sẽ được cộng lại ở các thiết bị nối trực tiếp với đường dây và một chuỗi xung thứ n
sẽ được phát đến đồng hồ là một xung tính cước thực sự Sự mất chính xác giữa các
xung tính cước thứ nhất và thứ hai sẽ được giảm đến 1/n của các khoảng thời gian giữa các xung tính cước
Trang 23ẤN LỢI Aết
e _ Hệ số này được tùy ý chọn, nhưng nó được chọn sao cho độ chính xác cuối cùng có thể được thuê bao chấp nhận Điều này có nghĩa là khoảng thời gian dài nhất giữa hai xung được chia đủ nhỏ Ở một vài nước châu âu, n được chọn bằng 6 lưu thoại đường dài
« _ Nếu như cuộc gọi nội hạt phụ thuộc vào khoảng thời gian gọi phẩi được tính cước tương tự Nên chú ý rằng, các khoảng thời gian giữa các xung tính cước
dài hơn(thường nhiều phút) và n được chọn lớn hơn ( thí dụ n=10)
Phương pháp thứ tư là sự dung hòa giữa phương pháp thứ nhất và phương pháp thứ ba Nó tạo ra khả năng phân biệt giữa hai phương diện cước phí thiết lập các cuộc
gọi và cước gởi cuộc gọi đó Chuỗi các xung tuần hoàn có thể được đồng bộ lúc bắt đầu
cuộc gọi bằng bất kỳ các phương phip nào vừa được mô tả ở trên
Nếu như các đơn vị tỉnh cước của các cuộc gọi đường dài và nội hạt được ghỉ chúng bằng một đồng hồ Di nhiền không thể ghi được phí khi đọc, do đó chỉ có thể tính cước phí gọi cho thuê bao LÍu điểm của việc tính cước gôp cho các thuê bao này không
vị tính cước của lưu thoại đường đài phải thêm bằng các đồng hồ riêng biết, nhà chỉ phí
sẽ phải chịu một chỉ phí phụ đáng kể trong việc trang bị các đồng phụ, các mạch tính cước riêng biệt vẫn không thể biểu diễn mức độ cho mỗi cuộc gọi đường dài riêng biệt trong phiêu tình tiên điền thoại Tuy nhiên có thể thông báo cho các thuế bao biết tiển cước của từng cuốc gói bằng cách lấp đất tại nhà thuê bao một đồng hỗ chỉ thị tính cước
Và gửi các xung tình cu lên đường dây thuê bao ở các băng trên hoặc bang dudi bang thông tiếng nói thông thường
ing tính cước được phát đến các tổng dài PABX có thể nhận ở phần trung tâm
của thiết bị và được dùng để làm vận chuyển các đồng hỗ của mỗi thuê bao riêng biệt
bằng phương pháp này có thể định giá chính xác lưu lượng thoại xuất phát ở mỗi thuê
bi
hống tính cước bội cũng tạo khả năng quay số cuộc gọi từ máy công cộng bỏ
tiễn không cần sự giúp đổ của điện thoại viên Máy điện thoại phải được thiết kế
khoảng thời gian gọi được giới hạn bằng cách so sánh số tiền bỏ vào với xung tính cước
nhận được Người gọi sẽ thông báo rằng cuộc gọi sẽ chẳng bao lâu nữa sẽ giải tỏa nếu không bổ thêm tiển vào
Sự kết thúc của thời gian bị tính cứợc thường được chỉ bởi tín hiệu xóa thuận ( clear forward signal) được phát ra ở thời điểm thuê bao gọi giải tỏa kết nối Vì vậy mà thời gian có thể tính cước dựa vào sự trả lời của thuê bao bị gọi hoàn toàn được điều khiển bởi người gọi, tiền cườc sẽ được tính cho thuê bao gọi, có thể thuê bao gọi quên gác máy hoặc trường hợp hỏng về kỹ thuật, thiết bị tnh cước sẽ tiếp tục gửi xung đến đồng hổ, tín hiệu xóa ngược( clear back signal) được phát lúc thuê bao bị gọi giải tổa mạch, khi đó sẽ ngắt việc ghi cước trong nhiều trường hợp( thường sạu khoảng thời gian ngắt được chọn kéo đài từ một vài giây đến vài phút)
Khi thuê bao được nối đến một tổng đài nhồ Vì lý do kinh tế nên tập trung các thiết bị tính cước bội hoặc các khối tính cước trong một tổng đài quan trọng hơn trong tổng đài đường dài Điều này sẽ dẫn đến việc cần thiết phải gửi các xung tính cước qua mạng kết nối trung gian
Trang 24
TA G2 L6 cÔ TINT CUCEDIENTHOAT,
€ Tính toán cho các cuộc gợi riêng biệt :
Đối với cuộc gọi tự động đường dài, ngoài cách tính theo các đơn giá gộp như đã khảo sát ở trên, trong đó phiếu tính tiền không thể cho thuê bao biết chỉ tiết các cuộc gọi đường dài của mình Người ta có thể tính cước cho thuê bao theo các đơn giá chỉ tiết cho mỗi cuộc gọi đường dài như trong trường hợp vận hành nhân công Việc tính toán
