1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận FTU) đầu tư cho giáo dục tại nhật bản và bài học cho việt nam

80 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đầu Tư Cho Giáo Dục Tại Nhật Bản Và Bài Học Cho Việt Nam
Tác giả Phạm Bá Ngọc Hiển, Nguyễn Vi Hà Trang, Trần Thị Mai Hương, Nguyễn Thị Phương Anh, Nguyễn Thùy Dung, Đoàn Minh Phương, Nguyễn Thị Tâm, Phạm Thị Ngọc Mai
Người hướng dẫn ThS. Phạm Xuân Trường
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế Quốc Tế
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,55 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT (6)
    • 1.1 Khái niệm (6)
      • 1.1.1 Giáo dục (6)
      • 1.1.2 Đầu tư trong giáo dục (7)
    • 1.2 Phân loại nguồn vốn đầu tư trong giáo dục (8)
      • 1.2.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước (8)
      • 1.2.2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài (8)
    • 1.3 Lợi ích của đầu tư trong giáo dục (9)
      • 1.3.1 Lợi ích cho cá nhân (9)
      • 1.3.2 Lợi ích cho nền kinh tế (9)
    • 1.4 Một số nghiên cứu thực nghiệm về đầu tư cho giáo dục (10)
      • 1.4.1 Nghiên cứu thực nghiệm trong nước về đầu tư cho giáo dục (10)
      • 1.4.2 Nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài về đầu tư cho giáo dục (13)
  • CHƯƠNG 2: ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC VÀ TÁC ĐỘNG TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - MÔ HÌNH CỦA NHẬT BẢN (17)
    • 2.1 Giới thiệu hệ thống giáo dục hiện đại 1868-1912: thời kỳ Minh Trị Duy Tân (17)
      • 2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội (17)
      • 2.1.2 Chính sách giáo dục nói chung và đầu tư giáo dục nói riêng (18)
      • 2.1.3 Thành tựu và hạn chế (20)
    • 2.2 Thời kỳ hồi phục (1945-1950) (23)
      • 2.2.1 Tình hình kinh tế-xã hội-giáo dục (23)
      • 2.2.2 Chính sách giáo dục hướng nghiệp (23)
      • 2.2.3 Hiệu quả của chính sách giáo dục và tác động của chính sách lên nguồn nhân lực và kinh tế (0)
    • 2.3. Thời kỳ tăng trưởng cao (1950s-1970s) (26)
      • 2.3.1. Giai đoạn những năm 1950 (26)
      • 2.3.2 Giai đoạn 1960 – 1970 (32)
    • 2.4 Hậu thời kỳ tăng trưởng cao (1972 - 1990s) (35)
      • 2.4.1 Tình hình kinh tế- xã hội (35)
      • 2.3.3 Thành tựu và hạn chế (44)
    • 2.5 Giai đoạn thế kỉ 21 (2000 - 2030) (47)
      • 2.5.1 Các thách thức trong thiên niên kỷ mới của Nhật Bản (47)
      • 2.5.2 Giải pháp từ chính phủ Nhật Bản cho giáo dục (50)
      • 2.5.3 Thành tựu (57)
  • CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM (58)
    • 3.1 Điểm tương đồng giữa Việt Nam và Nhật Bản (58)
      • 3.1.1 Về văn hóa và giáo dục (58)
      • 3.1.2 Về kinh tế (60)
    • 3.2 Thực trạng đầu tư cho giáo dục ở Việt Nam (61)
      • 3.2.1 Đầu tư về chính sách: Bốn lần cải cách giáo dục (0)
      • 3.2.2 Đầu tư về Nguồn lực tài chính đầu tư cho giáo dục (0)
      • 3.2.3. Mặt tích cực sau những sự đầu tư vào giáo dục (0)
      • 3.2.4 Hạn chế (0)
    • 3.3 Bài học rút ra cho Việt Nam (73)
  • KẾT LUẬN (76)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (77)

Nội dung

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Khái niệm

Giáo dục là quá trình truyền đạt kiến thức, thói quen và kỹ năng từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua đào tạo, nghiên cứu và giảng dạy Nó bao gồm các hoạt động đa dạng nhằm phát triển ý thức và năng lực của con người, đáp ứng nhu cầu của xã hội Giáo dục có thể được thực hiện dưới sự hướng dẫn của người khác hoặc thông qua tự học, với những trải nghiệm cá nhân và suy nghĩ đóng vai trò quan trọng Mỗi cá nhân sẽ trải qua nhiều giai đoạn giáo dục khác nhau, từ giáo dục mầm non đến tiểu học, trung học và đại học.

Phân tích ngữ nghĩa từ giáo dục: Từ “giáo dục” dịch ra tiếng Anh là “Education”

Từ “giáo dục” trong tiếng Việt kết hợp hai nghĩa: “giáo” là dạy dỗ và “dục” là nuôi dưỡng, bao gồm trí – dục, thể - dục, và đức – dục Giáo dục đã tồn tại từ lâu trong xã hội loài người, giúp con người phát triển vượt trội so với các loài động vật khác Nó không chỉ nâng cao trí tuệ mà còn giảm bớt tính bản năng, góp phần vào quá trình tiến hóa Hiện nay, nhiều chính phủ công nhận quyền được giáo dục của mỗi cá nhân.

Vào năm 1966, Liên Hiệp Quốc đã ban hành Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa, trong đó điều 13 khẳng định quyền giáo dục cho tất cả mọi người.

Giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và rèn luyện đạo đức, nhân cách cho con người, giúp họ hòa nhập vào cộng đồng Mục tiêu giáo dục thay đổi theo từng thời đại, phản ánh các yêu cầu xã hội và chuẩn mực nhân cách cần thiết cho người học Sự phát triển xã hội tác động đến các mục tiêu giáo dục, tạo nên sự đa dạng trong hệ thống giáo dục qua các giai đoạn khác nhau.

1.1.2 Đầu tư trong giáo dục

Đầu tư giáo dục là nguồn vốn và điều kiện kinh tế, tài chính dành cho lĩnh vực giáo dục, phản ánh nhu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục của một quốc gia hoặc khu vực Mục tiêu của đầu tư này là phát triển nguồn nhân lực, bao gồm cả nhân tài chuyên môn, đồng thời nâng cao giá trị tiền tệ của nhân lực và vật lực trong lĩnh vực trí lực lao động.

Đầu tư vào năng lực chuyên môn và kỹ thuật là rất quan trọng, vì nó giúp nâng cao kỹ năng của người lao động Sự chuyên môn hóa này không chỉ cải thiện hiệu quả làm việc mà còn nâng cao năng suất lao động, mang lại lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp.

Đầu tư vào kiến thức nền cho trẻ em từ tiểu học đến trung học là rất quan trọng, giúp các em nắm vững những kiến thức và kỹ năng thiết yếu cần thiết để phục vụ cho xã hội.

+ Đầu tư cho kiến thức bậc cao: Đối tượng thường là thanh thiếu niên có nhu cầu muốn tìm hiểu sâu hơn về kiến thức chuyên môn

Đối tượng đầu tư giáo dục bao gồm hai nhóm chính: thứ nhất, đầu tư cho các cấp học từ tiểu học đến đại học nhằm xây dựng nền tảng kiến thức vững chắc cho thế hệ trẻ; thứ hai, đầu tư cho giáo dục người lớn để nâng cao trình độ trí tuệ và kỹ năng cho lực lượng lao động hiện tại, từ đó góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Chi phí đầu tư trong giáo dục:

Các khoản chi phí trực tiếp bao gồm những chi phí cần thiết cho việc xây dựng trường học, đầu tư vào trang thiết bị, đào tạo đội ngũ giáo viên và giảng viên, cũng như hỗ trợ cho học sinh và sinh viên có hoàn cảnh khó khăn.

+ Chi phí cơ hội: Nguồn vốn dùng để đầu tư cho giáo dục có thể được sử dụng vào hoạt động đầu tư khác Đặc điểm:

Đầu tư cho giáo dục không chỉ là đầu tư cho con người mà còn là đầu tư cho sự phát triển bền vững của xã hội Để đạt được hiệu quả cao trong giáo dục, cần có các loại nguồn vốn đầu tư phù hợp và thích ứng với nhu cầu thực tế.

Phân loại nguồn vốn đầu tư trong giáo dục

1.2.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước Đầu tư công: Là khoản chi phí nhà nước đầu tư vào giáo dục, thường diễn ra trong một khoảng thời gian dài và liên tục Đầu tư tư nhân: Là chi phí xảy ra trong một giai đoạn tương đối ngắn, do cá nhân chi trả bao gồm chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp và chi phí hao tổn sức khỏe, tinh thần

1.2.2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài

Official Development Assistance (ODA) refers to preferential loans sourced from foreign entities, designed to support development initiatives.

+ Viện trợ không hoàn lại + Viện trợ có hoàn lại + Vốn ODA hỗn hợp

Nguồn vốn ODA có vai trò rất quan trọng trong việc đầu tư vào giáo dục song song với ngân sách nhà nước

FDI, hay Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài, là hình thức đầu tư lâu dài của cá nhân hoặc công ty từ quốc gia này vào quốc gia khác thông qua việc thiết lập cơ sở sản xuất và kinh doanh Những cá nhân hoặc công ty nước ngoài này sẽ giữ quyền quản lý đối với các cơ sở mà họ đã đầu tư.

Tiếp nhận FDI không tác động đến nợ Chính phủ, vì vậy các Chính phủ thường điều chỉnh luật pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nguồn đầu tư này, từ đó phát triển nguồn lực trong nước.

Lợi ích của đầu tư trong giáo dục

Đầu tư giáo dục, hay còn gọi là lợi ích giáo dục, mang lại hiệu quả quan trọng trong việc nâng cao năng lực và tố chất của người lao động Qua đó, nó góp phần tăng trưởng số lượng hàng hóa và dịch vụ của quốc gia hoặc khu vực, thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.

