TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT DÂN SỰ LỚP TM45 4 HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG BUỔI THẢO LUẬN THỨ TƯ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ Giảng viên NGÔ.
Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 liên quan đến tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Các quy định về tài sản dùng để bảo đảm nghĩa vụ theo Bộ luật Dân sự 2015 đã có nhiều thay đổi so với Bộ luật Dân sự 2005 Những thay đổi này ảnh hưởng đến cách thức thực hiện và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan trong các giao dịch dân sự.
Theo khoản 1 Điều 320 Bộ luật Dân sự 2005, vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và phải được phép giao dịch.
Theo Khoản 1 Điều 295 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, ngoại trừ trường hợp cầm giữ tài sản hoặc bảo lưu quyền sở hữu.
Quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 đã loại bỏ điều khoản "được phép giao dịch" và chỉ giữ lại quy định về "trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu" Việc này không có nghĩa là cho phép sử dụng tài sản không được phép giao dịch để đảm bảo, mà là nhằm hướng đến các quy định chung đã được thiết lập để giải quyết vấn đề này.
Theo khoản 2 Điều 320 Bộ luật Dân sự 2005, vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có thể là vật hiện có hoặc hình thành trong tương lai Vật hình thành trong tương lai bao gồm động sản và bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau khi nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được ký kết.
Khoản 3 Điều 295 BLDS 2015 về Tài sản đảm bảo: “3.Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai.”
BLDS 2015 đã loại bỏ khái niệm tài sản hình thành trong tương lai như quy định tại khoản 2 Điều 320 BLDS 2005, nhằm giảm bớt sự khó hiểu và rườm rà Thay vào đó, các quy định liên quan đã được tổng hợp trong phần Tài sản thuộc những vấn đề chung tại Điều 108 BLDS 2015.
BLDS 2015 đã bổ sung quy định quan trọng tại khoản 4 Điều 295 về giá trị tài sản bảo đảm, cho phép giá trị này có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn 3 lần giá trị nghĩa vụ được bảo đảm Quy định này nhằm khắc phục tình trạng yêu cầu tài sản bảo đảm phải có giá trị lớn hơn giá trị nghĩa vụ, điều mà BLDS 2005 chưa giải quyết triệt để.
Theo Bộ luật Dân sự 2015, quy định mới về tài sản có thể dùng để thế chấp đã có sự thay đổi so với Bộ luật Dân sự 2005 Cụ thể, tại khoản 2 Điều 295, quy định rằng tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải được xác định rõ ràng.
- Thứ năm, thay vì ba điều là 320, 321, 322 như ở BLDS 2005 thì BLDS
2015 đã rút ngắn thành một Điều 295 về Tài sản bảo đảm:
“1 Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu.
2 Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được.
3 Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai.
4 Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm.”
Đoạn nào của bản án số 208 cho thấy bên vay dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay?
Theo bản án số 208, ông Phạm Bá Minh, chủ doanh nghiệp cầm đồ Bá Minh, cho biết vào ngày 14/09/2007, bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo đã thế chấp giấy sử dụng sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vay 60.000.000 đồng với thời hạn 6 tháng và lãi suất 3% mỗi tháng Cả bà Khen và ông Thảo đều xác nhận việc thế chấp này để nhận khoản vay từ ông Minh.
Giấy chứng nhận sạp có là tài sản không? Vì sao?
Dựa theo cơ sở pháp lý:
- Khoản 1 Điều 105 BLDS 2015: “1.Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”
Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP định nghĩa giấy tờ có giá bao gồm các loại như cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc và các giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật Những giấy tờ này có giá trị quy đổi thành tiền và được phép giao dịch.
Giấy chứng nhận sạp chỉ xác nhận quyền sử dụng sạp của bà Khen để buôn bán tại chợ Tân Hương, không mang lại quyền sở hữu cho bà Bà Khen chỉ được phép sử dụng sạp mà không có đặc quyền nào khác, và sạp này không được coi là tài sản của bà Do đó, giấy chứng nhận sử dụng sạp không nằm trong danh mục giấy tờ có giá theo khoản 9 Điều 3 Nghị định 163/2006/NĐ-CP và cũng không được xem là vật, tiền hay quyền tài sản, vì vậy giấy chứng nhận sạp không được coi là tài sản.
Việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ dân sự có được Tòa án chấp nhận không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Tòa án không chấp nhận việc sử dụng giấy chứng nhận sạp để đảm bảo nghĩa vụ dân sự Cụ thể, bản án chỉ ra rằng giấy chứng nhận sạp D2-9 tại chợ Tân Hương, do bà Khen đứng tên và cầm cố, chỉ là giấy đăng ký sử dụng sạp chứ không phải quyền sở hữu Do đó, giấy chứng nhận này không đủ cơ sở pháp lý để bà Khen thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho ông Minh.
Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết và cơ sở pháp lý của Tòa án đối với việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ
Theo nhóm tôi, quyết định của Tòa án là hợp lý và có cơ sở pháp lý vững chắc Tòa án đã xác định rằng sạp thịt heo đứng tên bà Khen chỉ là giấy chứng nhận sử dụng sạp D2-9 tại chợ Tân Hương, không phải là quyền sở hữu, do đó không đủ điều kiện để bà Khen thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông Minh Hơn nữa, tài sản cầm cố không thuộc quyền sở hữu của bà Khen, nên bà chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền định đoạt trong giao dịch thế chấp Điều này phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 295 BLDS 2015, nêu rõ rằng tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản hoặc bảo lưu quyền sở hữu.