có thể thực hiện hoàn toàn tự động Thông thường các dữ liệu cẩn thiết cho việc tính toán các cuộc gọi cá nhân được ghi lại một cách tự động Đó là:
e _ Số của thuê bao gọi và có thể cả mã đường dài
« _ Số của thuê bao gọi là mã đường dài
gọi xác định đơn vị tính cước, on tức này cùng với khoảng thời gian gọi hình thành nên
cơ sở tình cước Các tin tí: này có thể được đánh giá ưong lúc gọi hay ngày lập tức sau
Khi ngừng cuộc gọi Kết quá đuộc ght lại trên tâm phiếu cá nhân bode trên các phương
tiện tưởng ứng như băng từ bằng một tuết bị đặc biệt Số liệu liên quan cũng có thể
được tình ở thiết bị trung tâm và được nhớ trên các bang duc 16, báng từ hoặc các thiệt
bị tướng tự, Tìn tực về cuộc gọi được nhớ như thế có thể đánh giá một tự động ở trung tâm và chuyển thành phiêu tính tiền điện thoại, phiếu tính tiền này có thể diễn tả
tiển cước chủ mỗi cuộc goi hoặc là đơn giá hoặc là tính cước chung
Kho khan kin nhất tong phương pháp này nhận dạng tự động số thuê bao gọi
Nếu thiết bị dùng để đánh giá cước được đặt ở tổng đài nội hạt, số thuê bao gọi có thể
ch kiểm tra tự động các kênh liên lạc nội hạt Việc nhận dạng sẽ
bị tính cước tập trung và phục vụ cho nhiều tổng đài nội hạt
được xác định bằng
phức tạp hơn Khi t
“Số của thaê bao bị gọi được xác Ẩlnh nếu như :
$ Thuê bao quay chính số của mình
+ Số điện thoại riêng theo yêu câu
+ Số được xác định tự động trong tổng đài nội hạt của thuê bao và phát đến thiết bị trung tâm
Trong bai trường hợp đầu về quan điểm vận hành thì không thuận lợi Sự sai sót
có thể xây ra khi truyền số, thuê bao có thể quay đúng hoặc đưa ra các số sai, quay số miễn cưỡng, hoặc thêm nữa điện thoại viên có thể nhận sai số, khi đó tiển cước có thể
bị ghỉ cho thuê bao khác Do đó phương pháp thứ 3 được sử dụng chủ yếu trong các hệ thống hiện đại Thời gian mất trong lúc phát các tín hiệu cần thiết có thể đươc giảm xuống nhiều bằng cách phát các tín hiệu nhanh được mã hóa( điện mã nhanh)
Thiết bị tính cước thường được lắp đặt ở tổng đài nội hạt chính để giải quyết một
số lớn các lưu thoại đường dài Với các tổng đài nhỏ hơn, kinh tế hơn là tập trung các
thiết bị như thế trong một tổng đài ở các nhánh cao hơn của mạng cho dù cần phải có sự
định dạng
Trang 25
-1.Kế hoạch tinh cước :
.© Các kế hoạch trong kế hoạch tính cước
E rong khi các cuộc gọi nội hạt đa số được tính ở mức cố định cho một cuộc
gọi, hiếm khi thay đổ thời gian gọi, còn tính cước cho các cuộc gọi đường
dài thay đổi phụ thuộc theo:
$ Không thời gian gọi
$ Khoảng cách giữa các tổng đài đường dài của thuê bao gọi và thuê bao được
@ Tiêu chuẩn tính cước đường dài theo lối nhân
A, Khoảng các
Thông thường khoảng
định giácước, Khoảng cách này có thể được đo giữa các tổng đài của thuế báo gọi và
ic trung tâm địa lí của hai vùng nội hạt hoặc hai vùng tính
H Khoảng cách thời gian gọi:
Da sO các kế hoạch tính cước quốc tế cũng như khuyến cáo cia CCITT cho làm
việc quốc tế đều quy định thời gian tính cước nhỏ nhất cho một cuộc gọi là 3 phút, điều này có nghĩa là đối với các cuộc gọi kéo dài 3 phút hoặc ít hơn thi thu theo mức cơ bản
này Còn mỗi phút thêm vào 1/3 hon số mà được tính Theo phương pháp này thì ngay
cả cuộc gọi ngắn chỉ phí cao của nhân công cũng được đáp ứng
€ Dịch vụ bởi điện thoại viên:
Trong loại hình cơ bản của nó, tiền cước được đặt ra cho cuộc gọi đường dài thông thường thuê bao trả tiễn và yêu cầu nối đến một tổng đài nào khác mà không yêu cầu nối đến một người duy nhất, cũng không yêu cầu được ưu tiên Có thể người gọi muốn vượt xa hơn yêu câu thông thường này, khi đó thời gian phục vụ của điện thoại viên sẽ bị giữ kéo đài hơn hoặc chỉ phí lớn hơn do đó tiền cước phải trả tăng
Mật số nhà quản lý thủ các cước pha nếu như :
$ Người muốn gọi nói chuyện với một người riêng biệt hoặc với một thuê bao riêng biệt
$ Thuê bao bị gọi trả lời cuộc gọi
$ Ưu tiên cho cuộc gọi
® Người gọi muốn nói chuyện với một người nào đó không có điện thoại, phải được gọi đến cho người báo tin hoặc như là tin tức được chuyển đến người lầm
$ Cuộc gọi được nối thông ở một thời gian riêng biệt tiển cước có thể thu được
như một số phụ thu cố định hoặc là tăng cước thông thoại theo số phần trăm cố định
Trang 26BO ANTOUNGHIER
@®Tiêu chuẫn tính cước gọi đường đài
Trong việc tính cước khi đưa ra từ một kế hoạch tính cước nhân công sang tính cước tự động có hai yêu câu sau đây khi tính toán:
4 Một kế hoạch tính cứơc mới sẽ dẫn đến một sự xáo trộn nhỏ đối với việc tính
toán thuê bao hoặc là lợi ích tổng thể của nhà quần lý
4 Tính phức tạp hóa, các bước tính toán ở kế hoạch tính cước tự động phải được
giữ nhỏ nhất Thông thường việc đưa ra một hệ thống tính cước đường dài tự động vào
sử dụng, sẽ dẫn đến một chỉ phí ban đầu Thiết bị chuyển mạch cần thiết, cũng như các
yêu cầu mạch điện phải được sửa đổi để tăng lượng lưu thoại Mặc dù chỉ phí ban đầu này đáng kể, tuy nhiên các chỉ phí tổng cộng hàng nám sẽ chứng minh là ít hơn chỉ phí của điều hành nhân công (trong đó một phần chỉ phí để đào tạo và trá lương cho điện
ải tăng tiễn cước, thật ra có thể giảm cước do tiết kiệm nhân viên, Khoảng cách thẳng giữa các tổng đài đường dài hoặc là các vùng tính cước bao gồm một hày nhiêu đãi thông thường là cơ sở chỉ việc đế xuất một kế hoạch tính
B khoảng thời giản goi:
Việc xất định được tính cước tạo khả năng sử dụng các đơn vị rất nhỏ trong việc đánh giả khoảng cách thời gian gọi không còn lý lẽ để đánh cước khởi đầu cao nữa, bởi
VÌ một cuộc gọi thiết lập nhành và ít tốn kém hơn loại vận hành nhân công Đặc biệt với phép đếm xung tuần hoàn, đơn vị thời gian( khoảng thời gian giữa các xung tính cước)
có thể tạo đủ nhỏ có thế tính toán cho cho các cuộc gọi đường dài có thời gian ngắn nhất, Thực tế, tiễn cước có tỷ lệ với thời gian gọi Nếu sử dụng kỹ thuật tính cước tập trung mà trong đỏ các chỉ tiết của mỗi cuc gọi được ghi vào phiếu tính tiễn, phương pháp định thời của loại nhân công có thể sử dụng nếu cẩn thiết
€ Các thể loại gọi:
Trong các cuộc gọi tự động đường dài, các yêu cầu đặc biệt của thuê bao trong
việc thiết lập cuộc gọi như trong vận hành nhân công, sẽ dẫn đến khó khăn vé mặt kỹ thuật, nếu như các yêu cầu như thế được tính thì trong đa số các trường hợp đều phải
cần đến sự trợ giúp của điện thoại viên Tuy nhiên trong các hệ thống sử dụng phương pháp đếm xung tuần hoàn, không cân phải xem xét các yêu cầu này vì:
4 Các cuộc gọi mà người bị gọi trả tiển(colect call) có thể thay bằng một phương, pháp đơn giản (người gọi có thể thiết lập một cuộc gọi trước tiên với tiền cước rất nhỏ
và mời người bị gọi trả tiền)
4 Với cước phí rất nhỏ, người gọi có thể xác định người mà mình muốn nói chuyện có mặt hay không hoặc thông báo một cuộc gọi thứ hai cho người này Vì vậy, các cuộc gọi PERSON TO PERSON không cần thiết nữa
4 Trong nhiều trường hợp một cuộc gọi có thời gian ngắn sẽ ít chỉ phí hơn cước
phí phụ tương ứng trong hệ nhân công
Ð Việc tổ chức lưu thoại hay nhân công:
Mục đích cuối cùng trong việc quy hoạch bất cứ mạng điện thoại nào thường là
tự động hóa hoàn toàn lưu thoại nội hạt và đường dài, bao gồm cả liên lạc quốc tế Cần
phẩi có sự xem xét vấn để một cách toàn điện đối với mức tự động hóa phức tạp trong mạng lưới của một quốc gia
Trang 27
Cho dù vận hành nhân công hầu như yêu cầu ít vốn 1 dau tư cho thiết bị chuyển
mạch Tuy nhiên, có thể chứng minh cuối cùng phí tổn hao của nó cao hơn vận hành tự động Khi chỉ phí tổng cộng của toàn bộ dịch vụ được tính toán, lượng lưu thoại phải giải quyết và sự có sẵn điện thoại viên lành nghề là các thông số chủ đạo
Kinh nghiệm trong nhiều quốc gia đã chỉ ra rằng với sự phát triển của kỹ thuật, lượng lưu thoại đã tăng lên nhanh cũng nhỏ hơn chỉ phí đào tạo nhân công điều hành
nó Các chỉ phí này thường được bù đắp từ tiền cước thu được
