Chương 1 TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ Để phát huy chức năng, vai trò quan trọng của kế toán trong công tác quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh của d
TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ
Các khái niệm và nguyên tắc kế toán cơ bản
1.2.1 Các khái niệm kế toán cơ bản
Theo Luật Kế toán 2015, đơn vị kế toán là các thực thể kinh tế có tài sản riêng, có trách nhiệm lập báo cáo tài chính và kiểm soát tài sản của mình Đối tượng áp dụng bao gồm các cơ quan thu, chi ngân sách Nhà nước, tổ chức sử dụng ngân sách Nhà nước, doanh nghiệp hoạt động theo pháp luật Việt Nam, chi nhánh và văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, cùng với các hợp tác xã Đơn vị kế toán bao gồm các tổ chức kinh tế hạch toán độc lập như công ty, xí nghiệp, nhà máy, công ty mẹ, công ty con và các đơn vị trực thuộc có tổ chức hạch toán.
Đơn vị kế toán là nơi thực hiện các hoạt động kiểm soát và quản lý nghiệp vụ sản xuất kinh doanh, bao gồm ghi chép, thu nhận, xử lý thông tin và lập báo cáo tài chính Hệ thống kế toán bao gồm chứng từ, tài khoản kế toán, sổ sách và báo cáo tài chính, được tổ chức để phản ánh tình hình tài chính và hoạt động của đơn vị, không chỉ phục vụ cho cá nhân nào trong tổ chức.
Đơn vị tiền tệ kế toán
Theo VAS10, đơn vị tiền tệ kế toán là đơn vị chính thức dùng để ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính Thước đo tiền tệ là công cụ quan trọng trong kế toán, giúp biểu hiện giá trị của các loại tài sản khác nhau, từ đó cho phép kế toán ghi chép, thu thập, xử lý thông tin và lập báo cáo tài chính một cách hiệu quả.
Theo Thông tư số 138/2011/TT-BTC, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán là đồng Việt Nam (VND) Khi có giao dịch ngoại tệ, doanh nghiệp phải quy đổi sang đồng Việt Nam theo tỷ giá thực tế của ngân hàng nơi thực hiện giao dịch, trừ khi có quy định khác Nếu ngoại tệ không có tỷ giá với đồng Việt Nam, cần quy đổi qua một ngoại tệ khác có tỷ giá Đối với đơn vị kế toán chủ yếu thu, chi bằng ngoại tệ, có thể chọn một loại ngoại tệ do Bộ Tài chính quy định làm đơn vị tiền tệ ghi chép, nhưng khi lập báo cáo tài chính tại Việt Nam, phải quy đổi về đồng Việt Nam theo tỷ giá do Ngân hàng Nhà Nước công bố tại thời điểm khóa sổ, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.
Khi cơ sở ở nước ngoài hoạt động độc lập với tư cách pháp nhân tại nước sở tại và sử dụng đồng tiền của nước đó làm đơn vị tiền tệ kế toán, việc chuyển đổi báo cáo tài chính phải tuân thủ các quy định cụ thể.
+ Tài sản và nợ phải trả: quy đổi theo tỷ giá cuối kỳ
+ Doanh thu, thu nhập khác và chi phí đƣợc quy đổi theo tỷ giá tại ngày giao dịch
Các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái được phân loại là vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và sẽ được báo cáo cho đến khi thanh lý khoản đầu tư thuần đó.
Đơn vị hiện vật và đơn vị thời gian lao động là các đơn vị chính thức được sử dụng tại Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Luật Kế toán quy định về đơn vị tính và chữ số sử dụng trong kế toán, đảm bảo sự phù hợp với thông lệ quốc tế Các quy định này nhằm tạo ra sự dễ hiểu, nhất quán và có thể so sánh được trong báo cáo kế toán, đồng thời bảo vệ chủ quyền quốc gia trong lĩnh vực kế toán.
Theo Luật Kế toán 2015, kỳ kế toán là khoảng thời gian từ khi bắt đầu ghi sổ kế toán đến khi kết thúc để lập báo cáo tài chính Tùy thuộc vào tính chất công việc và mức độ sử dụng thông tin quản lý, các đơn vị kế toán có thể lựa chọn kỳ kế toán theo tháng, quý hoặc năm.
Kỳ kế toán tháng là một tháng, tính từ đầu ngày 01 đến hết ngày cuối cùng của tháng
Kỳ kế toán quý là ba tháng, tính từ đầu ngày 01 tháng đầu quý đến hết ngày cuối cùng của tháng cuối quý
Kỳ kế toán năm là mười hai tháng tính từ đầu ngày 01/01 đến hết ngày 31/12 năm dương lịch
Các đơn vị kế toán có tổ chức và hoạt động đặc thù, lựa chọn kỳ kế toán năm là mười hai tháng theo năm dương lịch Kỳ kế toán bắt đầu từ ngày 01 tháng đầu quý này và kết thúc vào ngày cuối cùng của tháng cuối quý trước năm sau, đồng thời phải thông báo cho cơ quan tài chính.
Kỳ kế toán đầu tiên của đơn vị kế toán mới thành lập bắt đầu từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc ngày có hiệu lực ghi trên quyết định thành lập, kéo dài đến hết ngày cuối cùng của kỳ kế toán theo quy định Đối với các đơn vị kế toán khi chia, tách, hợp nhất, sát nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động hoặc phá sản, kỳ kế toán năm cuối cùng sẽ tính từ đầu ngày kỳ kế toán theo quy định đến hết ngày trước ngày ghi trên quyết định có hiệu lực liên quan đến những thay đổi này.
Tài sản là nguồn lực mà đơn vị kế toán kiểm soát, mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai Trong doanh nghiệp thương mại và dịch vụ, tài sản bao gồm cả tài sản hữu hình và vô hình Tài sản có thể thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp hoặc không, nhưng doanh nghiệp vẫn kiểm soát và thu được lợi ích từ việc sử dụng chúng.
Nợ phải trả trong doanh nghiệp thương mại và dịch vụ là nghĩa vụ tài chính hiện tại phát sinh từ các hoạt động kinh tế đã diễn ra, mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán.
Nợ phải trả đƣợc phân loại thành nợ phải trả ngắn hạn và nợ phải trả dài hạn
Nợ phải trả ngắn hạn là khoản nợ phát sinh trong chu kỳ hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp thương mại và dịch vụ Các loại nợ phải trả ngắn hạn bao gồm vay ngắn hạn, khoản phải trả cho người lao động và các khoản phải trả nội bộ ngắn hạn.
Nợ phải trả dài hạn là các khoản nợ có thời gian thanh toán trên một năm, bao gồm vay dài hạn và nợ dài hạn.
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và nguyên tắc tổ chức công tác kế toán
1.3.1 Khái niệm tổ chức công tác kế toán
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà quản lý cần lựa chọn phương án tối ưu để đạt hiệu quả cao nhất, do đó việc giám sát và quản lý quá trình kinh doanh là điều cần thiết Hệ thống thông tin cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà quản lý, và để có được thông tin hữu ích, doanh nghiệp cần một hệ thống kế toán mạnh mẽ và hiệu quả Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý là nhu cầu thiết yếu hiện nay, vì vậy doanh nghiệp cần tổ chức công tác kế toán hợp lý để tận dụng lợi thế của công nghệ thông tin, từ đó cung cấp thông tin kế toán hiệu quả cho nhà quản lý Tổ chức công tác kế toán tốt là nền tảng để cung cấp thông tin kế toán khoa học, kịp thời và chất lượng, phục vụ cho nhu cầu quản lý.
Công tác kế toán bao gồm toàn bộ công việc mà đơn vị kế toán thực hiện trong một kỳ, từ hạch toán ban đầu đến việc trình bày và cung cấp thông tin qua các báo cáo kế toán Tổ chức công tác kế toán là quá trình phối hợp thống nhất và hợp lý các yếu tố liên quan theo nguyên tắc nhất định để thực hiện chức năng kế toán hiệu quả Hiện nay, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về tổ chức công tác kế toán, phản ánh sự đa dạng trong phương pháp và quy trình kế toán.
Theo Ngô Thị Thu Hồng và Lưu Đức Tuyên (2012), tổ chức công tác kế toán (TCCTKT) tại doanh nghiệp là quá trình thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp thông tin về hoạt động của doanh nghiệp TCCTKT bao gồm hai nội dung chính: tổ chức bộ máy kế toán và tổ chức các phương pháp kế toán Mục tiêu của TCCTKT là đảm bảo công tác kế toán phát huy vai trò của mình, từ đó hỗ trợ quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả.
Tác giả Nguyễn Phước Bảo Ân nhấn mạnh rằng tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp là quá trình xác định các nhiệm vụ và nội dung kế toán cần thực hiện để xây dựng một hệ thống kế toán đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp Trong bối cảnh hiện nay, việc tin học hóa công tác kế toán trở nên cần thiết, và doanh nghiệp cần tìm cách chọn mua phần mềm phù hợp hoặc triển khai hệ thống kế toán máy Kết quả cuối cùng của tổ chức công tác kế toán là một hệ thống ghi nhận đầy đủ dữ liệu đầu vào, xử lý thông tin và đáp ứng nhu cầu thông tin của từng đối tượng, từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho quản lý doanh nghiệp Quan điểm này đặc biệt nhấn mạnh vai trò của công nghệ thông tin trong kế toán.
PGS.TS Nguyễn Thị Đông đưa ra một cách tiếp cận về tổ chức công tác kế toán, nhấn mạnh rằng tổ chức hạch toán kế toán là việc thiết lập mối quan hệ bản chất giữa đối tượng kế toán và phương pháp hạch toán Theo quan điểm này, tổ chức công tác kế toán không chỉ đơn thuần là việc xây dựng bộ máy kế toán mà còn liên quan đến việc ban hành và vận dụng chế độ kế toán một cách hiệu quả.
Tổ chức công tác kế toán là quá trình phân công nhiệm vụ và trách nhiệm cho từng cá nhân trong bộ máy kế toán, nhằm đảm bảo hiệu quả trong việc thu nhận, hệ thống hóa, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp Qua đó, tổ chức này kết hợp các phương pháp kế toán để phục vụ cho cả kế toán tài chính và kế toán quản trị.
1.3.2 Đặc điểm, ý nghĩa tổ chức công tác kế toán
1.3.2.1 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán
Tổ chức công tác kế toán có những đặc điểm sau:
TCCTKT trong doanh nghiệp đề cập đến việc tổ chức bộ máy kế toán, bao gồm việc phân công công việc cho các cán bộ kế toán và tổ chức sử dụng các phương tiện cần thiết để thực hiện công tác kế toán một cách hiệu quả.
TCCTKT là một phương pháp kế toán tích hợp, bao gồm các phương pháp như chứng từ kế toán (CTKT), tài khoản kế toán, tính giá và tổng hợp cân đối kế toán.
- TCCTKT là tổ chức thu nhận, hệ thống hóa, xử lý và cung cấp thông tin về các hoạt động của doanh nghiệp
1.3.2.2 Ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán
Tổ chức công tác kế toán (TCCTKT) trong doanh nghiệp là việc thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa các đơn vị kế toán, phương pháp kế toán và báo cáo tài chính nhằm tối ưu hóa hiệu quả của kế toán trong quản lý Mức độ liên hệ giữa các yếu tố này thể hiện tính tổ chức của công tác kế toán, giúp phát huy tối đa chức năng của kế toán khi được sắp xếp theo một trật tự xác định Do đó, TCCTKT đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp trên nhiều phương diện.
Tổ chức công tác kế toán một cách hiệu quả cung cấp thông tin trung thực và kịp thời, hỗ trợ lãnh đạo trong quản lý hoạt động doanh nghiệp Thông tin này không chỉ giúp Nhà nước kiểm tra, giám sát việc thực hiện luật pháp và chính sách kinh tế tài chính, mà còn giúp người điều hành quản lý vi mô thông qua việc kiểm soát và đánh giá hiệu quả các nguồn lực kinh tế Đồng thời, nó cũng cho phép đánh giá tình hình tài chính, hoạt động và luồng tiền trong quá khứ và hiện tại, từ đó làm cơ sở cho việc lập và điều chỉnh kế hoạch, dự toán.
TCCTKT khoa học sẽ nâng cao hiệu quả quản lý tài chính thông qua tổ chức công tác kế toán một cách tốt nhất Việc ghi chép và phản ánh kịp thời các loại tài sản, khoản nợ phải trả và vốn chủ sở hữu sẽ giúp cải thiện hiệu quả sử dụng tài sản và đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích Đồng thời, điều này cũng hỗ trợ tính toán chính xác kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, xác định rõ lợi ích và nghĩa vụ của doanh nghiệp.
Việc áp dụng TCCTKT khoa học và hợp lý sẽ tối ưu hóa hiệu quả của BMKT Qua việc phân công nhiệm vụ một cách khoa học, BMKT có thể đạt được sự phối hợp nhịp nhàng, tiết kiệm chi phí, đồng thời rõ ràng trong phân định nhiệm vụ, giúp tránh tình trạng chồng chéo và lãng phí.
1.3.3 Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán
Xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, buộc các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, phải nắm bắt thông tin kịp thời về tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh Để có thể cạnh tranh hiệu quả với các quốc gia trong các tổ chức kinh tế như AFTA và WTO, việc nâng cao chất lượng thông tin kế toán và sử dụng hiệu quả các nguồn lực là rất cần thiết Do đó, tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp thương mại, dịch vụ cần tuân thủ các nguyên tắc quản lý chặt chẽ.
Nguyên tắc 1 trong tổ chức công tác kế toán yêu cầu tuân thủ hệ thống pháp luật của Nhà nước về tài chính kế toán, với Luật Kế toán là văn bản pháp lý cao nhất điều chỉnh các hoạt động kế toán Luật này nhằm thống nhất quản lý kế toán, đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả trong việc giám sát các hoạt động kinh tế, tài chính Chuẩn mực kế toán bao gồm các nguyên tắc và phương pháp cơ bản cho việc ghi sổ và lập báo cáo tài chính, trong khi chế độ kế toán là các quy định kỹ thuật do cơ quan quản lý Nhà nước ban hành Do đó, TCCTKT trong doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp lý và hướng tới thực hiện các chuẩn mực quốc tế về kế toán.
Nguyên tắc 2 trong tổ chức công tác kế toán yêu cầu phải phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh khác nhau, do đó, tổ chức công tác kế toán cần gắn liền với thực tế tại đơn vị Điều này bao gồm việc thiết lập mô hình tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức tuân thủ và vận dụng hệ thống tài khoản kế toán, phương pháp kế toán, hệ thống sổ kế toán, lựa chọn hình thức kế toán và tổ chức kiểm tra kế toán TCCTKT cần cụ thể hóa theo đặc thù của doanh nghiệp thương mại, dịch vụ, phù hợp với lĩnh vực hoạt động, đặc điểm quản lý, quy mô, địa bàn hoạt động, cũng như điều kiện lao động và trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật trong kế toán Khi TCCTKT được áp dụng đúng cách, nó sẽ phát huy hiệu quả cao tại đơn vị.
Nguyên tắc 3: Tổ chức công tác kế toán phải thống nhất giữa kế toán và quản lý
Nội dung tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp thương mại, dịch vụ
Nghiên cứu nội dung của TCCTKT trong doanh nghiệp nhằm xác định những công việc cơ bản trong ghi chép kế toán TCCTKT bao gồm tổ chức kế toán tài chính (KTTC) và kế toán quản trị (KTQT) Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, quản lý và công nghệ thông tin, việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kế toán bằng phương pháp thủ công hoặc công cụ máy tính đơn giản đã trở nên không còn phù hợp Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong công tác kế toán, đặc biệt trong việc xử lý và tổng hợp dữ liệu.
1.4.1 Tổ chức bộ máy kế toán
Theo Điều 49 của Luật Kế toán 2015, các đơn vị kế toán cần phải thiết lập bộ máy kế toán và phân công nhân sự kế toán hoặc thuê dịch vụ kế toán Việc tổ chức bộ máy và bố trí nhân sự kế toán, bao gồm cả Kế toán trưởng, phải tuân thủ các quy định của pháp luật.
Trong doanh nghiệp thương mại và dịch vụ, bộ phận kế toán (BMKT) đảm nhận toàn bộ chức năng và nhiệm vụ liên quan đến công tác kế toán Việc tổ chức và cơ cấu BMKT một cách hợp lý, gọn nhẹ và hiệu quả là điều kiện thiết yếu để cung cấp thông tin kế toán kịp thời, chính xác và đầy đủ cho người sử dụng Đồng thời, điều này cũng giúp nâng cao trình độ nghiệp vụ và năng suất lao động của nhân viên kế toán Để đáp ứng các yêu cầu này, tổ chức BMKT cần dựa trên các căn cứ cụ thể nhằm đảm bảo hoạt động hiệu quả và chính xác.
- Lĩnh vực SXKD của doanh nghiệp;
- Đặc điểm tổ chức và quy trình hoạt động SXKD của doanh nghiệp;
- Quy mô và phạm vi địa bàn hoạt động SXKD của doanh nghiệp;
- Mức độ phân cấp quản lý kinh tế, tài chính nội bộ doanh nghiệp;
- Khối lƣợng, tính chất và mức độ phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế, tài chính;
- Biên chế BMKT và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ nhân viên kế toán hiện có;
- Trình độ các trang thiết bị, sử dụng các phương tiện kỹ thuật
Doanh nghiệp cần xác định đơn vị kế toán chính, thường là phòng kế toán trung tâm, cùng với các đơn vị kế toán hạch toán độc lập Đồng thời, cần quy định cơ chế làm việc, chế độ báo cáo và thông tin liên lạc giữa các đơn vị kế toán và kế toán đơn vị chính để đảm bảo sự thống nhất và hiệu quả trong quá trình kế toán.
Tổ chức bộ máy kế toán doanh nghiệp cần đƣợc thực hiện theo nguyên tắc sau:
- Tổ chức BMKT phải đảm bảo phù hợp với quy định pháp lý về kế toán của Nhà nước;
Tổ chức BMKT cần đảm bảo sự chỉ đạo toàn diện và tập trung trong việc quản lý các công tác kế toán và thống kê thông tin kinh tế tại doanh nghiệp, dưới sự lãnh đạo của Kế toán trưởng.
- Tổ chức BMKT phải gọn nhẹ hợp lý, đúng năng lực;
- Tổ chức BMKT phải phù hợp với tổ chức SXKD và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp;
- Tạo điều kiện cơ giới hóa công tác kế toán
Nội dung của tổ chức BMKT trong doanh nghiệp hiện nay bao gồm những công việc chính sau:
Lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán (BMKT) là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Mô hình tổ chức BMKT cần phải phù hợp với hình thức tổ chức công ty (TCCTKT) để đảm bảo sự liên kết và hoạt động hiệu quả Hiện nay, doanh nghiệp có thể tổ chức BMKT theo nhiều mô hình khác nhau, tùy thuộc vào quy mô và lĩnh vực hoạt động của mình.
Mô hình tổ chức BMKT tập trung; Mô hình tổ chức BMKT phân tán; Mô hình tổ chức BMKT vừa tập trung vừa phân tán
* Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung
Theo mô hình tổ chức bộ phận kế toán tập trung, doanh nghiệp tổ chức phòng kế toán thành các bộ phận riêng biệt, mỗi bộ phận đảm nhận các nhiệm vụ kế toán cụ thể Tất cả thông tin được xử lý và phản ánh một cách hệ thống trong quá trình này.
Sổ kế toán và báo cáo tài chính (BCTC) doanh nghiệp được thực hiện tại phòng kế toán trung tâm Bộ phận kế toán thu nhận chứng từ ban đầu và xử lý thông tin để tạo lập cả thông tin kế toán tài chính (KTTC) và thông tin kế toán quản trị (KTQT) Nếu doanh nghiệp có đơn vị phụ thuộc, các đơn vị này không tổ chức kế toán riêng mà chỉ bố trí nhân viên thực hiện hạch toán ban đầu, thu nhận, kiểm tra, phân loại và định kỳ chuyển chứng từ kế toán cùng báo cáo nghiệp vụ về phòng kế toán trung tâm Trong trường hợp này, các đơn vị phụ thuộc được gọi là đơn vị báo sổ Nếu có thể, nhân viên hạch toán tại các đơn vị phụ thuộc có thể được kế toán trưởng phân công thực hiện một số công việc kế toán tại đơn vị đó và định kỳ lập báo cáo đơn giản gửi về phòng kế toán trung tâm kèm theo chứng từ kế toán.
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung (Sơ đồ 1.1)
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung mang lại nhiều ưu điểm, bao gồm sự lãnh đạo thống nhất và tập trung trong công tác kế toán Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, kiểm soát, xử lý thông tin và cung cấp dữ liệu kịp thời.
Mô hình tổ chức BMKT tập trung không phù hợp với các doanh nghiệp có địa bàn hoạt động rộng, vì khi áp dụng sẽ dẫn đến những nhược điểm đáng kể.
Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
Kế toán chi phí và tính giá thành
Kế toán Tổng hợp và kiểm tra
Kế toán nguồn vốn và các quỹ
Kế toán vốn bằng tiền và thanh toán
Nhân viên hạch toán ban đầu và báo sổ từ đơn vị trực thuộc đóng vai trò quan trọng trong công tác kiểm tra và kiểm soát của người quản lý đối với kế toán và hoạt động kinh tế tại các đơn vị phụ thuộc Mô hình tổ chức BMKT tập trung chủ yếu áp dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoặc doanh nghiệp lớn với hoạt động phân tán nhưng đã được trang bị công nghệ ghi chép và tính toán hiện đại.
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán bao gồm một phòng kế toán trung tâm và các phòng kế toán tại các đơn vị phụ thuộc Phòng kế toán trung tâm thực hiện các phần hành kế toán và hướng dẫn, kiểm tra công tác kế toán tại các đơn vị phụ thuộc, đồng thời thu nhận và tổng hợp báo cáo kế toán để lập BCTC toàn doanh nghiệp Các đơn vị phụ thuộc có bộ máy kế toán riêng, thực hiện toàn bộ công tác kế toán từ hạch toán ban đầu đến lập báo cáo theo phân cấp của phòng kế toán trung tâm Mô hình này giúp gắn kết công tác kế toán với hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho việc kiểm tra và kiểm soát trực tiếp, phù hợp với doanh nghiệp vừa và lớn có hoạt động phân tán mà chưa có trang bị kỹ thuật hiện đại.
Mô hình tổ chức BMKT phân tán có những hạn chế nhất định, chủ yếu là yêu cầu về số lượng cán bộ kế toán lớn và việc thực hiện công việc kế toán tại nhiều địa phương khác nhau Điều này dẫn đến việc hạn chế khả năng kiểm tra và chỉ đạo sát sao của ban lãnh đạo đối với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp Mô hình này thường được áp dụng cho các tập đoàn lớn hoặc doanh nghiệp có nhiều công ty con, với hoạt động sản xuất và kinh doanh phân tán và được phân cấp quản lý.
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán (Sơ đồ 1.2)
Sơ đồ 1.2 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán
* Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán
Mô hình tổ chức BMKT vừa tập trung vừa phân tán kết hợp hai mô hình quản lý, trong đó doanh nghiệp có một số bộ phận cung cấp và một số bộ phận được phân cấp quản lý ở mức độ nhất định Doanh nghiệp tổ chức một phòng kế toán trung tâm, trong đó các đơn vị phụ thuộc lớn và đủ trình độ quản lý sẽ thực hiện BMKT riêng, lập báo cáo định kỳ gửi về phòng kế toán trung tâm Ngược lại, các đơn vị phụ thuộc nhỏ hơn hoặc chưa đủ trình độ sẽ không tổ chức BMKT riêng, mà sẽ được hướng dẫn thu nhận và kiểm tra báo cáo kế toán từ các đơn vị có BMKT riêng, từ đó tổng hợp số liệu và lập báo cáo kế toán toàn doanh nghiệp Mô hình này giúp kế toán gắn kết chặt chẽ với hoạt động của từng đơn vị trong doanh nghiệp.
Bộ phận kiểm tra kế toán
Bộ phận kế toán tổng hợp
Bộ phận kế toán văn phòng
Phụ trách kế toán ở các đơn vị phụ thuộc
Bộ phận kế toán tiền lương
Bộ phận kế toán thanh toán
Bộ phận kế toán chi phí
Bộ phận kế toán kiểm tra, giám sát chặt chẽ các hoạt động quản lý có hiệu quả trong doanh nghiệp
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung, vừa phân tán (Sơ đồ 1.3)
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán mang lại nhiều ưu điểm, bao gồm việc phân công công tác kế toán hợp lý cho các đơn vị phụ thuộc Mô hình này khắc phục những nhược điểm của các mô hình trước đó, như việc cập nhật thông tin không kịp thời và khối lượng công việc lớn Do đó, mô hình này được áp dụng rộng rãi trong thực tế.
KẾ TOÁN MUA HÀNG
Đặc điểm, nhiệm vụ kế toán mua hàng
2.1.1 Đặc điểm của hoạt động mua hàng
Mua hàng là quá trình quan trọng của doanh nghiệp, bao gồm việc nghiên cứu và đánh giá nhà cung cấp, thương thảo điều kiện mua bán, thực hiện các thủ tục giao dịch và thanh toán Mục tiêu của hoạt động này là tạo ra nguồn hàng hóa với số lượng và chất lượng phù hợp, đáp ứng nhu cầu dự trữ và bán hàng cho khách hàng, đồng thời tối ưu hóa chi phí.
Mua hàng là bước khởi đầu quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, đóng vai trò quyết định trong quá trình lưu chuyển hàng hóa Việc mua đúng chủng loại, mẫu mã, số lượng và chất lượng sẽ dẫn đến hiệu quả bán hàng tốt hơn Trong cơ chế thị trường, mặc dù bán hàng là khâu quan trọng, nhưng mua hàng là tiền đề để tạo ra lượng hàng hóa ban đầu cho toàn bộ hệ thống kinh doanh Nếu không chú trọng đến khâu mua hàng, doanh nghiệp có thể gặp phải tình trạng hàng tồn kho, chất lượng sản phẩm kém hoặc không đủ hàng để tiêu thụ Do đó, mua hàng không chỉ ảnh hưởng đến giá bán sản phẩm mà còn quyết định sự thành công của doanh nghiệp thương mại.
Hoạt động mua hàng có đặc điểm:
Mua hàng là yếu tố quan trọng để tạo tiền đề vật chất cho hoạt động bán hàng của doanh nghiệp, giúp có được hàng hóa và nguyên liệu cần thiết Doanh nghiệp cần mua hàng với chi phí thấp nhất để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, từ đó thu hút họ Mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận yêu cầu doanh nghiệp tính toán hợp lý về số lượng và giá cả hàng hóa, tránh tình trạng hàng tồn kho hoặc thiếu hụt Mua hàng không chỉ nâng cao khả năng cạnh tranh mà còn ảnh hưởng đến chi phí đầu vào, bao gồm cả giá mua và các chi phí phát sinh như đặt hàng và vận chuyển, điều này có thể làm tăng giá bán sản phẩm.
Mua hàng đảm bảo cung cấp đủ số lượng và chất lượng theo yêu cầu của khách hàng là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp thương mại Khi doanh nghiệp cung cấp sản phẩm kém chất lượng hoặc không phù hợp, khách hàng sẽ từ chối, dẫn đến hiệu quả kinh doanh giảm sút Khách hàng là người quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp, vì vậy việc đáp ứng đúng nhu cầu của họ giúp tăng doanh thu và lợi nhuận Mua hàng phù hợp không chỉ thúc đẩy quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa mà còn nâng cao hiệu quả kinh doanh và đời sống cán bộ công nhân viên Hàng hóa trong thương mại bao gồm các sản phẩm vật chất và phi vật chất, phải đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật và đúng với đăng ký kinh doanh Để tối ưu hóa chi phí và đảm bảo cung ứng liên tục, doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch mua hàng hợp lý, lựa chọn phương thức mua phù hợp và quản lý dự trữ hiệu quả Hàng hóa được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau, tùy thuộc vào đặc thù của từng nhà cung cấp.
Hàng mua trong nước có thể được thu mua từ cá nhân, hộ gia đình hoặc doanh nghiệp sản xuất và thương mại Mỗi nguồn hàng sẽ chịu sự chi phối của các quy định khác nhau từ nhà nước, bao gồm các quy định về chứng từ và thuế trong quản lý nghiệp vụ mua bán.
Hàng hóa nhập khẩu phải tuân thủ quy định pháp luật về hoạt động xuất nhập khẩu và kế toán nghiệp vụ liên quan đến nhập khẩu hàng hóa.
