Phân loại 4
Tuỳ theo cách thức phân loại mà TPDN được phân thành nhiều loại, nhưng cơ bản TPDN bao gồm những loại sau:
Căn cứ vào tính chất ghi danh của TPDN
Trái phiếu vô danh là loại trái phiếu không ghi tên chủ sở hữu, do đó bất kỳ ai nắm giữ trái phiếu đều có quyền nhận lãi và thanh toán trái phiếu.
Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu mà thông tin về tên và địa chỉ của chủ sở hữu được ghi rõ ràng trên bề mặt trái phiếu cũng như trong sổ sách của tổ chức phát hành.
Việc chuyển nhượng trái phiếu chỉ có thể thực hiện bằng cách ký hậu và đăng ký với tổ chức phát hành, do tên người sở hữu được ghi trên trái phiếu Vào ngày thanh toán lãi, đại lý của công ty phát hành sẽ gửi séc, tiền mặt hoặc chuyển khoản để trả lãi cho chủ sở hữu trái phiếu.
Căn cứ vào tính chất đảm bảo của TPDN
Trái phiếu có bảo đảm: Đây là loại trái phiếu có tài sản thế chấp đảm bảo.
Khi doanh nghiệp không thể hoàn trả nợ trái phiếu, tài sản sẽ được phát mãi để thanh toán cho trái chủ Tài sản thế chấp có thể bao gồm bất động sản, máy móc thiết bị, nhà xưởng và các loại chứng khoán Tài sản này có thể thuộc về người phát hành hoặc bên thứ ba, hoặc có thể được bảo lãnh thanh toán bởi một tổ chức tín dụng.
Trái phiếu không có bảo đảm là loại trái phiếu chỉ dựa vào uy tín của doanh nghiệp mà không có tài sản nào làm đảm bảo Khi doanh nghiệp gặp khó khăn tài chính hoặc phá sản, những người nắm giữ trái phiếu này sẽ nhận được thanh toán sau các trái chủ của trái phiếu có bảo đảm, nhưng trước các cổ đông.
Căn cứ vào những quyền kèm theo của TPDN
Trái phiếu có thể mua lại trước hạn là loại trái phiếu cho phép doanh nghiệp thực hiện quyền mua lại trước thời điểm đáo hạn Điều này xảy ra khi doanh nghiệp không còn nhu cầu vay vốn hoặc khi lãi suất thị trường giảm xuống thấp hơn lãi suất của trái phiếu đã phát hành.
Trái phiếu có thể bán lại trước hạn cho phép người nắm giữ bán trái phiếu cho doanh nghiệp trước thời điểm đáo hạn, giúp loại bỏ rủi ro lãi suất Nhờ đó, nhà đầu tư có thể tránh thua lỗ khi lãi suất thị trường tăng cao, dẫn đến giá trái phiếu giảm.
Trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu cho phép người sở hữu có quyền chuyển đổi thành cổ phiếu sau một thời gian nhất định.
Trái phiếu kèm chứng quyền là loại trái phiếu cho phép người sở hữu quyền mua một số lượng cổ phiếu nhất định tương ứng với số trái phiếu họ nắm giữ Quyền mua này được thực hiện với mức giá cố định trong một khoảng thời gian xác định.
Căn cứ vào cách xác định lãi suất TPDN
Trái phiếu có lãi suất cố định là loại trái phiếu truyền thống, phổ biến trên toàn cầu Lãi suất của loại trái phiếu này được duy trì không đổi trong suốt thời gian hiệu lực của nó.
Trái phiếu có lãi suất thả nổi là loại trái phiếu có lãi suất được điều chỉnh dựa trên biến động của lãi suất thị trường Thông thường, kỳ điều chỉnh lãi suất cho loại trái phiếu này diễn ra hàng quý, sáu tháng hoặc một năm.
Căn cứ cách thức thanh toán lãi, vốn gốc TPDN
Trái phiếu thu nhập là loại trái phiếu có lãi suất thanh toán lợi tức phụ thuộc vào mức lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp, với mức lãi suất không vượt quá lãi suất ghi trên trái phiếu Lợi tức từ trái phiếu này được trả trước thuế, trong khi cổ tức từ cổ phiếu ưu đãi được thanh toán sau thuế.
Trái phiếu chiết khấu là loại trái phiếu không trả lãi định kỳ, với giá bán dựa trên lãi suất thị trường tại thời điểm phát hành, thường thấp hơn mệnh giá và được gọi là giá chiết khấu Khi trái phiếu đáo hạn, trái chủ nhận lại đúng mệnh giá của trái phiếu.
Các nhân tố ảnh hưởng lãi suất trái phiếu doanh nghiệp 6
Cấu trúc rủi ro của lãi suất TPDN 6
Cấu trúc rủi ro của trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) phản ánh sự chênh lệch lãi suất giữa các TPDN có thời gian đáo hạn tương tự Yếu tố này chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm tình hình kinh tế, mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp phát hành, và lãi suất thị trường hiện tại.
Rủi ro phá sản của doanh nghiệp
Rủi ro phá sản xảy ra khi nhà phát hành trái phiếu không còn khả năng thanh toán lãi suất và vốn gốc, thường được gọi là rủi ro tín nhiệm.
TPCP được xem là tiêu chuẩn để đo lường rủi ro phá sản Lãi suất TPDN được xác định bằng TPCP cộng với một tỷ lệ phần trăm gọi là phần bù rủi ro, luôn dương và tỷ lệ này tăng lên khi rủi ro cao hơn Phần bù rủi ro phụ thuộc vào mức độ rủi ro của doanh nghiệp phát hành trái phiếu và các yếu tố nội tại của trái phiếu, như có tài sản bảo đảm hay không Mức độ rủi ro này thường được các tổ chức định mức tín nhiệm xác định qua việc xếp loại doanh nghiệp theo các tiêu chuẩn nhất định.
Tính thanh khoản ảnh hưởng đến chênh lệch lãi suất của trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) theo mối quan hệ tỷ lệ nghịch Tài sản có tính thanh khoản cao thường được ưa chuộng hơn, dẫn đến nhu cầu tăng và lãi suất giảm Chênh lệch lãi suất do tính thanh khoản tạo ra được gọi là phí thanh khoản.
Trái phiếu có điều kiện ưu đãi về thuế thu nhập thường có lãi suất thấp hơn so với các trái phiếu khác Các trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) được hưởng hỗ trợ thuế thu nhập thường đến từ những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công ích, phát hành trái phiếu nhằm thực hiện các dự án được chính phủ khuyến khích và hỗ trợ đầu tư phát triển.
Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất TPDN 7
Các TPDN có mức độ rủi ro vỡ nợ, thanh khoản và thuế thu nhập tương tự nhau, nhưng nếu có kỳ hạn thanh toán khác nhau, lãi suất sẽ khác nhau Điều này được gọi là cấu trúc kỳ hạn của lãi suất.
Đường cong lãi suất là tập hợp lãi suất của các trái phiếu có kỳ hạn thanh toán khác nhau, nhưng cùng mức độ rủi ro, thanh khoản và thuế thu nhập Cấu trúc này mô tả mối quan hệ giữa thời gian đáo hạn và lãi suất của một loại trái phiếu cụ thể Thời hạn trái phiếu càng dài thì rủi ro cho nhà đầu tư càng cao, dẫn đến yêu cầu lãi suất trái phiếu cũng phải tăng theo.
Đường cong lãi suất chuẩn được thiết lập như một tham chiếu chung cho toàn bộ thị trường, thường dựa trên lãi suất của trái phiếu chính phủ (TPCP) do tính chất phi rủi ro của chúng Để xác định lãi suất cho các loại chứng khoán khác, nhà đầu tư và nhà phát hành sẽ xem xét mức độ rủi ro của chứng khoán đó, từ đó tính toán phần bù rủi ro và cộng thêm với lãi suất phi rủi ro tương ứng tại từng kỳ hạn trên đường cong lãi suất chuẩn.
Thông thường đồ thị thể hiện cấu trúc thời hạn của lãi suất có 4 dạng chính
Đường cong lãi suất dạng thông thường thể hiện lãi suất ngắn hạn thấp nhất, sau đó tăng dần và gần như nằm ngang ở đoạn cuối Điều này cho thấy nền kinh tế ổn định, phát triển chậm nhưng đều đặn, cùng với sự ổn định của các thị trường cổ phiếu và trái phiếu.
Hình 1.1: Đường cong lãi suất dạng thông thường
Đường cong lãi suất dốc xảy ra khi chênh lệch giữa lãi suất ngắn hạn và dài hạn tăng lên 4%-5%, cao hơn mức bình thường khoảng 3% Sự dốc này cho thấy niềm tin của nhà đầu tư vào trái phiếu dài hạn rằng nền kinh tế sẽ cải thiện trong tương lai gần Thường thì loại đường cong này xuất hiện sau các cuộc suy thoái, khi nền kinh tế đã ổn định và bắt đầu có dấu hiệu mở rộng.
Hình 1.2: Đường cong lãi suất dạng dốc
Khi khoản vay ngắn hạn có lãi suất cao hơn khoản vay dài hạn, đường cong lãi suất sẽ xuất hiện dạng đảo ngược, đây là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế có thể đang trong giai đoạn thu hẹp Sự đảo ngược này có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân, bao gồm nhu cầu cao bất thường đối với quỹ ngắn hạn, sự cố về tính thanh khoản của các công cụ tài chính ngắn hạn, áp lực lạm phát gia tăng trong ngắn hạn, và chính sách tiền tệ thắt chặt từ ngân hàng trung ương.
Hình 1.3: Đường cong lãi suất dạng đảo ngược
Dạng phẳng của đường cong lãi suất có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm về sự đảo ngược, nhưng không phải lúc nào cũng dẫn đến điều đó, vì đường cong có thể trở lại trạng thái bình thường Tuy nhiên, khi đường cong lãi suất phẳng, điều này thường liên quan đến nguy cơ suy thoái kinh tế.
Hình 1.4: Đường cong lãi suất dạng phẳng Đường cong lãi suất chuẩn là một chỉ báo quan trọng về tình hình hoạt động của thị trường vốn.
Định giá trái phiếu doanh nghiệp 10
Định giá trái phiếu có kỳ hạn được hưởng lãi định kỳ 10
Khi xem xét một trái phiếu trả lãi cố định mà không có điều kiện chuyển đổi hay quyền ưu tiên nào, giá trị của trái phiếu được xác định bằng tổng giá trị hiện tại của tất cả các khoản thanh toán mà người phát hành phải trả cho người sở hữu, bao gồm lãi suất định kỳ và gốc vào ngày đáo hạn Lãi suất chiết khấu của trái phiếu chính là lãi suất tới hạn hoặc lãi suất vay vốn trung bình trên thị trường.
PV: Hiện giá giá TPDN n: Số kỳ thanh toán cho trái chủ
C1…Cn: Lãi thanh toán cho trái chủ hàng kỳ r: Lãi chiết khấu, lãi suất thị trường.
Tập đoàn HP phát hành trái phiếu có mệnh giá $1.000, với lãi suất danh nghĩa được xác định để minh hoạ việc xác định giá trị trái phiếu tại thời điểm hiện tại.
5,5%/năm, dẫn tới tiền lãi danh nghĩa thường niên là $55 Lãi suất vay vốn bình quân thị trường là 3,5%/năm Thời hạn trái phiếu là 3 năm.
Giá trị trái phiếu bằng giá trị hiện tại của toàn bộ dòng tiền sẽ thanh toán cho người sở hữu trái phiếu với lãi suất chiết khấu là 3.5%:
Như vậy với các điều kiện như trên trái phiếu mệnh giá $1,000 của tập đoàn
HP sẽ được bán tại thời điểm hiện tại với giá $1.056,03.
Định giá trái phiếu có kỳ hạn không hưởng lãi định kỳ 11
Trái phiếu không có coupon hàng kỳ là loại trái phiếu mà thị giá được xác định bằng hiện giá của mệnh giá khi đến hạn.
Công ty HP phát hành trái phiếu không trả lãi với thời hạn 10 năm và mệnh giá $1000 Nếu tỷ suất lợi nhuận yêu cầu của nhà đầu tư là 3,5%, giá bán của trái phiếu sẽ được xác định dựa trên lãi suất bình quân thị trường.
Nhà đầu tư chi $708,92 để mua trái phiếu này và không nhận lãi định kỳ trong 10 năm, nhưng khi đáo hạn, họ sẽ nhận lại $1.000.
Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị TPDN 11
Từ phương trình (1.1), ta có thể thấy các nhân tố tác động trực tiếp đến giá trị của TPDN chính là
Coupon (C) là lãi suất ghi trên trái phiếu, ảnh hưởng đến giá trị của trái phiếu: nếu lãi suất cao, giá trái phiếu sẽ tăng và ngược lại Lãi suất trái phiếu phụ thuộc vào cấu trúc rủi ro và cấu trúc kỳ hạn của trái phiếu.
Lãi suất chiết khấu, hay lãi suất thị trường (r): tác động nghịch chiều với giá trị trái phiếu, nếu r tăng thì giá trái phiếu giảm và ngược lại.
Số kỳ thanh toán còn lại (n): thị giá trái phiếu tiến dần đến mệnh giá của nó khi thời hạn trái phiếu tiến dần đến ngày đáo hạn.
Biến C được xác định cụ thể sau khi trái phiếu phát hành, đặc biệt trong trường hợp lãi suất cố định Trong khi đó, các biến n và r sẽ thay đổi theo thời gian và sự biến động của lãi suất trên thị trường.
Tác động của lãi suất chiết khấu (r)
Lãi suất chiết khấu (r) ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) Ví dụ, với trái phiếu do tập đoàn HP phát hành và lãi suất thị trường hiện tại là 8,5%/năm, giá trị trái phiếu sẽ được xác định dựa trên tỷ lệ này.
Nếu lãi suất thị trường bằng với lãi suất của trái phiếu là 5,5%/năm, giá trái phiếu HP như sau:
Giá trị của trái phiếu được xác định bởi lãi suất thị trường so với lãi suất cố định trên trái phiếu Khi lãi suất thị trường 3,5% thấp hơn lãi suất 5,5% của trái phiếu, nhà đầu tư sẽ phải trả giá cao hơn mệnh giá để sở hữu trái phiếu, phần chênh lệch này được gọi là phần phụ trội Ngược lại, nếu lãi suất thị trường 8,5% cao hơn lãi suất 5,5%, giá trái phiếu sẽ giảm xuống dưới mệnh giá, và nhà đầu tư sẽ được bù đắp bằng cách mua trái phiếu với giá thấp hơn, gọi là phần chiết khấu Khi lãi suất thị trường bằng lãi suất trái phiếu, giá trái phiếu sẽ tương đương với mệnh giá của nó.
Tác động của kỳ hạn còn lại của TPDN (n)
Khi trái phiếu gần đến ngày đáo hạn, giá trị của nó sẽ dần tiến về mệnh giá Đối với trái phiếu HP có lãi suất 5,5% và kỳ hạn 3 năm, với lãi suất chiết khấu 3,5%, thị giá của trái phiếu HP vào cuối năm thứ nhất, sau khi trái chủ nhận coupon năm đầu, sẽ được tính toán cụ thể.
Kết quả cho thấy thị giá trái phiếu HP tại thời điểm cuối năm 1 thấp hơn thị giá trái phiếu HP tại năm 0 (khi mới phát hành).
Hình 1.5 minh họa mối quan hệ giữa kỳ hạn trái phiếu (n), lãi suất chiết khấu (r) và giá trị thị trường của trái phiếu doanh nghiệp (PV), trong đó rC là lãi suất được ghi trên trái phiếu.
Hình 1.5: Tác động của lãi suất chiết khấu (r) và kỳ hạn còn lại của trái phiếu đến thị giá TPDN
Nhân tố tác động khác
Phương trình (1.1) được xây dựng trên giả định rằng trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) không có chứng quyền đi kèm Tuy nhiên, thực tế cho thấy giá trị của TPDN còn bị ảnh hưởng bởi các chứng quyền bổ sung.
Trái phiếu kèm theo quyền được mua lại mang lại lợi ích cho người phát hành nhưng lại không có lợi cho nhà đầu tư Do đó, loại trái phiếu này thường có lãi suất cao hơn hoặc giá thị trường thấp hơn so với các trái phiếu khác có cùng thời hạn.
Trái phiếu kèm theo quyền bán lại trước hạn mang lại cho nhà đầu tư quyền chủ động, do đó lãi suất của loại trái phiếu này thường thấp hơn so với các trái phiếu khác có cùng thời hạn Bên cạnh đó, giá thị trường của trái phiếu này có thể cao hơn so với những trái phiếu khác.
Trái phiếu có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu trong tương lai thường có giá trị cao hơn so với trái phiếu không có khả năng chuyển đổi Điều này xuất phát từ tiềm năng gia tăng giá trị mà trái phiếu chuyển đổi mang lại cho nhà đầu tư.
Dự kiến về lạm phát có ảnh hưởng lớn đến giá trái phiếu Nếu lạm phát được dự báo sẽ tăng, giá trái phiếu có lãi suất cố định sẽ giảm Ngược lại, khi lạm phát dự kiến giảm, giá của trái phiếu này sẽ tăng.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp 14
Khái niệm 14
Thị trường TPDN là một bộ phận của thị trường vốn và là thị trường thực hiện các giao dịch trái phiếu do doanh nghiệp phát hành.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) được chia thành hai giai đoạn giao dịch: thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Thị trường thứ cấp đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính thanh khoản, cho phép các nhà đầu tư chuyển nhượng trái phiếu trước khi đến hạn.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) được chia thành hai loại: thị trường tập trung, nơi giao dịch các trái phiếu niêm yết tại các sở và trung tâm giao dịch chứng khoán, và thị trường giao dịch phi tập trung (OTC), nơi giao dịch các trái phiếu chưa niêm yết.
Những thành viên của thị trường TPDN 15
Thị trường TPDN gồm những chủ thể tham gia sau:
Doanh nghiệp phát hành trái phiếu hay còn gọi là nhà phát hành.
Nhà đầu tư trái phiếu: có thể là tổ chức kinh tế, cá nhân, các định chế trung gian tài chính, các công ty chứng khoán …
Các tổ chức tài chính trung gian, bao gồm tổ chức bảo lãnh phát hành, tổ chức bảo lãnh thanh toán, và đại lý thanh toán cho trái phiếu, đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và sử dụng vốn trái phiếu Ngoài ra, họ còn chịu trách nhiệm về quản lý tài sản bảo đảm, đăng ký và lưu ký trái phiếu Những tổ chức này thường là các công ty chứng khoán hoặc tổ chức tín dụng hoạt động trên thị trường tài chính.
Các nhà tạo lập thị trường là các trung gian tài chính, thường là công ty chứng khoán, chịu rủi ro nắm giữ một lượng nhất định chứng khoán để thúc đẩy giao dịch Họ cung cấp mức giá chào mua và chào bán cho một khối lượng cụ thể của loại chứng khoán đó Khi nhận lệnh từ khách hàng, nhà tạo lập thị trường sẽ ngay lập tức bán chứng khoán trong kho hoặc tìm kiếm lệnh đối ứng Trên quy mô lớn, họ đóng vai trò quyết định trong việc xác định giá mua bán của loại chứng khoán.
Tổ chức định mức tín nhiệm (ĐMTN) là cơ quan chuyên đo lường mức độ rủi ro của các tổ chức hoặc khoản đầu tư dựa trên các tiêu chuẩn nhất định Những tổ chức này hoạt động như những đơn vị đánh giá độc lập, đảm bảo tính khách quan và minh bạch trong các kết quả đánh giá của họ, góp phần giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác hơn trên thị trường.
Cơ quan quản lý nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức và giám sát hoạt động của thị trường, bao gồm các tổ chức như Uỷ ban chứng khoán (UBCK), Sở giao dịch chứng khoán (Sở GDCK) và cơ quan Thanh tra giám sát Nhà nước.
Vai trò của thị trường trái phiếu doanh nghiệp 16
Cung cấp một kênh huy động vốn cho doanh nghiệp
Các doanh nghiệp thường sử dụng ba kênh huy động vốn chính: vay ngân hàng thương mại, phát hành cổ phiếu cho công ty cổ phần hoặc nhận vốn góp thêm cho công ty TNHH, và phát hành trái phiếu Trong số các kênh huy động vốn, phát hành trái phiếu nổi bật với nhiều ưu điểm so với các phương thức truyền thống khác.
Huy động vốn qua phát hành trái phiếu giúp doanh nghiệp đáp ứng đúng nhu cầu tài chính của mình, cho phép xác định khối lượng trái phiếu phát hành phù hợp với các dự án cần vốn Doanh nghiệp có thể sử dụng nguồn vốn từ trái phiếu không chỉ để đầu tư vào nhiều dự án mà còn để tái cấu trúc tài chính, chuyển đổi nguồn vốn trung dài hạn nhằm bù đắp cho nguồn vốn ngắn hạn đã đầu tư Trong bối cảnh khó khăn vay vốn ngân hàng do lo ngại về tính xác thực của dòng tiền, huy động vốn qua trái phiếu trở thành giải pháp hiệu quả hơn cho việc tái cấu trúc tài chính của doanh nghiệp.
Các tổ chức phát hành có thể huy động vốn dài hạn từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm và tập đoàn tài chính Trong quá trình phát hành, việc gặp gỡ và thương lượng trực tiếp với các nhà đầu tư giúp giảm thiểu chi phí trung gian.
Áp dụng lãi suất linh hoạt và cho phép doanh nghiệp chủ động đề xuất thời hạn trả lãi và gốc khi phát hành trái phiếu Thông thường, kỳ hạn trả lãi trái phiếu kéo dài hơn so với vốn vay, với các kỳ hạn như 6 tháng hoặc 1 năm, trong khi nợ gốc được trả khi đáo hạn Điều này giúp giảm áp lực trả lãi và gốc so với việc vay vốn ngân hàng.
Chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn trái phiếu, doanh nghiệp được chủ động sử dụng vốn hơn so với vốn vay ngân hàng.
Doanh nghiệp có thể nâng cao khả năng quản trị tài chính bằng cách chủ động mua bán trái phiếu của chính mình trên thị trường Ngoài ra, các điều khoản của trái phiếu cũng có thể cho phép chuyển đổi thành cổ phiếu, tạo thêm cơ hội cho doanh nghiệp trong việc tối ưu hóa nguồn vốn.
Phát hành trái phiếu mang lại nhiều ưu điểm cho doanh nghiệp, bao gồm tính chủ động cao trong việc phát hành, sử dụng và chi trả vốn so với vay ngân hàng Hơn nữa, doanh nghiệp không phải lo lắng về việc "pha loãng" quyền sở hữu như khi huy động vốn từ cổ đông mới Do đó, trái phiếu trở thành một kênh huy động vốn hiệu quả, đáp ứng nhu cầu đa dạng của doanh nghiệp và có tiềm năng phát triển lớn.
Cung cấp thêm một kênh đầu tư cho các nhà đầu tư
TPDN không chỉ là kênh huy động vốn mới cho doanh nghiệp mà còn mở ra cơ hội đầu tư đa dạng cho các nhà đầu tư Các kênh đầu tư như cổ phiếu, gửi tiết kiệm ngân hàng, TPCP, bất động sản và vàng có mức độ rủi ro và suất sinh lợi khác nhau Trong đó, TPCP là kênh đầu tư ít rủi ro nhất nhưng có suất sinh lợi thấp nhất Ngược lại, các kênh như vàng, bất động sản và cổ phiếu có thể mang lại lợi nhuận cao hơn, nhưng cũng đi kèm với nhiều rủi ro, đặc biệt tại các nền kinh tế thị trường mới nổi.
So sánh với các kênh đầu tư truyền thống thì TPDN thể hiện những ưu điểm sau đây:
TPDN, hay trái phiếu doanh nghiệp, là một loại chứng khoán nợ với độ an toàn cao hơn cổ phiếu, nhờ vào việc đảm bảo thanh toán định kỳ cho nhà đầu tư và được ưu tiên hoàn vốn trong trường hợp công ty phá sản Tuy nhiên, giá trị của TPDN thường ít biến động, dẫn đến khả năng sinh lợi từ chênh lệch giá không cao như đầu tư vào cổ phiếu của các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh tốt.
Trái phiếu là công cụ đầu tư linh hoạt, đa dạng, đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư và người đi vay, đồng thời giúp tái phân phối vốn hiệu quả Nhà đầu tư có thể lựa chọn trái phiếu chuyển đổi để cho vay hiện tại và trở thành chủ sở hữu trong tương lai Người đi vay cũng có thể phát hành trái phiếu với quyền mua lại trước hạn, giúp họ tránh ràng buộc cứng nhắc và giảm thiểu tác động từ biến động lãi suất.
Mức lãi suất trái phiếu doanh nghiệp thường cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng, với đa số trái phiếu tham chiếu lãi suất tiền gửi tiết kiệm cá nhân kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng lớn Sau đó, các doanh nghiệp cộng thêm một mức margin nhất định để xác định lãi suất trái phiếu mà họ phát hành.
Phát triển các dịch vụ gia tăng cho các tổ chức tài chính đóng vai trò trung gian
TPDN không chỉ cung cấp cho người vay một kênh huy động vốn mới và cho nhà đầu tư một lựa chọn đầu tư linh hoạt, mà còn tạo ra nhiều dịch vụ gia tăng cho các thành phần trung gian như tổ chức xếp hạng doanh nghiệp, công ty chứng khoán và ngân hàng Những dịch vụ này đóng vai trò cầu nối giữa tổ chức phát hành trái phiếu và nhà đầu tư, góp phần quan trọng trong việc hình thành thị trường trái phiếu sơ cấp và phát triển thị trường trái phiếu thứ cấp Nhờ đó, nhà đầu tư có thể dễ dàng mua bán TPDN, tạo tính thanh khoản cho thị trường, trong khi các nhà trung gian thu lợi từ việc cung cấp các dịch vụ này.
Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường TPDN 19
Tính ổn định của nền kinh tế vĩ mô
Môi trường kinh tế vĩ mô đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của các thể chế kinh tế thị trường, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) Khi môi trường kinh tế ổn định, doanh nghiệp sẽ đầu tư mạnh mẽ vào sản xuất, dẫn đến nhu cầu vốn tăng Đồng thời, thu nhập và tiết kiệm của người dân cũng tăng lên, kích thích nhu cầu đầu tư trung và dài hạn, từ đó tạo cơ hội cho thị trường TPDN phát triển Một môi trường kinh tế ổn định còn củng cố lòng tin của nhà đầu tư trên các thị trường tài chính Ngược lại, sự suy giảm và mất ổn định của nền kinh tế sẽ khiến doanh nghiệp giảm đầu tư và thu hẹp sản xuất, trong khi nhà đầu tư rút vốn, gây suy giảm cho thị trường vốn và TPDN Tính ổn định của kinh tế vĩ mô có thể được đo lường qua các chỉ số như tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp.
Chính sách phát triển TPDN của Nhà nước
Sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) phụ thuộc vào quan điểm và chính sách của cơ quan quản lý Nhà nước, được thể hiện qua hệ thống văn bản pháp quy điều tiết hoạt động thị trường Khi Nhà nước có ý định thúc đẩy thị trường TPDN, sẽ có nhiều cơ chế hỗ trợ được ban hành Hệ thống văn bản pháp quy cần đảm bảo tính đồng bộ, không mâu thuẫn và phù hợp với sự phát triển thực tiễn của thị trường.
Tính minh bạch của thị trường TPDN
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) minh bạch giúp giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững Tính minh bạch của thị trường TPDN được thể hiện qua nhiều tiêu chí quan trọng.
Mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp phát hành trái phiếu.
Cơ quan quản lý nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát và quản lý thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng Các biện pháp quy định về công bố thông tin trên thị trường TPDN được thiết lập để tăng cường sự tin tưởng của nhà đầu tư và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan Việc thực hiện các quy định này không chỉ giúp cải thiện chất lượng thông tin mà còn góp phần ổn định thị trường tài chính.
Sự phát triển của các hệ thống chỉ số giám sát thị trường, đặc biệt là chỉ số trái phiếu index cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) và đường cong lãi suất chuẩn, đóng vai trò quan trọng trong việc theo dõi và đánh giá tình hình thị trường tài chính Những chỉ số này không chỉ giúp nhà đầu tư có cái nhìn tổng quan về xu hướng lãi suất mà còn hỗ trợ trong việc ra quyết định đầu tư hiệu quả.
Sự phát triển hệ thống định mức tín nhiệm trên thị trường.
Sự phát triển của hệ thống các nhà đầu tư tổ chức
Giao dịch trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) chủ yếu diễn ra với khối lượng lớn, với các bên tham gia chủ yếu là tổ chức tài chính mạnh Nhà đầu tư cá nhân thường mua TPDN thông qua phát hành công khai và giữ đến khi đáo hạn như hình thức tiết kiệm Ngược lại, nhà đầu tư tổ chức có thể mua TPDN qua nhiều kênh trên thị trường sơ cấp và tiếp tục giao dịch trên thị trường thứ cấp để thu lợi nhuận trước khi trái phiếu đáo hạn.
Tính thanh khoản trên thị trường TPDN thứ cấp
Tình thanh khoản của thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) là yếu tố quyết định sự phát triển của thị trường TPDN thứ cấp Tính thanh khoản cho phép nhà đầu tư dễ dàng chuyển đổi TPDN thành tiền mặt khi cần thiết, giúp họ nhanh chóng thu hồi vốn và bảo hiểm rủi ro cho các hoạt động đầu tư Sự phát triển của thị trường TPDN thứ cấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường TPDN sơ cấp, trong khi đó, sự phát triển của thị trường sơ cấp với đa dạng hàng hóa và khối lượng lớn cũng sẽ thúc đẩy thị trường thứ cấp Do đó, hai thị trường này có tác động hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình phát triển.
Tính thanh khoản của thị trường thứ cấp được thể hiện qua khối lượng giao dịch TPDN, và các yếu tố quyết định bao gồm sự đa dạng của các loại TPDN, sự phát triển của sản phẩm tài chính phái sinh liên quan, cùng với sự phát triển của hệ thống các nhà tạo thị trường.
Kinh nghiệm phát triển thị trường TPDN của một số nước và bài học rút ra cho Việt Nam 21
Kinh nghiệm phát triển thị trường TPDN của một số nước 21
Về tổ chức thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) tại các nước phát triển như Mỹ, EU và Nhật Bản thường do các ngân hàng đầu tư lớn quản lý Khi doanh nghiệp cần huy động vốn qua trái phiếu, họ sẽ thuê một hoặc nhiều ngân hàng đầu tư để thực hiện dịch vụ bảo lãnh phát hành Các ngân hàng này sẽ đảm bảo mua lại toàn bộ số TPDN với mức lợi suất tối thiểu và sau đó bán lại cho các nhà đầu tư khác, thường là khách hàng của họ Một số doanh nghiệp lớn và uy tín có thể phát hành trái phiếu trực tiếp ra thị trường, chỉ cần thuê ngân hàng đầu tư để tư vấn và tổ chức đấu thầu, hoặc bán trực tiếp cho các tổ chức tài chính quen thuộc nhằm tiết kiệm chi phí phát hành.
Các nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp chủ yếu bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí và quỹ đầu tư Những tổ chức này không chỉ có đủ năng lực tài chính để giao dịch trái phiếu với khối lượng lớn mà còn cần tập trung đầu tư vào trái phiếu để đảm bảo một danh mục đầu tư an toàn.
Về tổ chức thị trường thứ cấp
Mặc dù các sàn giao dịch chứng khoán lớn như NYSE, LSE, Euronext, TSE và ASX có niêm yết trái phiếu doanh nghiệp, phần lớn giao dịch diễn ra trên thị trường phi tập trung (OTC) Thị trường này được xây dựng xung quanh mạng lưới các công ty môi giới và nhà tạo lập thị trường, trong đó có một thị trường bán sỉ gọi là interdealer market, thường được điều hành bởi các ngân hàng đầu tư Các công ty môi giới lớn như ICAP, GFI, BGC và Tullett Prebon hoạt động trong vai trò interdealer broker (IDB) trên thị trường này.
Hình 1.6: Cơ cấu thị trường TPDN thứ cấp tại các nước phát triển
Để nâng cao tính minh bạch và giảm thiểu bất đối xứng thông tin trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), các quốc gia phát triển yêu cầu các nhà tạo lập thị trường và môi giới trái phiếu báo cáo thông tin giao dịch cho hệ thống thông tin quốc gia Tại Mỹ, hệ thống dữ liệu trung tâm do FINRA quản lý đã hoạt động từ năm 2002, thu thập 99% thông tin giao dịch trên thị trường trái phiếu OTC Tại châu Âu và Anh, các thành viên của ICMA phải báo cáo kết quả giao dịch trái phiếu cho hệ thống của Xtrakter Hơn nữa, các công ty châu Âu cùng nhiều hệ thống giao dịch trái phiếu điện tử khác cũng công bố thông tin giao dịch trên các trang web tài chính uy tín như Bloomberg và Reuters.
Trong lĩnh vực định mức tín nhiệm, ba tổ chức lớn nhất thế giới là Standard & Poor's, Moody's và Fitch chiếm ưu thế tại các quốc gia phát triển, mặc dù vẫn có một số tổ chức nhỏ hơn như Egan-Jones và JCRA hoạt động trong các phân khúc nhất định Doanh nghiệp thường phải yêu cầu và trả phí cho các tổ chức này để đánh giá rủi ro tín dụng Tại các quốc gia đang phát triển, nơi dịch vụ tài chính chưa hoàn toàn tự do hóa, các tổ chức định mức tín nhiệm nội địa như Dagong và CARE vẫn thực hiện đánh giá rủi ro cho trái phiếu doanh nghiệp Tuy nhiên, với sự mở cửa của thị trường tài chính, các tổ chức nội địa đang dần bị thôn tín bởi các tổ chức quốc tế lớn, như trường hợp P.T Kasnic ở Indonesia bị Moody's mua lại vào năm 2007 và S&P nắm giữ 52% cổ phần của CRISIL tại Ấn Độ.
Xây dựng các chỉ số thị trường
Do cấu trúc OTC của thị trường trái phiếu, thông tin giá chủ yếu đến từ các ngân hàng đầu tư lớn, những nhà tạo lập thị trường cho trái phiếu Các chỉ số trái phiếu index chủ yếu được tính toán và cung cấp bởi các tổ chức này Hiện nay, những chỉ số trái phiếu quốc tế nổi bật trong giới tài chính, như của UBS, Barclay (Lehman Brothers), Bank of America (Merrill Lynch) và Citigroup (Solomon Smith Barney), đều do các ngân hàng đầu tư công bố.
Tại Hàn Quốc, Hiệp hội các Nhà kinh doanh Chứng khoán KSDA chịu trách nhiệm tính toán các chỉ số cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) Hiệp hội này đã phát triển các chỉ số thị trường trái phiếu nhằm hỗ trợ các thành viên trong việc dự đoán biến động và rủi ro tín dụng Ba chỉ số quan trọng được triển khai bao gồm Chỉ số khảo sát thị trường trái phiếu (BMSI), chỉ số tập trung thị trường HHI (Herfindahl Hirschman Index), và Chỉ số rủi ro tín dụng thị trường (MCRI).
Xây dựng các sản phẩm tài chính phái sinh cho TPDN
Các quốc gia có thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) phát triển thường sở hữu một hệ thống sản phẩm tài chính phái sinh phong phú và có thanh khoản tốt Những sản phẩm này không chỉ giúp nhà đầu tư nhanh chóng xoay vòng vốn mà còn hỗ trợ các nhà tạo lập thị trường trong việc đưa ra giá chào hai chiều (bid-ask price) Nhờ vào khả năng nhanh chóng bù đắp trạng thái trái phiếu sau mỗi giao dịch lớn, họ có thể bảo hiểm vị thế của mình hiệu quả hơn.
Bài học kinh nghiệm phát triển thị trường TPDN cho Việt Nam 24
Dựa trên thực tế tổ chức và hoạt động của một số thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) phát triển, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam.
Phát triển hệ thống các nhà đầu tư tổ chức, bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí và quỹ đầu tư, nhằm tạo ra nhu cầu đầu tư trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp.
Chú trọng vào việc phát triển thị trường sản phẩm tài chính phái sinh cho trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) là điều cần thiết, cùng với việc xây dựng hệ thống các nhà tạo lập thị trường nhằm đảm bảo tính thanh khoản cho thị trường thứ cấp.
Xây dựng hệ thống chỉ số giám sát thị trường giúp các thành viên theo dõi và dự đoán diễn biến thị trường, từ đó điều chỉnh danh mục đầu tư một cách kịp thời.
Nâng cao vai trò của Hiệp hội trái phiếu doanh nghiệp.
Phát triển các tổ chức đánh giá mức độ tín nhiệm là yếu tố quan trọng để xác định rủi ro tín dụng và lãi suất yêu cầu cho từng trái phiếu, phù hợp với mức độ rủi ro tín dụng khác nhau.
Nâng cao tính minh bạch cho thị trường TPDN, tăng cường chất lượng công bố thông tin từ các doanh nghiệp phát hành.
Việc học hỏi kinh nghiệm từ các thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) phát triển là rất quan trọng đối với Việt Nam Điều này sẽ giúp Việt Nam thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển của thị trường TPDN nội địa.
TPDN là một công cụ nợ nổi bật với nhiều tính năng đa dạng, đáp ứng nhu cầu phong phú của thị trường Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay, khi các kênh huy động vốn truyền thống như vay tín dụng ngân hàng và phát hành cổ phiếu gặp khó khăn, TPDN nổi lên như một giải pháp mới Kênh đầu tư này không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro mà còn hài hòa lợi ích cho nhà đầu tư Việc phát triển thị trường TPDN là cần thiết để tăng cường nội lực và xây dựng nền kinh tế đất nước.
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM 2.1 Thực trạng phát triển thị trường TPDN Việt Nam
2.1.1 Thị trường TPDN khu vực Châu Á
Trong những năm gần đây, châu Á đã chứng kiến sự quan tâm ngày càng tăng từ chính phủ các nước đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 Sự chú trọng này nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường tài chính và tăng cường khả năng huy động vốn cho doanh nghiệp.
Trước khủng hoảng tài chính năm 1998, nhiều quốc gia châu Á đã phụ thuộc quá mức vào hệ thống ngân hàng, khi mà khoảng 80% nợ tài chính được cung cấp bởi các ngân hàng, trong khi thị trường trái phiếu chỉ chiếm khoảng 20%.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, các nước Châu Á đã nỗ lực cải cách và tái tổ chức hệ thống tài chính, giúp thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) phát triển mạnh mẽ Đến tháng 9/2012, quy mô TPDN của các nước Châu Á (không bao gồm Nhật Bản) đã đạt 2.080 tỷ USD, tăng gấp 43 lần so với 48 tỷ USD vào cuối năm 1997.
Biểu đồ 2.1: Tình hình tăng trưởng của thị trường TPDN các nước Châu Á (không gồm Nhật Bản) qua các năm (tỷ USD)
“Nguồn: Asia capital market monitor, Nov 2012” [19]
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) tại Châu Á đã ghi nhận sự tăng trưởng qua các năm, tuy nhiên, sự phát triển này không đồng đều giữa các quốc gia trong khu vực Điều này cho thấy mức độ phát triển của thị trường TPDN ở các nước Châu Á có sự khác biệt rõ rệt Biểu đồ 2.2 dưới đây minh họa điều này.
Biểu đồ 2.2: Quy mô thị trường TPDN một số nước Châu Á (tỷ USD)
“Nguồn: Asia capital market monitor, Nov 2012” [19]
Biểu đồ 2.2 minh họa sự chênh lệch rõ rệt giữa thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) của các quốc gia trong khu vực châu Á (không tính Nhật Bản) Tính đến tháng 9/2012, Trung Quốc dẫn đầu với quy mô 943,12 tỷ USD, tiếp theo là Hàn Quốc với 827,15 tỷ USD Các nước châu Á còn lại có quy mô nhỏ hơn nhiều, trong đó Malaysia đạt 126,21 tỷ USD, Thái Lan 53,5 tỷ USD, Singapore 97,78 tỷ USD, Indonesia 17,85 tỷ USD, Philippines 12,32 tỷ USD, và Việt Nam chỉ đạt 1,6 tỷ USD Rõ ràng, Trung Quốc và Hàn Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của thị trường TPDN ở các nước châu Á mới nổi.
2.1.2 Thực trạng thị trường TPDN Việt Nam
2.1.2.1 Tổng quan tình hình doanh nghiệp Việt Nam
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, tính đến tháng 1 năm 2012, cả nước có hơn 375.000 doanh nghiệp hoạt động, chiếm 83,7% tổng số doanh nghiệp và tăng gấp 8,9 lần so với năm 2000 Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 22%, cho thấy nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp là rất lớn.
Khoảng 93% nhu cầu vốn của doanh nghiệp được đáp ứng thông qua hệ thống ngân hàng thương mại Điều này cho thấy rằng các phương thức huy động vốn khác, như phát hành cổ phiếu và đặc biệt là phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), vẫn chưa đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ vốn cho doanh nghiệp.
2.1.2.2 Tổng quan thị trường TPDN Việt Nam
So với các quốc gia Châu Á, quy mô và trình độ phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) Việt Nam vẫn còn khiêm tốn Mặc dù vậy, thị trường TPDN Việt Nam đã ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể trong thời gian gần đây Quy mô thị trường đã có sự phát triển qua các năm.
Biểu đồ 2.3: Quy mô thị trường TPDN Việt Nam qua các năm (tỷ USD)
“Nguồn: Asia capital market monitor, Nov 2012” [19]
Đánh giá thực trạng phát triển của thị trường TPDN Việt Nam
Thành tựu
Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của thị trường được cơ bản hoàn thành
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) đã được hình thành từ năm 1994 với Nghị định 120/CP, quy định hành vi của các chủ thể tham gia thị trường Để cải thiện quy định về phát hành TPDN, đặc biệt là phát hành riêng lẻ, Nghị định 52/2006/NĐ-CP ra đời vào năm 2006, thay thế Nghị định 120/CP Nghị định mới này không chỉ cho phép các doanh nghiệp nhà nước mà còn mở rộng cho các công ty TNHH, công ty cổ phần và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, với nguyên tắc tự vay, tự trả và công khai thông tin Sự thay đổi này đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của thị trường TPDN so với giai đoạn trước.
Ngày 14/10/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), thay thế Nghị định 52 Nghị định 90 có nhiều thay đổi quan trọng, bao gồm việc mở rộng phạm vi điều chỉnh, nâng cao tiêu chuẩn và điều kiện phát hành TPDN, quy định rõ hơn về thẩm quyền phê duyệt phương án phát hành trái phiếu của doanh nghiệp nhà nước (DNNN), bổ sung các nội dung về phương thức phát hành trái phiếu, và quy định về quản lý vay, trả nợ nước ngoài khi phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế Chi tiết về Nghị định 90 có thể tham khảo tại Phụ lục 4 của luận văn.
Nghị định 90 đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc huy động vốn qua phát hành trái phiếu, góp phần phát triển thị trường vốn và thị trường trái phiếu tại Việt Nam Đồng thời, nghị định cũng cung cấp cơ sở pháp lý để tăng cường quản lý và giám sát hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp, nhằm đảm bảo tính an toàn và hiệu quả.
Cơ bản hình thành các tổ chức tài chính trung gian cung cấp các dịch vụ tài chính cho thị trường
Hiện nay, thị trường tài chính Việt Nam có sự hiện diện đông đảo của các tổ chức tài chính trung gian, bao gồm 99 công ty chứng khoán, 38 ngân hàng thương mại (cả nhà nước và cổ phần), 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài cùng 54 chi nhánh và văn phòng đại diện Với số lượng này, hệ thống tổ chức tài chính trung gian đủ khả năng cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản, đặc biệt là trong lĩnh vực phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) như môi giới phát hành, đại lý lưu ký, bảo lãnh phát hành và các dịch vụ thanh toán.
Quy mô thị trường TPDN phát triển theo hướng ngày càng khả quan
Mặc dù quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) còn nhỏ, nhưng nó đã liên tục gia tăng qua các năm Từ mức không đáng kể vào năm 2000, thị trường TPDN đã đạt 1,82 tỷ USD vào cuối năm 2010 Tuy nhiên, đến tháng 9 năm 2012, do tác động của suy giảm kinh tế, quy mô này đã giảm nhẹ xuống còn 1,6 tỷ USD.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) tại Việt Nam đang có sự phát triển mạnh mẽ, với tỷ trọng trên GDP không ngừng gia tăng Từ mức thấp vào năm 2000, tỷ lệ này đã đạt 1,4% vào tháng 6 năm 2012, cho thấy sự tăng trưởng cả về số lượng lẫn chất lượng của thị trường TPDN.
Tồn tại
Quy mô thị trường còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng phát triển
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) Việt Nam đã có sự tăng trưởng qua các năm, nhưng quy mô vẫn còn khiêm tốn so với các quốc gia trong khu vực Điều này cho thấy thị trường chưa phát huy được tiềm năng phát triển và vai trò của mình như một kênh huy động vốn cũng như đầu tư hiệu quả cho nền kinh tế Biểu đồ 2.9 minh họa tỷ lệ quy mô thị trường TPDN trên GDP của Việt Nam và so sánh với một số nước châu Á.
Biểu đồ 2.9: Quy mô thị trường TPDN so với GDP của một số nước Châu Á tháng 6 năm 2012 (%/GDP)
“Nguồn: Asia capital market monitor, Nov 2012” [19]
Tính đến tháng 6 năm 2012, thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) Việt Nam chỉ đóng góp 1,4% vào GDP, thấp hơn nhiều so với các quốc gia ASEAN như Malaysia (41,2%), Thái Lan (14,7%) và Philippines (4,9%) Tỷ lệ này gần tương đương với Indonesia, nơi tỷ lệ đóng góp là 2,1% So với các quốc gia có nền kinh tế tương đồng, thị trường TPDN Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng để phát triển và cải thiện mức đóng góp vào GDP.
GDP của Việt Nam còn khiêm tốn, cho thấy thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) chưa được khai thác tối đa tiềm năng của mình Điều này cho thấy TPDN cần được phát triển hơn nữa để trở thành một kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế.
TPDN chưa phải là công cụ huy động vốn được doanh nghiệp quan tâm
Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu dựa vào các kênh huy động vốn truyền thống như vay từ tổ chức tín dụng và phát hành cổ phiếu Đến cuối tháng 9 năm 2012, cả nước có khoảng 375.000 doanh nghiệp hoạt động, nhưng chỉ có khoảng 139 doanh nghiệp phát hành trái phiếu từ năm 2009 đến 2011, chiếm tỷ lệ 0,04% Điều này cho thấy rằng, mặc dù trái phiếu doanh nghiệp đã xuất hiện trên thị trường, nhưng vẫn chưa được cộng đồng doanh nghiệp quan tâm và áp dụng rộng rãi.
TPDN chưa phải là công cụ đầu tư hấp dẫn trên thị trường
TPDN hiện chưa thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư Việt Nam, khi mà họ chủ yếu tập trung vào các kênh đầu tư truyền thống như cổ phiếu, vàng và bất động sản Khi một trong các thị trường này giảm giá, dòng vốn thường chuyển sang các thị trường còn lại, dẫn đến tình trạng tăng trưởng nóng ở vàng và bất động sản Trong khi đó, TPDN lại không được chú ý và thường bị các ngân hàng thương mại sử dụng để tránh các quy định về lãi suất cho vay và tăng trưởng tín dụng Thực chất, các ngân hàng đầu tư vào TPDN như một hình thức cho doanh nghiệp vay, chủ yếu là các ngân hàng nhỏ gặp khó khăn về thanh khoản, nhằm tăng thu nhập và bù đắp chi phí huy động vốn cao.
Tính thanh khoản của thị trường thứ cấp TPDN thấp
Thị trường trái phiếu thứ cấp hiện đang trầm lắng, với hầu hết nhà đầu tư giữ trái phiếu cho đến khi đáo hạn, dẫn đến tình trạng khan hiếm hàng hóa Sự phát triển kém của thị trường này làm cho trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) thiếu tính thanh khoản, từ đó giảm sức hấp dẫn của TPDN đối với các nhà đầu tư.
Thị trường TPDN có rủi ro khá cao
Thị trường chứng khoán gần đây đã chứng kiến nhiều doanh nghiệp phát hành trái phiếu không còn khả năng chi trả, chủ yếu là các công ty lớn thuộc sở hữu nhà nước hoặc đã cổ phần hóa Những doanh nghiệp này thường sử dụng vốn trái phiếu không đúng mục đích, đầu tư dàn trải vào các dự án không hiệu quả và không đúng tiến độ, dẫn đến việc thu hồi vốn chậm Hệ quả là họ không đảm bảo nguồn thu để hoàn trả vốn gốc và lãi trái phiếu cho nhà đầu tư Một số trường hợp điển hình đã cho thấy rõ ràng vấn đề này.
Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Vinashin là đơn vị tiên phong trong việc huy động trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) tại Việt Nam, với tổng giá trị phát hành lên đến 10.296 tỷ đồng trong giai đoạn 2007-2009 Tuy nhiên, từ năm 2012, Vinashin đã bắt đầu phải hoàn trả vốn cho các nhà đầu tư, với khoản nợ lên tới 1.500 tỷ đồng trong năm đó Do hoạt động thua lỗ và phải thu hẹp quy mô, tập đoàn đã chia tách các công ty con cho các tập đoàn, công ty nhà nước khác quản lý, dẫn đến khả năng chi trả trái phiếu đúng hạn trở nên không khả thi, gây khó khăn cho các nhà đầu tư, chủ yếu là tổ chức kinh tế nhà nước.
Vào năm 2007, Bộ Tài chính đã cho phép Tổng Công ty lắp máy Việt Nam (Lilama) phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) với tổng số vốn huy động 2.000 tỷ đồng, có kỳ hạn 5 năm Mục đích của khoản vốn này là để đầu tư vào các dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện, nhà máy xi măng và nhà máy thủy điện Tuy nhiên, kết quả thanh tra của Chính phủ cho thấy chỉ khoảng 30% số vốn TPDN được sử dụng đúng mục đích, trong khi phần còn lại không được chi tiêu theo kế hoạch.
70% số tiền phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) của Lilama đã bị sử dụng sai mục đích, cụ thể là để mua trái phiếu ngân hàng, thay vì theo kế hoạch ban đầu Là một doanh nghiệp chuyên lắp máy, Lilama phải bắt đầu hoàn trả nợ cho các nhà đầu tư từ năm 2012 Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường trái phiếu hiện đang suy giảm, khả năng công ty bảo toàn giá trị đầu tư và thu hồi vốn để thanh toán cho trái chủ đang gặp nhiều khó khăn.
Vinalines là một ví dụ điển hình về việc không sử dụng vốn trái phiếu hiệu quả Năm 2010, doanh nghiệp này phát hành 1.000 tỷ đồng trái phiếu với kỳ hạn 3 năm, nhưng gần 50% số vốn đã bị sử dụng sai mục đích Dù có một phần vốn được sử dụng đúng, nhưng hiệu quả lại âm do mua sắm thiết bị và tàu cũ với giá cao hơn thị trường Điều này dẫn đến khả năng Vinalines không thể trả nợ trái phiếu đúng hạn Thêm vào đó, vào thời điểm phát hành, Vinalines đang đối mặt với khoản nợ lớn lên đến 36.600 tỷ đồng.
Một bộ phận đáng kể trong hệ thống doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn và tổng công ty nhà nước, đang lạm dụng trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) để đầu tư không hiệu quả, chỉ mang lại lợi ích cho một số cá nhân hoặc nhóm lợi ích Hành vi này không chỉ gia tăng nợ xấu cho các doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam Những sai phạm của các doanh nghiệp đã khiến thị trường TPDN trở nên rủi ro, làm giảm lòng tin của nhà đầu tư vào TPDN tại Việt Nam.
Nguyên nhân hạn chế sự phát triển của thị trường TPDN Việt Nam
Hệ thống văn bản pháp lý quy định về phát hành TPDN chưa thực sự hoàn thiện và tạo cơ chế khuyến khích thị trường
hoàn thiện và tạo cơ chế khuyến khích thị trường
Văn bản pháp lý chưa theo kịp với sự phát triển của thị trường
Các văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) bao gồm Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11, Nghị định số 52/2006/NĐ-CP và Nghị định 90/2011/NĐ-CP của Chính phủ, trong đó Nghị định 90 thay thế Nghị định 52 Tuy nhiên, cả ba văn bản này đều không sử dụng thuật ngữ "trái phiếu doanh nghiệp".
Trong thời gian qua, 48 trái phiếu địa ốc và trái phiếu dự án đã được phát hành, cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa việc phát hành trái phiếu và hoạt động kinh doanh bất động sản cũng như triển khai các dự án đầu tư của các doanh nghiệp.
Các công ty bất động sản đang triển khai huy động vốn qua phát hành trái phiếu riêng lẻ, kèm theo quyền ưu tiên mua căn hộ hoặc các quyền lợi khác Việc phát hành "trái phiếu địa ốc" và "trái phiếu dự án" mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và nhà đầu tư: doanh nghiệp có thể huy động vốn nhanh chóng và hiệu quả cho dự án, trong khi nhà đầu tư có cơ hội sở hữu bất động sản.
Trong thời gian qua, doanh nghiệp phát hành trái phiếu kèm quyền mua căn hộ chủ yếu tuân theo Nghị định 52 và Nghị định 90, nhưng chưa đề cập rõ ràng đến quyền lợi của khách hàng theo Luật Nhà ở 2005 và Luật Kinh doanh bất động sản 2006 Điều này khiến nhà đầu tư trái phiếu phải đối mặt với nhiều rủi ro do thiếu quy định pháp lý cụ thể và chi tiết.
Bất cập trong việc quy định hồ sơ phát hành trái phiếu
Theo nghị định 52/2006/NĐ-CP, doanh nghiệp phát hành trái phiếu phải có báo cáo tài chính được kiểm toán của năm liền kề, gây khó khăn cho việc phát hành trong quý I do thời gian kiểm toán kéo dài Để phát hành mà chưa có báo cáo tài chính của năm liền kề, doanh nghiệp cần được cơ quan quản lý nhà nước chấp thuận sử dụng báo cáo tài chính của năm gần nhất, dẫn đến việc kéo dài thủ tục và mất cơ hội trước biến động lãi suất Để khắc phục tình trạng này, Chính phủ đã ban hành nghị định 90/2011/NĐ-CP vào ngày 14/10/2011, điều chỉnh quy định cho phép doanh nghiệp phát hành trái phiếu trước ngày 01 tháng 4 hàng năm mà không cần báo cáo tài chính năm liền kề đã được kiểm toán.
Báo cáo tài chính được kiểm toán của năm trước năm liền kề với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi;
Báo cáo tài chính hàng năm phải được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty phê duyệt, đảm bảo phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi theo quy định trong điều lệ hoạt động của công ty.
Trong thời gian qua, chính sách quản lý của nhà nước chưa đủ sức khuyến khích doanh nghiệp phát hành trái phiếu Trước khi có Nghị định số 122/2011/NĐ-CP, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 124/2008/NĐ-CP đã không tạo ra động lực cần thiết cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này.
CP quy định chi tiết về Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, trong đó thu nhập từ lãi trái phiếu không phải chịu thuế, nhưng thu nhập từ chuyển nhượng trái phiếu khác sẽ bị đánh thuế 20% trên chênh lệch giá hoặc 0,1% trên giá trị bán Điều này cần được cân nhắc, vì lãi suất từ tiền gửi tiết kiệm không bị đánh thuế sẽ không khuyến khích đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) Thêm vào đó, một số quy định về phí phát hành TPDN đã hết hiệu lực và được cho là quá cao, làm giảm sự hấp dẫn cho doanh nghiệp Tuy nhiên, từ ngày 1/3/2012, theo Nghị định số 122/2011/NĐ-CP, một số loại thu nhập như lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng và phí bảo lãnh tín dụng sẽ bị đánh thuế, khiến lãi từ trái phiếu và lãi tiền gửi ngân hàng bị đánh thuế như nhau Điều này có thể khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào TPDN do lãi suất cao hơn so với tiền gửi ngân hàng.
Thiếu các quy định cần thiết cho thị trường OTC, hoạt động ĐMTN, công cụ tài chính phái sinh và hoạt động repo đang là rào cản pháp lý lớn, hạn chế sự phát triển của thị trường TPDN và khả năng tự bảo vệ của nhà đầu tư Do đó, việc rà soát và hoàn thiện các quy định này là cần thiết để tạo ra hành lang pháp lý an toàn cho doanh nghiệp và nhà đầu tư, đồng thời thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của thị trường TPDN.
Thông tin về thị trường TPDN chưa được cung cấp rộng rãi
Thiếu thông tin về thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) là nguyên nhân chính khiến thị trường này kém sôi động Việt Nam đã nỗ lực hoàn thiện khung pháp lý và xây dựng hạ tầng giao dịch, nhưng việc thu thập thông tin vẫn chưa được chú trọng Sở GDCK Hà Nội đã cung cấp thông tin đầy đủ về trái phiếu niêm yết trên website, nhưng vẫn thiếu thông tin về trái phiếu chưa niêm yết Do đó, cần thiết phải hình thành tổ chức trung gian độc lập để thu thập và xử lý dữ liệu TPDN, nhằm cung cấp thông tin chính xác và minh bạch, hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước và nhà đầu tư trong việc ra quyết định tham gia thị trường.
Doanh nghiệp được nhiều hỗ trợ khi vay TCTD hơn so với phát hành trái phiếu
Vay vốn ngân hàng là kênh huy động vốn truyền thống quan trọng của doanh nghiệp Việt Nam, được nhà nước xem như công cụ thực thi chính sách kích cầu cho nền kinh tế Các doanh nghiệp nhà nước và tập đoàn lớn dễ dàng tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng với lãi suất thấp và không cần tài sản thế chấp, do đó họ thường không phát hành trái phiếu để tránh chi phí cao hơn Ngoài ra, còn có các hình thức hỗ trợ tín dụng khác như bảo lãnh vay vốn và vay ODA Năm 2009, Chính phủ đã triển khai gói hỗ trợ lãi suất 4% nhằm giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất trong bối cảnh suy giảm kinh tế, trong khi các doanh nghiệp phát hành trái phiếu không được hưởng hỗ trợ Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn ưu tiên vay vốn từ các tổ chức tín dụng hơn là phát hành trái phiếu.
Cổ phiếu doanh nghiệp phát hành dễ dàng trong giai đoạn 2006 – 2008
Giai đoạn 2006 – 2008, thị trường chứng khoán Việt Nam trải qua sự phát triển mạnh mẽ với nhiều công ty niêm yết và phát hành cổ phiếu công khai, giúp doanh nghiệp thu hút thặng dư vốn dễ dàng Các nhà đầu tư thường bị thu hút bởi cổ phiếu có giá gấp hai hoặc ba lần mệnh giá Đồng thời, chi phí huy động vốn qua phát hành cổ phiếu thấp hơn nhiều so với phát hành trái phiếu, do doanh nghiệp không phải chi trả cho dịch vụ bảo lãnh thanh toán và bảo lãnh phát hành trái phiếu Những yếu tố này đã thúc đẩy các doanh nghiệp chọn phát hành cổ phiếu thay vì trái phiếu.
TPDN trên thị trường chưa phong phú về chủng loại, thiếu các sản phẩm tài chính phái sinh
phẩm tài chính phái sinh
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) hiện nay còn thiếu sự phong phú về hình thức và cấu trúc sản phẩm, với chủ yếu hai loại lãi suất là cố định và thả nổi theo thị trường, điều này làm giảm sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư Các loại trái phiếu hiện có bao gồm trái phiếu chuyển đổi, không chuyển đổi và trái phiếu kèm quyền mua cổ phiếu, nhưng vẫn thiếu các sản phẩm hiện đại như trái phiếu chiết khấu, trái phiếu phát hành cao hoặc thấp hơn mệnh giá, trái phiếu có khả năng mua lại, trái phiếu đa thời hạn và trái phiếu thanh toán từng phần Sự đơn điệu trong chủng loại TPDN trên thị trường đã khiến cho các nhà đầu tư không tìm thấy nhiều lựa chọn hấp dẫn.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) Việt Nam hiện đang thiếu các công cụ phái sinh, chỉ dừng lại ở giao dịch mua bán trái phiếu giao ngay Các sản phẩm như giao dịch kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hoán đổi, quyền lựa chọn và hợp đồng repo chưa được triển khai rộng rãi Điều này dẫn đến việc nhà đầu tư không có đủ công cụ để chuyển đổi vốn đầu tư trái phiếu trung và dài hạn thành tiền mặt khi cần thiết, cũng như thiếu các giải pháp bảo hiểm cho rủi ro đầu tư Hệ quả là tính linh hoạt của nhà đầu tư bị hạn chế, làm giảm tính thanh khoản của thị trường TPDN.
Tính minh bạch của thị trường tài chính Việt Nam không cao
Trong thời gian qua, mức độ minh bạch và công bố thông tin (CBTT) trên TTCK đã được cải thiện ở nhiều mặt như:
Phạm vi công bố thông tin (CBTT) trên thị trường chứng khoán đã có sự thay đổi đáng kể từ khi mới hoạt động Ban đầu, chỉ có các tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ và Sở GDCK có trách nhiệm CBTT Hiện nay, diện đối tượng phải CBTT đã được mở rộng, bao gồm cả công ty đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán và Trung tâm Lưu ký chứng khoán.
Các báo cáo tài chính 6 tháng của doanh nghiệp niêm yết hiện nay phải được soát xét bởi công ty kiểm toán, từ trước không bắt buộc Nhiều nội dung thông tin bất thường cũng cần được công bố, bao gồm hoạt động mua cổ phiếu quỹ, chào mua công khai, các ý kiến kiểm toán ngoại trừ, thông tin về trả cổ tức, chia tách, sáp nhập và thay đổi sử dụng vốn Đối với công ty chứng khoán, việc kiểm toán chỉ tiêu an toàn tài chính cũng là yêu cầu bắt buộc mỗi 6 tháng.
Các doanh nghiệp và cơ quan quản lý như Sở GDCK, UBCKNN đã tăng cường phương thức công bố thông tin (CBTT) qua các trang thông tin điện tử Việc CBTT được thực hiện qua Internet giúp nâng cao tính kịp thời và khả năng tiếp cận thông tin cho công chúng đầu tư.
Các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ công bố thông tin trên thị trường chứng khoán (TTCK) đã bắt đầu chú trọng hơn đến việc tuân thủ pháp luật Cơ quan quản lý nhà nước, cụ thể là Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), đã tăng cường giám sát và xử lý vi phạm liên quan đến nghĩa vụ công bố thông tin, nhằm đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động trên TTCK.
Mặc dù chất lượng công bố thông tin (CBTT) trên thị trường chứng khoán (TTCK) đã được cải thiện, nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu của quản lý TTCK hiện đại Các quy định về CBTT chủ yếu chỉ áp dụng cho các công ty niêm yết, trong khi các trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) không niêm yết gặp khó khăn trong việc công bố thông tin Doanh nghiệp phát hành TPDN thường chỉ công bố thông tin trong quá trình phát hành, trong khi việc sử dụng vốn và kiểm soát nguồn tiền thanh toán chủ yếu do doanh nghiệp tự quyết định Hệ quả là các trái chủ khó có thể kiểm tra hiệu quả sử dụng vốn trái phiếu, dẫn đến tính minh bạch thấp trên thị trường TPDN Việt Nam, làm gia tăng rủi ro và cản trở sự phát triển của thị trường này.
Không có hệ thống tổ chức ĐMTN chuyên nghiệp trên thị trường
Xếp hạng tín nhiệm đóng vai trò quan trọng trong quyết định đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào chứng khoán tại Việt Nam Đối với trái phiếu Chính phủ (TPCP), nhà đầu tư thường chấp nhận mua vì chúng được xem là ít rủi ro Ngược lại, trái phiếu Doanh nghiệp (TPDN) có mức rủi ro cao hơn và cần được phân loại theo độ rủi ro Tuy nhiên, thị trường tài chính Việt Nam vẫn chưa thể thực hiện việc phân loại này do hệ thống các tổ chức đánh giá tín nhiệm còn chưa phát triển.
Khái niệm ĐMTN tại Việt Nam còn mới mẻ, với ba đơn vị cung cấp thông tin tín nhiệm: Công ty Thông tin tín nhiệm doanh nghiệp C&R, Trung tâm thông tin tín dụng CIC và Trung tâm đánh giá tín nhiệm CRVC Tuy nhiên, các đơn vị này chưa thực sự thực hiện đánh giá ĐMTN theo chuẩn quốc tế, chủ yếu chỉ cung cấp thông tin liên quan đến doanh nghiệp CRVC đã tạm ngừng hoạt động do thiếu sự quan tâm từ thị trường, trong khi CIC từng hợp tác với D&B để xuất bản "Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp" vào năm 2009, nhưng ấn bản này không được cập nhật thường xuyên Thông tin tín dụng quan trọng nhưng chỉ có giá trị tại thời điểm xếp hạng Nếu việc xếp hạng được thực hiện định kỳ, nó sẽ hữu ích hơn cho người dùng Hiện tại, chỉ một số ít doanh nghiệp lớn như BIDV, Techcombank và VCB thuê tổ chức nước ngoài như Moody để đánh giá ĐMTN.
Thực trạng ĐMTN doanh nghiệp ở Việt Nam chưa phát triển là do:
Hiện nay, hai văn bản pháp lý quan trọng nhất cho thị trường chứng khoán Việt Nam là Luật chứng khoán và Luật doanh nghiệp, nhưng chưa đề cập đến đấu thầu mua sắm nhà nước (ĐMTN) và các vấn đề liên quan Các cơ quan quản lý nhà nước vẫn chỉ dừng lại ở việc thảo luận vấn đề này tại các hội thảo và hội nghị, dẫn đến việc hệ thống ĐMTN chưa có khung pháp lý hoàn chỉnh để hoạt động hiệu quả.
Thị trường trái phiếu Việt Nam đang cho thấy sự dễ dàng trong việc tiếp nhận các đợt phát hành lớn mà không cần sự tham gia của tổ chức định mức tín nhiệm (ĐMTN), điều này khác biệt so với các thị trường phát triển như Mỹ, Anh hay Australia, nơi mà việc thuê các tổ chức ĐMTN là điều bình thường Hiện tại, chỉ có các phát hành trái phiếu quốc tế mới yêu cầu xếp hạng ĐMTN, trong khi phát hành nội địa lại không Tuy nhiên, với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, sẽ đến lúc các nhà đầu tư trở nên thận trọng hơn và yêu cầu cao hơn từ các nhà phát hành Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập, sự tham gia của các tổ chức ĐMTN nước ngoài vào thị trường tài chính Việt Nam sẽ gia tăng, do đó, ngành ĐMTN cần được tổ chức và phát triển chuyên nghiệp hơn để có thể cạnh tranh hiệu quả trong giai đoạn tự do hóa đầu tư kinh doanh hiện nay.
Đường cong lãi suất chuẩn vẫn chưa được xây dựng
Thị trường tài chính Việt Nam, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), đang thiếu một mức lãi suất chuẩn để tham chiếu Đường cong lãi suất chuẩn, được hình thành từ các mức lãi suất chuẩn tại từng kỳ hạn, phản ánh mức lãi suất hoàn vốn của các chứng khoán nợ không có rủi ro vỡ nợ và rủi ro thanh khoản Nhiều quốc gia đã xây dựng đường cong này dựa trên lãi suất của trái phiếu chính phủ (TPCP).
Lãi suất trái phiếu chính phủ (TPCP) ở Việt Nam chưa được thiết lập theo nguyên tắc thị trường, dẫn đến việc không hình thành được đường cong lãi suất chuẩn cho thị trường Trong thời gian dài, lãi suất TPCP chủ yếu dựa vào chỉ đạo của Bộ Tài chính, không phản ánh đúng cung cầu thực tế Ví dụ, từ tháng 3 đến tháng 10/2008, gần 30 đợt phát hành TPCP không thành công, cho thấy khó khăn trong việc xây dựng đường cong lãi suất chuẩn Thiếu đường cong này gây khó khăn cho doanh nghiệp và nhà đầu tư trong việc xác định lãi suất phù hợp cho trái phiếu, làm tăng rủi ro cho cả hai bên Doanh nghiệp có thể không ước lượng chính xác chi phí vốn, trong khi nhà đầu tư không thể xác định lợi suất tương xứng với rủi ro Hơn nữa, đường cong lãi suất chuẩn còn là chỉ báo kinh tế quan trọng, giúp các nhà quản trị đánh giá tình hình kinh tế và đưa ra các quyết định kinh doanh, đầu tư hiệu quả.
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Định hướng phát triển thị trường TPDN Việt Nam
Theo "Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến 2020" được phê duyệt tại Quyết định số 128/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007, mục tiêu tổng quát của thị trường vốn, bao gồm cả thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), là thúc đẩy sự phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường tài chính Việt Nam.
Phát triển đồng bộ và vững chắc quy mô cũng như chất lượng hoạt động của thị trường vốn là cần thiết để tạo ra kênh huy động vốn hiệu quả cho đầu tư phát triển và cải cách nền kinh tế, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam.
Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư, cần đảm bảo tính công khai và minh bạch trong quản lý thị trường Đồng thời, việc duy trì trật tự an toàn và mở rộng phạm vi giám sát sẽ tăng cường hiệu quả quản lý Qua đó, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh và chủ động hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế.
Đến năm 2020, thị trường vốn Việt Nam phấn đấu phát triển tương đương với các nước trong khu vực, với giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán đạt 70% GDP.
Thị trường TPDN, với tư cách là một bộ phận của thị trường tài chính nói chung, trong quá trình phát triển cần tuân theo những định hướng sau:
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) cần đồng bộ với sự phát triển của các thị trường vốn khác, nhằm đảm bảo tính an toàn và hiệu quả cho từng thị trường cũng như cho nền kinh tế tổng thể.
Phát triển thị trường TPDN phải phù hợp với điều kiện, nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) hoạt động theo cơ chế thị trường nhưng vẫn mang tính xã hội chủ nghĩa Nhà nước thực hiện quản lý thị trường thông qua hệ thống pháp luật, đồng thời đảm bảo tạo điều kiện bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tế tham gia vào thị trường này.
Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) cần phù hợp với chính sách tiền tệ trong từng giai đoạn, đảm bảo sự kết hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa Mục tiêu là huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững thị trường vốn, đồng thời duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia.
G iải pháp nhằm phát triển thị trường TPDN Việt Nam
3.2.1 Nhóm giải pháp phát triển thị trường sơ cấp
3.2.1.1 Tạo lập môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, kiềm chế lạm phát
Môi trường kinh tế vĩ mô đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của các thể chế kinh tế thị trường, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) Sự ổn định chính trị, tính nhất quán trong chính sách phát triển kinh tế và tăng trưởng bền vững là những yếu tố cần thiết cho sự phát triển của thị trường TPDN Do đó, ổn định kinh tế vĩ mô được xem là yếu tố quan trọng nhất và là giải pháp ưu tiên hàng đầu để thúc đẩy sự phát triển của thị trường trái phiếu nói chung và TPDN nói riêng.
Trong ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát là ưu tiên hàng đầu Nhà nước cần cân nhắc giữa tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát để duy trì tỷ lệ lạm phát hợp lý, từ đó đảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinh tế Khi lạm phát cao mà thu nhập không tăng, sức mua giảm, dẫn đến tiêu dùng giảm và doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, làm giảm nhu cầu huy động vốn Lạm phát cao cũng thúc đẩy đầu tư vào tài sản truyền thống như vàng và bất động sản, làm giảm sức hấp dẫn của trái phiếu do lãi suất thực giảm Kiềm chế lạm phát là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp.
3.2.1.2 Hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh thị trường TPDN Để thị trường TPDN hoạt động tốt thì cần phải có một khung pháp lý đầy đủ, ổn định và điều tiết thị trường hiệu quả Khung pháp lý này phải dung hòa được tính hấp dẫn về mặt kinh tế và tính an toàn pháp lý của hoạt động phát hành, đầu tư, giao dịch trái phiếu Cơ sở để xây dựng khung pháp lý này là từ kinh nghiệm thực tế trong điều hành, quản lý thị trường, dự liệu và đánh giá triển vọng phát triển trong những giai đoạn tiếp theo, kinh nghiệm xây dựng thị trường trái phiếu của các quốc gia phát triển để những quy định này thật sự khuyến khích thị trường phát triển, phù hợp với đặc điểm tình hình riêng của Việt Nam và thông lệ quốc tế.
Trước mắt, một số giải pháp để hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường TPDN có thể thực hiện như sau:
Sửa đổi một số nội dung về điều kiện phát hành TPDN tại Nghị định 90
Nghị định 90 quy định về việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) đã có nhiều điều chỉnh so với Nghị định 52 trước đó nhằm phù hợp với tình hình thực tế Tuy nhiên, Nghị định 90 vẫn tồn tại một số bất cập cần được xem xét và điều chỉnh để nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển thị trường TPDN.
Khoản 1 Điều 13 của Nghị định quy định điều kiện phát hành trái phiếu yêu cầu doanh nghiệp phải có thời gian hoạt động tối thiểu một năm Mặc dù quy định này nhằm hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư, nhưng nó cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp đã được tổ chức lại thông qua hợp nhất hoặc chia tách, khiến họ không thể phát hành trái phiếu Trong bối cảnh hiện tại, các nhà đầu tư trái phiếu chủ yếu là những chuyên gia có khả năng tự đánh giá rủi ro và lịch sử hoạt động của doanh nghiệp, do đó, việc áp dụng điều kiện này là không cần thiết Vì vậy, Nhà nước nên xem xét điều chỉnh quy định này, không nên giới hạn thời gian thành lập doanh nghiệp trong điều kiện phát hành trái phiếu, để nhà đầu tư có thể tự cân nhắc và quyết định.
Theo Khoản 1 Điều 13 của Nghị định, doanh nghiệp muốn phát hành trái phiếu phải có kết quả kinh doanh có lãi trong năm liền kề trước đó, được xác nhận bởi kiểm toán Nhà nước hoặc tổ chức kiểm toán độc lập hợp pháp tại Việt Nam Quy định này nhằm đảm bảo năng lực tài chính của đơn vị phát hành, từ đó giảm rủi ro cho nhà đầu tư Tuy nhiên, điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp mới trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng hoặc sản xuất cần thời gian hoàn vốn dài, cũng như những doanh nghiệp muốn phát hành trái phiếu để cơ cấu lại nguồn vốn Các nhà đầu tư trái phiếu chủ yếu là những nhà đầu tư chuyên nghiệp, có khả năng đánh giá tín nhiệm và khả năng hoàn trả của tổ chức phát hành Nếu họ nhận thấy doanh nghiệp có rủi ro cao hoặc thiếu triển vọng phát triển, họ sẽ không đầu tư vào trái phiếu của doanh nghiệp đó, do đó nội dung này có thể không cần thiết trong điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp.
Quy định hướng dẫn cụ thể về trái phiếu kèm chứng quyền mua BĐS
Hiện nay, một số doanh nghiệp phát hành trái phiếu kèm chứng quyền mua bất động sản để huy động vốn đầu tư, đây là một giải pháp linh hoạt trong bối cảnh thị trường bất động sản trầm lắng Theo Luật Kinh doanh bất động sản 2006, chủ đầu tư và khách hàng có thể thỏa thuận về việc mua bán nhà, công trình xây dựng trong tương lai theo hình thức ứng tiền trước, với điều kiện phải có hạ tầng cơ sở đã được xây dựng theo tiến độ dự án Do đó, khi đầu tư trái phiếu, doanh nghiệp chỉ mua quyền được mua bất động sản, không phải nghĩa vụ mua Việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp kèm quyền mua bất động sản phù hợp với các quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư 2005 và Luật Chứng khoán 2006 Tuy nhiên, rủi ro phát sinh khi trái phiếu đến hạn thanh toán mà công trình chưa hoàn thành, dẫn đến việc không thể ký hợp đồng mua bán theo quy định.
Để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư khi mua trái phiếu kèm quyền mua bất động sản, cần có quy định rõ ràng Nhà nước chỉ nên cho phép doanh nghiệp phát hành trái phiếu này khi dự án đã hoàn tất hạ tầng cơ sở hoặc phần móng Điều này yêu cầu doanh nghiệp phải sử dụng vốn tự có cho dự án, đảm bảo khả năng tài chính thực sự và tránh tình trạng chỉ sử dụng vốn vay Nhờ đó, quyền lợi của nhà đầu tư sẽ được bảo vệ tốt hơn.
3.2.1.3 Phát triển hệ thống các nhà đầu tư tổ chức
TPDN thường được phát hành với khối lượng lớn, chủ yếu dành cho các nhà đầu tư tổ chức Do đó, cần chú trọng phát triển các nhà đầu tư tổ chức và tạo môi trường thuận lợi cho việc hình thành quỹ đầu tư, đặc biệt là các định chế tài chính phi ngân hàng như công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, và công ty đầu tư Các cơ quan như NHNN, Bộ Tài chính và UBCKNN cần tạo điều kiện pháp lý và chính sách ưu đãi để khuyến khích thành lập quỹ đầu tư chứng khoán liên doanh và quỹ đầu tư 100% vốn nước ngoài Bên cạnh đó, việc phát triển các định chế tài chính trung gian là cần thiết để hỗ trợ phát hành trái phiếu và tạo ra cung chứng khoán thông qua tư vấn và bảo lãnh Đồng thời, các định chế này cũng thúc đẩy cầu chứng khoán bằng cách quản lý vốn và tư vấn đầu tư cho các nhà đầu tư nhỏ, từ đó góp phần phát triển thị trường TPDN một cách toàn diện và hiệu quả.
3.2.1.4 Tăng cường tính minh bạch trên thị trường
Minh bạch hoá hệ thống thông tin kinh tế có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế và thị trường TPDN Để thị trường TPDN minh bạch, thông tin cần phải đầy đủ, kịp thời và chính xác Sự minh bạch giúp giảm thiểu rủi ro cho các chủ thể tham gia, từ đó tạo ra môi trường đầu tư tin cậy Việc xây dựng và hoàn thiện chế độ công bố thông tin là cần thiết để tăng cường lòng tin của các nhà đầu tư Một số giải pháp cụ thể cần được thực hiện bởi các chủ thể tham gia thị trường.
Để tăng cường tính công khai và minh bạch cho thị trường chứng khoán, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), cơ quan quản lý nhà nước cần nâng cao năng lực điều hành và hiệu quả giám sát Việc thực hiện công tác giám sát cần được tiến hành qua nhiều cấp độ, đảm bảo tính chặt chẽ và liên tục, nhằm kịp thời nắm bắt các biến động của thị trường.
Các doanh nghiệp phát hành trái phiếu, đơn vị bảo lãnh và môi giới phát hành cần thiết lập bộ phận giám sát, điều tra và kiểm toán nội bộ Đồng thời, họ phải chịu sự kiểm tra từ các tổ chức quản lý cấp trên như Sở giao dịch chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và các cơ quan thanh tra, kiểm toán của nhà nước.
Giám sát tại thị trường giao dịch tập trung (Sở GDCK) Thành lập các bộ phận của Sở giao dịch chịu trách nhiệm giám sát thường xuyên thị trường.
Cần thiết phải thành lập bộ phận thanh tra, giám sát và kiểm toán cho các công ty chứng khoán thành viên cũng như các công ty niêm yết, bộ phận này sẽ hoạt động dưới sự quản lý và giám sát của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN).
UBCKNN có trách nhiệm giám sát và thanh tra các hoạt động liên quan đến trái phiếu và thị trường TPDN, đặc biệt là Vụ thanh tra Các vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý theo quy định phân cấp, bao gồm hình thức phạt hành chính, đình chỉ hoạt động tạm thời hoặc vĩnh viễn, thu hồi giấy phép, hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Về phía doanh nghiệp phát hành trái phiếu
Để tăng cường tính minh bạch của thị trường chứng khoán, tính chủ động và ý thức minh bạch của doanh nghiệp và các thành viên thị trường là rất quan trọng Doanh nghiệp không chỉ cần tuân thủ các quy định pháp luật mà còn phải chủ động cung cấp thông tin kinh doanh Việc công bố thông tin công khai là một phần thiết yếu trong đạo đức kinh doanh, góp phần vào sự phát triển bền vững.