Những vấn đề lý luận chung về kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Lý luận chung về chi phí bán hàng và kế toán chi phí bán hàng
I Lý luận chung về chi phí bán hàng và kế toán chi phí bán hàng
1 Khái niệm, phạm vi của chi phí bán hàng
Trong nền kinh tế thị trờng, vấn đề tiêu thụ hàng hoá luôn đợc đặt ra hàng đầu cho bất cứ một loại hình doanh nghiệp nào Đối với doanh nghiệp thơng mại với chức năng chủ yếu là lu thông hàng hoá thì khâu bán ra có vai trò quyết định đến các khâu khác nh mua vào, dự trữ Do vậy các doanh nghiệp luôn luôn phấn đấu đẩy mạnh bán ra Trong quá trình đó, cần thiết phải hao phí một lợng lao động xã hội bao gồm cả lao động sống và lao động vật hoá để tiêu thụ số thành phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp Biểu hiện bằng tiền của những khoản hao phí trên đợc gọi là chi phí bán hàng Hay nói cách khác, chi phí bán hàng là những khoản chi để bảo quản, phân loại, chọn lọc, chỉnh lý, đóng gói hàng hoá và những chi phí phục vụ cho quá trình bán hàng hay chi phí quảng cáo, tiếp thị, giao dịch, chi phí nhân viên, hoa hồng và những chi phí khác.
Cần phân biệt chi phí bán hàng với chi phí lu thông và chi phí kinh doanh khác trong doanh nghiệp:
- Chi phí bán hàng chỉ bao gồm những khoản chi phí phát sinh ở khâu dụ trữ hàng hoá nh chi phí chọn lọc, bảo quản, phân loại, chỉnh lý, bao gói hàng hoá, chi phí vận chuyển bốc dỡ… và chi phí phục vụ bán hàng và chi phí phục vụ bán hàng.
- Chi phí phát sinh ở khâu mua hàng đợc tính vào giá trị vốn của hàng nhập kho nh chi phí vận chuyển, bốc dỡ từ nơi mua về kho doanh nghiệp, chi phí bảo hiểm, tiền thuê kho bãi… và chi phí phục vụ bán hàng.
- Chi phí giao thông bao gồm tất cả chi phí phát sinh ở khâu mua vào, dự trữ và bán ra.
- Các khoản chi phí phục vụ hoạt động liên doanh liên kết, chi phí đầu t ra bên ngoài, lãi tiền vay… và chi phí phục vụ bán hàng đợc hạch toán chung vào chi phí hoạt động tài chính.
- Các khoản chi phí khác phát sinh trong một kỳ kinh doanh nh ng không thể xác định đợc trớc nh chi phí thanh lý TSCĐ, hao hụt vật t hàng
4 hoá, tổn thất tài sản, chi phí do hoả hoạn, thiên tai bất ngờ và các khoản chi phí bất thờng khác khi đợc tính vào chi phí bất thờng.
Nh vậy, chi phí bán hàng là một bộ phận của chi phí lu thông, là chi phí cơ bản cấu thành nên chi phí kinh doanh của doanh nghiệp th ơng mại. Chi phí bán hàng đợc bù đắp từ doanh thu bán hàng trong kỳ Nhng không phải tất cả chi phí phát sinh đều đợc coi là chi phí bán hàng mà có những khoản có thể đợc tính hoặc không đợc tính vào chi phí bán hàng.
Nói chung, những hao phí lao động sống và lao động vật hoá phát sinh trong quá trình dự trữ và tiêu thụ hàng hoá đều đ ợc tính là chi phí bán hàng Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu của chế độ hạch toán kế toán, ng ời ta cần tính vào chi phí bán hàng một phần thu nhập thuần tuý của xã hội nh : BHXH, BHYT, KPCĐ… và chi phí phục vụ bán hàng Mặc dù thực chất những khoản đó không phải là chi phí bán hàng mà là những khoản phân phối lại giữa các đơn vị với nhau. Phần này nhiều hay ít phụ thuộc vào đờng lối kinh tế - tài chính của mỗi quèc gia trong tõng thêi kú.
Theo quy định hiện hành, một số khoản sau không đ ợc tính vào chi phí bán hàng:
- Các khoản chi mang tính phân phối lại nh: thuế các loại, các quỹ… và chi phí phục vụ bán hàng.