2.1.2 Nhiệm vụ kế toán mua hàng
Mua hàng là một bước quan trọng trong kinh doanh thương mại, đóng vai trò nền tảng cho hoạt động bán hàng Quản lý hiệu quả quy trình mua hàng giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí như lưu kho và bến bãi, đồng thời giảm thiểu rủi ro biến động giá cả Điều này đảm bảo doanh nghiệp luôn sẵn sàng cung cấp hàng hóa khi cần thiết, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Hạch toán mua hàng trong doanh nghiệp thương mại cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
Cung cấp thông tin kịp thời và chính xác cho bộ phận quản lý doanh nghiệp là rất quan trọng để xác định mức tồn kho cần thiết, đảm bảo hàng hóa luôn sẵn sàng cho việc bán ra Tuy nhiên, cần lập kế hoạch cẩn thận để mức tồn kho không quá lớn, nhằm tránh ảnh hưởng đến chất lượng, bảo quản và thời gian luân chuyển của hàng hóa.
Chỉ tiêu hàng mua cần được theo dõi và ghi chép một cách kịp thời, thường xuyên và chính xác, bao gồm số lượng, giá trị theo từng chủng loại, quy cách và nguồn hàng.
Kế hoạch mua hàng cần được theo dõi và giám sát chặt chẽ theo từng nguồn hàng, nhà cung cấp và đơn đặt hàng, đồng thời kiểm tra tình hình thanh toán nợ với nhà cung cấp Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ mua hàng trong doanh nghiệp thương mại, cần đáp ứng tốt các yêu cầu về quản lý hàng hóa, quản lý giá cả và quản lý thanh toán.
Yêu cầu quản lý về hàng hóa
Để đảm bảo hiệu quả trong quản lý nguồn hàng, doanh nghiệp cần theo dõi chặt chẽ số lượng và giá trị hàng hóa, từ đó đánh giá tính phù hợp của nguồn hàng với điều kiện hoạt động Điều này không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mua sắm mà còn đảm bảo đáp ứng kế hoạch bán hàng Hàng hóa có nguồn gốc rõ ràng sẽ mang lại sự yên tâm cho doanh nghiệp trong các hoạt động kinh doanh.
Để quản lý hiệu quả hoạt động mua hàng trong doanh nghiệp, việc xác định đúng đối tượng hàng mua là rất quan trọng Mua hàng diễn ra thường xuyên với nhiều quy mô và mục đích khác nhau, và hàng hóa có nguồn gốc đa dạng Do đó, các bộ phận trong doanh nghiệp thương mại cần phải đảm bảo thông tin về hàng mua chính xác bằng cách xác định rõ ràng các điều kiện mà hàng hóa phải đáp ứng để được coi là hàng mua.
Một là, hàng hóa phải được thông qua một phương thức mua, bán và thanh toán tiền hàng nhất định;
Doanh nghiệp có quyền sở hữu hàng hóa nhưng mất quyền sở hữu tiền tệ, đồng thời có nghĩa vụ và trách nhiệm thanh toán nợ hoặc hàng hóa khác.
Ba là, mục đích mua hàng hóa để bán ra hoặc gia công sản xuất rồi bán
Khi hàng hóa được mua về với mục đích vừa để bán vừa để sản xuất nhưng không phân biệt rõ ràng hai mục đích này, thì toàn bộ hàng hóa sẽ được tính là hàng mua.
Để đảm bảo quản lý hiệu quả về số lượng hàng hóa, cần cung cấp đầy đủ số lượng, quy cách và chủng loại theo yêu cầu của khách hàng Nếu không chú trọng đến việc quản lý số lượng, doanh nghiệp có thể gặp phải tình trạng thiếu hàng hoặc thừa hàng, điều này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm mà còn làm tăng chi phí bảo quản.
+ Đảm bảo yêu cầu về chất lƣợng: Hàng mua cần đáp ứng đúng nhu cầu của kháng hàng và phù hợp với khả năng thanh toán của họ
Yêu cầu quản lý giá cả
Quy định về kế toán mua hàng
* Xác định giá trị hàng mua:
Theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 (VAS02)
Hàng tồn kho được ghi nhận ban đầu theo giá gốc, hay còn gọi là giá phí, bao gồm tất cả các chi phí mà doanh nghiệp chi ra để đưa hàng hóa từ nơi mua về kho Giá gốc này thường được gọi là giá mua thực tế.
Giá mua thực tế của hàng mua đƣợc xác định theo công thức sau:
Trị giá thực tế của hàng mua
Giá mua ghi trên hóa đơn
Các khoản thuế không đƣợc hoàn lại
Các khoản giảm giá, chiết khấu thương mại trong đó:
- Giá mua ghi trên hóa đơn đƣợc xác định nhƣ sau:
Doanh nghiệp thương mại mua hàng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, cần có hóa đơn GTGT hợp lệ Trong trường hợp này, giá mua hàng sẽ không bao gồm thuế GTGT.
Nếu doanh nghiệp thương mại mua hàng để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh không chịu thuế GTGT, hoặc áp dụng phương pháp trực tiếp trong hạch toán thuế GTGT, thì giá mua hàng sẽ được xác định là giá đã bao gồm thuế GTGT.
- Các khoản thuế không đƣợc hoàn lại đƣợc xác định nhƣ sau:
+ Thuế nhập khẩu là khoản thuế doanh nghiệp phải nộp khi nhập khẩu hàng hóa
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt là khoản thuế phát sinh ở khâu mua khi doanh nghiệp mua những mặt hàng thuộc đối tƣợng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế bảo vệ môi trường là loại thuế áp dụng cho những sản phẩm gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, như xăng, dầu và các hàng hóa tương tự.
Chi phí mua hàng bao gồm các khoản chi phí phát sinh trực tiếp trong quá trình mua, chẳng hạn như chi phí vận chuyển, bốc xếp hàng hóa, bảo hiểm, lưu kho, và hao hụt tự nhiên trong khâu mua.
Giảm giá hàng mua là khoản tiền mà người bán giảm trừ cho người mua do hàng hóa không đạt chất lượng, bị hư hỏng hoặc không đúng chủng loại, quy cách đã ghi trong hợp đồng.
Chiết khấu thương mại là khoản tiền mà người bán giảm trừ cho người mua khi người mua mua hàng với số lượng lớn hoặc thực hiện nhiều giao dịch đạt mức chiết khấu đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Khi hàng hóa mua có bao bì đi kèm và giá trị của bao bì được tính riêng, cần phải tách biệt và theo dõi giá trị của bao bì đó như là bao bì luân chuyển.
Trị giá hàng mua bao gồm trị giá hàng xuất chế biến cộng với chi phí gia công, sơ chế khi hàng hóa cần qua các công đoạn như gia công, tân trang, phơi đảo, hoặc chọn lọc để tăng giá trị và khả năng bán của sản phẩm.
* Thời điểm xác định hàng mua
Hàng mua được ghi nhận khi quyền sở hữu hàng hóa đã chuyển từ người bán sang người mua, và người mua đã thực hiện thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán Thời điểm xác định hàng mua có thể khác nhau tùy thuộc vào từng phương thức mua hàng.
Mua hàng theo phương thức lấy hàng có nghĩa là quyền sở hữu hàng hóa sẽ được chuyển giao ngay sau khi hoàn tất thủ tục giao nhận và doanh nghiệp mua đã thanh toán hoặc đồng ý thanh toán Trong quá trình vận chuyển hàng về kho, bên mua sẽ chịu trách nhiệm về hàng hóa, bao gồm các chi phí và rủi ro hao hụt, mất mát, vì quyền sở hữu đã được chuyển cho họ.
Mua hàng theo phương thức nhận hàng có nghĩa là quyền sở hữu hàng hóa sẽ được chuyển giao khi bên mua nhận hàng từ bên bán và đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán Quy trình này diễn ra tại kho của bên mua hoặc tại địa điểm giao nhận đã được thỏa thuận trong hợp đồng, trong khi đó, bên bán sẽ chịu toàn bộ trách nhiệm về hàng hóa trong quá trình vận chuyển, bao gồm các chi phí, hao hụt và mất mát.
Xác định thời điểm chính xác để ghi nhận hàng mua là rất quan trọng trong quản lý tài sản của doanh nghiệp thương mại Đây không chỉ là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa mà còn là mốc quan trọng để xác định trách nhiệm vật chất giữa bên mua và bên bán Việc này giúp tránh tổn thất về hàng hóa và giảm thiểu tranh chấp khiếu nại.
Kế toán mua hàng
2.4.1 Chứng từ kế toán sử dụng
Theo điều 3, Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20 tháng 11 năm
Theo Luật Kế toán số 88/2015/QH13, chứng từ kế toán là các tài liệu phản ánh nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã phát sinh và hoàn thành, đóng vai trò quan trọng trong việc ghi sổ kế toán Hiện nay, ngoài các chứng từ giấy, doanh nghiệp thương mại dịch vụ còn có thể sử dụng các chứng từ điện tử theo quy định tại điều 17 của luật này.
Tại doanh nghiệp thương mại, dịch vụ chứng từ được sử dụng trong khâu mua hàng bao gồm:
Khi doanh nghiệp thực hiện mua hàng từ đơn vị áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, hóa đơn GTGT cần ghi rõ các chỉ tiêu quan trọng, bao gồm giá trị hàng hóa chưa bao gồm thuế GTGT.
+ Các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có);
+ Thuế GTGT (tùy từng mặt hàng, mức thuế suất thuế GTGT có thể áp dụng là 0 %; 5 %; 10 %);
Hóa đơn bán hàng là tài liệu quan trọng mà doanh nghiệp thương mại nhận được khi mua hàng từ đơn vị tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc khi hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
Bảng kê mua hàng là công cụ kế toán dùng để ghi nhận hàng hóa mua từ thị trường tự do, nơi người bán không bắt buộc lập hóa đơn Bảng kê này được sử dụng làm căn cứ để lập Phiếu nhập kho và thực hiện thanh toán tiền hàng Tuy nhiên, cần lưu ý rằng bảng kê này không được phép khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT).
Phiếu nhập kho là chứng từ kế toán quan trọng, được lập khi doanh nghiệp thương mại nhận hàng từ nhà cung cấp Nó phản ánh số lượng hàng hóa thực tế trong kho, làm cơ sở ghi Thẻ kho, xác định trách nhiệm của các bên liên quan và ghi chép vào Sổ kế toán.
Biên bản giao nhận hàng hóa là tài liệu quan trọng dùng để xác định số lượng, quy cách và chất lượng hàng hóa mà doanh nghiệp mua về trước khi nhập kho Biên bản này không chỉ giúp quản lý hàng hóa hiệu quả mà còn là căn cứ để quy trách nhiệm trong việc thanh toán và bảo quản hàng hóa.
- Các chứng từ thanh toán: Phiếu chi, giấy báo nợ, phiếu thanh toán tạm ứng,… Phản ánh nghiệp vụ thanh toán tiền mua hàng
2.4.2 Tài khoản kế toán sử dụng
Kế toán quá trình mua hàng trong doanh nghiệp thương mại sử dụng các tài khoản 151, tài khoản 156, tài khoản 611, tài khoản 331, tài khoản 133,…
* Tài khoản 151 - “Hàng mua đang đi đường”
Tài khoản này phản ánh giá trị hàng hóa và vật tư, bao gồm nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ và hàng hóa, mà doanh nghiệp đã mua nhưng vẫn đang trong quá trình vận chuyển, tại bến cảng, bến bãi, kho ngoại quan, hoặc đã về đến doanh nghiệp nhưng đang chờ kiểm nhận nhập kho.
- Trị giá hàng hóa, vật tư đã mua đang đi đường;
Kết chuyển trị giá thực tế của hàng vật tư mua đang đi đường vào cuối kỳ là một bước quan trọng trong quá trình hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ Việc này đảm bảo rằng doanh nghiệp ghi nhận chính xác giá trị hàng hóa chưa nhận, từ đó phản ánh đúng tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh.
- Trị giá hàng hóa, vật tư đã mua đang đi đường đã về nhập kho hoặc đã chuyển giao thẳng cho khách hàng;
Kết chuyển trị giá thực tế của hàng hóa và vật tư đã mua, đang trong quá trình vận chuyển vào đầu kỳ là một bước quan trọng trong hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ Việc này giúp doanh nghiệp xác định chính xác giá trị hàng tồn kho và tối ưu hóa quản lý tài chính.
Số dư bên Nợ: Trị giá hàng hóa, vật tƣ đã mua nhƣng còn đang đi đường (chưa về nhập kho doanh nghiệp)
Tài khoản 151 phản ánh giá trị hàng hóa và vật tư, bao gồm nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ và hàng hóa, mà doanh nghiệp đã mua và đang trong quá trình vận chuyển Những hàng hóa này có thể đang ở bến cảng, bến bãi, kho ngoại quan hoặc đã về đến doanh nghiệp nhưng vẫn chờ kiểm nhận để nhập kho.
Hàng hóa và vật tư được xem là tài sản của doanh nghiệp nhưng chưa được nhập kho, bao gồm: hàng hóa và vật tư đã thanh toán hoặc đồng ý thanh toán nhưng vẫn đang ở kho của người bán, tại cảng, bến bãi, hoặc đang trong quá trình vận chuyển; cũng như hàng hóa và vật tư đã đến doanh nghiệp nhưng đang chờ kiểm nghiệm và kiểm nhận trước khi nhập kho.
- Kế toán hàng mua đang đi đường được ghi nhận trên tài khoản
151 theo nguyên tắc giá gốc quy định trong Chuẩn mực kế toán - “Hàng tồn kho”
Hàng ngày, kế toán nhận hóa đơn mua hàng nhưng chưa ghi sổ vì hàng chưa về nhập kho, do đó sẽ tiến hành đối chiếu với hợp đồng kinh tế và lưu hóa đơn vào hồ sơ riêng gọi là “Hàng mua đang đi đường” Khi hàng về nhập kho trong tháng, kế toán sẽ ghi sổ trực tiếp vào các tài khoản như 152 “Nguyên liệu, vật liệu”, 153 “Công cụ, dụng cụ”, 156 “Hàng hóa”, và 158 “Hàng hoá kho bảo thuế” dựa trên phiếu nhập kho và hóa đơn mua hàng.
Nếu đến cuối tháng mà hàng hóa chưa về, kế toán cần ghi nhận vào tài khoản 151 “Hàng mua đang đi đường” Việc này yêu cầu kế toán mở chi tiết để theo dõi hàng hóa đang vận chuyển theo từng loại hàng, vật tư, từng lô hàng và từng hợp đồng kinh tế.
Tài khoản này thể hiện giá trị hiện tại và sự biến động tăng, giảm của các loại hàng hóa trong doanh nghiệp, bao gồm hàng hóa tại kho, quầy hàng và bất động sản.
- Trị giá mua vào của hàng hóa theo hóa đơn mua hàng (bao gồm các loại thuế không đƣợc hoàn lại);
- Chi phí thu mua hàng hóa;
- Trị giá của hàng hóa thuê ngoài gia công (gồm giá mua vào và chi phí gia công);
- Trị giá hàng hóa đã bán bị người mua trả lại;
- Trị giá hàng hóa phát hiện thừa khi kiểm kê;
- Kết chuyển giá trị hàng hóa tồn kho cuối kỳ (trường hợp doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ);
- Trị giá hàng hoá bất động sản mua vào hoặc chuyển từ bất động sản đầu tƣ
Trị giá hàng hóa xuất kho để bán, giao cho đại lý, hoặc doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thuê ngoài gia công, sử dụng cho sản xuất và kinh doanh.
- Chi phí thu mua phân bổ cho hàng hóa đã bán trong kỳ;
- Chiết khấu thương mại hàng mua được hưởng;
- Các khoản giảm giá hàng mua được hưởng;
- Trị giá hàng hóa trả lại cho người bán;
- Trị giá hàng hóa phát hiện thiếu khi kiểm kê;
- Kết chuyển giá trị hàng hóa tồn kho đầu kỳ (trường hợp doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ);
KẾ TOÁN BÁN HÀNG
Đặc điểm, nhiệm vụ kế toán bán hàng
3.1.1 Đặc điểm hoạt động bán hàng
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, bán hàng là giai đoạn cuối cùng, đánh dấu sự hoàn tất của chu trình luân chuyển vốn Tại đây, hàng hóa được chuyển đổi từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ, hoàn thành vòng chu chuyển vốn.
Thông qua hoạt động bán hàng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa được hiện thực hóa, giúp doanh nghiệp thương mại chuyển đổi vốn từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị Qua đó, doanh nghiệp thu hồi vốn đầu tư, bù đắp chi phí và tạo ra nguồn tích lũy để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Bán hàng, từ góc độ kinh tế, là quá trình chuyển đổi giá trị của hàng hóa Về mặt tổ chức kỹ thuật, bán hàng bao gồm việc tổ chức và thực hiện các giao dịch mua bán hàng hóa thông qua các quy trình nghiệp vụ kinh tế - kỹ thuật, nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của doanh nghiệp thương mại.
Từ các khái niệm trên có thể thấy hoạt động bán hàng của doanh nghiệp thương mại có đặc điểm như sau:
- Bán hàng là giai đoạn cần thiết, quan trọng, có tính quyết định đến việc thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa
Bán hàng là giai đoạn cuối cùng trong quy trình sản xuất kinh doanh và quyết định sự thành bại của doanh nghiệp Mục tiêu chính của doanh nghiệp thương mại là tạo ra lợi nhuận, phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Tất cả các hoạt động khác đều hướng đến việc tiêu thụ hàng hóa, giúp chuyển đổi hàng hóa từ hình thái vật chất sang tiền tệ Khi hoàn thành vòng chu chuyển vốn, doanh nghiệp có thể tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, hoạt động bán hàng đóng vai trò then chốt, chi phối và quyết định các hoạt động khác trong doanh nghiệp thương mại.
Để chiếm lĩnh thị trường, doanh nghiệp cần bán hàng với số lượng lớn, từ đó xây dựng được uy tín Khâu bán hàng có mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng, ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin và sự tín nhiệm của người tiêu dùng Điều này không chỉ tạo ra nhu cầu tái sử dụng sản phẩm mà còn trở thành vũ khí cạnh tranh quan trọng cho doanh nghiệp.
Bán hàng không chỉ là hoạt động giữa người sản xuất và người tiêu dùng mà còn thúc đẩy tính chủ động và sáng tạo của doanh nghiệp Qua quá trình bán hàng, doanh nghiệp thu thập thông tin chính xác về cung, cầu, giá cả và thị hiếu của khách hàng Những thông tin này giúp doanh nghiệp tổ chức sản xuất và kinh doanh hiệu quả hơn, từ đó cung cấp những sản phẩm với mức giá hợp lý, nâng cao hiệu quả hoạt động.
3.1.2 Nhiệm vụ kế toán bán hàng
Bán hàng đóng vai trò quan trọng trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Để quản lý hiệu quả hoạt động bán hàng, kế toán cần thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu như theo dõi doanh thu, kiểm soát chi phí và phân tích hiệu quả bán hàng.
Ghi chép và phản ánh kịp thời tình hình bán hàng của doanh nghiệp là rất quan trọng, bao gồm việc theo dõi từng mặt hàng và nhóm hàng với các chỉ tiêu về số lượng và giá trị một cách chính xác.
Cung cấp thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phận liên quan là rất quan trọng để đề xuất các biện pháp cải thiện hoạt động kinh doanh Điều này giúp nhà quản lý nắm bắt thực trạng tiêu thụ hàng hóa và kịp thời điều chỉnh chính sách phù hợp với thị trường Ngoài ra, việc phân tích định kỳ các chỉ tiêu kinh tế liên quan đến bán hàng, thu nhập và phân phối kết quả sẽ tạo cơ sở so sánh với kế hoạch và các doanh nghiệp cùng ngành.
- Thứ ba, phản ánh giám đốc chính xác tình hình thu hồi tiền, tình hình công nợ và thanh toán công nợ phải thu ở người mua
Việc tính toán chính xác giá vốn của từng mặt hàng tiêu thụ là rất quan trọng, giúp xác định kết quả bán hàng cụ thể cho mỗi sản phẩm Điều này hỗ trợ nhà quản trị trong việc lập kế hoạch và lựa chọn những mặt hàng kinh doanh hiệu quả nhất.
Phương thức bán hàng
Trong các doanh nghiệp thương mại, hoạt động bán hàng có thể được thực hiện qua nhiều phương thức khác nhau, bao gồm bán buôn, bán lẻ và bán hàng đại lý Mỗi phương thức này có thể được triển khai dưới các hình thức như bán hàng trực tiếp hoặc chuyển hàng, tùy thuộc vào nhu cầu và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
3.2.1 Phương thức bán buôn hàng hóa
Bán buôn hàng hoá là hình thức cung cấp hàng cho các đơn vị thương mại và doanh nghiệp sản xuất, trong đó hàng hoá vẫn chưa được tiêu dùng mà chỉ nằm trong lĩnh vực lưu thông Đặc điểm của hàng hoá bán buôn là thường được giao dịch theo lô hoặc số lượng lớn, với giá bán thay đổi tùy thuộc vào số lượng và phương thức thanh toán được thỏa thuận trong hợp đồng Các phương thức bán buôn bao gồm bán hàng qua kho và bán hàng vận chuyển thẳng.
Bán buôn hàng hóa qua kho là phương thức mà hàng hóa được xuất từ kho bảo quản của doanh nghiệp Phương thức này có thể được thực hiện dưới hai hình thức khác nhau.
Bán buôn hàng hóa qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp cho phép bên mua cử đại diện đến kho của doanh nghiệp thương mại để nhận hàng Doanh nghiệp sẽ xuất kho hàng hóa và giao trực tiếp cho đại diện bên mua Khi đại diện nhận đủ hàng, họ sẽ thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ, lúc này hàng hóa được xác định là đã tiêu thụ.
Bán buôn hàng hóa qua kho theo hình thức chuyển hàng là quá trình mà doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng hóa dựa trên hợp đồng hoặc đơn đặt hàng, sử dụng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài để chuyển hàng đến kho của bên mua hoặc địa điểm khác theo thỏa thuận Trong suốt quá trình này, hàng hóa vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại cho đến khi bên mua kiểm nhận và thanh toán Chi phí vận chuyển có thể do doanh nghiệp thương mại hoặc bên mua chịu, tùy thuộc vào thỏa thuận ban đầu giữa hai bên Nếu doanh nghiệp thương mại chịu chi phí vận chuyển, khoản này sẽ được ghi vào chi phí bán hàng, ngược lại, nếu bên mua chịu, họ sẽ phải thanh toán khoản phí này.
Phương thức bán buôn hàng hoá vận chuyển thẳng cho phép doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng mà không cần đưa về kho, mà chuyển bán trực tiếp cho bên mua Hình thức này mang lại sự tiện lợi và tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp.
Hình thức bán buôn hàng hóa vận chuyển thẳng, hay còn gọi là giao hàng trực tiếp, cho phép doanh nghiệp thương mại giao hàng ngay tại kho của người bán cho đại diện bên mua Sau khi đại diện bên mua ký nhận hàng hóa và thực hiện thanh toán hoặc chấp nhận nợ, hàng hóa được xác nhận là đã tiêu thụ.
Bán buôn hàng hoá vận chuyển thẳng là hình thức mà doanh nghiệp thương mại mua hàng, sau đó sử dụng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài để giao hàng đến địa điểm đã thỏa thuận với bên mua Trong quá trình này, hàng hoá vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp cho đến khi bên mua thanh toán hoặc xác nhận đã nhận hàng và đồng ý thanh toán, lúc này hàng hoá mới được xác định là tiêu thụ.
3.2.2 Phương thức bán lẻ hàng hóa
Bán lẻ hàng hóa là hình thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các tổ chức kinh tế, với mục đích tiêu dùng nội bộ Phương thức này đặc trưng bởi việc hàng hóa đã ra khỏi lưu thông và chuyển sang giai đoạn tiêu dùng, khi giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa đã được thực hiện Thông thường, bán lẻ diễn ra với số lượng nhỏ hoặc từng đơn chiếc, và giá bán thường ổn định Các hình thức bán lẻ đa dạng có thể được áp dụng để đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung là phương thức bán hàng trong đó tách biệt nghiệp vụ thu tiền và giao hàng Mỗi quầy hàng có nhân viên thu tiền chịu trách nhiệm thu tiền và phát hoá đơn cho khách, sau đó khách sẽ nhận hàng từ nhân viên bán hàng Cuối ca hoặc cuối ngày, nhân viên bán hàng dựa vào hoá đơn để giao hàng cho khách và kiểm kê hàng tồn kho, từ đó lập báo cáo bán hàng Nhân viên thu tiền sẽ lập giấy nộp tiền và chuyển số tiền bán hàng cho thủ quỹ.
Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp là quy trình trong đó nhân viên bán hàng thu tiền từ khách hàng và giao hàng ngay tại chỗ Sau khi kết thúc ca làm việc hoặc hết ngày bán hàng, nhân viên sẽ lập giấy nộp tiền và chuyển tiền cho thủ quỹ Đồng thời, họ cũng thực hiện kiểm kê hàng hóa tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ca hoặc trong ngày, từ đó lập báo cáo bán hàng chi tiết.
Hình thức bán lẻ tự phục vụ (tự chọn) cho phép khách hàng tự lựa chọn hàng hóa và tự tính tiền tại quầy thanh toán Nhân viên thu ngân có nhiệm vụ kiểm tra hàng hóa, tính tiền và lập hóa đơn cho khách Đồng thời, nhân viên bán hàng cũng phải hướng dẫn khách và bảo quản hàng hóa tại quầy kệ mà họ phụ trách Phương thức này hiện đang được áp dụng rộng rãi tại các siêu thị.
Hình thức bán trả góp cho phép người mua thanh toán tiền hàng thành nhiều lần, trong đó doanh nghiệp thương mại thu thêm một khoản lãi do việc trả chậm Mặc dù người bán vẫn giữ quyền sở hữu cho đến khi người mua hoàn tất thanh toán, nhưng về mặt hạch toán, khi giao hàng, hàng hóa bán trả góp được coi là đã tiêu thụ và bên bán ghi nhận doanh thu ngay lập tức.
Bán hàng tự động là hình thức bán lẻ hiện đại, trong đó các doanh nghiệp sử dụng máy bán hàng tự động chuyên dụng để cung cấp hàng hóa Những máy này thường được đặt tại các địa điểm công cộng, cho phép khách hàng dễ dàng mua sắm Khi khách hàng cho tiền vào máy, hàng hóa sẽ được tự động đẩy ra, mang lại sự tiện lợi và nhanh chóng trong quá trình mua sắm.
Bán lẻ cố định là hình thức mà doanh nghiệp thương mại thiết lập một điểm bán hàng cố định, nơi hàng hóa được trao đổi trực tiếp giữa người bán và người mua.
Quy định về kế toán bán hàng
3.3.1 Quy định về giá bán hàng hóa
Xác định giá bán hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại cần tuân thủ nguyên tắc bù đắp chi phí đã bỏ ra, nhằm đảm bảo doanh nghiệp đạt được lợi nhuận nhất định.
Dựa theo nguyên tắc trên, giá bán hàng hóa đƣợc xác định bao gồm Giá mua thực tế và thặng số thương mại
Thặng số thương mại là một chỉ tiêu quan trọng giúp bù đắp chi phí và tạo ra lợi nhuận Thông thường, chỉ tiêu này được tính bằng tỷ lệ phần trăm so với giá thực tế của hàng hóa được tiêu thụ.
Giá bán hàng hóa = Giá mua thực tế (1 + Thặng số thương mại)
Hiện nay, Nhà nước quy định mức giá cho một số mặt hàng thiết yếu, trong khi giá cả các hàng hóa khác được xác định theo quy luật cung cầu Do đó, việc xác định mức giá phù hợp dựa vào nhu cầu thị trường, chu kỳ sống của sản phẩm, cũng như uy tín và nhãn mác là ưu tiên hàng đầu của các doanh nghiệp thương mại nhằm cạnh tranh hiệu quả với các đối thủ.
3.3.2 Xác định doanh thu trong doanh nghiệp thương mại
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS 14) - Doanh thu và thu nhập khác:
- Doanh thu đƣợc xác định theo giá trị hợp lý của các khoản thu hoặc sẽ thu đƣợc
Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định dựa trên thỏa thuận giữa doanh nghiệp và bên mua hoặc bên sử dụng tài sản Doanh thu này được tính bằng giá trị hợp lý của các khoản thu đã nhận hoặc sẽ nhận, sau khi trừ các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng hóa bị trả lại.
Doanh thu từ các khoản tiền hoặc tương đương tiền chưa nhận ngay được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản thu trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu, sử dụng tỷ lệ lãi suất hiện hành Điều này có thể dẫn đến giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu thấp hơn giá trị danh nghĩa dự kiến sẽ thu được trong tương lai.
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi với nhau mà có bản chất và giá trị tương đương, thì giao dịch này không được xem là một giao dịch tạo ra doanh thu, do đó doanh thu sẽ không được ghi nhận.
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác không tương tự, giao dịch này được coi là tạo ra doanh thu Doanh thu sẽ được xác định dựa trên giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận được, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền liên quan Nếu không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về, doanh thu sẽ được xác định theo giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, cũng sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền.
3.3.3 Thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng
Theo quy định của VAS 14 thì doanh thu bán hàng đƣợc ghi nhận chỉ khi giao dịch bán hàng đồng thời thỏa mãn 5 điều kiện sau:
- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua
- Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa nhƣ người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
- Doanh nghiệp đã thu đƣợc hoặc sẽ thu đƣợc lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng
- Xác định đƣợc các khoản chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
Thông thường, thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng tùy thuộc từng phương thức bán hàng, cụ thể:
Khi bán buôn theo hình thức nhận hàng, doanh thu được ghi nhận khi doanh nghiệp hoàn tất thủ tục chứng từ và giao hàng cho người mua, đồng thời người mua đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.
Trong trường hợp bán lẻ hàng hóa, doanh thu được ghi nhận khi doanh nghiệp nhận Bảng kê bán lẻ hoặc hóa đơn từ bộ phận bán lẻ và đã hoàn tất việc kiểm tra.
Khi doanh nghiệp áp dụng phương thức bán hàng gửi hàng, doanh thu sẽ được ghi nhận vào thời điểm nhận được thông báo từ bên mua về việc đã nhận đủ hàng, ký xác nhận trên hóa đơn, thanh toán tiền hàng hoặc đồng ý với hình thức thanh toán.
Khi doanh nghiệp áp dụng phương thức bán hàng qua đại lý, doanh thu sẽ được ghi nhận vào thời điểm nhận Bảng kê thanh toán hàng đại lý do cơ sở đại lý lập.
Kế toán bán hàng
3.4.1 Chứng từ kế toán sử dụng
Tùy theo phương thức, hình thức bán hàng mà kế toán bán hàng sử dụng các chứng từ sau:
Hóa đơn GTGT được lập khi doanh nghiệp bán hàng và áp dụng phương pháp khấu trừ thuế Trên hóa đơn GTGT, cần ghi rõ các chỉ tiêu liên quan để đảm bảo tính hợp lệ và minh bạch trong giao dịch.
+ Giá trị hàng hóa chƣa có thuế GTGT;
+ Các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán;
Hóa đơn bán hàng được lập khi thực hiện giao dịch bán hàng, áp dụng cho các cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc cho doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng không thuộc diện chịu thuế GTGT, theo quy định tại Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27 tháng 02 năm 2015.
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ: đƣợc lập khi doanh nghiệp gửi hàng cho các chi nhánh, đơn vị trực thuộc hoặc gửi đại lý
Bảng kê bán lẻ hàng hóa được lập khi doanh nghiệp bán lẻ có số tiền thu mỗi lần nhỏ hơn 200.000 đồng, theo Thông tư số 39/2014/TT-BTC Đây là căn cứ quan trọng để kế toán lập hóa đơn GTGT hoặc hóa đơn bán hàng cho hàng hóa bán lẻ vào cuối ngày.
Bảng kê thanh toán hàng đại lý được lập khi cơ sở đại lý bán hàng nhận từ bên giao đại lý Đây là căn cứ để bên giao đại lý lập Hóa đơn GTGT hoặc Hóa đơn bán hàng cho hàng đã tiêu thụ, đồng thời cũng là cơ sở để bên nhận đại lý lập Hóa đơn GTGT hoặc Hóa đơn bán hàng để thu tiền hoa hồng từ bên giao đại lý.
- Hóa đơn cước phí vận chuyển
- Các chứng từ thanh toán gồm Phiếu thu, phiếu chi, giấy báo nợ, giấy báo có của ngân hàng,
3.4.2 Tài khoản kế toán sử dụng
* Tài khoản 511 - “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”
Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán
Theo Thông tư số 200/TT-BTC, doanh thu được định nghĩa là lợi ích kinh tế làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, không bao gồm phần đóng góp của cổ đông Doanh thu được ghi nhận khi giao dịch phát sinh và khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phụ thuộc vào việc đã thu tiền hay chưa.
Kết cấu tài khoản TK 511:
- Các khoản thuế gián thu phải nộp (GTGT, TTĐB, XK, BVMT);
- Doanh thu hàng bán bị trả lại kết chuyển cuối kỳ;
- Khoản giảm giá hàng bán kết chuyển cuối kỳ;
- Khoản chiết khấu thương mại kết chuyển cuối kỳ;
- Kết chuyển doanh thu thuần vào tài khoản 911 - Xác định kết quả kinh doanh
Doanh thu bán sản phẩm, hàng hoá, bất động sản đầu tƣ và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp thực hiện trong kỳ kế toán
Tài khoản 511 không có số dƣ cuối kỳ
Tài khoản 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, có 6 tài khoản cấp 2:
Tài khoản 5111 - Doanh thu bán hàng hoá được sử dụng để ghi nhận doanh thu và doanh thu thuần từ khối lượng hàng hoá đã bán trong một kỳ kế toán Tài khoản này chủ yếu áp dụng cho các ngành kinh doanh hàng hoá, vật tư và lương thực.
Tài khoản 5112 - Doanh thu bán các thành phẩm, được sử dụng để ghi nhận doanh thu và doanh thu thuần từ khối lượng sản phẩm (thành phẩm, bán thành phẩm) đã bán trong một kỳ kế toán Tài khoản này chủ yếu áp dụng cho các ngành sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp, xây lắp, ngư nghiệp và lâm nghiệp.
Tài khoản 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ phản ánh doanh thu và doanh thu thuần từ khối lượng dịch vụ đã hoàn thành và cung cấp cho khách hàng trong một kỳ kế toán Tài khoản này chủ yếu áp dụng cho các ngành kinh doanh dịch vụ như giao thông vận tải, bưu điện, du lịch, dịch vụ công cộng, dịch vụ khoa học, kỹ thuật, cũng như dịch vụ kế toán và kiểm toán.
Tài khoản 5114 - Doanh thu trợ cấp, trợ giá phản ánh doanh thu từ các khoản trợ cấp và trợ giá của Nhà nước dành cho doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ cung cấp sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước.
Tài khoản 5117 phản ánh doanh thu từ hoạt động kinh doanh bất động sản đầu tư, bao gồm doanh thu cho thuê và doanh thu từ việc bán, thanh lý bất động sản đầu tư.
Tài khoản 5118 - Doanh thu khác được sử dụng để ghi nhận các khoản doanh thu ngoài doanh thu từ bán hàng hóa, bán thành phẩm và cung cấp dịch vụ Nó bao gồm doanh thu từ trợ cấp, trợ giá và hoạt động kinh doanh bất động sản, chẳng hạn như doanh thu từ bán vật liệu, phế liệu, nhượng bán công cụ, dụng cụ và các khoản doanh thu khác.
Tài khoản 511 ghi nhận doanh thu từ sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ, không phân biệt việc đã thu tiền hay chưa.
Doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ không bao gồm các loại thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), thuế xuất khẩu và thuế bảo vệ môi trường, ngay cả khi thuế GTGT được nộp theo phương pháp trực tiếp.
Khi không thể tách số thuế gián thu phải nộp tại thời điểm ghi nhận doanh thu, kế toán sẽ ghi nhận doanh thu bao gồm cả số thuế này và sau đó định kỳ ghi giảm doanh thu tương ứng với số thuế gián thu phải nộp Trong báo cáo kết quả kinh doanh, chỉ tiêu “Doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ” và “Các khoản giảm trừ doanh thu” không bao gồm số thuế gián thu phải nộp trong kỳ, vì thuế gián thu không được xem là một phần của doanh thu.
Trong trường hợp doanh nghiệp đã lập hóa đơn và thu tiền bán hàng nhưng chưa giao hàng cho khách, giá trị hàng hóa này không được coi là doanh thu trong kỳ và không ghi vào tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” Thay vào đó, khoản tiền đã thu sẽ được hạch toán vào bên Có tài khoản 131 “Phải thu của khách hàng” Khi hàng hóa được giao cho khách, doanh nghiệp sẽ hạch toán vào tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” theo giá trị hàng đã giao và đã thu tiền trước, đảm bảo tuân thủ các điều kiện ghi nhận doanh thu.
KẾ TOÁN NHẬP KHẨU HÀNG HÓA
Tổng quan về nhập khẩu hàng hóa
4.1.1 Đặc điểm nhập khẩu hàng hóa
Theo Điều 28, Khoản 1 của Luật Thương mại 2005, nhập khẩu hàng hóa được định nghĩa là quá trình đưa hàng hóa từ nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả việc nhập khẩu từ các khu vực đặc biệt được công nhận là khu vực hải quan riêng theo quy định pháp luật.
Trong nền kinh tế hội nhập toàn cầu, hoạt động ngoại thương, đặc biệt là nhập khẩu, đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối thị trường nội địa với thị trường quốc tế Nhập khẩu không chỉ thúc đẩy phân công lao động và hợp tác quốc tế mà còn phát huy lợi thế so sánh của các quốc gia thông qua chuyên môn hóa Hoạt động này tạo điều kiện cho sự chuyển giao công nghệ, giúp nền kinh tế phát triển nhanh hơn với chi phí và thời gian hợp lý Đồng thời, nhập khẩu hàng hóa cũng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng cách đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của mọi tầng lớp dân cư, đồng thời tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng nhập khẩu và sản xuất trong nước, khuyến khích các nhà sản xuất nâng cao chất lượng và hiệu quả.
Nhập khẩu đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế quốc gia, giúp phát triển các ngành kinh tế chủ chốt và tối ưu hóa lợi thế so sánh của mỗi quốc gia Hoạt động này không chỉ thúc đẩy chuyên môn hóa lao động mà còn cải thiện cán cân thanh toán quốc tế Tuy nhiên, trong quá trình nhập khẩu, các bên tham gia phải tuân thủ các điều kiện thương mại nghiêm ngặt theo luật kinh doanh của từng quốc gia, cũng như các tập quán thương mại và quy định của luật thương mại quốc tế, bao gồm giá cả, phương thức thanh toán và điều kiện giao hàng.
Kinh doanh nhập khẩu là hoạt động thương mại quốc tế, đòi hỏi sự hiểu biết và quan hệ giữa các đối tác, có thể thông qua giao dịch trực tiếp hoặc qua môi giới Các doanh nghiệp với ít mối quan hệ sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động nhập khẩu Tùy thuộc vào năng lực và kinh nghiệm, các bên có thể lựa chọn giữa hai phương thức kinh doanh: nhập khẩu trực tiếp hoặc nhập khẩu ủy thác.
Phương thức nhập khẩu trực tiếp cho phép người mua và người bán hàng hóa giao dịch trực tiếp mà không có sự ràng buộc nào Trong hình thức này, bên mua có thể thực hiện giao dịch mua mà không cần phải bán hàng hóa và ngược lại.
Nhập khẩu trực tiếp là quá trình đơn giản nhưng đòi hỏi bên nhập khẩu phải nghiên cứu thị trường kỹ lưỡng, tìm kiếm đối tác phù hợp và tiến hành đàm phán để ký kết hợp đồng Sau khi hợp đồng được thực hiện, bên nhập khẩu sẽ phải chịu mọi rủi ro và chi phí liên quan đến giao dịch.
* Phương thức nhập khẩu ủy thác
Đây là hình thức kinh doanh trong đó các doanh nghiệp có giấy phép nhập khẩu không trực tiếp đàm phán với nước ngoài, mà phải thông qua một đơn vị nhập khẩu uy tín để thực hiện hoạt động nhập khẩu.
Nhập khẩu ủy thác là một quy trình phức tạp hơn so với nhập khẩu trực tiếp, yêu cầu thực hiện thông qua hai hợp đồng: hợp đồng ủy thác và hợp đồng mua bán ngoại thương Hợp đồng ủy thác xác lập mối quan hệ giữa bên giao và bên nhận ủy thác, theo quy định của luật thương mại trong nước Bên giao nhập khẩu có quyền thực hiện hoạt động nhập khẩu nhưng không trực tiếp tham gia do thiếu uy tín và kinh nghiệm, vì vậy họ ủy thác cho bên nhận nhập khẩu thực hiện giao dịch Sau khi nhận ủy thác, bên nhận sẽ ký hợp đồng mua bán ngoại thương với đối tác nước ngoài Trong mô hình này, doanh nghiệp giao ủy thác phải thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước, trong khi doanh nghiệp nhận ủy thác chỉ đóng vai trò đại lý và nhận hoa hồng theo thỏa thuận trong hợp đồng.
4.1.2 Các phương thức thanh toán trong nhập khẩu hàng hóa
Phương thức thanh toán là yếu tố quan trọng nhất trong hợp đồng mua bán ngoại thương, đặc biệt trong lĩnh vực nhập khẩu hàng hóa Đây là quá trình tổ chức việc thanh toán giữa người nhập khẩu và người bán, đảm bảo rằng người bán nhận được tiền nhanh chóng và đầy đủ, trong khi người mua nhận hàng đúng số lượng, chất lượng và thời hạn đã thỏa thuận Trong thương mại quốc tế, có nhiều phương thức thanh toán khác nhau để đáp ứng nhu cầu của cả hai bên.
Các phương thức thanh toán quốc tế dùng trong hoạt động nhập khẩu thường bao gồm:
Phương thức chuyển tiền (Remittance Transfer) cho phép khách hàng yêu cầu ngân hàng chuyển một khoản tiền cụ thể đến một người hưởng lợi tại một địa điểm nhất định Thanh toán chuyển tiền được chia thành hai loại.
Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer - T/T) là phương thức chuyển tiền nhanh chóng nhưng có chi phí cao Hiện nay, hầu hết các giao dịch chuyển tiền đều được thực hiện qua mạng SWIFT, mang lại sự tiện lợi và hiệu quả cho người sử dụng.
+ Chuyển tiền bằng thƣ (Mail Transfer - M/T): Chi phí thấp hơn chuyển tiền bằng điện nhƣng tốc độ chậm hơn
Phương thức ghi sổ là cách mà người bán mở tài khoản để ghi nợ người mua sau khi hoàn tất giao hàng hoặc dịch vụ, với việc thanh toán diễn ra theo định kỳ (tháng, năm, quý) Điểm nổi bật của phương thức này là không có sự tham gia của ngân hàng, chỉ có hai bên là người mua và người bán Phương thức ghi sổ thường được áp dụng trong nghiệp vụ gia công và buôn bán đối lưu hàng đổi hàng, đồng thời yêu cầu sự tin cậy cao từ người xuất khẩu đối với người nhập khẩu.
Phương thức nhờ thu là hình thức thanh toán quốc tế, trong đó người bán thực hiện nghĩa vụ giao hàng hoặc cung cấp dịch vụ, sau đó ủy thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền từ người mua dựa trên hối phiếu do người bán lập.
Phương thức thanh toán bằng thư tín dụng (Letter of Credit) là một thỏa thuận ngân hàng, trong đó ngân hàng mở thư tín dụng sẽ trả một số tiền nhất định cho người hưởng lợi khi họ xuất trình bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các quy định trong thư tín dụng Người mở thư tín dụng yêu cầu ngân hàng thực hiện giao dịch này, đảm bảo sự an toàn và tin cậy trong các giao dịch thương mại quốc tế.
Phương thức tín dụng chứng từ là lựa chọn phổ biến nhất trong các hình thức thanh toán, nhờ vào những ưu điểm nổi bật của nó trong việc bảo vệ quyền lợi cho cả người nhập khẩu và xuất khẩu trong hợp đồng.
4.1.3 Điều kiện cơ sở giao hàng và giá trong hợp đồng nhập khẩu
Quy định kế toán nhập khẩu hàng hóa
4.2.1 Xác định giá gốc của hàng hóa nhập khẩu
Nguyên tắc giá gốc là yếu tố then chốt trong việc ghi nhận giá trị hàng nhập khẩu, được xác định theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 (VAS 02) về "Hàng tồn kho" và Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS 01) về "Chuẩn mực chung".
Giá gốc hàng nhập khẩu là tổng chi phí để sở hữu hàng hóa ở trạng thái hiện tại, bao gồm giá mua, thuế không hoàn lại, chi phí vận chuyển, bốc xếp và bảo quản trong quá trình mua Ngoài ra, các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến việc mua hàng tồn kho cũng được tính vào Tuy nhiên, các khoản chiết khấu thương mại và giảm giá do hàng hóa không đúng quy cách hoặc phẩm chất sẽ được trừ khỏi tổng chi phí mua.
Xác định trị giá hàng nhập khẩu:
Trong trường hợp hàng nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ sẽ xác định trị giá mua của hàng nhập khẩu bao gồm: trị giá mua hàng hóa, thuế nhập khẩu, các loại thuế khác như thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), thuế bảo vệ môi trường (BVMT), cùng với các chi phí trực tiếp phát sinh trong quá trình nhập khẩu.
Trị giá thực tế của hàng nhập khẩu
Trị giá phải thanh toán cho người xuất khẩu
Các khoản thuế không đƣợc hoàn lại
Chi phí phát sinh trong khâu nhập khẩu
Trị giá phải thanh toán cho người xuất khẩu = Trị giá ghi trên hóa đơn thương mại × Tỷ giá ngoại tệ
Thuế nhập khẩu được thực hiện theo Điều 5 của Luật Thuế xuất, nhập khẩu số 107/2016/QH13, ban hành ngày 06 tháng 4 năm 2017, cùng với biểu thuế suất quy định cho từng mặt hàng và ngành hàng Trị giá tính thuế được quy đổi ra Việt Nam đồng theo quy định tại Khoản 3, Điều 21 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015, dựa trên giá CIF trong từng khung thuế quy định.
Thuế nhập khẩu phải nộp
Số lƣợng hàng hóa nhập khẩu ghi trên tờ khai hải quan ×
Giá tính thuế của từng mặt hàng nhập khẩu ×
Thuế suất thuế nhập khẩu
Chi phí phát sinh trong nhập khẩu bao gồm lệ phí thanh toán, lệ phí ngân hàng, lệ phí sửa đổi L/C, phí thuê kho bến bãi và phí lưu kho Đối với hàng hóa nhập khẩu theo điều kiện FOB, cần tính thêm phí vận tải ngoài nước và phí bảo hiểm Nếu hàng nhập khẩu được thực hiện qua hình thức ủy thác, còn có hoa hồng phải trả cho bên ủy thác nhập khẩu.
Trong trường hợp hàng nhập khẩu thuộc đối tượng tính thuế GTGT, doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp Nếu hàng hóa không thuộc đối tượng tính thuế GTGT hoặc được sử dụng cho các hoạt động sự nghiệp, dự án, văn hóa phúc lợi, và được thanh toán bằng các nguồn kinh phí khác, thì trị giá mua của hàng nhập khẩu sẽ được xác định theo quy định cụ thể.
Trị giá thực tế của hàng nhập khẩu
Trị giá phải thanh toán cho người xuất khẩu
Chi phí phát sinh trong khâu nhập khẩu
Thuế GTGT của hàng nhập khẩu
Trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu những mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt Trị giá hàng hoá nhập khẩu bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt
4.2.2 Ghi nhận các giao dịch nhập khẩu liên quan đến ngoại tệ
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 10 và Thông tư 200/2014/TT-BTC, giao dịch bằng ngoại tệ trong hoạt động nhập khẩu cần được hạch toán và ghi nhận theo tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch Việc quy đổi ngoại tệ sang Đồng Việt Nam hoặc đơn vị tiền tệ kế toán phải dựa trên tỷ giá giao dịch thực tế khi thực hiện mua bán ngoại tệ, bao gồm các hợp đồng như hợp đồng giao ngay, kỳ hạn, tương lai, quyền chọn và hoán đổi Tỷ giá này được xác định trong hợp đồng giữa doanh nghiệp và Ngân hàng thương mại, trong khi đối với các giao dịch thanh toán ngay bằng ngoại tệ, tỷ giá thực tế là tỷ giá mua của Ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thực hiện giao dịch.
Kế toán nhập khẩu hàng hóa trực tiếp
4.3.1 Chứng từ kế toán sử dụng
Nhập khẩu hàng hóa sử dụng các chứng từ để ghi chép thông tin gồm các chứng từ phát sinh trong nước và ngoài nước
Bộ chứng từ thanh toán của hàng nhập khẩu, tùy theo điều kiện của thƣ tín dụng, bao gồm các chứng từ chủ yếu sau:
- Hóa đơn thương mại (Invoice);
- Vận tải đơn (Bill of Lading) (B/L), (Bill of Air) (B/A),
- Chứng từ bảo hiểm (Insurance Policy)
Ngoài ra theo chứng từ hợp đồng xuất nhập khẩu và theo quy định trong thƣ tín dụng, bộ chứng từ thanh toán còn có:
- Giấy chứng nhận chất lƣợng (Certificate of Quality);
- Bảng kê đóng gói bao bì (Packing Lits);
- Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Certificate of Original);
- Giấy chứng nhận kiểm dịch đối với hàng nông sản thực phẩm;
Hoặc các tài liệu khác kèm theo nhƣ biên bản quyết toán với chủ phương tiện, biên bản hư hỏng tổn thất,
Ngoài bộ chứng từ thanh toán, còn có các chứng từ sau:
- Biên lai thu thuế, tờ khai hải quan
- Phiếu nhập kho, biên lai lệ phí,
- Các chứng thanh toán phiếu chi, báo nợ, báo có của ngân hàng
4.3.2 Tài khoản kế toán sử dụng
Kế toán nhập khẩu hàng hóa trực tiếp sử dụng các tài khoản chủ yếu sau:
TK 151 - Hàng mua đang đi đường, dùng phản ánh trị giá hàng nhập khẩu đã nhận nhƣng chƣa chuyển về nhập kho
TK 156 - Hàng hóa, dùng để phản ánh trị giá hàng nhập khẩu nhập kho
TK 331 - Phải trả người bán (Chi tiết theo từng người xuất khẩu) dùng theo dõi tình hình thanh toán giữa bên nhập khẩu với người xuất khẩu hàng hóa
TK 112 - Tiền gửi ngân hàng
TK 244 - Cầm cố, thế chấp, ký quỹ, ký cƣợc, dùng để phản ánh số tiền ký quỹ mở thƣ tín dụng nhập khẩu
Và các tài khoản khác nhƣ TK 333 (33312), 635, 515,
4.3.3 Phương pháp kế toán nhập khẩu hàng hóa trực tiếp
• Khi mở L/C nhập khẩu phải ký quỹ mở thƣ tín dụng, kế toán ghi:
- Mua ngoại tệ hoặc vay ngoại tệ ký quỹ:
Nợ TK 244 - Cầm cố, thế hấp, ký quỹ, ký cƣợc (TGTT)
Có TK 341 - Vay và nợ thuê tài chính (TGTT)
- Chuyển ngoại tệ đi ký quỹ, kế toán ghi:
Nợ TK 244 - Cầm cố, thế hấp, ký quỹ, ký cƣợc (TGTT)
Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (Chênh lệch lỗ tỷ giá)
Có TK 112 (1122) - Tiền gửi ngân hàng (TGGS)
Có TK 515 - Doanh thu hoạt động tài chính (Chênh lệch lãi tỷ giá)
• Khi nhận đƣợc bộ chứng từ hàng hóa và các chứng từ thanh toán đã trả tiền cho người xuất khẩu, kế toán ghi:
Nợ TK 151 - Hàng mua đang đi đường (trị giá hàng nhập khẩu tỷ giá thực tế)
Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (Chênh lệch lỗ tỷ giá)
Có TK 244 - Cầm cố, thế hấp, ký quỹ, ký cƣợc (TGGS)
Có TK 112 (1122) - Tiền gửi ngân hàng (TGGS)
Có TK 515 - Doanh thu hoạt động tài chính (Chênh lệch lãi tỷ giá)
• Khi nhận đƣợc bộ chứng từ hàng hóa và thanh toán trả chậm, kế toán ghi:
Nợ TK 151 - Hàng mua đang đi đường (trị giá hàng nhập khẩu tỷ giá thực tế)
Có TK 331 - Phải trả người bán (Chi tiết người xuất khẩu)
- Khi thanh toán tiền cho người xuất khẩu, kế toán ghi:
Nợ TK 331 - Phải trả người bán (Chi tiết người xuất khẩu) (TGGS)
Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (Chênh lệch lỗ tỷ giá)
Có TK 112 (1122) -Tiền gửi ngân hàng (TGGS)
Có TK 515 - Doanh thu hoạt động tài chính (Chênh lệch lãi tỷ giá)
- Căn cứ vào biên lai tính thuế nhập khẩu phải nộp, kế toán ghi:
Nợ TK 151 - Hàng mua đang đi đường
Có TK 3333, 3332, 3338 - Thuế và các khoản phải nộp nhà nước
- Thuế GTGT của hàng nhập khẩu, kế toán ghi:
+ Hàng nhập khẩu dùng vào SXKD chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc không thuộc đối tƣợng tính thuế GTGT, thuế GTGT của hàng nhập khẩu ghi:
Nợ TK 151 - Hàng mua đang đi đường
Có TK 333 (33312) - Thuế và các khoản phải nộp nhà nước
+ Hàng nhập khẩu dùng vào SXKD chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, thuế GTGT của hàng nhập khẩu ghi:
Nợ TK 1332 - Hàng mua đang đi đường
Có TK 333 (33312) - Thuế và các khoản phải nộp nhà nước
- Khi nộp thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT của hàng nhập khẩu, thuế Bảo vệ môi trường kế toán ghi:
Nợ TK 3333, 3333, 33312, 3338 - Thuế và các khoản phải nộp nhà nước
- Trường hợp mua hàng nhập khẩu tham gia hội chợ, triển lãm, hàng từ khu chế xuất, căn cứ vào CTKT ghi:
Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (Chênh lệch lỗ tỷ giá)
Có TK 112 (1122) -Tiền gửi ngân hàng (TGGS)
Có TK 515 - Doanh thu hoạt động tài chính (Chênh lệch lãi tỷ giá)
- Các khoản chi phí trong khâu nhập khẩu, kế toán ghi:
Nợ TK 156 - Hàng hóa (TGTT)
Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (Chênh lệch lỗ tỷ giá)
Có TK 112 (1122) -Tiền gửi ngân hàng (TGGS)
Có TK 515 - Doanh thu hoạt động tài chính (Chênh lệch lãi tỷ giá) + Chi bằng tiền Việt Nam:
Nợ TK 133 - Thuế GTGT đƣợc khấu trừ
- Khi hàng nhập khẩu chuyển về nhập kho, kế toán ghi:
Có TK 151 - Hàng mua đang đi đường
- Trường hợp hàng nhập khẩu chuyển bán thẳng hoặc bán trực tiếp ngay tại cảng:
Nợ TK 157 - Hàng gửi đi bán
Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán
Có TK 151 - Hàng mua đang đi đường
Kế toán nhập khẩu hàng hóa ủy thác
4.4.1 Quy định trong nhập khẩu hàng hóa ủy thác
Hoạt động ủy thác nhập khẩu được thực hiện thông qua hợp đồng ủy thác, trong đó quy định rõ phạm vi và quyền hạn của các bên tham gia, bao gồm bên giao ủy thác và bên nhận ủy thác, theo quy định của Luật Thương mại năm 2005.
Bên giao ủy thác nhập khẩu là bên có quyền pháp lý thực hiện hoạt động nhập khẩu thông qua giấy phép, hạn ngạch hoặc sự ủy quyền của nhà nước, nhưng không trực tiếp tham gia vào quá trình này Việc xác định quyền và nghĩa vụ cơ bản của bên giao nhập khẩu rất quan trọng trong hoạt động thương mại.
* Quyền và nghĩa vụ của bên giao nhập khẩu ủy thác theo điều 163, Luật Thương mại 2005:
Bên nhận ủy thác cần thông báo đầy đủ về tình hình thực hiện hợp đồng ủy thác, đồng thời cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết cho việc thực hiện hợp đồng Bên uỷ thác có trách nhiệm trả thù lao và các chi phí hợp lý khác cho bên nhận ủy thác, cũng như giao tiền và hàng hóa theo đúng thỏa thuận Ngoài ra, hai bên cần liên đới chịu trách nhiệm nếu bên nhận ủy thác vi phạm pháp luật do nguyên nhân từ bên uỷ thác gây ra hoặc do các bên cố ý làm trái pháp luật.
Theo Điều 164, Luật Thương mại 2005, bên giao ủy thác có quyền yêu cầu bên uỷ thác cung cấp thông tin cần thiết để thực hiện hợp đồng, nhận thù lao và các chi phí hợp lý khác, đồng thời không chịu trách nhiệm về hàng hoá đã bàn giao đúng thỏa thuận Bên giao ủy thác cũng có nghĩa vụ thực hiện mua bán hàng hóa theo thỏa thuận, thông báo cho bên uỷ thác về các vấn đề liên quan, thực hiện các chỉ dẫn phù hợp, bảo quản tài sản và tài liệu được giao, giữ bí mật thông tin liên quan, và giao tiền, hàng theo đúng thỏa thuận Ngoài ra, bên giao ủy thác liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên ủy thác nếu có phần lỗi của mình trong nguyên nhân vi phạm đó.