Tóm tắt Quyết định số 02/2014/QĐ-UBTP ngày 28/2/2014 của Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Chủ thể: Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn Ôn và bà Lê Thị Xanh
Bị đơn: ông Nguyễn Văn Rành
Vào năm 1995, ông Ôn và bà Xanh đã cầm cố 3000m² đất cho ông Rành với giá 30 chỉ vàng 24k Ông Rành sử dụng mảnh đất này để canh tác Hai bên đã thỏa thuận rằng nếu sau 3 năm, ông Ôn và bà Xanh không chuộc lại đất bằng số vàng đã thỏa thuận, ông Rành sẽ có quyền canh tác vĩnh viễn trên mảnh đất đó.
Lí do: Nay Ông Ôn yêu cầu chuộc lại với giá thị trường
Theo quyết định của tòa sơ thẩm, pháp luật hiện hành không công nhận quyền cầm cố quyền sử dụng đất của người sử dụng, do đó, giao dịch này được coi là vô hiệu.
Theo tòa giám đốc thẩm theo hướng cho phép quyền sử dụng đất để cầm cố,công nhận hiệu lực của giao dịch.
Đoạn nào của Quyết định số 02 cho thấy các bên đã dùng quyền sử dụng đất để cầm cố?
Theo Quyết định số 02, vợ chồng ông Nguyễn Văn Ôn và Lê Thị Xanh đã sử dụng quyền sử dụng đất để cầm cố Vào ngày 30-08-1995, họ cùng ông Nguyễn Văn Rành đã thỏa thuận về việc thực đất và lập “Giấy thực đất làm ruộng”, nội dung của giấy này tương tự như việc cầm cố tài sản.
Theo lời khai của nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận là cầm cố đất (BL số 08,
Văn bản hiện hành có cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Nêu cơ sở văn bản khi trả lời?
BLDS 2015: Điều 295 về tài sản bảo đảm
“1 Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu.
2 Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được.
3 Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai.
4 Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm.”
BLDS 2015 không theo hướng liệt kê tài sản, nên chúng ta hiểu theo hướng áp dụng quy định chung về tài sản được quy định tại Điều 105
“1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản ”
Quyền sử dụng đất, theo Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015, được xem là quyền tài sản Điều 295 của Bộ luật này cũng xác nhận rằng quyền sử dụng đất có thể được sử dụng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự, cho phép việc cầm cố quyền sử dụng đất.
Trong Quyết định trên, Tòa án có chấp nhận cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Tòa án đã quyết định cho phép sử dụng quyền sử dụng đất để cầm cố, coi giao dịch thực đất tương tự như giao dịch cầm cố tài sản Theo đó, cần áp dụng nguyên tắc tương tự để giải quyết, vì giao dịch này phù hợp với quy định về cầm cố tài sản trong Bộ luật Dân sự, cụ thể tại Điều 326 và 327 Việc áp dụng các quy định này sẽ bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia giao dịch.
Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án trong Quyết định số 02
Theo quan điểm của nhóm chúng tôi, việc Tòa án chấp nhận quyền sử dụng đất để cầm cố là hợp lý Điều 309 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ về cầm cố tài sản, tạo cơ sở pháp lý cho việc này.
Cầm cố tài sản là hành động mà một bên giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên khác để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ Theo Điều 105 BLDS 2015, tài sản có thể bao gồm quyền sử dụng đất, và Điều 309 BLDS 2015 không cấm việc cầm cố quyền sử dụng đất Việc công nhận quyền sử dụng đất được cầm cố là hợp lý, vì nó không trái đạo đức xã hội và không phương hại đến lợi ích của ai Nếu không công nhận quyền này, sẽ dẫn đến nhiều giao dịch dân sự vô hiệu, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các bên.
Tóm tắt Quyết định số 27/2021/DS-GĐT ngày 02/6/2021 của Toà án nhân dân cấp cao tại Tp Hồ Chí Minh
Chủ thể: Nguyên đơn là Ngân hàng liên doanh V;
Bị đơn là Công ty PT
Vụ việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Ông T và bà H đã thế chấp bất động sản 120,75m² để đảm bảo khoản vay 1,5 tỷ đồng theo hợp đồng tín dụng số 60/2014/HĐTD ngày 14/4/2014 Tuy nhiên, việc ngân hàng nâng hạn mức vay lên 10 tỷ đồng, vượt quá giá trị tài sản thế chấp, là không hợp lý Hơn nữa, chữ ký và chữ viết trong bản cam kết không phải của ông T và bà H, và ngân hàng cũng không cung cấp được chứng minh về việc này.
H đồng ý ký nâng hạn mức vay.
Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của ông T và bà H để thu hồi nợ Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thừa nhận đã tất toán các khoản vay, dẫn đến việc thế chấp chấm dứt Do đó, Ngân hàng có trách nhiệm hoàn trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất cho ông T và bà H.
Tòa án: Quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của ông T cà bà H là không phù hợp.
Trong Quyết định số 27, thế chấp được sử dụng để bảo đảm cho nghĩa vụ nào? Vì sao?
Theo Quyết định 27, công ty PT đã thế chấp quyền sử dụng đất 120,75m² để đảm bảo cho khoản vay 1,5 tỷ đồng Ông T và bà H thực hiện việc thế chấp này nhằm đảm bảo rằng công ty PT sẽ hoàn thành nghĩa vụ với Ngân hàng Trong trường hợp công ty không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, Ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp để bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.
Đoạn nào trong Quyết định số 27 cho thấy Toà án xác định hợp đồng thế chấp đã chấm dứt?
Trong Quyết định số 27, Toà án xác định rằng hợp đồng thế chấp đã chấm dứt, khi nguyên đơn Ngân hàng Việt Nga thừa nhận Công ty PT đã tất toán các khoản vay từ Hợp đồng tín dụng số 60/2014/HĐTD vào các ngày 15/10/2014, 25/10/2014 và 12/11/2014.
Vì vậy, việc thế chấp tài sản của ông T, bà H đã chấm dứt theo quy định tại khoản Điều 357 BLDS năm 2005 và khoản 1 Điều 327 BLDS năm 2015.”
Vì sao Toà án xác định hợp đồng thế chấp nêu trên đã chấm dứt?
Tòa án xác định rằng hợp đồng thế chấp đã chấm dứt do Ngân hàng công nhận Công ty PT đã tất toán các khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 60/2014/HĐTD ngày 14/4/2014 Điều này có nghĩa là nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp đã kết thúc, dẫn đến việc hợp đồng thế chấp cũng chấm dứt theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Việc Toà án xác định hợp đồng thế chấp nêu trên đã chấm dứt có thuyết phục không? Vì sao?
Theo quan điểm của nhóm tôi, việc Tòa án xác định hợp đồng thế chấp đã chấm dứt là hoàn toàn thuyết phục, do yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp không có cơ sở Ngân hàng cũng đã thừa nhận rằng Công ty PT đã hoàn tất việc thanh toán các khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 60/2014/HĐTD ngày 14/4/2014 Hợp đồng thế chấp ban đầu nhằm đảm bảo nghĩa vụ vay 1,5 tỷ đồng, vì vậy khi khoản vay được thanh toán đầy đủ, nghĩa vụ bảo đảm bằng tài sản thế chấp cũng chấm dứt, dẫn đến việc hợp đồng thế chấp cũng sẽ kết thúc, như đã quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Dân sự năm 2015.
“Thế chấp tài sản chấm dứt trong trường hợp sau đây:
1 Nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt.”
VẤN ĐỀ 2: ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM
Tóm tắt Bản án số 90/2019/KDTM-PT ngày 16/8/2019 của Toà án nhân dân
Chủ thể: Nguyên đơn: Ngân hàng N
Bị đơn: Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại V
Vụ việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại V đã ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng N, nhưng không thực hiện thanh toán nợ gốc và chậm trả lãi phát sinh Do đó, Ngân hàng N đã khởi kiện và đề nghị Tòa án can thiệp để giải quyết vấn đề này.
Vào ngày 7 tháng 9 năm 2009, ông Q và bà V đã ký hợp đồng cho mượn tài sản với công ty V Hiện tại, ông bà đang yêu cầu Tòa án xem xét đơn yêu cầu độc lập của mình.
Quyết định của Tòa: chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, buộc Cty
V phải hoàn trả tổng số nợ gốc và lãi của hai hợp đồng tín dụng Nếu không thực hiện nghĩa vụ này, cơ quan thi hành án dân sự sẽ tiến hành phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ Yêu cầu độc lập của ông Q và bà V về việc tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng 1013.2009/HĐTC ngày 07/9/2009 là vô hiệu đã bị bác bỏ.
Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về đăng ký giao dịch bảo đảm
Điều 323 BLDS 2005 Đăng ký giao dịch bảo đảm:
Giao dịch bảo đảm là một loại giao dịch dân sự được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của pháp luật, nhằm thực hiện các biện pháp bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Dân sự.
Việc đăng ký giao dịch bảo đảm phải tuân theo quy định của pháp luật và là điều kiện cần thiết để giao dịch này có hiệu lực, chỉ khi pháp luật có quy định cụ thể.
Theo Điều 298 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật sẽ có giá trị pháp lý đối với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.
1 Biện pháp bảo đảm được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.
Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định.
2 Trường hợp được đăng ký thì biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.
Việc đăng ký biện pháp bảo đảm phải tuân theo quy định của pháp luật hiện hành So với Bộ luật Dân sự 2005, Bộ luật Dân sự 2015 có những điểm mới quan trọng liên quan đến quy trình đăng ký giao dịch bảo đảm.
BLDS 2005 quy định về việc đăng ký “giao dịch” bảo đảm, trong khi BLDS 2015 chuyển sang sử dụng thuật ngữ “biện pháp” bảo đảm Sự thay đổi này phản ánh sự phát triển trong cách tiếp cận pháp lý đối với các hình thức bảo đảm tài sản Các thuật ngữ “giao dịch bảo đảm” và “biện pháp bảo đảm” cần được hiểu rõ để đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật hiện hành.
"Biện pháp bảo đảm" có những khác biệt nhất định Giao dịch đảm bảo là loại giao dịch dân sự được thực hiện theo sự thoả thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật về việc thực hiện biện pháp bảo đảm Vì vậy, thuật ngữ "đăng ký biện pháp bảo đảm" sẽ là sự lựa chọn phù hợp hơn trong bối cảnh này.
BLDS 2015 quy định rằng việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ khi có quy định của luật Sự thay đổi từ cụm từ "pháp luật có quy định" sang "luật quy định" phản ánh sự phù hợp với các quy định của Hiến pháp và các quy định liên quan khác.
Hợp đồng thế chấp số 1013.2009/HĐTC ngày 07/9/2009 có thuộc trường hợp phải đăng ký không? Vì sao?
Hợp đồng thế chấp số 1013.2009/HĐTC ngày 07/9/2009 có thuộc trường hợp phải đăng ký
Căn cứ tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 4 Thông tư số 07/2019/TT-BTP quy định:
Có ba trường hợp chính để đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất: đầu tiên là đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất; thứ hai là đăng ký thế chấp tài sản gắn liền với đất; và cuối cùng là đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất cùng với tài sản gắn liền với đất.
Vì vậy, Hợp đồng thế chấp số 1013.2009/HĐTC ngày 07/9/2009 là hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất nên phải đăng kí
2.3 Hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 đã được đăng ký phù hợp với quy định không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 đã được đăng ký phù hợp với quy định của pháp luật.
Tòa án nhận định rằng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bên thứ ba, ký ngày 07/9/2009, đã được công chứng viên thực hiện đúng quy trình Các bên tham gia hợp đồng, bao gồm bên thế chấp, bên nhận thế chấp và bên vay, đã ký tên trước mặt công chứng viên tại địa chỉ cụ thể Công chứng viên xác nhận rằng ông Q và bà V đã cung cấp đầy đủ giấy tờ tùy thân và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất Ngân hàng cũng đã có Giấy đề nghị công chứng và Biên bản định giá tài sản, tất cả đều được ký và đóng dấu hợp lệ Biên bản định giá có chữ ký của bên thế chấp và bên vay, chứng tỏ quy trình công chứng đã tuân thủ đúng pháp luật và không vi phạm Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005, do đó không thể tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Theo Toà án, nếu không được đăng ký, hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 có vô hiệu không? Vì sao?
có vô hiệu không? Vì sao?
Theo Toà án, nếu không được đăng ký, hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 không bị vô hiệu
Sau khi ký hợp đồng, công chứng viên đã thực hiện công chứng đúng quy trình, với sự xác nhận của bên thế chấp, bên nhận thế chấp và bên vay Các bên đều có đủ giấy tờ cần thiết và nội dung công chứng tuân thủ pháp luật Theo khoản 1 Điều 132 BLDS 2015, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm hình thức hợp đồng là 2 năm Tuy nhiên, hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 được ký kết vào năm 2009, trong khi thời gian khởi kiện là năm 2019, cho thấy đã hết thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu.
Hướng của Toà án như trong câu hỏi trên có thuyết phục không? Vì sao?
Theo nhóm chúng tôi, hướng của Toà án trong câu hỏi trên là không thuyết phục Theo khoản 2 Điều 323 BLDS 2005, việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp pháp luật quy định Điều này có nghĩa là các biện pháp bảo đảm phải được đăng ký mới có hiệu lực pháp lý, còn các biện pháp không bắt buộc đăng ký sẽ không làm hợp đồng vô hiệu Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định rằng “Thế chấp quyền sử dụng đất” là trường hợp phải đăng ký; nếu không đăng ký, hợp đồng thế chấp sẽ bị vô hiệu Tương tự, theo khoản 1 Điều 298 BLDS 2015, việc đăng ký cũng là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực nếu luật có quy định Thông tư số 07/2019/TT-BTP cũng xác định rằng việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất là bắt buộc, và nếu không thực hiện, hợp đồng sẽ bị vô hiệu theo quy định của pháp luật.
Việc Tòa án xem xét Hợp đồng thế chấp không bị vô hiệu là không tuân theo quy định của pháp luật.
Khác biệt cơ bản giữa đặt cọc và cầm cố, đặt cọc và thế chấp
Cầm cố Thế chấp Đặt cọc
Cầm cố là việc một bên chuyển giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong giao dịch dân sự.
Việc một bên sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ mà không giao tài sản cho bên kia khi đã thiết lập giao dịch dân sự là một hình thức bảo đảm quyền lợi trong các giao dịch.
Việc đặt cọc là hành động mà một bên chuyển giao cho bên kia một khoản tiền hoặc tài sản quý giá như kim loại quý, đá quý trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đảm bảo việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
Các trường hợp chấm dứt
1 Nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt
2 Việc cầm cố tài sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác
3 Tài sản cầm cố đã được xử lý
1 Nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt
2 Việc thế chấp tài sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác
3 Tài sản thế chấp đã được xử lý
Không có quy định về trường hợp chấm dứt đặt cọc Tuy nhiên việc đặt cọc sẽ dẫn đến một số vấn đề sau:
1 Nếu hợp đồng được thực hiện, giao kết thì tài sản đặt cọc được trả lại hoặc được trừ khi thực hiện nghĩa vụ trả tiền
2 Nếu bên đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc
Nếu bên nhận đặt cọc từ bên đặt cọc, họ phải hoàn trả tài sản đã đặt cọc cùng với số tiền tương ứng với giá trị tài sản đó, trừ khi có thỏa thuận khác.
Thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về đặt cọc
Theo quy định mới trong Bộ luật Dân sự 2015, quy định về hình thức đặt cọc đã được điều chỉnh so với Bộ luật Dân sự 2005 Cụ thể, điều khoản yêu cầu "Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản" đã bị bãi bỏ, cho thấy pháp luật hiện nay không quy định cụ thể về hình thức đặt cọc Do đó, chỉ cần đảm bảo đúng mục đích của việc đặt cọc mà không cần tuân theo điều kiện về hình thức xác lập.
Theo BLDS, khi nào bên đặt cọc mất cọc, bên nhận cọc bị phạt cọc?
Khoản 2 Điều 328 BLDS 2015 quy định về việc xử lý tài sản đặt cọc trong các hợp đồng Nếu hợp đồng được thực hiện, tài sản đặt cọc sẽ được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ vào nghĩa vụ thanh toán Ngược lại, nếu bên đặt cọc từ chối hợp đồng, tài sản sẽ thuộc về bên nhận đặt cọc Trong trường hợp bên nhận đặt cọc từ chối hợp đồng, họ phải hoàn trả tài sản đặt cọc cùng với một khoản tiền tương đương, trừ khi có thỏa thuận khác.
Bên đặt cọc sẽ mất tiền cọc nếu từ chối ký kết hoặc thực hiện hợp đồng với bên nhận cọc Ngược lại, bên nhận cọc sẽ bị phạt cọc nếu từ chối ký kết hoặc thực hiện hợp đồng với bên đặt cọc.
Nếu hợp đồng được đặt cọc không được giao kết, thực hiện vì lý do khách quan, bên nhận cọc có nghĩa vụ trả lại tài sản đặt cọc cho bên đặt cọc không? Vì sao?
Theo quan điểm nhóm, nếu hợp đồng đặt cọc không được thực hiện do lý do khách quan, bên nhận cọc có trách nhiệm hoàn trả tài sản đặt cọc cho bên đặt cọc Căn cứ vào án lệ số 25/2018, trường hợp hợp đồng không được giao kết vì lý do khách quan, bên nhận cọc phải hoàn trả số tiền cọc cho bên đặt cọc mà không phải chịu phạt cọc.
Tóm tắt Quyết định số 49/2018/KDTM-GĐT ngày 18/10/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh
Chủ thể: Nguyên đơn: Công ty cổ phần TV-TM-DV Hoàng Quân.
Bị đơn: Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Sơn Long Thuận.
Vụ việc: Tranh chấp đòi lại tiền đặt cọc từ việc hủy hợp đồng mua bán cổ phần.
Công ty Ninh Thuận đã bán cổ phiếu cho NĐ, nhưng thực tế cổ phần không thuộc sở hữu của công ty NĐ đã đặt cọc tiền cho công ty Ninh Thuận bằng cách chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của công ty Do giao dịch mua bán cổ phiếu không thành công, công ty Ninh Thuận phải hoàn trả tiền cọc cho NĐ Sau đó, công ty Ninh Thuận tiến hành sáp nhập vào BĐ, và NĐ yêu cầu Tòa án buộc BĐ hoặc ngân hàng hoàn trả số tiền đã cọc cho công ty Ninh Thuận.
Tòa cấp cao đã đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm và phúc thẩm, yêu cầu ngân hàng hoàn trả số tiền cọc mà ngân hàng đã thu nợ từ công ty Ninh Thuận.
Theo Quyết định được bình luận, bên đặt cọc đã chuyển tài sản đặt cọc
Theo Quyết định, bên đặt cọc đã chuyển tài sản đặt cọc cho bên nhận cọc như sau:
Vào ngày 22/02/2008, Công ty Hoàng Quân đã chuyển khoản số tiền đặt cọc vào tài khoản của Công ty Ninh Thuận tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Chi nhánh tỉnh Ninh Thuận.
Theo Tòa giám đốc thẩm trong Quyết định được bình luận, tài sản đặt cọc còn thuộc sở hữu của bên đặt cọc không? Vì sao?
Theo Tòa giám đốc thẩm trong Quyết định, tài sản đặt cọc vẫn còn thuộc sở hữu
Thứ nhất, tiền cọc không thuộc sở hữu của bên nhận cọc Căn cứ Khoản 1 Điều
Theo quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, "Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền trong một thời hạn để đảm bảo giao kết hoặc thực hiện hợp đồng." Do đó, Tòa án nhận định rằng số tiền đặt cọc chưa thuộc sở hữu của bên nhận cọc.
Tiền cọc vẫn thuộc quyền sở hữu của bên đặt cọc, do đó họ có quyền yêu cầu ngân hàng hoàn trả Theo Điều 256 BLDS 2005, chủ sở hữu có quyền yêu cầu người chiếm hữu tài sản phải trả lại tài sản nếu không có căn cứ pháp luật Việc ngân hàng khấu trừ tiền cọc để thu nợ vay là không hợp pháp, vì vậy bên đặt cọc có quyền đòi lại số tiền này từ ngân hàng.
Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến quyền sở hữu tài sản đặt cọc
Theo quan điểm của nhóm, hướng giải quyết của Tòa liên quan đến quyền sở hữu tài sản đặt cọc là hoàn toàn hợp lý
Theo Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, việc đặt cọc chỉ là hành động bên đặt cọc giao tài sản cho bên nhận cọc nhằm đảm bảo việc giao kết và thực hiện hợp đồng Mặc dù Bộ luật không nêu rõ quyền sở hữu tài sản đặt cọc sau khi đặt cọc thuộc về ai, nhưng bản chất của biện pháp bảo đảm này là để bảo vệ quyền lợi của bên đặt cọc Do đó, quyền sở hữu tài sản đặt cọc vẫn thuộc về bên đặt cọc Nếu quyền sở hữu tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận cọc, thì trong trường hợp này, hợp đồng sẽ không còn biện pháp bảo đảm nào và chỉ đơn thuần là hợp đồng mua bán.
Ngân hàng không có quyền thu nợ của bên nhận cọc bằng tiền cọc của bên đặt cọc, vì nợ thuộc về bên nhận cọc trong khi tiền cọc thuộc về bên đặt cọc Do đó, Tòa án đã yêu cầu ngân hàng hoàn trả tiền cho bên đặt cọc theo Điều 256 Bộ luật Dân sự 2005, tương tự như quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015.
Tóm tắt Bản án số 26/2019/DS-PT ngày 11/6/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Chủ thể: Nguyên đơn: Ông Vũ Đình P
Bị đơn: Ông Trần Xuân I
Vụ việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Ông P và ông I đã ký hợp đồng đặt cọc mua bán xe ô tô nhập khẩu Sau khi ông P đặt cọc tiền, ông I không giao xe đúng hạn và đã hoàn trả tiền cọc cho ông P Tuy nhiên, ông P đã quyết định khởi kiện ông I để yêu cầu bồi thường.
I phải trả cả số tiền phạt cọc tương đương với số tiền đặt cọc của ông P
Tòa án đã tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu do lỗi của cả hai bên, vi phạm quy định về điều kiện mua bán xe ô tô nhập khẩu Theo yêu cầu khởi kiện của NĐ, Tòa áp dụng Án lệ số 25/2018/AL để giải quyết, không chấp nhận yêu cầu buộc BĐ phải trả tiền phạt cọc, vì hợp đồng có cản trở khách quan, do đó bên nhận cọc (BĐ) không bị phạt.
Đoạn nào cho thấy Tòa án đã áp dụng Án lệ số 25/2018/AL
Tòa đã áp dụng Án lệ 25/2018/AL trong trường hợp của ông I và ông P, cho thấy rằng ông I không đủ điều kiện để bán ô tô cho ông P, và ông P cũng nhận thức rõ điều này Việc ông I không thực hiện thỏa thuận là do yếu tố khách quan, chứ không phải do cố tình từ chối Do đó, bên nhận cọc không phải chịu phạt cọc khi không thể thực hiện đúng cam kết vì lý do khách quan.
Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 25/2018/AL vào hoàn cảnh trong vụ việc này có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 25/2018/AL vào hoàn cảnh trong vụ việc này là không thuyết phục Vì theo quan điểm của nhóm thì:
Thứ nhất, BLDS không có quy định về trường hợp cản trở khách quan trong bảo biện pháp bảo đảm nghĩa vụ đặt cọc là như thế nào.
Việc xác định "cản trở khách quan" trong Bản án số 46 có sự khác biệt so với Án lệ 25/2018/AL Trong Án lệ, cản trở thực hiện hợp đồng xuất phát từ bên thứ ba, không thuộc ý chí của bên nhận cọc, nhằm mục tiêu cuối cùng là thực hiện hợp đồng, do đó được coi là cản trở khách quan hợp lý Ngược lại, cản trở trong Bản án 26 lại do lỗi của cả bên nhận cọc và bên đặt cọc, không có yếu tố bên ngoài tác động, dẫn đến việc không hiểu biết quy định pháp luật trong giao kết hợp đồng Vì vậy, cản trở này được phân loại là cản trở chủ quan, không phải cản trở khách quan.
Bản chất của Án lệ 25 và Bản án số 26 liên quan đến tình tiết “cản trở khách quan” trong xử lý tài sản đặt cọc có sự khác biệt rõ rệt Do đó, việc áp dụng Án lệ 25 vào Bản án 26 không mang tính thuyết phục trong việc giải quyết tranh chấp.
Việc Tòa án “không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, về việc yêu cầu ông I phải trả số tiền phạt cọc là 450.000.000đ” có phù hợp với Án lệ số 25/2018/AL không? Vì sao?
Việc Tòa án quyết định như vậy không phù hợp với Án lệ 25 vì:
Trong Bản án 26, hợp đồng giữa hai bên không xác định rõ quy định về phạt cọc khi bên nhận cọc không thực hiện hợp đồng, gây khó khăn trong việc xác định nghĩa vụ pháp lý Ngược lại, trong Án lệ 25, bên nhận cọc phải trả tiền phạt cọc theo quy định trong hợp đồng, vì đã có thỏa thuận rõ ràng về việc này Sự khác biệt giữa hai án lệ này có thể dẫn đến hệ quả khác nhau về mức tiền phạt cọc mà bên nhận cọc phải chịu.
Những đặc trưng của bảo lãnh
Về chủ thể, bảo lãnh bao gồm 3 chủ thể: bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh.
Phạm vi bảo lãnh (Điều 336 BLDS 2015):
- Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh.
Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm không chỉ tiền gốc mà còn cả tiền lãi, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và lãi trên số tiền chậm trả, trừ khi có thỏa thuận khác giữa các bên liên quan.
- Các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
Trong trường hợp nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai, phạm vi bảo lãnh sẽ không bao gồm những nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh qua đời hoặc khi pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại.
Thù lao bảo lãnh (Điều 337 BLDS 2015): Bên bảo lãnh được hưởng thù lao nếu bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh có thỏa thuận.
Chấm dứt bão lãnh (Điều 343 BLDS 2015): Bảo lãnh chấm dứt trong trường hợp sau đây:
- Nghĩa vụ được bảo lãnh chấm dứt.
- Việc bảo lãnh được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
- Bên bảo lãnh đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
- Theo thỏa thuận của các bên.
Những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về bảo lãnh
- Điều 335 BLDS 2015, tách ra làm 2 khoản riêng biệt , có sự rạch ròi.
Về hình thức bảo lãnh:
- BLDS 2015 không quy định về hình thức bảo lãnh.
Theo Điều 362 BLDS 2005, việc bảo lãnh bắt buộc phải được lập thành văn bản, có thể dưới dạng văn bản riêng biệt hoặc ghi trong hợp đồng chính Nếu pháp luật có quy định, văn bản bảo lãnh cần phải được công chứng hoặc chứng thực.
Về phạm vi bảo lãnh: So với quy định về phạm vi bảo lãnh quy định tại Điều
363 BLDS 2005, thì Điều 336 BLDS 2015 quy định các khoản rất cụ thể và chi tiết:
Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015, nghĩa vụ bảo lãnh không chỉ bao gồm "tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thoả thuận khác" như quy định tại Bộ luật Dân sự 2005, mà còn mở rộng thêm "lãi trên số tiền chậm trả".
Theo Bộ luật Dân sự 2015, tại khoản 3 Điều 336, có một điểm mới quan trọng là các bên có quyền thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
Theo Bộ luật Dân sự 2015, tại khoản 4 Điều 336 có quy định mới rằng nếu nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai, thì phạm vi bảo lãnh sẽ không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh qua đời hoặc khi pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại.
Về miễn việc thực hiện bảo lãnh:
Theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Dân sự 2015, bên được bảo lãnh không có nghĩa vụ thực hiện đối với bên nhận bảo lãnh, trừ khi có thỏa thuận khác hoặc quy định của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 368 Bộ luật Dân sự 2005, bên được bảo lãnh vẫn có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh, trừ khi có thỏa thuận khác hoặc pháp luật yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh một cách liên đới.
Về quyền yêu cầu của bên bảo lãnh:
Theo Điều 340 Bộ luật Dân sự 2015, bên bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình, trừ khi có thỏa thuận khác Quyền này chỉ áp dụng trong phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh mà bên bảo lãnh đã thực hiện.
Theo Điều 367 Bộ luật Dân sự 2005, bên bảo lãnh chỉ có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi bảo lãnh, sau khi bên bảo lãnh đã hoàn thành nghĩa vụ của mình.
Về việc hủy bỏ việc bảo lãnh:
- BLDS 2015 không có điều khoản quy định việc này.
- Điều 370 BLDS 2005 có quy định việc bảo lãnh có thể được hủy bỏ nếu được bên nhận bảo lãnh đồng ý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Tóm tắt Quyết định số 02/2013/KDTM-GĐT ngày 08/1/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Chủ thể: Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương- Đồng Nai.
Bị đơn là bà Đỗ Thị Tỉnh- chủ doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân
Tranh chấp: về hợp đồng tín dụng.
Vào ngày 26/9/2006, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương - chi nhánh Đồng Nai đã ký hợp đồng tín dụng trị giá 900.000.000 đồng với doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân, kèm theo các điều khoản cụ thể Tài sản đảm bảo cho khoản vay là quyền sử dụng đất của hai vợ chồng ông Miễn và bà Cà, tuy nhiên, sau đó đã xảy ra tranh chấp liên quan đến hợp đồng này.
Tòa án quyết định rằng Doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc phải tiếp tục trả lãi cho khoản nợ gốc, bắt đầu từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong nợ, với mức lãi suất đã được hai bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Đoạn nào cho thấy Tòa án xác định quan hệ giữa ông Miễn, bà Cà với Quỹ tín dụng là quan hệ bảo lãnh?
Tòa án xác định quan hệ giữa ông Miễn, bà Cà với Quỹ tín dụng là quan hệ bảo lãnh Theo đó, nếu Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba có hiệu lực, ông Miễn và bà Cà sẽ phải trả nợ thay cho Chủ DNTN Đại Lộc Tân trong trường hợp doanh nghiệp này không trả nợ hoặc trả không đủ Chỉ khi ông Miễn, bà Cà không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, tài sản thế chấp mới được xử lý để thu hồi nợ.
Suy nghĩ của anh/chị về việc xác định trên của Hội đồng thẩm phán
Việc xác định trên của Hội đồng thẩm phán là hợp lý và đúng với quy định của pháp luật.
Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 335 BLDS 2015: “Bảo lãnh là việc người thứ ba
Bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh rằng sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên này không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ khi đến hạn.
Ông Miễn và bà Cà đã sử dụng tài sản cá nhân của mình để đảm bảo cho khoản vay của Doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân thông qua hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của một bên thứ ba.
01534 ngày 22/9/2006 giữa Qũy tín dụng (bên nhận thế chấp) với ông Miễn và bà
Bà Tỉnh, chủ DNTN Đại Lộc Tân, đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất với ông Miễn và bà Cà, hợp đồng này được UBND xã Thạnh Phú chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm, do đó có hiệu lực pháp lý Nếu bà Tỉnh không thể trả nợ hoặc trả không đủ, ông Miễn và bà Cà sẽ có trách nhiệm thanh toán thay Trong trường hợp ông Miễn và bà Cà cũng không trả nợ đầy đủ, tài sản thế chấp sẽ bị xử lý để thu hồi nợ.
Theo Tòa án, quyền sử dụng đất của ông Miễn, bà Cà được sử dụng để bảo đảm cho nghĩa vụ nào? Vì sao? 21 4.6 Đoạn nào cho thấy Tòa án địa phương đã theo hướng người bảo lãnh và
Theo quyết định của Tòa án, quyền sử dụng đất của ông Miễn và bà Cà đã được dùng để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho bà Đỗ Thị Tỉnh, chủ DNTN Đại Lộc Tân.
Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 335 BLDS 2015: “Bảo lãnh là việc người thứ ba
Bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ khi đến hạn.
Vào ngày 26/9/2006, Quỹ tín dụng đã ký Hợp đồng tín dụng số TC066/02/HĐTD với DNTN Đại Lộc Tân, cho vay 900.000.000 đồng Khoản vay này được đảm bảo bằng quyền sử dụng 20.408 m2 đất, do vợ chồng ông Miễn và bà Cà thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho DNTN Đại Lộc Tân Do đó, vợ chồng ông Miễn và bà Cà có trách nhiệm bảo lãnh cho bà Tỉnh trong nghĩa vụ này.
Tóm tắt Quyết định số 968/2011/DS-GĐT ngày 27/12/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
Chủ thể: Nguyên đơn Vũ Thị Hồng Nhung
Bị đơn Nguyễn Thị Thắng
Tranh chấp: hợp đồng bảo lãnh
Nguyên nhân: Nguyên đơn bà Nhung cho bà Nguyễn Thị Mát mượn số tiền
Bà Nguyễn Thị Thắng đã bảo lãnh số tiền 500.000.000 VNĐ cho bà Nguyễn Thị Mát Tuy nhiên, khi bà Mát không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho bà Nhung, bà Nhung đã yêu cầu bà Thắng phải chịu trách nhiệm thanh toán Bà Thắng không đồng ý với yêu cầu này và cho rằng mình không có nghĩa vụ bảo lãnh cho bà Mát trong trường hợp này.
Tòa sơ thẩm và phúc thẩm đã quyết định bà Thắng và bà Mát phải chịu trách nhiệm thanh toán nợ cho bà Nhung Tuy nhiên, tòa giám đốc thẩm đã hủy hai quyết định này, xác định rằng bà Mát mới là người có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ chính.
Tòa án địa phương đã xác nhận trách nhiệm liên đới giữa người bảo lãnh và người được bảo lãnh trong vụ án của bà Vũ Thị Hồng Nhung, theo quyết định của tòa sơ thẩm huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Quyết định này khẳng định rằng yêu cầu của bà Nhung đã được chấp nhận, thể hiện rõ ràng sự cam kết thực hiện nghĩa vụ đối với người có quyền.
Mát và bà Nguyễn Thị Thắng cùng có nghĩa vụ liên đới chịu trách nhiệm trả cho bà
Vũ Thị Hồng Nhung 700.100.000 đồng.”
Hướng liên đới trên có được Tòa giám đốc thẩm chấp nhận không?
Tòa giám đốc thẩm không chấp nhận hướng liên đới, chỉ ra rằng các cấp tòa án chưa xác định khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự của bà Mát Việc Tòa án cấp sơ thẩm (TAND huyện Trảng Bom) buộc bà Thắng liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự cùng bà Mát là không chính xác.
Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến vấn đề liên đới nêu trên
Theo nhóm, quyết định của Tòa giám đốc về việc cho rằng các phán quyết của tòa sơ thẩm và phúc thẩm về trách nhiệm liên đới giữa bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh là không chính xác là hoàn toàn hợp lý.
Hợp đồng vay tiền giữa bà Mát và bà Nhung là quan hệ dân sự đầu tiên phát sinh, kèm theo hợp đồng bảo lãnh để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ Trong trường hợp bà Mát không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, cần xem xét khả năng của bà Mát để hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng Việc tòa sơ thẩm và phúc thẩm yêu cầu bà Thắng, bên bảo lãnh, chịu trách nhiệm liên đới với bà Mát là không hợp lý, vì bà Thắng chỉ có nghĩa vụ thực hiện biện pháp đảm bảo chứ không phải nghĩa vụ trả nợ.
Theo BLDS, khi nào người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh? 22 4.10 Theo Quyết định, khi nào người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh?
Theo Điều 352 Bộ luật Dân sự 2005, người bảo lãnh có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi đến hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết.
4.10 Theo Quyết định, khi nào người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh?
Theo quy định, người bảo lãnh chỉ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự hoặc chỉ có thể thực hiện một phần nghĩa vụ đó Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét năng lực thực hiện nghĩa vụ của bên được bảo lãnh.
Có bản án, quyết định nào theo hướng giải quyết trên về thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh chưa? Nêu rõ bản án, quyết định mà anh/chị biết
Theo Quyết định số 01/2017/DS-GĐT ngày 06-01-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, chị Nguyễn Thị Bích Thảo đã vay 60 triệu đồng của ông Lê Văn Sang và dùng Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 50/3 đường Xuân An, phường 3, Đà Lạt (do bố mẹ chị Thảo đứng tên) làm tài sản thế chấp Hợp đồng thế chấp được lập vào ngày 09/11/1996 với giá trị 100 triệu đồng và có công chứng hợp pháp Tuy nhiên, chị Thảo đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, dẫn đến việc ông Sang khởi kiện yêu cầu bố mẹ chị Thảo thanh toán khoản nợ Trong vụ án này, trách nhiệm chính thuộc về chị Thảo, và nếu chị không trả được nợ, ông Lộc và bà Phục sẽ phải trả thay, còn nếu họ cũng không có khả năng, ông Sang có quyền yêu cầu bán đấu giá tài sản bảo lãnh để thu hồi nợ.
Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm
Tòa giám đốc thẩm đã đưa ra hướng giải quyết không chính xác về mặt pháp lý Theo Điều 362 Bộ luật Dân sự 2005, nghĩa vụ bảo lãnh chỉ phát sinh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đến thời hạn quy định.
Có hai trường hợp phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh: thứ nhất, bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ; thứ hai, bên đó thực hiện không đúng nghĩa vụ Điều luật cũng quy định rằng các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình Điều này có nghĩa là nếu bà Mát có khả năng thực hiện nghĩa vụ nhưng vẫn không thực hiện, biện pháp bảo lãnh vẫn có thể có hiệu lực nếu các bên không đạt được thỏa thuận chung, theo quy định tại điều 362.