1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHÁI NIỆM DUY tâm và DUY THỨC TRONG THÀNH DUY THỨC LUẬN

11 40 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khái Niệm Duy Tâm Và Duy Thức Trong Thành Duy Thức Luận
Tác giả Trần Duy Luân
Người hướng dẫn TT.TS. Thích Nhật Từ
Trường học Học Viện Phật Giáo Việt Nam Tại TP.HCM
Chuyên ngành Triết Học Phật Giáo
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 383,79 KB

Nội dung

Chủ nghĩa duy tâm khách quan thừa nhận ý thức và tinh thần là thuộc tính thứ nhất có trước, vật chất là thuộc tính thứ hai có sau, và coi cơ sở tồn tại không phải là tâm thức con người t

Trang 1

GIÁO H ỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

H ỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HCM

KHÁI NIỆM DUY TÂM VÀ DUY THỨC TRONG THÀNH DUY THỨC LUẬN

Trang 2

GIÁO H ỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

H ỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HCM

KHÁI NIỆM DUY TÂM VÀ DUY THỨC TRONG THÀNH DUY THỨC LUẬN

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2022

Trang 3

MỤC LỤC

A.DẨN NHẬP……… 1

B.NỘI DUNG……… 2

CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ DUY THỨC VÀ DUY TÂM 1.1.Khái niệm “ Duy Thức” trong Luận Tam Thập Tụng……… 2

1.2.Khái niệm “Duy Tâm” trong triết học Duy Tâm……… 2

1.3 Sự Đồng Dị của “Duy Thức” trong Luận Tam Thập Tụng và “Duy Tâm” trong triết học Duy Tâm……… 3

1.3.1 Sự Đồng……….3

1.3.2 Sự Khác Biệt……….4

CHƯƠNG 2: SỰ VẬN HÀNH TÂM VÀ Ý THỨC 2.1.Tâm thức cội nguồn của nhân sinh – vạn pháp ……… 5

2.2 Sự vận hành của Tâm – Ý – Thức……… 5

C KẾT LUẬN………8

D.TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 9

Trang 4

1

A DẪN NHẬP

Duy thức tam thập tụng ( vijnaptimatratridasastrakarika) được triển khai tư tưởng Ðại thừa đến cực điểm của triết học Phật giáo vào những thế kỷ II đến thế kỷ VI tại Ấn Ðộ Duy thức được biết qua Phạn ngữ bằng 3 từ: 1) Cittamàtra, chủ trương tất cả đều do tâm, duy tâm; 2) Yogacàra, gồm 2 từ Du-già và hạnh, đề xướng hành trì du-già, quán tưởng thiền định để phát huy hạnh nguyện Bồ tát; 3) Vijnanaptivàda, học thuyết cho rằng tất cả vạn vật đều do thức hiện khởi Cả ba từ này được dùng cùng nghĩa với nhau, tuy rằng về sau, do các bộ luận chuyên về “duy thức” của Thế Thân, Vijnanaptivàda được phỗ biến hơn và chấp nhận như là tên gọi cho triết thuyết của tông này (Vijnanaptimatràtavàda) Trong khi đó, Cittamàtra hầu như không còn được nhắc tới, còn Yogàcàra được dùng xen lẫn với Vijnanaptivàda như là đồng nghĩa Trường phái Duy thức được xem là xiển dương và phát huy triết lý Ðại thừa, nhưng căn bản tư tưởng của nó, cũng như của Trung quán, bắt nguồn từ truyền thống sớm nhất của Phật giáo, tức ngay vào thời Ðức Phật tại thế, khi Ngài dạy trong kinh Pháp Cú, rằng “Tâm làm chủ, Tâm dẫn đầu, Tâm tạo tác tất

cả các pháp”, rằng Thức vốn có bản tánh thanh tịnh, v.v… Tâm do đó rất quan trọng trong Phật giáo ngay từ thời nguyên thủy Có thể nói rằng tất cả các học phái của Phật giáo, tại Ấn Ðộ cũng như tại Trung Hoa, cũng đều xây dựng triết thuyết trên vấn đề hiện hữu hay không hiện hữu của Tâm Duy thức tam thập tụng này được viết với mục đích khiến cho những ai có sự mê lầm ở trong hai Không mà phát sinh nhận thức chân chính

Do nhận thức chân chính mà hai trọng chướng được đoạn trừ Bởi vì, do chấp ngã và chấp pháp mà hai chướng cùng phát sinh Nếu chứng hai Không, các chướng ấy tùy theo

đó mà bị đoạn trừ Do đoạn trừ các chướng mà đắc hai quả vị thù thắng Do đoạn phiền não chướng vốn dẫn đến tái sinh mà chứng chân giải thoát Do đoạn sở tri chướng vốn cản ngại nhận thức mà đắc đại bồ-đề Lại nữa, vì để khai thị cho những ai mê mờ Duy thức nhầm lẫn chấp ngã và chấp pháp, khiến cho có tri kiến như thực đối với Duy thức Hoặc có người mê nhầm lý Duy thức ; hoặc chấp ngoại cảnh không phải là vô thể, như thức; hoặc chấp nội thức không phải hữu thể, như cảnh, hoặc chấp các thức có dụng sai biệt nhưng thể đồng nhất; hoặc chấp lìa tâm không có tâm sở riêng biệt Vì để bác bỏ những chấp trước sai biệt ấy khiến cho có được nhận thức như thực ở trong lý thâm diệu của Duy thức Vì lý do đó học viên chọn đề tài " Phân tích khái niệm duy tâm và duy thức " làm đề tài nghiên cứu của mình.Vì kiến thực của con còn hạn chế trong quá trình nghiên cứu không thể thiếu sai sót kinh mong giáo thọ Sư chỉ bảo thêm cho con

Trang 5

2

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ DUY THỨC VÀ DUY TÂM

1.1.Khái ni ệm “ Duy Thức” trong Luận Tam Thập Tụng

Duy thức (zh wéishì 唯識, ja yuishiki, sa vijñāptimātratā, en mind only), đồng nghĩa với danh từ Duy tâm (zh 唯心, sa cittamātra, cittamātratā), nghĩa là “chỉ có thức”, các pháp đều từ Thức mà sinh ra, không có gì nằm ngoài thức Giáo lí này chủ trương tất cả mọi sự hiện hữu đều do tâm, và vì vậy, không một hiện tượng nào tồn tại ngoài tâm Duy thức là một tư tưởng chủ đạo của Duy thức tông Các học giả Duy thức giải thích quy luật

và sự liên kết của các giác quan nhờ vào thức ẩn tàng A-lại-da (zh 阿頼耶識, sa ālaya-vijñāna) và từ tập hợp của năm giác quan trước (tiền ngũ thức) Chúng hoạt động, tạo nên chủng tử (種子) tương ưng với chúng, theo quy luật thông thường như hạt giống phát triển thành cây Mỗi chúng sinh đều có chỗ chứa những cảm nhận và những chúng sinh giống nhau sẽ tạo ra những nghiệp thức giống nhau phát xuất từ tàng thức vào cùng một thời gian như nhau Giáo lí Duy thức quy gọn các hiện tượng trong 100 pháp (法, sa dharma) thành 5 nhóm: 1 Sắc pháp, 2 Tâm pháp 3 Tâm sở hữu pháp 4 Tâm bất tương ưng hành pháp và 5 Vô vi pháp Theo giáo lí Duy thức, thế giới bên ngoài sẽ tạo nên khi tàng thức huân tập bởi “chủng tử”, hay là kết quả của các việc làm tốt xấu trong quá khứ Một đóng góp quan trọng khác của các nhà tư tưởng Duy thức là ba tính chất ảo, giả tạm,

và hiện thực của các hiện tượng Xem chi tiết ở Tam tính (zh 三性) Nền tảng của giáo lí Duy thức được phát triển bởi Di-lặc (彌勒) và hai anh em Thế Thân , Vô Trước , trong những luận giải như Câu-xá luận (zh 倶舎論, sa abhidharma-kośa-bhāṣya), Duy thức tam thập tụng (zh 唯識三十頌, sa triṃśikā vijñaptimātratāsiddhiḥ), Nhiếp đại thừa luận (zh 攝大乘論 , sa mahāyānasaṃgraha), Du-già sư địa luận (zh 瑜伽師地論, sa yogācārabhūmi-śāstra)

1.2.Khái ni ệm “Duy Tâm” trong triết học Duy Tâm

Chủ nghĩa duy tâm là trường phái triết học khẳng định rằng mọi thứ đều tồn tại bên trong tâm thức và thuộc về tâm thức Là một nền tảng của ngành vũ trụ học, hay một cách tiếp

cập tới hiểu biết về sự tồn tại, chủ nghĩa duy tâm thường được đặt đối lập với chủ nghĩa duy vật , cả hai đều thuộc lớp bản thể học nhất nguyên chứ không phải nhị nguyên hay đa nguyên Chủ nghĩa duy tâm có hai khuynh hướng: Chủ nghĩa duy tâm chủ quan phủ nhận

sự tồn tại của thế giới khách quan và coi nó là một cái gì đó hoàn toàn do tính tích cực của chủ thể qui định Chủ nghĩa duy tâm khách quan thừa nhận ý thức và tinh thần là thuộc tính thứ nhất (có trước), vật chất là thuộc tính thứ hai (có sau), và coi cơ sở tồn tại không phải là tâm thức con người theo như quan niệm của Chủ nghĩa duy tâm chủ quan

mà là một tâm thức nào đó ở bên ngoài thế giới như “tinh thần tuyệt đối”, “lý tính thế giới”, v.v… khái niệm chủ nghĩa duy tâm sử dụng ý nghĩa ý thức, về cốt yếu là ý thức sống động của một Thượng Đế có mặt ở mọi nơi, làm nền tảng cho mọi hiện tượng

tri ết học Duy Tâm

1.3.1 S ự Đồng: Từ định nghĩa đã cho chúng ta thấy rằng quan điểm của “Duy Thức”

trong tam thập tụng và “Duy Tâm” trong triết học duy tâm đều do ý thức ( tâm) làm chủ, làm nền tảng Cả hai hệ thống tâm lý học đều tập trung nghiên cứu, khảo sát các vấn đề tâm lý, các hiện tượng và diễn tiến của tâm lý – nghĩa là cùng hướng về sự nhận thức của

Trang 6

3

con người, tức là ý thức Trong các pháp, Tâm dẫn đầu, Tâm làm chủ, Tâm tạo tác Chủ nghĩa duy tâm thừa nhận tính thứ nhất của cảm giác, ý thức con người, khẳng định mọi

sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân, của chủ thể Học thuyết duy thức biện minh về sự thật tuyệt đối của thức với sự chứng minh rằng thế giới bên ngoài vạn hữu là không có thực mà chỉ do thức biến mà thôi

1.3.2 S ự Khác Biệt

1.3.2.1 Duy Tâm

Chủ Nghĩa Duy Tâm hoàn toàn ngược lại với Chủ Nghĩa Duy Vật , nghĩa Tâm có trước Vật , Tâm cũng là nền tảng phát sinh cấu trúc hình thành của Vật Chất và bởi do Tâm sắp xếp do đó mọi hiện tượng sinh khởi theo một trật tự được chủ định không có đối tác nào khác ngoài Tâm Chủ nghĩa duy tâm coi ý thức là một năng lực thuần túy chủ quan của

bộ não con người cũng có ý nghĩa quyết định đối với hiện thực và mọi hoạt động của con người Chủ nghĩa duy tâm xuất phát từ quan điểm cho rằng bản chất thế giới là ý thức Cho nên, khi giải quyết mặt thứ nhất trong vấn đề cơ bản của triết học họ thừa nhận ý thức là tính thứ nhất, là cái có trước, cái quyết định vật chất còn vật chất là tính thứ hai, cái có sau, cái phụ thuộc vào ý thức Lại cho rằng ý thức, tinh thần có trước và quyết định giới tự nhiên Giới tự nhiên chỉ là một dạng tồn tại khác của tinh thần, ý thức Chủ nghĩa duy tâm đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại với hai hình thức chủ yếu là: Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của cảm giác, ý thức con người, khẳng định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân, của chủ thể Ví dụ quan niệm của Beccơly Chủ nghĩa duy tâm cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, nhưng đó không phải là ý thức cá nhân mà là tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người, quyết định sự tồn tại của tự nhiên, xã hội và tư duy Nó thường được mang những tên gọi khác nhau như ý niệm, ý niệm tuyệt đối, tinh thần tuyệt đối hay lý tính thế giới Ví dụ quan niệm của Platon , Hêghen Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy tâm là các lực lượng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ; nguồn gốc nhận thức của nó là sự tuyệt đối hóa một mặt của quá trình nhận thức (mặt hình thức), tách nhận thức, ý thức khỏi thế giới vật chất Nhà Duy tâm luận, chủ trương rằng: Nhân tâm là “mẹ đẻ ” của vũ trụ vạn vật, nếu không có nhân tâm, thì cả muôn vật đều chẳng có hẳn Sở dĩ, Duy tâm luận, họ thường thường xem xét mà nhận thấy đến “sự tồn tại của vạn vật, nó toàn nương nơi ngã tâm, nếu ngã tâm không có, thì cả thế giới sẽ như khói mây tan mất”!

1.3.2.2 Duy Thức

Nhà Duy thức Triết học sở dĩ nói: cả vũ trụ vạn hữu, mỗi mỗi đều là duy nơi thức nó biến hiện ra mà có đó, thì, chẳng phải như nhà Duy tâm luận, quá ư trọng thị rằng: “tâm”

nó năng sanh vạn vật; cũng chẳng phải như “duy nhứt thần ngã”, mà, tợ hồ chủ tể vạn vật Duy thức triết học, nói: cả vũ trụ vạn hữu, bản lai nó vẫn tự có cái thể tánh bổn lai của nó, bất quá là nó mượn nơi 8 cái tâm thức biến hiện của chúng ta, để mà sanh ra nó đó thôi Tám cái tâm thức ấy, lại là bởi 7 chuyển thức trước trong thân đời quá khứ của chúng ta,

nó rụng hột giống nghiệp chứa ở trong A -lại-da thức thứ 8, để huân tập thành thục rồi,

mà, chiêu cảm lấy “quả báo thân”; 7 chuyển thức trước trong thân thể đời nay, nó rụng hột giống nghiệp, chứa ở trong thức thứ 8, để chịu sự huân tập thành thục rồi, mà chiêu cảm lấy cái quả báo thân ở đời vị lai, nhẫn đến vô cùng, vô tận đời sau nữa Duy thức Triết học, giảng về vấn đề vạn vật là cảnh sở hiện của Duy thức đó, nó không có một ty một hào gì nhiễm với cái tập khí của “Thần ngã tạo vạn vật”, và sa hãm vào cái thành kiến “đoạn diệt” trong cái thân thể chỉ một thời kỳ Duy thức luận bảo rằng: “Vật mà sở

dĩ tồn tại, là, do nơi tâm thức nó biến hiện ; tâm thức mà sở dĩ biến hiện, là, nhân có

Trang 7

4

huyễn tướng vật thể tồn tại; tâm vật hòa hợp lẫn nhau, mới là cái thể viên mãn.” Duy thức luận, xô đổ Duy vật luận, xô đổ Duy tâm luận, mà đồng thời nó lại dựng lại Duy vật luận, dựng lại Duy tâm luận, bởi vì tâm thể vật thể hai cái này nọ gì đó phân chẳng ra, vì đồng thời có, mà cũng đồng thời không Duy thức triết học chủ trương: dùng trí căn bản (vô phân biệt trí) để thực chứng cái tánh “Bổn chân” của các pháp ; tánh ấy, thể của nó là:

“Vắng lặng, tỏ soi, tròn trặn, rỗng suốt, như như, bất động.” Thế chẳng phải là hạng phàm phu dùng cái trí thức “hư vọng phân biệt” để chứng thật cái “huyễn tướng” của các pháp kia; để so tính như thế nào là hiển sắc, hình sắc, và có vô biểu sắc kia, là chỗ kịp đến đặng đâu Lạ chẳng phải như “thật chứng chủ nghĩa” hiện đại kia, họ chênh lệch chú trọng nơi cái giả tướng vũ trụ vạn hữu, để rượt theo chứng thật cái chân lý chỉ một bên,

mà dùng làm là thực chứng Cái lẽ mà Duy thức triết học, dùng cái “căn bản trí ” để thực chứng cái “bổn chân” của các pháp đó, nó đè ngã hết thảy thật chứng chủ nghĩa của các nhà Triết học rồi! Vậy về cái lẽ: Duy thức luận cao siêu hơn Duy tâm luận đó xét ở trên đây khá rõ thấy rồi

Trang 8

5 CHƯƠNG 2: SỰ VẬN HÀNH TÂM VÀ Ý THỨC

2.1.Tâm th ức cội nguồn của nhân sinh – vạn pháp

Tâm thức là cội nguồn của nhân sinh và vạn hữu Bởi nhân sinh vạn pháp hình thành là

do năng lực chủng tử của tâm thức tiềm tàng trong bao la vũ trụ Năng lực ấy nhỏ như vi trần, lớn bao trùm vạn loại Đứng trên lĩnh vực tương đối thì chủng tử của tâm thức có giá trị hiện hữu như một nguyên tử vật chất Thật vậy, công năng chủng tử dẫn dắt chúng sinh theo nghiệp lực tái sinh trong ba cõi sáu đường Năng lực của một nguyên tử là bản chất bao la vũ trụ Nhưng trên phương diện tuyệt đối những chủng tử của tâm thức có năng lực duyên khởi vận hành ra vạn pháp.Trong Kinh Phật có chỗ nói “Tam giới duy tâm, Vạn pháp duy thức”, căn cứ vào sự thật trong vạn pháp bao gồm cả 3 cõi là Dục, Sắc

và Vô Sắc giới Vậy hai khái niệm này đã tương đồng thì Tâm và Thức cũng không khác Trong Tam tạng Thánh giáo nhiều chỗ gọi là Tâm – ý – thức ba thứ này chỉ là một năng lực làm chất liệu tạo sự tương tục cho toàn bộ hệ thống nhận thức trong quá trình chuyển biến vận động

2.2 S ự vận hành của Tâm – Ý – Thức

Tâm (Citta) Thức thứ 8, tuy mỗi hữu tình đều có, song tùy theo nghĩa sai khác mà đặt ra nhiều tên gọi Hoặc gọi là Tâm, bởi nó là nơi chứa nhóm các chủng tử do các pháp huân tập vào Hoặc gọi là A đà na, bởi nó chấp giữ chủng tử và sắc căn không để hoại mất Hoặc gọi là Sở tri y, bởi nó làm chỗ nương tựa cho các pháp sở tri nhiễm tịnh Hoặc gọi

là Chủng tử thức, bởi nó nhậm vận chấp trì các chủng tử các pháp khắp cả thế và xuất thế gian Hoặc gọi là A lại Da, bởi nó nhiếp giữ các pháp tạp nhiễm và bởi nó bị ngã kiến, ngã ái chấp tang làm tự nội ngã Hoặc gọi là Dị thục thức, bởi nó dẫn đến quả Dị thục của nghiệp thiện ác trong đường sinh tử Hoặc gọi là Vô cấu thức, bởi nó làm chỗ nương dựa cho các pháp cực thanh tịnh vô lậu.A lại Da thức: chứa tất cả các pháp nhân sinh vũ trụ, nạp thọ vận hành, duyên khởi các chủng tử không có giới hạn hay gián đoạn, như nhà kho vô hình và có 3 nghĩa: năng tàng, sở tàng, ngã ái chấp tàng.Kinh Hoa Nghiêm Phật dạy: “Tâm hàm vũ trụ, đạo quán cổ kim” nên nó có năng lực chứa đựng và duy trì các hạt giống, thức thứ 8 là nguyên nhân phát sinh cùng kết quả của thực tại giả lập Theo Ngài Khuy Cơ trong Thành Duy Thức Luận Thuật Ký II nói: “Từ phàm phu đến các hàng Thánh giả hữu học trong Nhị thừa đều thuộc vị này” (Từ điển Phật học Huệ Quang) Thức thứ 8 bản thể vốn thanh tịnh có công năng rất lớn, hàm chứa diệu dụng nhiệm mầu Nhưng bị Manas chấp nên bị nhiễm, do đó mới gọi là A lại Da.Dị thục thức: Bởi sự thành tựu của những năng lực tiềm ẩn xung đột, dẫn đến vạn pháp an trụ vào tính chất riêng biệt của chủng tử để xây dựng thế giới thực tại Quá khứ từ nhân dị thục đến quả dị thục, dẫn dắt nhân sinh vạn hữu vào thế giới biệt tính của nhân duyên giả hợp Hình trạng chuyển biến qua thời gian, trạng thái, nhân quả là: dị thời nhi thục, biến dị nhi thục, và dị loại nhi thục Nó chỉ tồn tại trong môi trường chấp ngã, chấp pháp, không cư trú trong Như Lai tàng của đấng giác ngộ.Nhất thiết chủng thức: thức này chấp trì hạt giống của các pháp không để thất tán, vì pháp giả hữu duyên sinh dẫn đến mạo tướng khác nhau của các pháp trong vũ trụ Chúng cùng thực thể vô tính, song trong góc độ đối đãi các chủng

tử có sự khác biệt về công năng tác dụng, sinh hoạt theo hệ thống qui trình tâm lý sinh lý, vật lý nhất định Hơn nữa còn phát huy những năng lực đặc trưng trong nội tạng của mỗi chủng tử, làm chất liệu cơ bản cho sự phát khởi hiện hành ra muôn pháp.Trong Kinh Du Già: “Tự tính các chủng tử từ vô thủy đến nay, tuy là bản hữu (vô lậu) nhưng do cái mới được huân tập là nhiễm hay tịnh mà phát khởi” Vì vậy cải tạo chủng tử hữu lậu để A lại

Trang 9

6

Da trở về nguyên cội gốc căn bản thức là điều tất yếu.Ngoài thức A lại ya không nhân tố nào đủ điều kiện thay thế địa vị hay thẩm quyền quyết định việc sáng tạo vũ trụ loài người, thiếu nó không pháp nào tồn tại Do đó, thức này còn gọi là thức căn bản”.A lại

Da có hai trạng thái nhiễm và tịnh, có sự đối đãi giả hợp trên ngôn ngữ khái niệm, được

cơ cấu trên hiện hữu của nhân duyên hư vọng, của các uẩn xứ chứ không trên bản chất của thực tại hiện hữu Chúng hoàn toàn không thật có, “các pháp do nhân duyên hòa hợp giả tạo thành tạm gọi là sinh, các pháp do nhân duyên giả tan rã tạm gọi là diệt” (Lăng Già tâm ấn) Trên quá trình tu chứng chấm dứt sinh tử, hành giả cần dứt trừ tư tưởng Nhị nguyên, thoát thế giới ý niệm phân biệt giữa nhân và quả (tự tính của nhân quả, đồng bản thể do huân tập có sự sai khác) thể nghiệm chân lý tuyệt đối trở về Chân tâm thường trú của chính mình, liễu sinh thoát tử, chuyển thức thành trí, lúc này A lại Da khuất dạng.Ý (Manas)- cũng gọi là Mạt na thức: Mạt na là thức thứ 7 trong bát thức Tâm vương, có công năng đưa chủng tử vào A lại Da, lấy chủng tử từ A lại da đến tiền lục thức làm sự sống Nó quản lý các tập khí chủng tử trong thế giới nội tạng của căn bản thức, ẩn mật bên trong không hiện ra ngoài làm căn bản cho thức thứ 6 hoạt động Bản thân nó từ A lại

Da sinh ra song trở lại duyên A lại Da làm ngã kiên cố A lại Da bị phân chia làm nhị biên tính, tạo sự phân biệt nhận thức cùng tư duy hành động sai lầm, không phản ánh được bản chất của các pháp Nó không có tính độc lập mà phải nương nhờ cái khác mà

có Cho nên nói thức này “Công vỉ thủ, tội vi khôi”

Thức: Hiểu biết phân biệt không có cảnh nào ngoài thức mà tồn tại Năm thức trước có năng lực hiểu biết và phân biệt các sự vật nhưng nếu có sự hiện diện và cộng tác của ý thức kết hợp thành ngũ câu ý thức thì tính chất giá trị ý nghĩa của nhận thức đó chuẩn xác, vi tế hơn Do đó, khi căn tiếp xúc với trần không có sự hiện diện của ý thức thì không nhận thức nào xuất hiện Nó còn làm sinh khởi năng lực trí tuệ vô biên, mở mang mọi bí mật của tri kiến, sản sinh ra sự hiểu biết đánh giá về vạn pháp

Thức A lại Da rất quan trọng cho đời sống luân chuyển của nhân sinh vũ trụ, nó là trung tâm thu chứa tất cả chủng tử nghiệp nhân quá khứ và hiện tại tùy theo khí lực của nhân tố

đó dẫn khởi tái tạo ra pháp mới Tuy nhiên, giác quan này không tinh tường thiếu sự liễu biệt và phân định, phải nhờ đến bóng dáng ý thức để liễu biệt về thế giới nội, ngoại của các pháp Sự vận hành của tâm – ý – thức là một hiện tượng phối hợp nhịp nhàng logic của một tổng thể bất khả phân ly Chúng được coi là hệ thống hoàn chỉnh của nhận thức đối với tất cả các pháp trong nhân sinh vũ trụ

1.3.Nhận thức bản chất của các pháp theo Duy Thức Học

• Biến kế sở chấp (parikalipita – lakasana).Biến kế là tư tưởng vọng khởi sai lầm về vạn pháp, đánh giá về một sự thể hoàn toàn khác biệt với thực thể đó Sự phân biệt giữa năng tri và sở tri là hư vọng nhưng lại tính toán so lường cho là thật có Đây là trạng thái bất giác của tâm thức, sự vọng động của thức thứ 6 cùng sự chấp ngã chấp pháp của Mạt na tác động, dẫn đến ngộ nhận đối đãi sai biệt trong nhân sinh vạn loại

“Ban ngày thấy dây là gai Ban đêm thấy dây là rắn Trên gai dây trí đã loạn Trên gai lại thấy rắn nữa sao”

• Y tha khởi (paratantra – lakasana)

Trang 10

7

Vạn vật không tự nhiên sinh ra không tự nhiên mất đi, mà chúng là chùm các phản ứng tổng hợp nhân duyên hữu cơ với nhau Nhờ tính duyên khởi đặt nền móng cho cơ sở nhận biết các pháp trong hoàn vũ

• Viên thành thật (parinipranna– lakasana)

Bản thể của các pháp có tự tính tuyệt đối vì ý thức liễu biệt sai lầm dẫn đến đối đãi vọng động Song, khi phá trừ các kiến chấp thức chuyển thành trí thì cơ cấu giả lập nhị nguyên

bị phá vỡ, con người thoát khỏi thế giới ý niệm phân biệt của có và không, thật và hư của chân ngụy Bản chất thường tại như chính tự tính của nó

“Bỏ vọng tìm chân tìm không thấy Chân lý tìm chân lý biết nơi đâu”

Viên thành thật là bản thể của nhân sinh vũ trụ, thể tính các pháp Tính ấy là chân như soi sáng vạn pháp theo đúng thực tính không của nó.Kinh Duy Ma Cật: “Thật tướng của vạn pháp là huyễn” Các pháp đi từ không đến có và cái có này bản chất thật tướng của nó là

hư giả không thường còn, thường hằng, thường trụ nên gọi là vô thường Cái huyễn là phương tiện chỉ cho chúng ta thấy thật tướng của vạn pháp và con đường để đạt đến cái thật Vũ trụ quan hay nhân sinh quan chỉ là lối giải thích về các hiện tượng có liên quan đến con người và thế giới chung quanh để thấu hiểu và an tâm tu hành Vì chưa thấu suốt được lý nhân duyên, chưa thấy được tính huyễn của vạn pháp hay không thấu suốt và thể nhập vào quy luật nhân quả nghiệp báo Sự hình thành của vũ trụ xuất phát từ nhân không và có hằng hà sa số cõi, những hệ hành tinh, tinh tú… được sinh ra từ không và tất

cả đều nằm trong quy luật vô thường, không có thứ gì tồn tại mãi mãi cả, kể cả vũ trụ cũng sẽ bị hoại diệt theo quy luật thành trụ hoại diệt của vạn pháp

“Chư pháp tòng duyên sinh Diệc tòng nhân duyên diệt Ngã Phật đại Sa môn Thường tác như thị thuyết”

Nhờ vào tính không ta nhìn được thực thể của vạn pháp, đánh giá được mọi hiện tượng công ước giả lập theo cái nhìn của chân lý tuyệt đối Các pháp chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải cũng có cũng không, cũng chẳng phải chẳng có chẳng không mà là tính không vắng lặng Triết lý chân không của Trung quán luận, tư tưởng cốt lõi của Đại thừa viên dung vô ngại vượt qua bờ nhị nguyên, đạt chân lý siêu việt

Ngày đăng: 30/11/2022, 19:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w