1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH NÔNG sản tại VIỆT NAM

56 162 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Chuỗi Cung Ứng Lạnh Nông Sản Tại Việt Nam
Tác giả Vũ Phương Thảo
Người hướng dẫn T.S Nguyễn Lan Anh
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Khoá Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 0,97 MB

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (5)
  • 2. Mục đích nghiên cứu (6)
  • 3. Câu hỏi nghiên cứu (7)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (7)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (8)
  • 6. Tổng quan tài liệu (8)
  • 7. Kết cấu của đề tài (11)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH (13)
    • 1.1. Khái niệm chuỗi cung ứng lạnh (13)
    • 1.2. Cấu trúc của chuỗi cung ứng lạnh (14)
    • 1.3. Lợi ích của chuỗi cung ứng lạnh (15)
    • 1.4. Khái quát về chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam (16)
    • 1.5. Kinh nghiệm vận hành và phát triển chuỗi cung ứng lạnh nông sản của một số nước trên thế giới (20)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH NÔNG SẢN TẠI VIỆT NAM (27)
    • 2.1. Tổng quan về nền nông nghiệp Việt Nam (27)
    • 2.2. Hoạt động chuỗi cung ứng lạnh nông sản tại Việt Nam (32)
    • 2.3. Đánh giá về chuỗi cung ứng lạnh nông sản tại Việt Nam (39)
      • 2.3.1. Ưu điểm (39)
      • 2.3.2. Hạn chế (41)
      • 2.3.3. Cơ hội (43)
      • 2.3.4. Thách thức (45)
    • 3.1. Định hướng phát triển (49)
    • 3.2. Giải pháp cho doanh nghiệp (50)
    • 3.3. Kiến nghị với các bộ ban ngành (52)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (55)

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam, một quốc gia có nền nông nghiệp và thủy sản phát triển, vẫn chưa chú trọng đến chuỗi cung ứng lạnh Theo khảo sát của CEL Consulting, chỉ 8,2% nhà sản xuất cho thị trường nội địa áp dụng chuỗi lạnh, so với 66,7% của nhà xuất khẩu Hệ quả là tình trạng hư hỏng sản phẩm nông sản lên tới 25,4%, khiến lượng rác thải nông nghiệp cao hơn 5,3% so với tiêu chuẩn của FAO Điều này không chỉ gây thiệt hại cho nhà sản xuất mà còn làm giảm sức cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh do thiếu bảo quản lạnh đúng chuẩn.

Nhu cầu kho lạnh gia tăng mạnh mẽ khi nông sản vào vụ, trong khi xuất khẩu gặp khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 Việc người dân chuyển sang mua sắm trực tuyến đã làm tăng nhu cầu bảo quản thực phẩm tươi sống, dẫn đến tình trạng ùn ứ và quá tải hàng hóa Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cả nước chỉ có 48 kho lạnh với tổng công suất khoảng 2 triệu tấn, thấp hơn nhiều so với sản lượng thu hoạch thực tế Bên cạnh đó, sự phát triển của thị trường nội địa và sự gia tăng của các cửa hàng tiện lợi đã thúc đẩy nhu cầu vận chuyển sản phẩm cần bảo quản lạnh như sữa chua, sữa tươi, nước ép trái cây, và kem.

Để tăng cường giá trị kinh tế và giảm thiểu tổn thất trong quá trình thu hoạch và sản xuất, hệ thống kho lạnh đóng vai trò quan trọng trong việc bảo quản thực phẩm và duy trì lượng dinh dưỡng cần thiết.

Công nghệ sau thu hoạch tại Việt Nam đang phát triển chậm và chưa đồng bộ, dẫn đến tỷ lệ thất thoát nông sản cao, có thể lên tới 20 - 25% Tổn thất trong quá trình thu hoạch, chế biến, lưu trữ và vận chuyển là một thách thức lớn cho chuỗi cung ứng nông sản Theo báo cáo của Cục chế biến, tỷ lệ tổn thất trung bình hiện nay đạt 25-30%, trong đó trái cây và rau quả có thể chịu tổn thất lên đến 45% tùy thuộc vào phương thức chế biến và vận chuyển Đối với các sản phẩm thủy, hải sản, tỷ lệ tổn thất cũng cao, khoảng 35% Thực trạng dưa hấu ùn ứ tại cửa khẩu Lạng Sơn gần đây đã phản ánh rõ ràng vấn đề này.

Sản xuất nông nghiệp hiện nay đã phát triển mạnh mẽ nhờ vào những thành tựu khoa học trong giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, nhưng việc bảo quản nông sản vẫn chưa được đầu tư đúng mức Nhiều nông dân phải tiêu hủy sản phẩm như dưa hấu và củ cải do thiếu phương tiện vận chuyển và sự gián đoạn trong chuỗi cung ứng lạnh Tình trạng thiếu kho lạnh để lưu trữ thực phẩm và dược phẩm không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác Dự báo từ công ty nghiên cứu Forrester cho thấy nhu cầu về thực phẩm tươi sống sẽ tiếp tục gia tăng, với dịch vụ đi chợ trực tuyến tại châu Á Thái Bình Dương dự kiến tăng 30% mỗi năm đến năm 2024 và chiếm 10,6% thị phần trực tuyến.

Chuỗi cung ứng lạnh đang ngày càng trở nên quan trọng đối với Việt Nam, quốc gia chủ yếu sản xuất và xuất khẩu nông sản Nó không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất và kinh doanh mà còn nâng cao hiệu quả, giảm thiểu tổn thất cho các mặt hàng dễ hư hỏng như rau quả, thủy sản, hoa tươi, gia cầm, và thực phẩm đông lạnh Sự phát triển của chuỗi cung ứng lạnh góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.

Việt Nam hiện chưa sở hữu một chuỗi cung ứng lạnh hoàn chỉnh, ảnh hưởng đến việc bảo quản và phân phối thực phẩm hiệu quả Tuy nhiên, tiềm năng phát triển chuỗi cung ứng lạnh tại thị trường này là rất lớn, mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp tham gia và phát triển.

Mục đích nghiên cứu

Việt Nam, với nền nông nghiệp và thủy sản phát triển mạnh mẽ, cần hệ thống kho lạnh để gia tăng giá trị kinh tế và giảm thiểu tổn thất trong thu hoạch và sản xuất Hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo quản và duy trì dinh dưỡng của thực phẩm Tiềm năng phát triển chuỗi cung ứng lạnh rất lớn, giúp phân phối hàng hóa tươi ngon và đảm bảo chất lượng dinh dưỡng Tuy nhiên, hiện nay, việc cung ứng thực phẩm tươi chủ yếu vẫn dựa vào phương thức truyền thống từ đồng ruộng, trang trại đến các chợ và siêu thị.

Việc thất thoát hàng hóa chủ yếu xảy ra trong quá trình sản xuất và vận chuyển Để nâng cao chất lượng và vị thế trên thị trường xuất khẩu toàn cầu, Việt Nam cần khắc phục những vấn đề còn tồn đọng trong các khâu xử lý và bảo quản hàng hóa.

Bài nghiên cứu này nhằm cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng chuỗi cung ứng lạnh nông sản tại Việt Nam, phân tích các điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức trong quá trình phân phối và xuất khẩu nông sản Bên cạnh đó, bài viết cũng chia sẻ kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao năng lực quản lý và vận hành chuỗi cung ứng lạnh Việc cải thiện hệ thống này không chỉ giúp tối ưu hóa việc bảo quản và lưu trữ thực phẩm lạnh, mà còn tăng hiệu quả kinh doanh, nâng cao giá trị kinh tế và giảm thiểu tổn thất Việt Nam cần đẩy mạnh phát triển chuỗi logistics cung ứng lạnh để hội nhập tốt hơn vào thị trường toàn cầu.

Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá tình hình hoạt động của chuỗi cung ứng lạnh cho nông sản tại Việt Nam, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm xây dựng và phát triển chuỗi cung ứng này một cách hiệu quả.

Câu hỏi nghiên cứu

- Vai trò của chuỗi cung ứng lạnh đối với hoạt động xuất khẩu?

- Thực trạng chuỗi cung ứng lạnh nông sản ở Việt Nam?

- Đánh giá ưu nhược điểm, thời cơ, thách thức đối với chuỗi cung ứng lạnh nông sản tại Việt Nam?

- Kinh nghiệm phát triển chuỗi cung ứng lạnh của một số nước trên thế giới?

- Giải pháp cho sự phát triển chuỗi cung ứng lạnh nông sản tại Việt Nam?

Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, bài nghiên cứu có sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính:

Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp trong nghiên cứu chuỗi cung ứng lạnh bao gồm việc thu thập thông tin từ sách, tạp chí và các nghiên cứu trước đây Nghiên cứu cũng đã sử dụng các trang web điện tử và thư viện để thu thập dữ liệu, từ đó cung cấp cái nhìn tổng quát về quá trình phát triển và thực trạng của chuỗi cung ứng lạnh.

Phương pháp xử lý thông tin bao gồm việc sử dụng trực tiếp và tổng hợp thông tin qua nhiều công cụ như bảng biểu, sơ đồ và đồ thị Những công cụ này giúp phân tích hành vi, bản chất và xu hướng phát triển của đối tượng nghiên cứu theo thời gian và không gian.

Bài viết áp dụng mô hình SWOT để phân tích chi tiết các yếu tố mạnh, yếu, cơ hội và thách thức trong việc phát triển chuỗi cung ứng lạnh cho nông sản tại Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

Kết cấu của đề tài

Ngoài mục lục, danh mục bảng biểu, hình vẽ, bài nghiên cứu " Phát triển chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam" được kết cấu thành 3 phần:

Chương 1: Cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng lạnh

Chương 1 trình bày cơ sở lý luận và khái niệm về chuỗi cung ứng lạnh, bao gồm cấu trúc và lợi ích của nó Bên cạnh đó, chương cũng cung cấp cái nhìn tổng quan về chuỗi cung ứng lạnh nông sản tại Việt Nam và nêu bật các hoạt động phát triển liên quan đến chuỗi cung ứng này.

11 của một số nước trên thế giới để từ đó có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Chương 2: Thực trạng chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam

Chương 2 của bài viết tập trung vào việc phân tích tổng quan nền nông nghiệp và hoạt động xuất nhập khẩu nông sản tại Việt Nam Bên cạnh đó, chương này cũng đánh giá thực trạng và vận hành của chuỗi cung ứng lạnh đối với các mặt hàng nông sản trong nước.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hoạt động phát triển chuỗi cung ứng lạnh nông sản tại Việt Nam

Chương 3 tập trung vào việc xác định hướng phát triển chuỗi cung ứng lạnh nông sản tại Việt Nam, đồng thời đưa ra các giải pháp cho doanh nghiệp trong ngành Ngoài ra, bài viết cũng kiến nghị các bộ, ban ngành một số biện pháp nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của chuỗi cung ứng này.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH

Khái niệm chuỗi cung ứng lạnh

Chuỗi cung ứng lạnh (Cold Chain) đang trở nên phổ biến tại Việt Nam, với khả năng kiểm soát và duy trì nhiệt độ thích hợp cho các loại hàng hóa yêu cầu bảo quản lạnh Điều này giúp đảm bảo chất lượng và kéo dài thời gian sử dụng của sản phẩm Hiện nay, chuỗi cung ứng lạnh được ứng dụng chủ yếu trong các ngành dược phẩm, hóa chất, bán lẻ và công nghiệp thực phẩm, bao gồm nông sản tươi, thủy hải sản, thực phẩm đông lạnh, hoa tươi cắt cành, và đặc biệt là các sản phẩm dược phẩm như vacxin.

Hình 1: Mô hình về chuỗi cung ứng lạnh cơ bản

Chuỗi lạnh là quá trình quản lý nhiệt độ cho các sản phẩm dễ hư hỏng, nhằm duy trì chất lượng và an toàn từ nguồn gốc đến tay người tiêu dùng Nó bao gồm một chuỗi các nhiệm vụ liên quan đến chuẩn bị, lưu trữ và vận chuyển sản phẩm trong điều kiện lạnh Nếu không duy trì nhiệt độ thích hợp, sản phẩm sẽ bị hư hỏng, gây lãng phí và tổn thất cho cả người gửi hàng và khách hàng.

Dây chuyền lạnh là yếu tố quan trọng để bảo đảm an toàn và chất lượng cho các sản phẩm dễ hư hỏng tại điểm tiêu thụ Việc không duy trì nhiệt độ thích hợp có thể dẫn đến suy thoái cấu trúc, đổi màu và sự phát triển của vi sinh vật Một dây chuyền lạnh hiệu quả giữ cho các sản phẩm nhạy cảm với nhiệt độ trong phạm vi tối ưu, từ đó duy trì trạng thái mong muốn Chẳng hạn, kem cần được giữ đông lạnh để đảm bảo thời hạn sử dụng; nếu nhiệt độ vượt quá 0 độ, sản phẩm sẽ không còn ở trạng thái rắn và không thể sử dụng được Hơn nữa, sản phẩm chất lượng cao không chỉ mang lại sự hài lòng cho khách hàng mà còn thúc đẩy nhu cầu và bảo vệ sức khỏe cộng đồng Các nhà cung cấp dây chuyền lạnh cũng đóng góp tích cực cho nền kinh tế và lực lượng lao động.

Cấu trúc của chuỗi cung ứng lạnh

Chuỗi cung ứng lạnh bao gồm hai hệ thống logistics cơ bản: mạng lưới kho lạnh kiểm soát nhiệt độ và hệ thống vận tải lạnh như xe tải và container lạnh Hai hệ thống này tương tác với nhau để tối ưu hóa hiệu quả, giúp duy trì chất lượng sản phẩm dễ hỏng và tạo ra khả năng cạnh tranh lớn Việc đầu tư vào thiết bị vận tải lạnh có thể tốn kém, tuy nhiên, nó cần thiết để đảm bảo hàng hóa được giao nhận đúng thời gian Các công ty không ngừng cải tiến công nghệ làm lạnh nhằm nâng cao thời gian và chất lượng sản phẩm, từ đó khai thác tiềm năng lớn trong chuỗi cung ứng lạnh.

Kho lạnh trong chuỗi cung ứng lạnh là hệ thống điều chỉnh và kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm để kéo dài thời gian lưu kho cho các mặt hàng cụ thể Tùy thuộc vào loại sản phẩm và yêu cầu về thời gian, khoảng cách, cũng như mục tiêu sử dụng, chuỗi lạnh cung cấp nhiệt độ thích hợp trong toàn bộ quá trình cung ứng Các tiêu chuẩn nhiệt độ phổ biến bao gồm đông lạnh sâu (Deep Frozen) từ -28 đến -30 độ C.

Nhiệt độ vận chuyển hải sản thường ở mức lạnh nhất, khoảng -16 đến -20 độ C cho hàng đông lạnh, chủ yếu dành cho thịt Đối với trái cây và rau quả, nhiệt độ chiller từ 2 đến 4 độ C là tiêu chuẩn, giúp duy trì thời hạn sử dụng tối ưu.

Nhiệt độ 8 độ C là lý tưởng để bảo quản dược phẩm thông thường, trong khi khoảng 12 đến 14 độ C thích hợp cho chuỗi cung ứng chuối, một trong những loại trái cây được sản xuất và vận chuyển nhiều nhất thế giới Các thiết bị theo dõi và điều chỉnh nhiệt độ là ưu tiên hàng đầu trong chuỗi lạnh chất lượng cao, đảm bảo hàng hóa được bảo quản trong điều kiện tối ưu Chuỗi cung ứng lạnh không chỉ chú trọng đến nhiệt độ và độ ẩm mà còn kiểm soát chặt chẽ yếu tố thời gian, giúp cung ứng kịp thời Để đạt được những lợi thế này, các chuỗi lạnh tập trung vào ba thành phần chính: trang bị thiết bị dự trữ và vận chuyển an toàn trong điều kiện khí hậu kiểm soát, đào tạo quản lý và nhân viên chuyên môn, và xây dựng quy trình quản lý hoạt động và kiểm soát thiết bị hiệu quả.

Lợi ích của chuỗi cung ứng lạnh

Hệ thống chuỗi cung ứng lạnh đóng vai trò quan trọng trong chiến lược thương hiệu sản phẩm, giúp tăng thị phần và lợi nhuận đồng thời giảm thiểu rủi ro Ngoài ra, việc phát triển chuỗi cung ứng lạnh còn hỗ trợ quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ cân bằng sinh thái và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Chuỗi cung ứng lạnh tạo ra điều kiện nhiệt độ và độ ẩm tối ưu cho hàng hóa, giúp duy trì độ tươi mới của sản phẩm dễ hỏng Điều này không chỉ giảm chi phí sản xuất kinh doanh mà còn gia tăng hiệu quả và giảm thiểu tổn thất trong chuỗi cung ứng hàng hóa.

Tăng cường sự hài lòng của khách hàng thông qua việc đáp ứng nhu cầu bảo vệ sức khỏe con người và môi trường Cải thiện chất lượng cuộc sống và đóng góp vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Các hoạt động bảo quản và dự trữ hiệu quả trong chuỗi lạnh giúp duy trì chất lượng hàng hóa, đảm bảo sự tươi mới và giảm thiểu hao hụt Điều này không chỉ tăng cường lượng hàng hóa cung cấp cho thị trường địa phương mà còn đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng Khi hao hụt giảm, khối lượng sản phẩm tăng lên, cho phép xuất khẩu các mặt hàng dễ hỏng như nông sản, thủy sản và hoa quả đến nhiều quốc gia, đồng thời vẫn giữ được chất lượng nhờ vào điều kiện chuỗi lạnh.

Hệ thống chuỗi cung ứng lạnh hợp nhất giúp cải thiện việc phối hợp thông tin giữa các hoạt động logistics, tối ưu hóa thời gian và chi phí, đồng thời nâng cao hiệu quả và sức mạnh sản phẩm trên thị trường Ngoài ra, các hệ thống này còn đóng vai trò quan trọng trong chiến lược thương hiệu, góp phần thỏa mãn khách hàng, tăng thị phần, nâng cao lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro.

Phát triển chuỗi cung ứng lạnh không chỉ hỗ trợ nhà nước trong quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm cho hàng hóa nội địa và xuất khẩu, mà còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, bảo vệ môi trường và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Khái quát về chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam

Ngành cung ứng lạnh-mát tại Việt Nam có tiềm năng phát triển lớn, đứng thứ 17 trên toàn cầu Dự báo thị trường cung ứng lạnh toàn cầu sẽ đạt giá trị 271,3 tỷ USD vào năm 2022 Chuỗi cung ứng lạnh-mát hiện đang được áp dụng rộng rãi trong các ngành truyền thống như nông nghiệp, thực phẩm, dược phẩm, hàng không và bán lẻ hiện đại.

Nông sản đóng vai trò quan trọng trong xuất khẩu của Việt Nam, góp phần lớn vào kim ngạch xuất khẩu và chuỗi cung ứng lạnh Thị trường nông sản Việt Nam cần tối ưu hóa và cải tiến để phát triển chuỗi cung ứng, nâng cao giá trị ngành nông sản Theo World Bank Group, nhu cầu thực phẩm toàn cầu dự kiến sẽ tăng 70% từ 2017 đến 2050, tạo cơ hội cho Việt Nam gia tăng sự hiện diện trong chuỗi giá trị nông nghiệp toàn cầu Để tận dụng tiềm năng này, Việt Nam cần nâng cao hiệu quả sản xuất và vận chuyển nông sản Hiện tại, sản xuất nông nghiệp trong nước đang bị tụt hậu so với Lào và Campuchia, với thiệt hại 25-30% sản lượng rau quả do thiếu hệ thống vận chuyển và bảo quản lạnh Trong tương lai gần, thị trường logistics sẽ được cải thiện khi các công ty và nhà đầu tư chú trọng vào chuỗi lạnh, không chỉ tập trung vào chi phí mà còn vào chất lượng và giá trị tổng thể của chuỗi cung ứng.

Tại Việt Nam, nhu cầu chuỗi cung ứng chủ yếu tập trung vào bốn loại hàng hóa chính: thủy sản, thịt, trái cây và rau, cùng với hàng tạp hóa bán lẻ Dịch vụ chuỗi cung ứng lạnh tại đây được chia thành hai chức năng chính: logistics lạnh đầu vào và logistics lạnh đầu ra.

Hình 2 : Chuỗi logistics lạnh đối với hàng nhập

Hình 3: Chuỗi logistics lạnh đối với hàng xuất khẩu và tiêu thụ nội địa

Chuỗi logistics lạnh đầu vào đảm bảo hàng hoá nhập khẩu được vận chuyển và bảo quản ở nhiệt độ phù hợp trước khi lưu trữ tại các kho lạnh, từ đó phân phối đến các cửa hàng bán lẻ và cơ sở sản xuất chế biến Ngược lại, chuỗi logistics lạnh đầu ra liên quan đến việc vận chuyển hàng hoá đã được sản xuất và chế biến đến kho lạnh với nhiệt độ thích hợp, sau đó tiếp tục vận tải lạnh đến các cửa hàng bán lẻ phục vụ tiêu thụ nội địa hoặc xuất khẩu.

Kho lạnh tại Việt Nam là một ngành mới, phát triển mạnh mẽ trong khoảng 20 năm qua Nhu cầu sử dụng kho lạnh chủ yếu đến từ bốn lĩnh vực chính: thủy sản, thịt, rau quả và bán lẻ Đặc biệt, xuất khẩu thủy sản và hệ thống bán lẻ đang có sự tăng trưởng đáng kể.

Sự phát triển mạnh mẽ của các định dạng bán lẻ hiện đại tại Việt Nam được dự đoán sẽ là yếu tố chính thúc đẩy nhu cầu về kho lạnh và chuỗi cung ứng lạnh.

Hình 4: Tỷ suất lợi nhuận ròng các thành phần trong chuỗi cung ứng lạnh

Nhu cầu phát triển chuỗi cung ứng lạnh đang gia tăng mạnh mẽ, đặc biệt tại các quốc gia phát triển, do toàn cầu hóa và thương mại toàn cầu tăng cao với các sản phẩm dễ hỏng như rau quả, hải sản và hoa tươi Xu hướng tiêu dùng hàng hóa chất lượng cao và an toàn cho sức khỏe cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển này Trong hai thập kỷ qua, các quốc gia có tốc độ tăng trưởng chuỗi lạnh nhanh nhất bao gồm Pháp, Đức, Ba Lan, Tây Ban Nha và Brazil, cùng với sự nổi bật gần đây của Ấn Độ và Trung Quốc.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, xuất khẩu nông sản, hoa quả và thủy sản đang gia tăng, đặc biệt trong thời kỳ đại dịch Covid-19, nhu cầu về các phương pháp lưu trữ và bảo quản sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm trở nên cấp thiết Nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng chuỗi lạnh có thể kéo dài thời gian sử dụng của rau quả từ 2-3 ngày lên đến 7 ngày, giúp các nhà bán lẻ và sản xuất giảm thiểu hao hụt từ 60-70%.

Từ 2 thập niên qua, các quốc gia phát triển như Pháp, Đức, Phần Lan, Tây Ban Nha, Mỹ… đã thúc đẩy đầu tư và trở thành những nước có chuỗi cung ứng lạnh phát triển nhanh nhất thế giới Sản phẩm nông sản ở các nước này có giá trị gia tăng 100%, trong khi Ấn Độ, Trung Quốc lại khiêm tốn hơn, chỉ 7% ở Ấn Độ và 23% ở Trung

Tại Việt Nam, chuỗi cung ứng lạnh đang ngày càng thu hút sự chú ý của các nhà sản xuất và chế biến nông sản, khi họ nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo quản rau quả và nông sản ở nhiệt độ thích hợp Do tính chất dễ hư hỏng, thời vụ và chu kỳ sử dụng ngắn, việc xây dựng một quy trình khép kín và tích hợp từ sản xuất, thu hoạch, chế biến, đóng gói, lưu trữ, vận chuyển đến phân phối cho người tiêu dùng là rất cần thiết Trung Quốc và Ấn Độ cũng đang tìm cách khắc phục vấn đề này, cho thấy xu hướng toàn cầu trong việc tối ưu hóa chuỗi cung ứng lạnh.

Theo báo cáo của Euromonitor năm 2019, thị trường thực phẩm cần vận chuyển lạnh tại Việt Nam đạt 1,2 tỷ USD, không bao gồm thủy sản, và có thể lên tới gần 10 tỷ USD nếu tính cả dược phẩm chăm sóc sức khỏe Ba yếu tố chính thúc đẩy sự hình thành chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam bao gồm: (1) Tổn thất lớn trong phân phối hàng hóa, với tỷ lệ tổn thất trung bình ở nông sản lên tới 25-30% và có thể đạt 45% ở trái cây và rau quả, (2) Sự gia tăng xuất khẩu trong các ngành nông nghiệp, thủy sản, dược phẩm, chế biến thực phẩm và hoa tươi cắt cành.

Xu hướng tiêu dùng hàng đông lạnh đang gia tăng, đặc biệt là với các yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm trên thị trường nội địa và quốc tế.

Kinh nghiệm vận hành và phát triển chuỗi cung ứng lạnh nông sản của một số nước trên thế giới

số nước trên thế giới

Nhu cầu phát triển chuỗi cung ứng lạnh ngày càng gia tăng, bắt nguồn từ các quốc gia phát triển và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố Xu hướng toàn cầu hóa nhanh chóng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển sản phẩm nông nghiệp giữa các quốc gia, dẫn đến sự gia tăng thương mại toàn cầu đối với các mặt hàng dễ hỏng như rau quả và thủy sản Bên cạnh đó, sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa chất lượng cao và an toàn cho sức khỏe đã tạo ra áp lực xã hội, thúc đẩy các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các quốc gia phát triển Cuối cùng, khả năng chuyên môn hóa và hiệu quả của ngành logistics tại những quốc gia này đã góp phần quan trọng vào việc triển khai các chuỗi cung ứng lạnh.

20 ứng lạnh với nhiệt độ tối ưu và khả năng kiểm soát chủ động giúp nâng cao hiệu quả và tốc độ đưa sản phẩm ra thị trường.

Theo báo cáo của Grand View Research, quy mô thị trường chuỗi lạnh toàn cầu dự kiến sẽ tăng 14,8% từ năm 2021 đến 2028, do nhu cầu ngày càng cao trong việc giảm lãng phí thực phẩm và bảo vệ sản phẩm chăm sóc sức khỏe khỏi hư hỏng Nhu cầu về sản phẩm tươi sống cũng đang gia tăng, đặc biệt ở các quốc gia như Trung Quốc và Ấn Độ, nơi đang nỗ lực mở rộng chuỗi lạnh để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu Hơn nữa, tự do hóa thương mại quốc tế đã thúc đẩy việc sử dụng chuỗi lạnh toàn cầu Để thích ứng với sự gia tăng này, các nhà sản xuất cần chuyên biệt hóa sản phẩm của mình nhằm phục vụ đa dạng khách hàng trên toàn cầu.

Thị trường Giám sát Chuỗi lạnh ở Hoa Kỳ ước tính đạt 1,6 tỷ đô la Mỹ vào năm

Tính đến năm 2021, Trung Quốc chiếm 30,83% thị phần trên thị trường toàn cầu Dự báo, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này sẽ đạt quy mô thị trường ước tính 1,59 tỷ USD vào năm 2026, với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 19,4% trong giai đoạn 2021-2027.

Việc áp dụng các hiệp định thương mại tự do như NAFTA và FTA đang thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm dễ hỏng từ Hoa Kỳ và các công ty châu Âu Nhiều doanh nghiệp đang đầu tư vào thiết kế các cơ sở kho lạnh hiện đại và kết nối tốt để tận dụng cơ hội này Khu vực sản xuất tư sản và tình hình kinh tế tích cực đang góp phần vào sự tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường hệ thống kho lạnh tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương.

Dự báo trong khu vực Châu Âu, Đức sẽ có mức tăng trưởng CAGR khoảng 14,4%, trong khi thị trường phần còn lại của Châu Âu dự kiến đạt 1,8 tỷ USD vào cuối giai đoạn 2021-2027 Đồng thời, Mỹ vẫn chiếm ưu thế trên thị trường toàn cầu nhờ vào hệ thống giao thông phát triển.

21 vận tải cũng như mạng lưới phân phối tiên tiến, do đó cho phép các công ty dễ dàng thiết kế các cơ sở dây chuyền lạnh

Ba Lan, quốc gia lớn thứ hai ở Trung Âu, là một thị trường hấp dẫn cho các chuyên gia thực phẩm, tạo điều kiện cho sự phát triển của lĩnh vực hậu cần chuỗi lạnh Với hai hành lang giao thông chính kết nối với Bắc Âu và Trung Á, Ba Lan trở thành trung tâm lương thực khu vực, mở rộng ra ngoài Liên minh Châu Âu đến Trung Đông, Bắc Phi và Châu Á Vị trí địa lý thuận lợi giúp nước này có các liên kết giao thông đường bộ, hàng không và đường sắt phát triển Xuất khẩu lương thực đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nhiều tỷ đô la của Ba Lan, và các nhà xuất khẩu liên tục tìm kiếm dịch vụ hậu cần chuỗi lạnh chất lượng, bao gồm xe tải lạnh, thiết bị làm lạnh và kho bãi Ba Lan sản xuất hơn 15 triệu tấn sữa, 6 triệu tấn rau, 4 triệu tấn trái cây và 2,3 triệu tấn gia cầm hàng năm.

2 triệu tấn thịt lợn, 0,5 triệu tấn rau quả đông lạnh và 0,5 triệu tấn cá và hải sản 4

Hình 5: Sản lượng thực phẩm tại Ba Lan giai đoạn 2012-2019 (đơn vị: kg)

1.5.3 Khu vực các nước ASEAN

Thị trường chuỗi cung ứng lạnh ASEAN được phân khúc thành các dịch vụ như bảo quản, vận chuyển và các dịch vụ giá trị gia tăng Phân khúc này cũng dựa trên loại nhiệt độ, bao gồm ướp lạnh và đông lạnh Ứng dụng của chuỗi cung ứng lạnh bao gồm trái cây và rau quả, các sản phẩm từ sữa như sữa, bơ, pho mát và kem, cũng như cá, thịt, hải sản, thực phẩm chế biến, dược phẩm (bao gồm biopharma) và bánh mì, bánh.

22 kẹo, và các ứng dụng khác), và địa lý (Singapore, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Philippines và các nước còn lại của ASEAN)

Sự gia tăng dân số đô thị và thay đổi trong nhận thức của người tiêu dùng đã tạo ra nhu cầu lớn về vận chuyển và lưu trữ lạnh tại Đông Nam Á, với Thái Lan đạt công suất 940.000 tấn và Việt Nam hơn 500.000 pallet Hoạt động phân phối thực phẩm đang chuyển từ chợ truyền thống sang siêu thị và cửa hàng tiện lợi, nhưng chất lượng dịch vụ chuỗi lạnh địa phương vẫn chưa đồng đều, dẫn đến 90% lãng phí thực phẩm do vận chuyển không đúng cách Đại dịch COVID-19 đã làm thay đổi lớn trong lĩnh vực logistics, cho phép nhà đầu tư nước ngoài sở hữu 100% công ty hợp danh, thúc đẩy hiện đại hóa trong logistics lạnh Tại Philippines, thói quen mua sắm đang chuyển dịch từ chợ truyền thống sang siêu thị, cùng với sự gia tăng xuất khẩu nông sản và sự phát triển của thương mại điện tử, đã tạo điều kiện cho các cơ sở lưu trữ lạnh phát triển Dự án Chuỗi lạnh Philippines (PCCP) do Mỹ hỗ trợ được kỳ vọng sẽ nâng cao cơ sở hạ tầng và logistics chuỗi lạnh, góp phần tăng sản lượng nông nghiệp.

Việt Nam đang đáp ứng các yêu cầu an toàn thực phẩm quốc tế thông qua việc phát triển thị trường dây chuyền lạnh và cải tiến công nghệ Thỏa thuận trị giá 1 tỷ USD giữa Trung Quốc và Việt Nam cho nhập khẩu nông sản đã thúc đẩy sản phẩm nông nghiệp của nước này Các khoản đầu tư này nhấn mạnh tầm quan trọng của môi trường kiểm soát nhiệt độ trong việc tích hợp chuỗi cung ứng và tạo giá trị gia tăng cho khách hàng Tuy nhiên, ngành công nghiệp thực phẩm tại Philippines lại gặp khó khăn do sự phụ thuộc vào du lịch, đặc biệt là trong bối cảnh đại dịch.

Thị trường logistics chuỗi lạnh ở ASEAN đang phát triển với sự kết hợp giữa các công ty toàn cầu và địa phương, chủ yếu do các doanh nghiệp nhỏ và vừa cung cấp dịch vụ Trong khi Singapore có sự hiện diện mạnh mẽ của các công ty lớn như DHL và Nippon Express, nhiều công ty toàn cầu đang đầu tư và mua lại các nhà cung cấp địa phương để mở rộng thị trường, như trường hợp Tasco thuộc Yusen Logistics tại Malaysia Để cạnh tranh, các doanh nghiệp nội địa cũng đang đầu tư vào cơ sở hạ tầng chuỗi lạnh nhằm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế Đồng thời, các công ty Nhật Bản đang tăng cường hoạt động tại ASEAN bằng cách thiết lập các cơ sở vận chuyển và phát triển chuỗi lạnh cho các sản phẩm như trái cây, rau, hoa, mỹ phẩm và hàng tiêu dùng.

Thị trường chuỗi lạnh tại Trung Quốc đang nổi lên như một ngành tiềm năng trong lĩnh vực Logistics, nhờ vào sự thay đổi trong mô hình tiêu dùng và nhu cầu ngày càng tăng đối với thực phẩm tươi sống và thuốc Sự gia tăng thu nhập khả dụng và tốc độ đô thị hóa đã thúc đẩy người tiêu dùng chuyển sang các sản phẩm thực phẩm lạnh Các mặt hàng chính trong Logistics chuỗi lạnh bao gồm thịt, hải sản, thực phẩm đông lạnh, trái cây, rau quả và sản phẩm từ sữa, trong đó thị trường rau quả chiếm lĩnh phân khúc lớn nhất, tiếp theo là thủy sản Chính phủ Trung Quốc cũng đang tăng cường đầu tư và hỗ trợ cho ngành này ở tất cả các cấp.

Đầu tư vào cơ sở hạ tầng chuỗi lạnh là yếu tố quan trọng để mở rộng hoạt động hậu cần chuỗi lạnh Từ năm 2010 đến 2019, thị trường hậu cần chuỗi lạnh tại Trung Quốc đã ghi nhận tốc độ tăng trưởng kép hàng năm đạt 10,5% Các công ty thương mại điện tử lớn như JD.com đang chú trọng hợp tác hoặc thành lập chuỗi kho lạnh tự vận hành nhằm mở rộng dịch vụ giao hàng chuỗi lạnh trong nước.

Thị trường logistics chuỗi lạnh tại Nhật Bản dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng ổn định cho đến năm tài chính 2021, với quy mô ước tính vượt 2 nghìn tỷ Yên Nhật Năm tài chính 2018, quy mô thị trường đã đạt khoảng 1,8 nghìn tỷ Yên, tăng từ 1,7 nghìn tỷ Yên năm trước Logistics chuỗi lạnh bao gồm các dịch vụ thiết yếu để bảo quản thực phẩm trong khoảng nhiệt độ thấp trong quá trình vận chuyển và lưu trữ.

Thị trường chuỗi lạnh toàn cầu đã đạt giá trị 210,49 tỷ USD vào năm 2020 và dự báo sẽ tăng trưởng với tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 14,8% trong những năm tới.

THỰC TRẠNG CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH NÔNG SẢN TẠI VIỆT NAM

Tổng quan về nền nông nghiệp Việt Nam

Ngành nông nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng hàng hóa quy mô lớn và nâng cao năng suất, chất lượng Sản phẩm nông nghiệp Việt Nam đã khẳng định được vị thế trên thị trường quốc tế, xuất hiện tại 185 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản, EU và Hàn Quốc Hiện tại, xuất khẩu nông sản của Việt Nam đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á và thứ 15 trên thế giới, đóng góp một nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho nền kinh tế.

Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, không chỉ đáp ứng nhu cầu nội địa mà còn xuất khẩu một lượng lớn nông sản hàng năm Cơ hội kinh doanh đang mở rộng ở tất cả các cấp của chuỗi giá trị nhờ vào việc nâng cao trình độ sản xuất thông qua áp dụng thâm canh và công nghệ tiên tiến.

Nông nghiệp đóng góp 20% vào tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam, giữ vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Với 66% dân số sống ở nông thôn, lực lượng lao động nông nghiệp và kinh doanh nông nghiệp chiếm 70% tổng số lao động Ngoài việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong nước, Việt Nam còn tích cực tham gia vào thị trường xuất nhập khẩu nông sản.

Theo Tổng cục Thống kê, giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2015-2019 có tốc độ tăng trưởng bình quân kép (CAGR) đạt 7% mỗi năm, trong khi giá trị nhập khẩu tăng 11% mỗi năm Những mặt hàng xuất khẩu hàng đầu bao gồm đồ gỗ, tôm, hạt điều, trái cây và rau quả, cà phê, gạo, cao su và cá tra Đặc biệt, xuất khẩu trái cây và rau quả đã tăng mạnh 105%, từ 1,8 tỷ USD năm 2015 lên hơn 3,75 tỷ USD vào năm 2019.

Hình 6: Tăng trưởng trong nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2015-2019

Giai đoạn 2016-2020, lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản Việt Nam đã khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế, góp phần ổn định đời sống xã hội Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành đạt trung bình 2,54%/năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 138,7 tỷ USD, trong đó năm 2020 đạt 28,7 tỷ USD Tỷ lệ che phủ rừng năm 2020 đạt 42%, 62% xã đạt chuẩn nông thôn mới, và thu nhập bình quân của cư dân nông thôn đạt 41,8 triệu đồng/người Sản xuất nông nghiệp đã có nhiều chuyển biến tích cực, đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của ngành.

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đã ghi nhận mức tăng trưởng 13,4% trong năm 2020 so với năm 2015 Ngành nông nghiệp đạt mức tăng 9,1%, đóng góp 7 điểm phần trăm vào tổng giá trị tăng thêm của khu vực I Ngành lâm nghiệp có mức tăng cao nhất với 27,7%, nhưng do tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 1,2 điểm phần trăm Ngành thủy sản cũng có sự tăng trưởng đáng kể ở mức 26,6%, đóng góp 5,2 điểm phần trăm.

Ngành nông nghiệp Việt Nam, dù gặp khó khăn do dịch bệnh làm tắc nghẽn hoạt động xuất nhập khẩu, vẫn ghi nhận sự tăng trưởng ấn tượng trong những tháng đầu năm 2020 Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tăng trưởng GDP của ngành trong quý III đạt 2,93%, cao hơn so với quý I và II, với lũy kế 9 tháng đầu năm đạt 1,84% Kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng trưởng, ngoại trừ Trung Quốc giảm 7,7% so với cùng kỳ năm trước, trong khi Mỹ trở thành thị trường lớn nhất với kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đạt trên 7,5 tỷ USD.

Hình 7: Biểu đồ kim ngạch xuất nhập khẩu nông sản 9 tháng đầu năm 2020

Đại dịch Covid-19 đã làm thay đổi môi trường kinh doanh toàn cầu, gây ra sự đứt gãy trong chuỗi cung ứng hàng hóa tại Việt Nam, đặc biệt là nông sản Khi các chợ đầu mối đóng cửa, hàng trăm ngàn tấn nông sản bị tắc nghẽn, dẫn đến việc người tiêu dùng ở thành phố phải chịu chi phí cao do thiếu hàng hóa Tiêu thụ nông sản gặp nhiều khó khăn vì thị trường xuất khẩu bị ảnh hưởng, hoạt động kinh doanh bị gián đoạn, lợi nhuận của doanh nghiệp suy giảm, cùng với áp lực về chi phí, phí và thuế.

Xuất khẩu nông sản đang gặp khó khăn khi đơn hàng giảm, tạo áp lực lớn lên chi phí lưu kho, đặc biệt là kho lạnh Điều này dẫn đến tình trạng ứ đọng hàng hóa và tăng chi phí cho các doanh nghiệp.

Năm 2020 và đầu năm 2021, nền kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn, nhưng Việt Nam vẫn đạt tổng kim ngạch xuất khẩu ấn tượng 544 tỷ USD, trong khi nhiều quốc gia khác đối mặt với tăng trưởng âm Xuất khẩu nông sản, với giá trị 41,2 tỷ USD năm 2020 và 22,83 tỷ USD trong 5 tháng đầu năm 2021, đã trở thành thành tựu nổi bật, nhờ sự nỗ lực của nông dân và doanh nghiệp Việt Sản phẩm cây ăn quả Việt Nam không chỉ chiếm lĩnh thị trường nội địa mà còn vươn ra quốc tế, chinh phục các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản, Úc, New Zealand và Thái Lan Giai đoạn 2016-2020, nông sản Việt Nam đã hội nhập sâu rộng hơn, kết nối với các thị trường tiềm năng như Mỹ, EU và Nhật Bản.

Việt Nam hiện là một trong mười đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ, nhưng giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản của nước ta chỉ chiếm khoảng 1-2% tổng giá trị nhập khẩu nông sản của Hoa Kỳ Điều này cho thấy còn rất nhiều tiềm năng để mở rộng xuất khẩu nông sản sang thị trường Mỹ.

Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ dự báo rằng nhập khẩu nông sản của nước này trong năm 2022 có thể đạt 165 tỷ USD, với các nhóm sản phẩm như thủy sản, nông sản nhiệt đới và gia vị chiếm hơn 90% tổng nhập khẩu Ngoài ra, rau quả tươi, hạt thực vật và nước trái cây cũng có tỷ trọng nhập khẩu từ 20-50% Đặc biệt, những sản phẩm mà Việt Nam có thế mạnh cũng nằm trong các nhóm hàng có tỷ trọng nhập khẩu lớn này.

Trung Quốc là thị trường nhập khẩu nông sản lớn thứ hai của Việt Nam, chỉ sau Mỹ Việc xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là khi thực hiện các lệnh và quy định liên quan đến thương mại.

248 và Lệnh 249 Bên cạnh đó, Trung Quốc vẫn siết chặt nhập khẩu bởi chính sách

“Zero COVID” với tất cả các nước nhập khẩu, nên việc kiểm soát hàng hóa từ khâu đóng gói, vận chuyển để đảm bảo trong kiểm soát dịch

Trong quý I năm 2022, xuất khẩu nông sản Việt Nam ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ, với tổng giá trị đạt gần 5,5 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước.

Hình 8: Xuất khẩu nông lâm thủy sản quý I/2022

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Việt Nam hiện đang gặp phải vấn đề lớn trong việc cung cấp sản phẩm nông nghiệp thô, với tỷ lệ tổn thất trung bình trong quá trình thu hoạch, chế biến, lưu trữ và vận chuyển lên đến 25-30% Đặc biệt, đối với trái cây và rau quả, tỷ lệ tổn thất có thể đạt tới 45%, trong khi các sản phẩm thủy hải sản là 35% Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do tiêu chuẩn cơ giới hóa và khả năng vận hành chuỗi cung ứng lạnh còn thấp Theo báo cáo mới nhất của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam chỉ đạt 55,7 điểm trong hoạt động chuỗi cung ứng trên thang điểm 100, cho thấy cần có những cải thiện đáng kể để nâng cao hiệu quả trong ngành nông sản.

31 điểm về quản lý chất lượng sản phẩm và 48,4 điểm về thương mại kinh doanh nông sản 9

Hoạt động chuỗi cung ứng lạnh nông sản tại Việt Nam

Ngành nông nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển quan trọng, chuyển dịch sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn với năng suất và chất lượng cao Năng lực sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực này ngày càng được nâng cao, giúp nông sản Việt Nam khẳng định vị thế trên thị trường toàn cầu Hiện nay, nông sản Việt Nam đã có mặt tại 185 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm nhiều thị trường chất lượng cao như Mỹ, Nhật Bản, EU và Hàn Quốc.

9 ABA Cooltrans, 2021 https://aba.com.vn/chuoi-cung-ung-lanh-mat-xich-quan-trong-thuc-day-xuat-khau-nong-san-viet- nam

Việt Nam hiện đứng thứ 2 Đông Nam Á và thứ 15 trên thế giới về xuất khẩu nông sản, đóng góp quan trọng vào nguồn thu ngoại tệ của đất nước Tuy nhiên, việc bảo quản lạnh chỉ được chú trọng đối với thủy hải sản, trong khi các nông sản khác vẫn chưa được áp dụng rộng rãi Chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam còn gặp nhiều vấn đề như cơ sở hạ tầng yếu kém và thị trường phân mảnh, khiến cho việc bảo quản nông sản từ ruộng đến thị trường toàn cầu chưa hiệu quả Theo Tổng cục Thống kê, giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong giai đoạn 2015-2019 tăng trưởng trung bình 7% mỗi năm, với các mặt hàng xuất khẩu hàng đầu như đồ gỗ, tôm, hạt điều, trái cây, rau quả, cà phê, gạo, cao su và cá tra, trong đó trái cây và rau quả tăng mạnh 105% từ 1,8 tỷ USD năm 2015 lên hơn 3,75 tỷ USD năm 2019.

Thị trường kho lạnh trong chuỗi cung ứng lạnh hiện nay chủ yếu do các doanh nghiệp nước ngoài chiếm ưu thế, không chỉ về chất lượng mà còn về khả năng quản lý hàng hóa Sự khác biệt này có thể được thể hiện rõ ràng qua bảng so sánh dưới đây.

Bảng 1 So sánh các nhóm cung cấp kho lạnh thương mại ở Việt Nam

Hàng năm, phòng Thương mại và Công nghiệp thống kê số liệu về thất thoát hàng hoá, với mục tiêu năm 2020 của Việt Nam là giảm tổn thất cho lúa gạo xuống còn 5-6% và thuỷ hải sản, rau quả giảm 10% Do đó, nhu cầu cho chuỗi cung ứng lạnh trở nên cấp thiết Theo FiinGroup, thị trường chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam rất phân mảnh với khoảng 44 công ty cung cấp dịch vụ lạnh chủ yếu cho ngành thực phẩm Sự phát triển mạnh mẽ của các nhà bán lẻ, với số lượng cửa hàng tăng lên 4200 vào năm 2018, đã tạo ra nhu cầu lớn cho dịch vụ logistics Tình hình cung cầu dịch vụ logistics lạnh tại Việt Nam vào năm 2019 ước tính có kích cỡ thị trường khoảng 169 triệu USD, với hơn 700 xe tải lạnh và gần 50 kho lạnh chứa hơn 600.000 pallet, trong khi tổng sản lượng container lạnh qua cảng biển chiếm khoảng 11% tổng số lượng container.

Hình 9: Số kho lạnh của doanh nghiệp logistics

Nguồn: Viện Nghiên cứu và phát triển logistics Việt Nam (VLI)

Sự phát triển của hệ thống kho lạnh tại Việt Nam gắn liền với nhu cầu ngày càng cao về thực phẩm tươi sống và an toàn Đảm bảo chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm trong toàn bộ chuỗi cung ứng nông sản từ trang trại đến bàn ăn là vô cùng quan trọng, thúc đẩy sự tăng trưởng của các doanh nghiệp trong lĩnh vực chuỗi lạnh tích hợp Tuy nhiên, việc duy trì kiểm soát nhiệt độ trong chuỗi lạnh đòi hỏi doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn so với các chuỗi cung ứng thông thường.

Container lạnh sử dụng công nghệ tự phát điện bằng dầu diesel, giúp giảm sự phụ thuộc vào điện năng so với container lạnh thông thường Mặc dù phương thức vận chuyển hàng không cũng có khoang lạnh, nhưng chi phí cao và sự phụ thuộc vào nhu cầu chở khách khiến nó ít phổ biến cho nông sản Do đó, nông sản xuất khẩu chủ yếu được vận chuyển bằng đường bộ và đường biển sang Trung Quốc và các nước khác, với thời gian vận chuyển quốc tế dài, yêu cầu bảo quản trong container lạnh để đảm bảo chất lượng Hệ thống xe tải lạnh hiện vẫn hạn chế, chủ yếu được sử dụng bởi một số doanh nghiệp và siêu thị lớn.

Hình 10: Trang thiết bị đang sử dụng phục vụ hàng lạnh

Nguồn: Viện Nghiên cứu và phát triển logistics Việt Nam (VLI)

Theo khảo sát về trang thiết bị phục vụ nông sản hàng lạnh, container lạnh là thiết bị được sử dụng nhiều nhất, chiếm 70% số doanh nghiệp tham gia khảo sát Tiếp theo là phần mềm quản lý vận tải, xe container và xe tải thùng kín Tuy nhiên, các thiết bị chuyên dụng cho vận tải hàng lạnh như túi giữ nhiệt, vách ngăn cách nhiệt cho xe tải, máy chiếu xạ và máy hấp nhiệt vẫn chưa được chú trọng đầu tư nhiều.

Trong bối cảnh xung đột Nga - Ukraine vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc, Trung Quốc đã siết chặt hoạt động sản xuất và thương mại, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chuỗi cung ứng toàn cầu Từ tháng 5/2022, tình trạng kẹt cảng và tắc biên ở Trung Quốc ngày càng trở nên nghiêm trọng, khiến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, logistics và sản xuất trong các ngành dệt may, da giày, điện tử gặp khó khăn do gián đoạn trong việc vận chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa.

Xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Trung Quốc đang đối mặt với nhiều rủi ro và giảm sút đáng kể Trung Quốc đã siết chặt quy trình nhập khẩu, khiến doanh nghiệp gặp khó khăn nếu có sai sót trong thủ tục Những trục trặc này không chỉ gây ách tắc hàng hóa tại cảng mà còn gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, giá trị xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc trong quý I năm 2022 tiếp tục giảm.

Xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc đã giảm hơn 25% so với cùng kỳ năm 2021, chỉ còn hơn 455 triệu USD Việc xuất khẩu chính ngạch bằng tàu biển cũng gặp rủi ro do thời gian vận chuyển kéo dài và cước phí tăng cao Khi Trung Quốc đóng cảng, các giao dịch vận chuyển bị xáo trộn, dẫn đến việc giá cước tăng thêm 15%-20% trong hơn một tháng qua Đặc biệt, giá cước cho hàng container lạnh cao hơn nhiều, với mức trung bình khoảng 200 triệu đồng cho một container lạnh và 100 triệu đồng cho container khô, tăng gấp đôi so với đầu năm 2022 Nguyên nhân bao gồm thiếu container rỗng, chi phí xăng dầu, xếp dỡ, và các chi phí phát sinh do tình trạng kẹt cảng tại Trung Quốc.

Quá trình đô thị hóa nhanh chóng và thu nhập gia tăng tại Việt Nam đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của các dịch vụ bán lẻ hiện đại và thức ăn nhanh Mặc dù chợ truyền thống và cửa hàng bách hóa vẫn chiếm ưu thế, nhưng các mô hình bán lẻ hiện đại đang tăng trưởng nhanh chóng Saigon Co.op, nhà bán lẻ lớn nhất trong ngành hàng tiêu dùng nhanh, đã mở rộng mạng lưới siêu thị và siêu thị mini, đặc biệt tại các tỉnh và thị xã vào cuối năm 2019, dẫn đến sự gia tăng số lượng siêu thị trên toàn quốc.

Hình 11: Số lượng các TTTM, siêu thị và chợ truyền thống tại Việt Nam

Nhu cầu về dịch vụ lạnh ở khu vực tỉnh và nông thôn đang có nhiều tiềm năng phát triển Theo dữ liệu từ Q&me, số lượng siêu thị nhỏ và cửa hàng tiện lợi đã tăng mạnh từ 1.334 cửa hàng vào năm 2017 lên 5.228 cửa hàng vào tháng 3 năm 2020 Bên cạnh đó, sự hiện diện của các trung tâm lớn như AEON, LOTTE, Big C, Metro và các khu chung cư hiện đại như Royal City, Times City, Vinhome, cùng với sự phát triển ổn định của chuỗi thức ăn nhanh và sự phổ biến của các nhà hàng phục vụ nhanh, đều góp phần gia tăng nhu cầu về dịch vụ lạnh.

Hình 12: Số lượng cửa hàng bán lẻ hiện đại ở Việt Nam (2017-2020)

Với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống siêu thị và sự mở rộng ra các khu vực ngoại thành, nhu cầu vận chuyển thực phẩm tươi sống trong nước ngày càng tăng cao Tuy nhiên, vị trí của các kho lạnh và trang trại sản xuất phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu thường xa, dẫn đến nhu cầu cấp thiết về dịch vụ vận chuyển hàng lạnh Hiện nay, nhiều công ty vận tải đã đầu tư vào lĩnh vực này, trong đó có một số công ty tiêu biểu như ABA, Bình Minh Load, Agility, Bảo An và Toàn Thắng, theo báo cáo Logistics Việt Nam.

Từ năm 2019, thị trường dịch vụ chuỗi lạnh tại Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn cho nhiều công ty logistics đa quốc gia Sự gia tăng này phản ánh chiến lược mở rộng địa lý của các doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng ngày càng cao.

Thị trường chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam hiện nay đang có tiềm năng phát triển vô cùng lớn bởi

Đánh giá về chuỗi cung ứng lạnh nông sản tại Việt Nam

Tại Việt Nam, chuỗi cung ứng lạnh đang dần được công nhận với tiềm năng đầu tư và kinh doanh mở rộng Lợi ích của chuỗi cung ứng lạnh bao gồm giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả và giảm thiệt hại cho các mặt hàng dễ hư hỏng như rau quả, thủy sản, nông sản, hoa tươi, gia cầm, đồ uống và thực phẩm đông lạnh Điều này không chỉ hỗ trợ xuất khẩu mà còn nâng cao tiêu dùng trong nước.

Chuỗi cung ứng lạnh không chỉ đảm bảo an toàn và vệ sinh thực phẩm mà còn bảo vệ sức khỏe con người và môi trường, đồng thời giảm phát thải carbon Tổng thể, nó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy nền kinh tế bền vững Thị trường logistics lạnh hiện đang phát triển mạnh mẽ và dự báo sẽ thu hút thêm nhiều doanh nghiệp tham gia trong tương lai.

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO), 63% tổn thất thực phẩm xảy ra trong quá trình thu hoạch, thu gom, vận chuyển và lưu trữ Vận chuyển hàng đông lạnh là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng lạnh, giúp các doanh nghiệp cung cấp thực phẩm tươi sống và chế biến giảm thiểu tổn thất và duy trì chất lượng sản phẩm.

Chất lượng nông – thủy sản, dù tốt đến đâu, cũng có thể bị giảm sút nếu không được bảo quản kỹ trong quá trình vận chuyển, dẫn đến hao hụt và tổn thất cho doanh nghiệp Hệ thống kho lạnh hiện đại chỉ phát huy hiệu quả khi kết hợp với hệ thống vận tải lạnh hoàn chỉnh; nếu không, việc vận chuyển hàng đông lạnh sẽ nhanh chóng làm suy giảm chất lượng sản phẩm Do đó, vai trò của việc bảo quản và vận chuyển đúng cách là vô cùng quan trọng.

Chuỗi cung ứng lạnh đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong quy trình vận chuyển hàng hóa đông lạnh, và phương thức vận tải này có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế.

Chuỗi lạnh đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện an ninh lương thực toàn cầu, cung cấp dinh dưỡng và thuốc tốt hơn cho những khu vực xa xôi Nó cũng hỗ trợ nghiên cứu khoa học và y tế thông qua chuỗi lạnh ngược Hệ thống logistics kiểm soát nhiệt độ là yếu tố thiết yếu trong kinh doanh hiện đại, mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp, bao gồm khả năng bảo quản sản phẩm tốt hơn, giảm thiểu lãng phí, và nâng cao chất lượng dịch vụ.

− Giảm hư hỏng sản phẩm - dẫn đến giảm chi phí thay thế hàng tồn kho và tăng doanh thu trên mỗi lô hàng

− Khả năng sản phẩm bị hư hỏng đến tay khách hàng thấp hơn - có nghĩa là ít trách nhiệm pháp lý hơn

− Chất lượng sản phẩm tốt hơn và tính nhất quán - dẫn đến dịch vụ khách hàng tốt hơn và sự hài lòng

− Phạm vi vận chuyển lớn hơn - giúp thúc đẩy xuất khẩu và mở ra các cơ hội thị trường mới

Việc tuân thủ quy định trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, đặc biệt trong lĩnh vực vận chuyển thực phẩm và sản phẩm y tế, nơi mà các tiêu chuẩn nghiêm ngặt đang được áp dụng và thực thi trên toàn cầu.

Một chuỗi cung ứng lạnh hiệu quả là yếu tố then chốt cho các nhà nhượng quyền và nhà cung cấp dịch vụ bán lẻ, giúp họ xây dựng mạng lưới toàn cầu và khai thác cơ hội tăng trưởng tại các thị trường mới nổi.

Hơn 70% dân số toàn cầu hiện đang sinh sống tại các nền kinh tế đang phát triển hoặc mới nổi, tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh hấp dẫn cho các công ty muốn khai thác những thị trường này.

Các công ty mạo hiểm đang tìm cách tối ưu hóa dịch vụ logistics hiện đại với kiểm soát nhiệt độ, nhằm mở rộng khả năng vận chuyển hàng hóa dễ hư hỏng với khối lượng lớn và khoảng cách xa hơn.

Thị trường logistics cung ứng lạnh tại Việt Nam đang chứng kiến sự gia tăng của các nhà đầu tư nước ngoài, nổi bật với việc phát triển hệ thống kho lạnh quy mô lớn, điển hình như Emergent.

Thị trường vận chuyển hàng lạnh tại Việt Nam chủ yếu được nắm giữ bởi các doanh nghiệp nội địa như Tân Bảo An, ABA Cooltrans, cùng với các công ty như Cold Việt Nam (trước đây là Swire Cold Storage Việt Nam), CLK Cold Storage và FM Logistics.

Chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ nhờ vào sự gia tăng của các định dạng bán lẻ hiện đại như siêu thị, mini shop và cửa hàng tiện lợi Người tiêu dùng ngày càng chú trọng đến chất lượng sản phẩm và có nhu cầu cao về thực phẩm đảm bảo chất lượng và dinh dưỡng Tuy nhiên, quá trình phát triển này cũng đối mặt với nhiều thách thức không nhỏ.

Hơn ai hết, các nhà bán lẻ thấu hiểu tình cảnh không ít các sản phẩm tươi sống

Tình trạng thất thoát nặng nề sau thu hoạch, lên đến 20 - 25%, cho thấy sự cần thiết của chuỗi cung ứng lạnh trong việc duy trì chất lượng sản phẩm từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng Điều này đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các khâu trong chuỗi cung ứng lạnh, bao gồm xử lý làm mát tạm thời, lưu trữ trong kho lạnh, vận chuyển và trưng bày tại các cơ sở bán lẻ Tuy nhiên, hiện nay, sự liên kết giữa các khâu này vẫn chưa thực sự hiệu quả.

Công nghệ sau thu hoạch tại Việt Nam trong nông nghiệp đang phát triển chậm và chưa đồng bộ, dẫn đến tỷ lệ tổn thất cao trong thu hoạch, chế biến, lưu trữ và vận chuyển nông sản, với tổn thất lên đến 45% cho trái cây và rau quả, 35% cho thủy hải sản Tình trạng này cũng xảy ra trong ngành Y tế, khi vắc-xin không được bảo quản đúng cách, có thể dẫn đến tình trạng vắc-xin bị bất hoạt, gây hậu quả nghiêm trọng nếu tiêm vào bệnh nhân Điều này cho thấy sự thiếu đầu tư vào cơ sở hạ tầng và công nghệ, cũng như sự đứt gãy trong chuỗi cung ứng lạnh, có thể xảy ra ở bất kỳ khâu nào từ kho lạnh đến chất lượng phương tiện vận chuyển Đầu tư vào hạ tầng công nghệ là vấn đề then chốt cần được ưu tiên.

Định hướng phát triển

Việt Nam là một quốc gia nổi bật trong sản xuất và xuất khẩu nông hải sản, đòi hỏi một chuỗi cung ứng lạnh hiệu quả Để đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm ngày càng nghiêm ngặt của thị trường xuất khẩu và giảm thiểu tổn thất trong chuỗi cung ứng hàng hóa tươi sống, các doanh nghiệp cần chú trọng vào giá trị, chất lượng và tính liên tục của chuỗi Việc nâng cấp công nghệ và cải thiện năng lực vận hành chuỗi cung ứng lạnh là điều thiết yếu để đạt được những mục tiêu này.

Sự phát triển nhanh chóng của cuộc sống đã thúc đẩy ngành công nghiệp thực phẩm sản xuất nhiều sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng, từ đó làm tăng trưởng thị trường thực phẩm đông lạnh Giao dịch quốc tế trong lĩnh vực thực phẩm ngày càng trở nên cần thiết nhờ vào sự cải tiến liên tục của các phương tiện vận tải Sự gia tăng tiêu thụ thực phẩm chế biến tại các thị trường mới nổi như Châu Á Thái Bình Dương và Nam Mỹ đã góp phần vào doanh số bán hàng thực phẩm đông lạnh, trong khi nhu cầu tại các khu vực đang phát triển được thúc đẩy bởi sự gia tăng thu nhập sau thuế.

Các ngành công nghiệp như đóng gói bao bì và tăng cường hạn sử dụng thực phẩm đang phát triển mạnh mẽ trong thị trường thực phẩm đông lạnh Các công ty thực phẩm hiện đang đầu tư vào công nghệ để bảo quản bột nhào ủ lạnh, rau củ quả, thịt đông lạnh, cũng như thực phẩm nấu chín một phần và hoàn toàn, nhằm kéo dài thời gian bảo quản sản phẩm.

Sự phát triển trong bối cảnh bán lẻ và tiến bộ công nghệ trong chuỗi cung ứng lạnh đang thúc đẩy thị trường thực phẩm đông lạnh toàn cầu Tuy nhiên, sự ưu tiên đối với sản phẩm thực phẩm tươi và tự nhiên, cùng với việc duy trì nhiệt độ ổn định, là những yếu tố hạn chế cho thị trường này Mua sắm thực phẩm trực tuyến và sự phát triển của các ứng dụng mới trong lĩnh vực bán lẻ đang tạo ra cơ hội cho thị trường thực phẩm chế biến, từ đó thúc đẩy sự tăng trưởng của thị trường thực phẩm đông lạnh.

Cầu hóa của Internet và sự phổ biến của điện thoại thông minh đã làm cho các cửa hàng mua sắm bán lẻ trở thành nền tảng quan trọng để các công ty giới thiệu và bán sản phẩm.

Để đảm bảo và duy trì chất lượng sản phẩm nông sản, thủy hải sản và dược phẩm, việc thành lập dịch vụ hậu cần chuỗi lạnh là rất cần thiết cho sự phát triển của Việt Nam Do đó, cần tăng tốc phát triển vận tải lạnh và kho bãi lạnh để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao.

Giải pháp cho doanh nghiệp

Quản lý dây chuyền lạnh là một chiến lược quan trọng nhằm duy trì chất lượng sản phẩm trong quá trình vận chuyển bằng cách kiểm soát nhiệt độ Mục tiêu chính của quản lý dây chuyền lạnh là thiết lập quy trình để bảo đảm chất lượng sản phẩm và tuân thủ các quy định toàn cầu cũng như tiêu chuẩn ngành liên quan đến lưu trữ, xử lý và phân phối các sản phẩm nhạy cảm với nhiệt độ.

Việc duy trì nhiệt độ sản phẩm trong quá trình vận chuyển là cực kỳ quan trọng, đặc biệt đối với dược phẩm, thực phẩm, đồ uống và các sản phẩm có giá trị cao Gần một nửa số vắc xin bị lãng phí do không được giữ trong phạm vi nhiệt độ thích hợp trong chuỗi cung ứng Tổ chức Y tế Thế giới cho biết, các nhà sản xuất chỉ thử nghiệm hiệu lực vắc xin trong một khoảng nhiệt độ nhất định, và hiệu quả bên ngoài các khoảng này chưa được xác nhận Hơn nữa, vắc xin là sinh vật sống cần được bảo quản lạnh, và các sinh vật chết có thể trở nên kém hiệu quả nếu không được giữ trong điều kiện làm lạnh.

Giám sát tình trạng hàng trong thời gian thực ngày càng trở nên quan trọng trong chuỗi cung ứng lạnh, đặc biệt đối với các sản phẩm tươi, đông lạnh và dược phẩm Điều này giúp doanh nghiệp xác định chính xác "sức khỏe" của lô hàng, đảm bảo chất lượng và an toàn cho sản phẩm nhạy cảm với nhiệt độ Các giải pháp dây chuyền lạnh đã trở thành yếu tố thiết yếu trong quản lý chuỗi cung ứng, với giám sát thời gian thực là một quy trình hiệu quả để quản lý vận chuyển sản phẩm.

Các giải pháp theo dõi nhiệt độ dựa trên đám mây và thời gian thực hỗ trợ IoT đã nâng cao an toàn thực phẩm bằng cách tăng tính minh bạch và hợp tác trong chuỗi cung ứng, giảm điểm rủi ro và giúp thương hiệu giảm lãng phí sản phẩm Cải thiện quản lý dây chuyền lạnh trong vận chuyển cũng góp phần giảm lượng khí thải carbon từ chất thải thực phẩm Tuổi thọ sản phẩm thực phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm và cú sốc ảnh hưởng đến sinh vật, vì vậy việc theo dõi và kiểm soát các điều kiện này là cần thiết để ngăn chặn lãng phí thực phẩm và giảm khí thải carbon.

Trong chuỗi lạnh, các lô hàng nhỏ hoặc chưa được đóng gói trong thùng chứa tổng hợp dễ bị biến động nhiệt độ Để giảm thiểu rủi ro này, việc kiểm soát nhiệt độ trong kho lạnh là cần thiết, bên cạnh việc sử dụng công nghệ hiện đại Sắp xếp gói hàng hợp lý cũng giúp phát hiện các điểm nóng và biến động nhiệt độ ở các gói riêng lẻ, đặc biệt là những gói gần cửa kho lạnh, so với phần còn lại của lô hàng.

Số hóa giấy tờ giúp giảm thiểu lỗi trong thủ tục xuất nhập khẩu và nâng cao tính minh bạch Các công ty Việt Nam cần chuẩn bị đối phó với các vụ kiện thương mại quốc tế từ đối thủ nước ngoài, đặc biệt là từ EU Đối với thị trường yêu cầu cao về nguồn gốc sản phẩm và an toàn, doanh nghiệp cần chú trọng vào tính minh bạch trong giấy tờ và báo cáo hàng hóa Đối với nông sản, doanh nghiệp logistics nên đầu tư vào kho bảo quản lạnh tại vị trí thuận lợi gần cảng lớn và các trung tâm kiểm nghiệm, nhằm tối ưu hóa quy trình đóng gói, phân loại và xuất khẩu Giá thuê đất cao tại các khu vực này cùng với rủi ro trong xuất khẩu nông sản do dịch bệnh và thời tiết, đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược hợp lý.

Việc xác định và phát triển hệ thống kho bảo quản lạnh là yếu tố thiết yếu để xây dựng hạ tầng logistics cho các chiến lược xuất khẩu trong tương lai Chất lượng nông sản phụ thuộc lớn vào hệ thống kho lạnh, nơi kiểm định và quá trình vận chuyển Do đó, các doanh nghiệp logistics nên hợp tác với các chuyên gia trong và ngoài nước để được tư vấn và giám sát việc xây dựng hệ thống kho bảo quản lạnh đạt tiêu chuẩn quốc tế Điều này sẽ giúp nông sản sau thu hoạch được bảo quản tốt nhất, đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng và thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng trong và ngoài nước.

Kiến nghị với các bộ ban ngành

Hoạt động logistics là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả của chuỗi lạnh tại Việt Nam Để phát triển ngành logistics trong tương lai, Chính phủ cần chú trọng đến những vấn đề quan trọng.

Xây dựng và triển khai các chiến lược phát triển ngành logistics trong nước là rất quan trọng, đặc biệt là trong việc phát triển chuỗi lạnh nông sản Cần chỉ đạo phương án kết nối các doanh nghiệp logistics để tăng cường hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau Kế hoạch phát triển chuỗi lạnh cần được liên kết chặt chẽ với các lĩnh vực liên quan như cơ sở hạ tầng, nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, giáo dục đào tạo và phân phối để đạt hiệu quả tối ưu.

Giám sát các quy định về tiêu chuẩn chất lượng cho sản phẩm cần chuỗi lạnh là rất quan trọng Cần thay đổi tư duy của người dân về tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Chất lượng thực phẩm không chỉ cần được đảm bảo mà còn phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường.

− Xây dựng khung pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động logistics trong nước, lấy hoạt động này làm cơ sở cho sự phát triển logistics

Cần điều chỉnh và bổ sung các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp logistics, đồng thời đơn giản hóa và minh bạch hóa cơ chế quản lý Điều này nhằm tránh tình trạng chồng chéo phức tạp, giảm lãng phí và nâng cao trách nhiệm trong các tổ chức, từ đó cải thiện tiến độ thực hiện các dự án.

Xây dựng và đầu tư vào hệ thống cơ sở hạ tầng chất lượng là yếu tố then chốt cho sự phát triển của chuỗi cung ứng lạnh tại các quốc gia Tại Việt Nam, hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém đang cản trở sự phát triển kinh tế và chuỗi cung ứng lạnh cho nông sản Việc nâng cấp cơ sở hạ tầng không chỉ tăng cường hiệu quả hoạt động của toàn bộ chuỗi cung ứng lạnh mà còn giúp giảm chi phí logistics một cách hiệu quả.

Nhà nước nên tăng cường khuyến khích các doanh nghiệp logistics áp dụng công nghệ thông tin và quản lý thông minh trong chuỗi cung ứng lạnh Đồng thời, cần có các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp xuất khẩu nông sản và logistics, đặc biệt là trong việc tiếp cận nguồn vốn đầu tư.

Để nâng cao năng lực cho các chủ thể tham gia chuỗi cung ứng lạnh, cần có trình độ chuyên môn cao và ứng dụng khoa học công nghệ trong vận hành Mặc dù Việt Nam có lực lượng lao động phong phú gần 48 triệu người, nhưng lại thiếu lao động lành nghề và năng suất lao động còn thấp Trình độ ngoại ngữ của người lao động cũng chưa đạt yêu cầu so với các nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Malaysia Để đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng cao của thị trường nước ngoài, cần loại bỏ và giảm thiểu các lỗi sai thủ công do nguồn nhân lực chưa chất lượng.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển trong những năm tới, tuy nhiên cũng đối mặt với không ít thách thức đòi hỏi sự hợp tác từ tất cả các bên liên quan Mặc dù không phải là lĩnh vực mới, nhưng việc phân tích thực trạng và đưa ra giải pháp sáng tạo, công nghệ tiên tiến trong xuất khẩu nông sản là rất cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chuỗi cung ứng toàn cầu Đề tài "Phát triển chuỗi cung ứng lạnh nông sản tại Việt Nam" sẽ làm rõ cấu trúc và thực trạng phát triển của chuỗi cung ứng lạnh, đồng thời chỉ ra các ưu điểm, hạn chế và cơ hội mà Việt Nam cần khai thác Nghiên cứu cũng sẽ đề xuất giải pháp nhằm nâng cao vai trò của chuỗi cung ứng lạnh nông sản trong tương lai Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn còn một số hạn chế do thời gian và nguồn lực, và sẽ tiếp tục cập nhật dữ liệu mới để cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về thị trường chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam.

Ngày đăng: 09/10/2022, 22:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. ABA Cooltrans, 2021, Chuỗi cung ứng lạnh - Mắt xích quan trọng trong việc xuất khẩu nông sản Việt Nam Khác
2. An Thị Thanh Nhàn, 2015, Chuỗi cung ứng lạnh - tiềm năng phát triển ngành logistics Việt Nam, tạp chí Vietnam Logistics Review Khác
3. Bảo An, 2020, Chuỗi cung ứng lạnh lên ngôi giữa đại dịch Covid-19, riêng thị trường tại Việt Nam dự đạt 1,8 tỷ USD vào năm 2021 Khác
4. Báo Người Lao động, 2022, Đứt gãy chuỗi cung ứng, DN Việt thiệt hại nặng 5. Đinh Thị Mỹ Loan, 2019, Chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam: Thị trường rộng mở Khác
8. Quang Anh, 2020, ASL và Ryobi hợp tác phát triển chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam Khác
9. Tạp chí Công thương, (2020), Thị trường chuỗi cung ứng lạnh: Khoảng trống tỷ đô Khác
10. Thời Đại, 2019, Chuỗi cung ứng lạnh – mắt xích quan trọng thúc đẩy xuất khẩu nông sản Việt Nam Khác
11. Thu Hằng (TTXVN/Vietnam+), 2022, Thị trường kho vận lạnh Việt Nam dự kiến đạt 295 triệu USD vào 2025 Khác
12. Trần Thị Anh, Nguyễn Thị Thọ, 2022, Phát triển logistics trong nông nghiệp giải pháp nâng cao giá trị nông sản, Tạp chí Con số và Sự kiện Khác
13. Trần Thị Thu Trang, 2021, Sản xuất nông nghiệp Việt Nam - 5 năm nhìn lại (2016-2020) Khác
15. VITIC tổng hợp, 2018, Chuyên gia Nhật Bản: nhu cầu vận chuyển cho chuỗi cung ứng lạnh ở Việt Nam sẽ tăng mạnh Khác
16. Vũ Long, 2022, Xuất khẩu nông sản tăng mạnh, đưa xuất siêu đạt 3 tỉ USD trong 3 tháng, Báo Lao động.Tài liệu nước ngoài Khác
2. Kotra ,GSO, Emergent Cold and local media and newspapers, 2021, Market research : Cold chain in Viet Nam (part 1) Khác
3. Kotra ,GSO, Emergent Cold and local media and newspapers, 2021, Market research : Cold chain in Viet Nam (part 2) Khác
5. Modor Intelligence, 2020, Asean cold chain logistics market - Growth, Trends, Covid-19 impact, and forecasts (2021-2026) Khác
6. Modor Intelligence, n.d, Poland cold chain logistics market - Growth, Trends, Covid-19 impact, and forecasts (2021-2026) Khác
7. Research and Markets, 2021, China Cold Chain Logistics Industry Outlook to 2025 by Service, Temperature Type, Application and Company (with COVID-19 Impact Analysis) Khác
8. Research and Markets, 2021, Global Cold Chain Monitoring Market Report 2021-2027 - Growing Significance of Farm-to-Fork Trend Elevates Role of Cold Chain Logistics - ResearchAndMarkets.com Khác
9. Statista, 2021, Sales value of the cold chain logistics market in Japan from fiscal year 2016 to 2021(in trillion Japanese yen) Khác
10. Trinity Logistics, 2021, Top 5 trending topics in cold chain Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Mơ hình về chuỗi cung ứng lạnh cơ bản - PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH NÔNG sản tại VIỆT NAM
Hình 1 Mơ hình về chuỗi cung ứng lạnh cơ bản (Trang 13)
Hình 2: Chuỗi logistics lạnh đối với hàng nhập - PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH NÔNG sản tại VIỆT NAM
Hình 2 Chuỗi logistics lạnh đối với hàng nhập (Trang 18)
Hình 3: Chuỗi logistics lạnh đối với hàng xuất khẩu và tiêu thụ nội địa - PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH NÔNG sản tại VIỆT NAM
Hình 3 Chuỗi logistics lạnh đối với hàng xuất khẩu và tiêu thụ nội địa (Trang 18)
Hình 4: Tỷ suất lợi nhuận rịng các thành phần trong chuỗi cung ứng lạnh - PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH NÔNG sản tại VIỆT NAM
Hình 4 Tỷ suất lợi nhuận rịng các thành phần trong chuỗi cung ứng lạnh (Trang 19)
Hình 5: Sản lượng thực phẩm tại Ba Lan giai đoạn 2012-2019 (đơn vị: kg) - PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH NÔNG sản tại VIỆT NAM
Hình 5 Sản lượng thực phẩm tại Ba Lan giai đoạn 2012-2019 (đơn vị: kg) (Trang 22)
Hình 6: Tăng trưởng trong nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2015-2019 (đơn vị: triệu USD) - PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH NÔNG sản tại VIỆT NAM
Hình 6 Tăng trưởng trong nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2015-2019 (đơn vị: triệu USD) (Trang 28)
Hình 7: Biểu đồ kim ngạch xuất nhập khẩu nông sản 9 tháng đầu năm 2020. - PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH NÔNG sản tại VIỆT NAM
Hình 7 Biểu đồ kim ngạch xuất nhập khẩu nông sản 9 tháng đầu năm 2020 (Trang 29)
Trong quý I năm 2022, tình hình xuất khẩu nơng sản tại Việt Nam có những bước tiến  vơ  cùng  lớn  với  nhóm  nơng  sản  chính  đạt  gần  5,5  tỷ  USD,  tăng  12,8%  so  với  cùng kỳ năm ngối - PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH NÔNG sản tại VIỆT NAM
rong quý I năm 2022, tình hình xuất khẩu nơng sản tại Việt Nam có những bước tiến vơ cùng lớn với nhóm nơng sản chính đạt gần 5,5 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm ngối (Trang 31)
Bảng 1. So sánh các nhóm cung cấp kho lạnh thương mại ở Việt Nam - PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH NÔNG sản tại VIỆT NAM
Bảng 1. So sánh các nhóm cung cấp kho lạnh thương mại ở Việt Nam (Trang 33)
Hình 9: Số kho lạnh của doanh nghiệp logistics - PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH NÔNG sản tại VIỆT NAM
Hình 9 Số kho lạnh của doanh nghiệp logistics (Trang 34)
Hình 10: Trang thiết bị đang sử dụng phục vụ hàng lạnh - PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH NÔNG sản tại VIỆT NAM
Hình 10 Trang thiết bị đang sử dụng phục vụ hàng lạnh (Trang 36)
Hình 11: Số lượng các TTTM, siêu thị và chợ truyền thống tại Việt Nam - PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH NÔNG sản tại VIỆT NAM
Hình 11 Số lượng các TTTM, siêu thị và chợ truyền thống tại Việt Nam (Trang 37)
Hình 12: Số lượng cửa hàng bán lẻ hiện đại ở Việt Nam (2017-2020) - PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH NÔNG sản tại VIỆT NAM
Hình 12 Số lượng cửa hàng bán lẻ hiện đại ở Việt Nam (2017-2020) (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w