Nhìn chung, lợi ích của đầu tư giáo dục được chia thành lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội

1.3.1 Lợi ích cho cá nhân

Sự đầu tư vào giáo dục mang lại lợi ích cá nhân đáng kể, giúp cá nhân thu được lợi ích vật chất và tinh thần trong hiện tại và tương lai Giáo dục làm giàu vốn con người, bao gồm kiến thức, kỹ năng, năng lực và kinh nghiệm, từ đó thúc đẩy năng suất lao động và hiệu quả sản xuất Khi thu nhập tăng, đời sống vật chất và tinh thần của mỗi cá nhân cũng được cải thiện rõ rệt.

1.3.2 Lợi ích cho nền kinh tế

Đầu tư vào giáo dục mang lại lợi ích xã hội quan trọng, bao gồm việc nâng cao năng suất lao động trong toàn bộ quy trình sản xuất, từ đó thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế Sự gia tăng này không chỉ cải thiện đời sống vật chất mà còn nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần và chính trị của xã hội Nghiên cứu của các nhà kinh tế học đã chỉ ra rõ ràng mối liên hệ giữa giáo dục và sự phát triển bền vững của xã hội.

Mỹ Thodere W Schultz chỉ ra rằng, sau chiến tranh, tốc độ tăng trưởng nông nghiệp Mỹ có 20% đến từ đầu tư tư bản, trong khi 80% còn lại chủ yếu nhờ vào giáo dục và các yếu tố liên quan Từ những năm 1920 đến 1980, giáo dục luôn là yếu tố then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại Mỹ Theo lý thuyết mô hình tăng trưởng kinh tế Romer, đầu tư vào tri thức dẫn đến sự biến đổi khoa học kỹ thuật, phản ánh quá trình tích lũy kiến thức Do đó, giáo dục và sự tích lũy kiến thức từ giáo dục là nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong tương lai của mỗi quốc gia.

Một số nghiên cứu thực nghiệm về đầu tư cho giáo dục

1.4.1 Nghiên cứu thực nghiệm trong nước về đầu tư cho giáo dục

Trong bài viết "Phát triển giáo dục và đào tạo - một động lực để phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay", Vũ Văn Hòa (2009) nhấn mạnh tầm quan trọng của phát triển tri thức đối với nền kinh tế Việt Nam Nền kinh tế hiện đại được xác định là kinh tế tri thức, trong đó nguồn lực con người là yếu tố hàng đầu Tác giả chỉ ra rằng, trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, việc đầu tư vào phát triển con người là cực kỳ quan trọng Mặc dù Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào, nhưng kỹ năng lao động còn hạn chế, đòi hỏi cần có nguồn lao động chuyên môn cao hơn để hội nhập và phát triển Do đó, giáo dục và đào tạo cần được chú trọng và đầu tư mạnh mẽ để nâng cao chất lượng và năng suất lao động.

Nghiên cứu của PGS.TS Trần Khánh Đức về "Kinh tế tri thức và phát triển giáo dục đại học trong xã hội hiện đại" nhấn mạnh vai trò quan trọng của nền kinh tế tri thức trong việc nâng cao chất lượng đào tạo Đặc biệt, đội ngũ giảng viên được xem là yếu tố then chốt trong việc phát triển nguồn lực lao động, góp phần vào sự tiến bộ của xã hội và nền kinh tế Việc đầu tư vào giáo dục đại học không chỉ nâng cao trình độ chuyên môn mà còn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động.

Xu thế toàn cầu hóa đang gia tăng nhanh chóng, với giáo dục trở thành một lĩnh vực hợp tác quan trọng trong quá trình này Sự chuyển dịch từ sản xuất vật chất sang dịch vụ và xử lý thông tin cùng với vai trò ngày càng lớn của công nghệ trong sản xuất đòi hỏi sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục Bài viết nhấn mạnh mô hình người giảng viên trong giáo dục đại học hiện nay, yêu cầu giảng viên phải nắm vững kiến thức, biết liên hệ và vận dụng vào thực tiễn, đồng thời có phương pháp giảng dạy hợp lý Để đáp ứng yêu cầu cao về chất lượng giảng viên, cần đầu tư vào đào tạo đội ngũ giảng viên trẻ và nâng cao chất lượng giảng viên hiện tại Tác giả đã chỉ ra tầm quan trọng của giáo dục đại học trong nền kinh tế tri thức, tuy nhiên bài viết còn hạn chế khi chưa đề cập đến các yếu tố khác ảnh hưởng đến con người và sự phát triển của giáo dục.

Bài báo của PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn (2011) tại hội thảo quốc tế đã nêu rõ sự phát triển kinh tế Việt Nam và vai trò quan trọng của giáo dục, đào tạo trong việc duy trì tăng trưởng Tác giả đã khái quát tình hình kinh tế hiện tại của Việt Nam, từ đó chỉ ra rằng giáo dục là yếu tố then chốt để đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của đất nước.

Để duy trì tăng trưởng, Việt Nam cần phát triển các thể chế thuận lợi nhằm duy trì động lực sản xuất và khả năng tự điều chỉnh trước cú sốc từ bên ngoài Đồng thời, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua giáo dục hướng nghiệp ở bậc học phổ thông là bước đi phù hợp nhất để cải thiện tri thức và kỹ năng làm việc cho người lao động.

Dương Thị Hương (2019) trong luận án tiến sĩ của mình đã nghiên cứu tư tưởng của Alvin Toffler về vai trò của tri thức, nhấn mạnh giá trị tích cực của tri thức trong phát triển lực lượng sản xuất Tư tưởng này khẳng định khoa học – kỹ thuật là lực lượng sản xuất trực tiếp, đồng thời chỉ ra rằng động lực phát triển của các quốc gia hiện nay là xây dựng nền kinh tế tri thức Tác giả cũng chỉ ra ý nghĩa của tư tưởng này đối với sự phát triển nguồn trí lực ở Việt Nam, đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của đầu tư vào giáo dục để nâng cao năng lực lao động, giúp họ thích ứng với yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Trong bài viết "Thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA Nhật Bản trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2010", tác giả nhấn mạnh hai nguồn vốn chính cho phát triển giáo dục tại Việt Nam là ODA và FDI Kể từ năm 1993, vốn FDI đầu tư vào giáo dục đã tăng trưởng mặc dù vẫn còn ở mức khiêm tốn Việc thu hút và sử dụng nguồn vốn này đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế Nghiên cứu cũng hệ thống hóa các đặc điểm của hệ thống giáo dục và các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục tại Việt Nam.

Bài viết khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục và tập trung nghiên cứu hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam trong giai đoạn 1993-2009 Tác giả phân tích và đánh giá các hoạt động FDI trong giáo dục, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI trong lĩnh vực này.

Trong bài viết “Quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo tại Việt Nam”, tác giả Lương Thị Quế Anh nhấn mạnh rằng từ năm 2008, Việt Nam đã tăng cường đầu tư vào giáo dục, tuy nhiên, nguồn lực nhà nước vẫn chưa đủ, do đó cần thu hút vốn ODA từ nước ngoài Tình hình thu hút ODA tại Việt Nam có nhiều tín hiệu tích cực, đặc biệt là thành công của đề án ODA giai đoạn 2011-2015, tiếp nối thành công của đề án 2006-2010, đã góp phần đổi mới toàn diện nền giáo dục Tác giả cũng phân tích chi tiết về quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA tại Việt Nam từ năm 2008.

2013, từ đó rút ra một số biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Trong bài viết “Hai kinh nghiệm thu hút và đầu tư vốn FDI vào lĩnh vực của Trung Quốc và Singapore”, nhiều bài học quý giá cho giáo dục Việt Nam đã được rút ra Để tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả vốn FDI trong giáo dục, năm giải pháp quan trọng được đề xuất bao gồm: cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, bảo vệ và nâng cao tính cạnh tranh của giáo dục nội địa, tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động FDI trong giáo dục, và thúc đẩy phát triển xã hội hóa giáo dục.

GS Nguyễn Văn Đạo trong bài viết "Vài suy nghĩ về giáo dục và đào tạo phục vụ cho phát triển" (2012) nhấn mạnh tầm quan trọng của đầu tư cho giáo dục, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Nhiều quốc gia đã dành khoảng 20% ngân sách hàng năm cho giáo dục trong nhiều thập kỷ Mặc dù Nhà nước Việt Nam đã tăng tỷ lệ đầu tư cho giáo dục trong những năm gần đây, nhưng vẫn chưa đủ để nền giáo dục có thể phát triển mạnh mẽ Do ngân sách nhà nước có hạn và nhiều vấn đề cấp bách cần giải quyết, việc huy động sự đóng góp từ người học và toàn xã hội là cần thiết để phát triển giáo dục Ngoài ra, việc khai thác tiềm năng từ lao động sản xuất, nghiên cứu và ứng dụng khoa học cũng như xúc tiến các dịch vụ sẽ tạo ra nguồn thu bổ sung cho nhà trường Quan trọng hơn, cần quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn hiện có để phát triển giáo dục bền vững.

Bài viết "Đầu tư của nhà nước cho giáo dục, đào tạo: Thực trạng và một số đề xuất" của TS Đinh Thị Nga (2017) nhấn mạnh rằng chính sách giáo dục và đào tạo, cùng với chính sách khoa học và công nghệ, là hai lĩnh vực quốc gia cần được ưu tiên hàng đầu để đạt được mục tiêu phát triển bền vững lâu dài Trong những năm qua, chính sách này đã nhận được sự đầu tư đáng kể từ ngân sách nhà nước, với tỷ lệ chi cho giáo dục hàng năm của Việt Nam đạt khoảng 20%, tương đương 5% tổng ngân sách.

GDP của Việt Nam ở mức cao so với nhiều quốc gia, bao gồm cả những nước phát triển hơn Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số hạn chế như cơ cấu đầu tư cho giáo dục chưa hợp lý, chi tiêu cho giáo dục không đồng đều giữa các cấp học, định mức ngân sách cho dạy nghề thấp, và sự gắn kết giữa đào tạo và mục tiêu phát triển còn yếu.

1.4.2 Nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài về đầu tư cho giáo dục

Nghiên cứu "Investments in education: What are the productivity gains?" của Nabil Annabi (2017) đã phân tích tác động của đầu tư giáo dục đại học của chính phủ đến tăng trưởng kinh tế tại Canada, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với mô hình tăng trưởng nội sinh Kết quả cho thấy, gia tăng chi tiêu giáo dục hỗ trợ bởi thuế dẫn đến tăng trưởng bền vững khi tính đến ngoại ứng của vốn nhân lực Hơn nữa, việc tăng cường đầu tư vào giáo dục tạo ra tốc độ tăng trưởng cao hơn, nhấn mạnh vai trò quan trọng của chính sách công Tuy nhiên, phúc lợi xã hội có thể không được phân bổ đồng đều giữa các thế hệ, với lực lượng lao động ngay sau chính sách phải gánh chịu chi phí cao hơn, trong khi các thế hệ sau lại hưởng lợi từ thu nhập và phúc lợi cao hơn Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đặc điểm kỹ thuật của các hộ gia đình có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá hiệu quả của chính sách giáo dục.

Nghiên cứu "Tác động của đầu tư giáo dục đến bất bình đẳng tiền lương giữa lao động lành nghề và lao động phổ thông cũng như sự phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển" của Lijun Pan (2014) không chỉ đánh giá sự tăng trưởng từ đầu tư giáo dục mà còn phân tích ảnh hưởng của nó đến bất bình đẳng tiền lương Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với mô hình cân bằng tổng thể bốn khu vực, nghiên cứu chỉ ra rằng đầu tư giáo dục từ chính phủ có thể giảm bất bình đẳng tiền lương và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo Khi mở rộng mô hình với giả định cạnh tranh độc quyền trong khu vực cung ứng dịch vụ sản xuất, kết quả cho thấy đầu tư giáo dục từ chính phủ còn có khả năng thúc đẩy mạnh mẽ sự tăng trưởng kinh tế.

“The impact of education investment on Sri Lankan economic growth”, K

ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC VÀ TÁC ĐỘNG TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - MÔ HÌNH CỦA NHẬT BẢN

Giới thiệu hệ thống giáo dục hiện đại 1868-1912: thời kỳ Minh Trị Duy Tân

2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội

Năm 1868, Nhật Bản trải qua một cuộc cách mạng chính trị quan trọng, dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Mạc phủ Tokugawa và sự thiết lập chính quyền mới dưới sự lãnh đạo của Hoàng đế Minh Trị Trong thời kỳ Edo, chính phủ Mạc phủ thực hiện chính sách đóng cửa quốc gia, cấm mọi hoạt động thương mại và liên hệ với nước ngoài Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ XIX, Nhật Bản phải đối mặt với mối đe dọa quân sự từ các nước phương Tây yêu cầu mở cửa quốc gia Cuối thời Edo, tình hình nội chiến diễn ra, buộc chính phủ mới phải thiết lập lại quan hệ với các quốc gia phương Tây đã xâm nhập Để giải quyết vấn đề này, một phái đoàn Nhật Bản đã được cử sang phương Tây nhằm thương thảo lại các hiệp ước bất bình đẳng.

Vào những năm đầu 1886, Nhật Bản là một quốc gia yếu về quân sự và chủ yếu dựa vào nông nghiệp, ít có hoạt động công nghiệp, do đó không được đánh giá cao bởi các nước phương Tây và Mỹ Chính phủ Minh Trị quyết tâm Tây phương hóa và hiện đại hóa đất nước với khẩu hiệu “Văn minh và khai sáng, làm giàu quốc gia, củng cố sức mạnh quân sự” Trong giai đoạn đầu của thời kỳ Minh Trị, Nhật Bản tích cực tiếp thu công nghệ phương Tây nhưng vẫn giữ gìn phong tục và bản sắc dân tộc Quốc gia đặt ra ưu tiên hàng đầu là bắt kịp phương Tây và trở thành một cường quốc Để chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp phát triển, Nhật Bản đầu tư mạnh vào hạ tầng công cộng như mạng lưới giao thông và đường sắt, đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp gia đình lớn (zaibatsu) Tuy nhiên, những khoản chi khổng lồ đã dẫn đến khủng hoảng vào năm 1880, buộc quốc gia phải cải cách hệ thống tiền tệ và ngân hàng.

2.1.2 Chính sách giáo dục nói chung và đầu tư giáo dục nói riêng Khái niệm về Pháp lệnh hệ thống giáo dục

Năm 1871, Bộ Giáo Dục được thành lập và năm 1872, quy định đầu tiên cho hệ thống giáo dục, được gọi là Pháp lệnh hệ thống giáo dục, đã được ban hành Hệ thống trường học được xây dựng dựa trên mô hình từ Mỹ và phương Tây, với nguyên tắc tất cả trẻ em, không phân biệt giới tính hay địa vị xã hội, đều phải đi học tiểu học.

Các cơ sở giáo dục Nho giáo thời Mạc phủ bị bãi bỏ

Chính phủ thời bấy giờ tập trung vào giáo dục đại học hơn là giáo dục tiểu học hoặc trung học, với mục tiêu sản xuất nhân lực cho công nghiệp hóa Họ bắt đầu từ việc đào tạo các kỹ sư cấp cao, sau đó chuyển sang các kỹ sư cấp trung và cấp thấp, nhằm nhanh chóng phát triển những nhân tài trở thành lãnh đạo hiện đại hóa Nhật Bản Năm 1872, chính phủ đã mời chuyên gia giáo dục từ Hoa Kỳ và thành lập Trường Sư phạm Tokyo để hiện đại hóa phương pháp và nội dung chương trình giảng dạy tiểu học.

Chính phủ Minh Trị đã chú trọng phát triển giáo dục đại học nhằm cung cấp những nhà lãnh đạo cần thiết cho quá trình hiện đại hóa Nhật Bản, trong đó người nước ngoài đóng vai trò quan trọng Đồng thời, chính phủ nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục tiểu học phổ cập và đã đạt được mục tiêu này vào cuối thời Minh Trị, chuyển phần lớn gánh nặng tài chính từ chính quyền trung ương sang chính quyền địa phương với quyền tự chủ cao Tuy nhiên, sự tập trung vào giáo dục đại học và tiểu học đã dẫn đến thiếu hụt nhân lực trung cấp lành nghề cho công nghiệp hóa Để khắc phục tình trạng này, chính phủ đã ban hành Pháp lệnh về các trường công nghiệp vào năm 1899 nhằm phát triển giáo dục và đào tạo công nghiệp ở cấp trung học.

Thuê các cố vấn nước ngoài và gửi sinh viên ra nước ngoài học

Trong thời kỳ đầu Minh Trị, chính phủ Nhật Bản đã mời các cố vấn giáo dục nước ngoài giảng dạy tại các trường đại học với mức lương ưu đãi, mặc dù chi phí thuê rất cao Từ 1868 đến 1872, 4% tổng ngân sách được dành cho việc trả lương cho các giáo viên này, giảm xuống 2% từ 1873 đến 1877 và chỉ còn 1% từ 1878 đến 1882 Đặc biệt, Bộ Kỹ thuật đã chi tới 58% tổng ngân sách cho các khoản thanh toán lương, cho thấy sự đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục trong giai đoạn này.

Các bộ đều có trường hoặc viện đào tạo riêng nhằm cung cấp nguồn nhân lực cần thiết cho lĩnh vực của mình Trong thời kỳ đó, Trường Đại học Tokyo thuộc sự quản lý của

Bộ Kỹ Thuật đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo cử nhân chuyên ngành, phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa tại Nhật Bản Đến năm 1885, Bộ đã tuyển dụng 588 chuyên gia nước ngoài, và tất cả giáo viên của Khoa Kỹ thuật Trường Đại học Tokyo đều là các nhà giáo dục người Anh.

Chính sách gửi sinh viên có tiềm năng ra nước ngoài học tập nhằm nâng cao trình độ giáo dục của người Nhật, giúp họ trở về và trở thành giảng viên đại học thay thế cho các chuyên gia nước ngoài Khoản đầu tư cho chương trình này chủ yếu đến từ thuế, quỹ địa phương và học phí ở các trường tiểu học, với mục tiêu xây dựng một hệ thống giáo dục đại học tiếp thu những kiến thức học thuật tiên tiến từ phương Tây.

Năm 1879, chính phủ đã bãi bỏ Pháp lệnh Giáo dục và ban hành Sắc lệnh Giáo dục nhằm giới thiệu nền giáo dục dân chủ từ Hoa Kỳ, đáp ứng nhu cầu giáo dục của người dân Thời gian học được rút ngắn từ 8 năm xuống còn 16 tháng, quy tắc bắt buộc được nới lỏng, và chính phủ thực hiện các biện pháp cưỡng chế cũng như hỗ trợ tài chính để khuyến khích phụ huynh cho con em đến trường.

Chính phủ Minh Trị đã thiết lập một hệ thống giáo dục bắt đầu từ cấp độ chuyên môn cao hơn và sau đó mở rộng đến cấp tiểu học Mặc dù trường trung học cũng được cung cấp, nhưng chỉ dành cho một tầng lớp thượng lưu hạn chế, với chương trình giảng dạy chủ yếu tập trung vào giáo dục phổ thông Khi nền kinh tế Nhật Bản phát triển, giáo dục và đào tạo công nghiệp để sản xuất nhân lực có trình độ trung cấp trở nên quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa Đầu những năm 1890, ngay trước cuộc cách mạng công nghiệp Nhật Bản, Chính phủ Minh Trị đã ban hành các chính sách nhằm cải thiện hệ thống giáo dục.

Luật Kho bạc quốc gia hỗ trợ tài chính cho các trường bổ túc công nghiệp như Jitsugyo Hosuy Gakko và Totel Gakko, nhằm đáp ứng nhu cầu lao động có trình độ trung cấp cho các ngành công nghiệp khác nhau Các trường này đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực, phục vụ cho sự phát triển kinh tế sau cuộc cách mạng công nghiệp Nhật Bản.

2.1.3 Thành tựu và hạn chế Thành tựu

Bảng 1: Tỷ lệ đi học tại Nhật Bản

Theo bảng 1, vào những năm cuối thời kỳ Minh Trị, mục tiêu giáo dục đã đạt được với tỷ lệ người dân đi học tăng dần, đặc biệt ấn tượng vào năm 1910 với tỷ lệ 98,1% Tỷ lệ nữ giới đi học cũng tăng nhanh chóng, từ mức thấp vào năm 1973, chủ yếu ở giới có quyền, đến năm 1910, cơ hội giáo dục bình đẳng đã được đảm bảo cho tất cả mọi người, không phân biệt giới tính hay giai cấp.

Chiến lược giáo dục thành công đã tạo ra một lực lượng lớn binh lính và công nhân có kỹ năng kỹ thuật trung cấp, cùng với những thanh niên tài năng từ các trường đại học, đóng vai trò quan trọng trong bộ máy chính phủ và xã hội.

Thành công của Nhật Bản bắt nguồn từ việc tích lũy và phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục quần chúng Lãnh đạo có trình độ cao kết hợp với kỷ luật và tri thức của người dân đã tạo nên một quốc gia hiện đại Chính sách giáo dục thời Minh Trị là nền tảng cho hệ thống giáo dục bắt buộc hiện nay, dẫn đến trình độ học vấn cao của người dân Nhật Bản Cải cách giáo dục và cải cách Minh Trị đã giúp Nhật Bản không chỉ tránh khỏi xâm lược mà còn phát triển theo hướng hiện đại hóa sớm và thành công nhất ở Châu Á Đến nay, Nhật Bản vẫn là hình mẫu về sự kết hợp giữa "truyền thống và hiện đại", phản ánh quá trình hun đúc và tôi luyện của một dân tộc đặc biệt.

Thời kỳ hồi phục (1945-1950)

2.2.1 Tình hình kinh tế-xã hội-giáo dục

Bộ chỉ huy tối cao lực lượng đồng minh (SCAP) đã thực hiện ba cuộc cải cách lớn, trong đó nổi bật là việc thủ tiêu chế độ tập trung kinh tế, bắt đầu bằng việc giải tán các “Daibátxư”.

Các tập đoàn và công ty tư bản lũng đoạn tại Nhật Bản thường mang tính chất dòng tộc Chính phủ đã thực hiện cải cách ruộng đất, giới hạn quyền sở hữu đất đai của địa chủ không quá 3 hécta, phần còn lại được bán cho nông dân Đồng thời, việc dân chủ hóa lao động cũng được thúc đẩy thông qua các đạo luật về lao động Nhờ vào nỗ lực nội lực và viện trợ từ Mỹ, Nhật Bản đã phục hồi kinh tế vào khoảng năm 1950-1951, đạt mức trước chiến tranh.

Hệ thống giáo dục của đất nước đang trong tình trạng hỗn loạn với 18 triệu sinh viên thất nghiệp và 4.000 trường học bị phá hủy Chỉ 20% sách giáo khoa cần thiết có sẵn, trong khi nhiều cuốn sách chứa nội dung tuyên truyền phi dân tộc cần phải được loại bỏ Hơn một phần ba các tổ chức giáo dục đại học đã bị tàn phá, hàng ngàn giáo viên trở nên vô gia cư và đói khát, trong khi nhiều học sinh đã phải di chuyển đến các khu vực an toàn hơn Tóm lại, chức năng của hệ thống giáo dục gần như không còn.

2.2.2 Chính sách giáo dục hướng nghiệp

Sau khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng minh vào tháng 8 năm 1945, Mỹ đã triển khai kế hoạch chiếm đóng Nhật Bản Đồng thời, hai bên đã thống nhất về tầm quan trọng của giáo dục Nhật Bản trong giai đoạn trước và trong chiến tranh, cũng như vai trò của nó trong việc mở rộng quân sự của Nhật Bản ra khắp châu Á và Châu Đại Dương.

Mục tiêu chính của Nghề nghiệp Nhật Bản bao gồm dân chủ hóa, phi quân sự hóa và phân cấp xã hội Người Mỹ nhận thức rằng việc cải cách hệ thống giáo dục là yếu tố quan trọng để đạt được những mục tiêu này, đặc biệt là thiết lập một nền dân chủ tại Nhật Bản Trong bối cảnh mới, Nhật Bản sẵn sàng chấp nhận hướng dẫn từ chính quyền Mỹ, cho phép họ sử dụng công cụ của chính phủ để thực hiện cải cách giáo dục Điều này bao gồm việc kiểm duyệt sách giáo khoa, tạp chí và phim ảnh, cũng như thanh trừng những giáo viên có quan điểm phi dân chủ Tuy nhiên, sự trớ trêu là những hành động của lực lượng chiếm đóng thường không phù hợp với mục tiêu khuyến khích dân chủ hóa giáo dục.

Cải cách giáo dục do người Mỹ khởi xướng nhằm chuyển đổi hệ thống giáo dục Nhật Bản từ định hướng trước chiến tranh sang mô hình Mỹ, nhấn mạnh vào lòng hiếu thảo, sự hoàn thiện đạo đức và trung thành với quốc gia Bộ Giáo dục Mỹ đã cử hai mươi bảy nhà giáo dục đến Nhật Bản để đánh giá hệ thống giáo dục và đưa ra khuyến nghị cải cách Họ đã từ chối nhiều yếu tố của giáo dục Nhật Bản trước đây, thay vào đó đề xuất một hệ thống giáo dục dân chủ hơn, trong đó quyền lực của Bộ Giáo dục được phân quyền cho cộng đồng địa phương Các nhà cải cách cũng khuyến khích việc dỡ bỏ hệ thống giáo dục cũ, chuyển sang mô hình 6-3-3-4 của Mỹ, đồng thời thúc đẩy tính cá nhân hóa, phát triển toàn diện và cải cách ngôn ngữ viết Nhật Bản.

Trong bối cảnh đầu tư cho giáo dục, ngân sách chính phủ Nhật Bản năm 1945 giảm so với năm 1925, chỉ còn khoảng 5000 tỷ yên, với chi tiêu cho giáo dục giảm xuống 80 tỷ yên do ảnh hưởng của chiến tranh thế giới thứ II Tuy nhiên, từ năm 1947 đến 1950, chi tiêu cho giáo dục đã tăng mạnh, đạt 80000 yên vào năm 1950, cho thấy sự nỗ lực của Nhật Bản trong việc tăng cường đầu tư cho giáo dục So với mô hình giáo dục của Mỹ, tỷ trọng chi tiêu quốc gia cho giáo dục của Nhật Bản trong giai đoạn này rất cao, phản ánh cam kết mạnh mẽ của chính phủ đối với giáo dục.

2.2.3 Thành tựu và hạn chế

Luật Giáo dục cơ bản và Luật Giáo dục học đường được ban hành vào năm 1947

Bản thảo Hoàng gia năm 1890 đã khẳng định rằng giáo dục cần phát triển toàn diện nhân cách, nuôi dưỡng tâm hồn và cơ thể, tôn trọng sự thật, công lý và giá trị cá nhân Nó thiết lập nguyên tắc rằng giáo dục phải tuân theo thủ tục nghị viện và tạo ra cấu trúc giáo dục mới với bậc thang 6-3-3, nâng tuổi nghỉ học lên mười lăm và hợp pháp hóa hợp tác Hai phần cơ bản của pháp luật giáo dục đã hình thành nền tảng pháp lý cho giáo dục Nhật Bản Đến năm 1949, những thành tựu lớn trong lĩnh vực giáo dục đã được hoàn thành, nhưng sự thay đổi trong chính trị và chiến lược "Chiến tranh lạnh" đã khiến các nhà hoạch định chính sách Mỹ phải điều chỉnh kế hoạch cho tương lai của Nhật Bản, dẫn đến sự giảm nhiệt trong cải cách và thay đổi môi trường tại Nhật Bản.

Trước khi Mỹ kiểm soát việc rút quân vào mùa xuân năm 1952, các nhà cải cách Mỹ đã thành công trong việc loại bỏ các cấu trúc phi dân chủ cũ và thay thế chúng bằng những người Nhật cam kết với các giá trị dân chủ Họ cũng đã cung cấp cho các nhà giáo dục Nhật Bản chương trình giảng dạy, sách giáo khoa và phương pháp luận mới.

Mặc dù có những cải cách quan trọng trong giáo dục và quản lý địa phương, một số học giả Nhật Bản và Mỹ đã chỉ ra rằng các mô hình này, vốn được áp dụng thành công ở Mỹ, lại gặp khó khăn khi triển khai tại Nhật Bản Cơ quan giáo dục Nhật Bản không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận các khuyến nghị từ báo cáo của bộ, và những khuyến nghị này đã trở thành nền tảng cho các luật giáo dục quan trọng được ban hành từ năm 1947 đến 1949.

Thời kỳ tăng trưởng cao (1950s-1970s)

2.3.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội

Ngày 28/4/1952, Hiệp ước hòa bình San Francisco chính thức có hiệu lực, đánh dấu sự kết thúc chiếm đóng của Mỹ tại Nhật Bản và trả lại quyền tự chủ cho người Nhật Ngay lập tức, chính phủ Nhật Bản đã tiến hành nhiều cải cách, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, xóa bỏ một số chính sách giáo dục của Mỹ và điều chỉnh chúng cho phù hợp với mô hình phát triển của Nhật Bản Cùng năm 1952, Nhật Bản bắt đầu một giai đoạn phát triển kinh tế mạnh mẽ kéo dài ba thập kỷ, được gọi là "Phép màu kinh tế Nhật Bản", nhờ vào năng lực công nghiệp đáng kể đã được xây dựng trong 75 năm trước Thế chiến II.

Từ năm 1950 đến 1951, khi Chiến tranh Triều Tiên diễn ra, tổng lượng thương mại thế giới tăng 34%, thúc đẩy nhiều quốc gia, đặc biệt là Nhật Bản, trải qua sự bùng nổ kinh tế đáng kể Sản xuất của Nhật Bản tăng gần 70%, với mức tăng trưởng kinh tế trung bình đạt 9,3% mỗi năm trong thập niên 1950 Đến giữa những năm 1950, sản xuất kinh tế của Nhật Bản đã tăng 155% so với mức trước chiến tranh, trong khi thương mại xuất khẩu chỉ đạt 50% so với mức trước chiến tranh vào những năm 1850.

Tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Nhật Bản bắt đầu từ năm 1952 sau khi gia nhập IMF và Ngân hàng Thế giới Sự hỗ trợ từ các khoản vay lãi suất thấp và dài hạn của Ngân hàng Thế giới đã thúc đẩy phát triển trong các lĩnh vực năng lượng, công nghiệp, giao thông và hạ tầng Điển hình là khoản vay 863 triệu đô la cho dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện Tanagawa của Công ty Điện lực Kansai ở Osaka vào năm 1953 Các khoản vay này đã tài trợ cho 31 dự án quan trọng, bao gồm nhà máy của Toyota Motor Corp, hệ thống Tokaido Shinkansen nối Tokyo và Osaka, cùng với đường cao tốc Tomei giữa Tokyo và Nagoya.

Nhật Bản đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm 8% nhờ vào tỷ lệ cao của tiết kiệm cá nhân và đầu tư cơ sở vật chất, lực lượng lao động có đạo đức làm việc mạnh mẽ, nguồn cung cấp dầu giá rẻ dồi dào, công nghệ tiên tiến và sự can thiệp hiệu quả của chính phủ vào các ngành công nghiệp tư nhân.

Năm 1955 đánh dấu một kỷ nguyên quan trọng trong lịch sử kinh tế Nhật Bản khi GNP vượt qua mức trước chiến tranh Tuy nhiên, so với các nước châu Âu, sản phẩm công nghiệp lớn của Nhật Bản chủ yếu vẫn là các mặt hàng thâm dụng lao động như dệt may, phân bón hóa học, tàu hàng hóa và radio Thời điểm này, nền tảng chính của nền kinh tế Nhật Bản là nông nghiệp và sản xuất nhẹ, nhưng đã bắt đầu chuyển mình sang công nghiệp nặng, bao gồm sắt thép, đóng tàu, công cụ máy móc, xe cơ giới và thiết bị điện tử, chiếm ưu thế trong lĩnh vực công nghiệp.

Năm 1955 đánh dấu sự khởi đầu của kế hoạch 5 năm tự lực kinh tế, với mục tiêu đạt được độc lập mà không phụ thuộc vào viện trợ của Hoa Kỳ và kiểm soát đặc biệt liên quan đến chiến tranh, đồng thời mở rộng việc làm trong bối cảnh cung lao động dư thừa.

Và nền kinh tế có dấu hiệu cho thấy sản xuất xuất khẩu sẽ sớm bùng nổ Đến năm

Năm 1956, Nhật Bản nổi bật với vị thế là công ty đóng tàu hàng đầu thế giới và là nhà sản xuất sắt thép lớn thứ ba Các ngành công nghiệp Nhật Bản đã khéo léo áp dụng công nghệ nước ngoài, chuyển hóa chúng thành sức mạnh công nghiệp thông qua việc điều chỉnh và cải tiến các phát minh theo cách sáng tạo riêng của mình.

Sản phẩm ban đầu của Nhật Bản từng bị coi là hàng nhái rẻ tiền, và nhiều công ty đã mắc phải những sai lầm nghiêm trọng Nhật Bản đã trải qua một giai đoạn tương tự như hiện nay ở Trung Quốc, liên quan đến việc sao chép và vi phạm bản quyền.

Trong giai đoạn đầu phát triển, các công ty Nhật Bản đã sao chép nhiều sản phẩm của

Mỹ và châu Âu đã chú trọng đến vấn đề sở hữu trí tuệ khi các công ty Nhật Bản cần được bảo vệ bằng sáng chế và bản quyền Từ năm 1952 đến 1958, số lượng nhà nghiên cứu tại các công ty tư nhân Nhật Bản đã tăng gấp đôi, cho thấy sự chuyển mình trong cách tiếp cận kinh doanh, không chỉ dựa vào việc sao chép ý tưởng từ nước khác Tuy nhiên, sau chiến tranh, lạm phát cao đã làm cho hàng hóa Nhật Bản trở nên đắt đỏ và kém cạnh tranh hơn so với sản phẩm nước ngoài Đến cuối những năm 1950, các sản phẩm nước ngoài đã bắt đầu cạnh tranh trực tiếp với hàng nội địa, nhưng việc nhập khẩu vẫn bị kiểm soát chặt chẽ qua hạn ngạch, với tỷ lệ tự do hóa nhập khẩu chỉ khoảng 40%.

2.3.1.2 Chính sách giáo dục Hướng tới sự khôi phục giáo dục quốc gia Đến nửa cuối thập niên 1950, việc ưu tiên cho chính sách thiết lập hệ thống giáo dục 6 -3 (6 năm học tiểu học và 3 năm học trung học cơ sở) nhằm tạo nền tảng giáo dục cơ bản cho người dân Trong những năm sau chiến tranh, việc đảm bảo lương cho giáo viên là một trong những vấn đề quan trọng nhất Ảnh hưởng từ chi tiêu trong chiến tranh, mức lạm phát Nhật tăng cao khiến cho mức lương thực tế của giáo viên thấp, tạo ra gánh nặng tài chính cho chính quyền địa phương Bên cạnh đó, sự mất cân bằng về mức lương giáo viên ở các quận cũng khác nhau Với tình hình ngày càng tệ hơn, một phong trào yêu cầu Chính phủ tài trợ tiền lượng giáo viên được kích hoạt Năm 1952, một bộ Luật liên quan tới chi sẻ chi phí giáo dục của Kho bạc quốc gia được ban hành Thông qua bộ luật này, Kho bạc nhà nước sẽ gánh chịu một phần chi phí giáo dục bắt buộc, điều mà nhiều năm trước đó đã bị bãi bỏ Do đó, một nửa tiền lương của giáo viên và một phần chi phí tài liệu giảng dạy được trả bởi Kho bạc

Việc xây dựng trường học đang gặp nhiều khó khăn nghiêm trọng, đặc biệt là do kéo dài chương trình giáo dục bắt buộc mà không có kế hoạch cụ thể cho việc xây dựng Sự thiếu hụt cơ sở vật chất tại các trường trung học cơ sở đã dẫn đến việc tổ chức lớp học không thường xuyên Mặc dù nhận được hỗ trợ tài chính từ chính phủ, tình hình vẫn không cải thiện do những thiệt hại do chiến tranh để lại.

Năm 1953, một loạt các Luật đã được ban hành cho phép Kho bạc Nhà nước trợ cấp chi phí cho cơ sở giáo dục, từ đó việc cung cấp cơ sở vật chất cho trường công đã được thực hiện hệ thống Để đảm bảo cơ hội bình đẳng trong giáo dục, các biện pháp hỗ trợ tài chính cho học sinh từ gia đình nghèo và khuyến khích trẻ em khuyết tật đến trường cũng được triển khai Năm 1954, Luật thúc đẩy giáo dục ở vùng xa xôi hẻo lánh được ban hành nhằm cải thiện điều kiện giáo dục tại các khu vực miền núi và đảo xa, với các khoản tài chính đặc biệt cho cơ sở vật chất và phụ cấp cho giáo viên Hệ thống giáo dục tập trung đảm bảo rằng mọi trẻ em, từ Okinawa đến Hokkaido, đều được hưởng "sự bình đẳng về cơ hội" với cơ sở vật chất tương đương, chương trình giảng dạy thống nhất và quyền tiếp cận sách giáo khoa như nhau.

Năm 1954, Luật về bữa trưa tại trường học được ban hành nhằm cải thiện chất lượng bữa trưa cho học sinh Đến năm 1956, chương trình này được mở rộng đến các trường trung học cơ sở Cũng trong năm 1956, Luật chia sẻ Kho bạc quốc gia được thông qua để hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giúp họ tiếp tục việc học bằng cách sử dụng một phần ngân sách quốc gia.

Sau chiến tranh, số lượng giáo viên giảm do thiếu tiêu chuẩn chính thức và ngân sách địa phương cạn kiệt Năm 1958, Luật về tiêu chuẩn giáo dục bắt buộc được ban hành, quy định quy mô lớp học tối đa 50 học sinh, nhằm giảm tình trạng học nhồi nhét Cùng năm, Luật về Sức khỏe học đường được phê duyệt để duy trì sức khỏe học sinh và cải thiện môi trường vệ sinh trong trường học Ngoài ra, việc giáo dục đạo đức thông qua các bài học về giá trị cuộc sống đã góp phần giảm tỷ lệ tội phạm Cuối năm 1963, Luật phân phối sách miễn phí cho các bậc học bắt buộc cũng đã được ban hành.

Thúc đẩy giáo dục về khoa học – công nghệ

Trong những năm 1950, Nhật Bản đã ban hành hai luật quan trọng nhằm thúc đẩy giáo dục, bao gồm Luật xúc tiến giáo dục công nghiệp (1951) và Luật khuyến khích giáo dục khoa học (1953) Các luật này thiết lập tiêu chí quốc gia cho phòng thí nghiệm, cơ sở vật chất và trang thiết bị cần thiết cho giáo dục công nghiệp và khoa học, với mục tiêu nâng cao giáo dục về khoa học như nền tảng phát triển quốc gia Việc áp dụng các luật này nhấn mạnh tầm quan trọng của thí nghiệm và thực hành trong giáo dục khoa học, đồng thời quy định tiêu chuẩn cho phòng thí nghiệm, tài liệu và thiết bị giảng dạy tại các trường học Các trường công lập và tư thục có nhu cầu cải thiện cơ sở vật chất khoa học có thể nộp đơn xin trợ cấp quốc gia, với mức hỗ trợ lên tới một nửa chi phí liên quan.

Hậu thời kỳ tăng trưởng cao (1972 - 1990s)

2.4.1 Tình hình kinh tế- xã hội

Từ năm 1972, mặc dù tốc độ phát triển kinh tế của Nhật Bản đã chậm lại, nhưng quốc gia này vẫn giữ vị trí là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Nhật Bản từng giữ vị trí thứ hai về kinh tế nhưng đã bị Trung Quốc vượt qua từ năm 2010 Đến năm 2016, tổng sản phẩm nội địa đạt 4.730.300 USD, với GDP trên đầu người là 40.090 USD (2017), đứng thứ ba thế giới và thứ hai châu Á Nhật Bản có cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới, dẫn đến nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài dồi dào, trở thành quốc gia cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất toàn cầu Ngoài ra, Nhật Bản sở hữu nhiều tập đoàn tài chính và ngân hàng hàng đầu thế giới.

Ngành công nghiệp Nhật Bản bao gồm ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản, bán lẻ, giao thông và viễn thông, với năng lực sản xuất vượt trội Nhật Bản là trụ sở của nhiều nhà sản xuất công nghệ tiên tiến hàng đầu thế giới trong các lĩnh vực như xe có động cơ, thiết bị điện tử, máy móc, thép, phi kim loại, công nghiệp tàu thủy, hóa chất, dệt may và thực phẩm chế biến Ngoài ra, đây còn là nơi đặt trụ sở của các tập đoàn đa quốc gia và nhiều sản phẩm thương mại trong lĩnh vực công nghệ và máy móc Ngành xây dựng cũng đã trở thành một trong những lĩnh vực công nghiệp lớn nhất tại Nhật Bản.

2.4.2 Chính sách giáo dục: Cải cách giáo dục lần thứ 3 và đầu tư giáo dục nói riêng

2.4.2.1 Thực trạng nền giáo dục qua các bản báo cáo và một số đề xuất

Mặc dù các chính sách giáo dục trước đây đã đạt được một số thành tựu, nhưng tình hình kinh tế xã hội hiện tại đang trong giai đoạn phát triển chững lại, đã đặt ra những yêu cầu mới cho nền giáo dục.

Chính sách giáo dục trong giai đoạn phát triển trước đã bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt là việc quản lý quá mức và đồng bộ hóa ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi học sinh Phương pháp dạy học gây tranh cãi, như việc bắt học sinh học vẹt, đã làm giảm đi sự tò mò và khả năng sáng tạo của các em Hệ quả là ngày càng nhiều học sinh không theo kịp chương trình học và tỷ lệ bỏ học gia tăng, dẫn đến việc xuất hiện thuật ngữ "Ochikobore" để chỉ những trẻ em này, cùng với sự bùng nổ của các trường dạy thêm.

Học sinh và phụ huynh đang phải đối mặt với áp lực cạnh tranh vào các trường phổ thông và đại học danh tiếng, dẫn đến stress đáng kể Chất lượng giáo dục ở bậc đại học hiện nay đang trở thành mối lo ngại khi nó hoàn toàn trái ngược với chất lượng giáo dục cao ở cấp cơ sở và phổ thông Ngoài ra, tình trạng bạo lực học đường, tội phạm vị thành niên, tự tử và sử dụng chất cấm ngày càng gia tăng trong đời sống học sinh Những báo cáo quan trọng kêu gọi cải cách giáo dục từ đầu những năm 70 đã kích thích các cuộc thảo luận sâu rộng về vấn đề này.

Vào những năm 1970, đã có nhiều ý kiến kêu gọi cải cách toàn diện trong giáo dục, với Hội đồng giáo dục trung ương (CCE) cảnh báo rằng giáo dục đang tụt hậu do sự bảo vệ lợi ích và sự thiếu quan tâm đến nội dung cải cách CCE đã trình bày một báo cáo chính sách nhằm mở rộng hệ thống giáo dục, với mục tiêu tái cấu trúc tất cả các cấp từ mẫu giáo đến đại học, tự nhận là cuộc cải cách giáo dục lớn thứ ba, sau cải cách Minh Trị và cải cách sau chiến tranh thế giới thứ ba.

Các đề xuất cải cách giáo dục hiện nay đòi hỏi nguồn kinh phí lớn, bao gồm việc kéo dài hệ thống giáo dục công miễn phí đến 5 tuổi, tăng lương cho giáo viên và mở rộng chương trình giáo dục đặc biệt Tuy nhiên, những đề xuất này gặp phải nhiều tranh cãi, với ý kiến cho rằng chúng không thực tế do chưa xem xét kỹ lưỡng các thay đổi sau chiến tranh và tình trạng kinh tế đình trệ Dù vậy, luật đảm bảo chất lượng giáo viên đã được thực hiện, với mức lương giáo viên tăng gấp 3 lần so với mặt bằng công chức, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao Chính sách này đã ngay lập tức nâng cao số lượng ứng viên cho ngành giáo dục, làm cho quá trình tuyển chọn trở nên cạnh tranh hơn và khiến nghề giáo viên trở thành một lựa chọn hấp dẫn cho giới trẻ.

Báo cáo của OECD năm 1971 về các chính sách giáo dục của Nhật Bản đã đóng góp quan trọng vào cuộc tranh luận cải cách giáo dục thời điểm đó Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan và rõ ràng nhất về tình hình giáo dục tại Nhật Bản.

OECD đã ghi nhận vai trò quan trọng của giáo dục trong sự phát triển công nghiệp quốc gia, nhưng cũng chỉ trích sự kiểm soát quá mức và sự tập trung vào tiêu chuẩn hóa Tổ chức này đề xuất các biện pháp nhằm phát triển tính cách học sinh thông qua chương trình giáo dục linh hoạt, giảm áp lực, tăng thời gian cho hoạt động ngoại khóa, và khuyến khích sự hợp tác giữa học sinh Nhật Bản cần đầu tư vào các khía cạnh như hợp tác, kỷ luật, cạnh tranh và sáng tạo, bên cạnh khả năng tiếp thu Đến thập niên 1980, nhu cầu cải cách giáo dục lại nổi lên, đặc biệt khi Thủ tướng Nakasone nhậm chức và kêu gọi cải cách Thời gian này, truyền thông liên tục đưa tin về tình trạng giáo dục thất bại, với số liệu về học sinh bỏ học, bạo lực học đường và các hình phạt thể xác.

Năm 1983, tỷ lệ học sinh bỏ học từ các trường trung học công lập và tư thục đã tăng 5.3% so với năm trước, đánh dấu sự gia tăng liên tục kể từ năm 1974 Hệ thống giáo dục cứng nhắc và thiếu linh hoạt đã góp phần vào sự gia tăng bạo lực học đường.

Theo báo cáo của NPA, cơ quan cảnh sát quốc gia, nửa đầu năm 1983 ghi nhận bạo lực đường phố tăng 26% so với năm 1982 Đặc biệt, số lượng nữ sinh tham gia bạo lực cũng gia tăng, với tỷ lệ 1 trong 5 học sinh bị giam giữ là nữ.

Số lượng và tính chất của các cuộc bạo lực đang gia tăng đáng kể, với những hành vi xấu xa và nguy hiểm như bắt cóc, đốt phá và hành hung trẻ vị thành niên Trước tình hình này, năm

Năm 1984, Hội đồng cải cách giáo dục quốc gia (NCER) được thành lập như một cơ quan tư vấn trực tiếp dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng Trong suốt nhiệm kỳ 3 năm, NCER đã phát hành 4 bản báo cáo quan trọng về giáo dục.

Bản báo cáo thứ 1 vào năm 1986 đã phác họa các đặc trưng trong nền giáo dục như sau:

Giáo dục Nhật Bản đóng vai trò then chốt trong sự phát triển xã hội của đất nước So với nhiều quốc gia khác, hệ thống giáo dục tiểu học và trung học tại Nhật Bản được công nhận với chất lượng cao, góp phần nâng cao trình độ dân trí và phát triển bền vững.

Giai đoạn thế kỉ 21 (2000 - 2030)

2.5.1 Các thách thức trong thiên niên kỷ mới của Nhật Bản

2.5.1.1 Tổng quan kinh tế xã hội Nhật Bản thế kỷ 21

Vào đầu thế kỷ 21, nền kinh tế Nhật Bản vẫn tiếp tục đối mặt với suy thoái kéo dài từ sau thời kỳ bong bóng kinh tế và cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997-1998 Những thách thức chính mà đất nước này phải vượt qua bao gồm nợ xấu và khủng hoảng mô hình phát triển.

Kể từ cuối năm 2007, Nhật Bản đối mặt với nhiều khó khăn kinh tế, bao gồm lạm phát, phá sản và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng Tỷ lệ lạm phát cơ bản đạt mức cao kỷ lục 1,2% vào tháng 3/2008, do giá năng lượng và thực phẩm tăng mạnh Trong năm tài khóa 2007-08, Nhật Bản ghi nhận 11.333 công ty phá sản, tăng 18,4% so với năm trước, mức cao nhất kể từ năm tài khóa 2000-01 Nguyên nhân chính của tình trạng này là sự gia tăng giá nguyên liệu và năng lượng, đồng yên mạnh và sự thay đổi trong luật tiêu chuẩn xây dựng của chính phủ Nhật Bản, dẫn đến sự đóng băng trong lĩnh vực này.

Nhật Bản đang đối mặt với cuộc khủng hoảng nhân lực nghiêm trọng do tỷ lệ sinh con thấp nhất thế giới và số lượng người già tăng cao Một yếu tố khác góp phần vào tình trạng thiếu nhân lực là sự chưa được khai thác đầy đủ của lực lượng lao động nữ và người cao tuổi Nếu không có những biện pháp cải thiện, dự báo đến năm 2050, lực lượng lao động của Nhật Bản có thể giảm xuống còn 42,28 triệu người Theo một giáo sư kinh tế học tại đại học Keio, Nhật Bản đang ngồi trên một "quả bom hẹn giờ" về vấn đề nhân khẩu học.

Nền kinh tế Nhật Bản đã trải qua giai đoạn khó khăn nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khi vốn đang suy yếu lại bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008-2009) Thêm vào đó, thảm họa kép sóng thần và động đất năm 2011 đã làm gia tăng gánh nặng kinh tế, với thiệt hại ước tính lên đến 200 tỷ USD.

Chính sách Abenomics của Thủ tướng Shinzo Abe đã giúp Nhật Bản, nền kinh tế lớn thứ ba thế giới, thoát khỏi khủng hoảng và tình trạng giảm phát kéo dài Để giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động do dân số giảm và già hóa, Nhật Bản không chỉ triển khai cuộc "cách mạng robot" từ năm 2015 mà còn mở cửa cho lao động nước ngoài.

2.5.1.2 Các thách thức của Nhật Bản

Tỷ lệ sinh của Nhật Bản đã giảm mạnh sau thời kỳ bùng nổ trẻ em sau Thế chiến II, đạt mức thấp nhất thế giới vào 50 năm sau đó, dẫn đến lo ngại về già hóa dân số Cụm từ "1.57 Shock" phản ánh sự phản ứng trước tỷ lệ sinh sản thấp nhất trong lịch sử vào năm 1989, và tỷ lệ này tiếp tục giảm, đạt mức kỷ lục 1,26 vào năm 2005 Dự báo từ Trung tâm nghiên cứu lão hóa Nhật Bản cho thấy tổng tỷ suất sinh sẽ giảm còn 1,16 vào năm 2020 Nhật Bản cũng có tuổi thọ cao nhất thế giới, dẫn đến tình trạng dân số suy giảm ở một đầu và gia tăng ở đầu kia Dân số dự kiến sẽ giảm xuống khoảng 83 triệu vào năm 2100, với 35% người dân trên 65 tuổi, theo Liên Hợp Quốc.

Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động đang giảm, tạo ra thách thức lớn cho nền kinh tế Bộ Y tế, Lao động và Xã hội đã đưa ra những ước tính liên quan đến vấn đề này.

Phúc lợi (MHLW), đến năm 2030, số lao động sẽ giảm khoảng 10 triệu từ mức năm

Nhật Bản từng là một trong ba quốc gia hàng đầu về năng lực cạnh tranh và phát triển công nghệ, nhưng sau hai thập kỷ sụp đổ kinh tế, đất nước này đang phải đối mặt với nhiều thách thức Mặc dù chính phủ và các công ty đang nỗ lực để khôi phục nền kinh tế, câu hỏi đặt ra là liệu Nhật Bản có thể dẫn dắt hoặc cạnh tranh trong kỷ nguyên công nghiệp 4.0 hay không Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với các công nghệ như IoT, AI, robot và in 3D đang thay đổi mô hình kinh doanh và hệ thống sản xuất toàn cầu Hiện tại, Nhật Bản đang bị tụt lại phía sau so với Mỹ và Trung Quốc, khi sáu công ty hàng đầu trong kỷ nguyên này đều là những gã khổng lồ công nghệ từ hai quốc gia này, trong khi Toyota Motors là công ty Nhật Bản duy nhất xuất hiện trong bảng xếp hạng, đứng ở vị trí thứ 32.

Nhật Bản đã chọn một hướng đi khác với việc phát hành Chiến lược tăng trưởng Nhật Bản 2017 vào tháng 6 Chiến lược này đề ra kế hoạch cho Nhật Bản Hiệp hội 5.0, tập trung vào việc tích hợp sâu rộng các công nghệ tiên tiến nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội.

Nhật Bản đang đối mặt với nhiều thách thức mới do toàn cầu hóa và sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia khác, dẫn đến cạnh tranh quốc tế gia tăng Các vấn đề môi trường, đặc biệt là sự nóng lên toàn cầu, ngày càng trở nên phức tạp và nghiêm trọng, yêu cầu mọi người phải đảm bảo tính bền vững Cấu trúc công nghiệp cũng đang thay đổi, với sự mở rộng của ngành dịch vụ và sự đa dạng hóa trong ý thức về giá trị và lối sống Để giải quyết những vấn đề này, Nhật Bản cần sự hợp tác sáng tạo giữa chính phủ, doanh nghiệp, khởi nghiệp, xã hội dân sự, học viện và các tổ chức quốc tế, vì những phương pháp trong quá khứ không còn đủ hiệu quả trong bối cảnh hiện tại.

2.5.2 Giải pháp từ chính phủ Nhật Bản cho giáo dục

Bước vào thiên niên kỷ mới, giáo dục đã trải qua nhiều thay đổi lớn do sự tiến bộ của khoa học công nghệ và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin Quốc tế hóa giáo dục ngày càng gia tăng, trong khi xã hội đang đối mặt với tình trạng già hóa và tỷ lệ sinh giảm Môi trường sống xung quanh trẻ em cũng đã thay đổi đáng kể, dẫn đến nhiều vấn đề mới phát sinh trong giáo dục.

Maria Montessori, một nhà sư phạm nổi tiếng, đã nhấn mạnh rằng chúng ta không nên giáo dục trẻ em dựa trên thế giới hiện tại, vì thế giới sẽ thay đổi khi các em trưởng thành Thay vào đó, cần ưu tiên phát triển tư duy sáng tạo và khả năng tự thích nghi cho trẻ.

Trong thập kỷ tới, hàng triệu lao động sẽ phải chuyển đổi nghề nghiệp do tác động của công nghệ 4.0, đặc biệt là mô hình 3A (AI, Tự động hóa và Phân tích) Việc trang bị kỹ năng thế kỷ 21 trở nên cực kỳ quan trọng, vì đây chính là “chìa khóa” giúp các quốc gia xây dựng lực lượng lao động sẵn sàng cho tương lai đầy biến đổi Trong kỷ nguyên 4.0, người lao động cần học tập suốt đời, và kỹ năng thế kỷ 21 là nền tảng thiết yếu cho sự phát triển này.

“nâng cấp” bản thân thành phiên bản tốt nhất mỗi ngày.

Vào tháng 1 năm 2001, Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ (MEXT) đã được thành lập theo sự chỉ đạo của cơ quan chính quyền trung ương Sự ra đời của bộ này diễn ra trong bối cảnh xã hội đặc biệt, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc quản lý và phát triển giáo dục tại Nhật Bản.

Luật giáo dục 1947 đã được sửa đổi hoàn toàn và có hiệu lực từ ngày 15/12/2006, làm rõ các nguyên tắc quan trọng cho giáo dục hiện đại Bản sửa đổi này không chỉ kế thừa những quy tắc vẫn còn phù hợp từ luật trước đó mà còn nhấn mạnh sự phát triển toàn diện tính cách và nhân phẩm cá nhân.

Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục được nhận định:

BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Ngày đăng: 11/10/2022, 06:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lương Thị Quế Anh, (2015), Quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo tại Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo tại Việt Nam
Tác giả: Lương Thị Quế Anh
Năm: 2015
2. Nguyễn Văn Đạo, (2012), Vài suy nghĩ về giáo dục và đào tạo phục vụ cho phát triển, Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, số 250-251 (2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về giáo dục và đào tạo phục vụ cho phát triển
Tác giả: Nguyễn Văn Đạo
Năm: 2012
3. Nguyễn Văn Hòa, (2009), Phát triển giáo dục và đào tạo – một động lực để phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học, Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, số 4(215), tháng 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển giáo dục và đào tạo – một động lực để phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện
Tác giả: Nguyễn Văn Hòa
Năm: 2009
4. Phạm Thị Thanh Hồng (2005), Kinh tế Nhật Bản trì trệ kéo dài: Những nguyên nhân thuộc về phía cung, Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 6(60), trang 3-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Nhật Bản trì trệ kéo dài: Những nguyên nhân thuộc về phía cung
Tác giả: Phạm Thị Thanh Hồng
Năm: 2005
5. Phạm Thị Thanh Hồng và Nguyễn Bình Giang (2006), Trì trệ kinh tế Nhật Bản nhìn từ quan điểm trọng cầu, Những vấn đề kinh tế thế giới, số 2(118), trang 42-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trì trệ kinh tế Nhật Bản nhìn từ quan điểm trọng cầu
Tác giả: Phạm Thị Thanh Hồng và Nguyễn Bình Giang
Năm: 2006
6. Dương Thị Hương, (2019), Tư tưởng Alvin Tofler về vai trò tri thức và ý nghĩa của nó đối với phát triển nguồn trí lực ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ chuyên ngành chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Alvin Tofler về vai trò tri thức và ý nghĩa của nó đối với phát triển nguồn trí lực ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Dương Thị Hương
Năm: 2019
7. Nguyễn Kim Sơn, (2019), Nhìn lại 5 năm thực hiện Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW, Tạp chí Thông tin Báo cáo viên, Ban Tuyên giáo Trung ương, số tháng 1/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại 5 năm thực hiện Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW
Tác giả: Nguyễn Kim Sơn
Năm: 2019
8. Lưu Thị Thu Thủy, (2009), Tương đồng văn hóa Việt Nam - Nhật Bản, Tạp chí Văn hóa Nghệ Thuật, số 302, tháng 8/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tương đồng văn hóa Việt Nam - Nhật Bản
Tác giả: Lưu Thị Thu Thủy
Năm: 2009
9. Nguyễn Quốc Vương (chuyển ngữ), (2013), Cải cách giáo dục Nhật Bản của tác giả Ozaki Mugen, Nhà xuất bản Lao động và Thái Hà Books Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách giáo dục Nhật Bản của tác giả Ozaki Mugen
Tác giả: Nguyễn Quốc Vương (chuyển ngữ)
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động và Thái Hà Books
Năm: 2013
11. Tư Bùi, (2019), Chi ngân sách cho giáo dục nghề nghiệp tăng đều qua các năm, Thời báo Tài chính Việt Nam online – Cơ quan của Bộ Tài chính, truy cập lần cuối ngày 13/03/2020 tại http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/nhip-song-tai-chinh/2019-04-23/chi-ngan-sach-cho-giao-duc-nghe-nghiep-tang-deu-qua-cac-nam-70504.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi ngân sách cho giáo dục nghề nghiệp tăng đều qua các năm
Tác giả: Tư Bùi
Năm: 2019
12. Trần Khánh Đức, Kinh tế tri thức và phát triển giáo dục đại học trong xã hội hiện đại, Đại học quốc gia Hà Nội. Truy cập lần cuối ngày 13/03/2020 tạihttps://dulieu.itrithuc.vn/dataset/8274eb7f-bab8-4a9e-84d5-6d7892ff4acb/resource/75379def-5d20-4104-b398-7af0d0d86fba/download/kt.pdf?fbclid=IwAR2VUm1-ACK-GjUs2sQ3WMvxw9jNwDtRDV5ZnHcTQGFa-3rtSJyyMknUt28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tri thức và phát triển giáo dục đại học trong xã hội hiện đại", Đại học quốc gia Hà Nội. Truy cập lần cuối ngày 13/03/2020 tại https://dulieu.itrithuc.vn/dataset/8274eb7f-bab8-4a9e-84d5-6d7892ff4acb/resource/75379def-5d20-4104-b398-7af0d0d86fba/download/kt.pdf?fbclid=IwAR2VUm1-ACK-"GjUs2sQ3WMvxw9jNwDtRDV5ZnHcTQGFa
13. Hồng Hạnh, (2018), Năm 2017: Chi ngân sách cho giáo dục là 248.118 tỷ đồng, Dân trí – Diễn đàn dân trí Việt Nam, truy cập lần cuối ngày 13/03/2020 tại https://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/chi-ngan-sach-cho-giao-duc-la-248118-ty-dong-20180930163940791.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm 2017: Chi ngân sách cho giáo dục là 248.118 tỷ đồng
Tác giả: Hồng Hạnh
Năm: 2018
14. Đinh Thị Nga, (2017), Đầu tư của nhà nước cho giáo dục, đào tạo: Thực trạng và một số đề xuất, Tạp chí Tài chính – Cơ quan thông tin của Bộ Tài chính, truy cập lần cuối ngày 13/03/2020 tại http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/dau-tu-cua-nha-nuoc-cho-giao-duc-dao-tao-thuc-trang-va-mot-so-de-xuat-130918.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư của nhà nước cho giáo dục, đào tạo: Thực trạng và một số đề xuất
Tác giả: Đinh Thị Nga
Năm: 2017
15. Đăng Nguyên, (2019), Người Việt Nam đầu tư cho giáo dục 9 tỉ USD, Báo Thanh niên, truy cập lần cuối ngày 13/03/2020 tại https://thanhnien.vn/giao-duc/nguoi-viet-nam-dau-tu-cho-giao-duc-hon-300-ti-usd-1072656.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Việt Nam đầu tư cho giáo dục 9 tỉ USD
Tác giả: Đăng Nguyên
Năm: 2019
16. Nguyễn Anh Tuấn, Sự phát triển kinh tế Việt Nam và nhiệm vụ của giáo dục, đào tạo, Hội thảo quốc tế - Đóng góp của Khoa học xã hội – nhân văn trong phát triển kinh tế - xã hội, Khoa Triết học, truy cập lần cuối ngày 13/03/2020 tại https://dulieu.itrithuc.vn/dataset/493f6579-76f1-46c6-a65f-262eee7f8ab7/resource/d9555925-bf00-4a7d-bced-a5eae1eb2737/download/8nguyen-anh-tuan.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển kinh tế Việt Nam và nhiệm vụ của giáo dục, đào tạo
17. Thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA Nhật Bản trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2010, truy cập lần cuối ngày 13/03/2020 tại https://repository.vnu.edu.vn/flowpaper/simple_document.php?subfolder=39%2F22%2F35%2F&doc=39223588352392198852312881556804951070&bitsid=27ea824b-cdbf-433f-b448-3f3a4337c034&uid=&fbclid=IwAR2F823TzKqEIezaF96PKkFJy-1I7sXd9R1Hn-28lyftjuRa1bP_YRvmxjI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA Nhật Bản trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2010
18. Thực trạng và giải pháp cho FDI trong lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam, khóa luận tốt nghiệp, truy cập lần cuối ngày 13/03/2020 tại https://123doc.net/document/2749802-khoa-luan-tot-nghiep-thuc-trang-va-giai-phap-cho-fdi-trong-linh-vuc-giao-duc-tai-viet-nam.htmTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp cho FDI trong lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam
1. Hsien - Chang Kuo, Lie - Huey Wang, Li - Jen Yeh, (2018), The role of education of directors in influencing firm R&D investment, Asia Pacific Management Review, Volume 23, Issue 2, June 2018, p.108 - 120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of education of directors in influencing firm R&D investment
Tác giả: Hsien - Chang Kuo, Lie - Huey Wang, Li - Jen Yeh
Năm: 2018
2. Ioan Manfi, Daniela Elena Marinnescu, (2013), The influence of investment in education on inclusive growth – empirical evidence from Romania vs. EU, Procedia – Social and Behavioral Sciences, Volume 93, October 2013, p.689 – 694 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The influence of investment in education on inclusive growth – empirical evidence from Romania vs. EU
Tác giả: Ioan Manfi, Daniela Elena Marinnescu
Năm: 2013
3. K. Renuka Ganegodage, Alicia N. Rambaldi, (2011), The impact of education investment on Sri Lankan economic growth, Economics of Education Review, Volume 30, Issue 6, December 2011, p.1491 – 1502 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The impact of education investment on Sri Lankan economic growth
Tác giả: K. Renuka Ganegodage, Alicia N. Rambaldi
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỷ lệ đi học tại Nhật Bản - (Tiểu luận FTU) đầu tư cho giáo dục tại nhật bản và bài học cho việt nam
Bảng 1 Tỷ lệ đi học tại Nhật Bản (Trang 20)
Bảng 2 cho thấy tỷ lệ chi tiêu giáo dục quốc gia và địa phương có sự chênh lệch lớn. Như thể hiện trong bảng, gần 90% chi tiêu công cho giáo dục được cung cấp bởi  chính quyền địa phương trong thời kỳ Minh Trị trong nhiều năm - (Tiểu luận FTU) đầu tư cho giáo dục tại nhật bản và bài học cho việt nam
Bảng 2 cho thấy tỷ lệ chi tiêu giáo dục quốc gia và địa phương có sự chênh lệch lớn. Như thể hiện trong bảng, gần 90% chi tiêu công cho giáo dục được cung cấp bởi chính quyền địa phương trong thời kỳ Minh Trị trong nhiều năm (Trang 22)
Các đồ thị hình 6, hình 7, hình 8 cho ta thấy rõ hơn về ảnh hưởng của hàm lượng muối, vi khuẩn, và nhiệt độ lên quá trình thủy phân protein tạo thành  amoniac. - (Tiểu luận FTU) đầu tư cho giáo dục tại nhật bản và bài học cho việt nam
c đồ thị hình 6, hình 7, hình 8 cho ta thấy rõ hơn về ảnh hưởng của hàm lượng muối, vi khuẩn, và nhiệt độ lên quá trình thủy phân protein tạo thành amoniac (Trang 49)
Bảng 2: Ngân sách quốc gia và ngân sách cho bộ giáo dục của Nhật Bản qua các năm - (Tiểu luận FTU) đầu tư cho giáo dục tại nhật bản và bài học cho việt nam
Bảng 2 Ngân sách quốc gia và ngân sách cho bộ giáo dục của Nhật Bản qua các năm (Trang 56)
Bảng 3: So sánh 4 lần cải cách giáo dục của Việt Nam 3.2.2 Những chính sách cụ thể liên quan đến giáo dục - (Tiểu luận FTU) đầu tư cho giáo dục tại nhật bản và bài học cho việt nam
Bảng 3 So sánh 4 lần cải cách giáo dục của Việt Nam 3.2.2 Những chính sách cụ thể liên quan đến giáo dục (Trang 68)
Bảng 5 cho thấy, tỷ lệ chi thường xuyên chiếm trên dưới 82% tổng chi NSNN cho giáo dục, đào tạo - (Tiểu luận FTU) đầu tư cho giáo dục tại nhật bản và bài học cho việt nam
Bảng 5 cho thấy, tỷ lệ chi thường xuyên chiếm trên dưới 82% tổng chi NSNN cho giáo dục, đào tạo (Trang 72)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w