Việc lắp đặt thiết bị tự động sẽ yêu cầu đâu tư cao hơn và có thể giải quyết bằng tiên vay dài hạn Các chỉ phí nhân công còn lại bao gôm chỉ phí vận hành bảo trì thiết
bị và mạch điện, trả nợ và một phần trim thém vào để mở rông hoặc hiện đại hoá
mạng Các chỉ phí này thường thấp đáng kể so với loại vận hành nhân công Điểu này
sẽ khích lệ thuê bao và sẽ dẫn đền việc sử dụng hiệu quả hơn các khả năng của thiết bị
bộ chọn, về lầm phức tạp thêm các mạch kìm giữ và giám sát ngăn chặn thuê bao tiếp nhận một cuộc gọi thứ hai ngay sau khi cuộc gọi thứ nhất giải tỏa Trong hệ thống điện thoại tự động ở một số nước, phương thức thực hiện tiêu chuẫn là tính cước của cuộc gọi Khi thuê bao bị gọi trả lời, nghĩa là khi bắt đầu thời gian đàm thoại Các đồng hồ tính cước (bộ ghỉ nhận cước của thuê bao) hoạt động theo nguyên lý điện từ và được thiết kế
để ghỉ nhận "một đơn vị tính cước” mội lần nam châm điện hoại động Điều này quan trọng nhất là các mặt tính cước của tổng đài điện thoại tự động phải có một độ tin cậy
với mức sai số thấp và đặc biệt là phải thiết kế, bảo đảm tránh được sự hoạt động thất
thường của đồng hồ tính cước do những khu hư bồng của mạch điện hoặc do sự sử dụng
sai lệch của thuê bao
Các hệ thống tính cước được thiết kế để ghi nhận một đơn vị tính cứơc cho một cuộc gọi thành công trong một cự ly có bán kính nào đó tính từ tổng đài, phát xuất ở những nơi có điều kiện kỹ thuật cho phép, từ thuê bao có thể quay số trực tiếp đến các tổng đài lân cận và cước phí cho những cuộc gọi như vậy, có thể là hai, ba hoặc bốn đơn
vị tuỳ theo bán kính giữa các tổng đài đâu cuối Tất cả các cuộc gọi này đều “không tính thời gian”, nghĩa là cước phí độc lập so với khoảng thời gian đàm thoại Các cuộc gọi đến các tổng đài xa hơn, có thể được xữ lý tại bàn chuyển mạch nhân công tự động,
và được tính cho thuê bao gọi bằng cách chuẫn bị trước các phí đài Các cuộc gọi trong
đó cước phí được xác định bằng phối hợp giữa khoảng cách và thời gian
Trang 28
Trong các tổng đài nhân công, một tín hệu giám sắt được gữi đến điện thoại
“Trong hầu hết các hệ thống điện thoại loại củ trước đây việc đảo dòng đường dây này được dùng để hoạt động đồng hồ tính cước của thuê bao gọi
Một mạch tính cước cổ điển trong đó một déng hồ tính cước có phân cực, được
nối trực tiếp trong mạch điện đường dây Đồng hồ tính cước “M” có hai cuộn dây, trong
đó có một cuộn là cuộn “phân cực” và cuộn kia là cuộn "đường dây”
Trong khi thiết lập một cuộc gọi, dòng điện trong hai cuộn dây này sẽ đối kháng lẫn nhau và đồng hỗ không hoạt động, nhưng khi thuê bao gọi trả lời, việc đảo cực về
phía thuê bao gọi sẽ làm cho đồng hồ tính cước hoạt động Một khi hoạt động, đồng hỗ
sẽ giữ cuộn dây "phân cực” và cuôn "đường dây” sẽ bị nối tắt
Mạch điện đơn giần này sẻ không bao lâu bị bỏ, do có khó khăn trong việc thiết
ng hic thoả mãn hai yêu cầu là: rẻ tiền, đơn gián và bảo dim
điều chinh dé dang gidh han chất chẽ cần thiết Có thể trình bay một mạch điện
khác IÀ sự phảt triển của cùng một nguyên lý trên, wong đó có một mạch điện khác là
sự phát triển của cũng một nguyên lý tiến, trong đó có một Rơle được trang bị trong
mạch điện của bị chọn thứ nhất Rele này xẻ nhận tín hiệu tính cước từ dong điện đường đây bị đâo cực và hình thành một mạch điện cục bộ cho hoạt động của đóng hỗ tính cước chỉ một cuốn dây đúy nhật trong mạch điện đường dáy thuế báo trên một đây tính
cuức riếng biệt
Có một số dang biên đổi của nguyên lý này, nhưng tất cả các mạng điện này đếu có nhược điểm là có một ưở kháng trên đường đây trong khi quay số Hơn nữa, các
inh cước gộp và đòi hỏi phải đảo đòng với tất cả các cuộc
phường án không phù hợp
agi
Việc điều khiển tính cước bằng cách đảo dòng đường dây vẫn được duy trì để
truyền tín hiệu cước giữa hai tổng đài mà trong đó, nếu thiếu một dáy dẫn thứ ba trong việc kết nối thì sẽ không thể truyền lưu được tín hiệu
“Trong một số hệ thống tổng đài có tỷ lệ rất cao các cuộc gọi xuất phát là hướng
về tổng đài khác, người ta thường trang bị một Rơle phân cực tai vi tri xung dé cho Role
đó có thể được loại trừ ra khỏi đường truyền xung và có thể được đặt sao cho nó gây nhiễu ít nhất đối với sự truyền dẫn tín hiệu
Một mô hình tiêu biểu được trình bày trong bình ở một Rơle phân cực loại rẽ mạch sử dụng mặc dù có thể được thay thế bằng một Rơle thông thường nối tiếp một Diode Cuộn dây phân cực 2000 của Rơle điện thoại sẽ được cấp nguồn khi mạch bị chiếm dụng, nhưng Rơle vẫn không hoạt động cho đến khi dòng đường dây bị đảo cực khi thuê bao gọi trả lời Bây giờ tiếp điểm D¿ sẽ ngắt mạch kiểm giữ Rơle MD và sau một thời gian trì hoãn khoảng 200ms đến 300ms, tiếp điểm sẽ cấp đất cho dây tính cước Tính chất trễ này sẽ ngăn chận sự hoạt động sai lạc của đồng hồ tính cước, cũng
có thể xây ra do chập nhấ của Rơle D khi đồng hỗ hoạt động nó tự giữ bằng một tiếp điểm của nó cho tới khi kết thúc cuộc gọi và nhờ đó ngăn chặn đựơc tình trạng qúa mức Rơle điện thoại sẽ giải tỏa tức thời khi cuộc gọi tiến hành,
B.Tính cước bằng day thit tu trong mach:
Các mạch tính cước được trình bày trogng hình 3, đòi hồi phải cung cấp thêm
một dây dẫn giữa đường dây thuê bao và vị trí mà tại đó tình trạng tính cứơc được đưa
vào Bất kỳ một hệ thống tính cước nào thuộc loại này cũng được xem như là một hệ
fs
Trang 29
ce ae 4 a Đưa tên một dây dẫn ‘ay vào sẽ dẫn đến việc phải trang bị thêm một chỗi quét tại mỗi tẳng bộ chọn mà tín hiệu tính cước đi qua Điều này làm tăng giá thành và nói chung việc tính cước bằng 4 dây chỉ có thể áp dụng ở những nơi mà tín hiệu được đặt ở tầng bộ chọn thứ nhất điều này đòi hỏi phải có thêm một tay chỗi ở bộ
chọn đường dây thuê bao, nhưng chỉ phí phụ trội thường được bù trừ nhờ sự đơn giản
hóa mặt tính cước do việc sử dụng dây thứ tư
Trong một số mạch điện, đất trên dây tính cước sẽ tạo nên tình trạng tính cước, nhưng trong các mạch diện khác, người ta dùng dòng điện áp âm trên đây tính cước
Phương án tốt nhất thường được gọi là phương pháp dùng dất trên đây thứ tư Nói
chung, tình cước dùng biện pháp âm trên dây thứ tư thường được ưa chuộng hơn do có xác suất thấp trong việc đặt ngẫu nhiên tín hiệu tính cước trên dây M( dây thứ tư)
@ Tình cước bằng phương pháp đếm xung :
Sau khi tổng đài thực hiện kết nối giữa hai thuê bao, tổng đài sẽ cấp các Tone gián đoạn có tấn số quy định trước Trọng mội khoảng thời gián được quy định là đơn vị
cơ bản tính cước ý thì số Tone hiện hành trong một đơn vị thời gián cơ bản sẽ tỷ lệ với giá cước Nhữ vậy, thy theo khoảng cách giữa hai thuê bao mà số Tone trong một đơn
vị thời gián sẽ khác nhau, Khi tá gọi đến một vùng cảng xá thì số Tone nhận được để
tính cước trong một đơn vị thời gián cơ bản sẽ cằng nhiều,
Hồ phân tình cước chỉ làm một việc đơn giản là đếm số Tone này quy đối ra giá cước cuộc pọi
@ Tình cuốc bằng phương pháp đảo cực nguồn điện :
Khi nhận ra thuê bào bị gọi nhấc máy trả lòi, tổng đài sẽ đảo chiều điện áp DC trên đôi dầy điện thoại của thuê bao gọi Trong hệ thống tổng đãi điện tự động, tín hiệu đảo cực này sẽ khỏi động đồng hỗ tính cước của thuê bao gọi Khí đàm thoại kết thúc, nghĩa là một trong hai thuê bao bị gác máy, điện áp trên đôi dây lại đảo dây lẫn nữa, chấm dứt hoạt động của thuê bao gọi
®1ính cước bằng phát tín hiệu Ring-Back-Tone :
Trong các cách tính cước trên thuê bao phải được tổng đài cấp cho dịch vụ: tín
hiệu đảo cực hoặc xung tuần hoàn Tại những thuê bao không có hai dịch vụ trên, người
ta phát hiện tổng đài bằng cách kiểm tra tín hiệu hồi âm chuông (Ring —Back-Tone)
Ta biết rằng sau khi số quay được gửi đi, tổng đài sẽ kết nối hai thuê bao, bên thuê bao gọi sẽ nghe được tín hiệu hổi âm chuông( f=425Hz và 1s có 4s không) Khi thuê bao gọi nhấc máy trả lời, tín hiệu hổi âm chuông sẽ mất Do đó, phát hiện hết hồi âm chuông chính là phát hiện thông thoại Tín hiệu này sẽ khởi động bộ đếm thời gian thực Khi giải tồa cuộc gọi thì nội dung của bộ đếm thời gian chính là khoảng thời gian
thông thoại cân tính cước
OV Phuong pháp quay số và giá cước hiện nay :
(Gọi nội hạt:
Ss au khi nhấc máy nếu nghe tín hiệu mời quay số ( Dial Tone) quay s6 may
cân gọi.quay xong nếu Ring -Back-Tone thì tiếp tục chờ máy được gọi
Trang 30máy trở lại chờ thời gian sau thiết ;ập lại cuộc đàm thoại
** Trình tự gọi nội hạt:
Nhấc máy | —>| Nghe
DialTone |—>| Quay số
s* Gọi liên tỉnh:
© Gọi liên tỉnh tự đông :
lên được người gọi đặt
| +{ Nghe Dial Tone |—»{ 0} -+[ ma ving số thuê bao
@ Gói quốc tế qua điện thoại viên: [Bao cho |
Nhắc mày }—* Nghe Dial Tone }— 10 => mã vùng > ee
Trang 32
PHẦN B
NỘI DUNG CHÍNH
Bi
Trang 33
GIAO TIEP NOI TIEP
See ” '5/0NNNNGCG
liệu số và các dạng tưởng tự như vây
ễ truyền dư liệu Ì
nghĩa là tín hiệu chỉ có thể ở trong một số trạng thái ring bit thifdng 1a mot trong hai trạng thái, biểu thì bằng logie |O] hoặc [LỊ) Một túnh hiệu tương tự có thể chiếm I trang thái bất kỳ trên một dây liền tục
Tập húp các phản tự 3 đỡ lêu sử dụng mã nhị phân là các văn bản đồ họa hoặc qúa trình điển khiển công nghiệp, mộc mã nhị phân ø bịt có thể biểu diễn 2” phẩn tử dữ
kiệu,
Cấc bộ mã biểu thì các chữ cái và số được gọi là các mã chữ số Bộ mã chữ số lung nhất là mà ASCH 7 bít Bằng mã này có 128 vị trí chức các mã chữ hoa in
chữ hoa thường, các sổ từ 0 đến 9, một số dấu chấm câu các mã chức năng và các
dành cho các chức năng đặc biệt như xuống dòng, trở về đầu dòng
B7 B7
Be B6
BS 85
Ba B4 B3 B3 B2 82 B1 |———| B1 B0 B0
THỊ: Truyền song song
[87 | 88 | 55 | 54 | 3 [52 | 5ï [50 Ƒ +
i (s7 [6 [8s [#4 [83 [82 [ et [60 | 2L
+ H2 : Truyền nội tiếp
Trang 34
Một mã có thể được gửi đi dưới dạng song song, nghĩa là các bit được phát đồng, thời trên các đường dây riêng lẽ Còn các bit được gữi đi từng bit một ở từng thời điểm
hoạc tuần tự trên cùng một đường dây được gọi là truyền dưới dạng nối tiếp
B Truyền đông bộ và bất đẳng bô :
ếp , các ký tự cũng có thể gửi đi theo cách
Nơi thu sẽ dịch các ký tự vào thanh ghi dịch cùng nhịp với nơi phát Việc truyền
ghi dịch(ỡ bộ phát và bộ thu) từ một nguồn xung Clock chung,
ÿ thông của đường truyền)
BÀI lợi của phuẩng pháp truyền đồng bộ là cẩn phải gửi xung Clock song song
với dữ liệu tên kênh tuyển thứ hai Ở khoảng cách xa không thể cung cấp một kênh
riêng bộ thủ được trang bị các thách vòng lập khóa phá đặc biết PLL có thể lấy ra thong tin định thời từ bít chính đồng dữ liều và tạo lại tín hiệu xung Clock nội bộ, Trong trường hút này, truyền đồng bộ sẽ đất hơn truyền bất đồng bộ
Mặc dù phường pháp truyền đồng bộ này việc định thời bịt được thiết láp trực tiếp ổ nơi thú, nhưng ranh giới của ký tự phải được thiết lập bảng cách khác Thường
một ký tự đặc biệt được gửi rước một khối dữ liệu để nơi thu đạt được sự đồng bộ Ký
ASCH thường được sử dụng cho mục đích này
sề Thuyền bất đồng bộ:
Không đòi hỏi tín hiệu đồng bộ phải liên tục truyền từ nơi phát đến nơi thu Các
ký tự sẽ được đồng bộ một cách riêng lẽ Các bit dữ liệu của mỗi ký tự được đặt trước
m6t bit Start, bịt này được phát hiện ở máy thu và kích khởi bộ phận tạo xung Clock dời bịt của bộ thu
Tần số danh định của tín hiệu xung Clock ở nơi thu và nơi phát là như nhau và được quyết định bởi tốc độ truyền bit được sử dụng Do tan số của hai tín hiệu xung Clock bằng nhau nên nơi thu vẫn nhận đây đủ các bit dữ liệu trong thời gian truyền ký
tự Một hoặc hai bit stop được đưa vào sau các bit dữ liệu của mỗi ký tự để cung cấp thời gian đệm tối thiểu giữa các ký tự
Vì phải thêm vào các bit Start và bit Stop cho mội ký tự dữ liệu khi truyền nên truyền bất đồng bộ chậm hơn truyền đồng bộ, nhưng giá thành lại rẽ hơn.Các tốc dộ chuẫn cho việc truyền bất đồng bộ là 75, 110,300,1200,9600bps Tốc độ truyền đồng bộ
Trang 35
BO ANT GT Naive!
) Chuẫn RS232 được dùng với tốc độ truyền dữ liệu là 20Kbps với khoảng cách truyền lớn nhất là 15m.đây là một dạng giao tiếp loại TTL với bộ kích đường dây không cân
bằng
'Việc mô tả chuẫn này được chia làm 3 phẩn: các đặc điểm kỹ thuậy về điện mô
tả các đường dữ liệu , điều khiển và kết nối chân ra
Đặc điểm kỹ thuật và điện của RS232C :
Mức điện áp logic của RS232 là hai khoảng điện áp +15V và —15V các đường
dữ liệu sử dụng mức logic âm: mức logic 1 có điện thế giữa 5V đến ~15v, logic 0 có điện thế giữa +5V đến +15V, Tuy nhiên các đường điểu khiển ( ngoại trừ đường TDATA và RDATA) sử đụng logic dương: giá trị true ti+5V đến +15 và false từ =5V đến ~L5V,
Ở chuẩn giáo tiếp này,piữa ngõ ra bộ kích phát và ngõ vào bộ thu có mức nhiễu
được giới hạn là 2v.Do vậy ngường lớn nhất của ngõ vào là 3v, trái lại mức ấv là ngưỡng nhỏ nhất đôi vất ngõ vá Ngẻ ra bộ kich phát khi không tải có điện áp là 12v
Các đặc điểm khác về điện ¡
## RItliên trở tải) được nhìn từ bộ kích phát phải có giá trị giữa 7K@ và 3 K@
® Cl (tiện dung tả): được nhìn từ bộ kích phat khong vượt quá 2500pF, Để
ngần chan sự dào động quá mức, tốc độ thay đổi của điện áp không vượt quá
30V/Ms
s* Đôi với các đường điều khiển, thời gian chuyển của tín hiệu ( từ true sang
liệu, thời gian chuyển ( từ 1 sang 0 hay từ 0 sang 1) phải vượt không qúa 4% thời gian I bit hay lus,
Các dường dữ liệu điều khiển của RS232C:
Trang 36
Các đường báo thiết bị sẵn sàng:
$* DSR(data set ready)(chân 6): để báo rằng MODEM đã sẵn sàng
s# DTR(data terminal ready)(chân 20): để báo rằng thiết bị đâu cuối đã sẵn
sàng
Các đường bất tay bản song công:
s* RTS(cquest =to- send)(chân 4): để báo thiểt bị đầu cuối yêu câu phát dữ
liệu
sề CTS@lear 16 xendl(chân 5) MODI.M đáp ứng nhú cầu gửi dữ liễu của thiết
bị đầu cuối, cho biết rằng thiết bị đầu cuối có thể sử dụng kênh để truyền dữ liệu,
Củc đường trang thai song mang và tín hiệu điện thoại:
thân 8): MODEM báo cho thiết bị đầu cuối biết đã nhận được một sóng nang họp lệ từ chân mạng điện thoại
sẽ Rluing - Baek - Tone)(chân22): các MODEM tự động trả lời, báo răng đã
hiện một tín hiệu chuồng từ mạng điện thoại
Có hai đường đầ
& CDicamier det
‘iy đất riêng lẽ: một đường dây cảho nguồn hoặc mass máy và
đường dây cho tìn hiệu tham chiếu(signal reference) đất Chúng có điện thế như nhau,
nhưng tách ra như thể để dòng điện 60Hz hay một nhiễu bất kỳ không xuất hiện trên mạch tín hiệu Hai đường dây đất này đặt cách điện trở 100 © bên trong thiết bị
Trang 37DOAN OT Naver
Bé két ndi RS232C;
Một bộ kết nối 25 chân ( 9 chân) và chuẩn thực tế có dạng chữ D
MODEM rỗng của RS232C( null Modem):
SIGNAL GROUND _ „|
CHASSIS/FRAME GROUND
Mặc dù chuẫn RS232C của EIA được dành riêng để áp dụng kết nối giữa modem với thiết bị đầu cuối, nhưng một thuê bao của RS232C cũng được dùng khi hai thiết bị đầu cuối được nối với nhau, hay một máy tính và một máy mà không sử dụng các MODEM
“Trong những trường hợp như vậy, các đường TDATAvà RDATA phải được chéo
nhau và các đường điếu khiển cần thiết phải được đặt ở true hay phải được trao đổi
thích hợp bên trong các kết nối Sự nối lắp cáp của RS232C mà sự trao đổi đường dây được gọi là MODEM rỗng( null MODEM) Cáp như vậy thích hợp để nô`I trực tiếp 2 thiết bị DTE qua các Port RS232C chú ý rằng trong trường hợp đơn giản nhất chỉ cần kết nối 4 dây lân nhau, trong thực tế 2 đường dây đất
Trang 38
( signal ground và chassis/Fram ground) thường được kết hợp lại, mặc dù điều này không được để cập tới
Các IC kích phát và thu của RS232C:
Nhờ tính phổ biến của RS232, người ta đã chế tạo các IC kích phát và thu Hai
vi mạch như vậy được motorola sắn xuất là IC kích phát MC1488 và IC thu MC1489 có dang vỏ chuông Mỗi IC kích phãt MC1488 nhận một tín hiệu mức TTL và chuyển thành tín hiệu ở ngõ ra tương thích với mức điện áp của RS232C, IC thu 1489 phát hiện
