Hợp đồng BHNT có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng đối với lĩnh vực kinh doanh BHNT hiện nay, cụ thể: Thứ nhất, đây là một văn bản pháp lý nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
Tính cấp thiết của đề tài
Lý do lựa chọn đề tài
Sự tồn tại của các rủi ro trong cuộc sống là nguồn gốc phát sinh của hoạt động bảo hiểm nói chung Cuộc sống của con người luôn tồn tại những nguy hiểm ảnh hưởng đến chính bản thân con người như thiên tai, dịch bệnh, tai nạn,… Đây là những rủi ro không thể tránh khỏi, đòi hỏi phải có các giải pháp phòng ngừa hoặc khắc phục những hậu quả có thể xảy ra
Khi mức sống được nâng cao, nhu cầu của còn người cũng phát triển theo thời gian, ngoại trừ những yêu cầu thiết yếu, con người còn muốn đảm bảo cho các rủi ro có thể xảy ra trong công việc, khắc phục rủi ro đối với gia đình, người thân và ngay chính bản thân con người Và bảo hiểm nhân thọ là một trong những hình thức chuyển giao rủi ro của con người cho các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
Bảo hiểm nhân thọ là một lĩnh vực kinh doanh phát triển khá lâu đời trên thế giới, đặc biệt là những nước có nền kinh tế phát triển như Anh, Mỹ,… Bên cạnh những ý nghĩa chung của bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ mang đến những lợi ích đậm tính nhân văn nhằm bảo vệ sự bình yên của cuộc sống con người trước những bất ngờ không thể lường trước của đời sống như bệnh tật, tai nạn,…
Tại Việt Nam, lĩnh vực này vẫn còn tương đối mới mẻ và được đánh giá là thị trường đầy tiềm năng Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ lần đầu được pháp luật Việt Nam ghi nhận tháng 12 năm 1993 khi Nghị định 100-CP của Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 12 năm 1993 về kinh doanh bảo hiểm ra đời Tính đến tháng 4 năm
2024, Việt Nam có 19 công ty bảo hiểm nhân thọ đang hoạt động với những thành tựu nổi bật và có những khởi sắc trong nhận thức của người dân Theo “Niên giám thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2022” do Bộ Tài chính công bố thì doanh thu phí bảo hiểm năm 2022 đạt 178.327 tỷ đồng, tăng 11,93% so với năm 2021, số lượng hợp đồng có hiệu lực đạt 13.921.675 hợp đồng, tăng 5,48% so với năm 2021 Đồng thời pháp luật Việt Nam cũng đang được hoàn thiện, lần lượt các Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 ra đời, quy
2 định ngày càng chi tiết và chặt chẽ, nhằm đảm bảo quyền lợi của tất cả tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm nhân thọ Tuy nhiên, khi Luật kinh doanh bảo hiểm mới có hiệu lực, đã tạo ra một cuộc tranh luận về các quy định và các tình huống phát sinh từ các quy định mới, các tranh chấp về bảo hiểm nhân thọ xảy ra ngày càng nhiều, đặc biệt là các tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, trong đó, có những tranh chấp phát sinh từ những bất cập trong quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, cùng với việc tăng cường hội nhập thì việc phát triển kinh tế là tất yếu và vì vậy, vấn đề bảo hiểm càng được con người quan tâm, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ TẠI VIỆT NAM HIỆN
NAY” để nghiên cứu ở cấp độ khóa luận tốt nghiệp, mong muốn phân tích, làm rõ những nội dung của pháp luật hiện hành về HĐBHNT thông qua nghiên cứu những lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất những góp ý, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về HĐBHNT ở Việt Nam hiện nay.
Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Xuất hiện và phát triển muộn hơn so với thế giới nên lĩnh vực BHNT từ những ngày đầu đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam, kết hợp đồng thời cả lý luận và thực tiễn nhằm làm rõ, xây dựng và thúc đẩy lĩnh vực này phát triển Những nghiên cứu có thể được kể đến như sau:
Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Trần Vũ Hải (2014) về “Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam, Những vấn đề lý luận và thực tiễn” nghiên cứu về thực trạng quy định về doanh nghiệp bảo hiểm và một số vấn đề của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Luận văn Thạc sỹ Luật học của tác giả Trịnh Thị Bích Thủy (2014) về “Bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam” phân tích và làm rõ những vấn đề về bảo hiểm nhân thọ so với các loại hình bảo hiểm khác, một số nội dung cơ bản của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ,…
Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Lê Phương Thảo (2012) về “Giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và vấn đề vô hiệu của hợp đồng” tập trung nghiên cứu
3 giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và giải quyết các tranh chấp phát sinh khi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vô hiệu
Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã đi sâu vào làm sáng tỏ, phân tích và đánh giá nhiều mặt của kinh doanh bảo hiểm nhân thọ về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, những vấn đề về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vẫn còn hạn chế, mặt khác đối tượng nghiên cứu của các công trình này là những văn bản pháp lý đã hết hiệu lực thi hành nên một số nội dung không còn phù hợp khi hiện nay đã có những văn bản mới điều chỉnh kinh doanh bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nói riêng được ban hành
Vì vậy, cần có một nghiên cứu toàn diện những nội dung của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có đối tượng nghiên cứu là những văn bản cập nhật, có giá trị pháp lý cho tới hiện tại (2024) đồng thời gắn liền với thực tiễn thi hành để có thể có cái nhìn tổng quát, đầy đủ nhất về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam hiện nay.
Mục đích và phương pháp nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thông qua phân tích, làm rõ nội dung pháp luật trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn thi hành, đưa ra những đánh giá về những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại Kết quả cuối cùng là đưa ra những định hướng, giải pháp hiệu quả và phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hợp đồng BHNT, từ đó thúc đẩy quá trình phát triển của lĩnh vực BHNT ở Việt Nam
Từ mục đích như trên, nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận như sau:
Một là, đánh giá những quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hiện hành, từ đó xây dựng các nội dung lý luận về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ như: khái niệm, đặc điểm, phân loại bảo hiểm nhân thọ
Hai là, đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của quy định hiện hành về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và sự áp dụng trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
Ba là, xây dựng các giải pháp hoàn thiện pháp luật hiện hành về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, các giải pháp phải mang tính khả thi và có cơ sở khoa học.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận được sử dụng là Phương pháp luận Mác-Lênin Dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng duy vật, khóa luận đi sâu vào xem xét, nhận định và phân tích vấn đề nghiên cứu
Bên cạnh đó, những quan điểm, giải pháp trong chiến lược phát triển kinh tế cùng với những quan điểm, giải pháp trong chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm giai đoạn 2021–2030 của Đảng và Nhà nước đề ra cũng được sử dụng để tiếp cận vấn đề nghiên cứu
2.1.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra và đảm bảo tính khoa học, phù hợp, khóa luận đã sử dụng linh hoạt và kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:
Phương pháp phân tích: Được sử dụng khi làm rõ các quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phân tích các vấn đề xảy ra trong thực tiễn trên cơ sở thực thi pháp luật thông qua những đánh giá và bình luận, tập trung sử dụng tại chương 2
Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng nhằm đi đến những kết luận khái quát thu được sau quá trình phân tích, đồng thời đưa ra những quan điểm, nhận xét mang tính cá nhân làm cơ sở đề xuất định hướng và giải pháp cho vấn đề, chủ yếu sử dụng tại chương 1, 2
Phương pháp phân tích logic quy phạm: Sử dụng khi đưa ra và phân tích những hạn chế, bất cập tồn đọng trong quy định của pháp luật hiện hành, sử dụng chủ yếu tại chương 2
Phương pháp thống kê: Được sử dụng để thống kê các số liệu từ các công bố của các cơ quan, tổ chức về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ để có được nhận xét chính xác về thực tiễn áp dụng của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Tính thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Thứ nhất, khóa luận sẽ góp phần nghiên cứu chuyên sâu về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hiện nay
Thứ hai, đóng góp những căn cứ, ý kiến nhằm mục đích hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam.
Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận còn có phần nội dung được cơ cấu thành ba chương, cụ thể như sau:
CHƯƠNG 1: Lý luận về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
CHƯƠNG 2: Thực trạng và thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam hiện nay
CHƯƠNG 3: Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam
7
Những vấn đề khái quát về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Trước tiên, từ thực tiễn, có thể khẳng định, BHNT ra đời do nhu cầu khách quan của cuộc sống xã hội con người, đó là những nhu cầu được bảo vệ, được giúp đỡ và được chia sẻ mỗi khi xảy ra rủi ro, tổn thất Nếu như vào thời kỳ sơ khai, nhu cầu được quan tâm là nhu cầu ăn, uống, ở, mặc hàng ngày; thì ngày nay, khi những nhu cầu đó được đáp ứng đầy đủ sẽ có những nhu cầu khác xa hơn, cao hơn trong đó có nhu cầu chăm lo cho tương lai BHNT chính là giải pháp xuất hiện nhằm giải quyết nhu cầu này BHNT ra đời và phát triển sớm nhất ở Anh và Mỹ, từ đó đã tạo tiền đề thúc đẩy quá trình thâm nhập và phát triển của bảo hiểm nhân thọ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Ở Anh:
Cuối thế kỷ XVI, giao thương hàng hải mang lại những khoản lợi khổng lồ cho thương gia Châu Âu, tuy nhiên đi liền với đó là những rủi ro lớn từ thiên tai, cướp biển, Chính vì vậy, BH cho con tàu và hàng hóa ra đời Khi đó, William Gybbon – một thuyền trưởng tại Anh đã suy nghĩ nếu các rủi ro có thể xảy ra với hàng hóa thì chính bản thân con người cũng có thể đối mặt với những rủi ro đó, cho nên vị thuyền trưởng này đã yêu cầu công ty bảo hiểm bán thêm HĐBH cho sinh mạng của mình
Từ đó, BHNT ra đời (BAO HIEM 24H, 2021) Hình thức BHNT ra đời đầu tiên tại Luân Đôn, Anh vào năm 1583, tuy nhiên, chưa có điều kiện để phát triển, đồng thời chưa nhận được sự ủng hộ của đông đảo người dân Vào năm 1706, Hiệp hội Hòa hữu văn phòng bảo hiểm vĩnh viễn được thành lập – công ty đầu tiên cung cấp BHNT trong thời hiện đại Năm 1762, Equitable được thành lập, đây là công ty đầu tiên thực hiện bán các hợp đồng BHNT rộng rãi cho người dân Do có chiều dài lịch sử hình thành và phát triển lâu đời cho đến ngày nay, Anh vẫn đang là một thị trường BHNT lớn nhất thế giới với các công ty xuyên quốc gia, điển hình như Prudential,… với bề dày hoạt động 176 năm trên thế giới cùng với hơn 20 năm thành lập và hoạt động tại Việt Nam
Từ sự ra đời và phát triển của BHNT tại Anh, năm 1759, công ty BHNT đầu tiên ra đời tại Hoa Kỳ Ngày 22-5-1761, công ty này đã kí kết HĐBHNT đầu tiên với công chúng Mỹ Tuy nhiên, phải đến 80 năm sau, dịch vụ BHNT mới thực sự phát triển Hiện nay, lĩnh vực bảo hiểm ở Mỹ được đánh giá là phát triển nhất trên thế giới Đến năm 1868, Công ty BHNT đầu tiên ở châu Á xuất hiện với tên gọi Meiji tại Nhật Bản
Kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, vào những năm 1970, BHNT bước vào thời kỳ bùng nổ mạnh mẽ đầu tiên
Trước giai đoạn 1993, BHNT ở Việt Nam chưa thực sự phát triển, do chiến tranh kéo dài, thời kỳ đổi mới đất nước đòi hỏi một quá trình lâu dài và phù hợp Vì thế, mãi đến năm 1993, khi Nghị định 100 CP ngày 18-12-1993 ra đời, đánh dấu sự thay đổi và phát triển mạnh mẽ của thị trường BH Việt Nam, tuy nhiên chưa có đầy đủ các quy định chặt chẽ đối với lĩnh vực này Chính vì thế, Luật kinh doanh bảo hiểm năm
2000 ra đời, với mục đích “bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia bảo hiểm” Luật đã có các quy định về đối tượng, STBH, quyền và nghĩa vụ các bên tham gia,… đây là những căn cứ để ký kết và thực hiện HĐBHNT
Vậy, có thể hiểu rằng: “HĐBHNT là sự thỏa thuận giữa các DNBHNT và BMBH về đối tượng bảo hiểm, thời hạn, phí BH, số tiền bảo hiểm,… Theo đó, bên mua bảo hiểm đóng một khoản phí bảo hiểm định kỳ, khi có rủi ro xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền cho bên mua hoặc một đối tượng khác do bên mua chỉ định”
(PGS.TS Nguyễn Văn Định and TS Nguyễn Thị Hải Đường, 2020)
Hợp đồng BHNT có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng đối với lĩnh vực kinh doanh BHNT hiện nay, cụ thể:
Thứ nhất, đây là một văn bản pháp lý nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia bảo hiểm;
Thứ hai, HĐBHNT xây dựng một hành lang pháp lý cho các đối tượng tham gia, các bên có quyền tự do tìm hiểu, giao kết nhưng phải nằm trong khuôn khổ các quy định của pháp luật;
Thứ ba, HĐBHNT là cơ sở mang tính chất là chứng cứ pháp luật nhằm giải quyết các vấn đề khi có tranh chấp xảy ra;
Thứ tư, HĐBHNT đảm bảo cho việc “thanh tra, kiểm tra, giám sát” của Nhà nước đối với các doanh nghiệp BHNT và quy trình kinh doanh BHNT
Từ đó, nhận thấy rằng, hợp đồng BHNT là văn bản cần thiết, mang tính quyết định đối với những phát sinh trong lĩnh vực BHNT tại các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Lý luận pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
1.2.1 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
1.2.1.1 Định nghĩa hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Theo Khoản 13 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022: “Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm cho người được bảo hiểm trong trường hợp sống hoặc chết”
Cũng theo Khoản 16 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022: “HĐBHNT là sự thỏa thuận giữa BMBH và DNBH, chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hổ cung cấp bảo hiểm vi mô, theo đó BMBH phải đóng phí bảo hiểm, DNBH, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô phải bồi thường, trả tiền BH theo thỏa thuận trong HĐ”
Từ đó, hợp đồng BHNT có thể được hiểu như sau: “Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là sự thỏa thuận giữa hai bên, theo đó bên bảo hiểm có nghĩa vụ chi trả tiền bảo hiểm bên tham gia bảo hiểm khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra, còn bên được bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm như đã thỏa thuận theo quy định của pháp luật”
Như vậy, theo định nghĩa trên thì:
“Bên bảo hiểm” bao gồm các DNBHNT Ngay sau khi ký kết HĐBHNT và chấp thuận bảo hiểm theo những quy định trong HĐ, nghĩa vụ chủ yếu của các DN này là trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi có SKBH xảy ra theo như những điều khoản trong HĐBHNT
“Bên tham gia bảo hiểm” bao gồm những chủ thể sau đây:
(i) Người được bảo hiểm: là người mà tính mạng, cuộc sống và sức khỏe của họ được bảo hiểm theo các điều khoản của HĐ NĐBH có thể là những người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có thể tự ký hợp đồng cho chính mình hoặc cũng có thể là những người chưa đủ tuổi thành niên, được người đại diện hoặc người được người đại diện cho phép đứng ra ký HĐBH
(ii) Bên mua bảo hiểm: là người đứng ra yêu cầu bảo hiểm, thỏa thuận và ký hợp đồng BMBH phải đảm bảo các quy định của pháp luật về năng lực pháp lý Trong các HĐBH cá nhân, NĐBH và người tham gia bảo hiểm có thể là hai người khác nhau, khi NĐBH chưa đến tuổi thành niên, khi đó, bố mẹ, ông bà hoặc người đỡ đầu đứng ra viết giấy yêu cầu BH, ký kết HĐ Hoặc đối với các HĐBH trong trường hợp BH nhóm, NĐBH và người tham gia bảo hiểm cũng là hai người khác nhau, khi đó người tham gia bảo hiểm có quyền yêu cầu hủy bỏ HĐBH đó (PGS.TS Nguyễn Văn Định and TS Nguyễn Thị Hải Đường, 2020)
(iii) Người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm: là người được nhận STBH hoặc các khoản trợ cấp do DNBH thanh toán như đã nêu rõ trong HĐBH NTH quyền lợi bảo hiểm do BMBH chỉ định (Trần Vũ Hải, 2014) Nếu không có chỉ định hoặc chỉ định không rõ ràng, thì NTH sẽ được xác định theo quy định của BLDS 2015, sửa đổi và bổ sung 2017 về “quyền thừa kế” Vì vậy, việc xác định rõ NTH quyền lợi BH là vấn đề hết sức quan trọng giúp tránh được những tranh chấp, khiếu nại có thể phát sinh Trong nhiều trường hợp, có thể có nhiều hơn một NTH, khi NTH quyền lợi bảo hiểm đầu tiên tử vong trước NĐBH thì NTH quyền lợi bảo hiểm tiếp theo sẽ nhận được quyền lợi bảo hiểm khi SKBH xảy ra
Vì đối tượng được BH trong BHNT liên quan đến tuổi thọ của con người, nên đối tượng được bảo hiểm là sự sống hoặc cái chết hoặc cả sự sống và cái chết (bảo hiểm hỗn hợp) của con người
Mặt khác, vì HĐBHNT là một văn bản bao gồm các “điều khoản mẫu”, nên khi BMBH đồng ý giao kết hợp đồng nghĩa với việc BMBH đã đồng ý hoàn toàn với những quy định trong HĐBH, đồng thời, đối tượng của HĐBHNT là sự sống và cái chết của con người, đây là đối tượng không thể xác định được giá trị nên cần phải xác
11 định rõ ràng và cụ thể trong HĐ Vì vậy, trong quá trình thực hiện HĐBH, BMBH phải tuân theo và không được hủy bỏ hoặc thay đổi một trong số các điều khoản trong HĐBHNT
1.2.1.2 Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Thứ nhất, hợp đồng BHNT có đối tượng là tuổi thọ của con người Đây là đặc điểm quan trọng và mang ý nghĩa chi phối đến các đặc điểm khác của hợp đồng BHNT Căn cứ vào độ tuổi của NĐBH, DNBH sẽ xác định xem người đó thuộc nhóm tuổi được bảo hiểm của NĐBH hay không Đồng thời, tính toán mốc phí bảo hiểm tương ứng Khác với các loại hợp đồng bảo hiểm khác, đối tượng của hợp đồng BHNT là đối tượng đặc biệt, mang tính phức tạp và không thể xác định được giá trị, nên nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng của các bên tham gia, HĐBHNT được quy định rất đầy đủ, chi tiết và rõ ràng (Trần Vũ Hải, 2014)
Thứ hai, trong hợp đồng BHNT, SKBH không hoàn toàn gắn liền với rủi ro được bảo hiểm (Trần Vũ Hải, 2014) Một số rủi ro trong BHNT có thể xảy ra như sau: rủi ro bệnh hiểm nghèo, rủi ro từ thiên tai, rủi ro từ tai nạn dẫn đến tử vong,… Tuy nhiên, đối với loại hình BHNT có đối tượng BH là sự sống của con người, khi rủi ro xảy ra, NĐBH sẽ không được DNBH chi trả STBH như trong HĐ Ví dụ: BMBH đồng thời cũng là NĐBH tham gia bảo hiểm cho sự sống của mình trong một thời gian nhất định, tuy nhiên khi rủi ro về tai nạn xảy ra khiến cho NĐBH tử vong trong thời hạn đó, DNBH sẽ không phải chi trả bất kì quyền lợi bảo hiểm nào theo HĐBH Vì vậy, đối với loại HĐBH cho sự sống của NĐBH, rủi ro bảo hiểm sẽ không làm xuất hiện SKBH theo đúng hợp đồng
Thứ ba, hợp đồng BHNT là một loại HĐ mang tính chất dài hạn Một số loại
HĐBH như HĐBH tài sản, HĐBH trách nhiệm dân sự có thời hạn do các bên tự thỏa thuận trong HĐ, có thể kể đến như ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn Tuy nhiên, thời hạn ngắn nhất của các loại HĐBHNT hiện nay là 5 năm Đặc điểm dài hạn của HĐBHNT nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các DNBH trong các hoạt động đầu tư sinh lợi nhằm đáp ứng nhu cầu tiết kiệm của BMBH (Trần Linh Quân,
Thứ tư, đối với BMBH, hợp đồng BHNT có tính chất như một khoản tiết kiệm
Tính chất này được thể hiện ở việc tham gia BHNT cũng như việc gửi tiết kiệm, bên mua bảo hiểm sẽ đóng một khoản phí BH như đã thỏa thuận, theo đó khi có SKBH xảy ra, NTH sẽ nhận về một khoản tiền BH lớn hơn nhiều so với khoản phí đã đóng vào Mặt khác, tính tiết kiệm của hợp đồng BHNT còn thể hiện thông qua sự tiết kiệm bắt buộc từng kỳ theo như quy định trong hợp đồng, theo đó, trong từng kỳ theo thỏa thuận trong HĐBH (định kỳ hàng tháng, định kỳ hàng quý, định kỳ hàng nửa năm, định kỳ hàng năm,…), BMBH phải đóng một khoản phí BH như đã thỏa thuận trong
HĐ cho đến khi HĐ chấm dứt và nhận về một khoản tiền bao gồm phí bảo hiểm và tiền lãi sau khi đã trừ đi các chi phí theo quy định của DNBH và theo thỏa thuận trong HĐBH Thông thường, sau khi DNBH khấu trừ các khoản chi phí được cho là hợp lý theo thỏa thuận trong HĐBH, BMBH có thể nhận được lãi sau khoảng thời gian ít nhất 4 năm đầu tiên của hợp đồng tùy thuộc vào tỷ lệ phí khấu trừ cùng với kết quả đầu tư của mỗi DNBH Trong thời gian này, nếu SKBH xảy ra, DNBH có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm theo đúng thỏa thuận trong HĐ Cũng trong thời gian này, nếu BMBH yêu cầu chấm dứt HĐBH trước hạn, thì DNBH sẽ chi trả toàn bộ giá trị tài khoản hợp đồng trừ đi các khoản phí ban đầu, đồng thời BMBH phải chịu một khoản phí chấm dứt HĐ trước hạn theo quy định của mỗi DNBH đã được thỏa thuận trong
Thứ năm, nội dung của hợp đồng BHNT bảo gồm các “điều khoản mẫu” Theo
Khoản 1 Điều 87 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 thì DNBH tự chịu trách nhiệm trong xây dựng, thiết kế, phát triển sản phẩm bảo hiểm, bao gồm cả xây dựng quy tắc, điều khoản bảo hiểm Vì vậy, đây là những điều khoản mẫu đã được DNBH soạn thảo sẵn và được Bộ Tài chính thông qua, theo đó BMBH chấp nhận giao kết HĐ thì được xem như chấp nhận toàn bộ nội dung của HĐ này (Trần Linh Quân, 2022)
21
Thực trạng pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam hiện nay
2.1.1 Thực trạng quy định về các chủ thể tham gia trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Chủ thể tham gia trong HĐBHNT bao gồm: DNBH, BMBH và các bên có liên quan đến HĐBH, đây là các chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan đến HĐBHNT Theo đó:
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, “lĩnh vực kinh doanh BHNT chỉ được thực hiện thông qua thành lập DNBH tại Việt Nam, pháp luật không chấp nhận việc thành lập chi nhánh của DNBH nước ngoài để kinh doanh BHNT” (Quốc Hội, 2022) Theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm 2022, Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01 tháng 07 năm 2023 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều luật của Luật Kinh doanh bảo hiểm thì DNBH kinh doanh lĩnh vực BHNT phải đáp ứng những điều kiện của pháp luật và được Bộ Tài chính cấp phép (Bộ tài chính, 2023) DNBH hoạt động dưới 2 hình thức là công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn, đáp ứng yêu cầu về vốn pháp định, cơ cấu quản lý, nhằm đảm bảo sự hoạt động ổn định, lâu dài của các DNBH trong tương lai
BMBH cũng là đối tượng được pháp luật điều chỉnh trong HĐBHNT với những yêu cầu nhất định Theo quy định tại khoản 24 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022: “BMBH là tổ chức, cá nhân giao kết HĐBH với DNBH, chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô và đóng phí BH”
(Quốc Hội, 2022) Đối với HĐBHNT, BMBH có thể là cá nhân nhưng cũng có thể là tổ chức thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật, cụ thể như sau:
Bên mua bảo hiểm phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Đây là điều kiện đảm bảo rằng BMBH có thể kiểm soát được hành vi khi giao kết và thực hiện HĐ Theo quy định của Bộ Luật Dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì BMBH phải từ đủ 18 tuổi, không mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, cụ thể được quy định tại khoản 1 Điều 9 Thông tư 67/2023/TT- BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 02 tháng 11 năm 2023 Hướng dẫn một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm
2023 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều luật của Luật Kinh doanh bảo hiểm thì BMBH là tổ chức thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam hoặc là cá nhân từ đủ 18 tuổi có năng lực hành vi dân sự đầy đủ tại thời điểm giao kết và đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật (Bộ tài chính, 2023)
Bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 34 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022, BMBH phải có quyền lợi có thể được BH đối với NĐBH, cụ thể BMBH có thể tham gia bảo hiểm cho các đối tượng sau: vợ, chồng, cha, mẹ, con của BMBH; anh ruột, chị ruột, em ruột hoặc người khác có quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng với BMBH; người có quyền lợi về tài chính hoặc quan hệ lao động với BMBH hoặc BMBH cũng có thể tham gia BH cho chính bản thân mình (Quốc Hội, 2022)
Trường hợp, BMBH tham gia cho anh, chị, em ruột hoặc người khác có quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng với BMBH thì BMBH cần được người được bảo hiểm chấp thuận bằng văn bản (trường hợp NĐBH trên 18 tuổi) hoặc được người giám hộ hợp pháp của NĐBH chấp thuận bằng văn bản (trường hợp NĐBH chưa đủ 18 tuổi)
Bên mua bảo hiểm phải được chấp thuận của người được bảo hiểm trong trường hợp bảo hiểm chết Đối với BH có các quyền lợi liên quan đến cái chết của NĐBH, nếu BMBH không đồng thời là NĐBH thì HĐBHNT chỉ được giao kết khi có sự đồng ý của NĐBH hoặc đồng ý của người giám hộ NĐBH Điều này được quy đinh tại Điều 39 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022: “Khi BMBH giao kết HĐBHNT, hợp đồng bảo
23 hiểm sức khỏe cho trường hợp chết của người khác thì phải được người đó đồng ý bằng văn bản, trong đó ghi rõ STBH và NTH” Quy định này nhằm tránh các trường hợp trục lợi bất chính Mặt khác, sự chấp thuận của NĐBH chính là sự thể hiện ý chí của người đó, do đó, không được giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cho trường hợp chết của người có khó khăn trong nhận thức, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự (Trần Vũ Hải, 2014)
Các bên có liên quan đến HĐBHNT bao gồm NĐBH và NTH, cụ thể:
Theo quy định tại Khoản 24 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022, thì:
“NĐBH là các tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, sức khỏe, tính mạng, nghĩa vụ hoặc lợi ích kinh tế được bảo hiểm theo HĐ”[18] Cũng theo Khoản 2 Điều
9 Thông tư 67/2023: “NĐBH của HĐBHNT, hợp đồng bảo hiểm sức khỏe là người có tính mạng, sức khỏe, tuổi thọ được bảo hiểm theo HĐBH” (Bộ tài chính, 2023)
Từ đó, NĐBH trong HĐBHNT là các cá nhân có quyền lợi được bảo hiểm về sức khỏe, tính mạng Mặt khác, NĐBH có thể đồng thời là BMBH Nếu NĐBH không phải là BMBH thì BMBH phải có “quyền lợi có thể được bảo hiểm” đối với NĐBH
Trong một HĐBHNT, NĐBH có thể có nhiều hơn một người, BMBH có thể là NĐBH chính, hoặc cũng có thể là NĐBH bổ sung Trường hợp NĐBH là người chưa thành niên, BMBH cần có sự đồng ý và lập thành văn bản của người giám hộ NĐBH đó
Tại Khoản 26 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022: “NTH là tổ chức, cá nhân được BMBH hoặc NĐBH chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong HĐBH” (Quốc Hội, 2022)
Theo quy định tại Điều 41 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022, BMBH có quyền chỉ định người thụ hưởng và tỷ lệ thụ hưởng trong trường hợp bảo hiểm cá nhân, đồng thời cần có văn bản chấp thuận của NĐBH hoặc người đại diện theo pháp luật của NĐBH trường hợp NĐBH chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi
45
Định hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam
3.1.1 Hiện thực hóa Chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển thị trường bảo hiểm
Những chủ trương, định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam có ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật ở các quốc gia, trong đó có Việt Nam Chủ trương và định hướng của Đảng cầm quyền về phát triển thị trường BH được thể hiện trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 – 2030” về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh CNH-HĐH phát triển nhanh và bền vững
Trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương tiếp tục phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối, các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật, là bộ phận hợp thành của nên kinh tế, bình đẳng trước pháp luật và cùng phát triển, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Các yếu tố thị trường được tạo lập đồng bộ, các loại thị trường từng bước được xây dựng, phát triển, vừa tuân theo quy luật của nền kinh tế thị trường, vừa đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa
“Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2021 – 2030” đã cụ thể hóa Cương lĩnh như sau: Phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phải đổi mới tư duy và hành động, chủ động nắm bắt kịp thời các cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư gắn với quá trình hội nhập quốc tế; nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa , đồng bộ, hiện đại và thực thi pháp luật hiệu lực, hiệu quả là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy phát triển đất nước
3.1.2 Thực hiện Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn
“Chiến lược phát triển thị trường BH Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030” đã được
Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 07/QĐ-TTg ngày 05 tháng 01 năm
2023 với mục tiêu tổng quát: “hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách về kinh doanh
BH đầy đủ, minh bạch, bình đẳng và đồng bộ, tiếp cận các chuẩn mực, thông lệ quốc tế về kinh doanh BH, tạo thuận lợi cho sự phát triển toàn diện thị trường BH; đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thuận tiện nhất trong việc tham gia BH, khuyến khích các DNBH ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh BH, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các tổ chức, cá nhân”
Bên cạnh mục tiêu tổng quát như trên, “Chiến lược phát triển thị trường BH giai đoạn 2021 – 2030” đã nêu ra các mục tiêu cụ thể về tăng trưởng bình quân doanh thu ngành BH; đến năm 2025 có 15% dân số tham gia BHNT, đến năm 2030 có 18% dân số tham gia BHNT; phí BH bình quân một người đạt 3 triệu đồng năm 2025 và 5 triệu đồng năm 2030
“Chiến lược phát triển thị trường kinh doanh BH 2021 – 2030” đã đề ra một số định hướng giải pháp thực thiện các mục tiêu như sau:
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh doanh BH;
Thứ hai, tăng cường năng lực tài chính, quản lý rủi ro, quản trị doanh nghiệp, chất lượng dịch vụ khách hàng và công khai minh bạch của DNBH;
Thứ ba, phát triển và đa dạng hóa sản phẩm BH;
Thứ tư, đa dạng và chuyên nghiệp hóa kênh phân phối BH;
Thứ năm, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực;
Thứ sáu, đẩy mạnh tuyên truyền về BH;
Thứ bảy, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh
BH, quản lý nhà nước hoạt động kinh doanh BH;
Thứ tám, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử phạt hành chính trong lĩnh vực BH;
Thứ chín, tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh BH;
Cuối cùng, đẩy mạnh hợp tác quốc tế và hội nhập trong lĩnh vực BH
3.1.3 Đáp ứng những đòi hỏi của nền kinh tế giai đoạn hiện nay và yêu cầu hội nhập quốc tế Đề án “Cơ cấu lại thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm đến năm
2020 và định hướng đến năm 2025” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 28 tháng 02 năm 2019 với mục tiêu đối với thị trường bảo hiểm là “phát triển toàn diện thị trường BH an toàn, bền vững, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu bảo hiểm đa dạng của các tổ chức, cá nhân, đảm bảo an sinh xã hội; DNBH có khả năng tài chính vững mạnh, năng lực quản trị điều hành đạt chuẩn mực quốc tế, có khả năng cạnh tranh trong nước và khu vực” (Thủ tướng Chính phủ, 2019) Để thực hiện được mục tiêu như trên cần phải quán triệt các giải pháp theo các nguyên tắc sau đây:
- Quán triệt và thực hiện đúng quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ và các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về lĩnh vực bảo hiểm (Thủ tướng Chính phủ, 2019);
- Cơ cấu lại thị trường BH theo hướng coi trọng phát triển cả về quy mô và chất lượng, tạo sự liên thông giữa thị trường bảo hiểm và thị trường tiền tệ - tín dụng để phát triển phù hợp với thông lệ quốc tế, chú trọng đổi mới, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến và tận dụng có hiệu quả cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư (Thủ tướng Chính phủ, 2019);
- Nâng cao năng lực quản lý rủi ro, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, xử lý nghiêm hành vi vi phạm pháp luật trên thị trường BH, đảm bảo quyền lợi cho khách hàng và sự an toàn của hệ thống (Thủ tướng Chính phủ, 2019);
- Công khai, minh bạch, tự chịu trách nhiệm theo nguyên tắc thị trường (Thủ tướng Chính phủ, 2019)
Từ đó xây dựng các giải pháp cơ cấu lại thị trường bảo hiểm như sau:
Thứ nhất, hoàn thiện cơ sở pháp lý;
Thứ hai, nâng cao tính minh bạch thông tin;
Thứ ba, phát triển và chuyên nghiệp hóa các kênh phân phối BH;
Thứ tư, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử phạt hành chính;
Thứ năm, thiết lập hệ thống công nghệ thông tin, hạ tầng kỹ thuật, xây dựng cơ sở dữ liệu cho thị trường BH;
Thứ sáu, khuyến khích phát triển đa dạng sản phẩm mới;
Cuối cùng, đa dạng hóa phương thức và phát triển các sản phẩm phù hợp với xu thế kinh doanh gắn liền với công nghệ 4.0, vừa đáp ứng nhu cầu khách hàng, vừa đảm bảo đơn giản thẩm định và chi trả quyền lợi cho đối tượng khách hàng sử dụng (Thủ tướng Chính phủ, 2019)
3.1.4 Khắc phục những hạn chế và bất cập của pháp luật hiện hành về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Từ việc nghiên cứu những vướng mắc khi thực hiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tại các DNBH ở Việt Nam, nhận thấy răng một số quy định của pháp luật còn chưa đầy đủ, thiếu sót dẫn đến lúng túng của DNBH, BMBH khi gặp phải một số trường hợp nhất định Chính vì vậy, pháp luật Việt Nam cần có những thay đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình thực tế của thị trường BHNT theo những định hướng như sau:
- Nghiên cứu và tổng kết thực tiễn áp dụng Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành kèm theo tại Việt Nam, từ đó tiếp tục cho thi hành thường xuyên và đầy đủ những quy định phù hợp với thực tiễn đồng thời quy định bổ sung hoặc sửa đổi những quy định còn chưa phù hợp, cần hoàn thiện của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 tại Việt Nam
- Tăng cường sự kiểm soát giao dịch BHNT bằng pháp luật theo hướng bảo vệ lợi ích chính đáng của BMBH, NĐBH, NTH, mặt khác kiên quyết đấu
49 tranh chống “trục lợi bảo hiểm”, phát triển thị trường BH lành mạnh, bền vững tại Việt Nam
Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung các nội dung liên quan đến HĐBHNT là thiết thực, đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng sản phẩm BHNT và hiệu quả pháp luật, đảm bảo pháp chế.
Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
3.2.1 Đối với cơ quan quản lý
Thứ nhất, hoàn thiện quy định của pháp luật về “người tham gia bảo hiểm”, quyền và nghĩa vụ của NĐBH và NTH
Thứ hai, nghiên cứu xây dựng hợp đồng mẫu theo hướng ngắn gọn hơn giúp những chủ thể tham gia bảo hiểm có thể dễ dàng nắm bắt
Thứ ba, tăng cường thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại các DNBH, ĐLBH và hoạt động của tư vấn viên bảo hiểm nhân thọ
Thứ tư, xây dựng và triển khai các chương trình truyền thông phù hợp với tình hình thực tiễn để góp phần nâng cao kiến thức cho người dân về BHNT cũng như trách nhiệm về việc đọc kỹ, hiểu rõ các nội dụng của HĐBHNT
3.2.2 Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
Thứ nhất, thường xuyên đào tạo, tập huấn về quyền lợi, đặc biệt là các điều khoản hợp đồng bảo hiểm để khi tư vấn giúp người tham gia dễ hình dung, nắm bắt nội dung hợp đồng
Thứ hai, thường xuyên yêu cầu tư vấn/đại lý bảo hiểm phải nắm vững và tư vấn đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ, cũng như các yếu tố loại trừ bảo hiểm cho khách hàng nắm rõ trước khi ký hợp đồng bảo hiểm
Thứ ba, rà soát, nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ, quy định nội bộ, chính sách về quản trị rủi ro, đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật
Thứ tư, thường xuyên kiểm tra, giám sát các ĐLBH là các NHTM trong vấn đề cung cấp bảo hiểm nhân thọ cho khách hàng và quy trình đảm bảo quy định của pháp luật theo Thông tư 37/2023/TT-BTC
3.2.3 Đối với mỗi khách hàng tham gia bảo hiểm nhân thọ
Thứ nhất, cần nhận thức đầy đủ và rõ ràng về hợp đồng bảo hiểm Theo đó, hợp đồng bảo hiểm là một hợp đồng có giá trị kinh tế, thậm chí còn là tài sản của chính khách hàng, vì vậy việc đọc và hiểu "đồng tiền của mình có được tiêu dùng hợp lý hay không" cũng là trách nhiệm của người chủ hợp đồng
Thứ hai, cần đọc kỹ hợp đồng bảo hiểm, tìm hiểu quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia hợp đồng bảo hiểm, các trường hợp được chi trả, bồi thường và các điều khoản loại trừ nhằm đảm bảo quyền lợi của mình.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam
3.3.1 Quy định về người tham gia bảo hiểm
Thứ nhất, bổ sung vào Luật Kinh doanh bảo hiểm khái niệm “người tham gia BH” vì hiện nay Luật Kinh doanh bảo hiểm không có định nghĩa về “người tham gia BH” nhưng lại sử dụng khá phổ biến, ví dụ tại Điều 3, 5 của Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 Về mặt lý luận cũng như trên thực tế, “người tham gia BH” có thể là một, hai hoặc ba chủ thể khác nhau, nhưng có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến nhau
Vì vậy, khái niệm “người tham gia bảo hiểm” có thể được giải thích như sau: “Người tham gia BH là tổ chức, cá nhân mua NĐBH hoặc được chỉ định là NTH theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm”
Thứ hai, cần bổ sung quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của NĐBH và NTH trong Luật Kinh doanh bảo hiểm đối với BHNT vì hiện nay chưa được ghi nhận Những nội dung có thể bổ sung là:
- Quy định rõ về quyền cơ bản nghĩa vụ của NĐBH bảo gồm: “một là, quyền được từ chối là NĐBH trong một khoảng thời gian nhất định kể từ khi HĐBHNT được giao kết (nếu NĐBH không đồng thời là BMBH); hai là, quyền đồng ý hoặc không đồng ý sự chỉ định NTH của BMBH; ba là, quyền được ưu tiên nhận tiền BH so với BMBH hoặc NTH; bốn là, quyền được
51 yêu cầu kết quả thẩm định y khoa theo yêu cầu của DNBH; năm là, được tự mình khia báo thông tin trung thực theo yêu cầu BMBH, trừ trường hợp dưới 18 tuổi thì sẽ do người gián hộ thực hiện; sáu là, thực hiện các xét nghiệm y khoa theo yêu cầu của DNBH; bảy là, chấp hành sự hướng dẫn của bác sỹ chuyên khoa khi có yêu cầu khám thẩm định.”
- Quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của NTH: “một là, quyền được thông báo về việc mình là NTH của một HĐBHNT; hai là, quyền từ chối trở thành
NTH của HĐBHNT; ba là, nghĩa vụ thông báo về SKBH và nghĩa vụ hợp tác với DNBH trong việc xác minh SKBH; bốn là, quyền được giải thích về HĐBH mà bản thân là người thụ hưởng.”
Thứ ba, pháp luật Việt Nam cần có quy định NTH cần có “quyền lợi có thể được BH” với NĐBH Theo luật pháp của một số quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, thì
NTH có “quyền lợi được BH” với NĐBH khi giao kết HĐBHNT Chính vì thế, Luật Kinh doanh bảo hiểm cần có quy định về người thụ hưởng như sau: “NTH quyền lợi bảo hiểm do BMBH chỉ định phải có sự đồng ý của NĐBH hoặc người giám hộ của NĐBH trường hợp NĐBH chưa thành niên” Đây sẽ là quy định nhằm đảm bảo quyền lợi cho NĐBH, đồng thời tránh trục lợi BH Đồng thời, các DNBH cũng cần có các quy định về NĐBH và NTH như sau:
Một là, soạn thảo HĐBHNT với những quy định rõ ràng về NĐBH, NTH về quyền lợi và nghĩa vụ của hai đối tượng này đối với HĐBHNT;
Hai là, trong quá trình triển khai tư vấn và ký kết HĐBHNT, cần có mặt của
BMBH, NĐBH và người thụ hưởng để cùng tư vấn và giải thích rõ vai trò của các đối tượng trong hợp đồng;
Ba là, phải có xác nhận đồng ý là NĐBH hoặc người thụ hưởng bằng văn bản;
Bốn là, cần có đủ hợp đồng cho BMBH, người thụ hưởng, NĐBH hoặc xây dựng ứng dụng điện tử để NĐBH, người thụ hưởng có thể tra cứu thông tin cũng như nhận biết về tiến hộ và tình trạng của HĐBHNT có liên quan đến bản thân; đảm bảo NĐBH, người thụ hưởng hiểu đúng, đủ quyền lợi cùng với nghĩa vụ của mình đối với HĐBHNT
3.3.2 Quy định về các thuật ngữ bảo hiểm
Sự thiếu thống nhất khi sử dụng các thuật ngữ của đã gây ra nhiều bất cập, khó khăn trong việc nắm bắt thông tin của khách hàng Vì vậy pháp luật cần có những quy định chung về các thuật ngữ BH nhằm tạo cách hiểu thống nhất đối với thuật ngữ này, một số thuật ngữ cần bổ sung như sau:
Thuật ngữ về chi phí hợp lý: việc xác định chi phí hợp lý là quyền của DNBH trên cơ sở quy luật thị trường, những phải đảm bảo chi phí này có liên quan trực tiếp đến HĐBH Vì vậy, để đảm bảo tính công khai, minh bạch và bảo vệ quyền lợi của các đối tượng tham gia trong HĐBHNT, DNBH cần đưa ra các căn cứ xác định chi phí này theo từng năm HĐ, tránh tình trạng tranh chấp khi có vấn đề liên quan đến chi trả quyền lợi “Chi phí hợp lý” có thể được quy định như sau: “Chi phí hợp lý là những chi phí trực tiếp liên quan đến khai thác và duy trì HĐBH, bao gồm chi phí in ấn HĐ, chi phí khám nghiệm y khoa và các chi phí khác theo thỏa thuận”
Thuật ngữ cần thiết về mặt y khoa: đây là các thuật ngữ thường được các DNBH sử dụng khi có phát sinh SKBH liên quan đến sức khỏe cần được thăm khám tại các cơ sở y tế Thuật ngữ này đang được các công ty sử dụng một cách phổ biến, tuy nhiên vẫn không có một định nghĩa phù hợp nhất, từ đó gây khó khăn cho khách hàng trong việc yêu cầu quyền lợi BH Vậy thuật ngữ cần thiết về mặt y khoa có thể được giải thích như sau: “Cần thiết về mặt y khoa là những dịch vụ y tế hoặc hỗ trợ y tế phù hợp với các chuẩn đoán, yêu cầu của bác sĩ điều trị, có tính chất bắt buộc và với các chi phí phù hợp”
Thuật ngữ giá trị hoàn lại: Luật Kinh doanh bảo hiểm nên quy định theo hướng ghi nhận giá trị hoàn lại thuộc sở hữu của BMBH vì nghĩa vụ nộp phí thuộc về BMBH nên đây là chủ thể có quyền nhận giá trị hoàn lại (Hoàng Thị Hà Nhi, 2018) Vì vậy,
“giá trị hoàn lại” cần được quy định cụ thể: “Giá trị hoàn lại là số tiền mà DNBH trả cho BMBH nếu HDBHNT chấm dứt mà không xảy ra SKBH”