1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước đối với Trung tâm dịch vụ việc làm ở Việt Nam hiện nay

94 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Nhà Nước Đối Với Trung Tâm Dịch Vụ Việc Làm Ở Việt Nam
Tác giả Bùi Thị Hảo
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Hồi
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Lý Kinh Tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 319,24 KB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM. .6 1.1. Trung tâm dịch vụ việc làm (15)
    • 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của trung tâm dịch vụ việc làm (15)
    • 1.1.2. Phân loại trung tâm dịch vụ việc làm (17)
    • 1.2. Quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm (17)
      • 1.2.1. Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm (17)
      • 1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm (26)
      • 1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm (33)
    • 1.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm ở một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam (37)
      • 1.3.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia (37)
      • 1.3.2. Bài học cho Việt Nam (43)
  • CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM (45)
    • 2.1. Thực trạng hệ thống các trung tâm dịch vụ việc làm ở Việt Nam đến năm 2020 (45)
    • 2.2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm ở Việt Nam hiện nay (0)
      • 2.2.1. Ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm (49)
      • 2.2.3. Quy hoạch mạng lưới trung tâm dịch vụ việc làm (57)
      • 2.2.4. Quản lý thành lập và hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm (58)
      • 2.2.5. Kiểm soát hoạt động của các Trung tâm dịch vụ việc làm (66)
    • 2.3. Đánh giá chung thực trạng quản lý nhà nước đối với các trung tâm dịch vụ việc làm ở Việt Nam hiện nay (67)
      • 2.3.1. Đánh giá việc thực hiện mục tiêu (67)
      • 2.3.2. Đánh giá việc thực hiện nội dung quản lý (78)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025 (83)
    • 3.1. Mục tiêu và phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các (83)
      • 3.1.1. Mục tiêu quản lý nhà nước đối với các trung tâm dịch vụ việc làm ở Việt Nam đến năm 2025 (83)
      • 3.1.2. Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các trung tâm dịch vụ việc làm ở Việt Nam đến năm 2025 (83)
    • 3.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các trung tâm dịch vụ việc làm ở Việt Nam đến năm 2025 (85)
      • 3.2.1. Giải pháp hoàn thiện các nội dung quản lý nhà nước đối với các (85)
      • 3.2.2. Các giải pháp khác (88)
    • 3.3. Điều kiện thực hiện các giải pháp (89)
      • 3.3.1. Về hàng lang pháp lý (89)
      • 3.3.2. Về nguồn lực tài chính (89)
      • 3.3.3. Về nguồn nhân lực (89)

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của thị trường lao động, là cầu nối giữa người sử dụng lao động và người lao động, trực tiếp bố trí người tìm việc vào các công việc phù hợp, góp phần làm giảm nhu cầu bức bách của xã hội về việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, giúp người lao động có việc làm và thu nhập ổn định để đảm bảo cuộc sống bản thân và gia đình, góp phần giúp xã hội phát triển lành mạnh. Trên thế giới, hoạt động dịch vụ việc làm đã bắt đầu xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 tại một số nước công nghiệp phát triển như Anh, Mỹ, như là một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực về kinh tế, xã hội của nạn thất nghiệp đang tràn lan vào thời gian bấy giờ. Ngày nay, hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm đã được thành lập và hoạt động ở hầu hết các nước, trong bối cảnh thị trường lao động thay đổi và phát triển ở tốc độ cao và được các nước sử dụng như là một công cụ hữu hiệu để thực thi và giám sát các chính sách việc làm, điều tiết thị trường lao động nhằm ngăn chặn thất nghiệp lan rộng. Tại Việt Nam, vào cuối những năm 80 đã bắt đầu hình thành các Trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm nhằm đáp ứng yêu cầu bức xúc về dạy nghề và việc làm. Trải qua hơn 30 năm hoạt động, với vai trò là cầu nối trung gian giữa người lao động và người sử dụng lao động, hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm đã có những đóng góp không nhỏ cho công tác giải quyết việc làm cho người lao động, giúp người lao động và người sử dụng lao động gặp gỡ trao đổi các vấn đề về việc làm và điều kiện làm việc, người lao động tìm được việc làm và thu nhập tốt, phù hợp với khả năng, người sử dụng lao động tìm được người lao động có kỹ năng và trình độ chuyên môn hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, các Trung tâm dịch vụ việc làm còn là địa chỉ tin cậy cung cấp các dịch vụ tư vấn chính sách, nghề nghiệp, việc làm, xuất khẩu lao động, cung cấp các dịch vụ dạy nghề ngắn hạn gắn với giải quyết việc làm cho người lao động. Xu thế toàn cầu hoá, một mặt tăng khả năng giao lưu, hội nhập và hợp tác giữa các nước trong khu vực và thế giới; mặt khác, tạo ra khả năng cạnh tranh ngày càng cao trong mọi lĩnh vực, lĩnh vực dịch vụ việc làm thực sự trở thành yếu tố cơ bản trong cạnh tranh để phát triển thị trường lao động, mở rộng cơ hội việc làm, thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, tạo môi trường thuận lợi trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài và phát triển của các doanh nghiệp trong nước; Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển với quy mô và trình độ ngày càng cao tạo điều kiện cho công nghệ thông tin, nhiều ngành nghề mới phát triển với trình độ cao. Cơ cấu việc làm tạo ra trong nền kinh tế cũng có nhiều thay đổi, một mặt tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ việc làm phát triển, mặt khác cũng đòi hỏi các cơ sở dịch vụ việc làm phải năng động, đổi mới và nâng cao hiệu quả dịch vụ cho phù hợp với nhu cầu trong tình hình mới. Nhận thức được tính cấp thiết của đề tài, tác giả muốn đi sâu vào nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước đối với Trung tâm dịch vụ việc làm, qua đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng quản lý nhà nước đối với Trung tâm dịch vụ việc làm ở Việt Nam hiện nay với đề tài: “Quản lý nhà nước đối với Trung tâm dịch vụ việc làm ở Việt Nam hiện nay”. Tổng quan nghiên cứu Trong thời gian qua đã có một vài nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước đối với Trung tâm dịch vụ việc làm, tuy nhiên chỉ dừng lại ở cấp địa phương như “Quản lý nhà nước đối với Trung tâm dịch vụ việc làm của thành phố Hà Nội”, chưa có nghiên cứu tổng quan về quản lý nhà nước đối với toàn bộ hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm trên phạm vi cả nước. Việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với Trung tâm dịch vụ việc làm ở một tỉnh/thành phố không phản ánh được sự đa dạng của các loại hình Trung tâm dịch vụ việc làm hiện nay, cũng như không phản ánh được hết hiệu quả thực sự mà Trung tâm dịch vụ việc làm mang lại, hay không đưa ra được giải pháp triệt để, hiệu quả, tận ngọn của các vấn đề sảy ra trong quá trình quản lý nhà nước đối với hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm ở Việt Nam. Chính vì vậy, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài luận văn của mình trên cơ sở sử dụng các kết quả nghiên cứu ở trên, đồng thời mở rộng phạm vi nghiên cứu trên toàn quốc, để có cái nhìn tổng quan, đánh giá toàn diện tình hình quản lý nhà nước đối với hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm ở Việt Nam hiện nay, qua đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quản quản lý nhà nước đối với Trung tâm dịch vụ việc làm nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và vai trò hoạt động của Trung tâm dịch vụ việc làm đối với sự phát triển thị trường lao động. 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.1. Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm thời gian qua, đề xuất giải pháp quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm đến năm 2025. 2.2. Mục tiêu cụ thể - Xác định khung lý thuyết về quản lý nhà nước đối với hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm. - Phân tích thực trạng, kết quả công tác quản lý nhà nước đối với hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm. - Đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm ở Việt Nam hiện nay. 3. Câu hỏi nghiên cứu - Cách thức và cơ chế quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm của Việt Nam hiện nay? - Thực trạng quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm của Việt Nam trong thời gian qua. - Để quản lý tốt và hiệu quả đối với trung tâm dịch vụ việc làm ở Việt Nam thì cần phải làm những gì?. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là mục tiêu quản lý, đối tượng quản lý, chủ thể quản lý và công cụ quản lý đối với việc thành lập, hoạt động của trung tâm dịch vụ việc làm. 4.2. Phạm vi nghiên cứu •Về không gian: Trên toàn quốc •Về thời gian: Quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay, các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm đến năm 2025. 5. Phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp thu thập thông tin Sử dụng phương pháp thu thập thông tin từ số liệu thứ cấp và sơ cấp, cụ thể: - Số liệu thứ cấp: Sử dụng nguồn số liệu thứ cấp của Cục Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. - Số liệu sơ cấp: Phỏng vấn 01 lãnh đạo Trung tâm dịch vụ việc làm, 01 lãnh đạo cấp phòng của Cục Việc làm. 5.2. Phương pháp xử lý thông tin Thông tin thứ cấp được tổng hợp, chọn lọc phân loại, và được thiết lập thành các bảng biểu thống kê. Các thông tin này được sắp xếp theo thứ tự thời gian nhằm phản ánh sự thay đổi trong quá trình quản lý và hoạt động của trung tâm dịch vụ việc làm. Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp cụ thể như thống kê mô tả, phân tích, tổng hợp đối chiếu so sánh để thấy được thực trạng quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm, từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá, và đề xuất hoàn thiện quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm đến năm 2025. 6. Những đóng góp mới của luận văn Đề tài “Quản lý nhà nước đối với Trung tâm dịch vụ việc làm ở Việt Nam hiện nay” góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm một cách khoa học, từ đó đưa ra được các nhận định, đánh giá và kết luận chính xác toàn diện tình hình quản lý nhà nước đối với hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm hiện nay trên toàn quốc. Đồng thời, qua đó đề xuất phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm trong thời gian tới. 7. Kết cấu của Luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, các Phụ lục, Bảng biểu, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được chia thành 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm Chương 2: Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm ở Việt Nam hiện nay Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM .6 1.1 Trung tâm dịch vụ việc làm

Khái niệm và đặc điểm của trung tâm dịch vụ việc làm

Dịch vụ việc làm là quá trình kết nối hiệu quả giữa người lao động và nhà tuyển dụng, bao gồm việc thu thập thông tin về việc làm trống và nhu cầu tuyển dụng Các tổ chức dịch vụ việc làm cung cấp thông tin cần thiết cho cả hai bên, tạo điều kiện cho họ tiếp xúc và thỏa thuận về tuyển dụng Ngoài ra, dịch vụ này còn tư vấn cho người lao động về kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết để tự tạo việc làm, đồng thời thực hiện các chương trình điều tiết thị trường lao động và bảo hiểm việc làm, thất nghiệp.

Dịch vụ việc làm là hoạt động kết nối giữa tổ chức, cá nhân nhằm tạo ra sản phẩm dịch vụ việc làm, trong đó bên cung cấp dịch vụ thực hiện tuyển chọn và đào tạo lao động theo nhu cầu của người sử dụng lao động Kết quả của dịch vụ này là người lao động tìm được công việc phù hợp, trong khi người sử dụng lao động tìm được ứng viên thích hợp cho vị trí cần tuyển Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia được thể hiện qua hợp đồng dịch vụ, tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành.

Hoạt động dịch vụ việc làm bắt đầu xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 tại các nước công nghiệp phát triển như Anh và Mỹ, nhằm hạn chế tác động tiêu cực của nạn thất nghiệp Ngày nay, tổ chức dịch vụ việc làm đã được thành lập và hoạt động rộng rãi trên toàn thế giới, đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động Các quốc gia hiện sử dụng dịch vụ này như một công cụ hiệu quả để thực thi và giám sát chính sách việc làm, cũng như điều tiết thị trường lao động nhằm ngăn chặn thất nghiệp.

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI vào năm 1986, nhu cầu học nghề và tìm việc làm gia tăng đã dẫn đến sự ra đời của các văn phòng dịch vụ môi giới việc làm tại Hà Nội và Hồ Chí Minh, đánh dấu bước khởi đầu cho tổ chức dịch vụ việc làm hiện nay Nghị quyết số 120/HĐBT cũng đã góp phần quan trọng trong việc phát triển hệ thống này.

Năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng đã định hướng hoạt động cho các Trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường lao động Đến năm 1994, dịch vụ việc làm chính thức được quy định trong Bộ luật Lao động với tên gọi trung tâm dịch vụ việc làm Sự thay đổi lớn trong hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm ở Việt Nam diễn ra vào năm 2012 và 2013 khi Bộ luật Lao động (sửa đổi) và Luật Việc làm được ban hành, dẫn đến việc hình thành các trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội thành lập Ngày 28/12/2018, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ký Quyết định số 2515/2018/QĐ-CTN gia nhập Công ước số 88 của ILO về tổ chức dịch vụ việc làm, nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật về lao động và việc làm, góp phần phát triển hệ thống dịch vụ việc làm chuyên nghiệp và hiện đại, đồng thời thể hiện cam kết quốc tế của Việt Nam.

Hiện nay, theo quy định tại Khoản 1 Điều 36 của Luật Việc làm, dịch vụ việc làm được hiểu như sau:

Dịch vụ việc làm bao gồm tư vấn và giới thiệu việc làm, cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của nhà tuyển dụng, cũng như thu thập và cung cấp thông tin về thị trường lao động.

Tổ chức dịch vụ việc làm bao gồm trung tâm dịch vụ việc làm và doanh nghiệp dịch vụ việc làm.

Trung tâm dịch vụ việc làm là tổ chức công lập được thành lập theo quy định của Chính phủ, nhằm đáp ứng nhu cầu việc làm của người lao động Việc thành lập các trung tâm này phải tuân thủ quy hoạch được phê duyệt bởi Thủ tướng Chính phủ, đồng thời đảm bảo đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực theo quy định hiện hành.

Trung tâm dịch vụ việc làm và doanh nghiệp dịch vụ việc làm khác nhau về cơ sở thành lập, quản lý và hoạt động Trung tâm dịch vụ việc làm được thành lập bởi cơ quan quản lý nhà nước hoặc lãnh đạo tổ chức chính trị - xã hội, và phải tuân thủ quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập Ngoài các nhiệm vụ chung như tư vấn, giới thiệu việc làm, cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu, trung tâm còn cung cấp thông tin thị trường lao động và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo quy định pháp luật.

Phân loại trung tâm dịch vụ việc làm

Phân loại theo chủ thể ra quyết định thành lập, trung tâm dịch vụ việc làm có những loại sau:

Loại 1: Trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước thành lập, gồm:

(1) Trung tâm dịch vụ việc làm do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quyết định thành lập;

(2) Trung tâm dịch vụ việc làm do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thành lập.

Loại 2: Trung tâm dịch vụ việc làm do người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội cấp trung ương quyết định thành lập.

Quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm

1.2.1 Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm

Quản lý nhà nước là tổng thể các hoạt động của bộ máy nhà nước, bao gồm lập pháp, hành pháp và tư pháp, hoạt động như một thực thể thống nhất Trong nghĩa hẹp, quản lý nhà nước liên quan đến việc hướng dẫn chấp pháp, điều hành và quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện, đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.

Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực của nhà nước, sử dụng pháp luật làm công cụ chủ yếu để duy trì sự ổn định và phát triển xã hội Hoạt động này được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước nhằm thiết lập một trật tự xã hội ổn định, phục vụ cho những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi.

Quản lý nhà nước là quá trình tác động có tổ chức và hợp pháp của Nhà nước đối với các thành phần trong nền kinh tế quốc dân Mục tiêu của quản lý này là tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực trong và ngoài nước, cũng như khai thác các cơ hội sẵn có, nhằm đạt được các mục tiêu mà Nhà nước đã đề ra.

Quản lí nhà nước là hoạt động quản lí mang tính quyền lực nhà nước, được giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và có sự phân biệt rõ ràng với quản lí mang tính chất nội bộ của một tổ chức xã hội, đoàn thể, đơn vị, xí nghiệp hoặc một cộng đồng dân cư mang tính tự quản.

Trong mối quan hệ quản lý, nhà nước đóng vai trò chủ thể chính, sử dụng các công cụ quản lý như chính sách, pháp luật, kế hoạch, thanh tra và kiểm tra Công cụ pháp luật là phương tiện chủ yếu để tác động lên đối tượng quản lý, nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đề ra Đối tượng quản lý rất đa dạng, bao gồm toàn bộ dân cư và các tổ chức trong phạm vi quyền lực của nhà nước, ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao và môi trường.

Quản lý nhà nước là một ngành khoa học, nghệ thuật và nghề nghiệp, đòi hỏi nghiên cứu sâu sắc về quy luật và mối quan hệ nguyên nhân, kết quả để đạt hiệu quả cao nhất Mỗi lĩnh vực quản lý có phương pháp và hình thức tổ chức khác nhau, dẫn đến những kết quả khác biệt.

Quản lý Nhà nước là một hình thức quản lý xã hội đặc biệt, thể hiện quyền lực của Nhà nước Nhà nước sử dụng các công cụ quản lý để tác động lên đối tượng quản lý, nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.

Quản lý Nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm là hoạt động của cơ quan Nhà nước sử dụng các công cụ quản lý để tác động lên các trung tâm dịch vụ việc làm, nhằm đạt được mục tiêu là nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm này.

1.2.1.2 Mục tiêu quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm

Trung tâm dịch vụ việc làm là một đơn vị công lập cung cấp dịch vụ tư vấn và giới thiệu việc làm miễn phí cho người lao động, đồng thời thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp Hoạt động của trung tâm này được xem là một loại hình dịch vụ đặc biệt, chịu ảnh hưởng từ quy luật cung – cầu của thị trường như các dịch vụ khác.

Hoạt động quản lý Nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm bao gồm cả tính chấp hành và điều hành Tính chấp hành thể hiện qua việc thực hiện các văn bản pháp lý như Hiến pháp, Luật và Nghị định liên quan đến việc làm và hoạt động của trung tâm Tính điều hành yêu cầu cơ quan quản lý Nhà nước tổ chức và chỉ đạo các trung tâm dịch vụ việc làm để đảm bảo các văn bản pháp luật được thực thi Sự thống nhất giữa chấp hành và điều hành là điều cần thiết, trong đó quản lý Nhà nước phải ưu tiên việc chấp hành để thực hiện hiệu quả công tác điều hành Tất cả hoạt động này đều hướng tới mục tiêu phục vụ lợi ích chung và phục vụ nhân dân.

Do vậy, hoạt động quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm nhằm thực hiện các mục tiêu sau:

Công bằng kinh tế là mục tiêu quan trọng trong quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm, nơi vừa hoạt động như một đơn vị sự nghiệp công lập, vừa là một đơn vị kinh tế Nhà nước cần đảm bảo công bằng trong cạnh tranh và cơ hội thị trường giữa trung tâm dịch vụ việc làm và các doanh nghiệp dịch vụ việc làm Môi trường cạnh tranh công bằng, được khẳng định bởi Đảng và nhà nước, tạo ra một sân chơi chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp và thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm, nhà nước hướng tới việc tạo ra nhiều cơ hội việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp và duy trì việc làm bền vững trong xã hội Dưới sự quản lý của nhà nước, các trung tâm này sẽ được cải thiện để phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của người lao động và doanh nghiệp.

Nâng cao hiệu quả kết nối cung – cầu lao động và chất lượng dịch vụ việc làm thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu thị trường lao động Cung cấp tư vấn và giới thiệu việc làm giúp người lao động nhanh chóng tìm được công việc phù hợp với khả năng và sở trường của họ Điều này không chỉ đáp ứng nhu cầu của người lao động mà còn hỗ trợ người sử dụng lao động trong việc tìm kiếm ứng viên phù hợp, từ đó góp phần tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho xã hội.

Nâng cao hiệu quả tư vấn và đào tạo nghề cho người lao động là cần thiết để giúp họ duy trì việc làm hoặc nhanh chóng trở lại thị trường lao động khi có sự biến động Điều này đòi hỏi người lao động phải cải thiện năng lực và tay nghề của mình để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

Quản lý việc thực hiện nhiệm vụ của trung tâm dịch vụ việc làm là một phần quan trọng trong quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp, nhằm đảm bảo hiệu quả và minh bạch trong việc hỗ trợ người lao động.

Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với trung tâm dịch vụ việc làm ở một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam

1.3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia

1.3.1.1 Hàn Quốc a) Hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm công của Hàn Quốc bao gồm:

- Trung tâm dịch vụ việc làm trực thuộc Bộ Lao động - Việc làm Hàn Quốc

Chúng tôi cung cấp các dịch vụ việc làm, thông tin về thị trường lao động, và thực hiện chi trả bảo hiểm việc làm Ngoài ra, chúng tôi hỗ trợ phát triển kỹ năng nghề và tham gia vào các chương trình của Chính phủ nhằm đảm bảo việc làm cho người lao động.

Trung tâm dịch vụ việc làm trực thuộc Bộ Lao động - Việc làm Hàn Quốc được thành lập nhằm tìm kiếm việc làm cho người lao động và người thất nghiệp, đồng thời tham gia vào chính sách bảo hiểm việc làm Hệ thống này bao gồm 88 Trung tâm, trong đó 48 Trung tâm thực hiện dịch vụ việc làm và các chương trình bảo đảm việc làm, còn 40 Trung tâm chỉ thực hiện dịch vụ việc làm Mỗi tỉnh có một Trung tâm đầu mối lớn và các chi nhánh nhỏ, tất cả đều độc lập về tổ chức nhưng phối hợp chặt chẽ trong thực hiện nhiệm vụ Tổng số nhân viên của hệ thống dịch vụ việc làm công Hàn Quốc khoảng 2.500 người, tương đương 1/19.600 dân số, với chất lượng nhân viên đạt tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và được chứng nhận bởi Cơ quan phát triển nhân lực Hàn Quốc (HRD).

Trung tâm dịch vụ việc làm bao gồm 6 ban ngành chính và 14 đội nghiệp vụ nhỏ, phục vụ đa dạng đối tượng như học sinh, sinh viên, người tìm việc, người đang làm việc, người thất nghiệp và người sử dụng lao động Các dịch vụ cung cấp bao gồm tư vấn hướng nghiệp, hỗ trợ tìm việc, phát triển kỹ năng nghề, và trợ cấp thất nghiệp Đặc biệt, trung tâm còn hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tuyển dụng lao động, duy trì việc làm, và phát triển kỹ năng cho nhân viên, bao gồm cả lao động nước ngoài Các chương trình hỗ trợ cũng nhằm khuyến khích doanh nghiệp tiếp nhận lao động đặc thù và xây dựng môi trường làm việc thuận lợi cho người lao động, như xây dựng nhà trẻ cho con em của nhân viên.

Đối với lao động nước ngoài, chúng tôi cung cấp dịch vụ cấp giấy phép lao động, chia sẻ kiến thức về phong tục tập quán và sinh hoạt của người Hàn Quốc, cũng như hỗ trợ tìm kiếm việc làm mới khi người lao động có nhu cầu thay đổi công việc.

Hệ thống thông tin dịch vụ việc làm kết nối các Trung tâm dịch vụ việc làm của Chính phủ thông qua ba hệ thống chính: hệ thống bảo hiểm việc làm (EI net), hệ thống hỗ trợ việc làm (work net) và hệ thống phát triển kỹ năng nghề (SD net) Đối tượng sử dụng hệ thống bao gồm người tìm việc, doanh nghiệp và các Trung tâm đào tạo phát triển kỹ năng nghề Mỗi người dùng sẽ có một IP và mật khẩu riêng để truy cập vào hệ thống.

Dịch vụ việc làm công Thụy Điển là cơ quan nhà nước trực thuộc Chính phủ và Quốc Hội, được tổ chức theo mô hình dọc từ Trung ương đến địa phương Trụ sở chính của cơ quan này đặt tại thủ đô Stockholm, bao gồm Hội đồng quản lý, Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc cùng với các vụ và phòng ban chức năng.

Cấp Vụ gồm có: (1) Văn phòng giúp việc Tổng Giám đốc gồm có 2 bộ phận, Kiểm soát và An ninh/bảo đảm; (2) Kế hoạch; Và (3) Hợp tác Quốc tế.

Cấp Phòng bao gồm các lĩnh vực quan trọng như phục hồi chức năng làm việc, hướng dẫn và hội nhập, chiến lược việc làm, tài chính, dịch vụ pháp lý, công nghệ thông tin, cung cấp dịch vụ cá nhân, phân tích, truyền thông, nguồn nhân lực, và hỗ trợ cùng dịch vụ nội bộ.

Thụy Điển không thành lập các Trung tâm theo vùng và địa bàn hành chính, mà dựa vào nhu cầu giao dịch việc làm của các địa phương Thị trường lao động của Thụy Điển được chia thành 10 Trung tâm khu vực và 1 Trung tâm Quốc gia phụ trách dịch vụ khách hàng Mỗi Trung tâm khu vực lại được phân thành 55 Trung tâm vùng khác nhau, tạo thành tổng cộng 321 Trung tâm hoặc Văn phòng dịch vụ việc làm trên toàn quốc.

Cơ quan dịch vụ việc làm công Thụy Điển có cơ cấu tổ chức theo hệ thống ngành dọc nhưng lại áp dụng phân cấp rõ ràng trong quản lý và điều hành Tổng Giám đốc cấp Trung ương chịu trách nhiệm bảo vệ kế hoạch ngân sách trước Chính phủ và Quốc hội, đồng thời có quyền bổ nhiệm nhân viên tại cơ quan Trung ương và Giám đốc các Trung tâm khu vực Giám đốc các Trung tâm khu vực cũng được phân quyền bổ nhiệm cấp dưới và nhân viên của mình, trong khi Giám đốc các Trung tâm vùng quản lý và bổ nhiệm các Trung tâm và Trưởng Văn phòng dịch vụ việc làm tại cơ sở Ngoài ra, các chuyên gia tại cơ quan Trung ương thường xuyên luân phiên làm việc tại các Trung tâm và Văn phòng dịch vụ việc làm ở cơ sở.

Theo khảo sát của Hiệp hội Dịch vụ Việc làm Công Thế giới năm 2010, Thụy Điển có dân số 9.379.116 người, với 11.000 nhân viên dịch vụ việc làm công Như vậy, tỷ lệ nhân viên dịch vụ việc làm tại Thụy Điển là 1 nhân viên cho mỗi 853 người dân.

Tổ chức dịch vụ việc làm công của Áo (AMS) được cấu trúc theo ba cấp độ: Trung ương thuộc Bộ Lao động – Xã hội và Bảo vệ người tiêu dùng, cấp vùng với 9 Trung tâm tương ứng với 9 tỉnh, và cấp địa phương với 99 Trung tâm trên toàn quốc Các Hội đồng hành chính ở mỗi cấp có sự tham gia của đại diện từ cơ quan quản lý lao động, giới chủ, công đoàn và liên đoàn công nghiệp Áo, trong đó cơ quan lao động đóng vai trò chủ đạo Hội đồng này hoạt động như một công cụ thiết kế chính sách thị trường lao động và giám sát các hoạt động của các cơ quan liên quan Ban Giám đốc, bao gồm Giám đốc và các phó Giám đốc, là cơ quan điều hành thực sự của tất cả các hoạt động ở các cấp.

Cơ quan dịch vụ việc làm công Áo, ở cấp Liên bang, bao gồm Hội đồng hành chính và Ban Giám đốc, có trách nhiệm quản lý các thủ tục liên quan đến vấn đề lao động trên toàn quốc và đảm bảo sự thống nhất trong thực hiện các chính sách Ngoài vai trò điều phối, cơ quan này còn tạo điều kiện và khung pháp lý cần thiết cho việc phân cấp trong chính sách thị trường lao động Hội đồng quản trị gồm 12 thành viên, trong khi Ban giám đốc bao gồm Tổng giám đốc và các phó Tổng giám đốc.

Văn phòng cấp Liên bang, dưới sự lãnh đạo của Tổng giám đốc, có trách nhiệm quản lý và theo dõi môi trường kinh doanh, đồng thời xây dựng các chiến lược phù hợp Nhiệm vụ này nhằm đáp ứng các chính sách thị trường lao động, quyết định chương trình ưu tiên cho Cơ quan dịch vụ việc làm công Áo, quy định tiêu chuẩn tổ chức và nhân sự, cũng như giám sát các hoạt động tại các cấp dưới quyền.

Văn phòng cấp tỉnh, gồm 9 văn phòng, hoạt động dưới sự chỉ đạo của Ban giám đốc cấp tỉnh, có nhiệm vụ xây dựng chính sách thị trường lao động cho khu vực phụ trách, kết nối Cơ quan dịch vụ việc làm công Áo với các cơ quan ban ngành trong tỉnh, giám sát thị trường lao động, thống kê lao động – việc làm và nghiên cứu phát triển, thiết lập các điều kiện khung, cũng như hỗ trợ các văn phòng tại các khu vực hành chính thuộc tỉnh.

Khu vực hành chính có 99 văn phòng chuyên cung cấp thông tin, tư vấn và hỗ trợ cho những trường hợp có nhu cầu đặc biệt Các văn phòng này cũng có nhiệm vụ hướng dẫn và giúp đỡ trong việc giải quyết khiếu nại, nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho tất cả các bên liên quan.

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025

Ngày đăng: 17/07/2022, 12:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Chính phủ (1995) Nghị định 72-CP ngày 31/10/1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Lao động về việc làm Khác
11. Chính phủ (1995) Nghị định 90-CP ngày 15/12/1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về học nghề Khác
12. Chính phủ (2005) Nghị định số 19/2005/NĐ-CP ngày 28/2/2005 quy định về điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức giới thiệu việc làm Khác
13. Chính phủ (2008) Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp Khác
15. Chính phủ (2012) Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28/6/2012 của Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập Khác
16. Chính phủ (2013) Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Khác
18. Chính phủ (2013) Nghị định số 196/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ quy định thành lập và hoạt động của Trung tâm Dịch vụ việc làm Khác
19. Chính phủ (2014) Nghị định số 52/2014/NĐ-CP ngày 23/5/2014 quy định điều kiện, thủ tục cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm Khác
20. Chính phủ (2015) Nghị định số 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Khác
23. Chính phủ (2020) Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/3/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Khác
26. Chính phủ (2021) Nghị định số 23/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết Khoản 3 Điều 37 và Điều 39 của Luật Việc làm về trung tâm dịch vụ việc làm, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.3. Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư - Quản lý nhà nước đối với Trung tâm dịch vụ việc làm ở Việt Nam hiện nay
1.3. Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư (Trang 26)
Bảng 2.1. Hệ thống trung tâm dịch vụ việc là mở Việt Nam - Quản lý nhà nước đối với Trung tâm dịch vụ việc làm ở Việt Nam hiện nay
Bảng 2.1. Hệ thống trung tâm dịch vụ việc là mở Việt Nam (Trang 48)
Bảng 2.2. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý trung tâm dịch vụ việc làm - Quản lý nhà nước đối với Trung tâm dịch vụ việc làm ở Việt Nam hiện nay
Bảng 2.2. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý trung tâm dịch vụ việc làm (Trang 57)
Bảng 2.3. Số liệu hoạt động dịch vụ việc làm của Trung tâm dịch vụ việc làm ST - Quản lý nhà nước đối với Trung tâm dịch vụ việc làm ở Việt Nam hiện nay
Bảng 2.3. Số liệu hoạt động dịch vụ việc làm của Trung tâm dịch vụ việc làm ST (Trang 72)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w