các mức vào của RS232C và chuyển chúng thành các ngõ ra có mức TTL Tương tự như
vậy, IC max232 cũng thực hiện như các chức năng chuyển đổi trên, nhưng các bộ kích phát và thu đều được tích hợp trên cùng một lC
ống nội tiếp RS232C là giao điện phổ biến rộng rấi nhất, các cổng này có
Z lên gọi là COM và COM2, Giống như cổng máy in LPI], cổng nối tiếp
‘Tug dive sứ dụng thuận trên cho mục đích truyền thông giữa thiết bị ngoại vỉ
Việc huyền dữ liệu qua cổng R§S232C đực tiến hành theo cách nối tiếp, nghĩa
là các bịt dữ liệu được gửi đi nói tiếp nhau trên cùng một đường dẫn Trước hết, loại truyền này có khả nâng dùng cho các khoảng cách lớn hơn, bởi vì các khả năng gây nhiều là nhỏ dàng kể hơn khí dùng một cổng song song Việc dùng cổng song có một
mứt tin hiệu nẦm trong khoảng 0 đến 5V đã tổ ra không thích hợp với khoảng cách lớn
Cổng nối tiếp RS232C không phải là một hệ thống bus, nó cho phép dễ đàng tạo
ra liên kết dưới hình thức điểm-điểm ( point to poin\) giữa hai máy tính hay máy tính với thiết bị ngoại vi cần trao đổi thông tin với nhau Một thành viên thứ 3 không tham gia vào cuộc trao đổi thông tin này, Cách bố trí chân phích cắm RS232C ở máy PC như
Số chân Số chân Chức năng
(loai 9 chan) (loai 25 chan)
1 8 DCD-Data carrier detect
Trang 39WV, Lrayén dit lieu +
ức tín hiệu trên chân ra RxD tùy thuộc vào đường din TxD va thong
M thường nằm trong khoảng -12V đến +I2V các bịt dữ liệu được gữi đảo
ngược lại Mức điện áp hiph nằm giữa -3V dén +12V và mức low nằm giữa +3V đến
2C được biểu diễn như sau:
Trang 40TST NGHIE!
GIOT THIEU LINH KIEN CHINH
ee) ie ie tae [ES 0a
Ù Giới thiệu vé vi xit h
P8951 IA chip vi điều khiển thuộc họ MCS5 do hãng Intel sản xuất
Chúng được chế tạo để thiết kế các modul ứng dụng vô cùng đa dạng trong thực
tế nói cách khác trong lĩnh vực Digital thì việc ứng dụng Chip vì điều khiển là không
thể thiếu thông qua phần mềm (do người dùng lập trình ra) để điều khiển phần cứng do
đó nó được xem như kiểu điều khiển mở,vì vậy về phương diện nào đó hệ điều khiển
dùng Chịp p nó không khác gì lắm so với máy vị tính cá nhân Đối với các Chip thuộc
hộ MSCST thì ngöái những tính nâng mới được cấy ghép thêm vào Chip ( tùy theo thế
hệ Chíp, chẳng hạn BPROST cổ RƠM nội chương trình chỉ nạp được một lần vì vậy
người ta thường phải sử dụng ROM chương trình bên ngòai, pP56951 thì ROM nội
shệ mới có thể nap xóa nhiều lần-khoảng 10.000
m tương đối
chương trình được chế tao bang cong
lần điều này rất có lợi Khì mẹ dụng vào thực tế mà chương trình phần
MSCSL về cơ bản đều giồng nhau , Chúng được xây dựng trên một chuẩn do Intel đưa
ra nhầm đơn giản cho người sử dụng
ATS9CSI 1d chip vi diéu khiển 8bit (data) có hiệu suất cao, công suất tiêu tán thấp,với 4KB EEPROM nội (chương trình) được chế tạo theo công nghệ cao của hãng
ATMEL, nó hoàn toàn tương thích với tiêu chuẩn của họ vi điều khiển MSC-51 do INTEL đưa ra Với 4KB ROM nội cho phép bộ nhớ chương trình bên trong có thể lập trình được nhiều lần một cách dễ dàng thông qua Card nạp được kết nối với máy tính Nhờ có loại EEPROM này mà AT8951 được coi là một Chịp vi điều khiển rất hữu dung
,lầ một giải pháp thực sự có hiệu quả cao trong các ứng dụng thực tế ( giảm thiểu được
kích thước không gian ,chỉ phí toàn bộ )
** Alaòal sa zÀ 18951 còn cang cấp thêm một sế đặc tính tiêu biểu như:
Y 128 bytes RAM nội
*/ 32 đường VO
v2 bộ đếm /định thời 16 bit
/ Cấu trúc 5 vectơ ngắt 2 mức
+ 64 KB không gian bộ nhớ chương trình mổ rộng
v/ 64 KB không gian bộ nhớ dữ liệu mở rộng
v⁄ 210 bit được địa chỉ hóa
Cổng nối tiếp song công (full duplex) (mạch dao động và tạo xung bên trong)
“Thêm vào đó AT89C51 còn được thiết kế đặc biệt là có thể vẫn hoạt động ổn định (các trạng thái trước đó vẫn được duy trìngay cả với tần số bộ dao động là