- Các khoản chi có nguồn bù đắp riêng nh: lơng chuyên gia, chi phí cho hội nghị công nhân viên, chi phí công tác Đoàn, Đảng, Đoàn thanh niên… và chi phí phục vụ bán hàng.
- Phí liên quan đến việc phục vụ đời sống sinh hoạt văn hoá của công nhân viên nh: nhà trẻ, câu lạc bộ… và chi phí phục vụ bán hàng.
- Các khoản thiệt hại do thiên tai, hoả hoạn, lãi vay quá hạn, phạt do vi phạm hợp đồng… và chi phí phục vụ bán hàng.
2 Phân loại chi phí bán hàng.
Chi phí bán hàng là một bộ phận chi phí quan trọng, phát sinh ở khâu tiêu thụ hàng hoá Chi phí bán hàng phản ánh chất lợng công tác quản lý chi phí và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Yêu cầu quản lý chặt chẽ chi phí bán hàng là hết sức cần thiết Qua đó phải kiểm tra, phân tích xu hớng biến động của chi phí bán hàng, đồng thời đề ra phơng hớng phấn đấu tiết kiệm chi phí bán hàng, đề ra biện pháp hữu hiệu trong công tác quản lý Để áp ứng yêu cầu quản lý chi phí bán hàng một cách có hiệu quả, ngời ta phải tiến hành phân loại chi phí.
Phân loại chi phí bán hàng là việc xắp xếp các khoản chi phí bán hàng có cùng tính chất thành từng loại, từng nhóm theo một tiêu thức nhất định Tuỳ theo yêu cầu quản lý mà có những cách thức phân loại chi phí khác nhau, mỗi một cách phân loại có mục đích và tác dụng riêng Trong doanh nghiệp thơng mại, chi phí bán hàng đợc phân loại theo cách sau:
2.1 Căn cứ vào nội dung chi phí thì toàn bộ chi phí bán hàng bao gồm.
- Chi phí nhân viên: là các khoản phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên đóng gói, vận chuyển, bảo quản hàng hoá nh các khoản tiền lơng, BHYT, BHXH, KPCĐ và các khoản phụ cấp khác.
- Chi phí vật liệu bao bì: là trị giá bằng tiền các loại bao bì, vật đóng gói dùng cho việc bảo quản, bán hàng hoá nh chi phí về vật đóng gói, chi phí về nhiên liệu dùng cho bảo quản bốc dỡ, vận chuyển, vật liệu dùng để sửa chữa TSCĐ ở bộ phận bán hàng… và chi phí phục vụ bán hàng.
- Chi phí dụng cụ đồ dùng: là giá trị bằng tiền các công cụ dụng cụ đồ dùng phục vụ cho quá trình chuẩn bị bán hàng và quá trình bán hàng nh phơng tiện tính toán, dụng cụ đo lờng, các phơng tiện làm việc ở khâu bán.
Những vấn đề lý luận chung về chi phí quản lý doanh nghiệp trong
1 Khái niệm, phạm vi chi phí quản lý doanh nghiệp.
Trong quá trình kinh doanh cùng với chi phí bàn hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp luôn đòi hỏi cần phải đợc quản lý chặt chẽ và có hiệu quả Chi phí quản lý doanh nghiệp cũng là một bộ phận cấu thành của chi phí kinh doanh trong doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Vì vậy cần phải phân biệt chi phí quản lý doanh nghiệp với chi phí bán hàng và các chi phí kinh doanh khác.
Chi phí quản lý doanh nghiệp là các khoản chi phí phát sinh trong toàn doanh nghiệp, phục vụ cho công tác quản lý và điều hành chính, các khoản chi phí dịch vụ mua ngoài ở bộ phận văn phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ khó đòi
Nh vậy chi phí quản lý doanh nghiệp là những chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để duy trì bộ máy quản lý và các khoản chi khác không liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh
Chi phí quản lý doanh nghiệp là chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng Nó ảnh h ởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp là phải quản lý chặt chẽ và có hiệu quả chi phí quản lý doanh nghiệp Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích công tác hạch toán chi phí cần xác định phạm vi chi phí quản lý doanh nghiệp để đảm baỏ thực hiện mục tiêu quản lý Phạm vi chi phí quản lý doanh nghiệp là giới hạn của những chi phí phát sinh đợc tính là chi phí quản lý doanh nghiệp Việc xác định phạm vi chi phí quản lý doanh nghiệp trong kinh doanh lu chuyển hàng hoá phải dựa trên nguyên tắc cơ bản sau:
- Chỉ những khoản chi phí liên quan gián tiếp đến quá trình kinh doanh luân chuyển hàng hoá tức là các khoản liên quan đến hoạt động chung của toàn doanh nghiệp mới đợc tính vào chi phí cho nhân viên quản lý (Tiền lơng, phụ cấp, BHYT, BHXH ), chi phí đồ dùng, dụng cụ văn phòng Còn những chi phí liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh luân chuyển hàng hoá của doanh nghiệp nh chi phí nhân viên trực tiếp bán hàng, đồ dùng, dụng cụ phục vụ bán hàng … và chi phí phục vụ bán hàng thì không đợc tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Đối với nhng TSCĐ phục vụ cho hoạt động quản lý nh nhà cửa, các phòng ban, phơng tiện truyền dẫn, thiết bị quản lý… và chi phí phục vụ bán hàng thì giá trị hao mòn của chúng đợc tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Không tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp những chi phí có tính chất bất bất thờng nh chi phí thanh lý TSCĐ, tiền phạt do vi phạm hợp đồng, tiền phạt thuế, truy nộp thuế, các khoản chi phí phát sinh do kế toán bị nhầm lẫn hay bỏ sót khi vào sổ.
- Không tính và chi phí quản lý doanh nghiệp những chi phí liên quan đến hoạt động về vốn nh chi phí để đầu t, ký quỹ, ký cợc, chi phí liên quan đến cho vay.
Ngoài ra theo yêu cầu quản lý chi phí cụ thể trong hệ thống kế toán Việt Nam mới ban hành cùng quy định một số khoản phải tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp Đó là các khoản thuế, phí, lệ phí (nh thuế môn bài, thuế đất, thuế trớc bạ, khoản thu trên vốn, phí giao thông… và chi phí phục vụ bán hàng.) và các khoản chi phí dự phòng (dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi).
Xác định rằng chi phí quản lý doanh nghiệp có tác dụng đảm bảo hoạch toán đúng, đủ chi phí, tạo điều kiện cho doanh nghiệp xác định chính xác kết quả hoạt động kinh doanh, thúc đẩy việc thực hiện quyền tự chủ về tài chính của mình.
2 Phân loại chi phí quản lý doanh nghiệp.
Trong công tác quản lý và hoạch toán chi phí, việc phân tích tổng hợp và hệ thống hoá chi phí là một công việc hết sức quan trọng Cũng nh chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp cũng nh sắp xếpvà phân loại để thuận lợi cho công tác hoạch toán và quản lý, Nhng khác với việc phân loại chi phí bán hàng, chi phí quan lý doanh nghiệp không phân biệt theo bản chất kinh tế, theo doanh thu bán hàng mà chỉ phân loại theo nội dung chi phí Trên cơ sở chế độ kế toán mới ban hành đã có sự điều chỉnh hợp lý phù hợp với điều kiện đặc điểm của mỗi doanh nghiệp của cá doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có thể phân loại nh sau:
- Chi phí nhân viên quản lý.
- Chi phí vật liệu quản lý
- Chi phí đồ dùng văn phòng.
- Chi phÝ khÊu hao TSC§.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài
- Chi phí bằng tiền khác.
Nội dung đã phản ánh cụ thể ỏ phần I
Tác dụng cách phân loại này: Phân loại chi phí tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp theo nội dung chi phí tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong công tác tổ chức kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết chi phí quản lý theo khoản mục chi phí Cách phân loại này là cơ sở cho công tác đánh gía,phân tích chi phí quản lý doanh nghiệp theo khoản mục, xác định đợc tỷ trọng từng khoản chi phí trong tổng chi phí phát sinh và xu hớng biến động của chúng Từ đó, ngời ta xác định đợc trọng tâm của công tác quản lý chi phí, đa ra biện pháp nhằm điều chỉnh và quản lý kịp thời đối với từng khoản mục chi phí Cách phân loại này còn là tiền đề hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch chi phí quản lý doanh nghiệp một cách khoa học, thực tế Do vậy, nó có tác dụng rất lớn đối với công tác quản lý chi phí, góp phần tiết kiệm chi phí.
