1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Tiểu luận) tác động của biến đổi khí hậu đến pháttriển kinh tế việt nam

89 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Động Của Biến Đổi Khí Hậu Đến Phát Triển Kinh Tế Việt Nam
Tác giả Vũ Hoài Ngọc, Nguyễn Thanh Huyền, Vũ Mạnh Tùng, Nguyễn Thị Thảo, Trần Thị Hà Trang, Nguyễn Đăng Hiếu, Nguyễn Bích Phương
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Lê Huỳnh Mai
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Phát Triển
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 16,06 MB

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (8)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (9)
  • 3. Đối tượng nghiên cứu (9)
  • 4. Phạm vi nghiên cứu (9)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (9)
  • 6. Kết cấu của đề tài (9)
  • CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM (11)
    • 1. Cách tiếp cận trong đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (0)
      • 1.2. Biến đổi khí hậu ở Việt Nam (13)
  • CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM (30)
    • 2.1. Kịch bản phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam (30)
      • 2.1.1. Kịch bản phát thải khí nhà kính của Việt Nam (30)
      • 2.1.2. Kịch bản biến đổi khí hậu (34)
      • 2.1.3 Kịch bản nước biển dâng và nguy cơ ngập do biến đổi khí hậu (42)
    • 2.2. Những tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế Việt Nam (51)
      • 2.2.1 Những tác động tiêu cực (59)
        • 2.2.1.1. Tăng trưởng kinh tế (0)
        • 2.2.1.2. Chuyển dịch cơ cấu (59)
        • 2.2.1.3 Các tác động về mặt xã hội (63)
      • 2.2.2 Những tác động tích cực (52)
        • 2.2.2.1. Chuyển dịch cơ cấu (52)
        • 2.2.2.2. Các tác động về mặt xã hội (57)
  • CHƯƠNG III: THÍCH ỨNG VÀ GIẢM NHẸ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU (73)
    • 3.1. Tổng quan cơ bản về Thích ứng và Giảm nhẹ với Biến đổi khí hậu (73)
    • 3.2. Hoạt động đẩy mạnh thích ứng (74)
      • 3.2.1. Các hoạt động thích ứng với BĐKH ở Việt Nam (74)
      • 3.2.2. Các hoạt động giảm nhẹ với BĐKH ở Việt Nam (76)
  • CHƯƠNG IV: TÍCH HỢP VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀO CHIẾN LƯỢC, (81)
    • 4.1. Khái niệm về tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu (81)
    • 4.2. Những lợi ích và rào cản trong tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào chiến lược, (83)

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự thay đổi của khí hậu cùng các thành phần liên quan như đại dương, đất đai và băng quyển, với hiện tượng tăng nhiệt độ, băng tan và nước biển dâng Trước đây, BĐKH diễn ra do các điều kiện tự nhiên trong thời gian dài, nhưng hiện nay chủ yếu do hoạt động của con người, đặc biệt là việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch và phát thải khí nhà kính như CO2 Đây là vấn đề cấp thiết toàn cầu, ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế, xã hội và sức khỏe con người Tình trạng ô nhiễm môi trường và BĐKH ngày càng gia tăng, thể hiện qua các thiên tai như mưa bão, lũ lụt và hạn hán, cùng với hiện tượng băng tan ở Nam Cực và Bắc Cực diễn ra với tốc độ nguy hiểm.

Việt Nam là quốc gia đứng thứ 5 về Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu năm 2018, chịu ảnh hưởng nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu, với những tác động tiêu cực đến kinh tế và phát triển bền vững Các hiện tượng như gia tăng mực nước biển, nhiệt độ cao, bão lũ thường xuyên, mất mùa và hạn hán đang gia tăng Từ đầu năm 2021, Việt Nam đã ghi nhận 8 cơn bão, 3 áp thấp nhiệt đới, 109 trận động đất nhẹ và nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan khác, gây thiệt hại ước tính khoảng 1.428 tỷ đồng.

Biến đổi khí hậu là một thách thức toàn cầu nghiêm trọng nhất trong thế kỷ XXI, đặc biệt ảnh hưởng nặng nề đến Việt Nam Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này đối với sự tồn tại và phát triển của đất nước, nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài “Tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế Việt Nam” Nghiên cứu này nhằm cung cấp cái nhìn tổng quát về bản chất, nguyên nhân và thực trạng của biến đổi khí hậu, cũng như ảnh hưởng của nó đến kinh tế - xã hội Việt Nam Đồng thời, nhóm sẽ đề xuất các giải pháp ứng phó và khắc phục nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.

Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu chung: Thực trạng và tác động của biến đổi khí hậu đối với phát triển kinh tế Việt Nam

+ Phân tích thực trạng biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Biến đổi khí hậu đang có tác động đáng kể đến phát triển kinh tế ở Việt Nam, gây ra những thách thức lớn cho các ngành kinh tế chủ chốt Việc phân tích khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu là cần thiết để bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển bền vững Để khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực này, Việt Nam cần tích hợp các biện pháp ứng phó hiệu quả, từ cải thiện cơ sở hạ tầng đến phát triển nông nghiệp bền vững, nhằm giảm thiểu rủi ro và tối ưu hóa tiềm năng kinh tế trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu như sau:

- Phương pháp tiếp cận nghiên cứu: tập trung nghiên cứu về mặt lý thuyết và thực tiễn của biến đổi khí hậu

Phương pháp thu thập thông tin và dữ liệu bao gồm việc tìm kiếm từ các nguồn như sách chuyên ngành, trang web, bài báo, tạp chí, nghiên cứu và luận án Các nguồn tài liệu này cung cấp thông tin phong phú và đáng tin cậy cho quá trình nghiên cứu.

- Phương pháp xử lý thông tin và dữ liệu: phân tích tổng hợp, hệ thống hóa các nội dung phân tích

Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tham khảo thì đề tài gồm chương:

Chương 1: Khái quát về biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Chương 2: Tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế Việt Nam

Chương 3: Thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu

Chương 4: Tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển

KHÁI QUÁT VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM

TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM

Kịch bản phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam

Dự đoán biến đổi khí hậu toàn cầu trong tương lai là một nhiệm vụ đầy thách thức và luôn có sự không chắc chắn Nhiều kịch bản biến đổi khí hậu đã được phát triển để hỗ trợ việc đánh giá và phân tích tình hình, từ đó tìm ra các biện pháp hiệu quả nhằm giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.

Năm 2015, nghiên cứu về biến đổi khí hậu chủ yếu dựa vào các kịch bản từ Báo cáo đặc biệt của Nhóm công tác III của IPCC (SRES) và Báo cáo đánh giá lần thứ tư (AR4) Với sự phát hành của Báo cáo Đánh giá Lần thứ Năm (AR5) vào năm 2015, các kịch bản mới được gọi là Con đường tập trung đại diện (RCP) đã được giới thiệu, mở rộng khả năng so với SRES bằng cách bao gồm cả các kịch bản có chính sách khí hậu RCP8.5 trong AR5 tương đương với kịch bản SRES nghiêm trọng nhất, trong khi RCP4.5 đại diện cho các kịch bản trung bình Sự khác biệt trong dự báo khí hậu giữa AR4 và AR5 chủ yếu do AR5 xem xét một phạm vi phát thải rộng hơn Bài báo sẽ phân tích và so sánh hai kịch bản RCP8.5 và RCP4.5 để làm rõ tác động của biến đổi khí hậu trong tương lai.

2.1.1 Kịch bản phát thải khí nhà kính của Việt Nam

Trong vài thập kỷ qua, hoạt động của con người đã làm gia tăng nồng độ khí thải nhà kính trong khí quyển, dẫn đến sự tăng nhiệt độ toàn cầu Sự phát thải này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tăng dân số, phát triển kinh tế - xã hội và tiến bộ khoa học kỹ thuật, có thể gây ra những biến động lớn trong tương lai Để hỗ trợ phân tích và đánh giá biến đổi khí hậu cùng tác động của nó, cũng như tìm kiếm giải pháp thích ứng và giảm thiểu, các kịch bản phát thải khí nhà kính đã được xây dựng.

Biến đổi khí hậu chủ yếu phụ thuộc vào mức độ phát thải khí nhà kính, liên quan chặt chẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội Các kịch bản phát thải khí nhà kính được xây dựng dựa trên sự phát triển kinh tế toàn cầu, dân số và mức tiêu dùng, chuẩn mực sống, lối sống, cũng như tiêu thụ năng lượng và chuyển giao công nghệ Mặc dù Việt Nam chỉ chiếm 0,7% tổng phát thải khí nhà kính toàn cầu vào năm 2014, nhưng với Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) cập nhật năm 2020, Việt Nam đã thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc giảm nhẹ biến đổi khí hậu cùng với các quốc gia khác trên thế giới.

Hình 2.1: Kịch bản phát triển thông thường

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả dựa trên số liệu từ BộTNMT

Theo báo cáo kỹ thuật về Đóng góp do quốc gia tự quyết định năm 2020, phát thải khí nhà kính từ lĩnh vực năng lượng có thể đạt 650 triệu tấn CO2 vào năm 2030 và 1388 triệu tấn CO2 vào năm 2050 trong kịch bản phát triển thông thường, chiếm hơn 80% tổng phát thải quốc gia.

Bảng 2.1 Dự báo phát thải KNK của Việt Nam đến năm 2030

Hình 2.2 Dự báo phát thải KNK của Việt Nam đến năm 2030

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả dựa trên số liệu từ Bộ TNMT

Theo dự báo, lượng khí nhà kính (KNK) phát thải trong các lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp, công nghiệp và chất thải sẽ tăng mạnh từ 283,97 triệu tấn CO2 vào năm 2014 lên 927,9 triệu tấn CO2 vào năm 2030, tương đương mức tăng 3,2 lần Kết quả kiểm kê từ năm 2000 đến 2014 cho thấy lĩnh vực năng lượng đã trở thành nguồn phát thải lớn nhất kể từ năm 2002, vượt qua nông nghiệp Dự báo đến năm 2025, lĩnh vực công nghiệp sẽ đứng thứ hai trong bảng xếp hạng phát thải, thay thế nông nghiệp, trong khi lĩnh vực chất thải sẽ giữ vị trí thứ tư với tỷ lệ thấp nhất Đến năm 2030, lĩnh vực năng lượng dự kiến chiếm 69,4% tổng phát thải, tiếp theo là công nghiệp với 14,4%, nông nghiệp với 11,5% và chất thải chỉ chiếm 4,7%.

Vào năm 2015, tại COP21, 175 quốc gia và vùng lãnh thổ đã ký thỏa thuận Paris nhằm mục tiêu giữ nhiệt độ toàn cầu tăng dưới 2°C so với thời kỳ tiền công nghiệp, với nỗ lực hạn chế mức tăng dưới 1,5°C và đạt cân bằng phát thải khí nhà kính vào nửa cuối thế kỷ Hầu hết các nước tham gia đã nộp Đóng góp quốc gia tự quyết định (NDC) đầu tiên cho UNFCCC vào năm 2016.

Vào năm 2020, bản sửa đổi cuối cùng của các quốc gia sẽ được trình lên UNFCC, đánh dấu thỏa thuận toàn cầu đầu tiên ràng buộc trách nhiệm pháp lý về giảm phát thải khí nhà kính (KNK) và ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) nhằm phát triển bền vững Để đạt được mục tiêu trong Thỏa thuận Paris, toàn cầu cần nỗ lực cắt giảm khí nhà kính một cách toàn diện và ngay lập tức Các kịch bản phát thải KNK cung cấp cái nhìn rõ nét về các con đường khả thi để thực hiện mục tiêu này.

Hội nghị COP 26 tại Glasgow đã ghi nhận nhiều cam kết mạnh mẽ từ các quốc gia về việc đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 Mặc dù Việt Nam chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu và không thuộc UNFCCC, nước này vẫn thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc giảm phát thải khí nhà kính thông qua các kế hoạch và giải pháp cụ thể, chủ động tham gia vào các hiệp ước và thỏa thuận quốc tế về biến đổi khí hậu.

2.1.2 Kịch bản biến đổi khí hậu

Kịch bản biến đổi khí hậu trong thế kỷ 21 chỉ ra sự thay đổi của các yếu tố khí hậu quan trọng, bao gồm nhiệt độ trung bình hàng năm, lượng mưa hàng năm và sự gia tăng của các hiện tượng khí hậu cực đoan như bão, áp thấp nhiệt đới, số ngày rét đậm, rét hại, cũng như số ngày nắng nóng và tình trạng hạn hán.

Theo kịch bản RCP4.5, đến giữa thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm trên toàn quốc sẽ tăng từ 1,2 đến 1,7°C, với mức tăng phổ biến ở phía Bắc từ 1,6 đến 1,7°C và phía Nam từ 1,2 đến 1,3°C Đến cuối thế kỷ, nhiệt độ có thể tăng từ 1,6 đến 2,4°C, trong đó phía Bắc sẽ tăng trên 2,0°C, còn phía Nam tăng dưới 1,8°C, với mức tăng thấp nhất ở một số khu vực cực Nam Trung Bộ, Nam Bộ và các trạm đảo.

Theo kịch bản RCP8.5, trong thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm trên cả nước có xu hướng tăng, với mức tăng ở phía Bắc cao hơn phía Nam Đến giữa thế kỷ, nhiệt độ sẽ tăng phổ biến từ 1,7 đến 2,3°C, trong đó khu vực phía Bắc có mức tăng trên 2,0°C, còn phía Nam dưới 2,0°C Đến cuối thế kỷ, nhiệt độ sẽ tăng từ 3,2 đến 4,2°C, với phía Bắc tăng từ 3,8 đến 4,2°C và phía Nam từ 3,2 đến 3,5°C.

Hình 2.3: Biến đổi của nhiệt độ trung bình năm theo kịch bản RCP4.5 a) Vào giữa thế kỷ; b) Vào cuối thế kỷ

Hình 2.4: Biến đổi của nhiệt độ trung bình năm theo kịch bản RCP8.5 a) Vào giữa thế kỷ; b) Vào cuối thế kỷ

Theo kịch bản RCP4.5, trong thế kỷ 21, lượng mưa hàng năm trên toàn quốc dự kiến sẽ tăng từ 10% đến 15% vào giữa thế kỷ và từ 10% đến 20% vào cuối thế kỷ.

Theo kịch bản RCP8.5, dự báo lượng mưa năm sẽ tăng từ 10 ÷ 15% trên hầu hết cả nước vào giữa thế kỷ 21, trong khi ở các trạm đảo và ven biển khu vực Đông Bắc, lượng mưa có thể tăng từ 20 ÷ 30% Mặc dù một số tỉnh như Lào Cai và Hà Giang có xu thế giảm lượng mưa, nhưng mức giảm này không đáng kể, thường dưới 5% Đến cuối thế kỷ, lượng mưa dự kiến sẽ tăng trên toàn quốc từ 10 ÷ 25%, với một số khu vực Đông Bắc có thể tăng trên 40%.

Hình 2.5: Biến đổi của lượng mưa năm theo kịch bản RCP4.5 a) Vào giữa thế kỷ; b) Vào cuối thế kỷ

Hình 2.6: Biến đổi của lượng mưa năm theo kịch bản RCP8.5 a) Vào giữa thế kỷ b) Vào cuối thế kỷ a) b)

Bảng 2.2: Mức biến đổi trung bình của lượng mưa năm (%) theo kịch bản

TT Tỉnh, Kịch bản RCP4.5 Kịch bản RCP8.5 thành phố 2046-2065 2080-2099 2046-2065 2080-2099

Nguồn: Bộ TN&MT (Giá trị trong ngoặc đơn là khoảng biến đổi quanh giá trị trung bình với cậndưới

● Gió mùa và một số hiện tượng khí hậu cực đoan

Biến đổi khí hậu có thể làm thay đổi tần suất và cường độ của các hiện tượng khí hậu cực đoan, dẫn đến những quy luật hoạt động mới Những kết quả dự đoán cho thấy sự gia tăng trong cường độ và tần suất của các hiện tượng này, ảnh hưởng sâu sắc đến môi trường và đời sống con người.

Những tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế Việt Nam

2.2.1 Tác động của BĐKH tới tăng trưởng kinh tế

❖BĐKH sẽ “kéo tụt” GDP

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và tạo ra các chu kỳ tăng trưởng không bền vững, đặc biệt ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và sản lượng ở các nước đang phát triển Nghiên cứu cho thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân ở các nước này có thể giảm từ 1% đến 2,3% mỗi năm Tại Việt Nam, thiên tai ngày càng gia tăng về quy mô và tần suất, làm mất nhiều thành quả phát triển kinh tế-xã hội Trong giai đoạn 2002-2010, thiệt hại do thiên tai gây ra dao động từ 0,14% đến 2% GDP, với trung bình khoảng 1,5% GDP hàng năm trong 15 năm qua.

Theo báo cáo của DARA International (2012), biến đổi khí hậu có thể gây thiệt hại đáng kể cho Việt Nam, ước tính khoảng

Việt Nam đang đối mặt với thiệt hại do biến đổi khí hậu (BĐKH) ước tính lên tới 15 tỉ USD mỗi năm, tương đương khoảng 5% GDP Nếu không có giải pháp ứng phó kịp thời, thiệt hại này có thể gia tăng đến 11% GDP vào năm 2030.

Theo báo cáo của CIEM, nếu kinh tế Việt Nam duy trì mức tăng trưởng 5,4%/năm trong giai đoạn 2007-2050, thì ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, đặc biệt là bão, sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng xuống còn 5,32% đến 5,39% Mặc dù có sự giảm sút, nhưng mức giảm này được đánh giá là không đáng kể.

Nếu GDP của Việt Nam vào năm 2050 đạt trên 500 tỷ USD, thiệt hại do biến đổi khí hậu có thể lên đến khoảng 40 tỷ USD Tuy nhiên, thiệt hại này có thể giảm nếu Việt Nam thực hiện chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu một cách phù hợp và hiệu quả.

Việt Nam không chỉ đối mặt với thiệt hại kinh tế rõ ràng mà còn có nguy cơ cao về thiệt hại phi kinh tế, bao gồm tổn thất về người và sức khỏe cộng đồng Ngoài ra, việc di dời khu kinh tế và mất đất do xói lở có thể dẫn đến chi phí cơ hội, cùng với việc mất di sản văn hóa, kiến thức địa phương, đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái.

2.2.2 Những tác động tích cực

2.2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu a Nông nghiệp

Biến đổi khí hậu (BĐKH) không chỉ là thách thức mà còn là động lực để ngành nông nghiệp cải tiến công nghệ và mô hình sản xuất Để thích ứng với các tác động của BĐKH, ngành nông nghiệp đang tích cực áp dụng khoa học công nghệ, đồng thời tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việc quy hoạch tổng thể vùng sản xuất và triển khai các giải pháp phát triển bền vững là những bước đi quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Mô hình canh tác lúa thông minh và nuôi tôm dưới tán rừng ngập mặn tại Kiên Giang và Cà Mau đã mang lại hiệu quả cao trong việc thích ứng với biến đổi khí hậu Phương thức nuôi tôm này không chỉ bảo vệ môi trường mà còn đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững, khôi phục diện tích rừng ven biển và giảm phát thải Hiện nay, tỉnh Cà Mau có hơn 19.000ha tôm nuôi dưới tán rừng được quốc tế chứng nhận, với giá thu mua cao hơn 5-10% so với sản phẩm truyền thống Bên cạnh đó, nông dân cũng áp dụng công nghệ vào trồng trọt, với các mô hình sản xuất rau sạch và hữu cơ ngày càng phổ biến Hợp tác xã Rau quả sạch Chúc Sơn là đơn vị tiên phong lắp đặt hệ thống trạm quan trắc thời tiết thông minh, giúp nông dân dự đoán thời tiết chính xác để chăm sóc cây trồng hiệu quả hơn.

● Một số cây trồng được hưởng lợi từ BĐKH

Biến đổi khí hậu đang có ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất nông nghiệp, với những tác động khác nhau giữa các loại cây trồng, thời kỳ và khu vực Ở Đông Nam Á, nghiên cứu của Welch và cộng sự (2010) cho thấy nhiệt độ tối thiểu tăng có thể làm giảm năng suất lúa, trong khi nhiệt độ tối đa cao hơn lại có thể tăng năng suất lúa Hơn nữa, nghiên cứu của Lee và cộng sự (2012) chỉ ra rằng nhiệt độ cao hơn và lượng mưa nhiều hơn vào mùa Hè có thể làm tăng sản lượng nông nghiệp, trong khi nhiệt độ mùa Thu cao hơn lại gây bất lợi cho sản lượng nông nghiệp ở miền Nam và Đông Nam Á.

Nghiên cứu "Tác động của biến đổi khí hậu đến năng suất một số nông sản chủ lực ở Đồng bằng sông Hồng" của Nguyễn Đình Báu và Nguyễn Đăng Khoa đã phân tích ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, đặc biệt là nhiệt độ và lượng mưa, đến năng suất cây trồng tại khu vực này Sử dụng phương pháp ước lượng OLS với dữ liệu từ 2005 đến 2020, nghiên cứu cho thấy sự gia tăng nhiệt độ tháng thấp nhất và lượng mưa trung bình hàng tháng có tác động tiêu cực đến sản xuất lúa Đồng thời, nhiệt độ trung bình hàng năm gia tăng là thách thức lớn cho sản xuất ngô và khoai lang Tuy nhiên, sự gia tăng lượng mưa trung bình tháng thấp nhất lại có lợi cho sản xuất ngô, trong khi nhiệt độ tối thiểu vào mùa Đông hỗ trợ sản xuất khoai lang.

Trong giai đoạn 2005 – 2020, nhiệt độ trung bình ở đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có xu hướng tăng nhẹ từ khoảng 23,5°C lên 25°C, với nhiệt độ trung bình tháng cao nhất dao động từ 29°C đến 31°C Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất trong giai đoạn 2005 – 2013 chỉ khoảng 15°C, nhưng từ 2014 – 2020, nhiệt độ này đã tăng dần lên khoảng 17,5°C Điều này cho thấy nhiệt độ ở ĐBSH có xu hướng tăng lên trong gần 2 thập kỷ qua Về lượng mưa, lượng mưa trung bình tháng dao động từ 120mm đến 190mm, trong khi xu thế lượng mưa tháng thấp nhất không có nhiều thay đổi Tuy nhiên, lượng mưa trung bình tháng cao nhất đã có sự biến thiên mạnh và có xu hướng tăng từ 400mm lên 500mm trong giai đoạn 2006 – 2020.

Hình 2.10 : Biến động nhiệt độ và lượng mưa ở ĐBSH giai đoạn 2005 - 2020

Nguồn: Dữ liệu về nhiệt độ và lượng mưa lấy trong giai đoạn 2005 - 2020 từ niên giám Thống kê - Tổng cục Thống kê.

Trong 5 năm đầu tiên, năng suất lúa ở Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) đã tăng rõ rệt từ khoảng 54 tạ/ha vào năm 2006 lên 61 tạ/ha vào năm 2011 Tuy nhiên, sau đó, năng suất lúa hàng năm gần như chỉ dao động quanh mức 60 tạ/ha.

Hình 2.11: Biến động tăng năng suất lúa khu vực ĐBSH (tạ/ha) giai đoạn 2005 -

Nguồn: Dữ liệu về năng suất các loại cây trồng được lấy trong giai đoạn 2005 - 2020 từ niên giám Thống kê - Tổng cục Thống kê.

Từ hình 10, có thể thấy rằng năng suất ngô và khoai lang đã có xu hướng tăng trưởng rõ rệt trong giai đoạn dài hạn Cụ thể, từ năm 2005 đến 2020, năng suất khoai lang đã tăng từ 8,7 tấn/ha lên 10,5 tấn/ha, trong khi năng suất ngô cũng tăng từ khoảng 40 tạ/ha lên 51 tạ/ha Hình 3 dưới đây minh họa sự biến động năng suất ngô và khoai lang ở ĐBSH trong giai đoạn này.

Hình 2.12: Biến động năng suất khoai và năng suất ngô khu vực đồng bằng sông

Nguồn: Dữ liệu về năng suất các loại cây trồng được lấy trong giai đoạn 2005 - 2020 từ niên giám Thống kê - Tổng cục Thống kê.

Nghiên cứu cho thấy, trong sản xuất ngô, nhiệt độ trung bình tăng 1°C dẫn đến giảm năng suất khoảng 0.51 tạ/ha, trong khi lượng mưa tăng trong các tháng mùa khô lại có tác động tích cực Đối với khoai lang, nhiệt độ tháng lạnh nhất tăng có lợi cho năng suất, nhưng nhiệt độ trung bình năm cao lại làm giảm đáng kể năng suất Điều này cho thấy, khi nhiệt độ cao hơn, đặc biệt trong mùa hè, sản xuất khoai lang ở ĐBSH sẽ gặp nhiều bất lợi.

BĐKH có thể mang lại một số tác động tích cực cho cây trồng trong ngắn hạn, nhưng về lâu dài, những ảnh hưởng tiêu cực sẽ chiếm ưu thế Căng thẳng nhiệt độ, hạn hán, sự phát triển của cỏ dại, thực vật xâm lấn và côn trùng gây hại sẽ gia tăng trong một thế giới ấm lên.

THÍCH ỨNG VÀ GIẢM NHẸ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Tổng quan cơ bản về Thích ứng và Giảm nhẹ với Biến đổi khí hậu

Trái Đất đã trải qua nhiều giai đoạn biến đổi khí hậu trong quá khứ, nhưng các nghiên cứu gần đây của IPCC cho thấy sự thay đổi khí hậu và nóng lên toàn cầu hiện nay chủ yếu là do hoạt động của con người, chiếm tới 95% Nguyên nhân có thể bao gồm sự thay đổi bức xạ mặt trời, chuyển động của các mảng thạch quyển, cùng với các hiện tượng như động đất và núi lửa phun trào.

Nghiên cứu ứng phó với biến đổi khí hậu cần chú trọng đến yếu tố con người và phát triển kinh tế xã hội hiện đại Có hai phương thức chính để ứng phó với biến đổi khí hậu là thích ứng và giảm nhẹ.

Thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) là quá trình điều chỉnh các hoạt động kinh tế, tự nhiên và xã hội để giảm thiểu tác động hiện tại và ngăn chặn những tác động tiềm tàng của BĐKH Mục tiêu chính của thích ứng với BĐKH bao gồm nâng cao năng lực để hạn chế tổn thương do BĐKH và tận dụng cơ hội từ BĐKH nhằm phát triển bền vững các hoạt động kinh tế - xã hội.

Giảm nhẹ biến đổi khí hậu (BĐKH) đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Leary (2006) cho rằng Giảm nhẹ BĐKH bao gồm các hành động nhằm làm chậm hoặc hạn chế sự biến đổi khí hậu Theo IPCC (2023), Giảm nhẹ BĐKH liên quan đến việc thay đổi công nghệ để giảm nguồn đầu vào, từ đó giảm phát thải trên mỗi đơn vị đầu ra Các hoạt động này bao gồm việc thực hiện các chính sách nhằm giảm phát thải khí nhà kính (KNK) và tăng cường khả năng dự trữ carbon.

Giảm nhẹ không thể ngăn chặn biến đổi khí hậu, vì vậy chính sách giảm nhẹ hiệu quả cần tích hợp các chiến lược thích ứng tương ứng Thích ứng có chọn lọc không chỉ giảm thiểu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu mà còn khai thác những tác động tích cực Ngược lại, giảm nhẹ sẽ giảm thiểu các tác động tiêu cực và có thể giảm nhu cầu thích ứng Thích ứng và giảm nhẹ là những hành động bổ trợ cần thiết; sự kết hợp của chúng sẽ tăng cường khả năng đối phó với biến đổi khí hậu và các rủi ro cho cộng đồng Sự khác biệt giữa thích ứng và giảm nhẹ được phân tích trong bối cảnh không gian, thời gian, tổ chức hoạt động và mức độ lợi ích đạt được.

Bảng 3.1 Phân biệt giữa biện pháp thích ứng và giảm nhẹ

Nội dung Giảm nhẹ Thích ứng

1 Phạm vi hoạt động Phạm vi toàn cầu kể từ khi giải pháp giảm nhẹ có hiệu quả liên quan đến tất cả các quốc gia phát thải KNK.

Phụ thuộc vào phạm vi của hệ thống tác động, và ứng dụng tại các cấp địa phương, vùng miền.

2 Các tổ chức liên quan Chính phủ và các cơ quan quy hoạch quốc gia Cá nhân, các nhóm địa phương, các tổ chức phát triển quốc tế, và các tổ chức từ thiện

3 Phương thức hoạt động Chính sách thúc đẩy bởi đồng thuận quốc tế (Nghị định thư Montreal và Kyoto), theo sau là chính sách Chính phủ và hoạt động đơn phương/ tình nguyện

Chiến lược thích ứng thực hiện các hành động của nhóm cá nhân bị ảnh hưởng, và thỏa thuận chung của cộng đồng bị ảnh hưởng

4 Lợi ích Lợi ích từ chính sách là rõ ràng

(giảm phát thải KNK có thể biểu thị qua GtCO2 – eq (tương ứng), hiệu quả chi phí và/ hoặc có thể được định lượng

Lợi ích của việc thích ứng khó có thể được định lượng bằng số liệu cụ thể Những lợi ích này sẽ khác nhau tại các cấp địa phương, tùy thuộc vào các đặc điểm xã hội, kinh tế và chính trị hiện có trong khu vực.

5 Phân bổ lợi ích Hoạt động tại phạm vi toàn cầu, mặc dù chi phí và lợi ích tích lũy tại cấp địa phương và vùng miền

Hoạt động chính tại địa phương, mặc dù phụ thuộc vào đặc điểm của chiến lược thích ứng, nhưng lợi ích có thể chỉ dừng lại ở mức địa phương.

6 Khung thời gian hoạt động

Kết quả của chính sách giảm nhẹ sẽ trở nên rõ ràng trong khoảng thời gian trung hạn đến dài hạn, thường kéo dài vài thập kỷ, do sự tồn tại lâu dài của khí nhà kính trong khí quyển.

Các biện pháp địa phương có khả năng đem lại lợi ích hiệu quả nhanh chóng và năng suất tiềm năng bởi giảm nhẹ mức

Hoạt động đẩy mạnh thích ứng

3.2.1 Các hoạt động thích ứng với BĐKH ở Việt Nam

Mô hình nông lâm kết hợp, phổ biến ở vùng Tây Bắc Việt Nam, là một hệ thống quản lý đất đai hiệu quả, kết hợp trồng cây hàng năm, cây bụi và cây thân thảo giữa các cây lâu năm, đồng thời có thể tích hợp chăn nuôi Sự đa dạng này không chỉ gia tăng năng suất và lợi nhuận mà còn nâng cao tính bền vững và sinh thái của hệ thống Đặc biệt, tính đa dạng sinh học trong nông lâm kết hợp thường vượt trội hơn so với nông nghiệp truyền thống, khiến nhiều nông dân chuyển đổi sang mô hình này để đa dạng hóa sản phẩm và cải thiện sinh kế, đồng thời thích ứng với biến đổi khí hậu Tại Việt Nam, các hình thức canh tác nông lâm kết hợp như trồng cây họ đậu để giảm xói mòn, kết hợp cây nông nghiệp với cây lâm nghiệp, hay mô hình trồng rừng nhỏ kết hợp sản xuất lương thực đang được áp dụng rộng rãi.

Mô hình sản xuất lúa – tôm, lúa – cá là một hướng đi mới trong phát triển nông nghiệp hữu cơ, bắt đầu từ những năm 2000 tại Đồng bằng sông Cửu Long Phụ phẩm từ nuôi tôm, cá được sử dụng làm phân bón cho lúa, trong khi phụ phẩm từ lúa lại cung cấp thức ăn cho tôm, cá, giúp tạo ra sản phẩm sạch và bảo vệ môi trường Mô hình này không chỉ nâng cao thu nhập cho nông dân mà còn phát triển nông nghiệp bền vững và giảm ô nhiễm Hiện nay, mô hình đã được cải biến thành “lúa thơm – tôm sạch” và “lúa thơm – cá sạch” Để ứng phó với biến đổi khí hậu, cần đầu tư xây dựng hồ chứa nước và hệ thống chuyển nước liên vùng, đồng thời nâng cấp các hồ chứa hư hỏng Tỉnh Nghệ An đã nâng cao nhận thức cộng đồng về quản lý rủi ro thiên tai, xây dựng bản đồ rủi ro và đào tạo giảng viên, đồng thời tuyên truyền thông qua các kênh truyền hình.

Công ty TNHH MTV Công nghiệp Sài Gòn đã triển khai hệ thống quản lý môi trường ISO 14001 nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của hoạt động sản xuất đến môi trường Bên cạnh đó, công ty còn áp dụng các thiết bị tiết kiệm năng lượng và tái sử dụng nước để bảo vệ nguồn tài nguyên.

Công ty cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam đã phát triển hệ thống xử lý nước thải và tái sử dụng nước nhằm giảm thiểu tiêu thụ nước và lượng phát thải Ngoài ra, công ty còn áp dụng nguồn năng lượng tái tạo, như tấm pin mặt trời, để cung cấp điện cho các hoạt động sản xuất của mình.

3.2.2 Các hoạt động giảm nhẹ với BĐKH ở Việt Nam

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 19/2013/TT-BNNPTNT nhằm hướng dẫn các biện pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp Thông tư này tập trung vào việc loại bỏ các công nghệ kém hiệu quả và không thân thiện với khí hậu, đồng thời quy định các công nghệ thay thế đáp ứng tiêu chí về phát thải phù hợp trong lĩnh vực nông nghiệp.

Thí điểm một số giải pháp thân thiện với khí hậu trong sản xuất nông nghiệp.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã triển khai “Đề án giảm phát thải KNK ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đến 2020” với ba mục tiêu chính: thúc đẩy sản xuất nông nghiệp xanh, đảm bảo an ninh lương thực và ứng phó với biến đổi khí hậu Những kết quả đạt được bao gồm việc tiết kiệm nước trong sản xuất lúa gạo, giảm sử dụng vật tư nông nghiệp, và tái cơ cấu lĩnh vực trồng trọt theo hướng sản xuất quy mô lớn, gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị, phát huy lợi thế sản phẩm và vùng miền.

Để giảm thiểu phát thải trong ngành công nghiệp, Bộ Xây dựng đã nghiên cứu và áp dụng các giải pháp giảm phát thải CO2 trong sản xuất xi măng và các vật liệu xây dựng khác như kính, gạch, ngói, và tấm lợp Đồng thời, Bộ cũng phát triển các vật liệu và sản phẩm xây dựng xanh, nhằm tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính và ô nhiễm môi trường Kế hoạch hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong ngành xi măng đã được ban hành, với mục tiêu cụ thể đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.

Ngoài ra, một số dự án khác đang được tiến hành và dự kiến hoàn thành trong năm

Năm 2020, các hoạt động bao gồm nghiên cứu thí điểm và phát triển mô hình doanh nghiệp công nghiệp xanh nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng tài nguyên hiệu quả và bảo vệ môi trường Đồng thời, biên soạn các hướng dẫn kỹ thuật và sổ tay quản lý xanh để giảm thiểu phát thải và nâng cao hiệu suất tại các cơ sở công nghiệp Ngoài ra, việc kiểm soát phát thải khí dẫn xuất Flo gây hiệu ứng nhà kính trong ngành công nghiệp tại Việt Nam cũng được chú trọng, cùng với việc xây dựng kế hoạch kiểm soát phát thải khí nhà kính cho ngành sản xuất hóa chất.

3.3 Chiến lược tăng cường Thích ứng và Giảm nhẹ với BĐKH

❖Chiến lược tăng cường Thích ứng với BĐKH

Biểu hiện của biến đổi khí hậu (BĐKH) như tăng nhiệt độ, thay đổi lượng mưa và gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán và lũ lụt đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến cộng đồng và các hệ sinh thái dễ bị tổn thương Hiện nay, các biện pháp thích ứng với BĐKH được thực hiện theo hai hướng chính: thích ứng dựa vào cộng đồng và thích ứng dựa vào hệ sinh thái.

Thích ứng dựa vào cộng đồng

Thích ứng dựa vào cộng đồng là phương pháp quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH), đặc biệt tại các nước đang phát triển Các tác động của BĐKH chủ yếu ảnh hưởng đến các cộng đồng nghèo, những người có ít khả năng tiếp cận về kinh tế và kỹ thuật Phương pháp này được sử dụng như công cụ hữu ích để điều tra tác động trực tiếp của BĐKH và tìm kiếm các giải pháp ứng phó mang lại lợi ích cho cộng đồng.

Thích ứng dựa vào cộng đồng là phương pháp tiếp cận có sự tham gia, tập trung vào việc hiểu biết về biến đổi khí hậu (BĐKH) và tác động của nó đến môi trường địa phương Điều này bao gồm việc nhận diện tài sản và năng lực của cộng đồng, cũng như kiến thức và thực tiễn đối phó với các nguy cơ khí hậu trong quá khứ và hiện tại Để thiết kế và thực hiện các hoạt động thích ứng hiệu quả, cần chú trọng đến sự tham gia và tiếng nói của những nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội như phụ nữ, người già và trẻ em.

Mục tiêu của hoạt động thích ứng dựa vào cộng đồng bao gồm: tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia chủ động từ lập kế hoạch đến thực hiện; tăng cường hợp tác để xây dựng cộng đồng an toàn, nâng cao nhận thức về rủi ro và cải thiện khả năng thích ứng trước các mối đe dọa của biến đổi khí hậu; khuyến khích thay đổi trong quản lý quy hoạch từ phương pháp từ trên xuống sang từ dưới lên; và huy động sự tham gia của các nhóm dễ bị tổn thương như người nghèo, người già, phụ nữ, người khuyết tật, dân tộc thiểu số, đặc biệt là nâng cao vai trò của phụ nữ và thay đổi định kiến về khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của họ.

Thích ứng dựa vào hệ sinh thái

Dịch vụ sinh thái không chỉ quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội mà còn là công cụ hiệu quả giúp con người ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) Thích ứng dựa vào hệ sinh thái được hiểu là các hoạt động thích ứng phát triển từ mối liên hệ chặt chẽ giữa đa dạng sinh học, hệ sinh thái và BĐKH.

Hoạt động thích ứng dựa vào hệ sinh thái có thể thực hiện qua hai cách tiếp cận Thứ nhất, cung cấp trực tiếp từ hệ sinh thái tự nhiên, nơi cung cấp các dịch vụ sinh thái cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội, từ đó nâng cao khả năng thích ứng của con người với biến đổi khí hậu.

Các hệ sinh thái tự nhiên như đất ngập nước, rừng ngập mặn, rạn san hô và cồn cát ven biển đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờ biển và giảm thiệt hại do bão, đồng thời giảm xói mòn Việc bảo vệ các hệ sinh thái này không chỉ mang lại hiệu quả chi phí trong việc chống lại các mối đe dọa từ biến đổi khí hậu, mà còn có thể bổ sung hoặc thay thế cho các đầu tư cơ sở hạ tầng thường tốn kém và gây ô nhiễm môi trường.

❖Chiến lược giảm nhẹ với BĐKH

TÍCH HỢP VẤN ĐỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀO CHIẾN LƯỢC,

Khái niệm về tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu

Tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu được hiểu là sự kết hợp các yếu tố liên quan đến biến đổi khí hậu vào trong quy trình ra quyết định chính sách, dựa trên khái niệm tích hợp chính sách và tích hợp chính sách môi trường của Laffty và Hovden Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét các tác động của biến đổi khí hậu trong mọi lĩnh vực chính sách nhằm đạt được sự phát triển bền vững.

‘khí hậu’ Theo cách này, định nghĩa của ‘tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu’ (climate policy integration) có thể diễn giải như sau:

Đưa các mục tiêu thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu vào từng bước của quá trình hoạch định chính sách là điều cần thiết cho tất cả các ngành Việc này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu mà còn đảm bảo sự bền vững cho các chính sách phát triển Tích hợp các mục tiêu này sẽ tạo ra những giải pháp toàn diện, góp phần bảo vệ môi trường và cải thiện đời sống cộng đồng.

Tổng hợp các tác động đến hoạt động thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu là cần thiết trong quá trình đánh giá và xây dựng chính sách tổng thể Điều này giúp giảm thiểu mâu thuẫn giữa các chính sách liên quan đến biến đổi khí hậu và các lĩnh vực chính sách khác.

Tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội là phương pháp hiệu quả để thực hiện các chính sách và biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu Việc này giúp giảm thiểu rủi ro và ổn định đầu tư trong bối cảnh biến đổi khí hậu Đồng thời, tích hợp này cần được thực hiện theo cả chiều ngang và chiều dọc qua các cấp quản lý khác nhau, đảm bảo rằng các chương trình phát triển không làm gia tăng rủi ro liên quan đến biến đổi khí hậu hiện tại và tương lai.

Tích hợp chính sách theo chiều ngang là việc đưa mục tiêu biến đổi khí hậu vào các chính sách công của chính phủ, bao gồm các chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu, việc chuẩn bị và phê duyệt các quy định mới, cũng như ngân sách nhà nước hàng năm liên quan đến vấn đề này.

Hình 4.1: Tích hợp chính sách theo chiều ngang và chiều dọc

Tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là một yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo sự bền vững cho tương lai Việc này không chỉ giúp giảm thiểu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu mà còn tạo cơ hội phát triển kinh tế xanh Các chính sách cần được xây dựng dựa trên sự hợp tác giữa các cấp chính quyền và cộng đồng, nhằm nâng cao nhận thức và khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu Đồng thời, việc đầu tư vào công nghệ sạch và nguồn năng lượng tái tạo sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.

Tích hợp chính sách theo chiều dọc liên quan đến việc đưa nội dung biến đổi khí hậu vào các chính sách ngành, chẳng hạn như ngành năng lượng Quá trình này diễn ra trong việc ra quyết định và xây dựng chiến lược phát triển cho ngành ở cấp Bộ, cũng như trong việc phát triển các chiến lược và kế hoạch hành động ở các cấp dưới Bộ Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách ở cấp dưới có thể bị lệch khỏi mục tiêu chính sách ban đầu được đề ra ở cấp Bộ.

Những lợi ích và rào cản trong tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào chiến lược,

Việc tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào các chiến lược và quy hoạch phát triển quốc gia, ngành và địa phương là rất quan trọng để chúng ta có thể thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.

Tích hợp biến đổi khí hậu vào các chiến lược và quy hoạch phát triển là cần thiết để nâng cao hiệu quả thích ứng và giảm thiệt hại trong tương lai Việc xem xét các khu vực dễ bị ngập do nước biển dâng trong quy hoạch sử dụng đất sẽ giúp hạn chế thiệt hại về cơ sở hạ tầng và con người khi nước biển dâng lên.

Việc tích hợp nội dung giảm nhẹ biến đổi khí hậu vào các chiến lược và kế hoạch phát triển không chỉ giúp ứng phó với biến đổi khí hậu mà còn mở ra cơ hội cho sự phát triển các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo Điều này thúc đẩy sự chuyển đổi công nghệ sản xuất theo hướng xanh và thân thiện với khí hậu, góp phần giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu đồng thời đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế bền vững.

Tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào chiến lược và quy hoạch phát triển không chỉ tăng cường nguồn lực tài chính và nhân lực cho hoạt động ứng phó mà còn xây dựng một xã hội có khả năng chống chịu tốt hơn với biến đổi khí hậu.

Để tích hợp hiệu quả vấn đề biến đổi khí hậu vào các chiến lược và kế hoạch phát triển, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành Việc này không chỉ tạo cơ hội cho các bên trao đổi thông tin và kinh nghiệm, mà còn nâng cao mức độ hợp tác giữa các Bộ, ngành trong quá trình xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển.

Việc tích hợp các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu vào phát triển kinh tế - xã hội là yếu tố quan trọng cho sự ổn định và bền vững của nền kinh tế, đặc biệt ở các quốc gia phát triển Tuy nhiên, Việt Nam đang gặp khó khăn do thiếu dữ liệu định lượng về diễn biến tương lai của biến đổi khí hậu, với các kịch bản hiện tại chỉ mang tính trung bình và thiếu độ chính xác cho các khu vực cấp tỉnh, huyện Hơn nữa, sự chỉ đạo từ chính quyền các cấp chưa thống nhất và thiếu hướng dẫn cụ thể về việc tích hợp, chỉ mới có Khung hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu cho các Bộ, ngành địa phương Điều này dẫn đến việc chưa xác định rõ vai trò và trách nhiệm của các đơn vị lập kế hoạch trong việc thực hiện, tạo ra những rào cản chính trong việc tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào các kế hoạch phát triển tại Việt Nam.

Việc thiếu các quy định pháp lý yêu cầu tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào quy trình xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển là một yếu tố quan trọng cần được chú trọng ở cấp quốc gia, ngành và địa phương.

Năng lực tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển ở cấp quốc gia, ngành và địa phương hiện nay còn nhiều hạn chế.

Nguồn lực về nhân sự, thời gian và tài chính hiện tại chưa đủ để thực hiện hiệu quả việc tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển ở cấp quốc gia, ngành và địa phương.

● Các thông tin về biến đổi khí hậu thường không liên quan trực tiếp đến các quyết định đầu tư phát triển:

Các kế hoạch phát triển yêu cầu thông tin chi tiết về khí hậu, nhưng hiện nay các mô hình chỉ có khả năng dự đoán một số yếu tố với độ tin cậy cao.

○ Đôi khi mức độ chi tiết về không gian và thời gian của các kịch bản biến đổi khí hậu chưa phù hợp với các kế hoạch phát triển.

● Đánh đổi giữa phát triển và biến đổi khí hậu:

Mặc dù nguồn vốn hạn chế, vẫn tồn tại nhiều vấn đề cấp bách cần được đầu tư, như xóa đói giảm nghèo và phát triển cơ sở hạ tầng Đồng thời, tác động của biến đổi khí hậu vẫn chưa được xác định một cách rõ ràng.

○ Việc tích hợp được coi là tạo thêm thủ tục phức tạp và làm tăng đầu tư cho các dự án

Lợi ích đầu tư ngắn hạn, như nuôi tôm, phá rừng ngập mặn và phát triển cơ sở hạ tầng, thường được ưu tiên hơn so với các kế hoạch dài hạn nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu Mặc dù những hoạt động này tạo ra công ăn việc làm và thu nhập, nhưng chúng cũng làm tăng tính dễ bị tổn thương của các vùng ven biển trước những tác động của biến đổi khí hậu.

● Các chuyên gia về biến đổi khí hậu thường tập trung ở một số cơ quan

● Các nhà quản lý ngành thường đã “quá tải trong công tác tích hợp”, ví dụ như tích hợp vấn đề HIV AIDS, đói nghèo, giới…

● Nhiều dự án được đầu tư trong 3-5 năm, chưa đủ dài để xét đến các tác động tiềm tàng, dài hạn của biến đổi khí hậu

Kêu gọi đầu tư cho việc thích ứng với biến đổi khí hậu gặp nhiều thách thức hơn so với các hoạt động dễ nhận thấy như ứng phó với tình trạng khẩn cấp, phục hồi và xây dựng sau thiên tai.

4.3 Thực trạng tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội

❖Chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu

Chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) đã được tích hợp trong các chính sách chung về ứng phó với BĐKH, như đã nêu trong mục 4.1.1 Các luật và kế hoạch liên quan trực tiếp đến hoạt động này bao gồm: Luật bảo vệ môi trường (2020), Luật đa dạng sinh học (2008), Luật tài nguyên nước (2012), Luật phòng, chống thiên tai (2013), Luật đất đai (2013), Luật khí tượng thủy văn (2015), Luật thủy lợi (2017), Luật lâm nghiệp (2017), Luật thủy sản (2017), Luật quy hoạch (2017), Luật trồng trọt (2018), Luật chăn nuôi (2018), và Kế hoạch quốc gia thích ứng với BĐKH giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050 (Quyết định số 1055/QĐ-TTg ngày 20/7/2020).

❖Chính sách giảm nhẹ phát thải khí nhà kính

Một số văn bản quan trọng liên quan đến giảm nhẹ khí nhà kính (KNK) do Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành bao gồm: Chương trình quốc gia về REDD+ đến năm 2030 (Quyết định số 419/QĐ-TTg ngày 05/4/2017); Cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam (Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/04/2017 và Quyết định số 02/2019/QĐ-TTg ngày 08/02/2019 sửa đổi, bổ sung Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg); và Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, với tầm nhìn đến năm 2025.

Ngày đăng: 29/11/2023, 05:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Are there positive benefits from global warming?https://www.climate.gov/news-features/climate-qa/are-there-positive-benefits-global-warming#:~:text=Also%2C%20studies%20show%20that%2C%20up,thrive%20in%20a%20warmer%20world Sách, tạp chí
Tiêu đề: Are there positive benefits from global warming
Nhà XB: climate.gov
7. Tác động của biến đổi khí hậu đến năng suất một số nông sản chủ lực ở Đồng bằng sông Hồng.https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/tac-dong-cua-bien-doi-khi-hau-den-nang-suat-mot-so-nong-san-chu-luc-o-dong-bang-song-hong-86455.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của biến đổi khí hậu đến năng suất một số nông sản chủ lực ở Đồng bằng sông Hồng
1. Biến đổi khí hậu, những thách thức và cơ hội đối với ngành du lịch Việt Nam https://www.researchgate.net/publication/356580035_Bien_doi_khi_hau_nhung_thach_thuc_va_co_hoi_doi_voi_nganh_du_lich_Viet_Nam Link
2. Những giống cây trồng thích nghi với biến đổi khí hậu toàn cầuhttps://baodaknong.vn/nhung-giong-cay-trong-thich-nghi-voi-bien-doi-khi-hau-toan-cau-85492.html Link
3. Biến đổi khí hậu: Nông nghiệp phải thích nghi và biến thành lợi thế https://laodong.vn/xa-hoi/bien-doi-khi-hau-nong-nghiep-phai-thich-nghi-va-bien-thanh-loi-the-848504.ldo Link
8. Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến tính cách con người.https://www.thiennhien.net/2017/12/22/bien-doi-khi-hau-anh-huong-den-tinh-cach-con-nguoi/ Link
9. Đồng bằng sông Cửu Long có thể ngập đến gần 50% diện tích.https://monre.gov.vn/Pages/dong-bang-song-cuu-long-co-the-ngap-den-gan-50-dien-tich.aspx Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w