Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG TRONG CHU TRINH CHÍNH SÁCH CÔNG 1.1. Chính sách công và chu trình chính sách công 1.1.1. Khái niệm và vai trò của chính sách công 1.1.1.1. Quan niệm về chính sách công Trên thế giới Chính sách công và khoa học về chính sách công là một trong những vấn đề hệ trọng của chính trị và khoa học chính trị, tuy nhiên cho đến nay trên thế giới cũng như ở nước ta, nhận thức về vấn đề này vẫn chưa thống nhất, thậm chí còn có những quan niệm trái ngược nhau. Các tác giả Thomas R. Dye, B. Guy Perters... cho rằng chính sách công như là sản phẩm của hoạt động có mục đích của nhà nước. John Deway, Jones, William Jenkin lại quan niệm chính sách như là quá trình của các bước giải quyết những vấn đề công cộng (cú nghĩa là: tất cả những chính sách nhằm giải quyết các vấn đề công cộng của xã hội đều là chính sách công). Theo Harold Lasswell, chính sách công là một quá trình ra quyết định có tính sáng tạo bao gồm các bước: tranh luận, đưa ra các giải pháp, lựa chọn, áp dụng thực thi và kết thúc. Một số tác giả khác (J.Anderson, G. Brewer và P.de Leon, Hogwood và Gunn, Haddad, Crane, Harman) đó trình bày các định nghĩa về chính sách từ những hướng tiếp cận khác, trong đó nhấn mạnh những yếu tố: tầm quan trọng, chủ thể, tiến trình chính sách: Chính sách là một quá trình hành động có mục đích được theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm (James Anderson), hoặc “Chính sách công là những quyết định quan trọng nhất của xã hội, là những hành động có tính chức năng dựa trên sự đồng thuận hoặc phê chuẩn của toàn hệ thống, theo đó, chính sách công là một quá trình có tính hệ thống diễn ra theo sáu giai đoạn: khởi xướng, xem xét, lựa chọn, thực thi, đánh giá và kết thúc” (G. Brewer và P.de Leon) ... Trong những năm gần đây, khái niệm chính sách công được nhận thức ở mức độ khái quát cao hơn, mang tính chính trị rõ nét. Nó được hiểu như một quá trình chính trị, mà vấn đề cơ bản nhất là sự tự đấu tranh vượt lên khẳng định chân giá trị của các ý thức hệ, các tư tưởng của chủ thể. Dưới góc nhìn kinh tế học, chính sách công chính là sự can thiệp của nhà nước nhằm sửa chữa những khuyết tật của nền kinh tế thị trường (lãng phí nguồn lực, thiếu hiệu quả, đặc quyền, bất bình đẳng, các vấn đề xã hội, an ninh, môi trường...) mà tự thị trường không thể khắc phục. Xuất phát từ cách tiếp cận chi phí lợi ích, E.M.Gramlich quan niệm chính sách công là toàn bộ các chương trình của nhà nước (phân bổ các nguồn lực, phân phối và ổn định) nhằm hai mục tiêu căn bản: cung cấp hàng hóa công cộng và cải thiện sự bất bình đẳng. Các nhà khoa học Mỹ định nghĩa: “Chính sách là bản tuyên bố các mục đích chung có thể được chuyển thành kế hoạch hay chương trình có thể nêu rõ những mục tiêu cần đạt được” . Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau, song có thể nhận thấy một số đặc điểm của chính sách công như sau: Thứ nhất, chính sách công là các chính sách do nhà nước ban hành (bao gồm các cấp có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương), để thực hiện các chức năng của nhà nước là quản lý, điều hành kinh tế xã hội theo những mục tiêu đề ra. Nói cách khác, chính sách công là sản phẩm của hoạt động nhà nước nhằm giải quyết những vấn đề chung ảnh hưởng đến toàn bộ các công dân trong xã hội. Chủ thể ban hành chính sách công chỉ có thể là các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Chính sách công do nhà nước ban hành, nên có thể coi là chính sách của nhà nước (gọi tắt là chính sách), được thực hiện dựa vào việc sử dụng quyền lực công của nhà nước với các công cụ cưỡng chế hợp pháp. Các cơ quan nhà nước sử dụng thẩm quyền của mình để điều hành, thực hiện chính sách công. Là sản phẩm do nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện nên chính sách công luôn phản ánh bản chất của nhà nước. Trong các chế độ tư hữu, nhà nước mang bản chất của các giai cấp bóc lột, thiểu số thống trị đa số. Do đó, chính sách của những nhà nước này phục vụ quyền lợi của giai cấp thống trị. Trong một số trường hợp, những quyền lợi này có thể là trùng hợp với quyền lợi của quốc gia và nhân dân lao động; nhưng nếu chúng mâu thuẫn và đối lập, thì sẽ không được sự ủng hộ của nhân dân. Thứ hai, là kết quả quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước, chính sách công bao gồm hàng loạt các bước, các giai đoạn và các quyết định có liên quan đến nhau, do một hay nhiều cấp khác nhau trong bộ máy nhà nước ban hành cùng hướng vào giải quyết một vấn đề cụ thể trong một thời gian dài. Trên thực tế, chính sách công thường được thể chế hoá thành một loạt các quyết định có hiệu lực pháp lý của các cơ quan nhà nước, trở thành những quy phạm hành vi cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân để giải quyết vấn đề công cộng của xã hội. Khái niệm quyết định ở đây không giống với các quyết định hành chính, cũng không đơn thuần là những văn bản ỏp dụng pháp luật của nhà nước, mà có ý nghĩa rộng hơn là một sự lựa chọn hành động của nhà nước. Các quyết định này có thể bao gồm cả luật, các văn bản dưới luật, thậm chí cả những ý tưởng của các nhà lãnh đạo thể hiện trong lời nói và hành động của họ. Như vậy, chính sách không đồng nhất với một đạo luật hay một văn bản nào đó, bởi vì một chính sách có thể được thể chế hoá thành các văn bản pháp luật để tạo căn cứ pháp lý cho việc thực hiện, song nó còn bao gồm những phương án hành động không mang tính bắt buộc mà chỉ có tính định hướng và khuyến khích (chẳng hạn như các báo cáo của chính phủ). Thứ ba, chính sách công là những quyết định hành động, trước hết thể hiện dự định của các nhà hoạch định chính sách nhằm thay đổi hoặc duy trì một hiện trạng nào đó và sau đó là những hành vi thực hiện các dự định đó. Vì vậy, cần phân biệt hai khía cạnh của thuật ngữ: chính sách là những gì thực sự xảy ra (nhấn mạnh kết quả thực tế) và chính sách là những gì dự định sẽ xảy ra (nhấn mạnh ý định của các văn bản chính sách). Thứ tư, chính sách công tập trung giải quyết vấn đề đang đặt ra trong đời sống xã hội theo những mục tiêu xác định. Khác với các loại công cụ quản lý khác như chiến lược, kế hoạch của nhà nước (là những chương trình hành động tổng quát, bao quát một hoặc nhiều lĩnh vực), đặc điểm của chính sách công là chúng được đề ra nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề đang đặt ra trong đời sống xã hội. Chính sách công chỉ xuất hiện khi trước đó đã tồn tại hoặc có nguy cơ chắc chắn xuất hiện một vấn đề cần giải quyết. Việc giải quyết những vấn đề nói trên nhằm vào những mục tiêu mà nhà nước mong muốn đạt được, để giải quyết những vấn đề quan trọng của đất nước trong một thời gian nhất định.
Chính sách công và chu trình chính sách công
1.1.1 Khái niệm và vai trò của chính sách công
1.1.1.1 Quan niệm về chính sách công
Chính sách công và khoa học về chính sách công là một trong những vấn đề hệ trọng của chính trị và khoa học chính trị, tuy nhiên cho đến nay trên thế giới cũng như ở nước ta, nhận thức về vấn đề này vẫn chưa thống nhất, thậm chí còn có những quan niệm trái ngược nhau Các tác giả Thomas R. Dye, B Guy Perters cho rằng chính sách công như là sản phẩm của hoạt động có mục đích của nhà nước John Deway, Jones, William Jenkin lại quan niệm chính sách như là quá trình của các bước giải quyết những vấn đề công cộng (cú nghĩa là: tất cả những chính sách nhằm giải quyết các vấn đề công cộng của xã hội đều là chính sách công) Theo Harold Lasswell, chính sách công là một quá trình ra quyết định có tính sáng tạo bao gồm các bước: tranh luận, đưa ra các giải pháp, lựa chọn, áp dụng- thực thi và kết thúc Một số tác giả khác (J.Anderson, G Brewer và P.de Leon, Hogwood và Gunn, Haddad, Crane, Harman) đó trình bày các định nghĩa về chính sách từ những hướng tiếp cận khác, trong đó nhấn mạnh những yếu tố: tầm quan trọng, chủ thể, tiến trình chính sách: Chính sách là một quá trình hành động có mục đích được theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm (James Anderson), hoặc “Chính sách công là những quyết định quan trọng nhất của xã hội, là những hành động có tính chức năng dựa trên sự đồng thuận hoặc phê chuẩn của toàn hệ thống, theo đó, chính sách công là một quá trình có tính hệ thống diễn ra theo sáu giai đoạn: khởi xướng, xem xét, lựa chọn, thực thi, đánh giá và kết thúc” (G Brewer và P.de Leon) 1 Trong những năm gần đây, khái niệm chính sách công được nhận thức ở mức độ khái quát cao hơn, mang tính chính trị rõ nét Nó được hiểu như một quá trình chính trị, mà vấn đề cơ bản nhất là sự tự đấu tranh vượt lên khẳng định chân giá trị của các ý thức hệ, các tư tưởng của chủ thể Dưới góc nhìn kinh tế học, chính sách công chính là sự can thiệp của nhà nước nhằm sửa chữa những khuyết tật của nền kinh tế thị trường (lãng phí nguồn lực, thiếu hiệu quả, đặc quyền, bất bình đẳng, các vấn đề xã hội, an ninh, môi trường ) mà tự thị trường không thể khắc phục Xuất phát từ cách tiếp cận chi phí- lợi ích,
E.M.Gramlich quan niệm chính sách công là toàn bộ các chương trình của nhà nước (phân bổ các nguồn lực, phân phối và ổn định) nhằm hai mục tiêu căn bản: cung cấp hàng hóa công cộng và cải thiện sự bất bình đẳng Các nhà khoa học Mỹ định nghĩa: “Chính sách là bản tuyên bố các mục đích chung có thể được chuyển thành kế hoạch hay chương trình có thể nêu rõ những mục tiêu cần đạt được” 2
Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau, song có thể nhận thấy một số đặc điểm của chính sách công như sau:
- Thứ nhất, chính sách công là các chính sách do nhà nước ban hành
(bao gồm các cấp có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương), để thực hiện các chức năng của nhà nước là quản lý, điều hành kinh tế - xã hội theo những mục tiêu đề ra Nói cách khác, chính sách công là sản phẩm của hoạt động nhà nước nhằm giải quyết những vấn đề chung ảnh hưởng đến toàn bộ các công dân trong xã hội Chủ thể ban hành chính sách công chỉ có thể là các cơ quan trong bộ máy nhà nước
Chính sách công do nhà nước ban hành, nên có thể coi là chính sách của nhà nước (gọi tắt là chính sách), được thực hiện dựa vào việc sử dụng
1 Dẫn theo Nguyễn Đăng Thành (chủ nhiệm): Chính sách và những vấn đề cơ bản chi phối việc hoạch định chính sách ở Việt Nam, Tổng quan đề tài cấp bộ, H., 2002, tr 4 -6.
2 H.Collins, J.M.Shafritz: Từ điển về chính quyền và chính trị Hoa Kỳ, Nxb CTQG, H., 2002, tr 687. quyền lực công của nhà nước với các công cụ cưỡng chế hợp pháp Các cơ quan nhà nước sử dụng thẩm quyền của mình để điều hành, thực hiện chính sách công.
Là sản phẩm do nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện nên chính sách công luôn phản ánh bản chất của nhà nước Trong các chế độ tư hữu, nhà nước mang bản chất của các giai cấp bóc lột, thiểu số thống trị đa số Do đó, chính sách của những nhà nước này phục vụ quyền lợi của giai cấp thống trị. Trong một số trường hợp, những quyền lợi này có thể là trùng hợp với quyền lợi của quốc gia và nhân dân lao động; nhưng nếu chúng mâu thuẫn và đối lập, thì sẽ không được sự ủng hộ của nhân dân
- Thứ hai, là kết quả quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước, chính sách công bao gồm hàng loạt các bước, các giai đoạn và các quyết định có liên quan đến nhau, do một hay nhiều cấp khác nhau trong bộ máy nhà nước ban hành cùng hướng vào giải quyết một vấn đề cụ thể trong một thời gian dài Trên thực tế, chính sách công thường được thể chế hoá thành một loạt các quyết định có hiệu lực pháp lý của các cơ quan nhà nước, trở thành những quy phạm hành vi cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân để giải quyết vấn đề công cộng của xã hội Khái niệm quyết định ở đây không giống với các quyết định hành chính, cũng không đơn thuần là những văn bản ỏp dụng pháp luật của nhà nước, mà có ý nghĩa rộng hơn- là một sự lựa chọn hành động của nhà nước Các quyết định này có thể bao gồm cả luật, các văn bản dưới luật, thậm chí cả những ý tưởng của các nhà lãnh đạo thể hiện trong lời nói và hành động của họ Như vậy, chính sách không đồng nhất với một đạo luật hay một văn bản nào đó, bởi vì một chính sách có thể được thể chế hoá thành các văn bản pháp luật để tạo căn cứ pháp lý cho việc thực hiện, song nó còn bao gồm những phương án hành động không mang tính bắt buộc mà chỉ có tính định hướng và khuyến khích (chẳng hạn như các báo cáo của chính phủ).
- Thứ ba, chính sách công là những quyết định hành động, trước hết thể hiện dự định của các nhà hoạch định chính sách nhằm thay đổi hoặc duy trì một hiện trạng nào đó và sau đó là những hành vi thực hiện các dự định đó.
Vì vậy, cần phân biệt hai khía cạnh của thuật ngữ: chính sách là những gì thực sự xảy ra (nhấn mạnh kết quả thực tế) và chính sách là những gì dự định sẽ xảy ra (nhấn mạnh ý định của các văn bản chính sách)
- Thứ tư, chính sách công tập trung giải quyết vấn đề đang đặt ra trong đời sống xã hội theo những mục tiêu xác định Khác với các loại công cụ quản lý khác như chiến lược, kế hoạch của nhà nước (là những chương trình hành động tổng quát, bao quát một hoặc nhiều lĩnh vực), đặc điểm của chính sách công là chúng được đề ra nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề đang đặt ra trong đời sống xã hội Chính sách công chỉ xuất hiện khi trước đó đã tồn tại hoặc có nguy cơ chắc chắn xuất hiện một vấn đề cần giải quyết Việc giải quyết những vấn đề nói trên nhằm vào những mục tiêu mà nhà nước mong muốn đạt được, để giải quyết những vấn đề quan trọng của đất nước trong một thời gian nhất định.
- Thứ năm, theo nghĩa rộng, chính sách công bao gồm những việc nhà nước định làm hoặc không định làm Điều đó có nghĩa là không phải mọi mục tiêu của chính sách công đều dẫn tới hành động, mà nó có thể là yêu cầu chủ thể không được hành động Theo đó, chính sách còn là sự thoả thiệp của chính phủ đối với nền kinh tế ngay cả khi không ban hành chính sách Chẳng hạn: chính sách “thả nổi giá cả” (hoặc lãi suất), chính sách “không liên kết”,
“không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác”…
- Thứ sáu, chính sách công tác động đến các đối tượng của chính sách - là những người chịu sự tác động hay điều tiết của chính sách Phạm vi điều tiết của mỗi chính sách rộng hay hẹp tuỳ theo nội dung của từng chính sách.
Có thể chia thành: đối tượng trực tiếp - là những người trực tiếp chịu sự điều chỉnh của chính sách đó, và đối tượng gián tiếp - là những người chịu ảnh hưởng của chính sách đó một cách gián tiếp
- Thứ bảy, chính sách công được nhà nước đề ra nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đồng hoặc của quốc gia, gắn với việc phân phối và sử dụng các nguồn lực công của nhà nước (ngân sách và các tài sản công khác do nhà nước quản lý) Bản chất của chính sách công là sự phân phối lợi ích công cộng mang tính quyền uy do nhà nước tiến hành đối với toàn xã hội Tuy nhiên, trên thực tế có tình trạng là một chính sách công có thể đem lại lợi ích cho nhóm dân cư này nhiều hơn so với nhóm khác, thậm chí có nhóm bị thiệt thòi Xét về bản chất, chính sách công là lời giải bài toán xung đột các giá trị, là giải pháp phân bố điều hoà các giá trị, các lợi ích trên quy mô xã hội. Chính sách là biểu hiện của chính trị.
Một số vấn đề lý luận về truyền thông
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, chức năng của truyền thông
Truyền thông là một khái niệm có nội hàm rộng, hiện nay có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau, chưa có khái niệm thống nhất Tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà truyền thông được hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Truyền thông, theo nguyên nghĩa gốc Latinh (commune) là chung, cộng đồng; là nội dung, cách thức, phương tiện để đạt tới sự hiểu biết giữa các cá nhân với nhau và giữa cá nhân với cộng đồng xã hội Trong tiếng Anh, truyền thông (communication) chỉ sự truyền đạt, tuyên truyền, thông báo, thông tin Truyền thông là một quá trình trao đổi thông điệp giữa các thành viên trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết, qua đó liên kết với nhau [11, tr208]
- Theo định nghĩa cơ bản về truyền thông trong cuốn Mass Media Mass Culture của Jame Wilson và Stan Le Roy Wilson thì: Truyền thông là một quá trình đối tượng truyền đạt (nguồn phát) sắp xếp, lựa chọn và chia sẻ các ký hiệu để truyền tới đối tượng tiếp nhận, làm cho đối tượng tiếp nhận thấy và cảm nhận được những ý định, mục đích tương tự với ý định và mục đích của đối tượng truyền đạt [18, tr8]
- Người ta cũng cho rằng, “truyền thông là một phạm trù cơ bản, qua đó các hệ thống xã hội được hình thành, phát triển Thông qua truyền thông các thành tố xã hội, hệ thống con người, các hệ thống xã hội bao gồm cả hệ thống nhỏ, hệ thống lớn liên tiếp được cải biến và phân hóa…Thông qua truyền thông các giá trị và chuẩn mực được chuyển giao và xã hội hóa.” [21]
Cũng có thể hiểu “truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau để gia tăng hiểu biết lẫn nhau và hiểu biết về môi trường xung quanh, nhằm thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm hoặc của cộng đồng xã hội nói chung, bảo đảm sự phát triển bền vững.”
Truyền thông được hiểu là quá trình trao đổi thông tin, tương tác thông tin với nhau giữa hai hoặc nhiều người với nhau tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức Theo nghĩa này, truyền thông được hiểu là sản phẩm của con người, là động lực kích thích sự phát triển của xã hội.
1.2.1.2 Đặc điểm của truyền thông
Truyền thông là một khái niệm rộng để chỉ các hoạt động truyền đạt và lan truyền thông tin Các yếu tố cơ bản trong khái niệm truyền thông bao gồm:
+ Nguồn: Đó chính là nơi chứa đựng, khởi xướng những thông tin lan truyền
+ Nội dung: Là thông tin, thông điệp truyền tải đó có thể là: câu chuyện, bài viết, hình ảnh, video…
+ Kênh truyển tải: qua báo chí, truyền thanh, truyền hình, dư luận… (kênh truyền thống); qua internet.
+ Người nhận: Là đối tượng mà sự truyền đạt thông tin cần hướng tới + Phản hồi: Là những ý kiến, thông tin ừ người nhận chuyển về
+ Nhiễu: Những thông tin có thể bị sai lệch trong quá trình lan truyền
Truyền thông là một hoạt động mang tính tương tác đa chiều Nên bạn cũng có thể nhận biết được những thông tin phản hồi từ khách hàng để có thể phát huy những thông tin tức cực hoặc sửa đổi điều chỉnh những thông tin mang tính nhiễu
Truyền thông trong môi trường luôn vận động Loài người đang sống trong thời kỳ kỹ thuật và công nghệ số, hiện nay gọi là công nghệ 4.0 Chính kỹ thuật và công nghệ số là yếu tố có vai trò quyết định tính chất môi trường truyền thông qua việc hình thành môi trường truyền thông số với đặc tính nổi trội là khả năng siêu kết nối Môi trường truyền thông số đã và đang tạo những cơ hội vàng cho truyền thông – giao tiếp xã hội Bên cạnh đó, truyền thông xã hội, mạng xã hội phát triển chưa từng có; phương tiện truyền thông mới, truyền thông cá nhân và truyền thông nhóm lên ngôi Từ đó dẫn đến hình thành các khái niệm mới như công chúng chủ động, truyền thông đa chiều…
1.2.1.3 Chức năng của truyền thông trong đời sống xã hội
Ngày nay ngành truyền thông có rất nhiều lợi ích hỗ trợ con người phát triển Truyền thông có sức mạnh vô cùng lớn, nó lan tỏa trong cộng đồng rất nhanh chóng Ngành truyền thông ảnh hưởng lên mọi mặt của đời sống. Chính nhờ truyền thông mà con người được gắn kết với nhau, tất cả mọi người trên thế giới thông qua facebook, tivi, báo chí,… có thể gắn kết với nhau và tạo ra một vòng kết nối bền chặt và sâu rộng Xã hội loài người ngày càng phát triển nhanh chóng, đời sống con người ngày càng được nâng cao về cả đời sống vật chất lẫn tinh thần và trong sự phát triển ấy không thể thiếu sự có mặt của truyền thông Chính sự phát triển của xã hội, sự văn minh của con người càng làm cho vai trò của truyền thông trở nên quan trọng hơn, nhất là trong bối cảnh cầu hóa, hội nhập quốc tế, kinh tế thị trường ngày càng phát triển như hiện nay Có thể khái quát một số chức năng cơ bản của truyền thông như sau:
Một là, chức năng thông tin
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về thông tin của con người càng cao Thông tin là nhu cầu sống còn, nhu cầu phát triển của con người và xã hội; đồng thời là động lực kích thích sự phát triển Truyền thông có sức mạnh to lớn trong việc cung cấp thông tin đời sống, pháp luật, mang toàn bộ tri thức trên thế giới cho toàn dân Phương tiện truyền thông giúp tất cả mọi người có thể giải trí, học tập cách sống điều tốt đẹp của các dân tộc trên thế giới Truyền thông là tiếng nói, là phương tiện bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân Ngoài phục vụ nhu cầu đời sống của con người, truyền thông còn hỗ trợ cho doanh nghiệp quảng bá thương hiệu thu hút người tiêu dùng biết và sử dụng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp Truyền thông là công cụ hiệu quả để các nhà lãnh đạo tận dụng để phát triển doanh nghiệp đồng thời góp phần phát triển nền kinh tế quốc gia Như vậy, cung cấp thông tin là chức năng đầu tiên, cơ bản nhất của truyền thông Truyền thông ra đời và phát triển, trước hết là nhằm đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu thông tin ngày càng cao của con người và xã hội loài người.
Hai là, chức năng giáo dục tư tưởng, cổ vũ hành động
Giáo dục tư tưởng là tuyên truyền hệ tư tưởng của giai cấp cầm quyền, làm cho hệ tư tưởng của giai cấp thống trị chiếm lĩnh trong đời sống tinh thần của tuyệt đại đa số nhân dân Ở nước ta, hoạt động truyền thông đều có mục đích là tạo dựng và củng cố niềm tin của nhân dân vào mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, pháp luật của Nhà nước; xây dựng tinh thần lành mạnh, thống nhất nhận thức, ý chí hành động Bên cạnh đó, truyền thông cũng có vai trò quan trọng trong việc cổ vũ, huy động sức mạnh của cộng đồng Truyền thông đại chúng nêu lên sự kiện, vấn đề, công việc nào đó đồng thời kêu gọi, cổ vũ mọi người, thúc đẩy mọi người hành động, tạo thành phong trào cách mạng quần chúng tiến tới giải quyết các vấn đề đặt ra Có thể nói, không một phương tiện nào lại có được sức mạnh cổ vũ đặc biệt, thúc đẩy hành động nhanh và mạnh mẽ như thế Trong tình hình thế giới phức tạp như hiện nay, cùng với sự phát triển của kỹ thuật công nghệ, thì chức năng này của truyền thông càng có ý nghĩa quan trọng.
Ba là, chức năng khai sáng, giải trí
Các sản phẩm của truyền thông góp phần to lớn vào việc nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc cũng như giao lưư, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước. Giao tiếp qua truyền thông có vai trò rất quan trọng trong việc khẳng định và nhân rộng các giá trị văn hóa dân tộc, giữ gìn và lưu truyền các giá trị văn hóa ấy, phát triển giáo dục, nâng cao dân trí Tính tự giác, khả năng lựa chọn rộng rãi, cơ chế tiếp nhận linh hoạt, gần gũi thực tế cuộc sống, sinh động, sức thuyết phục cao….là những ưu thế của truyền thông trong việc tham gia vào sự nghiệp giáo dục Truyền thông còn là kênh tạo cơ hội cho đông đảo nhân dân tham gia giải trí, tạo điều kiện, tổ chức và hướng dẫn công chúng sử dụng thời gian rảnh rỗi một cách có ích để thư giãn và tái lao động sản xuất Ở đó có các chương trình đáp ứng mọi lứa tuổi, mọi người đều có thể tham gia, vừa giải trí vừa nâng cao sự hiểu biết.
Bốn là, chức năng giám sát xã hội
Giám sát là một trong những chức năng quan trọng hàng đầu của truyền thông Nghị quyết Trung ương 6 (lần hai) khóa VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng khẳng định báo chí và truyền thông đại chúng là một trong bốn hệ thống giám sát xã hội Giám sát xã hội của báo chí – truyền thông đại chúng là giám sát chủ yếu bằng tai mắt của nhân dân, giám sát bằng dư luận xã hội,giám sát mọi lúc, mọi nơi Gíam sát để kịp thời phát hiện, khích lệ và tổng kết kinh nghiệm cũng như sớm phát hiện những vấn đề bất cập, vi phạm chủ trương, chính sách và luật pháp để đấu tranh Giám sát xã hội của truyền thông đại chúng là định hướng dư luận xã hội, tạo sức mạnh, áp lực dư luận trước những sai phạm trong xã hội Trong công cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, phần lớn những vụ việc lớn đều do báo chí phát hiện, phanh phui Xã hội càng phát triển thì quyền lực nhân dân càng được tăng cường. Thực hiện tốt chức năng giám sát xã hội, có nghĩa là truyền thông đại chúng thể hiện tính độc lập của mình.
Năm là, chức năng quảng cáo – dịch vụ
Quảng cáo vừa là kênh truyền thông tồn tại độc lập, vừa thể hiện dưới dạng các biển quảng cáo lớn Thông điệp quảng cáo có khả năng tác động mạnh vào nhận thức, tình cảm, thị hiếu, quan niệm và lối sống của con người, nhất là giới trẻ Thông qua quảng cáo, Nhà nước có thêm thuế giá trị gia tăng và thuế lợi tức, đồng thời làm cầu nối và đối tác gần gũi giữa doanh nghiệp với công chúng xã hội Thực hiện tốt chức năng quảng cáo, báo chí, doanh nghiệp, công chúng xã hội và Nhà nước đều có lợi và lợi ích từ nhiều khía cạnh Xã hội ngày càng phát triển, các dịch vụ xã hội trên các phương tiện truyền thông đại chúng ngày càng đa dạng, phong phú và có vai trò quan trọng trong đời sống người dân Các loại hình dịch vụ ngày càng phát triển như tư vấn sức khỏe, việc làm, thị trường lao động… Truyền thông đại chúng là những kênh giao tiếp đại chúng với tần suất giao tiếp cao nhất, phạm vi tác động rộng rãi nhất và thường xuyên liên tục nhất Chức năng của nó rất phong phú và đa dạng.
1.2.1.4 Các phương tiện truyền thông
TRUYỀN THÔNG TRONG GIAI ĐOẠN NHẬN DIỆN VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH
Sự tham gia của truyền thông trong nhận diện vấn đề chính sách
Truyền thông tham gia vào tất cả các giai đoạn của chu trình chính sách, từ khâu nhận diện vấn đề chính sách, hoạch định chính sách, thực thi chính sách đến đánh giá chính sách Trong giai đoạn nhận diện vấn đề chính sách, truyền thông đóng vai trò kênh thông tin từ dưới lên, tức là từ nhân dân, doanh nghiệp tới các nhà hoạch định và cơ quan ban hành chính sách Nói cách khác, truyền thông là phương tiện để đưa cuộc sống vào chính sách của nhà nước.
Vấn đề chính sách là một mâu thuẫn xuất hiện trong đời sống kinh tế - xã hội, một nhu cầu cần thay đổi hoặc duy trì hiện trạng, đòi hỏi nhà nước ban hành chính sách để giải quyết theo những mục tiêu mong muốn Như vậy, vấn đề chính sách được bắt nguồn từ các vấn đề xã hội, đó là những hiện tượng được xã hội quan tâm rộng rãi và đòi hỏi phải được giải quyết Tại một thời điểm luôn xuất hiện một số vấn đề xã hội, song không phải vấn đề xã hội nào cũng có thể trở thành vấn đề chính sách Một vấn đề xã hội chỉ trở thành vấn đề chính sách khi vấn đề đó trở thành mâu thuẫn ngày càng gay gắt, hoặc thành một vật cản cho sự phát triển của đất nước; thu hút được mối quan tâm chú ý của nhiều người và có ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, tức là vấn đề xã hội đó đã được đại chúng hoá; vấn đề đó thuộc phạm vi quan tâm quản lý của cơ quan nhà nước và phụ thuộc vào các cơ quan này có đủ năng lực để giải quyết vấn đề hay không Nhà nước không thể đề ra quá nhiều chính sách trong cùng một thời gian, bởi vì mỗi chính sách luôn đòi hỏi những nguồn lực tương ứng đi kèm (năng lực quản lý, vốn, phương tiện vật chất kỹ thuật, nhân lực…) Vì vậy, trong số các vấn đề xuất hiện của đời sống xã hội, nhà nước phải lựa chọn ra những vấn đề cần thiết để trở thành chính sách Nhận diện vấn đề chính sách tức là các cơ quan ban hành chính sách nhận thức được một cách đầy đủ, chính xác những vấn đề xã hội, kịp thời đưa vào chương trình nghị sự, từ đó tiến hành các công việc cần thiết để ban hành chính sách theo một quy trình đã xác định.
Truyền thông tham gia trực tiếp đến việc nhận diện vấn đề chính sách bằng cách phát hiện và đưa thông tin trực tiếp đến các cơ quan ban hành chính sách Truyền thông cũng có thể ảnh hưởng gián tiếp, ví dụ như các đại biểu Quốc hội, thành viên chính phủ có thể hướng sự chú ý của mình vào một vấn đề phản ánh qua truyền thông, sau đó tìm hiểu thêm về nó, xem xét, thảo luận đưa vào nghị trình chính sách Ngược lại, đôi khi, sự rò rỉ thông tin từ chính nghị trường hay trong chu trình chính sách có thể trở thành một vấn đề thu hút dư luận, phản biện, và từ đó làm thay đổi một đề xuất hay giải pháp chính sách.
Ngoài ra, sự tham gia của truyền thông đến nhận diện vấn đề chính sách cũng khác nhau tùy mức độ quan tâm và vị trí của mỗi đại biểu Quốc hội hay các thành viên Chính phủ Các tờ báo chuyên ngành lại có thể ảnh hưởng nhiều hơn với lĩnh vực của nó Ví dụ, Báo Nông thôn ngày nay quan tâm nhiều hơn đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân, Báo Quân đội nhân dân quan tâm đến quốc phòng, Báo Công an nhân dân quan tâm đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội Ở một khía cạnh khác, truyền thông ảnh hưởng đến ý kiến công chúng. Ý kiến của công chúng lại là một trong những yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến các nhà hoạch định chính sách Bởi vì các đại biểu dân cử cần lắng nghe và phản hồi tích cực ý kiến của người dân để có được sự ủng hộ của cử tri Do vậy, vấn đề lúc đó lại có thể thu hút mối quan tâm của đại biểu Quốc hội để tác động đến quá nhận diện vấn đề chính sách từ chính cuộc sống của người dân.
Tham gia vào chu trình chính sách, ngay từ khâu nhận diện vấn đề chính sách, làm cho việc đề xuất chính sách có thể bắt đầu từ cộng đồng Nói cách khác, truyền thông chính sách cung cấp cơ hội để chuyển quá trình chính sách từ độc quyền sang thành một quá trình Nhà nước đồng hành cùng xã hội(đồng thiết kế chính sách) Trong bối cảnh bùng nổ thông tin, sự lên tiếng đồng tình, ủng hộ hay phản đối một quyết định chính sách nào đó tuy không phải là ý kiến quyết định nhưng cần được cân nhắc và thậm chí giải trình để hạn chế sự lan rộng và leo thang của chống đối hay bất mãn xã hội.
Vai trò của truyền thông trong nhận diện vấn đề chính sách
2.2.1 Phát hiện những mâu thuẫn, ách tắc, cản trở quá trình phát triển của đất nước và nhu cầu nguyện vọng của người dân
Trong quản lý xã hội, Nhà nước bao giờ cũng mong muốn sớm nhận diện được vấn đề chính sách để giải quyết kịp thời nhằm bảo đảm sự đồng thuận xã hội và thúc đẩy sự phát triển của đất nước Chính vì vậy, Nhà nước phải sử dụng các kênh truyền thông để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân, phát hiện những mâu thuẫn, bức xúc nảy sinh trong thực tế đời sống Có rất nhiều kênh truyền thông có thể giúp cho mục tiêu này thành hiện thực Chẳng hạn, qua tiếp công dân, phản ánh của báo chí, mạng xã hội, tiếp xúc cử tri, hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, vận động hành lang…Thông qua các hoạt động này mà vấn đề chính sách được đưa vào chương trình nghị sự của Nhà nước
Trước khi ban hành chính sách, Nhà nước bao giờ cũng phải tiến hành nghiên cứu thực tế Việc nghiên cứu thực tế sẽ giúp người hoạch địch chính sách biết được những vấn đề bức xúc, những mâu thuẫn nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống để đề ra chính sách phù hợp Việc nghiên cứu thực tế còn giúp người hoạch định chính sách tìm kiếm được giải pháp khả thi nhất, hiệu quả nhất để giải quyết vấn đề Để có thể nghiên cứu thực tế một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, người hoạch định chính sách cần thu thập dữ liệu thông tin về vấn đề trong thực tế Trong quá trình thu thập dữ liệu, thông tin, vai trò của truyền thông là rất to lớn, bởi lẽ truyền thông thực chất là quá trình thông báo, trao đổi tin tức thông qua nhiều hình thức như: gặp mặt, đối thoại, tiếp xúc. Nếu thiếu thông tin dữ liệu về vấn đề chính sách hướng tới giải quyết thì chính sách sẽ không đầy đủ, khả thi và rất khó đi vào đời sống
Lắng nghe ý kiến là một nhiệm vụ bắt buộc trong xây dựng chính sách, pháp luật Thu thập thông tin từ đối tượng chính sách để các chủ thể chính sách hiểu biết tốt hơn các nhu cầu, nguyện vọng, các xu hướng phản ứng của đối tượng chính sách, nhất là trường hợp có quyền lợi vật chất bị ảnh hưởng. Đây cũng là phương thức có tính hệ thống để bảo đảm quyền của công dân, tiếp tục phát huy dân chủ, cung cấp cơ hội cho quyền biết, quyền bàn và quyền giám sát của Nhân dân, các nhóm cộng đồng xã hội trong điều hành quốc gia, địa phương, hướng tới thay đổi thái độ, hành vi của công dân, cộng đồng, xã hội trong tuân thủ và xây dựng pháp luật, đóng góp vào bảo vệ chủ quyền và phát triển quốc gia, địa phương. Để nắm bắt đầy đủ, kịp thời, chính xác các vấn đề xã hội, cơ quan ban hành chính sách ngoài sử dụng hệ thống thông tin nội bộ như giao ban, báo cáo phải dựa vào truyền thông như: đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên dư luận xã hội, báo chí, internet, mạng xã hội Đội ngũ tuyên truyền viên và công tác viên dư luận xã hội là người trực tiếp sinh sống tại địa phương có nhiệm vụ nắm bắt tình hình tư tưởng của nhân dân trên địa bàn Có thể nói đây là kênh truyền thông phát hiện vấn đề xã hội một cách sớm nhất, cụ thể nhất Nếu đội ngũ này phát huy hết trách nhiệm, "cùng ăn, cùng ở, cùng làm", luôn quan tâm, lắng nghe, chia sẻ với người dân thì sẽ sớm nắm bắt được nhu cầu, nguyện vọng và những băn khoăn, vướng mắc, bức xúc của người dân.
Tiếp đến là đội ngũ báo cáo viên, trong chức trách của mình, ngoài chế độ thông tin thời sự, chính sách, báo cáo viên cơ sở có nhiệm vụ nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn, kịp thời phản ánh với và cơ quan tuyên giáo và cấp ủy cấp mình Báo cáo viên là những người có trình độ, nắm chắc đường lối, quan điểm của Đảng nên sớm phân biệt được đâu là mâu thuẫn đối kháng, không đối kháng, tính chất , quy mô các vấn đề xã hội nảy sinh để báo cáo kịp thời với cơ quan tuyên giáo, cấp ủy, đại biểu hội đồng nhân dân và đại biểu Quốc hội khi tiếp xúc cử tri
Báo chí ở nước ta là phương tiện thông tin, công cụ tuyên truyền, vũ khí đấu tranh tư tưởng và là diễn đàn của nhân dân Với chức năng thông tin và giám sát xã hội, báo chí thường xuyên bám sát đời sống để khai thác thông tin Từ nguồn thông tin của phóng viên trên các địa bàn, báo chí sẽ kịp thời phản ánh những vấn đề trên mặt báo, làm sóng đài phát thanh, truyền hình. Những thông tin của báo chí vừa nhanh chóng, kịp thời và tin cậy nên là cơ sở để người làm chính sách nắm bắt được tình hình sớm nhất và đáng tin cậy nhất
Hiện nay, internet và mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, đang trở thành công cụ, phương tiện phản ánh những vấn đề xã hội một cách nhanh chóng, kịp thời, nhiều chiều, lôi cuốn, hấp dẫn Tuy đây là kênh thông tin không chính thống, có nhiều tin giả, tin bị bóp méo, xuyên tạc, nhưng trên thực tế trên không gian mạng cũng có rất nhiều thông tin đáng tin cậy, thông tin hiện
Tháng 4 năm 2021, từ một số ý kiến trên báo chí về việc 4 công ty ở Mỹ và một công ty ở Australia làm thủ tục đăng ký bảo hộ bản quyền đối với thương hiệu gạo ST24 và ST25 của Việt Nam Trước nguyện vọng của ông HồQuang Cua, tác giả của hai giống lúa này muốn nhượng lại quyền sở hữu giống lúa ST24, ST25 cho Nhà nước, đại diện BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn khẳng định Bộ đang tính toán và trình Chính phủ việc mua lại quyền sở hữu giống lúa này. trường, được cập nhật thường xuyên có thể gây sự chú ý của những nhà hoạch định chính sách.
2.2.2 Truyền thông tạo dư luận xã hội và gây ảnh hưởng đến các cơ quan ban hành chính sách
Các lý thuyết truyền thông đều chỉ ra vai trò của truyền thông đối với sự hình thành dư luận xã hội Trước hết truyền thông, nhất là truyền thông đại chúng có ảnh hưởng và tác động to lớn đến cả quá trình tạo lập, hình thành và định hướng dư luận xã hội "Chúng không chỉ tác động đến chất lượng tức là mức độ phán xét đánh giá chính xác sâu sắc của dư luận xã hội mà còn tác động đến qui mô và nhịp độ quá trình hình thành dư luận xã hội" 9
Vai trò của truyền thông chủ yếu dựa trên sức mạnh dư luận xã hội mà chính nó đại diện Từ dư luận xã hội sẽ dẫn đến hành vi xã hội rộng lớn, tạo ra những khuôn khổ bắt buộc đối với việc nhận thức và giải quyết các vấn đề chính sách, từ đó tạo ra một sức mạnh vô hình đặt giới hạn với những gì nhà nước có thể làm Đối với người dân, dư luận xã hội là cách thức để người dân tham gia quản lý xã hội, giám sát và kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước
Như trên đã đề cập, trong xã hội luôn nảy sinh những mâu thuẫn, bất trắc, nhưng không phải vấn đề nào cũng trở thành vấn đề chính sách, chỉ những vấn đề trở thành dư luận xã hội, thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân thì mới có cơ hội trở thành chính sách Trong khía cạnh này, thì báo chí và mạng xã hội có vai trò to lớn trong kiến tạo dư luận xã hội Khác với báo cáo viên, tuyên truyền viên làm nhiệm vụ tuyên truyền, vận động, thuyết phục để giải quyết mâu thuẫn về tư tưởng là chính thì báo chí lại là phương tiện kiến tạo dư luận xã hội
9 Lương Khắc Hiếu (chủ biên), (2014), Nghiên cứu và định hướng dư luận xã hội, Nxb Lý luận chính trị, tr.74. Đa số các vấn đề xã hội có thể xảy ra ở một địa phương, ảnh hưởng đến người dân trong phạm vi địa phương đó, nhưng cũng có vấn đề xã hội nảy sinh ở nhiều địa phương khác nhau Nếu theo con đường của cộng tác viên dư luận xã hội, báo cáo viên thì thông tin đó phải trải qua nhiều tầng nấc mới tới được cơ quan ban hành chính sách nên dễ bị "khúc xạ", "tam sao thất bản". Đôi khi do cấp ủy, chính quyền địa phương vì "bệnh thành tích", hay trốn tránh trách nhiệm không báo cáo cấp trên mà vấn đề xã hội không đến được cơ quan ban hành chính sách Tuy nhiên, báo chí là phương tiện truyền thông rất có hiệu quả trong việc biến những vấn đề đơn lẻ, cá biệt ở một địa phương, đơn vị trở thành dư luận xã hội, gây được tiếng vang lớn, buộc các cơ quan Nhà nước phải sớm vào cuộc để giải quyết
Tất nhiên, các kênh truyền thông khác cũng có thể tạo lập dư luận xã hội nhưng quy mô, tính chất, mức độ không bằng báo chí Bởi sự nhanh chóng và phạm vi tác động rất lớn của báo chí, dư luận có thể nhanh chóng hình thành và tác động trực tiếp đến các cơ quan ban hành chính sách Không hiếm vụ việc, thông qua báo chí đã tạo dư luận, gây sức ép đối với cơ quan nhà nước như vụ bác sỹ Hoàng Công Lương vô tình gây chết 8 bệnh nhân chạy thận nhân tạo ở Bệnh viện Đa khoa Hòa Bình năm 2017
Hiện nay, internet và mạng xã hội phát triển cũng đang trở thành một phương tiện truyền thông mới tạo lập dư luận xã hội một cách nhanh chóng.Nhiều vấn đề xã hội từ cuộc sống bước vào ngay nghị trường Quốc hội.Không hiếm trường hợp trong các kỳ họp của Quốc hội, các đại biểu đã đưa ngay những vấn đề đang được mạng xã hội lan truyền vào nghị trường Như vậy, các phương tiện truyền thông mới này có tác động trực tiếp và rất nhanh chóng vào chương trình nghị sự Tuy nhiên, do tính không chính thống, các phương tiện truyền thông mới đôi khi tạo ra những dư luận không đúng đắn,tiêu cực ảnh hưởng không tốt đến quá trình hình thành chính sách của Nhà nước Việc xây dựng và ban hành Luật đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt bị hoãn vô thời hạn là một ví dụ về ảnh hưởng của dư luận xã hội trong quá trình xây dựng chính sách ở Việt Nam.
Hiện nay, ở Việt Nam, bên cạnh việc là phương tiện tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, báo chí còn đồng thời là tiếng nói của nhân dân Nhìn chung, báo chí nước ta đã không ngừng phản ánh các ý kiến, nguyện vọng của người dân để các cơ quan chức năng nắm bắt, xử lý, khắc phục Báo chí còn phản ánh các thiếu sót của chính quyền địa phương, của các cơ quan, đơn vị hoặc các biểu hiện chưa lành mạnh ở khu dân cư đều được các cơ quan nhà nước đưa ra các quyết định xử lý kịp thời Ở mỗi kỳ họp của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, báo chí luôn là một kênh quan trọng để tiếp nhận rất nhiều ý kiến của cử tri và nhân dân đối với Quốc hội và Chính phủ Nhiều người có thể gửi ý kiến góp ý trực tiếp đến các cơ quan chức năng nhưng báo chí luôn là một trong những kênh được tin cậy, không phải chỉ vì người góp ý muốn ý kiến của mình được thông tin rộng rãi mà còn vì tinh thần cầu thị, khách quan của các cơ quan báo chí trong việc phản ánh nguyện vọng của nhân dân đối với Nhà nước.
2.2.3 Truyền thông tham gia vào quá trình vận động hành lang
Như trên đã đề cập, khi vấn đề xã hội được phát hiện, tạo thành dư luận rộng rãi, tác động đến các nhà hoạch định chính sách thì chúng được đưa vào
Phát huy vai trò của truyền thông trong giai đoạn nhận diện vấn đề chính sách
Thứ nhất, tăng cường thông tin hai chiều về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Truyền thông cần chú ý tính hai chiều một cách đầy đủ: chiều từ phía Đảng và Nhà nước phải được phản ánh cô đọng, có trọng tâm, trọng điểm (thí dụ: một văn bản luật mới thì không cần phản ánh tất cả các nội dung trong đó, mà cần chú trọng những điểm mới, những điểm thật sự tiến bộ…); chiều từ nhân dân cũng phải được thể hiện một cách trung thực, cả ý kiến đồng thuận và ý kiến còn băn khoăn hoặc những ý kiến đề xuất mới Trong quá trình thông tin hai chiều, truyền thông nên thể hiện sự cầu thị thật sự, không vì quá chú trọng tính định hướng mà làm hẹp lại tính đa dạng, tính thực tiễn, nhất là với những trường hợp tuy cá biệt nhưng có tính khoa học và tính thực tiễn cao Thông tin về chính sách cần được cung cấp, trao đổi dựa trên nhiều nguồn đáng tin cậy, cần chính xác về vấn đề chính sách, rõ căn cứ của các lựa chọn chính sách, thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể chính sách, nguồn lực chính sách và các quan điểm, trông đợi của đối tượng chính sách cũng như cộng đồng; cần tôn trọng sự thật, tôn trọng lẽ phải; cần chính xác cả về nguồn viện dẫn, các luận cứ, luận chứng.
Bởi lẽ có những vấn đề bức xúc của nhân dân nhưng xuất phát từ việc không nắm được hoặc không hiểu, không đồng tình với các chính sách của Nhà nước đã ban hành Chẳng hạn như vấn đề giá cả đền bù đất đai, đổi mới sách giáo khoa, tăng học phí đại học…Nếu không làm tốt việc truyền bá thông tin về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thì ở chiều thông tin ngược lại, nhà hoạch định chính sách sẽ nhận được những băn khoăn, vướng mắc, mâu thuẫn, nhu cầu không chính đáng dẫn đến sự lãng phí nguồn lực của các cơ quan ban hành chính sách, làm rối loạn, bất ổn xã hội từ những thông tin không đáng có
Truyền thông phải thông tin phải toàn diện, không phân biệt giai tầng, vùng, miền Chủ thể ban hành chính sách là hệ thống các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng đối tượng chính sách lại là toàn dân, toàn diện Điều này dẫn tới các nguy cơ về sự bất đồng trong động lực chính sách, trong nhận diện vấn đề chính sách hay tìm kiếm các giải pháp chính sách.
Truyền thông không chỉ là thông tin về bản thân một chính sách, giải pháp chính sách cụ thể mà cần truyền thông toàn bộ quá trình quản trị nhà nước – như một khuôn khổ có tính hệ thống, đầy đủ, giúp giải thích các động thái liên quan, bao gồm động thái chính sách Do đó, cần truyền thông cả về tổ chức, bộ máy, về đội ngũ, về hệ thống quy trình, thủ tục, về các triết lý, tầm nhìn và các giá trị cốt lõi mà nền công vụ theo đuổi Thiếu hiểu biết một cách đầy đủ và tích cực về những khía cạnh trên, các nỗ lực chính sách vẫn khó có thể có được sự hiểu biết và ủng hộ thỏa đáng
Ví dụ, trong bối cảnh phòng chống đại dịch Covid-19, các doanh nghiệp ưu tiên quan tâm về duy trì sản xuất và kinh doanh, lợi nhuận và duy trì sức cạnh tranh trong nội địa cũng như xuất khẩu nên không thích các biện pháp giãn cách hay cách ly xã hội; còn người dân thì quan tâm nhiều hơn tới sức khỏe và sự tiện dụng của các hình thức giao dịch không kèm theo các rủi ro lây bệnh; trong khi Nhà nước vừa đặt mục tiêu kép là dập dịch (ưu tiên sức khỏe, nỗ lực hạn chế sự lan rộng của dịch bệnh) đồng thời, nỗ lực phục hồi và duy trì phát triển kinh tế một cách toàn diện Các mục tiêu ưu tiên này dẫn tới các trông đợi khác nhau và các động thái khác nhau đối với các chính sách của Chính phủ.
Thứ hai, kịp thời phản ánh ý kiến của người dân về các vấn đề của xã hội
Thực tiễn xã hội hiện nay chuyển động rất nhanh, diễn biến cả theo chiều hướng tích cực và tiêu cực Truyền thông, nhất là báo chí cần tạo điều kiện để người dân phản ánh nhanh chóng, đầy đủ các mặt đó; những vấn đề tích cực sẽ góp phần củng cố niềm tin của người dân vào những điều tốt đẹp, tạo sự lan tỏa, thuyết phục mọi người ngày càng có sự tích cực hơn từ trong nhận thức đến hành động; những điều tiêu cực (khi được phản ánh bằng cách thức phù hợp) sẽ có tác dụng cảnh báo, nhắc nhở, nhất là với những ý kiến có đề xuất giải pháp, sẽ tác động đến việc điều chỉnh hành vi của nhiều người khác Do đó, việc phản ánh không đầy đủ, toàn diện hoặc không kịp thời đều hạn chế việc xây dựng xã hội ngày càng tiến bộ, tích cực hơn.
Vì vậy, nếu việc xây dựng nghị trình chính sách chỉ luôn “chạy theo” dư luận hoặc chịu quá nhiều áp lực từ dư luận xã hội, thì sẽ dẫn đến tình huống có nhiều vấn đề dù quan trọng cũng không được phản ánh, hoặc thậm chí phản ánh sai lệch, hay không khách quan Khi đó, nếu các cơ quan ban hành chính sách chỉ hướng sự chú ý theo truyền thông và công luận thì những vấn đề chính sách quan trọng đó có thể bị gạt ra khỏi chương trình làm việc.
Mà điều này thì lại có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả làm chính sách.
Tăng tính tương tác với nhân dân là làm cho truyền thông và người dân trở nên gần gũi nhau hơn Không phải chỉ trên mạng xã hội, báo trực tuyến mới thực hiện tốt việc tương tác, ngay cả báo cáo viên, tuyên truyền viên, báo in, báo hình vẫn có thể có những cách tương tác hiệu quả, chẳng hạn đăng ý kiến phản hồi của người dân về một vấn đề nào đó trong xã hội, tăng cường gặp gỡ, đối thoại với cử tri… Ngoài ra, có thể tổ chức các diễn đàn, tọa đàm…, để qua đó nắm bắt được nhu cầu, nguyện vọng của người dân về các vấn đề của xã hội.
Thứ ba, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức truyền thông của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, tiếp xúc cử tri, báo in, đài phát thanh, truyền hình, báo điện tử.
Việc đổi mới sao cho các kênh truyền thông trở nên gần gũi, đồng hành cùng nhân dân, giúp nhân dân tin cậy, cởi mở, bộc bạch hết tâm tư, nguyện vọng của mình với Nhà nước và chính quyền các cấp, qua đó có thể ghi nhận các sáng kiến đóng góp vào quá trình quản lý xã hội của các cơ quan nhà nước các cấp Do đó, truyền thông cần chú trọng đổi mới và trang bị các kỹ năng tiếp cận, giao tiếp với người dân, nhất là trong lúc các kênh truyền thông chính thống có sự cạnh tranh quyết liệt với truyền thông xã hội và mạng xã hội như hiện nay.
Trong một nền văn hóa phương Đông như Việt Nam, tâm lý ưa chuộng các hình ảnh được hiển thị hóa một cách dễ thấy hay các hành xử cá nhân của các lãnh đạo, cán bộ, công chức vẫn là một mối quan tâm và tác động đến tâm lý của người dân Vì vậy, tiếp tục gần dân, sát dân, tiếp tục phát huy sức mạnh của các công cụ và phương thức truyền thông truyền thống như các cuộc tiếp xúc trực tiếp đến khu dân cư, thư góp ý… cần nhanh chóng tận dụng các phương thức mới như điều tra dư luận xã hội, sử dụng mạng xã hội, điện thoại thông minh…để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân làm cơ sở để ban hành chính sách.
Ngoài các bài viết, nên khai thác sử dụng các hình ảnh chính sách mà có thể cung cấp những bằng chứng thực tế, sinh động và gây ấn tương mạnh về một vấn đề, từ đó cung cấp những bằng chứng đủ để cần có những giải pháp chính sách được ban hành… Hiện nay, với sự hỗ trợ của truyền thông đa phương tiện và công nghệ hiện đại thì các loại hình báo chí, truyền thông có thể cung cấp không giới hạn các nội dung chữ viết, âm thanh, hình ảnh, video minh họa sống động, đạt hiệu quả cao trong truyền thông chính sách.
Thứ tư, tạo khuôn khổ pháp lý và điều kiện cần thiết để phát huy vai trò của truyền thông trong vận động hành lang
Trên thế giới, vận động hành lang là hoạt động hợp pháp được pháp luật bảo hộ, nhưng ở Việt Nam, hoạt động này thường được coi tiêu cực. Trước hết, về mặt nhận thức, cần thừa nhận sự cần thiết và tính hợp pháp của vận động hành lang trong các cá nhân và cơ quan Nhà nước Trên cơ sở đó, cần ban hành các quy định pháp lý về tính hợp pháp của các hoạt động vận động hành lang và nghề vận động hành lang Một số nội dung về vận động hành lang cần tiếp tục được nghiên cứu như: định nghĩa về vận động hành lang, đối tượng của hành vi vận động hành lang, điều kiện và các tiêu chuẩn của người vận động hành lang, cơ quan quản lý hoạt động hành lang, các hành vi bị nghiêm cấm, chế tài xử lý vi phạm, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về vận động hành lang,… để phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam
Pháp lý về vận động hành lang chỉ là điều kiện cần, bên cạnh nó cần phải có các yếu tố, điều kiện khác, như: công tác tuyên truyền, giáo dục, cách thức tổ chức, tạo môi trường thông thoáng để vận động hành lang có thể đi vào hoạt động thực chất và đạt được hiệu quả Đặc biệt, vận động hành lang phải được vận hành trong điều kiện một nhà nước dân chủ, minh bạch, công khai, cụ thể là sự minh bạch, công khai trong quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, trong phân bổ tài chính, trong việc kiểm soát thu nhập của các quan chức nhà nước, các đại biểu Quốc hội Vận động hành lang còn phải được vận hành trong môi trường tự do ngôn luận, báo chí và tăng tính phản biện xã hội thông qua các tổ chức đại diện cho đông đảo quần chúng nhân dân như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, nhằm không chỉ trực tiếp làm nhiệm vụ vận động hành lang mà còn góp phần giám sát, kiểm soát được hoạt động này Để nâng cao chất lượng cung cấp thông tin, người vận động hành lang còn phải huy động được nguồn nhân lực khai thác, vận hành và sử dụng hệ thống thông tin, tạo lập cơ sở dữ liệu cho mình một cách khoa học, bảo đảm cập nhật, quản lý và kết nối thông tin
Cho dù, thông tin trong vận động hành lang có những ưu thế rõ ràng, có tính mục tiêu cao hơn, đầy đủ, nóng hổi hơn nhưng nó chịu ảnh hưởng nhiều của lợi ích nên rất có thể bị sai lệch, thiếu khách quan Vì vậy, người tham gia hoạch định chính sách vẫn phải trải qua quá trình chọn lọc, xử lý đúng đắn Xử lý thông tin là quá trình phân tích những thông tin nhận được bằng tư duy khoa học để phân biệt đâu là thông tin đúng, biểu hiện bản chất một sự vật, hay một quá trình vận động xã hội, đâu là thông tin giả tạo, thông tin thất thiệt để loại bỏ, từ đó sử dụng những thông tin đúng để bảo vệ cho sự ra đời của một chính sách hay quyết định quản lý đúng đắn nhất và có khả năng thực thi cao nhất.
TRUYỂN THÔNG TRONG XÂY DỰNG VÀ BAN HÀNH CHÍNH SÁCH CÔNG
Góp ý kiến vào dự thảo chính sách công
Thảo luận chính sách là quá trình rất phức tạp Đây chính là giai đoạn mà lợi ích của các bên có liên quan được đưa ra phân tích, tính toán, cân nhắc để đi đến quyết định Bản thân chính sách công chính là công cụ, giải pháp để phân bổ lợi ích cho các bên có liên quan từ phía chính quyền.
Các phương án chính sách hay bản dự thảo chính sách trước khi trình cho cấp có thẩm quyền ký ban hành cần phải được cơ quan soạn thảo chính sách lấy ý kiến của các bên liên quan, đặc biệt là những chuyên gia trong lĩnh vực này để góp ý và phát hiện ra những điểm quan trọng mà những người soạn thảo chưa lường hết Ở khâu này, truyền thông chính sách lại giữ vai trò quan trọng Thông qua các phương tiện truyền thông, người dân được biết về các phương án chính sách và có thể phản ánh các góc nhìn đa chiều của họ về dự thảo chính sách. Ý kiến thu thập được là đóng góp có ý nghĩa đối với Chính phủ trong việc lựa chọn phương án chính sách nào là tối ưu trong số các phương án đưa ra Bên cạnh đó, những thông tin phản hồi về chính sách trong khâu này cần được phân tích, sàng lọc và từ đó có những điều chỉnh cần thiết trong phương án chính sách hay dự thảo chính sách Việc truyền đạt và tiếp nhận thông tin phản hồi rộng rãi sẽ đòi hỏi thời gian dài hơn và sự gia công nhiều hơn trong hoạch định chính sách Tuy nhiên, những ý kiến phản biện lại dự thảo chính sách là rất cần thiết để các nhà hoạch định chính sách có thể nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện hơn, thấy được những hệ quả tích cực và tiêu cực mà chính sách có thể dẫn đến, dự đoán về tác động của chính sách, sự phản ứng của xã hội đối với chính sách; từ đó giúp nhà nước ra quyết định đúng đắn về chính sách Dự án đường sắt cao tốc Hà Nội - TP Hồ Chí Minh là một trong những dự án chiến lược của Đường sắt Việt Nam Dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong quy hoạch tổng thể phát triển đường sắt Việt Nam đến năm 2020 Sau khi lấy ý kiến rộng rãi của người dân, ngày 19/6/2010 Quốc hội Việt Nam khóa XII đã bỏ phiếu bác bỏ dự án đường sắt cao tốc Dự án đang được hoàn thiện lại và được Chính phủ trình Quốc hội xem xét lại trong chương trình nghị sự cuối năm 2017 10
Việc truyền thông về dự thảo chính sách tăng thuế giá trị gia tăng với mức phổ biến từ 10 lên 12% cũng là một phương án chính sách đang được bàn luận sôi nổi trên các phương tiện truyền thông trước khi cấp có thẩm quyền ra quyết định.
Sau khi chính sách được cấp có thẩm quyền ký ban hành, chính sách sẽ được Nhà nước công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đây là trách nhiệm của các phương tiện truyền thông đại chúng để tuyên bố về sự ra đời của chính sách công, cũng như thông báo về sự vận hành của chinh sách công khi văn bản pháp lý của Nhà nước có hiệu lực thi hành.
Như vậy, trong giai đoạn hoạch định chính sách, truyền thông giữ vai trò quan trọng khi (i) phản ánh hiện trạng có vấn đề (truyền thông thông tin từ xã hội đến Chính phủ); (ii) lấy ý kiến của bên liên quan, các chuyên gia về phương án chính sách hay bản dự thảo chính sách; (iii) công bố công khai chính sách.
Tạo diễn đàn tranh luận
Sau khi chính phủ nhận thức thấy vấn đề cần ban hành chính sách để giải quyết và thiết lập nghị trình, quá trình soạn thảo chính sách sẽ được tiến hành một cách có ý thức bởi các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước
10 Chính phủ chốt phương án đầu tư cao tốc Bắc Nam qua 20 tỉnh thành, https://vnexpress.net/tin-tuc/thoi- su/giao-thong/3590634.html
(hay ban soạn thảo chính sách) Đây là quá trình nghiên cứu có tính bài bản, chi tiết của các cơ quan chức năng để phân tích vấn đề xã hội và đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề đó Trong quá trình này, các cơ quan chức năng có thể sử dụng các thông tin của truyền thông và báo chí, tuy nhiên chủ yếu là các cơ quan này sẽ tự tổ chức việc nghiên cứu, thu thập và phân tích thông tin để kiểm chứng lại các giả thuyết của họ về bản chất, nguyên nhân của vấn đề và giải pháp cho vấn đề Cũng ở giai đoạn này, vai trò của truyền thông là cung cấp thông tin, kiến thức, đưa các nội dung của chính sách đến với người dân, cộng đồng xã hội, đặc biệt là những nhóm mà chính sách tác động đến nhiều nhất Qua đó, tạo diễn đàn để công chúng đưa ra ý kiến, quan điểm của mình về những vấn đề chính sách sẽ can thiệp; từ đó lấy ý kiến, tổ chức phản biện xã hội và hình thành dòng thông tin phản biện xã hội góp phần hoàn thiện chính sách.
Thông thường, có bốn cách mà một vấn đề nào đó được đưa ra thảo luận, bàn bạc trong chương trình nghị sự: bao gồm vấn đề được các nhân vật chính trị quan trọng đưa ra – đây là cách phổ biến nhất; hai là vấn đề được đưa ra bởi một nhóm người vì chính quyền lợi của họ - đây là trường hợp tác động đến chính sách của các nhóm lợi ích; ba là vấn đề được đưa ra bởi một nhóm người không vì chính quyền lợi của họ - thường là tác động của các tổ chức thiện nguyện, các tổ chức xã hội… và bốn là vấn đề được đưa ra bàn bạc, thảo luận xuất phát từ kết quả của những hiện tượng không mong muốn như thiên tai, bệnh dịch, bùng nổ dân số… Mỗi cách mà vấn đề được đưa ra bàn bạc, thảo luận đều có những lợi thế riêng trong việc bảo vệ cho một vấn đề nào đó trong chương trình nghị sự Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy rằng, để tăng khả năng tác động đến việc bàn bạc, thảo luận một vấn đề chính sách nào đó trong chương trình nghị sự thì vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng là vô cùng quan trọng Có thể lấy ví dụ như việc chính quyền bangVirginia của nước Mỹ hay chính quyền liên bang Mỹ bàn bạc thông qua dự luật về an toàn khai khoáng và chống bệnh nám phổi nghề nghiệp – luật chính thức đầu tiên bảo vệ cho quyền lợi hợp pháp của những người lao động trong các khu khai mỏ ở Mỹ hoàn toàn là nhờ vào sự tác động mạnh mẽ và trực diện của truyền thông đại chúng để công kích trực tiếp vào mối quan hệ ngấm ngầm mà bền chặt của chính quyền và giới chủ hầm mỏ trong nhiều năm trước đó Chính vì vậy, có thể thấy, khi truyền thông lên tiếng, nhất là khi đại diện cho những tiếng nói chính nghĩa, những lợi ích hợp pháp, hợp tình, hợp lý thì khả năng thành công là rất cao.
Như vậy, truyền thông, đặc biệt là báo chí, là kênh quan trọng để phổ biến ý tưởng, dự thảo chính sách trên diện rộng, “đánh động” cộng đồng về những ý tưởng, dự thảo chính sách có thể ảnh hưởng đến hoạt động của họ để từ đó các nhóm xã hội quan tâm góp ý cho các dự thảo hoặc ít nhất cũng có sự chuẩn bị cho các hoạt động của mình trong tương lai Thông qua các phương tiện truyền thông, những thông tin liên quan đến hoạch định chính sách có thể vươn tới hàng trăm nghìn, hàng triệu người Truyền thông, báo chí có thể xem là diễn đàn cho những trao đổi nhiều chiều về các dự thảo chính sách, huy động trí tuệ của xã hội vào quá trình xây dựng chính sách, qua đó đưa hơi thở cuộc sống vào chính sách Hoạt động này cũng là cách để nâng cao tri thức,tăng cường sự quan tâm của xã hội vào các chính sách và là sự chuẩn bị cho quá trình thực thi Để làm được điều này, việc góp ý phải được thực hiện rộng rãi, nhiều chiều.
Ban hành chính sách công
3.2.1 Sự cần thiết của truyền thông đại trong ban hành chính sách
Ban hành chính sách là khâu cuối cùng hoàn tất quá trình hoạch định chính sách, cho thấy rằng một vấn đề chính sách nào đó đã được thảo luận,bàn bạc và có những kế hoạch, phương án, giải pháp chi tiết cho nó Ban hành chính sách được đánh dấu chính bằng việc công bố chính sách dù dưới hình thức nào để tạo tính pháp lý cho chính sách, làm cơ sở đưa chính sách vào triển khai trong thực tế ở giai đoạn tiếp theo Sự cần thiết của truyền thông đại chúng trong giai đoạn này xuất phát từ những thực tế sau đây:
Thứ nhất, truyền thông giúp công bố một cách chính thức và rộng rãi về sự ra đời của một chính sách mới nào đó vừa được hoạch định và ban hành đến với công chúng, để công chúng và đặc biệt là đối tượng chính sách nắm bắt được thông tin về chính sách, tìm hiểu về chính sách để chuẩn bị tâm lý, hành động hiện thực hóa lợi ích cho mình từ chính sách mới được ban hành.
Sự chuẩn bị này là rất cần thiết để thông báo về hiệu lực lý thuyết cũng như hiệu lực thực tế của một chính sách mới, tạo tâm thế chủ động cho các đối tượng chịu sự tác động chính sách để họ có những phản ứng phù hợp theo mong muốn của các cơ quan có thẩm quyền, đồng thời thể hiện và thực hiện được lợi ích của mình theo mục tiêu chính sách.
Thứ hai, vì mọi chính sách mới được ban hành đều là những chính sách mới, cần có thời gian để người dân, các đối tượng chính sách và kể cả hệ thống chính trị nắm bắt và hiểu rõ về nội dung, mục đích… của chính sách.
Do đó, rất cần phát huy vai trò của truyền thông trong giai đoạn này, vừa để đưa chính sách đến với xã hội nhanh hơn, vừa là kênh thông tin để tuyên truyền, giải thích về chính sách, định hướng thái độ và hành động của các bên có liên quan đến chính sách, tạo tiền đề để chính sách đi vào cuộc sống nhanh và thực chất hơn.
Thứ ba, sự cần thiết của truyền thông trong giai đoạn ban hành chính sách giúp cho những ý tưởng chính sách được đề xuất ngay từ đầu không bị rơi vào quên lãng hay “chìm xuồng” Vai trò của truyền thông trong giai đoạn này là giúp cho vấn đề chính sách nào đó được nêu ra bởi bên bất kỳ trong các giai đoạn trước luôn ở tâm điểm của sự chú ý của dư luận, từ đó tạo ra áp lực để theo đuổi đến cùng các vấn đề chính sách của các bên có liên quan, đồng thời cũng tạo ra áp lực đối với chính quyền về việc họ luôn phải có trách nhiệm và chịu trách nhiệm về những quyết định mình đã đưa ra trước đó từ lúc xác lập ưu tiên chính sách hay sắp đặt nghị trình.
Ngoài ra, không phải chính sách được hoạch định ra ở thời điểm nào thì sẽ được ban hành ở thời điểm đó Do sự tác động của rất nhiều yếu tố cả chủ quan và khách quan, cả môi trường bên trong và bên ngoài chính sách dẫn đến việc lựa chọn thời điểm ban hành chính sách cũng là một vấn đề vừa mang tính kỹ thuật, vừa mang tính chính trị Trong bối cảnh đó, tác động của truyền thông là một thứ áp lực rất mạnh mẽ đến các quyết định ban hành chính sách của chủ thể quyền lực nhà nước Đây cũng chính là lí do cho sự cần thiết của truyền thông đại chúng trong giai đoạn này.
3.2.2 Nội dung, phương thức truyền thông tác động vào việc ban hành chính sách công
Thông thường, ở giai đoạn ban hành chính sách này, mục đích và nội dung tác động của truyền thông tập trung vào việc cung cấp thông tin về hiệu lực của một chính sách mới nào đó Do đó những thông tin mà các kênh truyền thông thường tập trung phản ánh về chính sách bao gồm: tên chính sách, đối tượng tác động của chính sách, mục đích của chính sách, thời gian,không gian thực hiện chính sách, thời điểm chính sách chính thức có hiệu lực… Truyền thông có thể thúc đẩy việc ban hành một chính sách nào đó nếu mục tiêu của chính sách phù hợp với lợi ích mà các kênh truyền thông đại diện bằng cách chứng minh rằng những lợi ích đó là chính đáng và cần nhanh chóng ban hành những giải pháp để giải quyết vấn đề, đảm bảo lợi ích cho các đối tượng có liên quan Ngược lại, truyền thông cũng có thể tham gia vào việc trì hoãn hay ngăn cản việc ban hành một chính sách nào đó nếu như mục tiêu của chính sách đó mâu thuẫn hoặc đi ngược lại với quan điểm hoặc lợi ích mà giới truyền thông đại diện trước đó Trong trường hợp này, những thông tin được đề cập qua các phương tiện truyền thông đại chúng thường là những thông tin thiếu tích cực về tính phù hợp của các chính sách, sự chưa đầy đủ của các mục tiêu chính sách hoặc là những cảnh báo về những khả năng mà chính quyền sẽ phải đối mặt nếu ban hành chính sách quá sớm để đưa chính sách vào cuộc sống.
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG
1 Sự cần thiết của truyền thông trong thảo luận và ban hành chính sách công?
2 Nội dung, phương thức truyền thông tham gia vào quá trình thảo luận chính sách công? Lấy ví dụ minh họa?
3 Nội dung, phương thức truyền thông tham gia vào việc ban hành chính sách công? Lấy ví dụ minh họa?
TRUYỀN THÔNG TRONG THỰC HIỆN, THEO DÕI, PHẢN HỒI VÀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH CÔNG
Truyền thông trong thực hiện chính sách công
4.1.1 Sự cần thiết của truyền thông trong thực hiện chính sách
Sự cần thiết của truyền thông trong giai đoạn thực hiện chính sách trước hết xuất phát từ vai trò quan trọng của truyền thông với tư cách là công cụ để tuyên truyền, phổ biến và giải thích về các chính sách Trong giai đoạn thực thi chính sách, truyền thông là một phương thức tương tác quan trọng giữa nhà nước và xã hội để giúp người dân tham gia tích cực vào quá trình này, và mặt khác cũng cung cấp những thông tin phong phú để Chính phủ cải thiện quản lý thực thi cũng như hoàn thiện nội dung chính sách Thực thi chính sách bao gồm các nội dung hoạt động như: ban hành các văn bản hướng dẫn thực thi, lập kế hoạch thực thi, phổ biến - tuyên truyền chính sách, phân công trách nhiệm và phối hợp triển khai, huy động các nguồn lực, điều phối và duy trì chinh sách, theo dõi và giám sát việc thực thi Truyền thông chính sách thường xuyên suốt cả quá trình thực thi một chính sách công. Đương nhiên, việc tuyên truyền phổ biến chính sách là khâu gắn trực tiếp với các phương tiện truyền thông Truyền thông chính sách giúp mọi người hiểu rõ về chính sách, tùy vào vai trò của của mình khi tham gia vào quá trình thực thi chính sách để nắm bắt các nội dung có liên quan Chẳng hạn, các tổ chức có trách nhiệm thực thi chính sách sẽ tìm hiểu về các công việc cần làm, mục tiêu cần đạt tới, nguồn lực để triển khai, kế hoạch và cách thức triển khai Các đối tượng của chính sách sẽ quan tâm tìm hiểu về quyền lợi và nghĩa vụ của mình từ chính sách Các bên liên quan cũng thông qua việc phổ biến chính sách và kế hoạch để xác định trách nhiệm và lợi ích của mình trong quá trình thực thi.Việc tuyên truyền phổ biến chính sách kế hoạch hóa gia đình trong suốt một thời gian dài đã có tác động tích cực, góp phần làm cho tỷ lệ tăng dân số giảm từ 1,32% năm 2000 xuống còn 1,07% năm
2016, tỷ suất sinh đã giảm từ 2,25 con xuống còn 1,96 con trên một phụ nữ trong cùng giai đoạn.Gần đây, truyền thông về việc tăng giá dịch vụ y tế từ 30-50% trong giai đoạn 1 (từ 1/3/2016-1/7/2017) với gần 2000 dịch vụ đã được xã hội chấp nhận một cách khá suôn sẻ cũng do công tác truyền thông, giải thích sự cần thiết của chính sách, cũng như tuyên bố cam kết của chính phủ về việc bảo đảm chi trả cho người nghèo và người cận nghèo (thông qua sự hỗ trợ từ NSNN để mua thẻ bảo hiểm xã hội và mức chi trả từ bảo hiểm xã hội), nhờ đó đã tạo nên sự đồng thuận xã hội với chủ trương này
Trong các khâu khác của quá trình thực thi, việc thông tin về chính sách, về các mục tiêu, các kết quả đạt được qua từng giai đoạn, việc huy động các nguồn lực, các vấn đề phát sinh… là công việc thường xuyên của truyền thông chính sách Thông qua đó, chúng ta có thể thấy được chính sách đang vận hành như thế nào trong cuộc sống, tác động đến đối tượng chính sách ra sao và đang có những hạn chế nào? Truyền thông chính sách trong giai đoạn thực thi góp phần minh chứng cho những chính sách đúng đắn, phù hợp với nhu cầu xã hội và mục tiêu mà chính phủ đề ra; đồng thời cũng phản ánh những bất cập cả trong nội dung chính sách cũng như trong việc tổ chức thực hiện chính sách Bên cạnh các báo cáo chính thống của các cơ quan thực thi chính sách, truyền thông chính sách phản ánh cả những cách nhìn đa chiều của xã hội, của các đối tượng thụ hưởng cũng như các bên liên quan về các kết quả và hạn chế trong thực thi chính sách, cũng như các yếu tố tác động hay các nguyên nhân dẫn tới các kết quả này Thời gian qua, các thông tin về tình trạng xâm hại trẻ em diễn ra nghiêm trọng (mặc dù đã có chính sách quy định hình phạt cụ thể về các hành vi này), cũng như sự bức xúc của dư luận đòi hỏi chúng ta phải xem xét lại để chi tiết hóa các hành vi tội phạm và mức xử phạt thích đáng, đồng thời cũng chấn chỉnh việc tổ chức thực hiện pháp luật một cách nghiêm túc, cũng như giáo dục pháp luật tới mọi người dân Ở chu trình này vai trò đầu tiên của truyền thông nhằm góp phần tạo thống nhất, gắn kết, tổ chức giữa các nguồn lực tham gia thực thi chính sách.
Sau khi phổ biến, tuyên truyền chính sách, công khai chính sách tới mọi người dân, vai trò của truyền thông còn thể hiện sự động viên tới các nhân lực, lực lượng tham gia thực hiện chính sách Bên cạnh đó truyền thông còn tham gia kiểm tra, giám sát quá trình thực thi chính sách xem có đúng như đã công bố ở giai đoạn trước không Giai đoạn này chính sách thường chịu tác động của nhiều yếu tố, điều kiện, môi trường do đó có thể có những thay đổi nhất định Khi đó truyền thông sẽ kịp thời phản ánh để cộng đồng xã hội cùng sẻ chia, ủng hộ Đồng thời trong quá trình thực thi không thể không tránh khỏi những xung đột do bản thân chính sách khi thực hiện tác động tiêu cực đến lợi ích của một số nhóm người, bởi vậy truyền thông làm nhiệm vụ phản ảnh chân thực quá trình, diễn biến việc thực thi chính sách, chia sẻ và tìm sự cảm thông từ những trường hợp bị chính sách tác động Ở đây truyền thông sẽ
“nghe ngóng”, nắm bắt tâm lý, trạng thái của người dân, của các đối tượng thụ hưởng chính sách, của các nhóm đối tượng bị chính sách tác động để phản hồi thông tin đến các chủ thể chính sách Từ đây, nhà nước có thể điều chỉnh, duy trì chính sách cho phù hợp Ở đây, thực chất truyền thông góp phần duy trì, động viên, kiểm tra việc thực hiện chính sách.
Khi đảm bảo được những nhiệm vụ như trên thì truyền thông thực hiện được mục tiêu là duy trì sự đồng thuận của xã hội mà sự đồng thuận này đã được tạo dựng từ giai đoạn đầu của chu trình chính sách Việc tạo dựng sự đồng thuận xã hội này làm cho tiến độ thực thi chính sách được bảo đảm, hiệu quả chính sách được thực hiện. Để tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả các chủ thể tham gia thực hiện chính sách (các cơ quan tổ chức, cán bộ công chức) phải tuân thủ và thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách Quy trình tổ chức thực hiện chính sách gồm các bước:
- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách.
- Phân công phối hợp thực hiện chính sách.
- Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách.
- Tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm thực hiện chính sách
Các bước trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách có mối liên hệ hữu cơ, tác động và bổ sung cho nhau và đều hướng tới thực hiện thành công, thực hiện có hiệu quả mục tiêu chính sách, không được coi nhẹ, bỏ qua bất cứ bước nào trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách.
Phổ biến, tuyên truyền chính sách (hay truyền thông chính sách) là một trong các bước không thể thiếu trong tổ chức thực hiện chính sách Vì sau khi kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện chính sách được thông qua việc đầu tiên cần phải làm là phải tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách Đây là hoạt động quan trọng, có ý nghĩa thiết thực, to lớn tới cơ quan Nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách Mục đích của phổ biến, tuyên truyền (hay truyền thông) chính sách là để giúp các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực thi chính sách, hiểu rõ về mục tiêu, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách và về tính khả thi của chính sách; về quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong thực thi chính sách…để họ tự giác, tích cực thực hiện theo yêu cầu quản lý của Nhà nước Đồng thời phổ biến, tuyên truyền hay truyền thông chính sách còn giúp cho cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách, nắm bắt được mục tiêu,giải pháp công cụ, thể chế chính sách, đối tượng chính sách, giúp họ nhận thức được đầy đủ tính chất, tầm quan trọng, quy mô của chính sách đối với đời sống xã hội và người dân giúp họ chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp để thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực hiện có hiệu quả các kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao Đối với các cơ quan Nhà nước, người chủ động ban hành và tổ chức thực hiện chính sách phải thường xuyên quan tâm, tuyên truyền, vận động các đối tượng chính sách và toàn xã hội tích cực tham gia thực thi chính sách. Đối với những người thực thi, chấp hành chính sách (các đối tượng của chính sách và toàn thể xã hội) có trách nhiệm tham gia thực hiện theo yêu cầu của Nhà nước và vận động lẫn nhau tích cực chấp hành, thực thi chính sách. Phổ biến, tuyên truyền chính sách có tác dụng làm cho các đối tượng chính sách và toàn thể nhân dân nhận thức được vai trò của mình trong xã hội, để họ phát huy quyền làm chủ xã hội trong việc chấp hành chính sách Phổ biến tuyên truyền chính sách hay truyền thông chính sách còn là hình thức công khai, mở rộng dân chủ để người dân biết, người dân bàn trong tổ chức thực hiện chính sách Thông qua đó người dân mạnh dạn tham gia vào quản lý xã hội, tự giác chấp hành chính sách, chủ động đề xuất, kiến nghị với các cơ quan Nhà nước các giải pháp thực hiện mục tiêu chính sách, các phương pháp tổ chức thực hiện có hiệu quả của chính sách.
4.1.2 Nội dung, phương thức truyền thông tác động vào quá trình thực hiện chính sách Ở giai đoạn thực thi chính sách, tức là chuyển những tuyên bố trên giấy tờ của chính quyền về các loại dịch vụ, mục tiêu, đối tượng, phương thức thành những hành động nhất định nhằm phân phối lợi ích từ tuyên bố Lúc này, các phương tiện truyền thông được nhà nước sử dụng để thông tin, giải thích chính sách Các chính sách được ban hành đều có tác động đến nhận thức tư tưởng của những người có liên quan, từ đó hình thành nên thái độ của họ đối với việc chấp hành chính sách Nhận thức tư tưởng của mỗi người không giống nhau, vì vậy thái độ của họ đối với một chính sách cũng không thống nhất Việc nhận thức đúng đắn vấn đề để mọi người có liên quan cùng đi theo một con đường chung là yếu tố quan trọng bảo đảm cho thực hiện chính sách thắng lợi Vì vậy, các cơ quan nhà nước phải tiến hành hoạt động truyền thông, chuẩn bị dư luận cho việc thực hiện chính sách để mọi người hiểu, đồng tình và ủng hộ Ngoài ra, trong quá trình thực hiện chính sách sẽ có nhiều vấn đề phát sinh sinh, truyền thông sẽ nắm bắt tâm tư của người dân, của các đối tượng thụ hưởng chính sách, của các nhóm đối tượng bị chính sách tác động để phản hồi thông tin đến chính quyền, qua đó các nhà làm chính sách có thể điều chỉnh, duy trì chính sách cho phù hợp.
Ngoài ra, phổ biến, tuyên truyền chính sách còn nhằm mục đích tạo ra sự đồng thuận xã hội cao trong thực hiện chính sách của Nhà nước Chính sách của Nhà nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc nẩy sinh trong đời sống kinh tế - xã hội, đáp ứng mong muốn của người dân và yêu cầu quản lý, quản trị quốc gia của Nhà nước Để chính sách đạt được mục tiêu đề ra cần phải tạo ra sự đồng thuận cao trong xã hội Phổ biến, tuyên truyền hay truyền thông chính sách là một trong các giải pháp tạo ra sự đồng thuận xã hội trong thực hiện chính sách Sự đồng thuận xã hội cao trong tổ chức thực hiện chính sách là sự đồng tình ủng hộ của nhân dân trong thực thi chính sách. Thực tế cho thấy sự đồng tình ủng hộ của nhân dân trong thực thi chính sách là nhân tố có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của chính sách Mục tiêu chính sách của các quốc gia là làm thay đổi trạng thái kinh tế - xã hội Đây là vấn đề hết sức lớn lao và hệ trọng, cần phải huy động các nguồn lực xã hội và sự đóng góp sức người, sức của và trí tuệ của nhân dân trong một thời gian đủ để các yếu tố cấu thành trạng thái kinh tế - xã hội, vận động phát triển lên một trình độ cao hơn, làm thay đổi về chất của xã hội Vì vậy, việc thực hiện các mục tiêu chính sách không thể chỉ do các cơ quan Nhà nước, mà phải có sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội Trên thực tế các cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện chính sách, còn các tầng lớp nhân dân là những đối tượng thực thi chính sách Như vậy, nhân dân vừa là người trực tiếp tham gia hiện thực hóa mục tiêu chính sách vừa trực tiếp thụ hưởng những lợi ích mang lại từ chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách là để nhân dân nhận thức được đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực thi chính sách đối với họ Nếu một chính sách đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội về mục tiêu và giải pháp thực hiện thì nó nhanh chóng đi vào lòng dân, được nhân dân ủng hộ thực hiện Còn các chính sách không thiết thực đối với đời sống nhân dân, không phù hợp với trình độ và điều kiện hiện có của dân thì sẽ bị tẩy chay hoặc "bỏ rơi" không thực hiện Như vậy, một chính sách muốn được triển khai thực hiện tốt vào đời sống xã hội cần phải có sự đồng tình ủng hộ của nhân dân,không có sự đồng tình ủng hộ của nhân dân mọi chính sách khó có thể thực hiện thành công Và để có được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân hay sự đồng thuận của xã hội cao không có giải pháp nào hữu hiệu hơn là phổ biến,tuyên truyền (hay truyền thông chính sách) Trong một xã hội dân chủ, phổ biến, tuyên truyền chính sách để tạo ra sự đồng thuận, sự đồng tình ủng hộ của nhân dân trong tổ chức thực hiện chính sách là hết sức cần thiết.
Truyền thông trong theo dõi, phản hồi và đánh giá chính sách
4.2.1 Sự cần thiết của truyền thông trong đánh giá chính sách Đánh giá chính sách là một giai đoạn quan trọng để đưa ra những nhận định về các giá trị của chính sách, về mức độ đạt được các mục tiêu chính sách, sự tác động của chính sách đến nhóm mục tiêu Trên thực tế, việc đánh giá chính sách đòi hỏi thời gian, nguồn lực và công sức không nhỏ để có thể đưa ra những nhận xét có căn cứ về giá trị của chính sách Vì vậy, có rất nhiều chính sách không được đầu tư công sức và kinh phí để đánh giá một cách nghiêm túc, mà thường là các cơ quan ban hành hay cơ quan thực thi chính sách tự đánh giá về chính sách của mình Chẳng hạn, trong quá trình thực thi chính sách, định kỳ hoặc sau một thời gian thực hiện, các cơ quan chủ trì thực thi sẽ tổ chức sơ kết hay tổng kết lại quá trình thực thi chính sách.Đây là một hình thức đánh giá chính sách, song cách thức này thường mang tính chủ quan, chủ yếu liệt kê các kết quả thực thi chính sách mà không đi sâu phân tích các hạn chế và nguyên nhân của chúng.
Về nguyên tắc, đánh giá chính sách phải được tiến hành bởi một bên độc lập, có sự khảo sát, thu thập thông tin và sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học để xử lý thông tin và đưa ra những nhận định có tính khách quan về chính sách
Trong quá trình này, truyền thông đóng góp vào việc đánh giá chính sách thông qua cung cấp các thông tin thực tế về các thành công và đặc biệt là các bất cập của chính sách trong thực tế Các thông tin này có tính gợi mở, hỗ trợ những người đánh giá đi sâu tìm hiểu thực tế để tìm ra các vấn đề ẩn dấu sau các báo cáo của chính quyền
Sau khi đánh giá, các báo cáo đánh giá chính sách cần được công khai trên các phương tiện truyền thông cho mọi người được biết, tạo diễn đàn cho các ý kiến phản hồi về kết quả đánh giá Bên cạnh đó, trong xã hội cũng có các tổ chức nghiên cứu (think tank) quan tâm đến chính sách, các tổ chức này có thể đưa ra những đánh giá của mình vể chính sách và công bố kết quả trên truyền thông.
Từ đó, Nhà nước biết được các điểm cần lưu ý hay hoàn thiện để tiếp tục duy trì hay cải thiện chính sách Thực tế cho thấy, Bộ Tài chính đã tổ chức đánh giá việc triển khai cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tại nhiều diễn đàn, tập trung vào những lĩnh vực sự nghiệp quan trọng như giáo dục, y tế, khoa học công nghệ - đó là những dấu mốc quan trọng, tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện và phát triển chính sách tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập (từ Nghị định 10/2002/NĐ-CP về cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu, Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; tới Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập).
4.2.2 Nội dung, phương thức truyền thông tác động vào quá trình theo dõi, phản hồi và đánh giá chính sách
Sử dụng truyền thông trong đánh giá chính sách là cơ sở để các cơ quan chức năng đã kịp thời điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi chính sách theo hướng hoàn thiện, phù hợp thực tế, đáp ứng nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, từ đó xây dựng được đồng thuận xã hội lớn trong việc thi hành các chính sách thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Tuy nhiên, khâu đánh giá chính sách nói chung và việc sử dụng truyền thông trong đánh giá chính sách nói riêng ở nước ta thời gian qua vẫn chưa thực sự được coi trọng đúng mức Ở giai đoạn này, truyền thông có nhiệm vụ quan trọng là tổng hợp ý kiến đánh giá của các nhà chuyên môn, của người dân, của những nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp của chính sách về hiệu quả thực thi của chính sách trong thực tế bao gồm cả những mặt được và chưa được Qua đó, những nhà làm chính sách có thể nhìn nhận rõ hơn về những tích cực và tiêu cực do tác động của chính sách, góp phần tổng kết thực tiễn về chính sách, trên cơ sở đó có thể hình thành dữ liệu khoa học để điều chỉnh chính sách hoặc làm cơ sở cho việc ban hành các chính sách khác do thực tiễn đặt ra Sự đánh giá, bình luận của truyền thông ở đây là rất quan trọng, do đó trách nhiệm của người đại diện chính phủ phải tổ chức họp báo để công khai các kết luận, các đánh giá về hiệu của chính sách với người dân.
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG
1 Sự cần thiết của truyền thông trong thực hiện và đánh giá chính sách công?
2 Nội dung, phương thức tác động của truyền thông trong thực hiện chính sách công?
3 Nội dung, phương thức tác động của truyền thông trong đánh giá chính sách công?
VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG TRỰC TIẾP TRONG
Truyền thông trực tiếp: Khái niệm, ưu thế và hạn chế
Kênh truyền thông trực tiếp trong chu trình chính sách công được hiểu qua hai nghĩa Thứ nhất, truyền thông với sự hiện diện trực tiếp giữa chủ thể và đối tượng, hoặc giao tiếp qua phương tiện như điện thoại, internet, mạng xã hội Thứ hai, truyền thông trực tiếp còn có nghĩa nội dung của giao tiếp đề cập trực tiếp vấn đề chính sách mà không phải thông qua vấn đề khác Các kênh truyền thông trực tiếp gồm:
- Kênh tổ chức: thông qua hoạt động của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, hội nhóm, câu lạc bộ, với các hình thức sinh hoạt định kỳ, gặp gỡ cử tri, tọa đàm, hội nghị, hội thảo, họp báo… để thông tin về chính sách, đồng thời tiếp xúc trực tiếp với đối tượng để nắm thông tin phản hồi từ đối tượng
- Kênh cá nhân: thông qua đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên,điển hình tiên tiến, già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo…Ngoài ra có thể huy động các nhân vật của công chúng, người nổi tiếng: Vblogger,KOLs….,những người có sức ảnh hưởng lớn đến công chúng để dẫn dắt dư luận, từ đó truyền thông đến công chúng Tiêu biểu trong kênh truyền thông này là hoạt động của báo cáo viên, tuyên truyền viên, những người dùng lời nói trực tiếp để truyền thông chính sách.
+ Chủ thể truyền thông có thể điều chỉnh nội dung và cách truyền đạt cho phù hợp với từng đối tượng.
Là loại hình giao tiếp trực tiếp nên giữa chủ thể có điều kiện nắm bắt được sự hiểu biết, thái độ, tâm tư, nguyện vọng của đối tượng qua đó điều chỉnh nội dung, phương pháp truyền đạt để phù hợp với từng đối tượng
+ Người truyền thông có thể nhận được thông tin phản hồi từ đối tượng do đó hiểu được tâm tư, tình cảm, hoàn cảnh, khó khăn của đối tượng và dễ dàng đánh giá được hiệu quả của truyền thông
+ Là kênh truyền thông có hiệu quả nhất, có tính quyết định đến sự thay đổi hành vi của đối tượng.
+ Truyền thông trực tiếp chỉ tiếp cận đến một nhóm đối tượng nên hiệu quả
+ Người truyền thông đòi hỏi phải có kiến thức, kỹ năng cần thiết để đáp ứng với nhu cầu của các đối tượng.
+ Hiệu quả của truyền thông phụ thuộc vào năng lực và khả năng của truyền thông viên, do đó họ cần phải được đào tạo tốt.
5.2 Một số hình thức truyền thông trực tiếp trong chu trình chính sách công
5.2.1 Các tổ chức và sinh hoạt, hội họp của các tổ chức
Trong xã hội, mỗi công dân đều tham gia một hay nhiều tổ chức Đó có thể là tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội- nghề nghiệp hay tổ chức xã hội…Tác động qua phương tiện truyền thông này sẽ phủ khắp đối tượng , đồng thời có thể thực hiện tác động nhiều lần đến một đối tượng bằng những phương thức khác nhau. Ưu thế
- Vừa tác động đến một nhóm, vừa có thê tác động đến một người. Thông qua sinh hoạt của các tổ chức, thông tin về các chính sách có thể được thông báo kịp thời, có định hướng tới đối tượng, tạo sự quan tâm, sự thống nhất về nhận thức , tư tưởng cho các thành viên, hội viên, củng cố niềm tin, cổ vũ hành động tích cực thực hiện những chính sách của Nhà nước.
- Do cùng sinh hoạt trong một tổ chức nên mọi người có nhiều điểm chung về nhận thức, tình cảm, tâm tư, nguyện vọng nên sinh hoạt hội họp của các tổ chức là kênh truyền thông trực tiếp rất hiệu quả Đối với những tổ chức được hình thành trên cơ sở một sự đồng nhất nào đó về mặt xã hội như giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp , sở thích …thì dễ tìm ra đặc điểm chung về sự quan tâm, hứng thú nên hiệu quả tác động cao.
- Thông qua sinh hoạt của các tổ chức, có thể nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và tầng lớp nhân dân về những chính sách để phản ánh với Nhà nước, kịp thời điều chỉnh , bổ sung, hoàn thiện chính sách phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân.
- Phạm vi tác động của sinh hoạt hội họp qua các tổ chức thường hẹp hơn và chậm hơn.
- Hiệu quả tác động về những thông tin chính sách phụ thuộc vào trạng thái và chất lượng hoạt động của tổ chức Ở những tổ chức vững mạnh, chất lượng sinh hoạt hội họp của các tổ chức cao, các thành viên của tổ chức am hiểu nhau, đoàn kết thì hiệu quả truyền thông tốt Ngược lại, ở những tổ chức yếu kém, nội bộ mất đoàn kết, tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình thấp…thì hiệu quả tác động hạn chế
5.2.2 Truyền thông qua đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên Ưu thế
Báo cáo viên, tuyên truyền viên sử dụng lời nói làm phương tiện chủ yếu để chuyển tải thông tin, hình thức này nên có ưu thế của ngôn ngữ nói, nó mang tính phổ biến trong giao tiếp xã hội Bằng ngôn ngữ nói, cán bộ tuyên truyền có thể trình bày vấn đề một cách hệ thống; giải thích cặn kẽ, nhắc đi nhắc lại để ghi nhớ các khái niệm, phạm trù, qui luật, quan điểm tư tưởng với từng đối tượng, kể cả đối tượng không biết chữ Lời nói có ưu thế là sử dụng linh hoạt, hiệu quả thông tin cao, có thể tác động mạnh mẽ vào tình cảm của con người, khơi dậy tính tích cực nhận thức của đối tượng, thúc đẩy quá trình hình thành niềm tin và cổ vũ hành động Lời nói có thể sử dụng trong mọi hoàn cảnh, mọi điều kiện, do đó, tuyên truyền miệng ít tốn kém kinh phí, không cần nhiều đến phương tiện kỹ thuật phức tạp; trong tuyên truyền miệng, cán bộ tuyên truyền có thể sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ (có tài liệu gọi là các yếu tố của hệ thống tiếp xúc cơ học) như tư thế, cử chỉ, điệu bộ, diện mạo… làm phương tiện biểu đạt thông tin và sắc thái tình cảm Những yếu tố phi ngôn ngữ này tác động vào kênh thị giác của người nghe, tăng cường sự chú ý của họ, do vậy mà thúc đẩy việc tiếp thu thông tin một cách tốt nhất Yếu tố phi ngôn ngữ hỗ trợ cho lời, làm tăng ý nghĩa của lời, biểu hiện xúc cảm, sắc thái tình cảm của người tuyên truyền với vấn đề tuyên truyền, do đó chúng góp phần nâng cao hiệu quả tuyên truyền miệng.
Tuyên truyền miệng có ưu thế của loại hình giao tiếp trực tiếp Con người mang bản chất xã hội, nên giao tiếp trực tiếp giữa người với người là hoạt động không thể thay thế Khác với giao tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng, sự giao tiếp trực tiếp của kênh tuyên truyền miệng dễ tạo cho người nghe cảm giác gần gũi, thân mật, qua đó cán bộ tuyên truyền mang đến cho đối tượng không chỉ nội dung của lời nói mà còn mang lại cho họ tình cảm, niềm tin vào những điều mình nói Giao tiếp trực tiếp cho phép tác động đến đúng đối tượng Nhờ nghiên cứu trước về đối tượng và nắm bắt thêm đặc điểm đối tượng thông qua giao tiếp trực tiếp, cán bộ tuyên truyền hiểu biết rõ nhu cầu, tâm trạng người nghe, trên cơ sở đó mà xác định nội dung và phương pháp tuyên truyền, để lời nói đi vào tâm hồn người nghe nhanh hơn Giao tiếp trực tiếp tạo điều kiện cho cán bộ tuyên truyền linh hoạt vận dụng cách nói trong những tình huống khác nhau trong quá trình trình bày bài nói, như điều chỉnh nội dung thông tin, phương pháp tuyên truyền cho phù hợp Giao tiếp trực tiếp cho phép chuyển từ độc thoại sang đối thoại Người nghe có thể bày tỏ tâm tư, nguyện vọng của mình; được hỏi và được trả lời những vấn đề mà mình quan tâm, được trao đổi, tranh luận với nhau và với cán bộ tuyên truyền về những vấn đề còn chưa thống nhất…, do vậy làm tăng thêm hiệu quả tuyên truyền.
Tóm lại, giao tiếp trực tiếp tạo cho cán bộ tuyên truyền cũng như người nghe nhiều ưu thế mà người phát biểu trên truyền hình, đài phát thanh và khán thính giả của họ không thể có được.
Hạn chế của tuyên truyền miệng
Bên cạnh những ưu thế đã được chỉ ra, tuyên truyền miệng cũng còn có một số hạn chế như: Lời nói chỉ đi một chiều, không quay trở lại Khi đã lỡ lời thì không thể lấy lại được nữa Dù có cải chính, xin lỗi , vẫn gây cho người nghe một ấn tượng nào đó Vì vậy người nói cần thận trọng; đối với người nghe, cũng do tính chất này của lời nói cần chú ý, nếu không lời của báo cáo viên đã đi qua, không thể nghe lại và không phải lúc nào cũng có điều kiện hỏi lại hoặc đối thoại ; Phạm vi về không gian có giới hạn, do giới hạn tự nhiên của lời nói trực tiếp (dù đã có phương tiện khuếch đại) và khả năng tập hợp một số đông tại một địa điểm và thời điểm nhất định; Dễ chịu tác động của các yếu tố ngoại cảnh do tập trung đông người và ở các địa điểm khác nhau.
Gặp gỡ trực tiếp là quá trình mà chủ thể trực tiếp gặp mặt một đối tượng để thông tin, truyền thông về một chính sách nào đó Gặp gỡ trực tiếp là một hình thức truyền thông cá nhân có hiệu quả. Ưu thế
Các loại hình truyền thông gián tiếp tham gia vào chu trình chính sách công 98 6.2 Ưu thế và hạn chế của truyền thông gián tiếp trong chu trình chính sách công
6.1.1 Các phương tiện in ấn
Sách là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng không định kỳ, chuyển tải tri thức bằng chữ viết và hình ảnh, được con người tiếp nhận thông qua thị giác.
Sách có nhiều loại tuỳ theo tiêu chí phân loại:
- Căn cứ vào kỹ thuật sản xuất sách, người ta chia sách thành: sách chép tay, sách bìa mềm, sách bìa cứng, sách ảnh, sách điện tử
- Căn cứ vào nội dung, người ta chia sách thành: sách văn học - nghệ thuật, sách khoa học - kỹ thuật, sách chính trị - xã hội, sách pháp luật, sách tôn giáo, sách dân số
- Căn cứ vào nội dung và mục đích sử dụng, sách được chia thành các loại chính như sách thương mại, sách chuyên biệt, sách tra cứu, sách chuyên khảo, sách giáo khoa, sách tôn giáo
- Căn cứ vào kích cỡ, người ta chia sách thành: sách khổ lớn, sách khổ vừa, sách khổ nhỏ, sách bỏ túi
Trong truyền thông chính trị hoặc trong truyền thông các vấn đề xã hội,loại sách khổ nhỏ, sách bỏ túi thường được sử dụng Loại sách này có thể dùng để truyền thông về một vấn đề lớn, có giá trị trong một thời gian tương đối dài Nội dung truyền thông qua loại sách khổ nhỏ thường là các chủ trương, chính sách lớn, những thành tựu, các điển hình, phổ biến các biện pháp công tác lớn, những tiến bộ về khoa học và công nghệ, những vấn đề có liên quan đến sản xuất, đời sống, chẳng hạn như: vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu, vấn đề an toàn giao thông đường bộ, chủ trường giao đất, giao rừng, định canh, định cư
Sách khổ nhỏ dùng chữ viết là chính, nhưng cũng có thể dùng thêm tranh, ảnh, biểu đồ, sơ đồ để minh hoạ Khuôn khổ nhỏ, ít trang để dễ sử dụng, bỏ túi.
Báo in là loại hình báo chí sử dụng ngôn ngữ viết, hình ảnh tĩnh (đồ hình, đồ hoạ) để chuyển tải các sự kiện, vấn đề xảy ra trong đời sống xã hội, mang tính thời sự, chân thực, khách quan, thông qua kỹ thuật in ấnvà được xuất bản định kỳ Báo in bao gồm nhật báo, tuần báo, báo thưa kỳ, tạp chí và bản tin.
Các loại hình báo in trên đều sử dụng nhiều thể loại tác phẩm, tư liệu khác nhau dưới dạng chuyên sâu, chuyên đề, chuyên trang, chuyên mục hay các tin, bài độc lập để chuyển tải thông điệp Trong đó, các thể loại báo in phổ biến, thường dùng là tin, phỏng vấn, phóng sự, ảnh
Tờ rơi (còn được gọi là tờ gấp) là loại phương tiện truyền thông chuyển tải những thông điệp cơ bản, ngắn gọn với khuôn khổ nhỏ và phát miễn phí tại những nơi đông người, tại hội họp hay lễ hội.
Phát thanh là loại phương tiện truyền thông đại chúng trong đó nội dung thông tin được chuyển tải bằng âm thanh (lời nói, âmh thanh và các loại tiếng động làm nền) Phát thanh bao gồm 2 loại hình phát thanh qua làn sóng điện và truyền thanh qua dây dẫn Trong phát thanh có thể sử dụng nhiều thể loại tác phẩm chuyển tải thông tin chính sách như: tin tức, phóng sự, phỏng vấn, toạ đàm, câu chuyện truyền thanh, … Các loại hình văn nghệ dân gian như ngâm thơ, chèo, tấu hài được sử dụng trong các chương trình phát thanh sẽ rất phù hợp vì được nhiều người yêu thích.
Truyền hình là một loại phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh Với lợi thế nhiều mặt trong việc chuyển tải thông tin tới đông đảo quần chúng, truyền hình là một phương tiện hấp dẫn và mang lại hiệu quả cao trong truyền thông chính sách.
Trong truyền hình, có thể sử dụng nhiều thể loại, tác phẩm để chuyển tải thông điệp như: bản tin, phóng sự, phỏng vấn, toạ đàm, các chương trình văn hoá, giáo dục, vui chơi giải trí, …
Báo mạng điện tử là loại hình báo chí - truyền thông tồn tại, phát triển trên mạng internet toàn cầu.
Báo mạng diện tử còn có nhiều tên gọi khác, như báo trực tuyến, báo online, báo điện tử Là kênh truyền thông đặc thù ra đời sau, báo mạngđiện tử hội tụ, tích hợp được nhiều ưu điểm nổi trội của các kênh truyền thông ra đời trước, đồng thời cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế nhất định.
6.1.5 Một số phương tiện trực quan
Ngoài các phương tiện chủ yếu như đã nêu trên, truyền thông đại chúng còn được thực hiện thông qua các phương tiện khác như: ảnh, panô, áp phích, tranh cổ động, khẩu hiệu, biểu ngữ, v,v… Đây là những sản phẩm nghe nhìn phù hợp với thị hiếu của đông đảo công chúng và là phương tiện truyền thông hiệu quả ở nước ta hiện nay.
Mạng xã hội là một nền tảng trực tuyến, là dịch vụ kết nối các thành viên cùng sở thích trên internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian.
Mạng xã hội có nhiều tính năng: chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ files, blog, xã luận,
Mạng xã hội trở thành một phần tất yếu của hàng triệu người trên khắp thế giới Các dịnh vụ của mạng xã hội giúp người dùng tìm kiếm bạn bè, đối tác dựa theo group, thông tin cá nhân, sở thích, … hay các lĩnh vực người dùng quan tâm.
KINH NGHIỆM TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI114 7.1 Kinh nghiệm truyền thông chính sách ở Bắc Mỹ
Kinh nghiệm truyền thông chính sách ở Châu Âu
7.2.1 Kinh nghiệm truyền thông trong chính sách ở Anh Ở Anh, công tác truyền thông chính sách được thực hiện một cách hiệu quả bằng nhiều phương thức và phương tiện khác nhau Quá trình truyền thông chính sách ở Anh còn thu hút sự tham gia của các bên liên quan bao gồm các nhóm lợi ích với những nỗ lực tác động đến chính sách công vì lợi ích của họ Quá trình tác động này diễn ra sôi nổi dưới nhiều phương thức và bằng các phương tiện khác nhau trong đó bao gồm cả hình thức truyền thông nhờ vận động cơ sở Điển hình như trong cuộc vậ động chính sách của người dân London nói “không” với túi nhựa, Hội đồng thành phố London kết hợp với các nhóm lợi ích về môi trường đã sử dụng chủ yếu các hoạt động vận động cơ sở như thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, viết thư tay, dẫn chứng về một số tác hại của việc sử dụng túi nhựa và về các thành phố khác đã nói “không” với túi nhựa như thế nào để thuyết phục Nghị viện Anh đưa ra quyết định có lợi cho họ.
Báo chí truyền thông được coi là một trong những phương tiện được sử dụng phổ biến và rất hiệu quả trong truyền thông chính sách Ở Anh, một đạo luật chống chó dữ, chó dại đã có hiệu lực năm 1991, sau một loạt tin tức trên báo về các vụ trẻ em bị chó tấn công, kèm với đó là các bài xã luận đề nghị cơ quan lập pháp phải có luật ngăn chặn những tai nạn kiểu này.
Trong thời đại điện tử, email được cho là có trọng lượng tương tự như thư giấy Một cuộc thăm dò bởi ComRes đã cho thấy rằng không có sự khác biệt về mức độ chú ý tới một email so với một bức thư Điều này làm cho chiến dịch trực tuyến trở thành một công cụ hữu ích cho quá trình truyền thông chính sách ở Anh Các nguyên tắc đằng sau vận động trực tuyến rất đơn giản: một cơ sở dữ liệu của mã thư tin được liên kết với một cơ sở dữ liệu của các chính trị gia để giúp người vận động (và cử tri) liên lạc trực tiếp với đại diện dân cử của họ Các công cụ vận động tranh cử trực tuyến được đưa vào một trang web của khách hàng thông qua một "I-frame", và tất cả những gì những người vận động sẽ phải làm là nhập mã thư tin của họ một cách chính xác Theo quan điểm của một chính trị gia, email dễ dàng trả lời hơn so với thư giấy Họ cũng có thể lưu giữ địa chỉ email - với một lưu ý về các vấn đề mà họ đang quan tâm để sử dụng trong tương lai Đến thời gian bầu cử, họ có thể gửi email cho các cử tri chỉ ra rằng họ đã hồi âm thông tin liên lạc trước đó, và đổi lại yêu cầu hỗ trợ bầu cử Đây là một hình thức vận động trực tiếp và hiệu quả Nó có thể được sử dụng để gây ảnh hưởng đến cách mà các chính trị gia bỏ phiếu cho một điều luật, hoặc dùng cho các dự án cụ thể như thúc đẩy các chữ ký trên một kiến nghị chính thức được đệ trình cho cuộc tranh luận ở Hạ Viện (Early Day Motion (EDM)) Hiện chỉ có hai hệ thống vận động tranh cử trực tuyến có sẵn tại Vương quốc Anh là Advocacy Online và Political Wizard [82] Nếu chỉ sử dụng vận động trực tuyến đơn lẻ thường không đạt được kết quả Tuy nhiên, nếu biết kết hợp với các phương tiện khác, vận động trực tuyến lại rất hiệu quả, qua đó nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách.
7.2.2 Kinh nghiệm truyền thông chính sách ở Pháp
Hoạt động truyền thông chính sách ở Pháp tuy chưa phát triển mạnh mẽ như ở một số quốc gia khác nhưng cũng xuất hiện khá đầy đủ các loại hình, phương thức truyền thông, bao gồm cả hình thức truyền thông trực tiếp và gián tiếp, vận động từ trên xuống và từ dưới lên… Đặc biệt, do đặc thù về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhất là giữa nhánh lập pháp và hành pháp, điều trần được coi một phương thức quan trọng được sử dụng trong quá trình truyền thông chính sách để tạo ra những nỗ lực nhằm ngăn chặn, thúc đẩy, thay đổi hay điều chỉnh các chính sách.
Phương thức vận động dân chúng và vận động thông qua các chiến dịch quảng cáo cũng đã được sử dụng hiệu quả trong truyền thông chính sách ở Pháp từ trường hợp Hiệp hội sản xuất bánh mỳ Pháp Cụ thể, trước thực tế nhu cầu và thói quen sử dụng bánh mỳ của người Pháp giảm sút nghiêm trọng bởi nhiều thanh niên Pháp hoặc bỏ bữa sáng hoặc chuyển sang lựa chọn các thức ăn khác thay thế bánh mỳ, Hiệp hội sản xuất bánh mỳ Pháp đã tổ chức các chiến dịch vận động dân chúng tập trung vào việc đưa những thông điệp lên bảng thông báo và ghi vào túi bánh mì với hàm ý khi người Pháp nhìn thấy từ “coucou”, họ sẽ có phản xạ phải mua bánh mì ngày hôm nay.
Các cuộc biểu tình, diễu hành, tập hợp bên ngoài là những thủ thuật truyền thông chính sách từ cơ sở rất có hiệu quả giúp thu hút sự chú ý của công chúng đối với vấn đề đang được đấu tranh Phương thức truyền thông này cũng được sử dụng phổ biến ở Pháp Cuộc đình công diễn ra trong hai ngày của các nhân viên kiểm soát không lưu Pháp dẫn đến một lời kêu gọi để đổi mới do nhóm VĐHL của các hãng hàng không - Các hãng hàng không vì châu Âu (A4E) đưa ra cho kế hoạch hành động để giảm thiểu thiệt hại trong trường hợp tranh chấp kéo dài hơn A4E bao gồm các hãng hàng khôngEasyJet, Ryanair, Air France - KLM, Tập đoàn Lufthansa, Finnair,International Airlines Group, Norwegian và Finnair Trong 2 ngày đình công, các Hãng đã có 500 chuyến bay bị hủy bỏ và số lượng các chuyến bay bị chậm còn nhiều hơn.
Mới đây nhất là cuộc biểu tình của công nhân các công đoàn tại Pháp trước việc Nội các Pháp phê chuẩn việc dùng quyền đặc biệt để thông qua những thay đổi mà không cần sự chấp thuận của Quốc hội, theo đó ban hành Luật cải cách lao động theo hướng cho phép các công ty tư nhân có thêm căn cứ đề ra các điều kiện lao động Chính phủ Pháp cho rằng các cải cách lao động đưa ra là cần thiết để giúp cắt giảm tỉ lệ thất nghiệp cao ở nước này Cải cách cũng tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các chủ doanh nghiệp trong khâu tuyển dụng và sa thải Tuy nhiên những người phản đối cải cách lo sợ những thay đổi mới này đồng thời tạo điều kiện cho chủ doanh nghiệp bỏ qua quyền công nhân về tiền lương, làm thêm giờ và ngày nghỉ Chính vì vậy, khoảng trên 150.000 người bao gồm sinh viên, các công đoàn, thậm chí các thành viên trong chính đảng Xã hội cầm quyền của Tổng thống đã biểu kiên trì biểu tình đòi điều chỉnh lại Luật cải cách theo hướng có lợi cho người lao động.
7.2.3 Kinh nghiệm sử dụng truyền thông chính sách ở các nước Bắc Âu
Các nước Bắc Âu bao gồm Đan Mạch, Phần Lan, Ai – xơ – len, Na
Uy và Thụy Điển cùng các lãnh thổ phụ thuộc là quần đảo Pha – râu, Gờ-rin- len, Xvan – bát và quần đảo Ai –rơ – len Năm quốc gia và ba khu vực tự trị của khu vực hội tụ nhiều nét lịch sử chung, cũng như những tương đồng trong xã hội, như hệ thống chính trị và mô thức Bắc Âu Về mặt chính trị, các nướcBắc Âu không hợp thành một thực thể riêng biệt, song họ hợp tác với nhau thông qua Hội đồng Bắc Âu Những quốc gia này được biết đến với nhiều giá trị chính trị nổi bật với quá trình hơn 100 năm xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa Cũng ở những quốc gia này, nhiều quy định và nguyên tắc chính trị được đề ra và tôn trọng, trở thành cơ sở và động lực cho những phát triển về mặt kinh tế, xã hội, tạo nên đặc thù của các quốc gia Bắc Âu và là nơi lý tưởng để sống.
Tư tưởng chủ đạo của mô hình này là: tự do thị trường, tự do kinh doanh, không có sự khống chế của độc quyền, bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, bảo vệ hệ thống kinh tế tư bản, nêu cao tính độc lập kinh tế và “trách nhiệm xã hội” của doanh nghiệp, thừa nhận vai trò quan trọng của nhà nước trong quản lý phát triển để đảm bảo phối hợp tự do kinh tế với các quy tắc của một xã hội công bằng, bình đẳng
Mô hình Bắc Âu theo đuổi các mục tiêu: bảo đảm và nâng cao tự do về vật chất cho mọi công dân bằng cách bảo đảm cơ hội kinh doanh và hỗ trợ cho các cá nhân tham gia bằng một hệ thống bảo hiểm xã hội Đây là nền kinh tế thị trường kích thích mạnh mẽ sáng kiến cá nhân và lợi ích toàn xã hội, đồng thời phòng tránh được các khuyết tật lớn của thị trường, chống lạm phát, giảm thất nghiệp và những bất trắc khác qua hệ thống bảo hiểm đa diện, đa dạng Các quyết định kinh tế và chính trị của nhà nước được hoạch định trên cơ sở quan tâm đến những nhu cầu cá nhân và hài hòa nó với lợi ích cộng đồng Thực hiện công bằng xã hội cả trong khởi nghiệp và phân phối đã giúp cho ổn định bên trong của xã hội Nó góp phần khắc phục được những khuyết tật cố hữu của kinh tế thị trường như cạnh tranh khiến cho phân tầng, phân cực xã hội sâu sắc, theo đuổi lợi nhuận cá nhân đôi khi hy sinh lợi ích xã hội
Các chính phủ Bắc Âu đã chứng minh được phẩm chất quản lý minh bạch bên cạnh khả năng điều hành nền kinh tế với trình độ “trị quốc tốt nhất thế giới” Nắm giữ trong tay một nguồn lực khổng lồ của xã hội (nhà nước Thụy điển quản lý hơn 60% tài sản của xã hội, nhà nước của các nước Bắc Âu khác thấp hơn một chút nhưng về tỷ lệ vẫn luôn cao hơn khi so với Mỹ -25%, Anh, 31%) lại có quyền năng của “bàn tay hữu hình”, nhưng Bắc Âu cũng luôn đạt thứ hạng cao trong các xếp hạng về chính phủ minh bạch, lòng tin của xã hội và có mức tín nhiệm với các thể chế chính trị hiện hành Những khảo sát của Tổ chức minh bạch quốc tế trong thời gian gần đây đều đánh giá cao các nước Bắc Âu về thành tích trong các chỉ số về minh bạch, hạn chế tham nhũng và hạn chế lạm quyền. Để đảm bảo sự minh bạch hướng tới sự đồng thuận cao trong chu trình chính sách, các nước Bắc Âu tăng cường cơ chế đối thoại xã hội mà một trong những biểu hiện rõ nét nhất là việc xây dựng và vận hành cơ chế ba bên một cách hiệu quả, ít nhất là tính đến thời điểm này Thực chất, cơ chế ba bên là mô hình ba đối tác làm nền tảng cho các mối quan hệ lao động ở Phần Lan.Lao động và vốn, với các tổ chức tương ứng của chúng nằm ở hai đầu đối diện của đường cơ sở của tam giác và chính phủ ở đỉnh của tam giác Đây gọi là tam giác chiến lược của cơ chế ba bên và điều này cũng được ứng dụng trong chu trình ra các quyết sách, nâng cao hiệu quả công tác truyền thông chính sách tạo đồng thuận xã hội ở Phần Lan và các nước Bắc Âu khác Tam giác này tạo cơ sở cho các cuộc đàm phán giữa người sử dụng lao động, người lao động và chính phủ về các mục tiêu kinh tế - xã hội và tài chính trong thị trường lao động Kết quả của các cuộc đàm phán hình thành nên thỏa thuận chính sách thu nhập Dựa trên thỏa thuận này, các hội liên hiệp của từng ngành đàm phán và ký kết các thỏa ước lao động tập thể và ràng buộc về mặt pháp lý Cơ chế ba bên đã giúp cho các quốc gia Bắc Âu có sức cạnh tranh mạnh mẽ trên thế giới, cũng là những quốc gia dẫn đầu về sáng kiến và ứng dụng công nghệ thông tin Cơ chế này cũng làm cho xã hội Bắc Âu trở nên cở mở và minh bạch hơn Các thỏa thuận đã được ký kết đều được thực hiện, niềm tin tăng lên và các đối tác xã hội có thể giám sát lẫn nhau và giám sát chính quyền Nó cũng đặc biệt ảnh hưởng đến việc phát triển luật lao động và luật xã hội.
Một trong những phương thức được sử dụng rất phổ biến giúp gia tăng hiệu quả truyền thông chính sách ở các nước Bắc Âu chính là thông qua dân chủ trực tiếp mà biểu hiện sinh động nhất là trưng cầu dân ý Có thể nói, với quy mô dân số nhỏ, trình độ dân trí cao và đồng đều, cùng với trách nhiệm xã hội cao, người dân các nước Bắc Âu đã thực hiện một cách thường xuyên và hiệu quả hình thức dân chủ trực tiếp Chính phủ các nước này cũng đã rất thành công khi khai thác những đóng góp này của người dân vào chu trình chính sách như là một nguồn lực và động lực quan trọng Không khó để lí giải, 60% các quyết định của chính quyền được đưa ra từ kết quả của các cuộc trưng cầu dân ý.
Phát huy vai trò của các hiệp hội, đặc biệt là các tổ chức phi chính phủ là một kênh truyền thông chính sách khá hiệu quả ở Bắc Âu Không quá khi khẳng đinh, Bắc Âu là “miền đất hứa của các tổ chức phi chính phủ” bởi lẽ có hàng trăm nghìn tổ chức phi chính phủ đang đăng kí hoạt động ở các nước Bắc Âu hiện nay trong đó riêng Phần Lan khoảng 90.000 - 100.000 tổ chức.
Do đó, hầu hết người dân Bắc Âu đều là thành viên của một vài tổ chức trong số này Sự tồn tại và hoạt động mạnh mẽ của các tổ chức phi chính phủ này góp phần gia tăng tiếng nói của công chúng trong quy trình chính sách ở các nước Bắc Âu, đồng thời cũng là kênh giám sát chính phủ một cách hữu hiệu.
Kinh nghiệm truyền thông chính sách ở một số quốc gia châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Singgapo)
Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Singgapo)
Nghiên cứu kinh nghiệm truyền thông chính sách của các quốc gia châu Á, điểm chung dễ nhận thấy là nỗ lực xây dựng và phát huy vai trò của mô hình chính phủ điện tử trong truyền thông chính sách.
7.3.1 Kinh nghiệm sử dụng truyền thông chính sách ở Nhật Bản Ở Nhật Bản, một điểm quan trọng trong chiến lược phát triển Chính phủ điện tử đó là Cổng thông tin của Chính phủ và các Bộ ngành eGov sẽ đóng vai trò mở rộng liên kết với trang web hành chính để cho phép người dùng thực hiện tìm kiếm thông tin và quan trọng nhất là công khai bình luận thông tin Các Bộ, ngành và cả Chính phủ có thể nhanh chóng lấy ý kiến của nhân dân thông qua cổng thông tin Điều đó sẽ khiến những chính sách và kế hoạch được gần với dân hơn, vì vậy, cơ hội để người dân tương tác với chính quyền tăng lên, thông qua đó mà tăng cường tiếng nói và sự tham gia tích cực, chủ động của người dân vào quá trình chính sách công, đặc biệt là những chính sách có liên quan đến quyền lợi của họ.
7.3.2 Kinh nghiệm sử dụng truyền thông chính sách ở Hàn Quốc Ở Hàn Quốc, trong số 8 dịch vụ điển hình mà CPĐT cung cấp, dễ nhận thấy hầu hết trong đó đều có xu hướng hỗ trợ hoặc gia tăng sự tham gia của người dân vào quá trình chính sách Cụ thể là, (Government of citizen e-service centre-www.egov.go.kr)-G4C, cho phép công dân không phải trực tiếp đến các cơ quan công quyền mà vẫn có thể nhận thông tin bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào; Hệ thống đấu thầu trực tuyến (www.g2b.go.kr) cho phép tất cả các thủ tục đấu thầu được xử lý trực tuyến thông qua một cửa duy nhất, do đó nâng cao hiệu quả và tính minh bạch của việc đấu thầu Sử dụng hệ thống này, tất cả các giai đoạn của việc đấu thầu, như chuẩn bị đấu thầu, ký kết hợp đồng, giao hàng và thanh toán được xử lý trực tuyến và tiến trình đấu thầu có thể được theo dõi trong thời gian thực hiện, qua đó mà nâng cao khả năng giám sát của người dân vào quá trình thực hiện các dự án, chính sách của nhà nước;Hệ thống dịch vụ dân sự điện tử (www.minwon.go.kr ) cho phép mọi người dân có thể sử dụng dịch vụ hành chính bất cứ lúc nào, bất kỳ nơi đâu Công dân có thể giải quyết các vấn đề dân sự liên quan đến việc khiếu nại, tố cáo 24/24 giờ mà không cần phải gặp gỡ trực tiếp các nhân viên công quyền; đặc biệt, Hệ thống nhân dân điện tử (www.epeople.go.kr) tạo điều kiện để người dân tham gia vào hoạch định chính sách, khiếu nại và đề nghị xử lý thông tin qua một cửa duy nhất Công dân có thể nêu lên ý kiến của họ về việc xử lý không công bằng, hành vi xâm phạm quyền và lợi ích của họ, hoặc tham gia cải thiện thể chế và chính sách khác nhau thông qua hệ thống một cửa trực tuyến tích hợp Tất cả các tổ chức hành chính được liên kết với cửa sổ điện tử của nhân dân Do đó các khiếu nại, đề nghị của nhân dân đều có thể được nhận thông qua hệ thống này, họ cũng có thể kiểm tra kết quả xử lý thông qua hệ thống nhân dân điện tử.
7.3.3 Kinh nghiệm sử dụng truyền thông chính sách ở Singgapo Ở Singapore, trong bốn cơ sở xây dựng Chính phủ iGov2010, thì cơ sở thứ hai - “Tăng sự chia sẻ của công dân trong CPĐT” được xây dựng nhằm khích lệ sự tham gia của công dân vào việc hoạch định chính sách và thiết lập cộng đồng trực tuyến để thúc đẩy sự liên kết giữa các nhóm công dân vớiChính phủ.Các chương trình được xây dựng nhằm phát triển CPĐT đều có xu hướng hỗ trợ hoặc thúc đẩy sự tham gia của người dân trong quá trình tương tác với CPĐT Chương trình “Dịch vụ công trực tuyến” cung cấp dịch vụ công thông qua Internet qua đó có thể tiết kiệm chi phí và thời gian cho cảChính phủ và người sử dụng Chương trình “Thử nghiệm công nghệ” cho phép các cơ quan nhà nước đi tiên phong thử nghiệm những công nghệ thông tin – truyền thông mới giúp người dân và Chính phủ có khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng trong xu hướng công nghệ thông tin Chương trình này cập nhật thường xuyên và liên tục công nghệ tiên tiến giúp Chính phủ giảm thiểu khả năng đưa ra quyết định sai lầm trong việc phát triểnCPĐT; Chương trình “Cơ sở hạ tầng công nghệthông tin và viễn thông vững mạnh”được Chính phủ Singapore đầu tư ngân sách để xây dựng kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông cho phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, trong đó chú ý trang bị các điện thoại thông minh, hỗ trợ máy tính giá rẻ…để đảm bảo điều kiện cho mọi người dân có thể tham gia vào quá trình tương tác với CPĐT Các kênh thông tin điện tử quan trọng ở Singapoređều có xu hướng hỗ trợ và thúc đẩy sự tham gia của người dân, doanh nghiệp vào quá trình chính sách công cũng như làm minh bạch hóa hoạt động của chính phủ Cụ thể, Cổng công dân - điện tử(http://www.ecitizen.gov.sg/) là nền tảng của CPĐT ởSingapore Cổng này cung cấp thông tin và dịch vụ trực tuyến một cửa, qua đó mọi người dân có thể tham gia giao dịch với Chính phủ mà không cần thông qua bất cứ một cơ quan Chính phủ riêng lẻ nào Mọi người dân có thể truy cập cổng thông tin điện tử từ khắp mọi nơi chỉ cần kết nối Internet cho máy tính của mình Các cá nhân không có điều kiện để truy cập Internet từ nhà riêng, từ cơ quan hay những cá nhân cần có sự hướng dẫn khi truy cập các dịch vụ điện tử của Chính phủ có thể yêu cầu trợ giúp từ Trung tâm trợ giúp công dân – điện tử;
Mô hình Business Town của Trung tâm công dân điện tử là một tiến bộ quan trọng trong phương pháp lấy khách hàng làm trung tâm để cung cấp dịch vụ điện tử, nhờ đó, các doanh nghiệp trong nước và quốc tế có thể truy cập, sử dụng thông tin dịch vụ G2B phục vụ cho hoạt động của các doanh nghiệp như lên kế hoạch kinh doanh, nghiên cứu thị trường, quản lý nguồn tài sản trí tuệ… Business Town còn có các kế hoạch và chương trình hỗ trợ để khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh trong lĩnh vực thương mại điện tử cũng như hiện đại hóa, nâng cấp và mở rộng lĩnh vực kinh doanh truyền thống của công ty Vì vậy, các doanh nghiệp của Singaporecàng ngày càng có điều kiện để phát triển.Bên cạnh đó khi nhắc đến sự tương tác giữa Chính phủ và doanh nghiệp phải kể đến “Trade Net” - mạng điện tử cho phép các thương nhân và cơ quan Chính phủ trao đổi tài liệu thương mại thuận tiện và hiệu quả.; Singapore One- một cơ sở hạ tầng rộng khắp cả nước, bao trùm99% phạm vi lãnh thổ, mang lại khả năng ứng dụng công nghệ trong các cơ quan, trường học, doanh nghiệp, gia đình, thư viện và các trung tâm công cộng, với 7000 điểm truy cập trên khắp đất nước Singapore [3, tr.224].Đặc biệt, trang web (http://www.reach.gov.sg) cung cấp một loạt các kênh trực tuyến bao gồm cả diễn đàn thảo luận, các cuộc trò chuyện trực tuyến, blog và email, để thu thập thông tin phản hồi từ phía công chúng cũng như tạo điều kiện thảo luận về chính sách của chính phủ Mỗi năm một lần REACH tổ chức một cuộc thảo luận trực tuyến để cho người dân chất vấn các chính trị gia về việc chi tiêu các khoản ngân sách.