4.4.2 Chứng từ kế toán sử dụng
Theo quy định hiện hành, bên uỷ thác nhập khẩu chuyển quyền nhập khẩu cho bên nhận uỷ thác thông qua hợp đồng uỷ thác nhập khẩu Bên nhận uỷ thác có trách nhiệm thực hiện dịch vụ nhập khẩu, kê khai và nộp thuế liên quan đến hàng nhập khẩu, đồng thời lưu giữ các chứng từ cần thiết như hợp đồng uỷ thác, hợp đồng nhập khẩu hàng hoá, hoá đơn thương mại, phiếu đóng gói hàng hóa và vận đơn do bên vận chuyển cấp.
Tờ khai hải quan và biên lai nộp thuế là những tài liệu quan trọng trong quá trình giao dịch Bên nhận ủy thác sẽ đại diện cho bên giao ủy thác để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho ngân sách nhà nước, tuy nhiên, trách nhiệm nộp thuế vẫn thuộc về bên giao ủy thác Trong trường hợp này, bên nhận ủy thác chỉ ghi nhận số tiền thuế đã nộp vào ngân sách nhà nước như một khoản chi hộ cho bên giao ủy thác.
Khi bên nhận ủy thác nhập khẩu nhận hàng từ bên giao ủy thác, họ phải chuyển giao các chứng từ liên quan đến lô hàng và lập Hóa đơn GTGT, trong đó nêu rõ tổng giá thanh toán bao gồm giá mua theo Hóa đơn thương mại, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng theo thông báo thuế của cơ quan Hải quan Hóa đơn này là cơ sở để bên giao ủy thác tính thuế đầu vào.
Khi giao hàng cho bên giao ủy thác, bên nhận ủy thác cần lập hóa đơn hoa hồng ủy thác bên cạnh hóa đơn trả hàng Hóa đơn hoa hồng ủy thác sẽ ghi rõ tỷ lệ hoa hồng mà bên nhận ủy thác được hưởng, dựa trên trị giá lô hàng nhập khẩu và mức độ ủy thác.
4.4.3 Tài khoản kế toán sử dụng
Kế toán nhập khẩu hàng hóa ủy thác tại bên giao ủy thác sử dụng các tài khoản để ghi nhận hoạt động tương tự như nhập khẩu trực tiếp Ngoài ra, bên giao ủy thác còn sử dụng tài khoản 331, chi tiết theo đơn vị nhận ủy thác, để phản ánh số tiền và hàng hóa mà bên giao ủy thác thanh toán theo hợp đồng ủy thác.
Kế toán nhập khẩu hàng hóa ủy thác ở bên nhận nhập khẩu sử dụng các tài khoản chủ yếu sau:
TK 131 (Chi tiết theo đơn vị giao ủy thác) được sử dụng để ghi nhận các khoản tiền nhận từ bên giao ủy thác nhằm phục vụ cho việc nhập khẩu hàng hóa, thanh toán các khoản thuế, chi phí và giá trị hàng nhập khẩu.
- TK 331 (Chi tiết theo từng người xuất khẩu), dùng để theo dõi tình hình thanh toán giữa bên nhận ủy thác nhập khẩu với người xuất khẩu hàng hóa
- TK 511(5113) - Doanh thu cung cấp dịch vụ, dùng phản ánh hoa hồng ủy thác được hưởng
- TK 333 (3331, 3332, 3333) đƣợc dùng phản ánh thuế GTGT của hàng nhập khẩu, thuế TTĐB, thuế nhập khẩu nộp hộ cho bên giao ủy thác
Ngoài ra, kế toán nhận ủy thác nhập khẩu còn sử dụng các TK 111,
4.4.4 Phương pháp kế toán nhập khẩu hàng hóa ủy thác
4.4.4.1 Kế toán bên giao ủy thác nhập khẩu hàng hóa
Khi thực hiện việc trả trước tiền ủy thác mua hàng theo hợp đồng ủy thác nhập khẩu cho đơn vị nhận ủy thác, cần căn cứ vào các chứng từ liên quan để ghi chép chính xác.
Nợ TK 331 - Phải trả cho người bán (chi tiết cho từng đơn vị nhận ủy thác)
Nợ TK 635 - Lỗ tỷ giá (nếu có)
Có TK 515- Lãi tỷ giá (nếu có)
Khi nhận hàng uỷ thác nhập khẩu do bên nhận uỷ thác giao trả, kế toán thực hiện như đối với hàng nhập khẩu thông thường:
- Phản ánh trị giá hàng nhập khẩu:
Nợ các TK 151, 152,153, 156, 211, 611,… (trị giá hàng nhập khẩu theo tỷ giá thực tế)
Có TK 331 - Phải trả người bán (đơn vị nhận uỷ thác) (tiền phải trả cho bên nhận ủy thác)
Khi nhận thông báo về nghĩa vụ nộp thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường từ bên nhận ủy thác, bên giao ủy thác cần ghi nhận số thuế nhập khẩu phải nộp.
Có TK 333 (3332) - Thuế tiêu thụ đặc biệt
Có TK 333 (3333) - Thuế xuất, nhập khẩu (chi tiết thuế nhập khẩu)
Có TK 3338 (33381) - Thuế bảo vệ môi trường
Khi nhận thông báo về nghĩa vụ nộp thuế GTGT cho hàng nhập khẩu từ bên nhận ủy thác, bên giao ủy thác cần ghi nhận số thuế GTGT hàng nhập khẩu phải nộp.
+ Nếu thuế GTGT đầu vào của hàng nhập khẩu đƣợc khấu trừ, ghi:
Nợ TK 133 - Thuế GTGT đƣợc khấu trừ (1331, 1332)
Có TK 3331 - Thuế GTGT phải nộp (33312)
+ Nếu thuế GTGT đầu vào của hàng nhập khẩu không đƣợc khấu trừ, ghi:
Có TK 3331 - Thuế GTGT phải nộp (33312)
Khi bên nhận ủy thác nhận chứng từ nộp thuế vào ngân sách nhà nước (NSNN), bên giao ủy thác sẽ ghi nhận việc giảm nghĩa vụ thuế đối với các khoản thuế phải nộp liên quan đến hàng nhập khẩu.
Nợ TK 333 (33312, 3332, 3333, 33381): Ghi giảm số thuế phải nộp NSNN
Có các TK 111, 112 (nếu trả tiền ngay cho bên nhận ủy thác)
Có TK 3388 - Phải trả, phải nộp khác (đơn vị nhận uỷ thác) (nếu chƣa thanh toán ngay tiền thuế của hàng nhập khẩu cho bên nhận ủy thác)
TK 1388 - Phải thu khác (đơn vị nhận ủy thác) ghi nhận việc giảm số tiền đã ứng cho bên nhận ủy thác để thanh toán các khoản thuế liên quan đến hàng nhập khẩu.
KẾ TOÁN XUẤT KHẨU HÀNG HÓA
Tổng quan về kế toán xuất khẩu hàng hóa
5.1.1 Đặc điểm xuất khẩu hàng hóa
5.1.1.1 Các phương thức xuất khẩu
Xuất khẩu là quá trình cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ ra nước ngoài, sử dụng tiền tệ làm phương tiện thanh toán Hoạt động này dựa trên việc mua bán và trao đổi hàng hóa, bao gồm cả hàng hóa hữu hình và vô hình trong nước Khi sản xuất phát triển và việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia mang lại lợi ích, hoạt động xuất khẩu sẽ mở rộng ra ngoài biên giới quốc gia và thị trường nội địa, bao gồm cả khu chế xuất trong nước.
Xuất khẩu là hoạt động quan trọng trong ngoại thương, đã tồn tại từ lâu và ngày càng phát triển mạnh mẽ về cả quy mô và hình thức Ban đầu, xuất khẩu chỉ đơn thuần là trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia, nhưng hiện nay đã trở nên đa dạng và phức tạp hơn Hoạt động này diễn ra toàn cầu, bao trùm mọi ngành nghề và lĩnh vực kinh tế, bao gồm cả hàng hóa hữu hình và vô hình, với tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Hoạt động xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển quốc gia, kết nối sản xuất và tiêu dùng toàn cầu Xuất khẩu không chỉ mở rộng thị trường cho sản phẩm trong nước mà còn tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, hỗ trợ các mục tiêu kinh tế - đối ngoại của nhà nước Doanh nghiệp xuất nhập khẩu có thể lựa chọn giữa hai phương thức xuất khẩu: xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu ủy thác, tùy thuộc vào khả năng và điều kiện thực tế của mình.
* Phương thức xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là phương thức xuất khẩu mà doanh nghiệp được Bộ Công Thương cấp giấy phép, cho phép họ tự đàm phán, ký kết hợp đồng, giao hàng và thanh toán với đối tác nước ngoài Doanh nghiệp có thể xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ do chính mình sản xuất hoặc mua từ các đơn vị trong nước và nước ngoài Để thực hiện xuất khẩu trực tiếp, doanh nghiệp cần có nguồn vốn lớn, đội ngũ nhân viên có năng lực và phải tự tìm kiếm đối tác, định đoạt giá cả, chọn phương thức thanh toán và xác định phạm vi kinh doanh theo chính sách quản lý xuất khẩu của nhà nước Mặc dù xuất khẩu trực tiếp có thể gia tăng rủi ro kinh doanh, nhưng nó cũng mang lại nhiều ưu điểm nổi bật.
- Giảm bớt chi phí trung gian do đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Liên hệ thường xuyên với khách hàng và thị trường nước ngoài giúp nắm bắt kịp thời nhu cầu và tình hình của họ, từ đó điều chỉnh sản phẩm và các điều kiện bán hàng cho phù hợp.
* Phương thức xuất khẩu ủy thác
Xuất khẩu ủy thác là phương thức xuất khẩu dành cho các doanh nghiệp được cấp giấy phép nhưng thiếu kinh nghiệm hoặc khả năng trực tiếp giao dịch với thị trường quốc tế Doanh nghiệp xuất khẩu ủy thác sẽ đóng vai trò trung gian, ký kết hợp đồng mua bán và thực hiện các thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng hóa cho nhà sản xuất, nhận hoa hồng theo tỷ lệ phần trăm giá trị lô hàng Hợp đồng ủy thác xuất khẩu được ký giữa bên giao ủy thác và bên nhận ủy thác, trong đó bên nhận ủy thác sẽ thực hiện giao dịch thương mại quốc tế Phương thức này có ưu điểm là rủi ro thấp, không cần vốn đầu tư lớn và tạo việc làm cho người lao động, trong khi trách nhiệm về tranh chấp thuộc về nhà sản xuất.
Phương thức xuất khẩu uỷ thác có nhược điểm là cần qua trung gian và phải trả một tỷ lệ hoa hồng nhất định, đồng thời thông tin về thị trường thường bị chậm trễ Do đó, doanh nghiệp cần lựa chọn phương thức xuất khẩu phù hợp với khả năng của mình nhằm đạt hiệu quả cao, tiết kiệm chi phí, thu hồi vốn nhanh, tăng doanh số bán hàng và mở rộng thị trường trong quá trình xuất nhập khẩu.
Doanh nghiệp có thể lựa chọn giữa hai hình thức xuất nhập khẩu: trực tiếp hoặc ủy thác, và cũng có thể kết hợp cả hai phương thức này để tối ưu hóa hoạt động kinh doanh.
5.1.1.2 Điều kiện, cơ sở giao hàng và giá bán hàng xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu yêu cầu tuân thủ các điều kiện giao hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng mua bán ngoại thương, với thời điểm giao hàng được xác định theo các điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms) Theo quy định của Incoterms 2010, có 11 điều kiện giao hàng, phản ánh thực trạng thương mại hiện tại và phù hợp với các loại hình vận tải khác nhau, giúp các bên tham gia xuất nhập khẩu lựa chọn điều kiện phù hợp với thực tiễn thương mại của mình.
Trong buôn bán quốc tế, giá cả hàng hóa rất phức tạp do sự mua bán giữa các quốc gia và khu vực khác nhau, kéo dài qua nhiều thời gian và chịu ảnh hưởng từ các chính sách thuế khác nhau Giá cả hàng hóa bao gồm nhiều yếu tố như giá trị hàng hóa, bao bì, chi phí vận chuyển, chi phí bảo hiểm và các khoản chi phí khác tùy thuộc vào điều kiện giao hàng đã thỏa thuận Theo thông lệ quốc tế, giá hàng hóa xuất khẩu luôn gắn liền với điều kiện giao hàng tương ứng.
Khi giao hàng theo điều kiện CIF (Cost, Insurance, Freight), giá giao hàng sẽ bao gồm chi phí hàng hóa, phí bảo hiểm và cước vận chuyển đến cảng dỡ hàng của nước nhập khẩu.
Giao hàng theo điều kiện EXW (EX Works) có nghĩa là giá giao hàng tại xưởng của người bán Theo điều kiện này, người bán sẽ chuyển giao hàng hóa cho người mua tại địa điểm của mình, nhưng hàng hóa chưa được làm thủ tục thông quan xuất khẩu và chưa được bốc lên phương tiện vận chuyển Điều này có nghĩa là người mua sẽ phải chịu mọi chi phí và rủi ro từ thời điểm nhận hàng tại cơ sở của người bán, trừ khi có thỏa thuận khác.
Khi áp dụng điều kiện giao hàng FCA (Free Carrier), người bán chịu trách nhiệm và chi phí cho hàng hóa cho đến khi hàng được giao cho người vận chuyển do người mua chỉ định Sau khi hoàn tất thủ tục thông quan xuất khẩu, người bán sẽ chuyển hàng cho người vận chuyển tại địa điểm đã thỏa thuận Nếu giao hàng tại cơ sở của người bán, họ sẽ đảm nhận việc bốc hàng, nhưng nếu giao tại địa điểm khác, người bán không có trách nhiệm dỡ hàng Điều kiện FCA có thể được sử dụng cho tất cả các phương thức vận chuyển, bao gồm cả vận tải đa phương thức.
Theo điều kiện FAS (Free Alongside Ship), người bán phải thực hiện thủ tục thông quan xuất khẩu cho hàng hóa, trừ khi có thỏa thuận khác Người bán sẽ chịu mọi trách nhiệm và chi phí cho đến khi hàng hóa được đặt dọc mạn tàu tại cảng do người mua chỉ định Điều kiện này chỉ áp dụng cho vận tải đường biển và đường thủy nội địa.
Khi giao hàng theo điều kiện FOB (Free on Board), người bán chịu trách nhiệm hoàn tất các thủ tục thông quan xuất khẩu và chi phí cho đến khi hàng hóa được chuyển qua lan can tàu tại cảng bốc hàng do người mua chỉ định Điều kiện này chỉ áp dụng cho vận tải đường biển hoặc đường thủy nội địa Nếu các bên không muốn giao hàng qua lan can tàu, điều kiện FCA nên được sử dụng.
Kế toán xuất khẩu trực tiếp
5.2.1 Chứng từ kế toán sử dụng
Kế toán xuất khẩu trực tiếp sử dụng các chứng từ sau:
Hóa đơn thương mại là tài liệu quan trọng ghi nhận tổng giá trị của lô hàng xuất khẩu, đóng vai trò căn cứ thanh toán giữa bên mua và bên bán Nó cũng là cơ sở thiết yếu để xác định trị giá hàng hóa trên tờ khai hải quan, từ đó tính toán các loại thuế xuất khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt.
Vận tải đơn (Bill of lading - B/L, bill of air - B/A) là chứng từ quan trọng trong lĩnh vực vận chuyển hàng hóa, được người chuyên chở phát hành cho người gửi hàng Chứng từ này xác nhận rằng người chuyên chở đã nhận hàng và cam kết vận chuyển hàng hóa theo yêu cầu của người gửi.
Chứng từ này là căn cứ để xác định chi phí vận chuyển hàng hóa
Chứng từ bảo hiểm là tài liệu do tổ chức bảo hiểm cấp cho người được bảo hiểm, nhằm hợp thức hóa hợp đồng bảo hiểm và điều tiết mối quan hệ giữa hai bên Trong đó, tổ chức bảo hiểm cam kết bồi thường cho những tổn thất phát sinh từ các rủi ro đã thỏa thuận, trong khi người được bảo hiểm phải thanh toán phí bảo hiểm Các chứng từ bảo hiểm thường gặp bao gồm đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm, đóng vai trò quan trọng trong việc xác định chi phí bảo hiểm hàng hóa.
Giấy thông báo thuế là chứng từ do Hải quan cấp dựa trên tờ khai hải quan mà doanh nghiệp tự kê khai Đây là căn cứ quan trọng để xác định số thuế xuất khẩu mà doanh nghiệp cần phải nộp.
Ngoài ra, theo quy định trong thƣ tín dụng, bộ chứng từ thanh toán còn có:
- Giấy chứng nhận chất lƣợng (Certificate of quality);
- Giấy chứng nhận số lƣợng (Certificate of quantity);
- Bảng kê đóng gói bao bì (Packing Lits);
- Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Certificate of Original);
- Giấy chứng nhận kiểm dịch đối với hàng nông sản thực phẩm;
- Giấy phép xuất nhập khẩu;
- Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa,
Trong quá trình vận chuyển hàng hóa, việc sử dụng chứng từ Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ cùng với lệnh điều động nội bộ là rất quan trọng Những chứng từ này đóng vai trò là căn cứ pháp lý để đảm bảo việc lưu thông hàng hóa diễn ra thuận lợi và hợp pháp trên đường.
Khi hàng hóa đã được xuất khẩu, doanh nghiệp thương mại cần lập Hóa đơn thương mại và Bảng kê chi tiết hàng hóa xuất khẩu cho toàn bộ lô hàng Các chứng từ này là cơ sở để ghi nhận doanh thu và thực hiện hoàn thuế xuất khẩu.
Chứng từ thanh toán tiền hàng: giấy báo có, giấy báo nợ, phiếu thu, phiếu chi
5.2.2 Tài khoản kế toán sử dụng
Kế toán xuất khẩu hàng hóa sử dụng các tài khoản sau:
Tài khoản 511 - Doanh thu bán hàng, được sử dụng để ghi chép doanh thu từ hoạt động xuất khẩu Tài khoản này có thể được mở chi tiết cho từng loại doanh thu theo phương thức xuất khẩu, bao gồm doanh thu xuất khẩu trực tiếp, doanh thu xuất khẩu ủy thác và doanh thu dịch vụ xuất khẩu.
Tài khoản 632 - Giá vốn hàng bán, được sử dụng trong hoạt động xuất khẩu để ghi chép và phản ánh trị giá vốn của hàng hóa xuất khẩu đã được tiêu thụ.
- Tài khoản 157 - Hàng gửi đi bán Trong hoạt động xuất khẩu, tài khoản này dùng để ghi chép phản ánh trị giá vốn của hàng gửi đi xuất khẩu
- Tài khoản 131 - Phải thu của khách hàng Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản thu khách hàng từ hoạt động xuất khẩu hàng hóa
Ngoài ra kế toán xuất khẩu hàng hóa còn sử các TK 111 - Tiền mặt,
TK 112 - Tiền gửi ngân hàng, TK 156 - Hàng hóa, TK 515 - Doanh thu hoạt động tài chính, TK 635 - Chi phí tài chính, TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp nhà nước,
5.2.3 Phương pháp kế toán xuất khẩu trực tiếp
- Khi xuất kho hàng gửi xuất khẩu, căn cứ vào phiếu xuất kho hàng xuất khẩu, ghi:
Nợ TK 157 - Hàng gửi đi bán
- Khi mua hàng gửi xuất khẩu ngay, căn cứ vào hóa đơn GTGT hàng mua hoặc HĐBH và các chứng từ thanh toán, ghi:
Nợ TK 157 - Hàng gửi đi bán
Nợ TK 133 - Thuế GTGT đƣợc khấu trừ (nếu có)
- Chi phí phát sinh trong quá trình xuất khẩu
+ Nếu chi bằng tiền Việt Nam, ghi:
Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng
Nợ TK 133 (1331) - Thuế GTGT đƣợc khấu trừ (nếu có)
+ Nếu chi bằng tiền ngoại tệ, ghi:
Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng (TGTT)
Nợ TK 133 (1331) - Thuế GTGT đƣợc khấu trừ (nếu có)
Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (CLTG)
Có TK 515 - Doanh thu hoạt động tài chính (CLTG)
Trường hợp doanh nghiệp vừa và nhỏ có phát sinh các chi phí liên quan đến hàng xuất khẩu, kế toán sử dụng tài khoản 6421 - Chi phí bán hàng
Khi hàng xuất khẩu hoàn tất thủ tục giám định và kiểm nhận, được bốc xếp lên phương tiện vận chuyển tại cảng hoặc ga cửa khẩu theo hợp đồng đã ký, kế toán sẽ ghi nhận giá vốn hàng hóa, đánh dấu việc hoàn tất nghĩa vụ giao hàng theo hợp đồng.
Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán
Có các TK 157 - Hàng gửi đi bán
- Ghi nhận doanh thu hàng xuất khẩu
Nợ TK 131 - Phải thu khách hàng (TGTT)
Có TK 511 - Doanh thu bán hàng (TGTT)
Có TK 333 (3333) - Thuế xuất khẩu phải nộp (đối với trường hợp tách riêng đƣợc thuế xuất khẩu)
Trong trường hợp không thể tách riêng thuế xuất khẩu tại thời điểm ghi nhận doanh thu, cần căn cứ vào giấy thông báo thuế để xác định số thuế xuất khẩu phải nộp.
Nợ TK 511 - Doanh thu bán hàng
Có TK 333 (3333) - Thuế và các khoản phải nộp nhà nước
- Khi nộp thuế xuất khẩu, ghi:
Nợ TK 333 (3333) - Thuế và các khoản phải nộp nhà nước
- Khi doanh nghiệp nhận đƣợc giấy báo có của ngân hàng về thanh toán tiền hàng xuất khẩu, kế toán ghi:
Nợ TK 1122, 1112 - Tiền gửi ngân hàng (TGTT)
Nợ TK 635 - Chi phí tài chính (CLTG)
Có TK 131 - Phải thu của khách hàng (TGGS)
Có TK 515 - Doanh thu hoạt động tài chính (CLTG)
- Khi doanh nghiệp đƣợc xét hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng mua để xuất khẩu, ghi:
Có TK 133 - Thuế GTGT đƣợc khấu trừ
Khi bán hàng cho người nước ngoài tại Việt Nam và thu tiền bằng ngoại tệ (tại một số điểm giao dịch được phép), kế toán cần ghi nhận doanh thu từ hàng xuất khẩu.
Có TK 511 - Doanh thu bán hàng (TGTT)
Kết chuyển giá vốn hàng đã bán:
Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán
Có các TK 156 - Hàng hóa
Kế toán xuất khẩu ủy thác
5.3.1 Quy định trong xuất khẩu ủy thác
Xuất khẩu ủy thác là dịch vụ thương mại giữa bên thuê và bên nhận dịch vụ xuất khẩu, được thực hiện dựa trên hợp đồng ủy thác xuất khẩu giữa các doanh nghiệp Hoạt động này tuân thủ Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 187/2013/NĐ-CP ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2013.
Hoạt động xuất khẩu ủy thác bao gồm hai bên: bên giao ủy thác xuất khẩu, là các doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh trong nước hoặc giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu, và bên nhận ủy thác xuất khẩu, là các doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu Cả hai bên đều có quyền tham gia vào quá trình xuất khẩu ủy thác này.
Xét về phạm vi kinh doanh hàng xuất khẩu ủy thác, bên ủy thác chỉ được ủy thác xuất khẩu những mặt hàng không nằm trong danh sách cấm của nhà nước và phải tuân thủ các quy định trong giấy phép kinh doanh trong nước hoặc giấy phép xuất nhập khẩu Bên ủy thác có quyền lựa chọn bên nhận ủy thác đáp ứng đủ điều kiện theo quy định để ký kết hợp đồng ủy thác.
Bên nhận ủy thác có trách nhiệm cung cấp thông tin về thị trường, giá cả và khách hàng liên quan đến đơn hàng ủy thác xuất khẩu Hai bên sẽ thương lượng và ký hợp đồng ủy thác, trong đó quy định rõ quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi bên Bên ủy thác sẽ thanh toán phí ủy thác cùng các khoản chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện Đặc biệt, bên nhận ủy thác không được phép ủy thác lại cho bên thứ ba mà không có sự chấp thuận bằng văn bản từ bên ủy thác.
Theo Nghị định số 44/2001/NĐ-CP, trong phương thức kinh doanh xuất khẩu ủy thác, bên ủy thác ghi nhận doanh thu từ hàng xuất khẩu và thực hiện nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước, trong khi bên nhận ủy thác chịu trách nhiệm thanh toán thuế xuất khẩu Khoản hoa hồng ủy thác và các chi phí phát sinh trong quá trình ủy thác được ghi nhận vào chi phí bán hàng Bên nhận ủy thác thực hiện xuất khẩu hộ và nhận hoa hồng theo thỏa thuận trong hợp đồng, khoản hoa hồng này được ghi nhận vào doanh thu cung cấp dịch vụ, còn các chi phí xuất khẩu hộ thuộc trách nhiệm của bên nhận ủy thác cũng được ghi nhận vào chi phí bán hàng.
5.3.2 Chứng từ kế toán sử dụng
Theo quy định hiện hành, các chứng từ cần thiết cho bên ủy thác xuất khẩu và bên nhận ủy thác xuất khẩu bao gồm những tài liệu quan trọng Đối với bên ủy thác xuất khẩu, cần chuẩn bị đầy đủ các chứng từ liên quan để đảm bảo quy trình diễn ra suôn sẻ và tuân thủ đúng quy định pháp luật.
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ kèm theo lệnh điều động nội bộ: Các chứng từ này đƣợc lập khi giao hàng cho bên nhận ủy thác
Hóa đơn GTGT cho hàng giao ủy thác xuất khẩu được lập khi hàng hóa đã thực xuất khẩu và có xác nhận của hải quan Hóa đơn này dựa trên các chứng từ đối chiếu về số lượng và giá trị hàng hóa thực tế xuất khẩu của cơ sở nhận ủy thác Với thuế suất 0%, hóa đơn được giao cho bên nhận ủy thác xuất khẩu và là căn cứ kế toán để ghi nhận doanh thu từ hàng ủy thác xuất khẩu.
Hóa đơn GTGT do bên nhận ủy thác lập cho phần hoa hồng ủy thác là chứng từ quan trọng để ghi nhận chi phí hoa hồng và chi phí bán hàng Nó cũng giúp ghi nhận số thuế tính trên hoa hồng ủy thác vào số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, đặc biệt đối với bên nhận ủy thác xuất khẩu.
Là bên nhận ủy thác xuất khẩu trong hợp đồng mua bán ngoại thương, bên này cần lập đầy đủ bộ chứng từ hàng hóa và chứng từ thanh toán như một người xuất khẩu trực tiếp Bên cạnh đó, cần sử dụng các chứng từ liên quan khác để đảm bảo quy trình xuất khẩu diễn ra suôn sẻ.
Hóa đơn GTGT cho hoa hồng ủy thác xuất khẩu được lập khi hoàn tất việc xuất khẩu và nhận hoa hồng với thuế suất 10% Chứng từ này là cơ sở để ghi nhận doanh thu hoa hồng và xác định nghĩa vụ thuế GTGT đầu ra của bên nhận ủy thác xuất khẩu.
Sau khi hoàn tất dịch vụ xuất khẩu, bên nhận ủy thác cần chuyển cho bên ủy thác các chứng từ bao gồm: bản thanh lý hợp đồng ủy thác, một bản sao hóa đơn thương mại xuất cho nước ngoài, và một bản sao tờ khai hàng hóa xuất khẩu có xác nhận thực xuất cùng dấu của cơ quan hải quan cửa khẩu Tất cả các bản sao phải được bên nhận ủy thác ký và đóng dấu Nếu bên nhận ủy thác xuất khẩu hàng hóa cho nhiều đơn vị mà không có hóa đơn và tờ khai hải quan riêng, vẫn cần gửi bản sao cho các đơn vị ủy thác kèm theo bảng kê chi tiết về hàng hóa, số lượng, đơn giá và doanh thu đã xuất cho từng đơn vị.
5.3.3 Tài khoản kế toán sử dụng
Trong giao dịch xuất khẩu ủy thác, kế toán sử dụng các tài khoản chủ yếu sau: Đối với bên ủy thác xuất khẩu:
Tài khoản 511 - Doanh thu bán hàng là tài khoản quan trọng dùng để ghi chép doanh thu hàng xuất khẩu cho bên ủy thác Tài khoản này có thể được mở chi tiết theo từng loại doanh thu, bao gồm doanh thu xuất khẩu trực tiếp, doanh thu xuất khẩu ủy thác và doanh thu dịch vụ xuất khẩu.
Tài khoản 632 - Giá vốn hàng bán được sử dụng trong giao dịch xuất khẩu ủy thác để ghi chép và phản ánh trị giá vốn của hàng hóa xuất khẩu đã tiêu thụ.
Tài khoản 157 - Hàng gửi đi bán được sử dụng trong giao dịch xuất khẩu ủy thác để ghi chép và phản ánh trị giá vốn của hàng hóa được ủy thác xuất khẩu.
Tài khoản 131 - Phải thu của khách hàng được sử dụng trong giao dịch xuất khẩu ủy thác để ghi nhận các khoản thu từ bên nhận ủy thác xuất khẩu liên quan đến tiền hàng ủy thác xuất khẩu.
KẾ TOÁN KẾT QUẢ KINH DOANH VÀ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ
Nội dung và phương pháp xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp kinh doanh thương mại, dịch vụ
Trong bối cảnh kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay, mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, là tối đa hóa lợi nhuận Lợi nhuận không chỉ là chỉ tiêu kinh tế quan trọng phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán, mà còn là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Nó đóng vai trò là nguồn tích lũy, giúp doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng, cải thiện đời sống người lao động, tham gia vào các hoạt động góp vốn, liên doanh, và thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước.
Trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, việc xác định và phân phối kết quả kinh doanh một cách hợp lý và khoa học là điều vô cùng quan trọng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, dịch vụ được xác định theo từng kỳ kế toán (tháng, quý, năm) và phản ánh phần chênh lệch giữa tổng doanh thu, thu nhập và tổng chi phí của các hoạt động kinh doanh trong kỳ đó Nó cũng có thể được hiểu là kết quả cuối cùng của các hoạt động kinh tế đã thực hiện trong một thời gian nhất định, được xác định dựa trên tổng hợp kết quả từ mọi hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp.
Các hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại, dịch vụ bao gồm:
Hoạt động cung cấp dịch vụ đóng vai trò quan trọng trong doanh nghiệp thương mại, thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ cho các đối tượng sử dụng.
Thứ hai, hoạt động tài chính là hoạt động đầu tƣ tài chính ra bên ngoài doanh nghiệp thương mại, dịch vụ với mục đích hưởng lợi nhuận
Hoạt động khác trong doanh nghiệp thương mại và dịch vụ là những hoạt động không diễn ra thường xuyên, bao gồm việc nhượng bán, thanh lý tài sản cố định và xử lý các nghiệp vụ đặc thù như bồi thường hoặc các sự cố khách quan, chủ quan.
* Kết quả hoạt động cung cấp dịch vụ:
Kết quả hoạt động cung cấp dịch vụ đƣợc xác định bằng các chỉ tiêu:
Lợi nhuận gộp từ cung cấp dịch vụ = Doanh thu thuần - Giá vốn hàng bán trong đó:
Doanh thu thuần Doanh thu cung cấp dịch vụ
Dịch vụ bị khách hàng từ chối
Kết quả từ hoạt động cung cấp dịch vụ = Lợi nhuận gộp từ cung cấp dịch vụ -
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp trong đó:
Chi phí bán hàng là các khoản chi mà doanh nghiệp phải bỏ ra để cung cấp và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ Trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, chi phí bán hàng bao gồm chi phí quảng cáo và giới thiệu sản phẩm, tiền lương cùng các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ) cho nhân viên bộ phận bán hàng và giao hàng Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải chi hoa hồng cho các đại lý cấp I, II và các chi phí khác như chi phí hội nghị khách hàng, giao dịch và tiếp khách.
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm các khoản chi cho việc điều hành hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ, không thể phân bổ trực tiếp cho từng bộ phận Các chi phí này gồm: tiền lương, phụ cấp và các khoản bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp của bộ phận quản lý; chi phí vật liệu văn phòng; khấu hao tài sản cố định dùng cho quản lý; thuế môn bài và thuế nhà đất; các loại phí như lệ phí giao thông và cầu phà; dự phòng nợ khó đòi; cùng với các chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác phục vụ chung cho toàn doanh nghiệp.
* Kết quả hoạt động tài chính: Là phần chênh lệch giữa doanh thu hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính
Doanh thu hoạt động tài chính của doanh nghiệp bao gồm các khoản tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia và các doanh thu khác theo quy định tại Thông tư số 200/TT-BTC và Thông tư số 133/TT-BTC Đối với các doanh nghiệp thương mại và dịch vụ, doanh thu từ hoạt động tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận và duy trì hoạt động kinh doanh hiệu quả.
Lãi suất bao gồm các hình thức như lãi cho vay, lãi tiền gửi ngân hàng, lãi từ việc bán hàng trả chậm và trả góp, cũng như lãi từ đầu tư vào trái phiếu và tín phiếu Ngoài ra, chiết khấu thanh toán được hưởng khi mua hàng hóa và dịch vụ thanh toán trước hoặc đúng hạn cũng là một phần quan trọng của lãi suất.
Thu nhập từ việc cho người khác sử dụng tài sản như bản quyền tác giả, nhãn hiệu thương mại và bằng sáng chế phần mềm vi tính; cổ tức và lợi nhuận chia sau khi đầu tư; thu nhập từ hoạt động đầu tư mua bán chứng khoán ngắn hạn và dài hạn; thu nhập từ việc cho thuê cơ sở hạ tầng; và thu nhập từ các hoạt động đầu tư khác đều là những nguồn thu nhập quan trọng.
+ Chênh lệch lãi do bán ngoại tệ, khoản lãi chênh lệch tỷ giá ngoại tệ;
Chi phí hoạt động tài chính là các khoản chi phí liên quan đến hoạt động đầu tư tài chính trong doanh nghiệp Trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, chi phí này bao gồm nhiều yếu tố khác nhau, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Các khoản chi phí liên quan đến hoạt động đầu tư tài chính bao gồm chi phí vay vốn, chi phí góp vốn vào liên doanh, lỗ chuyển nhượng chứng khoán ngắn hạn, và chi phí giao dịch bán chứng khoán.
Dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh, tổn thất đầu tư vào đơn vị khác, khoản lỗ phát sinh từ việc bán ngoại tệ và lỗ tỷ giá hối đoái là những yếu tố quan trọng cần xem xét trong quản lý tài chính doanh nghiệp.
Chiết khấu thanh toán là khoản giảm giá mà người mua nhận được khi thanh toán cho hàng hóa hoặc dịch vụ Điều này không chỉ áp dụng cho việc thanh toán tiền mà còn cho các chi phí khác liên quan đến hoạt động đầu tư ngoài doanh nghiệp thương mại và dịch vụ.
Kết quả từ hoạt động tài chính = Tổng doanh thu thuần hoạt động tài chính - Chi phí hoạt động tài chính
* Kết quả hoạt động khác: Là phần chênh lệch giữa thu nhập khác và chi phí khác
Kết quả hoạt động khác đƣợc xác định nhƣ sau:
Kết quả hoạt động khác = Thu nhập khác - Chi phí khác trong đó:
Thu nhập khác là các khoản thu ngoài hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp thương mại, dịch vụ Các khoản thu nhập này bao gồm thu nhập từ nhượng bán, thanh lý tài sản cố định, chênh lệch giá trị hợp lý tài sản từ hợp đồng hợp tác kinh doanh, và chênh lệch lãi do đánh giá lại vật tư, hàng hóa Ngoài ra, thu nhập khác còn bao gồm các khoản thuế phải nộp khi bán hàng hóa, dịch vụ nhưng sau đó được giảm hoặc hoàn, tiền phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng, và tiền bồi thường từ bên thứ ba cho tài sản bị tổn thất.
Kế toán kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại, dịch vụ
Để hạch toán kết quả hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại và dịch vụ, kế toán sử dụng các tài khoản kế toán phù hợp.
Tài khoản 911 được sử dụng để xác định và phản ánh kết quả kinh doanh cũng như các hoạt động khác của doanh nghiệp thương mại và dịch vụ trong một kỳ kế toán, bao gồm tháng, quý hoặc năm.
Kết cấu và nội dung phản ánh của tài khoản 911 - Xác định kết quả kinh doanh
- Trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu tƣ và dịch vụ đã bán;
- Chi phí hoạt động tài chính, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp và chi phí khác;
- Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp;
- Doanh thu thuần về số sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã bán trong kỳ;
- Doanh thu hoạt động tài chính, các khoản thu nhập khác và khoản ghi giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp;
Tài khoản 911 không có số dƣ cuối kỳ
Tài khoản 421 - Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối được sử dụng để ghi nhận kết quả kinh doanh (lãi hoặc lỗ) sau khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp, đồng thời phản ánh tình hình phân chia lợi nhuận hoặc xử lý lỗ của doanh nghiệp thương mại và dịch vụ Khi thực hiện hạch toán tài khoản này, kế toán cần tuân thủ các nguyên tắc kế toán đã được quy định.
Việc phân chia lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại và dịch vụ cần phải được thực hiện một cách rõ ràng và minh bạch, tuân thủ đúng các chính sách tài chính hiện hành.
Để đảm bảo quản lý tài chính hiệu quả, doanh nghiệp cần hạch toán chi tiết kết quả hoạt động kinh doanh hàng năm, bao gồm năm trước và năm hiện tại Đồng thời, việc theo dõi chi tiết các nội dung phân chia lợi nhuận là rất quan trọng, bao gồm việc trích lập các quỹ, bổ sung vốn đầu tư của chủ sở hữu, chia cổ tức và phân phối lợi nhuận cho cổ đông cũng như nhà đầu tư.
Vào thứ ba, khi thực hiện hồi tố do thay đổi chính sách kế toán và điều chỉnh các sai sót trọng yếu từ các năm trước mà mới được phát hiện trong năm nay, kế toán cần điều chỉnh số dư đầu năm của lợi nhuận chưa phân phối Điều này có thể dẫn đến việc tăng hoặc giảm số dư đầu năm một cách hợp lý.
Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối năm trước (TK 4211) trên sổ kế toán cần được điều chỉnh để phản ánh chính xác trên báo cáo tình hình tài chính Doanh nghiệp cần xem xét các khoản mục phi tiền tệ trong lợi nhuận chưa phân phối, như lãi từ đánh giá lại tài sản góp vốn, đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, và các công cụ tài chính, vì chúng có thể ảnh hưởng đến dòng tiền và khả năng chi trả cổ tức Việc này giúp đảm bảo rằng quyết định phân phối lợi nhuận là hợp lý và bền vững.
Trong hoạt động hợp tác kinh doanh chia lợi nhuận sau thuế, doanh nghiệp cần theo dõi riêng kết quả hợp đồng để phân phối lợi nhuận hoặc chia lỗ cho các bên Doanh nghiệp là bên nộp và quyết toán thuế TNDN cho các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh, chỉ phản ánh phần lợi nhuận tương ứng với phần mình được hưởng, không được ghi nhận toàn bộ kết quả hợp đồng trên tài khoản này trừ khi có quyền kiểm soát hợp đồng.
Doanh nghiệp thương mại và dịch vụ cần xác định bản chất của cổ phiếu ưu đãi để hạch toán cổ tức phải trả Nếu cổ phiếu ưu đãi được xem là nợ phải trả, kế toán sẽ không ghi nhận cổ tức từ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối Ngược lại, nếu cổ phiếu ưu đãi được phân loại là vốn chủ sở hữu, cổ tức ưu đãi phải trả sẽ được hạch toán tương tự như cổ tức của cổ phiếu phổ thông.
Doanh nghiệp cần theo dõi số lỗ tính thuế và lỗ không tính thuế trong hệ thống quản trị nội bộ Khoản lỗ tính thuế là khoản lỗ phát sinh từ các chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế, trong khi khoản lỗ không tính thuế là từ các chi phí không được trừ Theo quy định pháp luật, doanh nghiệp chỉ có thể chuyển lỗ tính thuế để giảm số thuế phải nộp trong tương lai.
Nội dung ghi chép của tài khoản này nhƣ sau:
- Số lỗ về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, dịch vụ;
- Trích lập các quỹ của doanh nghiệp;
- Chia cổ tức, lợi nhuận cho các chủ sở hữu;
- Bổ sung vốn đầu tƣ của chủ sở hữu
- Số lợi nhuận thực tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, dịch vụ trong kỳ;
- Số lỗ của cấp dưới được cấp trên cấp bù;
- Xử lý các khoản lỗ về hoạt động kinh doanh
Tài khoản 421 có thể có số dư Nợ hoặc số dư Có
Số dƣ bên Nợ: Số lỗ hoạt động kinh doanh chƣa xử lý
Số dƣ bên Có: Số lợi nhuận sau thuế chƣa phân phối hoặc chƣa sử dụng
Tài khoản 421 - Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, có 2 tài khoản cấp 2:
Tài khoản 4211 - Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối năm trước, phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình phân chia lợi nhuận hoặc xử lý lỗ từ các năm trước Tài khoản này cũng ghi nhận các điều chỉnh tăng hoặc giảm số dư đầu năm do thay đổi chính sách kế toán và các sai sót trọng yếu được phát hiện trong năm nay Vào đầu năm sau, kế toán sẽ chuyển số dư đầu năm từ tài khoản 4212 “Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối năm nay” sang tài khoản 4211.
Tài khoản 4212 - Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối năm nay thể hiện kết quả kinh doanh, đồng thời phản ánh tình hình phân chia lợi nhuận và cách xử lý lỗ trong năm tài chính này.
Kết quả hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ thể hiện số lợi nhuận thuần hoặc lỗ thuần từ các hoạt động này cùng với hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp Hạch toán kết quả kinh doanh thương mại và dịch vụ được thực hiện theo quy trình nhất định.
Cuối kỳ kế toán, thực hiện việc kết chuyển số doanh thu bán hàng thuần vào tài khoản xác định kết quả kinh doanh, ghi:
Nợ TK 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Có TK 911 - Xác định kết quả kinh doanh
Khi phát sinh các khoản làm giảm doanh thu như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại, kế toán cần thực hiện bút toán kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu trước, sau đó mới tiến hành kết chuyển doanh thu thuần.
Nợ TK 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Có TK 521 - Các khoản giảm trừ doanh thu
Theo Thông tư số 133/TT-BTC ngày 26 tháng 8 năm 2016, các doanh nghiệp thương mại và dịch vụ cần hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu trực tiếp vào bên Nợ của tài khoản 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.
Kế toán phân phối lợi nhuận và sử dụng các quỹ
Phân phối lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp trong các doanh nghiệp thương mại và dịch vụ phụ thuộc vào chế độ kế toán do Nhà nước quy định theo từng giai đoạn, cùng với cơ chế quản lý kinh tế tài chính riêng của mỗi doanh nghiệp.
Phân phối lợi nhuận là quá trình quản lý mối quan hệ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động, ảnh hưởng đến việc tích lũy và tiêu dùng Khi lợi ích kinh tế được phân phối một cách hợp lý và minh bạch, nó sẽ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thương mại và dịch vụ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát huy tối đa khả năng kinh doanh của mình.
Nhà nước cần phân phối lợi nhuận một cách đồng bộ và khoa học giữa các doanh nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách và tạo ra sự công bằng giữa các doanh nghiệp.
Người lao động sẽ được đảm bảo quyền lợi khi doanh nghiệp xác định đúng phần lợi nhuận và thực hiện chính sách Nhà nước Điều này khuyến khích họ tích cực tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Cơ sở phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định theo tháng, quý hoặc năm, nhưng chỉ được phê duyệt chính thức khi kết thúc niên độ kế toán năm dương lịch Để thực hiện các mục đích trong năm, doanh nghiệp cần tạm phân phối lợi nhuận dựa trên kế hoạch và tỷ lệ quy định của Nhà nước.
6.3.1.1 Nội dung phân phối lợi nhuận
Lợi nhuận là giá trị còn lại sau khi trừ đi tất cả chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp thương mại dịch vụ, lợi nhuận được tạo ra từ hoạt động kinh doanh chính và các hoạt động phụ khác.
Theo Điều 27, Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ, lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ được phân phối theo các quy định cụ thể.
Lợi nhuận thực hiện của công ty, sau khi bù đắp lỗ từ năm trước theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, sẽ được phân phối sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Chia lãi cho các thành viên góp vốn liên kết theo quy định của hợp đồng (nếu có);
- Bù đắp khoản lỗ của các năm trước đã hết thời hạn được trừ vào lợi nhuận trước thuế;
Các công ty đặc thù theo quy định của pháp luật cần trích lập các quỹ đặc biệt từ lợi nhuận sau thuế theo tỷ lệ mà nhà nước đã quy định.
Số dư còn lại sau khi thành lập các quỹ theo quy định sẽ được phân chia dựa trên tỷ lệ giữa vốn nhà nước đầu tư vào công ty (nếu có) và vốn tự huy động của công ty trong năm.
Vốn do công ty tự huy động là số tiền được huy động thông qua phát hành trái phiếu, tín phiếu và vay mượn từ tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Công ty phải tự chịu trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho người cho vay theo các cam kết đã thỏa thuận, ngoại trừ các khoản vay có bảo lãnh của Chính phủ, Bộ Tài chính và các khoản vay được hỗ trợ lãi suất.
Công ty nhà nước chưa đủ vốn Điều lệ sẽ sử dụng phần lợi nhuận chia theo vốn nhà nước để tái đầu tư bổ sung Bộ Tài chính hàng năm sẽ xem xét kết quả hoạt động và nhu cầu vốn để quyết định việc sử dụng lợi nhuận này cho việc bổ sung vốn điều lệ hoặc chuyển vào quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp Mục tiêu là tập trung đầu tư cho các doanh nghiệp và dự án, đồng thời cấp bù cho quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi của các công ty nhà nước cung ứng dịch vụ công ích.
* Lợi nhuận đƣợc chia theo vốn tự huy động đƣợc phân phối nhƣ sau:
- Trích tối thiểu 30 % vào quỹ đầu tƣ phát triển của công ty;
Theo quy định, công ty có thể trích tối đa 5% lập quỹ thưởng cho Ban Quản lý Điều hành, với mức trích không vượt quá 500 triệu đồng cho các công ty có Hội đồng quản trị và 200 triệu đồng cho các công ty không có Hội đồng quản trị Mức trích này phụ thuộc vào mức độ hoàn thành nhiệm vụ của Ban quản lý và kết quả xếp loại doanh nghiệp Bộ Tài chính sẽ hướng dẫn thực hiện các quy định này.
Lợi nhuận còn lại được phân phối vào quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi dựa trên phân loại doanh nghiệp Cụ thể, công ty nhà nước loại A được trích tối đa 3 tháng lương cho hai quỹ này, loại B được trích tối đa 1,5 tháng lương, và loại C được trích tối đa 1 tháng lương Đối với công ty nhà nước không được xếp loại, sẽ không được trích lập hai quỹ khen thưởng và phúc lợi Mức trích vào mỗi quỹ sẽ do Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc công ty quyết định, sau khi tham khảo ý kiến từ Ban Chấp hành Công đoàn.
- Số lợi nhuận còn lại sau khi trích quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi đƣợc bổ sung vào quỹ đầu tƣ phát triển của công ty
Đại diện chủ sở hữu sẽ quyết định tỷ lệ trích quỹ thưởng cho Ban Quản lý Điều hành dựa trên hiệu quả hoạt động và kết quả phân loại A, B của công ty nhà nước.
KẾ TOÁN TRONG KINH DOANH DỊCH VỤ VẬN TẢI
Đặc điểm kinh doanh dịch vụ vận tải
7.1.1 Đặc điểm dịch vụ vận tải
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp vận tải được tự do quản lý tài chính và thực hiện hoạt động kinh doanh theo chế độ kế toán Họ cũng phải tuân thủ các quy luật kinh tế như quy luật cung cầu và quy luật lưu thông tiền tệ.
Ngành vận tải đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế quốc dân, kết nối các ngành sản xuất khác và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của chúng Đây là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng, góp phần vào sự phát triển tổng thể của nền kinh tế.
Trong hệ thống vận tải của mỗi quốc gia, có sáu phương thức chính là vận tải hàng hóa và vận tải hành khách, bao gồm vận tải đường sắt, ô tô, đường biển, đường sông, hàng không và đường ống Vận tải là hoạt động kinh tế có mục đích, nhằm đáp ứng nhu cầu di chuyển của con người và hàng hóa Sự di chuyển này rất đa dạng, nhưng chỉ những di chuyển do con người tạo ra với mục đích kinh tế mới được gọi là vận tải.
So với các ngành sản xuất vật chất khác, dịch vụ vận tải có những đặc điểm riêng biệt trong quá trình sản xuất, sản phẩm và tiêu thụ Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải mang những nét đặc trưng riêng, phản ánh sự khác biệt trong cách thức cung cấp dịch vụ và đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải có đặc điểm nổi bật là quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm diễn ra đồng thời Khác với các ngành sản xuất vật chất, nơi sản phẩm có thể được sản xuất và tiêu thụ ở thời điểm khác nhau, trong vận tải, sản xuất chính là sự di chuyển của hành khách và hàng hóa Tiêu thụ sản phẩm vận tải diễn ra khi khách hàng công nhận sự thay đổi vị trí của hàng hóa hoặc hành khách Sự thừa nhận này không chỉ là một hành động mà còn thể hiện sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, do đó, quá trình sản xuất vận tải đồng thời là quá trình tiêu thụ sản phẩm.
Việc thiết kế quy trình kế toán để ghi nhận doanh thu và chi phí vận tải tại doanh nghiệp có những điểm khác biệt đáng chú ý Sau khi hoàn tất một quá trình sản xuất vận tải, doanh thu và các khoản chi phí thực tế sẽ được xác định và ghi chép đồng thời Kế toán có thể ước tính lợi nhuận gộp ngay lập tức sau mỗi quá trình vận tải, đồng thời so sánh doanh thu và chi phí thực tế với các số liệu dự toán đã lập, từ đó thực hiện những điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với thực tế.
Sản phẩm của quá trình vận tải là sự di chuyển của con người hoặc hàng hóa trong không gian và thời gian Sản phẩm này không có hình thái vật chất cụ thể và được đánh giá qua hai chỉ tiêu chính.
+ Khối lƣợng vận chuyển hàng hóa, hành khách (Q) (đơn vị là tấn; hành khách)
+ Lƣợng luân chuyển hàng hóa, hành khách (P) (đơn vị là tấn.km;HK.km)
Sản phẩm vận tải là vô hình và không thể dự trữ cho các lần cung cấp sau, khiến doanh nghiệp vận tải không có hàng tồn kho Để đáp ứng nhu cầu vận chuyển biến động của xã hội, doanh nghiệp chỉ có thể dự trữ năng lực vận tải, bao gồm việc duy trì phương tiện kỹ thuật đảm bảo và đội ngũ lao động có sức khỏe cùng trình độ phục vụ phù hợp.
Doanh nghiệp vận tải cần đánh giá nhu cầu vận chuyển của xã hội và khách hàng theo từng quãng đường, thời gian trong năm để xây dựng kế hoạch vận tải hợp lý Việc này bao gồm kế hoạch dự trữ, sử dụng năng lực vận tải và mua sắm phương tiện mới, đồng thời điều phối số chuyến đi để tiết kiệm chi phí và duy trì thị phần cạnh tranh Ngoài ra, công tác dự toán chi phí và tiêu thụ cũng cần tính đến sự thay đổi nhu cầu vận chuyển theo thời gian trong năm.
Môi trường sản xuất trong hoạt động vận tải chủ yếu diễn ra bên ngoài doanh nghiệp, yêu cầu các công ty vận tải phải quản lý và điều hành kinh doanh một cách chặt chẽ Để đảm bảo trách nhiệm vật chất rõ ràng, nhiều doanh nghiệp vận tải, đặc biệt trong các lĩnh vực như đường bộ, đường thủy và đường biển, thường áp dụng phương thức khoán Điều này không chỉ nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân viên mà còn giúp ngăn chặn tình trạng gian lận trong quá trình điều hành phương tiện.
Hoạt động kinh doanh vận tải phụ thuộc vào nhu cầu đa dạng trong sản xuất và đời sống, với khối lượng vận chuyển gia tăng khi nền kinh tế phát triển Để nâng cao hiệu quả, các doanh nghiệp vận tải cần phân tích nhu cầu thị trường và duy trì kết nối thông tin giữa bộ phận kế toán và các phòng ban chức năng như marketing, kinh doanh, và kế hoạch Điều này giúp kế toán xây dựng dự toán dự trữ năng lực vận tải, từ đó điều hành và sử dụng năng lực hiện có một cách hợp lý.
Hoạt động vận tải là một lĩnh vực kinh doanh có tính độc quyền tự nhiên, không thể thay thế khi nhu cầu di chuyển hàng hóa hoặc con người phát sinh Khách hàng chỉ có thể lựa chọn giữa các phương thức vận tải và nhà cung cấp dịch vụ Để duy trì thương hiệu và ổn định nguồn thu, các doanh nghiệp vận tải cần đổi mới trang thiết bị và phương tiện Kế toán trong doanh nghiệp phải chọn phương pháp khấu hao phù hợp và xác định điểm dừng kỹ thuật hợp lý, đồng thời lập kế hoạch bảo trì định kỳ để đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Chi phí nhiên liệu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá thành dịch vụ vận tải, đặc biệt là trong vận tải hàng không Sự thay đổi nhỏ trong giá nhiên liệu có thể dẫn đến biến động lớn trong giá thành dịch vụ Để duy trì lợi nhuận, doanh nghiệp vận tải cần điều chỉnh giá cước vận tải phù hợp Do đó, việc lập dự toán chi phí, đặc biệt là cho chi phí nhiên liệu, là rất cần thiết Các doanh nghiệp nên áp dụng dự toán chi phí linh hoạt và xây dựng mô hình định giá thích ứng với biến động giá nhiên liệu.
7.1.2 Đặc điểm tổ chức vận tải và quản lý dịch vụ vận tải
Do tính chất kinh doanh vận tải diễn ra ngoài doanh nghiệp và trải rộng khắp các địa phương theo yêu cầu của khách hàng, việc tổ chức và quản lý dịch vụ vận tải cần chú ý đến những đặc điểm riêng biệt của ngành này.
Quá trình sản xuất trong ngành vận tải bao gồm nhiều khâu liên quan chặt chẽ, từ giao dịch, ký hợp đồng đến thanh toán với khách hàng và chủ hàng Để đảm bảo hoạt động hiệu quả, các doanh nghiệp vận tải cần quản lý các yếu tố như đường, thông tin, tín hiệu, và người điều khiển phương tiện Do đó, việc lập kế hoạch điều vận và quản lý các khâu kỹ thuật, vận chuyển, bảo quản, bảo dưỡng phương tiện là rất quan trọng, đòi hỏi sự chi tiết và cụ thể trong điều hành hàng ngày.
Chi phí và giá thành dịch vụ vận tải
7.2.1.1 Khái niệm, phân loại chi phí vận tải
Dịch vụ Vận tải là một ngành sản xuất vật chất quan trọng, chuyên cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách và hàng hoá giữa các địa điểm khác nhau.
Chi phí vận tải phản ánh giá trị tiền tệ của lao động sống và lao động vật hoá cần thiết cho dịch vụ vận tải Mỗi loại hình vận tải như đường bộ, đường sắt, đường thuỷ hay đường hàng không đều có cấu trúc chi phí riêng biệt.
Chi phí vận tải bao gồm tất cả các khoản chi mà doanh nghiệp vận tải cần chi tiêu trong một kỳ kinh doanh để thực hiện quá trình sản xuất và cung cấp dịch vụ vận tải.
* Phân loại chi phí vận tải
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau để phục vụ cho việc ghi chép kế toán và phân tích tình hình chi phí, đặc biệt trong lĩnh vực vận tải Việc phân loại này giúp quản lý chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất Mỗi phương pháp phân loại chi phí đáp ứng nhu cầu hạch toán, quản lý và kiểm soát chi phí phát sinh, đồng thời cung cấp thông tin cần thiết cho việc phân tích giá thành từ nhiều góc độ khác nhau.
Việc phân loại chi phí cần dựa trên các yêu cầu chính như: đáp ứng nhu cầu hạch toán kinh tế nội bộ và toàn doanh nghiệp, quản lý chi phí một cách tiết kiệm và hiệu quả, giảm thiểu hao phí lao động trong tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, đồng thời cung cấp thông tin phù hợp cho công tác quản trị doanh nghiệp và tính toán hiệu quả kinh tế.
* Phân loại chi phí vận tải theo yếu tố của chi phí
Chi phí vận tải được phân chia thành nhiều yếu tố khác nhau, với những chi phí có cùng tính chất kinh tế được xếp chung mà không phân biệt mục đích sử dụng Tùy thuộc vào yêu cầu quản lý và chế độ kế toán, các yếu tố chi phí có thể được phân loại khác nhau Trong doanh nghiệp vận tải, chi phí có thể được phân loại thành: chi phí khấu hao phương tiện, chi phí nhiên liệu, chi phí vật liệu, dụng cụ, chi phí sửa chữa, chi phí tiền lương, các khoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí khác Việc phân loại chi phí vận tải theo yếu tố là cần thiết, vì sự thay đổi mối tương quan giữa các yếu tố chi phí sẽ phản ánh sự thay đổi trong hoạt động của doanh nghiệp và làm cơ sở để lập kế hoạch chi phí hiệu quả.
Chi phí vận tải đường thủy có thể được phân loại theo nhiều yếu tố, bao gồm chi phí tiền lương cho lái tàu, phụ lái và nhân viên tổ máy, cũng như các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và kinh phí công đoàn Ngoài ra, các yếu tố khác như nhiên liệu, động lực, chi phí sửa chữa tàu, vật liệu, khấu hao phương tiện, chi phí thuê tàu, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác cũng cần được xem xét Đối với đơn vị xếp dỡ, các yếu tố chi phí tương tự như tiền lương nhân công, bảo hiểm, nhiên liệu, động lực, vật liệu, sửa chữa tài sản cố định, khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác cũng đóng vai trò quan trọng.
* Phân loại chi phí vận tải theo mục đích, công dụng kinh tế của chi phí
Chi phí vận tải được phân chia theo các tiêu thức phân loại, bao gồm: lương nhân công trực tiếp điều khiển phương tiện (lái xe, phụ xe, lái tàu, phụ tàu, phi công); các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn và bảo hiểm thất nghiệp; chi phí nhiên liệu; chi phí săm lốp; chi phí vật liệu; chi phí khấu hao phương tiện; chi phí sửa chữa thường xuyên; lệ phí giao thông; chi phí trực tiếp khác; và chi phí quản lý.
Phân loại chi phí theo công dụng giúp quản lý chi phí cho từng khoản mục vận tải, phát hiện tiềm năng giảm giá thành sản phẩm và hỗ trợ phân tích hoạt động kinh doanh Việc phân loại này cũng phản ánh thực tế rằng chi phí cho sản phẩm vận tải thường không được hạch toán trực tiếp mà phải phân bổ gián tiếp Nghiên cứu cho thấy, trình độ quản lý và tổ chức hạch toán chi phí càng cao thì số lượng khoản mục chi phí cần tinh giản càng lớn.
* Phân loại chi phí theo quá trình tập hợp chi phí
Theo tiêu thức phân loại này, chi phí vận tải đƣợc phân chia thành chi phí trực tiếp và chi phí chung
Chi phí trực tiếp là các khoản chi phí liên quan trực tiếp đến đối tượng tập hợp chi phí như sản phẩm, lao vụ hoặc địa điểm kinh doanh cụ thể Những chi phí này được ghi nhận trực tiếp cho đối tượng chịu chi phí Trong ngành vận tải, chi phí trực tiếp bao gồm nhiên liệu, tiền lương cho lái xe, phụ xe, lái tàu, phi công, cùng với chi phí khấu hao và sửa chữa phương tiện vận tải.
Chi phí chung là các khoản chi phí liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, bao gồm nhiều loại sản phẩm, lao vụ hoặc các địa điểm kinh doanh khác nhau, và cần được phân bổ cho các đối tượng theo tiêu thức thích hợp Những chi phí này không thể tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí mà phải được tổng hợp chung, sau đó phân bổ hợp lý vào cuối kỳ Trong doanh nghiệp vận tải, chi phí chung bao gồm chi phí quản lý đội xe, đội tàu, bến cảng, bãi, chi phí vật liệu, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí khác phát sinh bằng tiền.
* Phân loại theo nội dung của chi phí
Theo tiêu thức phân loại này, chi phí vận tải đƣợc phân chia thành
Chi phí nhiên liệu trực tiếp bao gồm toàn bộ chi phí liên quan đến nhiên liệu được sử dụng cho hoạt động vận chuyển hành khách và hàng hóa.
Chi phí nhân công trực tiếp trong vận tải bao gồm các khoản chi trả cho lái xe, phụ xe, lái tàu và phi công, như tiền lương, phụ cấp, và các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn và bảo hiểm thất nghiệp.
Chi phí sản xuất chung bao gồm các khoản chi phí trực tiếp liên quan đến hoạt động vận tải, ngoại trừ chi phí nhiên liệu và chi phí nhân công trực tiếp Những khoản chi này bao gồm chi phí quản lý tổ, đội xe, bến bãi, cảng, khấu hao tài sản cố định, lệ phí giao thông và chi phí thông tin liên lạc.
Tiêu thức này giúp xác định chính xác các khoản chi phí phát sinh liên quan đến từng dịch vụ vận tải, từ đó làm cơ sở cho việc tính toán giá thành sản phẩm dịch vụ vận tải.
7.2.1.2 Đối tượng tập hợp chi phí vận tải
Các yếu tố ảnh hưởng đến kế toán doanh thu, chi phí trong kinh
Kế toán trong doanh nghiệp vận tải bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như chính sách vĩ mô của Nhà nước, loại hình và quy mô doanh nghiệp, cũng như lĩnh vực kinh doanh Các yếu tố này có thể được phân loại thành hai nhóm chính: yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài doanh nghiệp vận tải, ảnh hưởng đến kế toán doanh thu và chi phí trong hoạt động kinh doanh dịch vụ vận tải.
* Nhóm yếu tố bên trong:
Quy mô, tính chất hoạt động, lĩnh vực và mục đích của doanh nghiệp là những yếu tố quan trọng trong việc xác định biên chế bộ máy kế toán Dựa vào đặc điểm quy mô và quy trình hoạt động của doanh nghiệp vận tải, cần tổ chức các phần hành công việc kế toán một cách hợp lý để đảm bảo hiệu quả trong quản lý tài chính.
Trong lĩnh vực kinh doanh vận tải, mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm hoạt động, quy trình công nghệ và sản phẩm dịch vụ riêng biệt, dẫn đến sự khác biệt trong tổ chức quản lý và kế toán Đối với doanh nghiệp vận tải đường sắt và hàng không, chi phí vận tải thường được tập hợp theo từng đơn vị thành viên và phân bổ theo tiêu thức phù hợp để tính giá thành cho từng loại hình vận tải Trong khi đó, doanh nghiệp vận tải đường bộ và đường thủy lại tập hợp chi phí theo từng loại phương tiện.
Tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp, bao gồm quy mô, trình độ và yêu cầu quản lý, cùng với tình hình phân cấp tài chính, đóng vai trò quan trọng trong kế toán doanh thu, chi phí và giá thành trong ngành vận tải Doanh nghiệp cần lựa chọn hình thức kế toán phù hợp, như tập trung, phân tán hoặc kết hợp, cũng như mô hình công ty mẹ và công ty con, để đảm bảo phân công công việc hợp lý cho các kế toán Điều này giúp củng cố mối quan hệ giữa các kế toán, từ đó đảm bảo tính toán chính xác giá thành dịch vụ vận tải.
Trình độ của kế toán trong việc quản lý doanh thu, chi phí và giá thành đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vận tải Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán không chỉ nâng cao độ chính xác mà còn giúp tiết kiệm thời gian và nguồn lực Sự kết hợp giữa chuyên môn kế toán và công nghệ hiện đại sẽ tối ưu hóa quy trình quản lý tài chính, từ đó cải thiện hiệu suất và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nhân viên kế toán có trình độ và kinh nghiệm sẽ đảm bảo hạch toán chi phí chính xác, từ đó xác định đúng giá thành dịch vụ vận tải Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong kế toán tại các doanh nghiệp cũng góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát và hạch toán chi phí.
* Nhóm yếu tố bên ngoài:
Các yếu tố chính sách và pháp luật của Nhà nước có tác động gián tiếp đến công tác kế toán doanh thu, chi phí và giá thành trong ngành dịch vụ vận tải Chính sách về giá và thuế đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là giá xăng, dầu, vì sự biến động của chúng ảnh hưởng lớn đến doanh thu và chi phí dịch vụ Khi giá xăng tăng mà giá dịch vụ vận tải không thay đổi nhiều, điều này sẽ tác động tiêu cực đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
Hội nhập kinh tế quốc tế đã làm thay đổi cơ chế quản lý kinh tế tại Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, trong đó kế toán đóng vai trò quan trọng Dịch vụ vận tải của Việt Nam hiện chưa cạnh tranh cao về chất lượng và giá cả so với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới Các rủi ro kinh tế là áp lực lớn đối với các quốc gia, vì vậy doanh nghiệp vận tải cần nhanh chóng thích ứng và cung cấp dịch vụ với giá cước thấp nhất mà vẫn đảm bảo chất lượng.
Kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh dịch vụ vận tải 230 1 Kế toán doanh thu dịch vụ vận tải
7.4.1 Kế toán doanh thu dịch vụ vận tải
* Chứng từ kế toán sử dụng
Kế toán doanh thu trong doanh nghiệp vận tải sử dụng nhiều loại chứng từ quan trọng như hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT), hóa đơn bán hàng, phiếu kế toán và biên bản thanh lý hợp đồng để ghi nhận và quản lý doanh thu hiệu quả.
Tài khoản kế toán 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được sử dụng để phản ánh doanh thu và kết quả kinh doanh trong lĩnh vực vận tải, cụ thể là tài khoản 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ.
Nội dung, kết cấu của tài khoản 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ nhƣ sau:
- Các khoản giảm trừ doanh thu;
- Thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp (nếu có);
- Doanh thu thuần về hoạt động dịch vụ kết chuyển sang TK 911
Bên Có: Doanh thu dịch vụ theo hóa đơn
Tài khoản này không có số dƣ
Kế toán cần thiết lập sổ chi tiết doanh thu cho từng loại dịch vụ vận tải, bao gồm vận tải hành khách và vận tải hàng hóa Hơn nữa, trong mỗi hoạt động dịch vụ, có thể mở rộng chi tiết để theo dõi hiệu quả kinh doanh một cách chính xác hơn.
Ngoài ra kế toán còn sử dụng một số tài khoản khác nhƣ tài khoản 111; tài khoản 112; tài khoản 131; tài khoản 333.1;…
* Phương pháp kế toán doanh thu trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải
Khi khách hàng đặt cọc, trả tiền trước dịch vụ, kế toán căn cứ vào Phiếu đặt dịch vụ, Hợp đồng kinh tế để ghi sổ:
Nợ TK 112 - Tiền gửi ngân hàng
Có TK 131 - Phải thu của khách hàng (Chi tiết theo từng khách hàng)
Khi hoàn thành dịch vụ cho khách hàng, kế toán thanh lý hợp đồng và tính giá thành hoạt động dịch vụ (thường tính vào cuối tháng) ghi:
Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán
Có TK 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang (Chi tiết theo từng dịch vụ vận tải)
Tài khoản 631 - Giá thành sản xuất được sử dụng khi hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ, đồng thời phản ánh doanh thu dịch vụ trong kế toán.
Nợ TK 131 - Phải thu của khách hàng
Có TK 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ (Chi tiết theo từng dịch vụ vận tải: Vận tải hành khách, vận tải hàng hóa; đơn đặt hàng,…)
Có TK 3331 - Thuế GTGT đầu ra phải nộp
Khi khách hàng sử dụng dịch vụ với số lượng lớn hoặc khi chất lượng dịch vụ không đạt yêu cầu, như giao hàng trễ hoặc phương tiện vận tải gặp sự cố, doanh nghiệp có quyền giảm trừ chi phí cho khách hàng.
Nợ TK 521 - Các khoản giảm trừ doanh thu
Nợ TK 3331 - Thuế GTGT đầu ra phải nộp
Có TK 131, 111, 112 - Chiết khấu bán hàng
Chú ý: Trường hợp doanh nghiệp áp dụng Thông tư số 133/2016/TT-
BTC các khoản giảm trừ doanh thu đƣợc hạch toán trực tiếp vào bên Nợ
Cuối kỳ, kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu, kế toán ghi:
Nợ TK 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ (Chi tiết theo từng dịch vụ)
Có TK 521 - Các khoản giảm trừ doanh thu
Thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp của hoạt động dịch vụ phải nộp ngân sách Nhà nước, kế toán ghi:
Nợ TK 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ
Có TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp ngân sách (3331) Kết chuyển doanh thu thuần và các hoạt động dịch vụ vận tải:
Nợ TK 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ
Có TK 911 - Xác định kết quả kinh doanh (Chi tiết theo từng hoạt động dịch vụ)
7.4.2 Kế toán chi phí dịch vụ vận tải
Chi phí trong doanh nghiệp dịch vụ vận tải bao gồm nhiều loại, như chi phí nhiên liệu, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Kế toán chi phí dịch vụ vận tải dựa vào các chứng từ kế toán để ghi chép vào sổ kế toán và lập các báo cáo tài chính liên quan.
7.4.2.1 Chứng từ kế toán sử dụng
Giấy đi đường là tài liệu quan trọng để lái xe và lái tàu ghi chép lượng nhiên liệu trong suốt hành trình Dựa vào nhiệm vụ vận tải và định mức nhiên liệu, lái xe và lái tàu sẽ nhận nhiên liệu từ kho và ghi vào Giấy đi đường Sau khi kết thúc chuyến đi, họ sẽ xác định lượng nhiên liệu còn lại trên phương tiện và so sánh với số nhiên liệu thực tế đã tiêu hao trong quá trình vận tải.
Số nhiên liệu tiêu hao thực tế sẽ được so sánh với định mức, nếu thấp hơn, lái xe hoặc lái tàu sẽ nhận thưởng Ngược lại, nếu cao hơn, cần xác định nguyên nhân và nếu do lỗi của lái xe, họ sẽ phải bồi thường hoặc bị xử phạt theo quy định Số nhiên liệu còn lại trên phương tiện sẽ được chuyển sang "Giấy đi đường" mới và trừ vào lượng nhiên liệu cấp sau Đối với các phương tiện hoạt động trên tuyến đường dài hoặc doanh nghiệp không có kho nhiên liệu, nhân viên điều khiển sẽ nhận tạm ứng tiền mặt để mua nhiên liệu, dựa trên "Giấy đi đường" để tính toán lượng tiêu hao theo định mức và được thanh toán theo giá nhiên liệu định mức.
Có thể minh họa giấy đi đường trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải ô tô theo mẫu sau: Đơn vị: Địa chỉ: GIẤY ĐI ĐƯỜNG
Họ và tên lái xe:
Hợp đồng thuê xe số:… Ký ngày…
Phục vụ: Đi từ ngày:… Ngày đến: …
Tuyến đường: Đón khách lúc:… Tại địa chỉ:…
Tổng số km: Đồng hồ km khi về: Đồng hồ km khi đi: Đồng hồ km chạy đƣợc:
Phần theo dõi nhiên liệu:
Nhiên liệu còn trên phương tiện trước khi đi:
Nhiên liệu lĩnh trước khi về:
Nhiên liệu còn lại khi về:
Nhiên liệu đã sử dụng Định mức nhiên liệu đã tiêu hao
Nhiên liệu tiết kiệm:… , lãng phí:…
Tương tự như vậy kế toán có thể minh họa Giấy đi đường cho các phương thức kinh doanh dịch vụ vận tải khác
Bảng theo dõi nhiên liệu tiêu hao là công cụ quan trọng để xác định lượng nhiên liệu tiêu thụ ở từng phương tiện vận tải như xe, tàu, thuyền Để lập bảng này, kế toán cần dựa vào bảng kê xuất nhiên liệu, giấy thanh toán tạm ứng và hóa đơn mua nhiên liệu của lái xe, thuyền viên Sau mỗi chuyến đi, cần ghi nhận lượng nhiên liệu còn lại, nhiên liệu đã sử dụng, định mức tiêu hao, cũng như lượng nhiên liệu tiết kiệm và lãng phí.
BẢNG THEO DÕI NHIÊN LIỆU TIÊU HAO
Họ và tên lái xe:
Giấy đi đường Số km vận chuyển Định mức nhiên liệu (lít/100km) Định mức nhiên liệu của chuyến đi (lít/100km)
Bảng chấm công là công cụ quan trọng để theo dõi ngày công làm việc, nghỉ việc và nghỉ hưởng bảo hiểm xã hội của nhân viên như lái xe, phụ xe, thuyền viên và phi công Hàng ngày, Trưởng bộ phận sẽ ghi chép tình hình thực tế làm việc của từng nhân viên vào bảng chấm công theo các ký hiệu quy định Cuối tháng, bảng chấm công cùng các chứng từ liên quan như giấy chứng nhận nghỉ việc và giấy xin nghỉ không hưởng lương sẽ được ký và chuyển cho bộ phận kế toán để kiểm tra và tính toán lương cũng như bảo hiểm xã hội Kế toán tiền lương sẽ dựa vào các ký hiệu chấm công để xác định số ngày công tương ứng cho từng loại công việc.
Bảng chấm công làm thêm giờ là tài liệu quan trọng để ghi nhận số ngày công thực tế làm thêm của nhân viên trong ngành vận tải, như lái xe, phụ xe, thuyền trưởng và thuyền viên Cuối tháng, người phụ trách chấm công sẽ ký xác nhận và gửi bảng này cho giám đốc hoặc người được ủy quyền phê duyệt Sau đó, bảng chấm công cùng các chứng từ liên quan sẽ được chuyển đến bộ phận kế toán để kiểm tra, đối chiếu và quy ra công để tiến hành thanh toán cho nhân viên nếu cần thiết.
Phiếu xác nhận quãng đường vận chuyển và chuyến xe, tàu là chứng từ quan trọng ghi nhận số km và chuyến hàng vận chuyển của từng tổ, đội, bến, cảng, hoặc công nhân điều khiển phương tiện vận tải như lái xe, phụ xe, thuyền trưởng và thuyền viên Phiếu này là cơ sở để lập bảng thanh toán tiền lương hoặc tiền công cho các công nhân trực tiếp Người giao việc sẽ lập phiếu thành 2 liên: liên 1 lưu giữ và liên 2 gửi cho kế toán tiền lương để thực hiện thanh toán Trước khi chuyển đến kế toán, phiếu cần có đầy đủ chữ ký của người giao việc, người nhận việc, người kiểm tra chất lượng và người duyệt.
Hợp đồng giao khoán là thỏa thuận giữa doanh nghiệp vận tải và các nhân viên như lái xe, phụ xe, thuyền trưởng, thuyền viên, nhằm xác nhận khối lượng và nội dung công việc, thời gian làm việc, cũng như trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên Hợp đồng này cũng là cơ sở để thanh toán chi phí cho người nhận khoán.
Bảng thanh toán tiền lương là tài liệu quan trọng dùng để chi trả lương, phụ cấp và các khoản thu nhập bổ sung cho lái xe, phụ xe, thuyền trưởng và thuyền viên trong doanh nghiệp vận tải Nó không chỉ giúp kiểm tra quy trình thanh toán lương mà còn là cơ sở thống kê về lao động tiền lương Để lập bảng này, cần có các chứng từ liên quan như bảng chấm công, phiếu xác nhận quãng đường vận chuyển, và bảng thanh toán phụ cấp, nhằm đảm bảo tính chính xác trong việc thanh toán cho thuyền viên và công nhân viên, cũng như quyết toán chi phí nhân công với phòng kế toán.
Bảng thanh toán tiền thưởng là tài liệu quan trọng xác nhận số tiền thưởng cho từng lái xe, phụ xe, thuyền trưởng và thuyền viên, giúp tính toán thu nhập của người lao động và ghi chép vào Sổ kế toán Tài liệu này được phòng kế toán lập theo từng bộ phận và yêu cầu chữ ký của người lập, kế toán trưởng và giám đốc để đảm bảo tính hợp lệ.
KẾ TOÁN TRONG KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH
Đặc điểm kinh doanh dịch vụ du lịch
Du lịch đã có mặt từ lâu trong lịch sử nhân loại, bắt đầu từ các nền văn hóa cổ đại như Ai Cập và Hy Lạp với các hình thức đi hành hương và du ngoạn của vua chúa, quý tộc Đến thế kỷ XVII, thời kỳ Phục Hưng ở châu Âu, sự phát triển kinh tế - xã hội cùng với các lĩnh vực thông tin và giao thông đã thúc đẩy du lịch phát triển mạnh mẽ Trong thời kỳ hiện đại, với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và sự ra đời của các phương tiện giao thông mới, du lịch trở thành hiện tượng kinh tế xã hội quan trọng, góp phần thúc đẩy các ngành khác như giao thông, xây dựng, và ngân hàng Bước vào thế kỷ XXI, ngành du lịch đang trải qua nhiều thay đổi do ảnh hưởng của nhiều yếu tố, yêu cầu các tổ chức du lịch cần điều chỉnh quản lý để thích ứng.
Mặc dù du lịch đã xuất hiện từ lâu và phát triển nhanh chóng, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm "du lịch".
Theo Luật Du lịch 2005, du lịch được định nghĩa là các hoạt động liên quan đến việc di chuyển của con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên, nhằm mục đích tham quan, tìm hiểu, giải trí và nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới, du lịch được định nghĩa là tất cả các hoạt động của cá nhân khi di chuyển và lưu trú tại những địa điểm khác ngoài nơi ở thường xuyên trong thời gian không quá một năm, nhằm mục đích nghỉ ngơi, công vụ hoặc các lý do khác.
Du lịch được định nghĩa khác nhau từ nhiều góc độ nghiên cứu, nhưng nhìn chung, đây là hoạt động mà cá nhân, nhóm hoặc tổ chức rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để thực hiện các chuyến đi ngắn hoặc dài ngày Mục đích của du lịch bao gồm tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng và các mục đích khác.
Hiện nay, dịch vụ du lịch rất đa dạng, bao gồm lưu trú, ăn uống, vận chuyển, tham quan, phục vụ hội nghị và vui chơi giải trí Tuy nhiên, nhiều đơn vị và cá nhân chỉ cung cấp một số dịch vụ đơn lẻ, trong khi khách du lịch lại cần một gói dịch vụ hoàn chỉnh, kết hợp hợp lý các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu riêng biệt của từng đối tượng khách hàng.
Hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch có những đặc điểm chủ yếu sau:
Hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch là sự kết hợp tổng hợp của nhiều ngành nghề khác nhau, bao gồm thương mại, dịch vụ và sản xuất, đồng thời cũng phản ánh các yếu tố văn hóa và xã hội.
Tính chất thương mại thể hiện qua các nghiệp vụ mua - bán hàng lưu niệm, hàng ăn, đồ uống, phục vụ cho khách du lịch
Hoạt động kinh doanh dịch vụ bao gồm cho thuê phòng nghỉ, hướng dẫn du lịch, vận chuyển, tắm hơi, massage, karaoke, nhiếp ảnh và cho thuê đồ dùng Các dịch vụ này đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, từ việc tìm kiếm nơi lưu trú thoải mái đến các trải nghiệm giải trí thú vị.
Kinh doanh du lịch mang tính chất sản xuất nhƣ chế biến món ăn, đồ uống, sản xuất đồ lưu niệm,
Tính chất văn hóa - xã hội trong hoạt động kinh doanh du lịch được thể hiện qua các điểm tham quan cả trong nước và quốc tế, bao gồm ẩm thực đa dạng của các vùng miền, lễ hội truyền thống đặc sắc tại các địa phương, trò chơi dân gian phong phú và các di tích lịch sử nổi bật.
Các hoạt động kinh doanh du lịch được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, và sự kết hợp của chúng tạo nên một hệ thống tổng thể phong phú và đa dạng.
Trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ du lịch, quá trình sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời, trực tiếp tại chỗ với khách hàng Khách hàng thường phải thanh toán trước khi trải nghiệm sản phẩm du lịch, mà sản phẩm này không thể được dự trữ Sản phẩm du lịch đa dạng về chủng loại và thứ hạng, đáp ứng nhu cầu khác nhau của khách hàng, nhưng việc tăng cường cung cấp sản phẩm trong thời gian ngắn gặp nhiều khó khăn.
Hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch mang tính thời vụ, chịu ảnh hưởng từ các yếu tố tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và chính trị Các mùa khác nhau như mùa hè với các hoạt động tắm biển, mùa đông để ngắm tuyết, hay mùa lễ hội như Hội Lim và lễ hội Đền Trần, Chùa Hương đều góp phần định hình xu hướng du lịch.
Hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch đặc biệt ở chỗ đối tượng khách du lịch rất đa dạng về thành phần, nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác, học vấn, sở thích và phong tục Nhu cầu du lịch của khách hàng thường không ổn định, dễ thay đổi và chịu ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế cũng như chính trị của từng quốc gia và từng cá nhân khách hàng.
Hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch mang tính rủi ro cao do các doanh nghiệp phải đầu tư nhiều loại chi phí như quảng cáo, đặt khách sạn và bảo hiểm để hoàn thiện sản phẩm du lịch Tuy nhiên, hiệu quả mang lại thường không đạt như mong đợi, dẫn đến tình trạng ít khách hàng mua tour Ngược lại, khi có khách hàng, nhiều ngành khác như khách sạn, nhà hàng và vận chuyển lại được hưởng lợi từ doanh thu này.
Chi phí và giá thành dịch vụ du lịch
8.2.1 Chi phí trong kinh doanh dịch vụ du lịch
8.2.1.1 Khái niệm và phân loại chi phí dịch vụ du lịch
Chi phí sản xuất và chế biến trong kinh doanh dịch vụ du lịch được định nghĩa là tổng hợp các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa, thể hiện bằng tiền, phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ phục vụ khách du lịch.
* Phân loại chi phí dịch vụ du lịch:
Hiện nay, chi phí dịch vụ du lịch có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, tùy thuộc vào mục đích quản lý và kiểm soát chi phí Việc phân loại này giúp cung cấp thông tin cần thiết để phân tích giá thành từ nhiều góc độ khác nhau.
* Phân loại theo nội dung kinh tế của chi phí, chi phí dịch vụ du lịch gồm:
Chi phí nguyên vật liệu và công cụ trong ngành du lịch bao gồm chi phí cho nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, cùng với các công cụ và dụng cụ cần thiết cho hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch.
- Chi phí nhân công: gồm tiền lương, tiền ăn ca, phụ cấp, các khoản trích theo lương phải trả cho người lao động trong doanh nghiệp du lịch
- Chi phí khấu hao TSCĐ của doanh nghiệp du lịch
- Chi phí dịch vụ mua ngoài của doanh nghiệp du lịch nhƣ chi phí điện, nước, điện thoại,
- Chi phí khác bằng tiền phục vụ cho hoạt động du lịch dịch vụ
* Phân loại theo mục đích, công dụng của chi phí, chi phí dịch vụ du lịch gồm:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong doanh nghiệp du lịch bao gồm các khoản chi cho nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ và nhiên liệu cần thiết để cung cấp dịch vụ.
Chi phí nhân công trực tiếp trong doanh nghiệp du lịch bao gồm các khoản như tiền lương, tiền công, tiền ăn ca, phụ cấp và các khoản trích theo lương phải trả cho những người lao động trực tiếp như lái xe, phụ xe và hướng dẫn viên du lịch.
Chi phí sản xuất chung trong ngành du lịch bao gồm các khoản chi phí quản lý dịch vụ, như chi phí vật liệu cho bộ phận quản lý, chi phí nhân viên quản lý, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dụng cụ, chi phí dịch vụ mua ngoài (như điện, nước, điện thoại) và các chi phí khác liên quan.
* Phân loại theo tính chất kinh doanh dịch vụ du lịch, chi phí dịch vụ du lịch gồm:
Chi phí hoạt động kinh doanh lưu trú bao gồm nhiều yếu tố quan trọng như chi phí vật liệu, chi phí nhân viên phục vụ trực tiếp, chi phí công cụ và đồ dùng, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài như điện và nước, chi phí vệ sinh, chi phí quản lý và phục vụ, cùng với các chi phí khác như nhiên liệu, quảng cáo và hoa để trang trí phòng.
Chi phí hoạt động kinh doanh vận chuyển du lịch bao gồm nhiều khoản mục quan trọng như chi phí nhiên liệu, vật liệu, và chi phí nhân viên bao gồm lương, thưởng, phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và kinh phí công đoàn Ngoài ra, còn có chi phí khấu hao và sửa chữa phương tiện vận chuyển, cùng với các chi phí khác bằng tiền và chi phí quản lý, phục vụ.
Chi phí hoạt động kinh doanh trong ngành du lịch bao gồm nhiều khoản chi khác nhau Đầu tiên, chi phí trực tiếp là các khoản chi phục vụ cho khách du lịch như tiền ăn, ở, đi lại và vé vào các điểm tham quan Tiếp theo, chi phí nhân viên hướng dẫn du lịch bao gồm lương, thưởng, phụ cấp và các khoản bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp Cuối cùng, chi phí khác bao gồm công tác phí của hướng dẫn viên, chi phí giao dịch, ký kết hợp đồng du lịch, hoa hồng môi giới và bảo hiểm cho khách du lịch.
Chi phí hoạt động kinh doanh lữ hành bao gồm nhiều khoản như chi phí nghiên cứu thị trường và thiết kế chương trình du lịch, chi phí quảng cáo và chào bán tour, chi phí thực hiện các chương trình du lịch theo hợp đồng đã ký kết, cùng với các chi phí khác liên quan đến hoạt động kinh doanh lữ hành.
8.2.1.2 Đối tượng tập hợp chi phí dịch vụ du lịch
Do sự đa dạng trong loại hình dịch vụ du lịch và phương thức thực hiện, việc xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp du lịch trở nên phức tạp.
Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí dịch vụ du lịch là bước đầu tiên và cần thiết trong kế toán chi phí dịch vụ du lịch Để tổ chức công tác kế toán hiệu quả từ hạch toán ban đầu đến tổng hợp, cần xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí phù hợp với đặc điểm tổ chức kinh doanh và yêu cầu quản lý Đối tượng tập hợp chi phí dịch vụ du lịch giúp xác định phạm vi các loại chi phí cần được ghi nhận và quản lý.
Mỗi doanh nghiệp du lịch có những đặc điểm kinh doanh riêng, do đó đối tượng tập hợp chi phí dịch vụ du lịch cũng khác nhau Các doanh nghiệp này thường xác định đối tượng tập hợp chi phí dựa trên từng hoạt động kinh doanh cụ thể trong lĩnh vực dịch vụ du lịch.
Các khoản chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch cần được tập hợp riêng để quản lý hiệu quả Doanh nghiệp du lịch có thể lựa chọn đối tượng tập hợp chi phí theo bộ phận kinh doanh như vận chuyển khách, phục vụ tour, hoặc theo từng tour cụ thể trong nước và ngoài nước Đối với dịch vụ du lịch trọn gói, chi phí sẽ được tập hợp theo từng hợp đồng cụ thể Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí này giúp kế toán theo dõi, quản lý và giám sát tình hình thực hiện kế hoạch chi phí cho từng hoạt động kinh doanh.
8.2.1.3 Phương pháp tập hợp chi phí dịch vụ du lịch
Trong ngành du lịch, nhiều hoạt động diễn ra đồng thời, dẫn đến chi phí phục vụ kinh doanh dịch vụ du lịch có thể liên quan đến từng hoạt động hoặc nhiều loại hoạt động khác nhau Do đó, việc tập hợp chi phí dịch vụ du lịch cần được thực hiện một cách linh hoạt và hiệu quả.
Kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh dịch vụ du lịch 261 Chương 9 KẾ TOÁN TRONG KINH DOANH DỊCH VỤ KHÁCH SẠN, NHÀ HÀNG
8.3.1 Kế toán doanh thu dịch vụ du lịch
* Chứng từ kế toán sử dụng
Kế toán doanh thu trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch sử dụng các chứng từ quan trọng như hóa đơn GTGT, hóa đơn bán hàng, phiếu kế toán và biên bản thanh lý hợp đồng để đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong quản lý tài chính.
Tài khoản kế toán 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được sử dụng để ghi nhận doanh thu và kết quả kinh doanh trong lĩnh vực du lịch, đặc biệt là thông qua tài khoản 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ.
Kế toán cần mở sổ chi tiết doanh thu dịch vụ cho từng hoạt động du lịch như hướng dẫn, lưu trú, vận chuyển, ăn uống, lữ hành và các hoạt động khác Ngoài ra, có thể chi tiết hóa theo từng tour du lịch trong nước và quốc tế Trong mỗi hoạt động dịch vụ, cần tiếp tục mở chi tiết để theo dõi hiệu quả kinh doanh.
Nội dung, kết cấu của tài khoản 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ nhƣ sau:
- Các khoản giảm trừ doanh thu;
- Thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp (nếu có);
- Doanh thu thuần về hoạt động dịch vụ kết chuyển sang TK 911
Bên Có: Doanh thu dịch vụ theo hóa đơn
Tài khoản này không có số dƣ
Ngoài ra kế toán còn sử dụng một số tài khoản khác nhƣ tài khoản 111; tài khoản 112; tài khoản 131; tài khoản 333.1;…
* Phương pháp kế toán doanh thu trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch
- Khi khách hàng đặt cọc, trả tiền trước dịch vụ, kế toán căn cứ vào Phiếu đặt dịch vụ, Hợp đồng kinh tế để ghi sổ:
Nợ TK 112 - Tiền gửi ngân hàng
Có TK 131 - Phải thu của khách hàng (Chi tiết theo từng khách hàng)
- Khi hoàn thành dịch vụ cho khách hàng, kế toán thanh lý hợp đồng và tính giá thành hoạt động dịch vụ (thường tính vào cuối tháng) ghi:
Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán
Có TK 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang (Chi tiết theo từng dịch vụ du lịch)
Có TK 631 - Giá thành sản xuất (nếu hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ)
- Đồng thời phản ánh doanh thu dịch vụ, kế toán ghi:
Nợ TK 131 - Phải thu của khách hàng
Có TK 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ (Chi tiết theo từng dịch vụ du lịch (tour trong nước; quốc tế;…)
Có TK 3331 - Thuế GTGT đầu ra phải nộp
Trong trường hợp khách hàng sử dụng dịch vụ với số lượng lớn hoặc thực hiện nhiều chuyến, tour trong năm, hoặc khi chất lượng dịch vụ giảm sút, doanh nghiệp có thể thực hiện việc giảm trừ cho khách hàng Kế toán sẽ ghi nhận các điều chỉnh này một cách hợp lý.
Nợ TK 521 - Các khoản giảm trừ doanh thu
Nợ TK 3331 - Thuế GTGT đầu ra phải nộp
Có TK 131, 111, 112 - Chiết khấu bán hàng
Chú ý: Trường hợp doanh nghiệp áp dụng Thông tư số 133/2016/TT-
BTC các khoản giảm trừ doanh thu đƣợc hạch toán trực tiếp vào bên Nợ
- Cuối kỳ, kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu, kế toán ghi:
Nợ TK 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ (Chi tiết theo từng dịch vụ)
Có TK 521 - Các khoản giảm trừ doanh thu
- Thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp; thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) của hoạt động dịch vụ phải nộp ngân sách Nhà nước, kế toán ghi:
Nợ TK 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ
Có TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp ngân sách (3331)
- Kết chuyển doanh thu thuần và các hoạt động dịch vụ vận tải:
Nợ TK 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ
Có TK 911 - Xác định kết quả kinh doanh (Chi tiết theo từng hoạt động dịch vụ)
8.3.2 Kế toán chi phí dịch vụ du lịch
* Chứng từ kế toán sử dụng
Khi hạch toán chi phí sản xuất trong kinh doanh dịch vụ du lịch, kế toán cần sử dụng các chứng từ như phiếu đặt dịch vụ, hợp đồng kinh tế, đơn đặt hàng, bảng dự trù chi phí, giấy đề nghị tạm ứng, phiếu chi, ủy nhiệm chi, giấy báo nợ, bảng thanh lý hợp đồng, hóa đơn GTGT, cuống vé tham quan, máy bay, qua phà, hợp đồng lao động, cam kết 02/CK-TNCN cho hướng dẫn viên thuê ngoài, bảng chấm công, bảng thanh toán lương, và các chứng từ thanh toán lương, hóa đơn bán hàng, vé xe.
* Tài khoản kế toán sử dụng
Kế toán chi phí sản xuất kinh doanh dịch vụ du lịch tại các doanh nghiệp được thực hiện theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC, sử dụng các tài khoản như 621 cho chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, 622 cho chi phí nhân công trực tiếp, 627 cho chi phí sản xuất chung, và 154 cho chi phí sản xuất kinh doanh dở dang nhằm tập hợp chi phí và tính giá thành dịch vụ Đối với doanh nghiệp dịch vụ du lịch áp dụng Thông tư số 133/2016/TT-BTC, tài khoản 154 được sử dụng chi tiết cho từng loại chi phí sản xuất.
* Phương pháp kế toán chi phí kinh doanh dịch vụ du lịch
- Xuất kho nguyên liệu, vật liệu sử dụng trực tiếp cho dịch vụ du lịch:
Nợ TK 621 - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (Chi tiết từng hoạt động dịch vụ)
Có TK 152 - Nguyên liệu, vật liệu
- Trường hợp mua vật liệu về dùng trực tiếp để thực hiện dịch vụ du lịch:
Nợ TK 621 - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (Chi tiết từng hoạt động dịch vụ)
Nợ TK 133 - Thuế GTGT đƣợc khấu trừ (nếu có)
Có TK 111, 112: Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng
Có TK 331- Phải trả nhà cung cấp
- Cuối kỳ vật liệu xuất dùng không hết nhập lại kho:
Nợ TK152 - Nguyên liệu, vật liệu
Có TK 621 - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Cuối kỳ, kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo đối tƣợng tập hợp chi phí để tính giá thành của từng dịch vụ:
Nợ TK 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Có TK 621 - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Khi tính tiền lương và các khoản phụ cấp phải trả cho nhân viên hướng dẫn du lịch, phục vụ buồng, bếp tại khách sạn trong kỳ:
Nợ TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp (Chi tiết từng hoạt động)
Có TK 334 - Phải trả công nhân viên
- Trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ của nhân viên hướng dẫn du lịch theo tỷ lệ quy định hiện hành:
Nợ TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp (Chi tiết từng hoạt động)
Nợ TK 334 - Khấu trừ vào thu nhập của người lao động
Có TK 338 - Phải trả khác (3382, 3383, 3384, 3386)
Trong kỳ tính lương, cần xác định rõ các khoản lương chính, lương phụ và phụ cấp có tính chất tiền lương, cùng với các khoản bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) và kinh phí công đoàn (KPCĐ) phải trả cho bộ phận quản lý dịch vụ du lịch.
Nợ TK 627 - Chi phí sản xuất chung
- Các chi phí liên quan khác tính cho hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch:
Nợ TK 627 - Chi phí sản xuất chung
Nợ TK 133 - Thuế GTGT đầu vào đƣợc khấu trừ (nếu có)
- Khi dịch vụ du lịch hoàn thành, kế toán kết chuyển chi phí để tính giá thành dịch vụ du lịch:
Nợ TK 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Nợ TK 632 - Phần chi phí vượt trên mức bình thường
Có TK 621 - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Có TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp
Có TK 627 - Chi phí sản xuất chung
- Đối với các dịch vụ du lịch không hoàn thành do hướng dẫn viên du lịch gây ra thiệt hại phải bồi thường, ghi:
Nợ TK 138 - Phải thu khác (1388)
Nợ TK 334 - Phải trả người lao động
Có TK 154 - Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang
- Khi dịch vụ du lịch hoàn thành, kế toán ghi:
Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán
Có TK 154 - Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang
8.3.3 Kế toán kết quả kinh doanh trong dịch vụ du lịch Để xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch kế toán sử dụng tài khoản các tài khoản sau: Tài khoản 632 - Giá vốn hàng bán để phản ánh giá vốn của dịch vụ vận tải (đƣợc mở chi tiết cho từng dịch vụ du lịch,…); Tài khoản 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (đƣợc mở chi tiết cho từng dịch vụ, đơn đặt hàng,…); Tài khoản 642 - Chi phí quản lý doanh nghiệp; Tài khoản 635 - Chi phí tài chính; Tài khoản 515 - Doanh thu tài chính; Tài khoản 711 - Thu nhập khác; Tài khoản 811 - Chi phí khác; Tài khoản 641 - Chi phí bán hàng; Tài khoản 911 - Xác định kết quả kinh doanh; Tài khoản 821 - Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp và Tài khoản 421 - Lợi nhuận sau thuế chƣa phân phối
- Kết chuyển các khoản chi phí:
Nợ TK 911 - Xác định kết quả kinh doanh
Có TK 632 - Giá vốn hàng bán
Có TK 641 - Chi phí bán hàng
Có TK 642 - Chi phí quản lý doanh nghiệp
Có TK 635 - Chi phí tài chính
Có TK 811 - Chi phí khác
- Kết chuyển các khoản doanh thu, thu nhập khác:
Nợ TK 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Nợ TK 515 - Doanh thu tài chính
Nợ TK 711 - Thu nhập khác
Có TK 911 - Xác định kết quả kinh doanh
- Xác định chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp:
Nợ TK 821 - Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp (8211)
Có TK 3334 - Thuế thu nhập doanh nghiệp
- Kết chuyển chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp để xác định lợi nhuận sau thuế:
Nợ TK 911 - Xác định kết quả kinh doanh
Có TK 821 - Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
Nợ TK 911 - Xác định kết quả kinh doanh
Có TK 421 - Lợi nhuận sau thuế chƣa phân phối
(4212 - Lợi nhuận sau thuế chƣa phân phối năm nay)
Nợ TK 421 - Lợi nhuận sau thuế chƣa phân phối
(4212 - Lợi nhuận sau thuế chƣa phân phối năm nay)
Có TK 911 - Xác định kết quả kinh doanh
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP CHƯƠNG 8
Hoạt động kinh doanh du lịch có những đặc điểm riêng biệt như tính chất thời vụ, sự đa dạng trong sản phẩm dịch vụ và sự phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài như thời tiết và tình hình chính trị Những đặc điểm này ảnh hưởng trực tiếp đến kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp du lịch, đòi hỏi việc quản lý tài chính phải linh hoạt và chính xác để đảm bảo hiệu quả hoạt động Doanh thu thường biến động theo mùa, trong khi chi phí có thể gia tăng do nhu cầu cao trong các mùa du lịch.
Câu 2 Trình bày cách phân loại chi phí kinh doanh trong doanh nghiệp du lịch?
Câu 3 Trình bày các chứng từ và phương pháp kế toán để hạch toán một tour du lịch?
Câu 4 Trình quy trình tổ chức một tour du lịch?
Câu 5 Trình căn cứ để xuất hóa đơn cho một tour du lịch?
Doanh nghiệp du lịch Hoàng Mai bao gồm hai bộ phận chính: kinh doanh hướng dẫn du lịch và đội xe vận chuyển Doanh nghiệp áp dụng phương pháp hạch toán hàng tồn kho KKTX và tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ Trong tháng 06/N, doanh nghiệp có tài liệu kế toán liên quan.
I Số dƣ đầu kỳ của một số tài khoản
Tài khoản Số tiền Tài khoản Số tiền
TK 131(dƣ nợ) 98.000.000 đ TK 331 (dƣ có) 140.500.000 đ
Các tài khoản khác có số dƣ bằng 0 hoặc số dƣ bất kỳ
II Trong tháng 6/N có các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhƣ sau:
1 Doanh nghiệp ký hợp đồng một tour du lịch, tổng giá trị hợp đồng là 330.000.000 đ (bao gồm cả thuế GTGT 10 %) Khách hàng đã ứng trước bằng tiền gửi ngân hàng 1/2 giá trị hợp đồng
2 Mua nhiên liệu cho đội xe theo giá bao gồm cả thuế GTGT 10 % là 8.800.000 đ, doanh nghiệp đã thanh toán bằng tiền mặt
3 Xuất quỹ tiền mặt thanh toán tiền ăn, ở cho khách theo giá chƣa thuế GTGT là 100.000.000 đ, thuế suất thuế GTGT 10 %
4 Chi phí thuê hướng dẫn viên địa phương giới thiệu di tích lịch sử 2.000.000 đ, đã thanh toán bằng tiền tạm ứng
5 Trích trước chi phí săm, lốp cho đội xe trong tháng 9.500.000 đ
6 Trích bảng tính và phân bổ khấu hao tài sản cố định trong tháng 22.000.000 đ, trong đó: khấu hao tài sản cố định của đội xe là 12.000.000 đ, khấu hao TSCĐ dùng ở bộ phận quản lý doanh nghiêp là 10.000.000 đ
7 Trính bảng thanh toán tiền lương toàn doanh nghiệp trong tháng: Tiền lương phải trả cho bộ phận quản lý doanh nghiệp là 86.000.000 đ, tiền lương phải trả cho hướng dẫn viên du lịch là 17.000.000 đ, tiền lương phải trả cho quản lý đội xe là 35.000.000 đ, tiền lương phải trả cho lái và phụ xe là 32.000.000 đ
8 Trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ theo tỷ lệ quy định hiện hành
9 Chi phí dịch vụ mua ngoài phải trả phát sinh trong tháng theo giá chƣa bao gồm thuế GTGT là 17.500.000 đ thuế suất thuế GTGT 10 %, trong đó: dùng cho quản lý đội xe là 8.000.000 đ, hướng dẫn du lịch là 5.000.000 đ, dùng cho bộ phận quản lý doanh nghiệp là 4.500.000 đ
10 Kết thúc chuyến du lịch, khách hàng chuyển khoản thanh toán nốt số tiền còn nợ theo hợp đồng Trong hợp đồng, doanh nghiệp đã xác định doanh thu chƣa có thuế GTGT của đội xe là 95.000.000 đ, còn lại là doanh thu bộ phận hướng dẫn du lịch, thuế suất thuế GTGT là 10 %
- Định khoản các nghiệp vụ kinh tế phát sinh;
- Kết chuyển doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh
Đặc điểm kinh doanh dịch vụ khách sạn, nhà hàng
Khách sạn là các công trình kiến trúc vững chắc, thường nhiều tầng và có nhiều phòng ngủ được trang bị đầy đủ tiện nghi Chúng phục vụ mục đích kinh doanh các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung khác.
Hoạt động chính của kinh doanh khách sạn là cho thuê buồng ngủ, nhưng khách sạn cũng có thể kết hợp nhiều dịch vụ khác như giặt là, nhà hàng, massage, bán hàng lưu niệm và vũ trường để nâng cao trải nghiệm của khách hàng.
Một trong những tiêu chí quan trọng để xếp hạng khách sạn là vị trí và mức độ trang bị nội thất cùng tiện nghi Do đó, nhiều khách sạn đầu tư mạnh vào nội thất và trang bị thiết bị hiện đại cho buồng ngủ, dẫn đến chi phí khấu hao tài sản cố định thường phát sinh lớn.
Trong ngành khách sạn, các hoạt động rất đa dạng và có thể dẫn đến tình trạng sản phẩm dở dang vào cuối kỳ Ví dụ, khi khách hàng đặt phòng qua tháng, hoạt động cho thuê buồng ngủ sẽ tạo ra giá trị sản phẩm dở dang do chi phí phục vụ và các chi phí khác đã phát sinh nhưng chưa được thanh toán Điều này khiến khách sạn chưa hoàn tất việc phục vụ và không xác định được doanh thu cuối tháng.
Việc xác định doanh thu, chi phí và kết quả của từng hoạt động trong khách sạn thường được thực hiện riêng biệt do tính chất khác nhau của các hoạt động này, cùng với việc các dịch vụ phải chịu các loại thuế với mức thuế suất khác nhau.
Hoạt động kinh doanh khách sạn là sự kết hợp của nhiều hoạt động dịch vụ mang tính chất khác nhau, cụ thể:
Dịch vụ lưu trú, hay còn gọi là dịch vụ cho thuê buồng ngủ, là một trong những lĩnh vực kinh doanh quan trọng nhất của khách sạn, đóng góp tới 70% tổng doanh thu Chất lượng dịch vụ lưu trú cao không chỉ là yếu tố quyết định đến sự phát triển của các dịch vụ khác mà còn là tiêu chí cơ bản để đánh giá tiêu chuẩn của một khách sạn.
Dịch vụ ăn uống trong khách sạn không chỉ là hoạt động phụ trợ mà còn đóng góp doanh thu lớn và giữ vai trò quan trọng Hiện nay, dịch vụ này rất đa dạng với các món đặc sản từ mọi vùng miền, đảm bảo chất lượng phục vụ cho mọi thực khách Ngoài ra, dịch vụ ăn uống còn liên quan đến tổ chức sự kiện như tiệc cưới, hội nghị và hội thảo, trong đó doanh thu từ các hoạt động này chiếm trên 80% tổng doanh thu của dịch vụ ăn uống trong khách sạn.
Các dịch vụ bổ trợ của khách sạn không chỉ giúp tăng doanh thu mà còn đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách lưu trú và khách hàng bên ngoài Những dịch vụ này bao gồm massage, karaoke, jacuzzi, bi-a, bể bơi, tennis, thể dục thẩm mỹ, beauty salon và cắt tóc Trong số đó, khách sạn cung cấp dịch vụ tự sản xuất như kinh doanh buồng ngủ và giải trí, đồng thời cũng chuyển bán các dịch vụ từ cơ sở khác như đồ uống và điện thoại Ngoài ra, khách hàng còn được hưởng một số dịch vụ miễn phí như giữ đồ, khuân vác hành lý, và sử dụng các tiện ích trong phòng.
Kinh doanh khách sạn chủ yếu cung cấp dịch vụ, bên cạnh một phần hàng hóa Cơ sở vật chất và dịch vụ phục vụ có mối quan hệ chặt chẽ, tạo nên sự kết hợp hoàn hảo giữa sản phẩm vật chất và kỹ năng phục vụ của nhân viên Kỹ năng phục vụ là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong ngành khách sạn.
Hoạt động kinh doanh khách sạn có những đặc điểm nổi bật sau:
Sản phẩm dịch vụ trong ngành kinh doanh khách sạn có đặc điểm nổi bật là quá trình sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời, không thể lưu kho hay quảng cáo riêng biệt Điều này có nghĩa là dịch vụ chỉ được sản xuất và tiêu dùng ngay tại chỗ, không có hình thái vật chất cụ thể và không theo quy trình nhập kho, xuất kho Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố và thường không ổn định Do đó, trong hoạt động kinh doanh khách sạn, không tồn tại sản phẩm dở dang hay tồn kho, giúp kế toán không cần xác định giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ hay giá thành sản phẩm tồn kho khi tiêu thụ.
Dịch vụ kinh doanh khách sạn phục vụ một đối tượng khách hàng đa dạng về thành phần, nghề nghiệp, giới tính, độ tuổi, sở thích và phong tục tập quán Hoạt động kinh doanh trong khách sạn không chỉ mang tính thương mại mà còn kết hợp yếu tố giải trí và đáp ứng nhu cầu xã hội.
Hoạt động kinh doanh trong khách sạn có hiệu quả cao với tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư lớn và thời gian thu hồi vốn nhanh, tuy nhiên yêu cầu vốn đầu tư ban đầu khá lớn Hoạt động này thường diễn ra tại các khu du lịch, sinh thái và mang tính thời vụ cao, chịu ảnh hưởng lớn từ điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa lịch sử trong từng giai đoạn.
9.1.2 Đặc điểm kinh doanh dịch vụ nhà hàng
Nhà hàng là nơi chế biến và phục vụ món ăn, thức uống cho khách hàng nhằm thu lợi nhuận Mỗi nhà hàng có thể phục vụ nhiều đối tượng khác nhau hoặc chỉ một nhóm khách nhất định, với hình thức hoạt động đa dạng về chủ đề và món ăn Đặc điểm nổi bật của kinh doanh nhà hàng là vừa sản xuất chế biến vừa tiêu thụ sản phẩm ngay tại chỗ Yếu tố phục vụ đóng vai trò quan trọng quyết định đến sự thành bại của nhà hàng Ngoài việc sản xuất sản phẩm, nhà hàng còn chuyển bán hàng hóa từ các nhà cung cấp khác, thể hiện hoạt động kinh doanh thương mại.
Chu kỳ sản xuất sản phẩm trong nhà hàng ngắn, do đó thường không tồn tại sản phẩm dở dang vào cuối kỳ Giá thành sản phẩm tại nhà hàng được cấu thành từ ba loại chi phí chính: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
Khi sản phẩm được đưa vào sản xuất, nó đã được coi là tiêu thụ Các món ăn thường được chế biến theo công thức, giúp xác định chi phí chế biến cho từng món Nguyên vật liệu có thể xuất từ kho hoặc mua từ thị trường bên ngoài, với một số loại thực phẩm được mua với khối lượng lớn để sử dụng nhiều lần Do đó, việc kiểm kê kho thực phẩm là cần thiết khi tính giá thành sản phẩm Quan trọng nhất trong kinh doanh nhà hàng là đảm bảo nguyên liệu đầu vào và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Chi phí và giá thành dịch vụ khách sạn, nhà hàng
9.2.1.1 Chi phí trong kinh doanh dịch vụ khách sạn
Chi phí sản xuất và chế biến trong ngành dịch vụ khách sạn phản ánh giá trị tiền tệ của toàn bộ hao phí lao động sống và lao động vật hóa trong quá trình hoạt động kinh doanh Những chi phí này cần thiết để tạo ra sản phẩm và dịch vụ phục vụ khách hàng trong khách sạn.
Tùy thuộc vào đặc điểm riêng của từng doanh nghiệp và nhu cầu của nhà quản trị, chi phí trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ khách sạn có thể được phân loại thành nhiều loại khác nhau.
Phân loại theo nội dung tính chất kinh tế của chi phí
Theo phân loại này, các khoản chi phí có cùng tính chất và nội dung kinh tế sẽ được nhóm lại thành một yếu tố, không phân biệt nguồn gốc phát sinh hay mục đích sử dụng trong kinh doanh dịch vụ khách sạn Do đó, toàn bộ chi phí trong ngành khách sạn có thể được phân loại thành các yếu tố sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ các loại nguyên vật liệu mà khách sạn sử dụng cho hoạt động kinh doanh dịch vụ;
Chi phí tiền lương trong khách sạn bao gồm toàn bộ tiền lương, tiền công và các khoản chi phí liên quan đến lương mà khách sạn cần chi trả cho nhân viên để đảm bảo hoạt động kinh doanh hiệu quả.
- Các khoản trích theo lương: Bao gồm các khoản BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ mà doanh nghiệp phải trả cho nhân viên phục vụ trong khách sạn;
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm toàn bộ trích khấu hao TSCĐ sử dụng cho hoạt động kinh doanh trong khách sạn;
Chi phí công cụ dụng cụ trong khách sạn bao gồm giá trị phân bổ của các loại dụng cụ như khăn trải bàn, phích nước, ấm trà, lọ hoa, chăn màn, khăn tắm và rèm cửa, tất cả đều phục vụ cho hoạt động kinh doanh hiệu quả.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các khoản tiền điện, nước, điện thoại các dịch vụ khác phải trả nhà cung cấp dịch vụ;
Chi phí bằng tiền khác là các khoản chi phí phát sinh trong hoạt động kinh doanh khách sạn mà chưa được ghi nhận ở các mục chi phí khác, bao gồm chi phí tiếp khách và tổ chức hội nghị.
Phân loại chi phí trong quản lý kinh doanh khách sạn đóng vai trò quan trọng, giúp nhà quản lý nắm rõ cơ cấu và tỷ trọng từng yếu tố chi phí trong tổng chi phí Điều này tạo điều kiện cho việc phân tích và đánh giá tình hình thực hiện các dự toán chi phí như sản xuất, quản lý và dòng tiền Nhờ đó, các nhà quản trị có thể xây dựng kế hoạch cung ứng vật tư, quản lý tiền vốn và sử dụng lao động một cách hiệu quả Hơn nữa, phân loại chi phí còn là cơ sở để tập hợp chi phí kinh doanh theo yếu tố và lập báo cáo chi phí một cách chính xác.
Phân loại theo mục đích công dụng kinh tế của chi phí (theo khoản mục chi phí kinh doanh)
Chi phí kinh doanh trong doanh nghiệp dịch vụ khách sạn được phân loại dựa trên các khoản chi phí có cùng công dụng kinh tế Theo cách phân loại này, chi phí kinh doanh khách sạn được chia thành nhiều khoản mục khác nhau.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong ngành khách sạn bao gồm các khoản chi phí cần thiết cho dịch vụ, như mua xà phòng, giấy vệ sinh, thuốc tẩy, bàn chải đánh răng, dầu gội đầu và tạp chí Những chi phí này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng.
Chi phí nhân công trực tiếp trong kinh doanh khách sạn bao gồm tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp và trợ cấp, cùng với các khoản trích theo lương của nhân viên phục vụ.
Chi phí kinh doanh dịch vụ chung bao gồm các khoản chi phí bổ sung ngoài hai mục chi phí chính, phục vụ cho hoạt động kinh doanh của khách sạn.
+ Chi phi khấu hao TSCĐ: Là giá trị hao mòn của các loại TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh doanh khách sạn;
Chi phí công cụ dụng cụ bao gồm giá trị phân bổ của các vật dụng như cốc, tivi, gương, bình nóng lạnh, tủ treo quần áo, chén, khăn tắm, ga và gối đệm Ngoài ra, chi phí vệ sinh cũng là một yếu tố quan trọng cần xem xét trong quản lý tài chính.
+ Chi phí sửa chữa TSCĐ, công cụ dụng cụ trong khách sạn;
+ Chi phí khác bằng tiền: Chi phí tiếp khách, hội nghị của bộ phận trực tiếp kinh doanh khách sạn
Chi phí kinh doanh dịch vụ khách sạn được phân loại thành các khoản mục cụ thể, giúp doanh nghiệp xác định giá thành sản phẩm dịch vụ Qua đó, doanh nghiệp có thể đánh giá ảnh hưởng của từng khoản chi phí đến giá thành dịch vụ, từ đó hướng tới mục tiêu giảm giá thành và nâng cao hiệu quả khai thác nguồn lực trong lĩnh vực dịch vụ khách sạn.
9.2.1.2 Giá thành dịch vụ khách sạn
Phương pháp tính giá thành là hệ thống các kỹ thuật được áp dụng để xác định giá thành sản phẩm và dịch vụ Tùy thuộc vào đặc điểm chi phí và đối tượng tính giá thành, kế toán có thể lựa chọn phương pháp phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong lĩnh vực kinh doanh khách sạn, có thể áp dụng một trong những phương pháp tính giá thành cụ thể.
Phương pháp tính giá thành giản đơn thường được áp dụng trong quy trình phục vụ kinh doanh khách sạn đơn giản, giúp xác định chi phí một cách hiệu quả Phương pháp này tập trung vào việc tập hợp chi phí phù hợp với đối tượng tính giá thành, từ đó hỗ trợ quản lý tài chính và tối ưu hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp.
KẾ TOÁN TRONG KINH DOANH XỔ SỐ KIẾN THIẾT
Đặc điểm kinh doanh xổ số kiến thiết
10.1.1 Đặc điểm doanh nghiệp Xổ số kiến thiết
Doanh nghiệp Xổ số kiến thiết được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc công ty cổ phần, với 100% vốn thuộc sở hữu của Nhà nước Ngoài ra, doanh nghiệp này cũng có thể được thành lập và hoạt động liên quan đến lĩnh vực kinh doanh xổ số kiến thiết.
Kinh doanh xổ số kiến thiết là hoạt động dựa trên các sự kiện ngẫu nhiên, trong đó doanh nghiệp thu tiền từ khách hàng để tham gia dự thưởng và trả thưởng cho những người trúng giải.
Kết quả ngẫu nhiên trong kinh doanh xổ số kiến thiết bao gồm sự xuất hiện của các tập hợp chữ số, chữ cái, biểu tượng và dấu hiệu, cùng với các kết quả ngẫu nhiên khác.
Xổ số kiến thiết kinh doanh bao gồm nhiều loại hình khác nhau, cụ thể là xổ số kiến thiết truyền thống, xổ số kiến thiết tự chọn (bao gồm thủ công và điện toán), xổ số kiến thiết biết kết quả ngay (như xổ số cào và xổ số bóc), cùng với các loại hình xổ số khác theo quy định của pháp luật.
Xổ số kiến thiết truyền thống là hình thức xổ số với vé đã được in sẵn, cho phép người chơi chọn các chữ số và chữ cái để tham gia dự thưởng Số lượng chữ số và chữ cái có giới hạn theo vé số phát hành, và kết quả trúng thưởng sẽ được xác định sau khi vé số được phát hành.
Khách hàng là người tham gia dự thưởng xổ số kiến thiết
Hoa hồng đại lý là khoản tiền mà doanh nghiệp xổ số kiến thiết chi trả cho đại lý, dựa trên tỷ lệ phần trăm từ giá trị vé số đã được bán.
Tỷ lệ trả thưởng là tỷ lệ giữa giá trị các giải thưởng so với giá trị vé số phát hành hoặc doanh thu bán vé số
Vé số là sản phẩm do các doanh nghiệp xổ số phát hành nhằm phục vụ khách hàng tham gia dự thưởng Vé số có thể được phát hành dưới nhiều hình thức như chứng chỉ, thẻ có in mệnh giá hoặc các phương tiện khác, giúp người chơi dễ dàng tham gia vào trò chơi xổ số.
Chỉ những doanh nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xổ số mới được phép tổ chức hoạt động kinh doanh xổ số kiến thiết.
Hoạt động kinh doanh xổ số phải đảm bảo minh bạch, khách quan, trung thực, bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia
Doanh nghiệp kinh doanh xổ số kiến thiết phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Nhà nước về hoạt động xổ số, tổ chức kinh doanh theo thể lệ đã công bố, và thanh toán đầy đủ, kịp thời các giải thưởng cho khách hàng Bên cạnh đó, họ cũng cần đảm bảo bảo mật thông tin về trúng thưởng và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế cũng như các nghĩa vụ tài chính khác với Nhà nước trong suốt quá trình hoạt động.
10.1.2 Đặc điểm về tiêu thụ và thu nhập ở doanh nghiệp Xổ số kiến thiết
Vé số được phát hành và phân phối bởi doanh nghiệp kinh doanh xổ số kiến thiết, cho phép khách hàng tham gia dự thưởng Mệnh giá của vé số được Bộ Tài chính quy định theo từng thời kỳ.
Vé số có các nội dung sau đây:
- Tên tổ chức phát hành;
- Giá mua của vé số;
- Số ký hiệu của tờ vé số;
- Các chữ số, chữ cái, kết quả ngẫu nhiên để khách hàng lựa chọn;
- Ngày mở thưởng hoặc thời hạn lưu hành của vé số;
- Các dấu hiệu chống làm giả;
- Các thông tin khác có liên quan
Doanh nghiệp xổ số kiến thiết cần cung cấp đầy đủ số lượng vé theo từng loại ký hiệu đã công bố, nhằm đảm bảo khách hàng có sự lựa chọn phong phú khi tham gia dự thưởng.
Vé số đƣợc doanh nghiệp kinh doanh xổ số kiến thiết phân phối tới khách hàng theo các phương thức:
- Bán trực tiếp cho khách hàng;
- Thông qua hệ thống đại lý xổ số;
- Thông qua các thiết bị điện tử, phương tiện viễn thông, internet
Doanh thu của Công ty xổ số kiến thiết bao gồm các nguồn thu từ hoạt động kinh doanh xổ số, doanh thu từ các hoạt động kinh doanh hợp pháp khác, cùng với doanh thu từ hoạt động tài chính và các nguồn thu nhập khác.
Doanh thu từ hoạt động kinh doanh xổ số bao gồm tổng số tiền thu được từ việc bán vé của các loại hình xổ số kiến thiết, như xổ số kiến thiết truyền thống, xổ số tự chọn, xổ số biết kết quả ngay và các loại hình khác theo quy định của Bộ Tài chính Số tiền này được xác định là tiêu thụ trong kỳ, phản ánh hiệu quả kinh doanh của ngành xổ số.
Doanh thu hoạt động kinh doanh các loại hình xổ số kiến thiết đƣợc thể hiện dưới hai hình thức:
Doanh thu chưa có thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt, hay còn gọi là doanh thu chưa có thuế, là yếu tố quan trọng để xác định kết quả kinh doanh của công ty.
Doanh thu có thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt, hay còn gọi là doanh thu có thuế, được sử dụng để xác định các khoản chi hoa hồng đại lý, trích lập dự phòng rủi ro trả thưởng, và chi phí phòng chống số đề.
Đặc điểm hệ thống kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp xổ số kiến thiết
10.2.1 Đặc điểm vận dụng hệ thống chứng từ kế toán
Hệ thống chứng từ kế toán (CTKT) dùng cho các doanh nghiệp xổ số đƣợc ban hành theo Thông tƣ số 168/2009/TT-BTC ngày 19 tháng 8 năm
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 200/2014/TT-BTC vào ngày 22/12/2014, hướng dẫn kế toán cho các Công ty xổ số kiến thiết, dựa trên các quy định từ năm 2009.
Các doanh nghiệp xổ số áp dụng các chứng từ theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính tương tự như các doanh nghiệp sản xuất Tuy nhiên, có nhiều chứng từ như phiếu nhập kho, phiếu xác nhận sản phẩm và công việc hoàn thành mà doanh nghiệp xổ số không sử dụng.
10.2.2 Đặc điểm vận dụng hệ thống tài khoản kế toán
Hệ thống tài khoản kế toán (TKKT) cho doanh nghiệp xổ số được quy định theo Thông tư số 168/2009/TT-BTC ngày 19 tháng 8 năm 2009 của Bộ Tài chính, đồng thời áp dụng hướng dẫn từ Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 Các TKKT này được thiết kế đặc biệt để phục vụ cho hoạt động kế toán của các công ty xổ số kiến thiết.
Danh mục hệ thống TKKT áp dụng cho các doanh nghiệp Xổ số
Số hiệu tài khoản Tên tài khoản Ghi chú
Loại Tài khoản 1: Tài sản ngắn hạn
1113 Vàng, bạc, kim khí đá quý
112 Tiền gửi ngân hàng Chi tiết theo từng ngân hàng
1123 Vàng, bạc, kim khí, đá quý
121 Đầu tƣ chứng khoán ngắn hạn
128 Đầu tƣ ngắn hạn khác
1281 Tiền gửi có kỳ hạn
1288 Đầu tƣ ngắn hạn khác
131 Phải thu của khách hàng Chi tiết theo đối
Số hiệu tài khoản Tên tài khoản Ghi chú
1318 Phải thu của khách hàng
1361 Vốn kinh doanh ở các đơn vị trực thuộc
1368 Phải thu nội bộ khác
1381 Tài sản thiếu chờ xử lý
1385 Phải thu về xổ số liên kết
141 Tạm ứng Chi tiết theo đối tƣợng
144 Cầm cố, ký cƣợc, ký quỹ
151 Hàng mua đang đi đường
1521 Vé xổ số truyền thống
153 Vật liệu, Công cụ dụng cụ
154 Chi phí SXKD dở dang
1547 Chi phí in vé xổ số
1548 Chi phí sản xuất kinh doanh khác
211 Tài sản cố định hữu hình
2111 Nhà cửa, vật kiến trúc
2113 Phương tiện vận tải, truyền dẫn
Số hiệu tài khoản Tên tài khoản Ghi chú
2114 Thiết bị, dụng cụ quản lý
2118 Tài sản cố định khác
212 Tài sản cố định thuê tài chính
213 Tài sản cố định vô hình
2133 Bản quyền, bằng sáng chế
2135 Phần mềm máy vi tính
2136 Giấy phép và giấy nhƣợng quyền
2138 Tài sản cố định vô hình khác
214 Hao mòn tài sản cố định
2141 Hao mòn tài sản cố định hữu hinh
2142 Hao mòn tài sản cố định đi thuê tài chính
2143 Hao mòn tài sản cố định vô hình
221 Đầu tƣ vào công ty con
222 Vốn góp liên doanh, liên kết
228 Đầu tƣ dài hạn khác
2288 Đầu tƣ dài hạn khác
229 Dự phòng tổn thất tài sản
241 Xây dựng cơ bản dở dang
242 Chi phí trả trước dài hạn
243 Tài sản thuế thu nhập hoãn lại
244 Ký quỹ, ký cƣợc dài hạn
331 Phải trả cho người bán Chi tiết theo đối tƣợng
332 Thanh toán giá trị vé xổ số phát hành
333 Thuế và các khoản phải nộp nhà nước
Số hiệu tài khoản Tên tài khoản Ghi chú
3332 Thuế tiêu thụ đặc biệt
3334 Thuế thu nhập doanh nghiệp
3335 Thuế thu nhập cá nhân
3337 Thuế nhà đất, tiền thuê đất
3338 Thuế bảo vệ môi trường
3339 Phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác
334 Phải trả người lao động
3341 Phải trả công nhân viên
3348 Phải trả người lao động khác
338 Phải trả, phải nộp khác
3381 Tài sản thừa chờ giải quyết
3385 Phải trả về Xổ số liên kết
3387 Doanh thu chƣa thực hiện
3388 Phải trả, phải nộp khác
341 Vay và nợ thuê tài chính
344 Nhận ký cƣợc, ký quỹ
347 Thuế thu nhập hoãn lại phải trả
351 Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm
353 Quỹ khen thưởng phúc lợi
Số hiệu tài khoản Tên tài khoản Ghi chú
3533 Quỹ phúc lợi đã hình thành TSCĐ
412 Chênh lệch đánh giá lại tài sản
413 Chênh lệch tỷ giá hối đoái
414 Quỹ đầu tƣ phát triển
418 Các quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu
421 Lợi nhuận chƣa phân phối
4211 Lợi nhuận chưa phân phối năm trước
4212 Lợi nhuận chƣa phân phối năm nay
441 Nguồn vốn đầu tƣ XDCB
Loại tài khoản5:Doanh thu
511 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Chi tiết theo yêu cầu quản lý
5111 Doanh thu bán xổ số truyền thống
5112 Doanh thu bán xổ số lô tô
5113 Doanh thu xổ số cào
5114 Doanh thu xổ số bóc
515 Doanh thu hoạt động tài chính
Loại tài khoản 6:Chi phí sản xuất kinh doanh
626 Chi phí trực tiếp phát hành xổ số
Số hiệu tài khoản Tên tài khoản Ghi chú
642 Chi phí quản lý kinh doanh xổ số
6421 Chi phí nhân viên quản lý
6422 Chi phí vật liệu dụng cụ quản lý
6424 Chi phí khấu hao TSCĐ
6425 Thuế, phí và lệ phí
6427 Chi phí dịch vụ mua ngoài
6428 Chi phí bằng tiền khác
711 Thu nhập khác Chi tiết theo hoạt động
811 Chi phí khác Chi tiết theo hoạt động
821 Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
8211 Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành
8212 Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại
911 Xác định kết quả kinh doanh
003 Vé xổ số nhận bán hộ
005 Công cụ, dụng cụ lâu bền đang sử dụng
006 Tài sản, giấy tờ có giá nhận thế chấp
008 Doanh số phát hành xổ số kiến thiết
Khi xuất, nhập vé xổ số, kế toán cần theo dõi trên hệ thống sổ và báo cáo quản trị, đồng thời thuyết minh trong Báo cáo tài chính về số lượng, quy cách, mã của từng loại xổ số, thời gian nhận giải thưởng và đối tượng thanh toán Tuy nhiên, giá trị vé số nhận phát hành không được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán.
10.2.3 Đặc điểm vận dụng hệ thống Sổ kế toán
Các hình thức kế toán sử dụng trong các doanh nghiệp xổ số đƣợc vận dụng theo Thông tƣ số 168/2009/TT-BTC ngày 19 tháng 8 năm
Năm 2009, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành hướng dẫn kế toán cho Công ty xổ số kiến thiết dựa trên Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 Theo đó, các hình thức sổ kế toán được quy định áp dụng thống nhất cho các công ty xổ số.
- Hình thức Sổ kế toán Nhật ký - Sổ cái;
- Hình thức Sổ kế toán Chứng từ ghi sổ;
- Hình thức Sổ kế toán Nhật ký chung;
- Hình thức Sổ kế toán Nhật ký chứng từ;
Mỗi hình thức Sổ kế toán đều có quy định cụ thể về số lượng, kết cấu, trình tự và phương pháp ghi chép, cũng như mối quan hệ giữa các yếu tố này.
Công ty xổ số cần lựa chọn hình thức Sổ kế toán phù hợp dựa trên quy mô, đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý Việc này cũng phải xem xét trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán cùng với điều kiện trang bị kỹ thuật tính toán Các công ty xổ số phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản liên quan đến loại sổ, kết cấu từng loại sổ, mối quan hệ giữa các loại sổ, cũng như trình tự và kỹ thuật ghi chép để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong công tác kế toán.
10.2.4 Đặc điểm vận dụng hệ thống Báo cáo tài chính tại doanh nghiệp Xổ số kiến thiết
Báo cáo tài chính hàng năm của Doanh nghiệp xổ số phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập theo quy định pháp luật Nếu trong năm, Doanh nghiệp xổ số đã được Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán, thì không cần thuê tổ chức kiểm toán độc lập Ngoài ra, Doanh nghiệp xổ số cũng phải gửi các Báo cáo tài chính và Báo cáo thống kê định kỳ hàng quý và hàng năm theo quy định.
Báo cáo tài chính quý cần được gửi đến Bộ Tài chính trong vòng 20 ngày kể từ khi kết thúc kỳ kế toán quý Đối với báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập, thời hạn gửi là 90 ngày sau khi kết thúc kỳ kế toán năm Nếu báo cáo tài chính năm được kiểm toán bởi cơ quan Kiểm toán Nhà nước, thời hạn gửi sẽ là 5 ngày làm việc sau khi biên bản kiểm toán được thông qua.
Doanh nghiệp xổ số kiến thiết không chỉ tuân thủ quy định về Báo cáo tài chính theo chế độ hiện hành mà còn định kỳ hàng tháng gửi các báo cáo cần thiết đến Bộ Tài chính.
Báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh (mẫu số 01/BCXS)
Báo cáo tình hình tiêu thụ vé (mẫu số 02/BCXS)
Báo cáo tình hình thực hiện kỳ hạn nợ và đảm bảo nghĩa vụ thanh toán của đại lý (mẫu số 03/BCXS)
Báo cáo tình hình chi trả hoa hồng đại lý và chi uỷ quyền trả thưởng (mẫu số 04/BCXS)
Báo cáo tháng đƣợc gửi về Bộ Tài chính chậm nhất vào ngày 30 của tháng sau
Mẫu báo cáo tài chính dành cho các doanh nghiệp xổ số kiến thiết được quy định trong Phụ lục số 02 của Thông tư số 168/2009/TT-BTC, ban hành ngày 19 tháng 8 năm 2009 bởi Bộ Tài chính.
* Phương pháp lập báo cáo tài chính năm tại các doanh nghiệp kinh doanh xổ số kiến thiết
Phương pháp lập bảng cân đối kế toán
Các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01 - XS) tại doanh nghiệp xổ số kiến thiết đƣợc lập nhƣ sau:
Dữ liệu trong cột 5 "Số đầu năm" của báo cáo năm nay được xác định dựa trên số liệu ở cột 4 "Số cuối năm" của từng chỉ tiêu trong báo cáo năm trước.
Số liệu ghi vào cột 4 “Số cuối năm” của báo cáo này tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm, được hướng dẫn như sau:
Dự phòng rủi ro trả thưởng (Mã số 321)
Chỉ tiêu này thể hiện mức Dự phòng rủi ro trả thưởng tại thời điểm báo cáo, với số liệu được xác định dựa trên số dư hiện có.
TK 354 “Dự phòng rủi ro trả thưởng” trên Sổ kế toán TK 354
Quỹ khen thưởng, phúc lợi (Mã số 323)
Chỉ tiêu này thể hiện số dư Quỹ khen thưởng, phúc lợi chưa sử dụng tại thời điểm báo cáo Dữ liệu ghi vào chỉ tiêu này được xác định dựa trên số dư của tài khoản 353 “Quỹ khen thưởng, phúc lợi” trên Sổ kế toán.
Vé xổ số nhận bán hộ (Chỉ tiêu ngoài bảng cân đối kế toán)
Chỉ tiêu này thể hiện giá trị vé xổ số được nhận bán hộ nhưng chưa được thanh toán với các doanh nghiệp xổ số kiến thiết khác tại thời điểm báo cáo.
Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này đƣợc căn cứ vào số dƣ Nợ TK 003
“Vé xổ số nhận bán hộ” trên Sổ kế toán TK 003
Công cụ, dụng cụ lâu bền đang sử dụng (Chỉ tiêu ngoài bảng CĐKT)
Kế toán các quá trình kinh doanh trong các doanh nghiệp xổ số kiến thiết
10.3.1 Kế toán kho vé xổ số
* Chứng từ kế toán sử dụng: Hóa đơn GTGT, Phiếu thu, Phiếu chi, Ủy nhiệm chi, Giấy báo Nợ, Giấy báo Có,…
* Tài khoản kế toán sử dụng
Tài khoản TK 152 - Vé xổ số được sử dụng để ghi nhận giá trị hiện tại và theo dõi sự biến động của các loại vé xổ số trong hoạt động kinh doanh xổ số của đơn vị.
Nguyên tắc hạch toán tài khoản 152 yêu cầu giá trị các loại vé xổ số phải được hạch toán chi tiết theo từng loại Giá trị vé xổ số trên tài khoản này cần phản ánh theo giá thực tế hình thành, và nội dung giá thực tế được xác định dựa trên từng nguồn nhập.
- Giá thực tế của vé xổ số mua ngoài, bao gồm: Giá mua ghi trên hoá đơn cộng (+), chi phí vận chuyển, bốc xếp
Giá thực tế của vé xổ số thuê ngoài in bao gồm tổng giá trị giấy in, chi phí thuê ngoài in, cùng với chi phí vận chuyển và bốc xếp nếu bên thuê in chịu trách nhiệm chi trả.
- Giá thực tế vé xổ số tự in, bao gồm: Giá thực tế của nguyên vật liệu xuất để in và chi phí in
Giá thực tế của vé xổ số được xác định bởi Hội đồng xổ số kiến thiết khu vực, bao gồm giá vé do Hội đồng cung cấp cộng với các chi phí vận chuyển và bốc dỡ.
Giá trị thực tế của vé xổ số xuất kho có thể được xác định thông qua một trong ba phương pháp tính giá: phương pháp giá thực tế đích danh, phương pháp bình quân gia quyền và phương pháp Nhập trước - Xuất trước.
Kết cấu và nội dung phản ánh của tài khoản 152 - Vé xổ số:
Giá trị thực tế của vé xổ số có thể được xác định từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm vé tự in, vé mua từ bên ngoài, vé thuê in, hoặc vé nhận từ Hội đồng xổ số kiến thiết khu vực Những nguồn này ảnh hưởng đến giá trị và tính hợp lệ của vé xổ số, đồng thời cũng có thể tác động đến quy trình quản lý và phân phối vé trong ngành xổ số.
- Giá trị thực tế vé xổ số xuất cho đại lý (giá thực tế vé xổ số phát hành);
- Giá trị thực tế vé xổ số còn tồn kho phải tiêu huỷ do đã quay số mở thưởng;
Giá trị thực tế của vé xổ số đối với các doanh nghiệp xổ số kiến thiết, bao gồm công ty in xổ số và Hội đồng xổ số kiến thiết khu vực, là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả kinh doanh Vé xổ số không chỉ mang lại nguồn thu nhập cho các doanh nghiệp mà còn góp phần vào ngân sách địa phương, hỗ trợ các hoạt động xã hội và phát triển cộng đồng Việc quản lý và phát hành vé xổ số cần tuân thủ các quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi của người chơi và nâng cao uy tín của ngành xổ số.
Giá trị thực tế các loại vé xổ số tồn kho
Tài khoản 152 - Vé xổ số, có 5 tài khoản cấp 2:
- Tài khoản 1521 - Vé xổ số truyền thống: Phản ánh giá trị thực tế hiện có và tình hình biến động của loại vé xổ số truyền thống
- Tài khoản 1522 - Vé xổ số cào: Phản ánh giá trị thực tế hiện có và tình hình biến động của loại vé xổ số cào
- Tài khoản 1523 - Vé xổ số bóc: Phản ánh giá trị thực tế hiện có và tình hình biến động của loại vé xổ số bóc
- Tài khoản 1524 - Vé xổ số lô tô: Phản ánh giá trị thực tế hiện có và tình hình biến động của loại vé xổ số lô tô
- Tài khoản 1525 - Vé xổ số điện toán: Phản ánh giá trị thực tế hiện có và tình hình biến động của loại vé xổ số điện toán
Tuỳ thuộc vào việc bổ sung các loại vé xổ số khác mà tài khoản 158
- Vé xổ số, đƣợc mở thêm các tài khoản cấp 2 phù hợp
* Phương pháp kế toán tại doanh nghiệp kinh doanh xổ số
Giá trị thực tế của vé xổ số mua ngoài nhập kho, ghi:
Nợ TK 152 - Vé xổ số (TK cấp 2 phù hợp)
Có TK 112 - Tiền gửi Ngân hàng
Có TK 331 - Phải trả cho người bán
Giá thành thực tế của vé xổ số tự in hoặc thuê ngoài in nhập kho, ghi:
Nợ TK 152 - Vé xổ số (TK cấp 2 phù hợp)
Có TK 154 - Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang
Giá trị thực tế vé xổ số nhận của Hội đồng xổ số kiến thiết khu vực, ghi:
Nợ TK 152 - Vé xổ số (TK cấp 2 phù hợp)
Có TK 338 - Phải trả phải nộp khác (3388)
Có TK 112 - Tiền gửi ngân hàng
Giá trị thực tế vé xổ số xuất cho đại lý, ghi:
Nợ TK 626 - Chi phí trực tiếp phát hành xổ số
Khi sử dụng TK 152 - Vé xổ số (TK cấp 2 phù hợp), kế toán cần ghi nhận doanh số vé xổ số đã phát hành cho đại lý theo giá bán được ghi trên từng vé.
Nợ TK 008- Doanh số phát hành xổ số kiến thiết
Giá thực tế vé xổ số còn tồn kho phải thanh huỷ do đã quay số mở thưởng, ghi:
Nợ TK 626 - Chi phí trực tiếp phát hành xổ số
Có TK 152 - Vé xổ số (chi tiết TK cấp 2)
Giá trị thực tế của vé xổ số được xác định bởi Công ty in khi bán hoặc xuất vé xổ số, và các Doanh nghiệp Xổ số sẽ nhận được khoản thanh toán từ Công ty in Kế toán của Công ty in sẽ ghi chép lại các giao dịch này một cách chính xác.
Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán
Có TK 152 - Vé xổ số (chi tiết TK cấp 2)
10.3.2 Kế toán chi phí trực tiếp phát hành xổ số
10.3.2.1 Chứng từ kế toán sử dụng
Hóa đơn GTGT, phiếu thu, phiếu chi, ủy nhiệm chi, giấy báo nợ, giấy báo có, bảng tính và phân bổ khấu hao tài sản cố định, bảng thanh toán tiền lương, cùng với bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội là những tài liệu quan trọng trong quản lý tài chính và kế toán.
Kế toán sử dụng TK 626 - Chi phí trực tiếp phát hành xổ số
Tài khoản 626 - Chi phí trực tiếp phát hành xổ số ghi nhận các chi phí liên quan trực tiếp đến hoạt động phát hành xổ số trong kỳ hạch toán.
Nguyên tắc hạch toán tài khoản này như sau:
Chi phí trực tiếp phát hành xổ số bao gồm nhiều khoản mục quan trọng như chi phí cho các đại lý, chi phí tổ chức quay số mở thưởng và giám sát, chi phí chống số đề, cũng như chi phí dự phòng rủi ro trả thưởng Ngoài ra, còn có chi phí cho vé xổ số, chi phí thông tin kết quả mở thưởng, và chi phí đóng góp cho Hội đồng xổ số kiến thiết khu vực, cùng với các chi phí trực tiếp phát hành khác.
Chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến việc phát hành xổ số chỉ được hạch toán vào tài khoản 626 Các loại chi phí không được hạch toán vào tài khoản này bao gồm: chi phí trả thưởng, chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh khác, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí khác, chi phí tài chính và chi phí đầu tư xây dựng cơ bản.
- Chi phí trực tiếp phát hành xổ số trên tài khoản 626 phải đƣợc chi tiết theo từng nội dung chi phí, cho từng loại vé xổ số
Khoản chi đóng góp hàng năm của Hội đồng xổ số kiến thiết khu vực phải tuân thủ mức quy định và không vượt quá mức đóng góp tối đa Trong trường hợp chi luân phiên, cần đảm bảo chi đúng nội dung quy định, có chứng từ hợp pháp và không vượt quá mức lũy kế của các năm trước Sau khi thực hiện chi, cần tiến hành quyết toán và được Hội đồng phê duyệt, đồng thời thực hiện công khai theo quy định.
Cuối kỳ, toàn bộ chi phí trực tiếp liên quan đến việc phát hành xổ số, sau khi đã trừ các khoản được giảm theo quy định, sẽ được chuyển sang bên Nợ của Tài khoản 911.
- “Xác định kết quả kinh doanh” để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 626 - Chi phí trực tiếp phát hành xổ số:
Chi phí trực tiếp phát hành xổ số theo quy định phát sinh trong kỳ
- Các khoản giảm trừ chi phí trực tiếp phát hành xổ số theo quy định phát sinh trong kỳ;
- Kết chuyển chi phí trực tiếp phát hành xổ số vào tài khoản 911 -
“Xác định kết quả kinh doanh” để tính kết quả kinh doanh trong kỳ
Tài khoản 626 không có số dƣ cuối kỳ
Tài khoản 626 - Chi phí phát hành xổ số, có 8 tài khoản cấp 2: