1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) hoạt động của UNICEF tại việt nam

125 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt Động Của UNICEF Tại Việt Nam
Tác giả Nhếp Thị Trung Chính
Người hướng dẫn PGS. Nguyễn Quốc Hùng
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 2,11 MB

Cấu trúc

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

  • DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH ẢNH

  • LỜI NÓI ĐẦU

  • CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ UNICEF VÀ QUAN HỆ UNICEF – VIỆT NAM

  • 1.1. Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc.

  • 1.1.1. Lịch sử hình thành.

  • 1.1.2. Tôn chỉ mục đích.

  • 1.1.3. Cơ cấu tổ chức.

  • 1.2. Hợp tác UNICEF – Việt Nam.

  • 1.2.1. Về phía UNICEF.

  • 1.2.2. Về phía Chính phủ Việt Nam.

  • CHƯƠNG 2. HỖ TRỢ CỦA UNICEF ĐỐI VỚI TRẺ EM VIỆT NAM

  • 2.1. Lĩnh vực y tế, chăm sóc và bảo vệ bà mẹ, trẻ em.

  • 2.1.1. Sức khỏe và dinh dưỡng.

  • 2.1.2. Ngăn chặn ảnh hưởng của cúm gia cầm.

  • 2.1.3. Nước sạch, môi trường và vệ sinh.

  • 2.1.4. Phòng chống tai nạn, thương tích ở trẻ.

  • 2.2. Lĩnh vực giáo dục.

  • 2.2.1. Giáo d c cơ sở.

  • 2.2.2 ình đ ng giới trong giáo d c.

  • 2.3. Xây dựng kế hoạch, chính sách xã hội.

  • Chương 3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ TRIỂN VỌNG

  • 3.1. Đánh giá chung.

  • 3.2. Triển vọng hợp tác.

  • KẾT LUẬN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC

Nội dung

KHÁI QUÁT VỀ UNICEF VÀ QUAN HỆ UNICEF - VIỆT NAM

Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc

Quỹ Nhi đồng của Liên Hợp Quốc (UNICEF) là Tổ chức quốc tế thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc

UNICEF là tổ chức hàng đầu thế giới trong lĩnh vực chăm sóc trẻ em, hoạt động tại 156 quốc gia và vùng lãnh thổ nhằm hỗ trợ sự sống và phát triển của trẻ em từ khi sinh ra cho đến tuổi trưởng thành Là nhà cung cấp vắc-xin lớn nhất cho các quốc gia đang phát triển, UNICEF cam kết cung cấp dịch vụ y tế và dinh dưỡng, đảm bảo nước sạch và vệ sinh môi trường, giáo dục cơ bản cho tất cả trẻ em, đồng thời bảo vệ trẻ em khỏi bạo hành, bóc lột và AIDS.

Trụ sở chính của UNICEF đặt tại New York, Mỹ, với 8 trụ sở khu vực trên toàn cầu, bao gồm các văn phòng tại Genève và Tokyo Ngoài ra, tổ chức còn có một trung tâm nghiên cứu tại Florange và một trung tâm cung ứng tại Copenhagen, Đan Mạch.

Ngày 11 tháng 12 năm 1946, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc(ĐHĐ/LHQ) đã thông qua nghị quyết 57(I) thành lập Quỹ cứu trợ trẻ em khẩn cấp (United Nations International Children's Emergency Fund) – viết tắt là UNICEF, với mục đích ban đầu là cung cấp viện trợ khẩn cấp cho trẻ em châu Âu sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Ngày 6 tháng 10 năm 1953, ĐHĐ/LHQ thông qua nghị quyết 802 (VIII), quyết định đổi tên Quỹ cứu trợ trẻ em khẩn cấp thành Quĩ Nhi đồng của Liên Hợp Quốc (United Nations Children's Fund) song vẫn giữ tên viết tắt là UNICEF

UNICEF là quỹ cứu trợ quan trọng hỗ trợ trẻ em toàn cầu, đặc biệt tại các nước đang phát triển, trong các lĩnh vực dinh dưỡng, phòng chống bệnh tật và giáo dục Viện trợ từ UNICEF dành cho các quốc gia là không hoàn lại, và các nước nhận viện trợ được phân loại thành ba nhóm khác nhau.

- Nhóm 1 gồm những nước kém phát triển nhất, được nhận “viện trợ đặc biệt”

- Nhóm 2 gồm những nước đang phát triển bị “thiệt hại nhiều nhất” về mặt kinh tế, nhận được “viện trợ bình thường”

Nhóm 3 bao gồm các quốc gia đang phát triển với mức độ phát triển khá hơn, nhưng vẫn cần sự hỗ trợ từ bên ngoài Nguyên nhân một phần là do thiếu hụt chuyên viên được đào tạo trong lĩnh vực chăm sóc trẻ em.

Tôn chỉ mục đích ban đầu của UNICEF là hỗ trợ trẻ em châu Âu gặp khó khăn sau Chiến tranh thế giới thứ hai Kể từ khi trở thành Quỹ Nhi đồng của Liên Hợp Quốc, UNICEF đã mở rộng mục tiêu của mình để bảo vệ và phát triển trẻ em, đặc biệt là ở các nước đang phát triển UNICEF phối hợp với chính phủ các nước triển khai chương trình cung cấp dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng, nước và vệ sinh môi trường cho trẻ em và phụ nữ Ngoài ra, tổ chức cũng tham gia vào các hoạt động cứu trợ khẩn cấp Hỗ trợ của UNICEF tập trung vào các chương trình cộng đồng với sự tham gia của người dân, nhằm mang lại lợi ích thiết thực cho trẻ em trên toàn thế giới Để thích ứng với bối cảnh mới, năm 1996, UNICEF đã thông qua "Tuyên ngôn mới UNICEF" nhằm phục vụ trẻ em hiệu quả hơn.

 Thực hiện mọi chủ trương của LHQ về bảo vệ các quyền của trẻ em đồng thời hỗ trợ, đáp ứng những yêu cầu cơ bản của trẻ em

 Hỗ trợ các quốc gia thực hiện những cam kết về trẻ em do Hội nghị Thượng đỉnh về trẻ em của Liên Hợp Quốc (1990) đề ra

Chúng tôi cam kết cung cấp sự bảo vệ đặc biệt cho những trẻ em đang gặp khó khăn, bao gồm trẻ em là nạn nhân của xung đột vũ trang, trẻ em sống trong cảnh nghèo đói và trẻ em lang thang cơ nhỡ.

Huy động toàn bộ ý chí chính trị và nguồn lực vật chất để hỗ trợ các quốc gia xây dựng năng lực, từ đó đề ra các chính sách phù hợp cho việc chuyển giao dịch vụ trẻ em tới các hộ gia đình.

UNICEF thúc đẩy quyền bình đẳng cho phụ nữ và trẻ em gái thông qua các "Chương trình quốc gia", khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động phát triển kinh tế và chính trị Tổ chức này hợp tác với các chính phủ, tổ chức quốc tế và NGO's theo Công ước quốc tế về Quyền trẻ em, nhằm đạt được các mục tiêu về trẻ em được thiết lập tại Hội nghị Thượng đỉnh về trẻ em năm 1990.

UNICEF đã xác định sứ mệnh và trách nhiệm của mình như sau:

ĐHĐ/LHQ giao phó trách nhiệm bảo vệ quyền trẻ em, đảm bảo đáp ứng nhu cầu cơ bản của trẻ và tạo cơ hội để trẻ phát huy tiềm năng tối đa.

Theo Công ước về Quyền Trẻ em, việc thiết lập các quyền cho trẻ em là rất quan trọng, nhấn mạnh sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em Điều này không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển toàn cầu mà còn gắn liền với sự tiến bộ và phát triển bền vững của nhân loại.

Chúng ta cần động viên và kêu gọi sự hỗ trợ về chính trị và vật chất cho các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, với phương châm “Trước tiên cho trẻ em” Đồng thời, cần xây dựng năng lực, đề ra các chính sách phù hợp và cung cấp dịch vụ thiết thực cho trẻ em và gia đình của các em.

Chúng tôi cam kết bảo vệ đặc biệt cho trẻ em chịu thiệt thòi, bao gồm nạn nhân của chiến tranh, thiên tai, đói nghèo cùng cực, cũng như những trẻ em là nạn nhân của bạo lực, bóc lột và trẻ em khuyết tật.

UNICEF phối hợp với các đối tác của Liên Hợp Quốc và các cơ quan nhân đạo để ứng phó nhanh chóng trong các tình huống khẩn cấp, nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ em Tổ chức này cung cấp các phương tiện cần thiết để giảm bớt nỗi đau khổ của trẻ em và đảm bảo chăm sóc cho các em trong thời điểm khó khăn.

Hợp tác UNICEF - Việt Nam

Vào năm 1975, Việt Nam vừa mới thoát khỏi những tàn phá của chiến tranh kéo dài, với tình trạng đói nghèo và thiếu thốn phổ biến Hệ thống trường học và cung cấp nước bị hủy hoại, trong khi tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh vượt quá 100 trên 1.000 ca đẻ sống UNICEF, tổ chức Liên Hợp Quốc đầu tiên thiết lập mối quan hệ với Việt Nam, đã mở văn phòng tại Hà Nội dưới sự lãnh đạo của tiến sĩ Francois Remy Hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Việt Nam, UNICEF đã xác định các ưu tiên hỗ trợ hàng đầu trong giai đoạn này là giáo dục, sức khoẻ sơ sinh và dịch vụ y tế công cộng.

UNICEF đã hỗ trợ các dự án tại 51 trong số 64 tỉnh thành, 150 trên 659 huyện và 878 trên 10.750 xã, tập trung vào các lĩnh vực như pháp luật, chính sách, y tế và dinh dưỡng, nước sạch và vệ sinh môi trường, giáo dục, cung cấp dịch vụ và phát triển mô hình.

Hơn 30 năm hợp tác đã bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, đóng góp đáng kể vào sự phát triển trong lĩnh vực chăm sóc và giáo dục trẻ em tại Việt Nam.

Cho đến nay, UNICEF đã triển khai 8 chương trình hợp tác tại Việt Nam, chia làm 6 giai đoạn

Giai đoạn 1: Hỗ trợ khẩn cấp (1975 - 1979) với tổng viện trợ 127 triệu đô la Mỹ, là thời kỳ hợp tác giữa Việt Nam và UNICEF mang tính chất viện trợ khẩn cấp sau chiến tranh UNICEF đã giúp Chính phủ Việt Nam đáp ứng nhu cầu cấp thiết do hậu quả chiến tranh, cung cấp thực phẩm, thuốc men, bệnh viện, nhà trẻ, trường học và trạm xá Đồng thời, tổ chức này cũng hỗ trợ Chính phủ trong việc nâng cao khả năng tự sản xuất các nguyên liệu và trang thiết bị cơ bản phục vụ cho trẻ em.

Giai đoạn 2 (1981 - 1983) tập trung vào việc viện trợ cho trẻ em thông qua chương trình quốc gia thứ nhất, với tổng giá trị 20 triệu USD Viện trợ này không chỉ bao gồm y tế và dinh dưỡng mà còn mở rộng sang giáo dục mẫu giáo và tiểu học, cũng như cung cấp nước sạch ở nông thôn.

Giai đoạn 3 : Từ năm 1983 đến 1987 và từ 1988 đến 1991, bao gồm

Chương trình hợp tác Việt Nam – UNICEF giai đoạn 1983-1987 với ngân sách 27 triệu USD và giai đoạn 1988-1991 với ngân sách 34 triệu USD đã tạo cầu nối giữa hai chương trình quốc gia, nhằm củng cố và phát triển dịch vụ cơ bản Chiến lược tiếp cận điều phối trong giai đoạn này đã thúc đẩy sự phối hợp liên ngành và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng thông qua các dịch vụ bổ sung như nâng cao dinh dưỡng, sản xuất thực phẩm hộ gia đình, chăm sóc trẻ em, cung cấp nước sạch và chăm sóc sức khỏe ban đầu Đồng thời, một số chương trình lớn như tiêm chủng mở rộng và chương trình chống bệnh tiêu chảy cũng được triển khai Đặc biệt, các hoạt động hỗ trợ phụ nữ trong phát triển và vệ sinh môi trường đã được giới thiệu Trong giai đoạn 1983 - 1987, viện trợ tập trung vào 6 tỉnh, sau đó mở rộng ra 14 tỉnh.

Năm 1990, Chương trình Tiêm chủng mở rộng (TCMR) đã được triển khai đến 53 tỉnh, mở rộng tới từng xã trên toàn quốc Kết quả đạt được trong giai đoạn này là TCMR đã bao phủ 93% số xã, với tỷ lệ 86% trẻ em được tiêm phòng và 62% trẻ em dưới 5 tuổi được bảo vệ khỏi bệnh tiêu chảy.

Trong 5 năm qua, 70% xã đã cung cấp muối I-ốt cho 5% trẻ em thiếu muối I-ốt và vitamin A cho khoảng 12% trẻ em Đồng thời, 12% dân số nông thôn được tiếp cận nước sạch, và 13% hộ gia đình nông thôn đã xây dựng nhà vệ sinh Ngoài ra, 72 trung tâm tỉnh đã được giáo dục đào tạo hướng nghiệp, cùng với việc cung cấp dụng cụ dạy và học cho một số trường tiểu học.

Giai đoạn 4 (1991 – 2000) chứng kiến sự chuyển đổi kinh tế và thực hiện Chương trình hành động quốc gia thông qua hai chương trình hợp tác quan trọng Chương trình hợp tác thứ năm (1991 - 1995) có tổng giá trị 42 triệu USD, trong khi Chương trình hợp tác thứ sáu (1996 - 2000) ban đầu dự kiến là 135 triệu USD, nhưng do thiếu hụt tài chính của UNICEF, ngân sách bị cắt giảm 25% Kết quả, ngân sách thực tế cho chương trình đạt 59 triệu USD, với 29 triệu USD từ quỹ thường xuyên và 30 triệu USD từ nguồn vận động Hợp tác này đã được mở rộng ra 61 tỉnh thành, tập trung vào 124 huyện trọng điểm.

Các mảng hoạt động chính của giai đoạn này bao gồm:

Chăm sóc sức khoẻ ban đầu nhằm đạt được các mục tiêu quan trọng, bao gồm giảm tỷ lệ tử vong trẻ em toàn quốc từ 40/1000 xuống 30/1000, giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ từ 110/1000 xuống 55/1000, và giảm tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi từ 46/1000 xuống 30/1000 Ngoài ra, mục tiêu còn bao gồm giảm tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi từ 81/1000 xuống 55/1000.

Mục tiêu dinh dưỡng là giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thiếu protein ở trẻ em dưới 5 tuổi từ 42% xuống 30%, đồng thời tiến tới loại trừ tình trạng thiếu vitamin A và các rối loạn do thiếu i-ốt gây ra ở trẻ em.

Mục tiêu cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nhằm đảm bảo nước sạch cho 80% dân số nông thôn, với mỗi nguồn nước phục vụ từ 120 đến 150 người trong bán kính 250m Tính đến năm 2000, tỷ lệ cung cấp nước sạch cho dân số nông thôn đạt khoảng 60% Ngoài ra, chương trình cũng hướng đến việc cung cấp các phương tiện nước uống và vệ sinh cho khoảng 13.000 trường tiểu học, trường học dân tộc thiểu số và một số trung tâm y tế nông thôn.

Giáo dục và phát triển trẻ thơ đặt ra mục tiêu phổ cập tiểu học cho trẻ em 15 tuổi vào năm 2000, với mong muốn không còn trẻ em nào bỏ học Đặc biệt, 100% trẻ em thành phố sẽ hoàn thành tiểu học, trong khi 90% trẻ em nông thôn đạt được điều này, và khu vực miền núi phấn đấu để có 50% trẻ em hoàn thành bậc tiểu học.

Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam đang nỗ lực phát triển phụ nữ thông qua việc phổ biến cuốn sách "Những điều cần cho cuộc sống" đến 12 triệu phụ nữ và nữ thanh niên Mục tiêu của họ bao gồm xóa mù chữ cho 100.000 phụ nữ và nữ thanh niên trong độ tuổi 15 - 35, cung cấp tín dụng và rèn luyện kỹ năng cho 225.000 phụ nữ nghèo nhằm tăng thu nhập, cải thiện điều kiện sống của chị em bằng hình thức vay vốn sản xuất, và phát triển dịch vụ nhóm trẻ.

Lập kế hoạch và theo dõi thống kê xã hội là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao năng lực của chính quyền cấp tỉnh, huyện và xã Việc này hỗ trợ thu thập số liệu và đánh giá hàng năm về tiến độ thực hiện Chương trình hành động tại 53 tỉnh Đồng thời, cần theo dõi triển khai Chương trình hỗ trợ trọng điểm để đảm bảo hiệu quả và minh bạch trong quản lý.

HỖ TRỢ CỦA UNICEF ĐỒI VỚI TRẺ EM VIỆT NAM

Lĩnh vực y tế, chăm sóc và bảo vệ bà mẹ, trẻ em

2.1.1 Sức khỏe và dinh dưỡng Ở Việt Nam, sự nghèo đói và HIV/AIDS tiếp tục phá hủy từng kết cấu của tuổi thơ Đối với nhiều em, lời hứa tuổi thơ như đã được nêu trong Công ước về Quyền Trẻ em cho đến nay vẫn chưa được thực hiện Các em không được hưởng quyền có một tuổi thơ được thương yêu, chăm sóc và bảo vệ trong mái ấm gia đình hoặc được khích lệ phát triển hết khả năng của mình Khi trưởng thành và trở thành cha mẹ, đến lượt con cái các em lại có nguy cơ bị tước đoạt các quyền đó vì các hiểm họa đối với tuổi thơ lặp lại từ thế hệ này sang thế hệ khác Hiện nay, Việt Nam có gần 2 triệu trẻ em trong độ tuổi dưới 5 (30%) bị nhẹ cân so với tuổi; gần 10 triệu trẻ em (30%) trong tình trạng nghèo đói theo chuẩn nghèo quốc tế, 23% trẻ em dân tộc Kinh phải sống trong nghèo đói so với hơn 70% trẻ em các dân tộc thiểu số; 1.176.000 trẻ em sống trong tình trạng đói nghèo cùng cực, 23.000 trẻ em phải lao động và 16.000 trẻ em đường phố [89]

Mặc dù tỷ lệ nhiễm HIV ở người lớn tại Việt Nam chỉ là 0,53%, dịch bệnh này đang ngày càng lan rộng và ảnh hưởng đến những người dân bình thường Hơn 50% số ca nhiễm HIV thuộc nhóm tuổi 20-29, và 10% là người dưới 19 tuổi Trẻ em đang đối mặt với nguy cơ cao về nhiễm HIV và tác động của AIDS Ước tính có khoảng 300.000 trẻ em bị ảnh hưởng bởi AIDS, trong đó khoảng 8.500 trẻ từ 0 đến 15 tuổi đang sống với HIV và có 22.000 trẻ mồ côi do mất cha mẹ vì AIDS.

UNICEF đã giúp đỡ Việt Nam thực hiện các mục tiêu về sức khỏe và dinh dưỡng thông qua nhiều biện pháp khác nhau như:

UNICEF hỗ trợ Chính phủ trong việc phát triển các chính sách và kế hoạch hành động nhằm tăng cường sự công bằng và khả năng tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ em, bà mẹ và các nhóm người nghèo Mục tiêu chính là thực hiện các chính sách hiện hành về cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, triển khai tiêm chủng ở vùng khó tiếp cận, và đảm bảo sử dụng muối i-ốt UNICEF đặc biệt chú trọng vào các nhóm dân cư chưa được hỗ trợ đầy đủ, bao gồm dân tộc thiểu số, đồng thời tuyên truyền về lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ Ngoài ra, tổ chức còn xây dựng các mô hình chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng cho trẻ nhỏ và bà mẹ, đặc biệt tại các khu vực có nhiều dân tộc thiểu số và người nghèo thành thị.

Để nâng cao tính bền vững của các chương trình y tế công cộng thành công như Chương trình Tiêm chủng mở rộng và phòng ngừa tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng vi lượng, cần tăng cường cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước cho các chương trình này.

Tăng cường năng lực cho cán bộ y tế và cộng đồng là cần thiết để họ có thể hiệu quả trong việc điều phối, lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động truyền thông nhằm thay đổi hành vi về sức khỏe và dinh dưỡng.

UNICEF đã hỗ trợ Chính phủ trong việc xây dựng và triển khai Chương trình Hành động Quốc gia về phòng chống lây truyền HIV từ mẹ sang con (PLTMC) từ năm 2006 Chương trình này nhằm mở rộng và thực hiện PLTMC trên toàn quốc, với mục tiêu hoàn thành vào cuối năm.

Năm 2010, UNICEF đã hỗ trợ xây dựng quy trình phòng chống HIV và AIDS nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của HIV đối với trẻ em Điều này bao gồm việc ngăn chặn lây nhiễm HIV ở trẻ em, điều trị các trường hợp nhiễm trùng cơ hội và hướng dẫn sử dụng thuốc kháng virút cho trẻ sơ sinh.

Theo khảo sát của UNICEF, chỉ 17% bà mẹ Việt Nam cho con bú hoàn toàn trong 4 tháng đầu, khiến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ thấp nhất thế giới Việc nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ, tức là không cho trẻ dùng bất kỳ loại thức ăn hay đồ uống nào khác, rất quan trọng cho sức khỏe trẻ nhỏ Cho trẻ bú sữa mẹ ngay trong giờ đầu tiên sau sinh có thể giảm đáng kể tỷ lệ tử vong sơ sinh ở các nước đang phát triển Nghiên cứu cho thấy, bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu giúp trẻ có dinh dưỡng tối ưu và giảm nguy cơ mắc bệnh cả trong thời thơ ấu và khi trưởng thành Hơn nữa, trẻ bú mẹ có chỉ số thông minh cao hơn trẻ bú bình tới 20% Mặc dù các hoạt động thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ đã được triển khai từ những năm 80, nhưng vẫn còn nhiều thách thức, với chỉ 12% trẻ sơ sinh được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu vào năm 2007 và 17% vào năm 2008 Việc cho trẻ ăn bổ sung quá sớm vẫn phổ biến, chiếm tới 55% số trẻ.

Nuôi con bằng sữa mẹ là một trong những biện pháp hiệu quả nhất để giảm nguy cơ tử vong ở trẻ em, giúp ngăn chặn 13% ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi, theo bà Marjatta Tolvanen-Ojutkangas, Trưởng Phòng Y tế và Dinh dưỡng UNICEF Việt Nam Việc cho trẻ bú mẹ ngay trong giờ đầu sau sinh và duy trì chế độ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu có thể giảm tới 22% trường hợp tử vong sơ sinh.

Việt Nam đã thành công trong việc đạt Mục tiêu thiên niên kỷ 4 (MDG4) bằng cách giảm 48% tỷ lệ tử vong ở trẻ em từ năm 1990 đến 2006 Mặc dù vậy, quốc gia này vẫn có tỷ lệ tử vong trẻ em và bà mẹ cao hơn mức trung bình trong khu vực Đông Nam Á.

Biểu đồ 2.1 Xếp hạng các nước Đông Nam Á theo mức độ tử vong ở trẻ

(UNICEF ước tính dựa trên tài liệu của Nhóm các tổ chức Liên Hợp Quốc)

Số trẻ dưới 5 tuổi tử vong trong 1000 trẻ đang sống

UNICEF cam kết bảo vệ và thúc đẩy việc nuôi con bằng sữa mẹ, đồng thời hợp tác chặt chẽ với Vụ Sức khỏe Sinh sản thuộc Bộ Y tế để hỗ trợ các chương trình liên quan.

Dinh dưỡng Quốc gia, Tổ chức Y tế Thế giới và các đối tác đã phối hợp thực hiện nhiều sáng kiến nhằm tuyên truyền và thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ tại Việt Nam.

Chương trình Tiêm chủng mở rộng (CTTCMR) bắt đầu triển khai ở Việt Nam năm 1981, khởi đầu từ 4 cơ sở thí điểm tại 4 phường của thành phố

Hà Nội, với sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc, đã triển khai chương trình tiêm chủng mở rộng từ năm 1981 đến 1984, bảo vệ hơn 200.000 trẻ em dưới 1 tuổi tại 1.813 xã, phường thuộc 166 huyện, quận của 20 tỉnh, thành phố, nhằm phòng ngừa 6 bệnh truyền nhiễm phổ biến như lao, bại liệt, sởi, bạch hầu, uốn ván và ho gà Đến năm 1985, chương trình đã mở rộng ra 53 tỉnh/thành phố trên toàn quốc Từ năm 1993 đến nay, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi đã được cải thiện đáng kể.

Từ năm 1995, tỷ lệ tiêm chủng cho trẻ em một tuổi luôn đạt trên 90%, và cả nước không còn xã trắng về tiêm chủng Đối tượng chính của chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) bao gồm trẻ em và phụ nữ có thai, cũng như phụ nữ trong độ tuổi 15-35 tại một số vùng trọng điểm.

Trong việc thực hiện thành công các mục tiêu lớn của CTTCMR ở Việt Nam, UNICEF đã có phần đóng góp to lớn và hiệu quả

Trong giai đoạn từ 1981 đến 1995, UNICEF đã tích cực huy động nguồn lực và vận động các chính phủ cùng tổ chức quốc tế nhằm phát triển chương trình TCMR tại Việt Nam Sự hỗ trợ này tập trung vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của chương trình.

 Viện trợ xây dựng hệ thống dây chuyền lạnh bảo quản vacxin

 Viện trợ vật tư tiêm chủng bao gồm các loại bơm kim tiêm và dụng cụ khử trùng

 Viện trợ kinh phí cho công tác huấn luyện và triển khai TCMR

 Hỗ trợ Việt Nam nâng cấp và phát triển các cơ sở sản xuất vacxin

Lĩnh vực giáo dục

Giáo dục cho mọi người và xây dựng xã hội học tập là mục tiêu chiến lược quan trọng của nhiều quốc gia, bao gồm cả Việt Nam.

Vào tháng 8 năm 1991, Quốc hội Việt Nam đã thông qua luật Phổ cập Giáo dục tiểu học, đánh dấu bộ luật đầu tiên về giáo dục cơ sở Đến tháng 12 năm 1992, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, đồng thời nhấn mạnh đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Việt Nam đã cam kết với cộng đồng quốc tế về giáo dục, thể hiện qua Hội nghị Giáo dục cho mọi người tại Thái Lan vào tháng 3 năm 1990, nơi 155 quốc gia đã nhất trí rằng mọi người đều có quyền được hưởng cơ hội giáo dục Mười năm sau, Diễn đàn giáo dục thế giới đã thông qua "Khung hành động Dakar" với mục tiêu đảm bảo đến năm 2015, tất cả trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, được tiếp cận giáo dục tiểu học miễn phí và chất lượng Năm 2000, Việt Nam đạt chuẩn quốc tế về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, đồng thời Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược giáo dục giai đoạn 2001 - 2010 và Kế hoạch hành động quốc gia giáo dục cho mọi người (2003 - 2015).

Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là việc trẻ em không được đi học đúng độ tuổi và chất lượng giáo dục ở các trường tiểu học chưa cao Nhiều trẻ ở lứa tuổi vị thành niên không học trung học, đặc biệt là trẻ em ở vùng sâu, vùng xa, trẻ dân tộc thiểu số, trẻ em gái, trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, và trẻ khuyết tật Theo báo cáo của UNICEF năm 2010, cần nỗ lực lớn hơn để tăng cường công bằng trong giáo dục cho những nhóm trẻ em này Mặc dù hơn 90% học sinh thành phố được đi học, nhưng vẫn còn 52% trẻ em khuyết tật không được đến trường Trẻ em lang thang thường có trình độ học vấn thấp, với 4,7% chưa từng đi học và tỷ lệ bỏ học ở các cấp học rất cao Luật phổ cập giáo dục Tiểu học đã có từ lâu, nhưng gần 40% trẻ em lang thang vẫn chưa hoàn thành chương trình tiểu học Ngoài ra, chi phí giáo dục tại Việt Nam tăng cao, khiến nhiều gia đình không đủ khả năng chi trả, dẫn đến việc 30% trẻ em phải bỏ học.

UNICEF đang hợp tác với các cơ quan ban ngành tại Việt Nam để nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục cho trẻ em, đặc biệt chú trọng đến những trẻ em thiệt thòi thông qua các hành động cụ thể.

- Hỗ trợ tạo dựng môi trường học tập thân thiện với trẻ em trong gia đình, trường học và cộng đồng

UNICEF đã đóng góp quan trọng vào việc tạo ra môi trường học tập thân thiện cho trẻ em thông qua việc hỗ trợ các nhà trẻ, trường tiểu học và trung học cơ sở tại các thôn bản Các hoạt động bao gồm đào tạo phương pháp dạy lớp ghép, kỹ năng sống, giáo dục song ngữ, cung cấp nước sạch, và các thiết bị vệ sinh Từ năm 2001 đến nay, hơn 1000 nhà trẻ, 1400 trường tiểu học và 120 trường trung học cơ sở đã nhận được sự hỗ trợ này.

- Tạo dựng môi trường bảo vệ cho lứa tuổi vị thành niên

Vai trò của bố mẹ trong giáo dục là rất quan trọng, bên cạnh thầy cô và cộng đồng Gia đình, đặc biệt là cha mẹ, đóng vai trò then chốt trong môi trường mà trẻ em tiếp cận hàng ngày UNICEF khuyến khích việc tạo dựng mối quan hệ đối tác giữa nhà trường, cộng đồng và gia đình thông qua các cuộc đối thoại cởi mở về các vấn đề như ma túy, rượu, thuốc lá, sức khỏe sinh sản và HIV Những cuộc đối thoại này không chỉ giúp nâng cao tiếng nói của thanh niên mà còn khuyến khích họ tham gia vào việc bảo vệ quyền lợi của bản thân Sau thành công của dự án “Sống lành mạnh và kỹ năng sống”, UNICEF đang hỗ trợ đưa giáo dục kỹ năng sống vào chương trình giảng dạy trong các trường học.

- Hỗ trợ xây dựng chính sách và luật pháp về giáo dục

Sơ Trương Mỹ Hạnh, thuộc dòng Chúa Chiên Lành, hiện đang làm việc tại Atlanta, Georgia, Hoa Kỳ, đã có chuyến trở về Việt Nam vào tháng 4/2008 Trong chuyến đi này, sơ đã thăm nhiều vùng đất khác nhau, đặc biệt là miền Trung Việt Nam.

Tại Trung, cũng như ở Phan Thiết, Phan Rang và Huế, nhiều trẻ em không được đi học do thiếu tiền Mặc dù trường phổ thông miễn phí, nhưng các em vẫn phải đóng lệ phí khoảng 138 ngàn đồng mỗi năm Một số em nhỏ, như 5 tuổi, đã phải đi làm để kiếm tiền giúp gia đình, ví dụ như kéo du khách tại bãi biển Phan Rí Ở một làng gần Huế, có ít nhất 78 em không được đến trường, và con số này có thể tăng trong tương lai Tại Sài Gòn, lớp dạy chữ ban đêm cho trẻ em đánh giày và bán vé số đã lên tới 500 em, tất cả đều thông minh và có tài năng Trong khi các nước láng giềng chăm sóc trẻ em nghèo, đất nước chúng ta vẫn để nhiều em bị bỏ rơi, mặc dù các em chính là tương lai của đất nước.

Theo kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Thanh niên và Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Việt Nam, có tới 50% trẻ em lang thang dưới 15 tuổi và 25% trên 15 tuổi mong muốn tiếp tục học tập, với nhu cầu học tập đa dạng không chỉ giới hạn ở văn hóa mà còn muốn học nghề Tại Hà Nội, 46,6% trẻ em lang thang chỉ có trình độ từ mù chữ đến tiểu học, trong khi 51,7% có trình độ trung học cơ sở Đáng chú ý, 94,1% trẻ em lang thang bày tỏ sự thích thú với việc học, và 71,1% rất muốn học nghề, cho rằng việc học nghề sẽ giúp cải thiện cuộc sống và ngăn ngừa tình trạng lang thang Vì vậy, cần có các giải pháp và chính sách hỗ trợ để giúp đỡ trẻ em lang thang và gia đình nghèo, nhằm giải quyết khó khăn trước mắt và lâu dài UNICEF đang hỗ trợ Chính phủ xây dựng chính sách và luật pháp mới về giáo dục, cũng như cung cấp tài liệu cho việc soạn thảo văn bản pháp lý và tham vấn chính sách.

- Hỗ trợ giáo dục bằng bản ngữ và song ngữ

Mặc dù tiếng Việt là ngôn ngữ giảng dạy chính thức, nhiều trẻ em dân tộc thiểu số không sử dụng tiếng Việt khi bắt đầu học, trong khi giáo viên lại không thông thạo tiếng dân tộc Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu tài liệu giáo dục, giáo viên và cơ sở hạ tầng Hệ quả là nhóm trẻ này có tỷ lệ bỏ học và lưu ban cao nhất.

UNICEF đang thiết kế và triển khai thí điểm mô hình giáo dục bằng bản ngữ và song ngữ cho trẻ em mẫu giáo và tiểu học theo đề nghị của Chính phủ Chương trình, bắt đầu từ năm 2006, sẽ đánh giá kết quả học tập của học sinh dân tộc thiểu số để xác định tác động của nó Đây là một bước khởi đầu quan trọng, xuất phát từ tính nhạy cảm của vấn đề ngôn ngữ.

2.2.2 ình đ ng giới trong giáo d c

Phụ nữ cần có cơ hội và được tôn trọng ngang bằng với nam giới Mục tiêu quan trọng là "Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao năng lực, vị thế cho phụ nữ".

Chương trình mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG3) của Liên Hợp Quốc nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục trong việc bình đẳng hóa cơ hội cho trẻ em gái và trẻ em trai Giáo dục được coi là chìa khóa để giúp các em gái có thể tham gia vào xã hội một cách bình đẳng.

Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về bình đẳng giới, đứng thứ 62/109 quốc gia với chỉ số quyền năng giới đạt 0,554, cho thấy sự phát triển trung bình về giới Tuy nhiên, khoảng cách giới vẫn còn lớn, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, khi tỷ lệ nữ chưa đến trường từ 15 tuổi trở lên là 13,4%, gấp đôi tỷ lệ nam Số năm đi học trung bình của nam là 6,7 năm, trong khi nữ chỉ là 5,6 năm Mặc dù tỷ lệ nam nữ được đi học ở cấp tiểu học và trung học là tương đương, nhưng ở bậc THPT, sự chênh lệch vẫn tồn tại, đặc biệt ở những gia đình nghèo và dân tộc thiểu số, với chỉ 20% em gái ở hộ gia đình nghèo được đến trường Tình trạng này cũng phổ biến ở các vùng miền núi phía Bắc, nơi đói nghèo và trình độ học vấn của cha mẹ thấp dẫn đến tỷ lệ bỏ học cao ở trẻ em Sự phát triển kinh tế cũng có ảnh hưởng lớn đến bình đẳng giới trong giáo dục.

Nghèo đói ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ hội học tập của trẻ em gái, khiến nhiều em phải đối mặt với tình trạng suy dinh dưỡng cả trước và trong quá trình học Thiếu tiền mua sắm đồ dùng học tập, quần áo và thức ăn, đặc biệt là đối với học sinh nội trú, là một thách thức lớn Hơn nữa, áp lực từ gia đình buộc các em phải bỏ học để chăm sóc người thân hoặc hỗ trợ kinh tế cho cha mẹ Theo thống kê năm 2004, có ít nhất một phần tư phụ nữ trẻ dân tộc thiểu số bị mù chữ và một phần năm chưa bao giờ được đến trường.

Xây dựng kế hoạch, chính sách xã hội

Việt Nam ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm cao, góp phần giảm tỷ lệ nghèo hơn một nửa Tuy nhiên, sự bùng nổ này cũng làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo, khiến nhiều người bị tụt hậu Những thay đổi kinh tế và xã hội không mang lại lợi ích đồng đều cho tất cả trẻ em Chính phủ đang nỗ lực xây dựng các chính sách và chương trình nhằm cải thiện tình hình, nhưng nhiều chính sách vẫn chưa đáp ứng nhu cầu cụ thể của trẻ em, dẫn đến kết quả chưa tốt cho cả trẻ em gái và trẻ em trai.

Việt Nam, là quốc gia đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em, đang đối mặt với thách thức trong việc nâng cao kiến thức và kỹ năng của các đại biểu Quốc hội và nhà lập pháp về quyền trẻ em Để đảm bảo các kết quả phát triển mang lại lợi ích cho tất cả trẻ em, Chính phủ và các đối tác phát triển cần tăng cường chính sách và chương trình hiệu quả, dựa trên dữ liệu và thông tin chất lượng Ba trụ cột quan trọng bao gồm chính sách, luật pháp và dữ liệu, sẽ tạo ra khuôn khổ thiết yếu cho sự phát triển bền vững, với mục tiêu chính là cải thiện đời sống trẻ em.

UNICEF hợp tác chặt chẽ với các tổ chức quốc tế và cơ quan đối tác Việt Nam, bao gồm Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc, Tổng cục Thống kê và Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhằm hỗ trợ Chính phủ trong 5 lĩnh vực chủ chốt của kế hoạch và chính sách xã hội.

Gia đình là nơi gắn bó nhất với tuổi thơ, nhưng hiện nay, sức ép kinh tế và sự thay đổi văn hóa đang đe dọa cấu trúc gia đình truyền thống tại Việt Nam Tỷ lệ ly hôn ngày càng gia tăng, và ngày càng ít trẻ em được chăm sóc, dạy dỗ bởi ông bà do nhiều gia đình nông thôn di cư lên thành phố để tìm kiếm cơ hội việc làm UNICEF hiện đang hỗ trợ để giải quyết những vấn đề này.

Chính phủ nắm được những thay đổi này và giải quyết thông qua việc tăng cường các chính sách và chương trình quốc gia về gia đình

UNICEF đã phối hơp cùng Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em (nay là

Vào năm 2006, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Tổng cục Thống kê và Viện Gia đình và Giới thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã thực hiện cuộc “Điều tra gia đình Việt Nam” Đây là cuộc điều tra đầu tiên được tiến hành trên quy mô toàn quốc.

Cuộc điều tra này tập trung vào bốn lĩnh vực chính: quan hệ gia đình, giá trị và chuẩn mực gia đình, kinh tế gia đình và phúc lợi gia đình Mục tiêu là nhận diện thực trạng và thu thập thông tin cần thiết phục vụ quản lý và hoạch định chính sách về gia đình Kết quả điều tra đã cung cấp cái nhìn toàn diện về sự thay đổi trong đời sống gia đình Việt Nam, với hơn 63,4% hộ gia đình là “hai thế hệ” và tỷ lệ ly hôn đang gia tăng, đặc biệt là phụ nữ đứng đơn ly hôn cao gấp hai lần nam giới Cuộc khảo sát sử dụng cả phương pháp định tính và định lượng, nhằm làm cơ sở cho các cuộc điều tra tiếp theo, xác định biến đổi của gia đình Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế Dữ liệu thu thập được sẽ hỗ trợ nghiên cứu và xây dựng chính sách gia đình của chính phủ, hướng tới công bằng và phát triển trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu.

Trẻ em dân tộc thiểu số ở Việt Nam thường gặp nhiều khó khăn, với điều kiện học tập và sức khỏe kém, tỷ lệ tử vong và bỏ học cao UNICEF đã phối hợp với Chính phủ để đảm bảo rằng các chính sách và ngân sách dành cho vùng dân tộc thiểu số tập trung vào quyền lợi của trẻ em Thông qua các hoạt động nghiên cứu và hướng dẫn chính sách, UNICEF hỗ trợ Việt Nam học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác trong việc giải quyết các vấn đề tương tự.

Chính phủ Việt Nam đã cam kết đầu tư 2 tỷ USD cho hai chương trình xóa đói giảm nghèo trong 5 năm tới nhằm cải thiện tình trạng trẻ em nghèo UNICEF hỗ trợ để đảm bảo rằng nguồn kinh phí này sẽ được sử dụng hiệu quả, thông qua việc nâng cao nhận thức về thực trạng trẻ em nghèo tại Việt Nam, từ đó tích hợp vào các chương trình xóa đói giảm nghèo và đảm bảo phân bổ kinh phí cho những trẻ em gặp khó khăn nhất.

Trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và UNICEF giai đoạn 2006-2010, Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội đã phối hợp với UNICEF Việt Nam để xây dựng cách tiếp cận mới về nghèo trẻ em Kết quả chính của quá trình này là tỷ lệ nghèo trẻ em và chỉ số nghèo trẻ em được trình bày trong báo cáo.

Vào tháng 11 năm 2008, sáng kiến "Trẻ em nghèo Việt Nam sống ở đâu" được triển khai nhằm xác định rõ bản chất của vấn đề nghèo trẻ em và tăng cường cơ sở thực tiễn cho việc hoạch định chính sách quốc gia về giảm nghèo Các hội thảo tham vấn đã được tổ chức để khuyến khích sự tham gia của các bên liên quan trong việc thảo luận về tình trạng nghèo trẻ em và xây dựng các chỉ số đánh giá phù hợp Phương pháp đo lường nghèo trẻ em được phát triển và áp dụng bởi trường Đại học Maastricht, dựa trên dữ liệu khảo sát cấp quốc gia tại Việt Nam.

Trong những năm qua, Việt Nam đã nỗ lực xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là các quy định liên quan đến bảo vệ và chăm sóc trẻ em Pháp luật Việt Nam đã cụ thể hóa các cam kết quốc tế và điều chỉnh phù hợp với thực tiễn trong nước, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện quyền trẻ em Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này, cần thiết phải thường xuyên rà soát, đánh giá và điều chỉnh các quy định pháp luật về bảo vệ trẻ em để phù hợp hơn với tình hình thực tế và yêu cầu quốc tế.

UNICEF hỗ trợ Việt Nam bằng cách cung cấp kiến thức và kinh nghiệm quốc tế về luật pháp liên quan đến quyền trẻ em cho các đại biểu Quốc hội Qua đó, UNICEF góp phần xây dựng môi trường pháp lý phù hợp nhằm tạo cơ hội và bảo vệ quyền lợi cho trẻ em, đáp ứng nhu cầu của các em trong xã hội hiện nay Vụ Pháp chế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các chuyên gia từ nhiều bộ, ngành liên quan để thực hiện mục tiêu này.

UNICEF thực hiện đánh giá các văn bản pháp luật liên quan đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, so sánh với các tiêu chuẩn quốc tế để phát hiện những thiếu sót trong pháp luật Việt Nam Dựa trên những phát hiện này, UNICEF đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, từng bước hài hòa với các quy định quốc tế Cuốn tài liệu “Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam” được thiết kế cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách và cán bộ làm việc với trẻ em, nhằm hỗ trợ họ trong việc thực hiện hiệu quả công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Để thực hiện quyền trẻ em, Chính phủ cần có nền tảng dữ liệu và kiến thức vững chắc UNICEF hỗ trợ Chính phủ trong việc nâng cao khả năng tiếp cận, chất lượng và sử dụng dữ liệu liên quan đến trẻ em và phụ nữ, bao gồm cả việc cung cấp phần mềm và giải pháp công nghệ nhằm theo dõi tình hình của các đối tượng này.

Báo cáo của UNICEF về tình hình trẻ em tại Việt Nam năm 2010 chỉ ra hai thách thức chính: sự chậm tiến bộ trong việc giảm suy dinh dưỡng và cần tăng cường nuôi con bằng sữa mẹ, cũng như cải thiện vệ sinh cá nhân và môi trường Đồng thời, cần nỗ lực lớn hơn để đảm bảo công bằng trong giáo dục cho trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em khuyết tật, trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS và trẻ em gái Bản báo cáo cũng đề xuất các kiến nghị cho chính phủ Việt Nam nhằm giải quyết những vấn đề này.

ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ TRIỂN VỌNG

Ngày đăng: 02/07/2022, 16:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội - UNICEF (2009). Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: Đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam. NXB Văn hóa thông tin. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: Đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội - UNICEF
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin. Hà Nội
Năm: 2009
5. Bộ Ngoại giao – Vụ các tổ chức quốc tế (2005). Các tổ chức Quốc tế và Việt Nam. Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tổ chức Quốc tế và Việt Nam
Tác giả: Bộ Ngoại giao – Vụ các tổ chức quốc tế
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
6. Bộ Y tế (2010). Báo cáo đánh giá dự án “Dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá dự án “Dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2010
7. Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em (1999). Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em (1999)
Tác giả: Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
8. Trần Thanh Hải (2001). Cơ cấu tổ chức của Liên Hợp Quốc. Nxb Chính trị Quốc Gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Cơ cấu tổ chức của Liên Hợp Quốc
Tác giả: Trần Thanh Hải
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia. Hà Nội
Năm: 2001
9. Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hải – Cục trưởng Cục bảo vệ chăm sóc trẻ em (2010). Báo cáo: “Tổng quan về trẻ em và HIV/AIDS tại Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo: “Tổng quan về trẻ em và HIV/AIDS tại Việt Nam
Tác giả: Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hải – Cục trưởng Cục bảo vệ chăm sóc trẻ em
Năm: 2010
10. PGS.TS Đỗ Sĩ Hiền (2005). Tiêm chủng mở rộng - thành quả 20 năm ở Việt Nam. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêm chủng mở rộng - thành quả 20 năm ở Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Đỗ Sĩ Hiền
Năm: 2005
11. Nguyễn Quốc Hùng (1992). Liên Hợp Quốc. NXB Thông tin Lý luận. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên Hợp Quốc
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng
Nhà XB: NXB Thông tin Lý luận. Hà Nội
Năm: 1992
12. Thanh Mai (2005). Giáo dục truyền thông về bình đẳng giới. Tạp chí nghiên cứu Gia đình và Giới. Số 25, Tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục truyền thông về bình đẳng giới
Tác giả: Thanh Mai
Năm: 2005
13. Tôn Nữ Thị Ninh (1999). Các vấn đề toàn cầu, các tổ chức quốc tế và Việt Nam. Nxb Trẻ Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề toàn cầu, các tổ chức quốc tế và Việt Nam
Tác giả: Tôn Nữ Thị Ninh
Nhà XB: Nxb Trẻ Tp.Hồ Chí Minh
Năm: 1999
14. Võ Anh Tuấn (2004). Hệ thống Liên Hợp Quốc. NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống Liên Hợp Quốc
Tác giả: Võ Anh Tuấn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội
Năm: 2004
15. Nguyễn Đức Tuyến (2009). Một vài nét nghiên cứu về trẻ em trong hai năm 2007-2008. Nghiên cứu gia đình và Giới. Quyển 19, số 3, tr. 24-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nét nghiên cứu về trẻ em trong hai năm 2007-2008
Tác giả: Nguyễn Đức Tuyến
Năm: 2009
19. UNICEF, Cục y tế dự phòng Việt Nam (2008). Tài liệu tập huấn: Quản lý và giám sát các dự án về cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn
Tác giả: UNICEF, Cục y tế dự phòng Việt Nam
Năm: 2008
1. ThS. Nguyễn Lê Hoài Anh (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) (2010). Thực trạng chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại Việt Nam Khác
2. Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, UNICEF, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới (2008). Kết quả điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 Khác
3. Bộ Giáo dục Đào tạo – UNICEF – UNESCO (2008). Nghiên cứu về chuyển tiếp từ tiểu học lên trung học cơ sở của trẻ em gái người dân tộc thiểu số Khác
16. UNICEF (2010). Báo cáo tóm tắt phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam 2010 Khác
17. UNICEF Việt Nam và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2008). Trẻ em nghèo Việt Nam sống ở đâu? Xây dựng và áp dụng cách tiếp cận đa chiều về nghèo trẻ em Khác
18. UNICEF (2008), Báo cáo tình hình trẻ em Châu Á - Thái Bình Dương 2008 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Hiểu biết về PLTMC của phụ nữ có thai tại một số tỉnh thành. - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoạt động của UNICEF tại việt nam
Bảng 2.1. Hiểu biết về PLTMC của phụ nữ có thai tại một số tỉnh thành (Trang 45)
Hình 2.1. Một trong những sản phẩm truyền thông của chiến dịch. - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoạt động của UNICEF tại việt nam
Hình 2.1. Một trong những sản phẩm truyền thông của chiến dịch (Trang 53)
Hình 2.2. Một số mô hình nhà vệ sinh thân thiện do UNICEF xây dựng. - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoạt động của UNICEF tại việt nam
Hình 2.2. Một số mô hình nhà vệ sinh thân thiện do UNICEF xây dựng (Trang 62)
Hình 2.3. Một số hoạt động của cán bộ nghiên cứu. - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoạt động của UNICEF tại việt nam
Hình 2.3. Một số hoạt động của cán bộ nghiên cứu (Trang 80)
Hình 2.4. Điều kiện cơ sở vật chất - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoạt động của UNICEF tại việt nam
Hình 2.4. Điều kiện cơ sở vật chất (Trang 81)
Bảng 2.2. Số lượng học sinh phổ thông giai đoạn 2000-2009 phân theo giới tính.(theo số liệu của Tổng cục thống kê) - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoạt động của UNICEF tại việt nam
Bảng 2.2. Số lượng học sinh phổ thông giai đoạn 2000-2009 phân theo giới tính.(theo số liệu của Tổng cục thống kê) (Trang 83)
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, từ năm 2000 đến 2009, số lượng nữ đi học cấp III đã tăng lên đáng kể - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoạt động của UNICEF tại việt nam
h ìn vào bảng số liệu ta thấy, từ năm 2000 đến 2009, số lượng nữ đi học cấp III đã tăng lên đáng kể (Trang 83)
Hình 3.1. Bà Rima Sala h- Phó Tổng giám đốc điều hành UNICEF và Bà Lê - (LUẬN văn THẠC sĩ) hoạt động của UNICEF tại việt nam
Hình 3.1. Bà Rima Sala h- Phó Tổng giám đốc điều hành UNICEF và Bà Lê (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN