1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tự do hóa tài khoản vốn trong quan điểm bộ ba bất khả thi

67 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tự Do Hóa Tài Khoản Vốn Trong Quan Điểm Bộ Ba Bất Khả Thi
Tác giả Võ Đoàn Thiên Thanh
Người hướng dẫn GS. TS. Trần Ngọc Thơ
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Chuyên ngành Kinh Tế Tài Chính – Ngân Hàng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,02 MB

Cấu trúc

  • Chương 1: Những nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về tự dó hóa tài khoản vốn và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (11)
    • 1.1 T ổ ng quan (11)
    • 1.2 Hiệu quả của tự do hóa tài chính (0)
    • 1.3 Tác động tiêu cực của tự do hóa tài khoản vốn (0)
    • 1.4 Các chỉ số của bộ ba bất khả thi và mối liên hệ (0)
    • 1.5 K ế t qu ả các ch ỉ s ố b ộ ba b ấ t kh ả thi ở m ộ t s ố nhóm qu ố c gia (22)
    • 1.6 Bài h ọ c kinh nghi ệ m cho Vi ệ t Nam trong quá trình t ự do hóa tài kho ả n v ố n (25)
  • Chương 2: Kết quả phân tích thực nghiệm và thực trạng tự do hóa tài khoản vốn của Việt Nam (27)
    • 2.1 Tổng quan về kinh tế Việt nam (0)
    • 2.2 K ế t qu ả tính toán các ch ỉ s ố b ộ ba b ấ t kh ả thi ở Vi ệ t Nam (30)
      • 2.2.1 Ch ỉ s ố độ c l ậ p ti ề n t ệ MI (30)
      • 2.2.2 Ch ỉ s ố ổ n đị nh t ỷ giá ERS (32)
      • 2.2.3 Chỉ số mở của thị trường (OPEN) (0)
      • 2.2.4 M ố i t ươ ng quan gi ữ a các ch ỉ s ố b ộ ba b ấ t kh ả thi (36)
    • 2.3 Thực tế Việt Nam khi tự do hóa tài khoản vốn (37)
      • 2.3.1 iệu quả sử dụng vốn đầu tư (37)
      • 2.3.2 Tình hình đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp vào Việt Nam (0)
      • 2.3.3 Tình hình vay nợ nước ngoài (43)
      • 2.3.4 Tình hình tiết kiệm và đầu tư (43)
      • 2.3.5 Tình hình thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản (44)
      • 2.3.6 Tình hình ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong các năm qua (46)
  • Chương 3: Gợi ý chính sách cho tiến trình tự do hóa tài khoản vốn của Việt Nam (49)
    • 3.1 Tiến trình tự do hóa tài khoản vốn (49)
    • 3.2 Những điều kiện tiên quyết khi thực hiện tự do hóa tài khoản vốn (51)
    • 3.3 Một số gợi ý cho thực hiện tự do hóa tài khoản vốn với việc ổn định vĩ mô (52)
  • Kết luận (26)
  • Tài liệu tham khảo (62)
  • Phụ lục (34)

Nội dung

Những nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về tự dó hóa tài khoản vốn và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

T ổ ng quan

Lý thuyết bộ ba bất khả thi, được phát triển bởi Robert Mundell và Marcus Fleming vào những năm 1960, khẳng định rằng không thể đồng thời đạt được ba mục tiêu: ổn định tỷ giá, tự do dòng vốn và chính sách tiền tệ độc lập Để thực hiện hai trong ba mục tiêu này, các quốc gia cần lựa chọn chính sách hợp lý, nhưng sẽ phải từ bỏ một trong những mục tiêu còn lại.

Ổn định tỷ giá và mở rộng thị trường vốn có thể đạt được thông qua việc chấp nhận chính sách cố định tỷ giá, tuy nhiên điều này đòi hỏi phải từ bỏ chính sách tiền tệ độc lập.

Chính sách tiền tệ độc lập và thị trường vốn mở rộng có thể được thực hiện bằng cách chấp nhận tỷ giá thả nổi, điều này đồng nghĩa với việc từ bỏ sự ổn định tỷ giá Ngân hàng Nhà nước có quyền tự quyết định tỷ lệ lãi suất, tuy nhiên, họ cũng cần phải chấp nhận những tác động từ tỷ giá thị trường.

Tỷ giá ổn định có thể hỗ trợ chính sách tiền tệ độc lập, nhưng cần từ bỏ mở rộng thị trường vốn Độc lập tiền tệ giúp ổn định kinh tế mà không cần quản lý kinh tế vĩ mô khác, nhưng giá cả và tiền lương cứng nhắc có thể dẫn đến biến động sản xuất và lạm phát không ổn định Ngân hàng Nhà nước có thể in tiền sai cách, gây ra lạm phát cao và mất ổn định kinh tế Ổn định tỷ giá cũng thúc đẩy ổn định giá cả, giảm rủi ro và khuyến khích đầu tư, thương mại quốc tế Trong khủng hoảng kinh tế, chế độ neo tỷ giá tăng độ tin cậy vào chính sách, nhưng tỷ giá cứng nhắc có thể ngăn cản các biện pháp thích hợp, dẫn đến biến động sản xuất và phân bổ nguồn lực sai lệch, gây mất cân đối và giảm tăng trưởng liên tục.

Tự do hóa tài khoản vốn là một chính sách quan trọng cần xem xét kỹ lưỡng trong bối cảnh bộ ba bất khả thi Mở rộng thị trường tài chính có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc phân bổ nguồn lực hiệu quả, giảm thông tin bất cân xứng, gia tăng tiết kiệm nội địa và cải thiện quản lý Việc tham gia sâu hơn vào thị trường vốn quốc tế cũng có thể nâng cao sự ổn định quốc gia nhờ vào chia sẻ rủi ro và đa dạng hóa danh mục đầu tư Tuy nhiên, tự do hóa tài khoản vốn cũng có thể dẫn đến bất ổn định kinh tế, với dòng vốn ngắn hạn dễ bị biến động, gây ra chu kỳ tăng trưởng – suy thoái Dự trữ ngoại hối có thể giúp giảm thiểu rủi ro từ sự biến động đột ngột của dòng tiền và những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra.

Tự do hóa tài khoản vốn có khả năng tối ưu hóa phân bổ vốn toàn cầu, chuyển nguồn vốn từ các quốc gia công nghiệp hóa sang các nền kinh tế mới nổi đang thiếu hụt vốn Điều này không chỉ giúp các quốc gia công nghiệp thu hồi lợi nhuận cao hơn mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế và tạo thêm việc làm tại các nền kinh tế mới nổi Hơn nữa, dòng vốn đầu tư sẽ làm tăng sự biến động trong tiết kiệm nội địa, từ đó góp phần ổn định mức tiêu thụ quốc gia.

Đa dạng hóa nguồn vốn quốc tế giúp phân bổ rủi ro hiệu quả hơn và chuyển giao rủi ro sang các quốc gia khác Dòng vốn đổ vào không chỉ nâng cao khả năng thanh toán của thị trường mà còn làm giảm phí bảo hiểm rủi ro và chi phí cho dòng vốn Sự tham gia mạnh mẽ của các ngân hàng nước ngoài vào thị trường tài chính quốc tế gia tăng cạnh tranh, từ đó thúc đẩy hiệu quả tài chính và xây dựng một thị trường tài chính nội địa sâu sắc hơn.

Tự do hóa tài khoản vốn không tự động thúc đẩy sự phát triển kinh tế; điều này phụ thuộc vào các cải cách cẩn thận và sự ổn định của khu vực tài chính Để đạt được tự do hóa tài khoản vốn, cần phải củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô.

Aizenman và Lee (2007) đã chỉ ra rằng sự gia tăng đáng kể của dự trữ ngoại hối cùng với việc mở cửa thị trường tài chính sâu rộng ở các quốc gia đang phát triển có mối liên hệ chặt chẽ Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng cho thấy việc tăng cường dự trữ ngoại hối là một biện pháp hiệu quả để bảo vệ các quốc gia khỏi những biến động đột ngột trong dòng vốn đầu tư.

Do đó, mỗi một chọn lựa trong 3 chính sách của bộ ba khả thi có thể trở thành con dao hai lưỡi.

Theo nghiên cứu của Cheung và Ito (2007), mở cửa thị trường tài chính được xác định là yếu tố quan trọng nhất trong hội nhập tài chính Sự liên kết giữa thay đổi cấu trúc bộ ba bất khả thi và mức dự trữ ngoại hối cho thấy rằng mở cửa tài chính không chỉ thu hút ngoại tệ qua thị trường nợ mà còn thông qua chính sách tỷ giá, từ đó ảnh hưởng đáng kể đến mức dự trữ ngoại hối.

Christian E.Weller nghiên cứu sự đổ vỡ cấu trúc tài chính qua các năm 1973,

Năm 1982, 1997 – 1998 và năm 2000, việc kiểm chứng đã được thực hiện đối với các nhóm quốc gia công nghiệp và đang phát triển, cho thấy sự khác biệt trong điểm đổ vỡ cấu trúc tài chính của mỗi nhóm Kết quả cho thấy cần áp dụng kiểm chứng tương tự đối với các nước đang phát triển có thị trường chưa nổi và thị trường mới nổi.

Sự đổ vỡ cấu trúc tài chính ở các nước công nghiệp hóa xuất phát từ chính sách tự do hóa vốn vào năm 1990, việc duy trì tiền tệ độc lập trong giai đoạn 1997-1998, và áp dụng tỷ giá hối đoái cố định trong cùng thời gian đó.

Các nước đang phát triển với thị trường mới nổi và chưa nổi thường gặp phải sự đổ vỡ cấu trúc tài chính Nguyên nhân chủ yếu là do chính sách tiền tệ độc lập được áp dụng từ năm 2001 và tỷ giá hối đoái cố định từ năm 1982.

Sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods đã tác động mạnh mẽ đến các nước đang phát triển có thị trường chưa nổi, buộc họ phải áp dụng chính sách tự do hóa tài khoản vốn Cuộc khủng hoảng Châu Á nổi bật như một sự kiện tiêu biểu của các nước đang phát triển có thị trường mới nổi, phản ánh những thách thức mà họ phải đối mặt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu.

Các nhà làm chính sách cần xác định ưu tiên giữa ba chính sách trong bộ ba bất khả thi, nhằm tạo ra sự kết hợp tối ưu giữa hai trong ba lựa chọn Mỗi quốc gia sẽ phải thực hiện những đánh đổi cần thiết khi lựa chọn ba chính sách này, và mức độ ưu tiên sẽ thay đổi tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển.

1.2 Hiệu quả của tự do hoá tài khoản vốn

K ế t qu ả các ch ỉ s ố b ộ ba b ấ t kh ả thi ở m ộ t s ố nhóm qu ố c gia

Vào đầu những năm 1990, các nền kinh tế công nghiệp hóa đã chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng trong việc mở cửa tài chính, trong khi đó, độc lập tiền tệ có xu hướng giảm Đến cuối những năm 1990, tính ổn định tỷ giá đã tăng lên đáng kể.

Các nền kinh tế đang phát triển không thể hiện sự phân kỳ rõ ràng về các chỉ số Tùy thuộc vào việc là thị trường mới nổi hay chưa nổi, tính ổn định tỷ giá có sự khác biệt Đối với nền kinh tế mới nổi, tính ổn định tỷ giá giảm nhanh chóng từ những năm 1970 đến giữa thập niên 1980, và việc mở cửa thị trường tài chính bắt đầu từ năm 1990 Trong khi đó, ở những nền kinh tế đang phát triển khác, tính ổn định tỷ giá cũng giảm nhưng mở cửa tài chính diễn ra chậm hơn Sự độc lập tiền tệ được duy trì nhiều hơn trong cả hai trường hợp Đối với các thị trường chưa nổi, ổn định tỷ giá là chính sách chủ đạo xuyên suốt các thời kỳ, và tự do hóa tài khoản vốn vẫn chưa được chú trọng.

Sau cuộc khủng hoảng Châu Á 1997-1998, vai trò của dự trữ ngoại hối (IR) đã gia tăng nhanh chóng, đặc biệt ở các nền kinh tế đang phát triển như Đông Á và Trung Đông Trung Quốc hiện đang dẫn đầu thế giới với 2 tỷ USD dự trữ, chiếm 30% tổng dự trữ toàn cầu Đến cuối năm 2008, 10 quốc gia có IR cao nhất đều là các nước đang phát triển Một lý do chính cho sự gia tăng này là mong muốn ổn định tỷ giá, nhằm kết hợp giữa ổn định tỷ giá, độc lập tiền tệ và mở cửa thị trường tài chính Các quốc gia theo đuổi chế độ tỷ giá ổn định có thể tự do hóa tài khoản vốn mà không cần từ bỏ sự ổn định và độc lập hiện tại Tuy nhiên, để duy trì sự ổn định tỷ giá trong khi vẫn giữ quyền tự chủ về tiền tệ, các nhà chức trách cần giữ IR ở mức cao Bên cạnh đó, các nền kinh tế có thị trường tài chính mở và tỷ giá cố định có thể phải điều chỉnh chính sách tiền tệ để thích ứng.

Ngoài ra, các nghiên cứu còn cho thấy:

Càng tăng cường độc lập tiền tệ, biến động sản lượng đầu ra sẽ giảm xuống Điều này đặc biệt đúng đối với các quốc gia đang phát triển và những nền kinh tế chưa nổi, nơi mà sự ổn định trong sản lượng đầu ra trở nên quan trọng hơn.

Mô hình bộ ba bất khả thi ở một số nhóm nước cho thấy sự giảm mức độ độc lập tiền tệ qua các năm Mặc dù mức độc lập tiền tệ cao có thể giảm tính biến động của đầu tư, nhưng khi tỷ lệ dự trữ IR vượt 15-20% GDP, sự gia tăng độc lập tiền tệ có thể dẫn đến biến động đầu tư cao hơn Điều này xảy ra do tỷ lệ IR cao hơn tạo ra tính thanh khoản lớn hơn, dẫn đến chi phí sử dụng vốn tăng cao.

Nền kinh tế với tỷ giá ổn định cao thường dẫn đến biến động sản lượng đầu ra lớn ở cả các nước kém phát triển và các nền kinh tế mới nổi Tuy nhiên, khi mức IR (lãi suất thực) tăng cao, biến động sản lượng đầu ra của quốc gia có thể giảm.

Nền kinh tế có tỷ lệ mở cửa tài khoản vốn cao thường giảm thiểu biến động sản lượng đầu ra Ngưỡng tỷ lệ đầu tư (IR) được xác định là 12.6% GDP cho các nền kinh tế đang phát triển và từ 18-29% GDP cho các nền kinh tế mới nổi.

Mở cửa thị trường tài chính có khả năng dẫn đến lạm phát thấp hơn khi tỷ lệ lãi suất thực (IR) dưới 21-22% GDP Điều này cũng giúp giảm biến động tỷ giá thực, từ đó cho thấy rằng tự do hóa tài khoản vốn có thể ổn định sản lượng đầu ra thông qua việc duy trì ổn định cả tỷ giá thực và đầu tư.

Theo Chinn và Ito (2008), kết quả tính mức độ tự do hóa tài khoản vốn và mức cố định tỷ giá như sau của một số quốc gia:

Bảng 1.1 : Kết quả mức độ tự do tài khoản vốn và mức độ ổn định tỷ giá

Tự do hóa tài khoản vốn

Nguồn: Chinn and Ito (2008), Lane and Milesi (2007)

Trong thị trường mới nổi, chu chuyển vốn đóng vai trò quan trọng, đặc biệt khi nền kinh tế suy giảm, dẫn đến việc vốn chảy ra khỏi quốc gia Ngân hàng Trung ương thường phản ứng bằng cách bán USD, điều này làm tăng lãi suất nội địa Dòng vốn theo chu kỳ sẽ tương tác với việc neo tỷ giá, từ đó ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ theo chu kỳ Kết quả là, chính sách tiền tệ trong thị trường mới nổi thường bị bóp méo.

Trong số 11 nước Châu Á, các nền kinh tế như Singapore và Hồng Kông áp dụng chiến lược mở cửa tài khoản vốn cao, đồng thời duy trì tỷ giá hối đoái ổn định hoặc chỉ có mức linh hoạt thấp Ngược lại, một số nền kinh tế khác lại chọn lựa các phương pháp vận hành khác nhau.

Bài h ọ c kinh nghi ệ m cho Vi ệ t Nam trong quá trình t ự do hóa tài kho ả n v ố n

Dựa trên kinh nghiệm mở cửa thị trường của Trung Quốc, Canada và các quốc gia khác, Việt Nam có thể rút ra những bài học quý giá trong quá trình tự do hóa tài khoản vốn Việc học hỏi từ các mô hình thành công sẽ giúp Việt Nam xây dựng chính sách hiệu quả, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và thu hút đầu tư nước ngoài Đồng thời, cần chú trọng đến việc quản lý rủi ro tài chính và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô trong quá trình này.

Tự do hóa tài khoản vốn cần được thực hiện theo một lộ trình hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội của Việt Nam Việc tự do hóa dòng vốn nên được triển khai sau cùng, đi kèm với các biện pháp kiểm soát vốn thích hợp để đảm bảo an toàn và ổn định.

Việc mở cửa thị trường tài chính ở Việt Nam gắn liền với quá trình cải cách liên tục hệ thống tài chính Các cải cách về chính sách tỷ giá, quản lý ngoại tệ và chính sách lãi suất đóng vai trò đặc biệt quan trọng, vì chúng ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế.

Các chính sách kinh tế vĩ mô rõ ràng và tin cậy là cần thiết để tránh mất cân đối trong nền kinh tế Việc giữ tỷ giá đa phương ổn định giúp giảm thiểu tác động tiêu cực từ hành vi đầu cơ và biến động của luồng vốn đầu tư Sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách này là yếu tố quan trọng để duy trì tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế.

Sự thả nổi linh hoạt của thị trường yếu tố sản xuất và sản phẩm là yếu tố quan trọng giúp ứng phó kịp thời với các cú sốc từ biến động tỷ giá và thay đổi điều khoản thương mại quốc tế.

- Nguồn dự trữ ngoại hối dồi dào cũng là một nguyên nhân rất quan trọng dẫn đến thành công.

Chương 1 giới thiệu khái niệm về bộ ba bất khả thi, hiệu quả của tự do hoá tài khoản vốn cũng như tác động của tự do hoá tài khoản vốn đến an ninh tài chính quốc gia. Đồng thời, có phải quá trình tự do tài khoản vốn không nên theo đuổi như một mục tiêu chính sách ở các nền kinh tế mới nổi? Trước hết, bất kỳ nền kinh tế nào muốn mở cửa hệ thống tài chính thì cần đánh giá sự cần thiết của việc mở cửa hệ thống tài chính của mình một cách cẩn thận Thứ hai, nếu quyết định tự do hóa như sự thử nghiệm thì các định chế cần thiết để ổn định ngân hàng và tiền tệ cần được thiết lập trước khi mở cửa một lĩnh vực nào Nói cách khác, việc dễ bị tổn thương không phải là một chuỗi các trường hợp đặc biệt, mà là sự yếu kém trong cấu trúc, như xây dựng thể chế là điều kiện tiên quyết hơn là việc đưa ra cách giải quyết có thể chấp nhận sau khi tự do hóa tài khoản vốn.

Tác giả trình bày các định nghĩa quan trọng và công thức tính chỉ số bộ ba bất khả thi, đồng thời phân tích kết quả của các chỉ số này ở một số nhóm quốc gia Ảnh hưởng của cấu trúc chính sách kinh tế vĩ mô quốc tế phụ thuộc vào cách mà các nhà làm chính sách ưu tiên mục tiêu của họ Ví dụ, nếu các nhà làm chính sách chú trọng vào việc ổn định tỷ giá thực, họ sẽ thực hiện các chính sách nhằm ổn định tỷ giá và mở cửa thị trường tài chính nhiều hơn, điều này đồng nghĩa với việc giảm mức độ độc lập của tiền tệ Cấu trúc lựa chọn chính sách này phản ánh sự kết hợp giữa ba lựa chọn chính sách có độ bền riêng biệt và những yếu kém liên quan đến kết quả của các chính sách kinh tế vĩ mô.

Các nền kinh tế công nghiệp hóa đang tìm kiếm sự kết hợp giữa chế độ ổn định tỷ giá cao và việc mở cửa thị trường tài chính, đồng thời duy trì mức độ độc lập tiền tệ thấp Trong khi đó, các nền kinh tế mới nổi hướng tới một mô hình "khoảng giữa" với chế độ tỷ giá linh hoạt có quản lý, kết hợp với mức độ độc lập tiền tệ trung bình và mở cửa thị trường tài chính.

Kết quả phân tích thực nghiệm và thực trạng tự do hóa tài khoản vốn của Việt Nam

K ế t qu ả tính toán các ch ỉ s ố b ộ ba b ấ t kh ả thi ở Vi ệ t Nam

2.2.1 Chỉ số độc lập tiền tệ (MI)

Số liệu được thu thập theo tháng, từ tháng 1/2000 đến tháng 12/2009 từ thống kê tài chính của IMF.

Lãi suất của nước chủ nhà, được xác định qua lãi suất tiền gửi (mã 58260L ZF theo IMF), đã được ghi nhận từ tháng 4/2009 đến tháng 12/2009 Dữ liệu này phản ánh lãi suất bình quân của 10 ngân hàng lớn trong giai đoạn này.

Dữ liệu ij - lãi suất của nước cơ bản được chọn là lãi suất thị trường tiền tệ nước Mỹ (11160B ZF theo IMF).

Bảng 2.1 : Các chỉ số độc lập tiền tệ của Việt Nam từ 2000-2009

Nhìn vào biểu đồ 2.4 cho thấy chỉ số độc lập tiền tệ MI của Việt Nam từ năm

Từ năm 2003 đến 2005, thị trường tài chính Việt Nam chứng kiến sự giảm mạnh, đặc biệt nhất là vào năm 2004, khi lãi suất thị trường tiền tệ của Mỹ giảm từ 5.3% xuống còn 1% Chính sách của Cục Dự trữ Liên bang (Fed) nhằm duy trì lãi suất thấp để kích thích đầu tư trong bối cảnh lạm phát thấp và tỷ lệ thất nghiệp cao đã ảnh hưởng đến Việt Nam Trong giai đoạn này, lãi suất trung bình của Việt Nam cũng giảm nhẹ, đạt khoảng 6.2%, cho thấy chính sách tiền tệ của Việt Nam phụ thuộc nhiều vào tình hình kinh tế toàn cầu.

Việt Nam đã chính thức gia nhập AFTA vào cuối năm 1995 và APEC vào tháng 11 năm 1998, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Theo Quyết định 37/2002/QĐ-Ttg ngày 14 tháng 03 năm 2002, các cơ quan nhà nước và ban ngành đã chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc gia nhập WTO, mở ra cơ hội mới cho nền kinh tế Việt Nam.

Năm 2004, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã chấm dứt chu kỳ nới lỏng lãi suất kéo dài với 13 lần hạ lãi suất liên tiếp từ mức 6% vào đầu năm 2001 Trong chưa đầy 6 tháng, FED đã thực hiện 5 lần tăng lãi suất cơ bản từ mức thấp kỷ lục 1% lên 2,25% vào cuối năm Sự thay đổi này đã tác động mạnh mẽ đến thị trường tài chính quốc tế cũng như thị trường tiền tệ và tín dụng trong nước, dẫn đến việc lãi suất tại Việt Nam cũng ghi nhận sự tăng nhẹ, từ 5,97% vào năm 2003 lên 6,2% vào tháng 8/2004 và 6,5% vào tháng 11/2004.

Việc Việt Nam mở cửa để chuẩn bị cho hội nhập vào WTO đã dẫn đến dòng vốn đầu tư ồ ạt trong giai đoạn này Chính vì vậy, chính sách của Việt Nam trong thời kỳ này chịu ảnh hưởng lớn từ các quyết định của Mỹ.

Biểu đồ 2.4 cho thấy mức độ độc lập tiền tệ của Việt Nam vào năm 2007 khá thấp và gần như phụ thuộc Nguyên nhân chủ yếu là do cuộc đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam diễn ra vào ngày 7/11/2006 dưới sự dẫn dắt của Bộ trưởng Trương Đình Tuyển.

Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO vào năm 2007, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hội nhập kinh tế quốc tế Trong năm này, lãi suất của Mỹ giảm từ 5.25% đầu năm xuống 5.02% vào tháng 8 và 4.24% vào tháng 12 Tương tự, lãi suất tại Việt Nam cũng có xu hướng giảm, từ 7.68% đầu năm xuống 7.4% giữa năm và còn 7.2% vào cuối năm.

Năm 2008, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đạt 23 tỷ USD, vượt mức 15%-20% GDP, tương đương 13,4 – 17,9 tỷ USD Sự gia tăng dự trữ ngoại hối cao cùng với độc lập tiền tệ lớn đã dẫn đến biến động đầu tư mạnh mẽ Chỉ số MI của Việt Nam năm 2008 đạt 0.56, tăng đáng kể so với các năm trước, và nguồn vốn đầu tư FDI cũng ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ trong năm này.

Năm 2009, chỉ số độc lập tiền tệ của Việt Nam đạt mức cao, với lãi suất tăng từ 6.99% lên 8.76%, trong khi lãi suất Mỹ giảm từ 0.15% xuống 0.12% Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách hành chính và khống chế mức trần lãi suất để ứng phó với khủng hoảng kinh tế toàn cầu và kiềm chế lạm phát Dự trữ ngoại hối của Việt Nam cũng giảm xuống còn khoảng 13,95 tỷ USD, tương đương 15-20% GDP, cho thấy rằng mức độc lập tiền tệ cao giúp giảm tính biến động trong đầu tư.

2.2.2 Chỉ số ổn định tỷ giá (ERS)

Dữ liệu được thu thập theo tháng từ Ngân hàng Nhà nước, kéo dài từ tháng 1/2000 đến tháng 12/2009 Tỷ giá hàng tháng được ghi nhận là tỷ giá bình quân liên ngân hàng, theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước.

Bảng 2.2 : Biểu số liệu chỉ số ERS từ năm 2000 -2009

Biểu đồ 2.5 chỉ ra rằng mức ổn định tỷ giá của Việt Nam trong các năm qua khá cao, cho thấy sự chưa linh hoạt trong chính sách tỷ giá Tuy nhiên, từ năm 2008 trở đi, chỉ số ERS của Việt Nam đã giảm, điều này chứng tỏ rằng Việt Nam đang dần điều chỉnh và linh hoạt hơn trong việc quản lý tỷ giá.

Năm 2001, chỉ số ERS đạt 0.53 cho thấy Việt Nam chưa hoàn toàn thả nổi tỷ giá, nhưng cũng không hoàn toàn neo tỷ giá Các quy định trong hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành luật đầu tư nước ngoài có hiệu lực từ ngày 19/04/2001 đã tạo ra chính sách ưu đãi cao cho các dự án đầu tư vào Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu Điều này đã dẫn đến sự gia tăng lượng vốn USD trong nước và tỷ giá VND/USD trở nên linh hoạt hơn.

Từ năm 1990 đến 2006, cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam đã trải qua nhiều thay đổi đáng kể, hướng tới sự linh hoạt và phù hợp với cung cầu thị trường Sự chuyển biến này đặc biệt rõ nét từ năm 2006, khi Việt Nam bắt đầu áp dụng các biện pháp điều chỉnh tỷ giá để phản ánh chính xác hơn tình hình kinh tế.

1999 Tuy nhiên, trong giai đoạn này, NHNN xem tỷ giá hối đoái như một cái

Trong giai đoạn 2004-2006, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã cam kết giữ tỷ giá biến động không quá 1% mỗi năm nhằm kiểm soát lạm phát Thực tế cho thấy, với đặc điểm nền kinh tế đô la hóa, việc ổn định tỷ giá có tác động tích cực đến thị trường tiền tệ Việt Nam Sự ổn định này chủ yếu được duy trì nhờ chính sách “neo” tỷ giá của NHNN, góp phần kiểm soát lạm phát hiệu quả.

Mức lạm phát năm 2007 tại Việt Nam tăng cao hơn so với năm trước, khiến việc kiểm soát lạm phát trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Kinh tế Việt Nam, với tiềm năng lớn và cơ hội đầu tư hấp dẫn, đã chứng kiến sự gia tăng đột biến của vốn đầu tư nước ngoài sau khi gia nhập WTO Theo nguyên tắc, khi dòng vốn nước ngoài tăng, giá trị VNĐ sẽ tăng lên để đạt điểm cân bằng Tuy nhiên, với chiến lược phát triển dựa vào xuất khẩu, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phát hành VNĐ để mua lại ngoại tệ nhằm giữ tỷ giá VNĐ/USD thấp hơn mức cân bằng, từ đó nâng cao tính cạnh tranh về giá cho hàng xuất khẩu Trong giai đoạn này, tỷ giá VNĐ hầu như không có biến động lớn.

- Và theo cách phân loại của IMF năm 2008 Việt Nam được xếp vào nhóm “Neo tỷ giá truyền thống”.

Thực tế Việt Nam khi tự do hóa tài khoản vốn

Việt Nam hiện đang ở giai đoạn phát triển thấp và trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Thị trường vốn tại đây cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro và yếu kém cố hữu, đòi hỏi một quá trình phát triển và tái cơ cấu bền vững trong tương lai.

Thực tế quá trình chu chuyển dòng vốn của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập qua các năm như sau:

2.3.1 iệu quả sử dụng vốn đầu tư Để đo lường hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, có thể sử dụng chỉ số ICOR

Hệ số gia tăng giữa vốn và sản lượng (Incremental Capital-Output ratio) được tính bằng cách chia lượng vốn tăng thêm cho giá trị đầu ra tăng thêm Khi thực hiện và phân bổ đầu tư vốn một cách hiệu quả, sản lượng sẽ tăng lên tương ứng với mức đầu tư đã bỏ ra.

31 và do đó ICOR thấp hơn Nói cách khác, ICOR cao thể hiện đầu tư không hiệu quả và ngược lại.

Chỉ số ICOR của Việt Nam vào năm 2008 được xác định khoảng 7, một con số được các nhà kinh tế đánh giá là quá cao, cho thấy sự không hiệu quả trong đầu tư từ khâu phân bổ đến triển khai thực hiện.

2.3.2.nh hình đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp vào Việt Nam

FDI, với đặc điểm là nguồn vốn dài hạn và ổn định trước những biến động tài chính, thường được các nước đang phát triển ưu tiên tự do hóa trong quá trình giao dịch vốn Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng này, đang từng bước thực hiện tự do hóa luồng vốn FDI để thu hút đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế.

Để nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã đa dạng hóa các hình thức FDI Từ ba loại hình đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài năm 1987, bao gồm 100% vốn nước ngoài, hợp tác kinh doanh và liên doanh, hiện nay đã có tới tám loại hình theo Luật đầu tư năm 2006.

Thời gian hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được nới lỏng từ 20 năm lên 50 năm, và có khả năng kéo dài đến 70 năm.

Để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), cần đơn giản hóa các thủ tục cấp phép cho các dự án FDI Cụ thể, thời gian cấp phép cho dự án đầu tư sẽ được rút ngắn từ 3 tháng xuống còn 15 ngày đối với các dự án có vốn tự có dưới 300 tỷ VND và 45 ngày đối với các dự án có vốn tự có trên 300 tỷ VND Ngoài ra, các thủ tục đầu tư sẽ được đơn giản hóa, cho phép các nhà đầu tư tự đăng ký và chịu trách nhiệm về vốn đăng ký mà không cần thẩm tra năng lực tài chính.

Vào ngày thứ tư, quy định về chuyển vốn và lợi nhuận về nước đã được nới lỏng, với mức thuế đánh trên lợi nhuận chuyển về nước giảm từ 5-10% theo Luật Đầu tư nước ngoài 1987 xuống còn 0% theo Thông tư số 26 năm 2004 của Bộ Tài chính.

Vào thứ năm, sẽ có chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại phí cho các dự án đầu tư nước ngoài tại những vùng kinh tế khó khăn hoặc trong các lĩnh vực trọng điểm của Nhà nước.

Trong giai đoạn 1992-2009, Việt Nam đã nỗ lực tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời thực hiện tự do hóa luồng vốn FDI Kết quả là, nước ta đã thu hút một lượng lớn vốn FDI, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế Đặc biệt, luồng vốn đầu tư gián tiếp cũng đã có những bước tiến đáng kể trong giai đoạn này.

Mặc dù Việt Nam đã thành công trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp, nhưng đầu tư gián tiếp vẫn còn hạn chế Sau khủng hoảng tài chính Châu Á, luồng vốn gián tiếp vào Việt Nam có xu hướng tăng, nhưng quy mô còn nhỏ và chiếm tỷ lệ thấp so với vốn trực tiếp Sự bùng nổ thị trường chứng khoán năm 2006-2007 đã thu hút nhiều quỹ đầu tư nước ngoài, làm gia tăng luồng vốn gián tiếp Các nhà đầu tư nước ngoài chọn Việt Nam vì chính phủ khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân, môi trường đầu tư ngày càng chuyên nghiệp và thành công của các nhà đầu tư hiện hữu Những tiến bộ trong lĩnh vực tài chính, như phát hành trái phiếu và cổ phần hóa, cũng góp phần thu hút vốn Đặc biệt, chính sách tự do hóa luồng vốn gián tiếp tại Việt Nam là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự gia tăng này.

Từ ngày 6/12/2004, quy định về việc kiểm soát luồng vốn chảy ra đã được nới lỏng, cho phép tổ chức và cá nhân nước ngoài chuyển phần vốn đầu tư ra nước ngoài mà không cần phải chờ 1 năm kể từ ngày chuyển vào tài khoản giao dịch chứng khoán bằng VND tại thành viên lưu ký nước ngoài, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.

Vào ngày 01/6/2009, tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài đối với doanh nghiệp niêm yết và chưa niêm yết đã được nới lỏng Cụ thể, các nhà đầu tư nước ngoài có thể sở hữu tối đa 49% cổ phần trong các doanh nghiệp niêm yết không thuộc ngành ngân hàng và 30% đối với các ngân hàng Đối với các doanh nghiệp chưa niêm yết, tỷ lệ góp vốn cũng được tăng từ 30% lên 49% cho các doanh nghiệp không thuộc ngành ngân hàng và giữ nguyên 30% cho các ngân hàng.

Vào ngày 3 tháng 2 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã chấp thuận cho nhà đầu tư Morgan Stanley International Holdings Inc (MSIHI) thanh toán bằng đô la Mỹ (USD) để mua cổ phần của Chính phủ tại Công ty Tài chính Dầu khí (PVFC) Quyết định này được xem như một giải pháp nhằm tăng cường dòng vốn cho thị trường chứng khoán và các tài sản tài chính khác.

Trong những năm qua, thị trường tài chính Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể nhờ vào quá trình cải cách kinh tế Các thị trường cơ bản của thị trường tài chính đã hình thành và hoàn thiện, với sự ra đời của nhiều loại hình định chế trung gian tài chính Tuy nhiên, thị trường tài chính Việt Nam vẫn còn kém phát triển, với hàng hóa trên thị trường, đặc biệt là thị trường tiền tệ, còn ít và thiếu linh hoạt Hơn nữa, các quy định pháp lý về giao dịch của các công cụ tài chính chưa được luật hóa, trong khi dư nợ tín dụng tăng mạnh nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt khi lượng ngoại tệ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tín dụng.

Gợi ý chính sách cho tiến trình tự do hóa tài khoản vốn của Việt Nam

Tiến trình tự do hóa tài khoản vốn

Việt Nam đang phải đối mặt với thách thức lớn khi không thể đồng thời đạt được ba mục tiêu chính sách vĩ mô: ổn định tỷ giá, tự do hóa dòng vốn và duy trì chính sách tiền tệ độc lập.

Tự do hóa tài khoản vốn là xu hướng toàn cầu mà các quốc gia đang phát triển hướng tới để tăng cường hội nhập quốc tế Định hướng cho quá trình tự do hóa tài khoản vốn trong tương lai sẽ tập trung vào việc cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy sự phát triển bền vững.

Tự do hóa tài khoản là xu hướng tất yếu trong hội nhập kinh tế, nhằm giải quyết các mất cân đối trong nền kinh tế Việt Nam Điều này không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần duy trì ổn định chính trị và xã hội.

Tự do hóa tài khoản vốn tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn, bao gồm cả vốn trong nước và vốn nước ngoài.

Tự do hóa tài khoản vốn cần được thực hiện theo một lộ trình cụ thể, kết hợp với các giải pháp chính sách vĩ mô, đặc biệt là chính sách tỷ giá và tiền tệ, để giảm thiểu tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việc tự do hóa tài khoản vốn cần được đặt trong bối cảnh rộng hơn của tự do hóa tài chính.

Tự do hoá tài khoản vốn cần đảm bảo sự ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì sự ổn định trong khu vực tài chính, nhằm loại trừ khả năng xảy ra khủng hoảng.

Xác định lộ trình hợp lý cho việc phát triển và tự do hóa từng bước luồng vốn trong bối cảnh hội nhập, đồng thời đa dạng hóa nguồn vốn và đa phương hóa quan hệ đối tác Cần hoàn thiện công tác quản lý nợ nước ngoài và xây dựng hệ thống giám sát nợ hiệu quả.

Giảm thâm hụt ngân sách Giải quyết nợ xấu để hạn chế rủi ro cho các ngân hàng

Hoàn thiện thể chế công khai minh bạch

Tổ chức lại và củng cố các TCTD

Tự do hóa lãi suất

Mở cửa hơn nữa lĩnh vực dịch vụ tài chính

Tự do hóa tài khoản vốn là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả các dự án và chương trình sử dụng vốn vay nước ngoài, đặc biệt là nguồn vốn vay thương mại của doanh nghiệp theo cơ chế tự vay tự trả Đồng thời, cần tăng cường nguồn nhân lực và nâng cao năng lực quản lý nợ nước ngoài để đảm bảo sự phát triển bền vững.

Nâng cao năng lực giám sát tài chính là cần thiết để đảm bảo an ninh tài chính quốc gia và lành mạnh hóa hệ thống tài chính Cần thiết lập hệ thống cảnh báo sớm nhằm ngăn chặn kịp thời các nguy cơ mất an ninh, đồng thời áp dụng chế độ báo cáo tài chính bắt buộc và thực hiện công khai tài chính Kiểm toán các đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước cũng cần được thực hiện thường xuyên Để nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, thanh tra tài chính, cần hoàn thiện và hiện đại hóa quản lý tài chính, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quản lý tài chính.

Biểu đồ 3.1 : Lộ trình tự do hóa tài khoản vốn của Việt Nam.

Những điều kiện tiên quyết khi thực hiện tự do hóa tài khoản vốn

Dựa trên phân tích thực trạng Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế, các quốc gia đang phát triển như Việt Nam cần đảm bảo rằng việc tự do hóa tài khoản vốn được thực hiện dựa trên những điều kiện nhất định.

- Cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức cạnh tranh cao, có khả năng thích ứng với những thay đổi kinh tế trong và ngoài nước;

- Các doanh nghiệp được sắp xếp lại và đổi mới công nghệ nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn vay;

Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định là yếu tố quan trọng để ngăn chặn thâm hụt ngân sách, được thể hiện qua các chỉ tiêu như tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp và cán cân thanh toán.

Xây dựng một hệ thống quy định chặt chẽ và hiệu quả là cần thiết để đảm bảo việc thực hiện kế toán, kiểm toán và báo cáo đúng quy định Cần phát triển cơ chế thị trường một cách đồng bộ, nhằm tối ưu hóa khả năng huy động mọi nguồn lực cho sự tăng trưởng bền vững.

Để đảm bảo hiệu lực của các chính sách kinh tế vĩ mô, cần thiết lập cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái hiệu quả và duy trì mức dự trữ ngoại hối phù hợp Điều này giúp đối phó với những biến động trên thị trường ngoại hối, đồng thời đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ cho đất nước.

Việc xây dựng hạ tầng cơ sở cho thị trường tài chính trong nước là cần thiết trước khi tự do hóa tài khoản vốn Đặc biệt, cần phát triển hạ tầng cho đầu tư gián tiếp vào cổ phiếu và các công cụ nợ, giúp giảm dần sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào nguồn tín dụng ngân hàng.

Việc mở cửa có giới hạn cho các giao dịch vốn nước ngoài cần được thực hiện cùng với việc thẩm định kỹ lưỡng các dự án sử dụng vốn này Đồng thời, cần giám sát chặt chẽ dòng vốn ngắn hạn và các giao dịch trên thị trường chứng khoán Một số hạn chế đối với việc chuyển vốn ra nước ngoài vẫn cần duy trì Các khoản vay nước ngoài ngắn hạn sẽ được quản lý theo hạn mức số dư, dưới sự giám sát của cơ quan quản lý và phải tuân thủ chế độ thông tin báo cáo.

Tự do hóa giao dịch vốn dài hạn nên được thực hiện trước khi tự do hóa giao dịch vốn ngắn hạn, với FDI đóng vai trò là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình này, vì nguồn vốn FDI chủ yếu là vốn dài hạn.

Chính phủ thực hiện chính sách ưu đãi cho đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bằng cách nới lỏng các quy định liên quan đến chuyển vốn, mua ngoại tệ để chuyển về nước, cũng như điều chỉnh cơ cấu vốn góp.

- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nước ngoài;

- Hoàn thành lành mạnh hóa hệ thống tài chính- ngân hàng trước khi tự do hóa tài khoản vốn nhằm tránh nguy cơ mất khả năng thanh toán;

Tự do hóa tài khoản vốn cần phải đi đôi với việc củng cố kỷ luật tài chính, với hệ thống ngân hàng đóng vai trò trung tâm Điều này nhằm tránh tình trạng chính phủ bảo lãnh ngầm cho các dòng vốn vào, đảm bảo tính minh bạch và ổn định trong hoạt động tài chính.

Ngày đăng: 14/09/2022, 19:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Trần Ngọc Thơ, TS. Nguyễn Ngọc Định, TS. Nguyễn Thị Ngọc Trang, TS. Nguyễn Thị Liên Hoa, GV. Nguyễn Khắc Quốc Bảo (2001), Tài chính quốc tế, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chínhquốc tế
Tác giả: TS. Trần Ngọc Thơ, TS. Nguyễn Ngọc Định, TS. Nguyễn Thị Ngọc Trang, TS. Nguyễn Thị Liên Hoa, GV. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2001
2. Tổng cục thống kê (2008), Niêm giám thống kê 2007, http://www.gso.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niêm giám thống kê 2007
Tác giả: Tổng cục thống kê
Năm: 2008
3. Tổng cục thống kê (2009), Niêm giám thống kê 2008, http://www.gso.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niêm giám thống kê 2008
Tác giả: Tổng cục thống kê
Năm: 2009
4. Tổng cục thống kê (2010), Niêm giám thống kê 2009, http://www.gso.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niêm giám thống kê 2009
Tác giả: Tổng cục thống kê
Năm: 2010
5. Tổng cục thống kê (2010), Số liệu thương mại 2006, 2007, 2008, 2009, http://www.gso.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thương mại 2006, 2007, 2008, 2009
Tác giả: Tổng cục thống kê
Năm: 2010
6. Đề tài nghiên cứu: “Định hướng chính sách tự do hóa giao dịch vốn của Việt Nam nhằm ổn định khu vực tài chính giai đoạn từ nay đến năm 2020”– NGƯT., TS.Tô Ngọc Hưng, Giám đốc Học viện Ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng chính sách tự do hóa giao dịch vốn củaViệt Nam nhằm ổn định khu vực tài chính giai đoạn từ nay đến năm 2020
10. Nghiên cứu về “Bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại hối” của GS.TS Trần Ngọc Thơ – tháng 12/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại hối
1. The “Impossible Trinity” Hypothesis is an Era of Global Imbalances:Measurement and Testing, Joshua Aizenman, Menzie D.Chinn, Hiro Ito, tháng 11/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impossible Trinity
4. IMF (2010), International Financial Statistics, CD, Database and Browser Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Financial Statistics
Tác giả: IMF
Năm: 2010
8. William E. Griffiths, R. Carter Hill, Guay C. Lim (2008), Using Eviews for principles of econometrics - Third edition, John Wiley & Sons, Inc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Using Eviews forprinciples of econometrics - Third edition
Tác giả: William E. Griffiths, R. Carter Hill, Guay C. Lim
Năm: 2008
7. Các tạp chí kinh tế của Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM năm 2008, 2009, 2010 Khác
9. Thời báo kinh tế Việt Nam và thế giới năm 2008-2009 Khác
2. Surfing the Waves of Globalization: Asia and Financial Globalization in the Context of the Trilemma, Joshua Aizenman, Menzie D.Chinn, Hiro Ito, tháng 3/2010 Khác
3. Asia Confronts the Impossible Trinity, Lla Patnaik and Ajay Shah, tháng 2/1010 Khác
5. Quantitative Micro Software, LLC (2007), Eviews 6 user's guide I Khác
6. Quantitative Micro Software, LLC (2007), Eviews 6 user's guide II Khác
7. Financial crisis after financial liberalization: exceptional circumstances or structural weakness, Christian E. Weller, tháng 12/1999 Khác
9. Monetary Policy and the Financial Crisis of 2007-2008, Stephen G.Cecchetti, tháng 4/2008 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Ta có: a+ b= 100 (1) - Tự do hóa tài khoản vốn trong quan điểm bộ ba bất khả thi
a có: a+ b= 100 (1) (Trang 4)
hình thoi – biểu đồ 1.1 đo lường độc lập tiền tệ, tỷ lệ IR/GDP, ổn định tỷ giá và sự tự do tài chính. - Tự do hóa tài khoản vốn trong quan điểm bộ ba bất khả thi
hình thoi – biểu đồ 1.1 đo lường độc lập tiền tệ, tỷ lệ IR/GDP, ổn định tỷ giá và sự tự do tài chính (Trang 23)
Bảng 1.1: Kết quả mức độ tự do tài khoản vốn và mức độ ổn định tỷ giá - Tự do hóa tài khoản vốn trong quan điểm bộ ba bất khả thi
Bảng 1.1 Kết quả mức độ tự do tài khoản vốn và mức độ ổn định tỷ giá (Trang 24)
Bảng 2.1: Các chỉ số độc lập tiền tệ của Việt Nam từ 2000-2009 - Tự do hóa tài khoản vốn trong quan điểm bộ ba bất khả thi
Bảng 2.1 Các chỉ số độc lập tiền tệ của Việt Nam từ 2000-2009 (Trang 30)
Bảng 2.3: Kết quả phân tích chỉ số mở cửa thị trường giai đoạn 2000-2009 - Tự do hóa tài khoản vốn trong quan điểm bộ ba bất khả thi
Bảng 2.3 Kết quả phân tích chỉ số mở cửa thị trường giai đoạn 2000-2009 (Trang 35)
Bảng 2.4: Kết quả phân tích mơ hình mối tương quan các chỉ số bộ ba bất khả thi - Tự do hóa tài khoản vốn trong quan điểm bộ ba bất khả thi
Bảng 2.4 Kết quả phân tích mơ hình mối tương quan các chỉ số bộ ba bất khả thi (Trang 36)
Sử dụng phần mềm Eview4 trong mơ hình: aj MIi,t + bj ERSi,t + cj Openi,t + єt = 1 - Tự do hóa tài khoản vốn trong quan điểm bộ ba bất khả thi
d ụng phần mềm Eview4 trong mơ hình: aj MIi,t + bj ERSi,t + cj Openi,t + єt = 1 (Trang 36)
BẢNG THỐNG KÊ LÃI SUẤT TỪ NĂM 2000-2009 - Tự do hóa tài khoản vốn trong quan điểm bộ ba bất khả thi
2000 2009 (Trang 64)
BẢNG THỐNG KÊ TỶ GIÁ TỪ NĂM 2000-2009 - Tự do hóa tài khoản vốn trong quan điểm bộ ba bất khả thi
2000 2009 (Trang 65)
BẢNG THỐNG KÊ CÁC CHỈ SỐ TÍNH ĐỘ MỞ THỊ TRƯỜNG TỪ NĂM 1992-2009 - Tự do hóa tài khoản vốn trong quan điểm bộ ba bất khả thi
1992 2009 (Trang 66)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w