3 ý nghĩa và yêu cầu quản lý doanh nghiệp những biện pháp chủ yếu nhằm quản lý có hiệu quả chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp để duy trì bộ máy công ty, phục vụ quản lý điều hành chung mọi hoạt dộng kinh doanh thu tăng lợi nhận và giảm chi phí kinh doanh trong đó có chi phí quản lý doanh nghiệp Muốn vậy phải đề ra các biện pháp quản lý chi phí một cách hiệu quả.
Quản lý chi phí quản lý doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp nh sau:
- Lập kế hoạch định mức chi phí trong một hạn mức cho phép Kiểm tra giám sát việc thực hiện kế hoạch chi phí, từ đó phân tách đánh giá tình hình để đa ra các biện pháp cụ thể đối vớiviệc sử dụng từng loại chi phí.
- Sử dụng vốn tiết kiệm hiệu quả, tăng nhanh vòng quay của vốn để hạ thấp chi phí lãi vay.
- Tổ chức quan hệ khách hàng, bạn hàng có uy tín, tìm hiểu thị tr ờng nguồn hàng
- Biện pháp đợc coi là quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định là tổ chức kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp Kế toán chi phí quản lý kinh doanh nghiệp nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác các thông tin về việc thực hiện các chỉ tiêu chi phí quản lý doanh nghiệp, phục vụ việc lập kế hoạch chi phí Do đó, ta cần đi sâu nghiên cứu công tác kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp
4 Kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết chi phí quản lý doanh nghiệp trong doanh nghiệp có liên quan hoạt động xuất nhập khẩu.
4.1 Hạch toán CP QLDN cần thực hiện tốt các nhiệm vụ:
Yêu cầu của việc hoàn thiện kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp trong các doanh nghiệp thơng mại
quản lý doanh nghiệp trong các doanh nghiệp thong mại
Trong điều kiện của cơ chế hiện nay, nhà nớc đã tạo ra môi trờng pháp lý, chính trị ổn định, các doanh nghiệp đợc tự chủ về mặt tài chính trong quá trình hoạt động của minh Vì vậy, phấn đấu hạ thấp chi phí, tăng lợi nhuận luôn là yêu cầu quan trọng và là mục tiêu chủ yếu của các doanh nghiệp.
Kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là một trong những biện pháp đợc sử dụng rộng rãi để quản lý chi phí một cách có hiệu quả Do vậy, kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cũng cần phải đợc quan tâm, đổi mới để phù hợp với sự đổi mới của cơ chế quản lý kinh tế cũng nh phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp.
Hoàn thiện kế toán chi phí, đặc biệt là chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp, vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn trong công tác quản lý chi phí.
Mặt khác kế toán là một công cụ quan trọng của nhà nớc để quản lý nền kinh tế quốc dân trên tầm vĩ mô và vi mô Do vậy vấn đề hoàn thiện chi phí là một trong những vấn đề cần thiết hiện nay.
Xuất phát từ vai trò trên, đòi hỏi cần phải hoàn thiện và đổi mới công tác kế toán nói chung và kế toán chi phí nói riêng, nhằm phù hợp với yêu cầu thực tế ở các doanh nghiệp Đồng thời dựa vào các phơng hớng đổi mới kế toán tài chính thì việc hoàn thiện kế toán chi phí phải dựa trện các nguyên tắc sau:
- Hoàn thiện kế toán chi phí phải đảm bảo thống nhất từ trung ơng đến cơ sở đáp ứng nguyên tắc bảo đảm sự thống nhất giữa các chỉ tiêu mà kế toán phản ánh, thống nhất về hệ thống chứng từ, tài khoản kế toán các sổ sách báo cáo kế toán Thống nhất trong việc hoàn thiện là một yêu cầu cơ
5 6 bản nhằm tạo ra sự thống nhất về chế độ kế toán giữa ngành kinh doanh xuất nhập khẩu với chế độ kế toán nhà nớc ban hành.
- Đảm bảo sự thống nhất giữa ba loại hạch toán: Thống kê - nghiệp vụ - kế toán, đồng thời phải đảm bảo cho bộ máy kế toán gọn nhẹ, phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý kinh doanh đặc thù của từng ngành, từng doanh nghiệp cụ thể và phải tuần theo chế độ kế toán của nhà nớc.
- Tổ chức bộ máy kế toán phải dựa vào chế độ, thể lệ quản lý tài chính và công tác kế toán, lựa chọn hình thức kế toán phù hợp với quy mô, đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp đồng thời chú ý đến vấn đề trang bị phơng tiện tính toán hiện đại.
- Đảm bảo cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, đầy đủ mọi mặt kinh tế tài chính, đồng thời tiếp cận với chuẩn mực kế toán quốc tế, vận dụng cho phù hợp với tình hình thực tế của nớc ta và của từng ngành.
- Việc hoàn thiện các nội dung của kế toán chi phí phải quán triệt yêu cầu về tính khả thi và hiệu quả.
Môt số vấn đề hoàn thiện về công tác chi phí bán hàng và kế toán quản lý doang nghiệp ở công ty TNHH PMC
Xuất phát từ tình hình thực tế về kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp ở công ty TNHH(PMC), chúng tôi có đề xuất một vài ý kiến để cải tiến và hoàn thiện kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp ở công ty nh sau:
2.1 Phân loại chi phí bán hàng
Do đặc điểm của công ty là kinh doanh xuất nhập khẩu, bán hàng không những ở trong nớc mà còn phải vận chuyển hàng hoá ra nớc ngoài. Trong quá trình này, doanh nghiệp phải chi ra một số tiền chi phí về vận chuyển và bảo quản hàng hoá Do vậy, bên cạnh việc phân loại chi phí bán hàng theo khoản mục chi phí (Phần I), kế toán cần phân loại theo địa giới phát sinh chi phí, bao gồm:
- Chi phí trong nớc: Bao gồm các khoản chi phí chi ra phục vụ cho việc bán hàng thuộc phạm vi trong nớc nh chi phí vận chuyển trong nớc, khấu hao tài sản cố định, chi phí vật liệu, công cụ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí quảng cáo.
- Chi phí ngoài nớc: Gồm chi phí vận chuyển ngoài nớc và chi phí bảo hiểm hàng hoá.
Vì vậy, chi phí bán hàng ngoài nớc sẽ đợc ở một khoản mục riêng trong tổng số chi phí bán hàng.
Việc phân loại chi phí bán hàng thành chi phí trong n ớc và chi phí ngoài nớc có tác dụng theo dõi chặt chẽ tình hình thực hiện dự toán chi phí bán hàng, từ đó có biện pháp quản lý chi phí, tiết kiệm đ ợc các khoản mục chi phÝ.
2.2 Phạm vi, nội dung chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Cần phân biệt rõ các khoản mục chi phí trong tổng chi phí kinh doanh của công ty nh sau:
- Chi phí bán hàng: Là những chi phí phục vụ cho khâu dự trữ, bảo quản hàng hoá, chi phí phục vụ công tác bán hàng, bao gồm các khoản mục chi phí sau:
+ Chi phí tiền lơng, tiền thởng, các khoản phải trả cho nhân viên bán hàng.
+ Chi phí vật liệu, bao bì, nhiên liệu phục vụ bán hàng.
+ Chi phí công cụ, dụng cụ phục vụ bán hàng.
+ Chi phí vận chuyển hàng hoá.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài.
+ Chi phí bằng tiền khác
Không hạch toán vào chi phí bán hàng các khoản chi phí phục vụ công tác mua hàng (nh chi phí vận chuyển từ nơi mua về công ty, chi phí cho cán bộ đi mua hàng, chi phí thuê cất kho hàng hoá trên đờng vận chuyển về công ty ) mà hạch toán vào giá vốn hàng mua nhập kho.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp Nội dung chi phí này bao gồm:
+ Chi phí nhân viên quản lý, nhân viên bộ phận văn phòng nh tiền l- ơng, phụ cấp và các khoản phải trả khác.
+ Chi phí nhiên liệu, vật liêu phục vụ công tác quản lý.
+ Chi phí công cụ, dụng cụ quản lý.
+ Chi phí khấu hao TSCĐ bộ phận văn phòng.
+ Các khoản thuế, phí, lệ phí.
+ Chi phí dự phòng giảm giá hàng tồn kho và dự phòng phải thu khó đòi. + Chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ công tác quản lý.
+ Chi phí bằng tiền khác.
- Chi phí cho các hoạt động đầu t tài chính nh chi phí liên doanh, môi giới, chi phí liên quan đến mua bán chứng khoán, ngoại tệ đ ợc hạch toán vào chi phí hoạt động tài chính.
- Chi phí về nhợng bán TSCĐ, tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế, chi phí thanh lý hàng hoá bị hỏng khách hàng trả lại đ ợc hạch toán vào chi phÝ bÊt thêng.
Theo ý kiến chúng tôi có lãi phải trả và lãi tiền gửi của khoản nào thì phải hạch toán tăng chi phí hoặc giảm chi phí của khoản đó Chẳng hạn chi phí lãi vay của khoản vay để phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thơng mại (bán hàng) thì ghi tăng chi phí hoạt động tài chính, lãi của khoản vay để xây dựng cơ bản phải ghi tăng giá thành công trình
2.3 Chi phí quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trờng, mục tiêu của các doanh nghiệp là lợi nhuận. Doanh nghiệp thơng mại cần phải bán đợc hàng hoá và bán đợc nhiều thì mới có khả năng thu đợc doanh lợi cao, đứng vững và phát triển Hàng hoá không bán đợc thì doanh nghiệp bị thua lỗ và có nguy cơ phá sản Vì vậy, để bán đợc hàng hoá, ngoài vấn đề chất lợng, giá cả, hợp thị hiếu tiêu dùng thì doanh nghiệp phải tìm mọi cách để ngời tiêu dùng hiểu biết về hàng hoá Quảng cáo sẽ thông tin cho ngời tiêu dùng biết đợc hàng hoá mà doanh nghiệp kinh doanh và bản thân doanh nghiệp thì quảng cáo còn có tác dụng đẩy khách hàng ra xa đối thủ cạnh tranh và kéo khách hàng về phía mình.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của quảng cáo, ngày nay các doanh nghiệp đầu t ngày càng lớn cho các chi phí quảng cáo Chi phí này phát sinh tơng đối lớn và hiệu quả của nó có thể liên quan đến nhiều kỳ kinh doanh Do vậy xét trên góc độ hạch toán kế toán thì kế toán nên mở thêm khoản mục “Chi phí quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu sản phẩm” để theo dõi riêng khoản chi phí này Khi đó kế toán mở thêm tài khoản cấp II của TK
641 “chi phí bán hàng” là TK 6419 “Chi phí quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu sản phẩm”.
Kết cấu TK này nh sau:
TK 6419 Chi phí quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu sản phẩm thực tế phát sinh
- Các khoản giảm chi phí
- K/C sang TK 911 để xác định KQKD hoặc TK 142
Cuối kỳ TK này không có số d. Đối với công ty TNHH (PMC), kinh doanh các mặt hàng khác nhau: , hàng nhập khẩu, hàng kinh doanh nội địa thì công ty có thể mở thêm một số TK chi tiết cho từng hoạt động nh sau:
- TK 64191 “Chi phí quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu sản phẩm hàng NK”
- TK 64192 “Chi phí quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu sản phẩm hàng KDN§”
Khi chi phí quảng cáo phát sinh liên quan trực tiếp đến hoạt động nào thì kế toán trực tiếp đến hoạt động đó Đối với chi phí quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu sản phẩm liên quan đến nhiều hoạt động thì sẽ đ ợc hạch toán riêng và đến cuối kỳ căn cứ vào doanh số bán hàng để tiến hành phân bổ cho từng hoạt động.
Ngoài ra, kế toán công ty cũng có thể phân bổ dần chi phí quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu sản phẩm để tránh làm cho tổng chi phí bán hàng tăng đột ngột Cụ thể nh sau:
Khi phát sinh chi phí quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu sản phẩm kế toán tập hợp vào TK 142 “Chi phí trả trớc” ghi:
Nợ TK 142 “Chi phí trả trớc” (1421)
Có TK 112 “Tiền gửi ngân hàng” Đến cuối mỗi kỳ kinh doanh, kế toán tiến hành phân bổ cho kỳ kinh doanh đó:
Nợ TK 6419 “Chi phí quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu sản phẩm”
Có TK 142 “Chi phí trả trớc”
Việc tách chi phí quảng cáo thành một khoản mục riêng trong tổng chi phí bán hàng là cần thiết bởi lẽ chi phí này th ờng phát sinh rất lớn, liên quan đến nhiều kỳ kinh doanh Nếu không có biện pháp quản lý chặt chẽ sẽ làm giá thành hàng hoá lên quá cao, ảnh hởng mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp.
2.4.Hoàn thiện kế toán chi tiết chi phí bán hàng theo nhóm hàng