CÁC NHÂN TỐ RỦI RO
Rủi ro về kinh tế
Tốc độ phát triển kinh tế và các ngành liên quan
Năm 2014 và đầu năm 2015, kinh tế Việt Nam ghi nhận nhiều điểm sáng với các chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch Quốc hội đề ra Lạm phát được kiểm soát ở mức 1,83%, giúp kinh tế vĩ mô ổn định hơn Lãi suất huy động giữ ở mức 5,5%/năm và lãi suất cho vay giảm xuống 7%/năm, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển sản xuất Thị trường ngoại hối ổn định, dự trữ ngoại tệ đạt mức cao kỷ lục, gia tăng niềm tin vào đồng tiền Việt Nam Đặc biệt, Moody’s đã nâng bậc xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam, từ B2 lên mức cao hơn đối với trái phiếu Chính phủ.
Mức triển vọng B1 được đánh giá "ổn định" Trong những tháng đầu năm 2015, tình hình kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, với tổng cầu trong nền kinh tế phục hồi và cung ứng hàng hóa duy trì mức tăng trưởng tốt Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 tăng 0,14% so với tháng trước, đánh dấu tháng thứ hai liên tiếp có sự tăng trưởng từ đầu năm.
Vào tháng 3 năm 2015, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam đã tăng 0,15%, chủ yếu do sự điều chỉnh tăng giá xăng dầu và giá điện Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo CPI sẽ đạt 2,5% trong năm 2015 và tăng lên 3,2% vào năm 2016 Bên cạnh đó, tình hình sản xuất kinh doanh của khu vực tư nhân trong nước có những chuyển biến tích cực, với việc giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng đáng kể.
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2014 đạt mức tăng 5,98%, cao nhất trong ba năm qua, phản ánh những dấu hiệu tích cực của nền kinh tế Cụ thể, trong quý I, GDP tăng 5,06%; quý II tăng 5,34%; quý III tăng 6,07% và quý IV đạt 6,96%.
Trang 6 mạnh mẽ trong quí I năm 2015 với GDP tăng 6,03% so với cùng kỳ năm trước Đây là quý có mức tăng trưởng cao nhất trong 5 năm trở lại đây
Nhu cầu tiêu thụ hàng may mặc, hàng thêu đan và áo len xuất khẩu chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ sự biến động của tốc độ phát triển kinh tế Sản phẩm của Công ty không chỉ được tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu, do đó, bất kỳ thay đổi nào trong tình hình kinh tế đều có tác động lớn đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của Công ty.
Nhìn chung các diễn biến gần đây của nền kinh tế đang và sẽ ảnh hưởng tích cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Tỷ giá hối đoái, lãi suất và lạm phát:
Công ty hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nguyên, phụ liệu và sản phẩm, do đó, sự biến động tỷ giá có thể ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, cấu trúc vốn của Công ty bao gồm yếu tố vay nợ, khiến cho sự thay đổi lãi suất trên thị trường cũng tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động Thời gian qua, lãi suất cho vay của ngân hàng giảm, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phục hồi kinh tế Trong ngắn hạn, Công ty vẫn duy trì sự chủ động và điều chỉnh kịp thời, nên lãi suất chưa ảnh hưởng nhiều Tuy nhiên, trong dài hạn, sự phức tạp của tình hình lãi suất sẽ là yếu tố rủi ro đáng kể đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
Công ty cần chú ý đến yếu tố lạm phát, vì tỷ lệ lạm phát cao gây ra biến động liên tục trong giá đầu vào và đầu ra, dẫn đến sự ổn định giả tạo trong quá trình sản xuất Sự mất giá của đồng tiền cũng làm cho hoạt động hạch toán kinh doanh trở nên vô hiệu.
1 Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2014
Trang 7 những xáo động về kinh tế.
Rủi ro về Pháp luật
Các công ty trong ngành xuất khẩu chịu ảnh hưởng lớn từ chính sách Nhà nước và quốc tế, đặc biệt là các chính sách thuế quan và hạn ngạch Rủi ro pháp lý trong xuất khẩu thường khó lường, đặc biệt khi quan hệ ngoại giao giữa hai nước trở nên căng thẳng, hoặc khi có lệnh cấm xuất nhập khẩu một mặt hàng nào đó Doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong thanh toán nếu xảy ra chiến tranh hoặc xung đột tại nước nhập khẩu, dù đã chuẩn bị bộ chứng từ hợp lệ Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thể đối mặt với rủi ro từ phong tỏa, cấm vận hoặc các biện pháp trả đũa thương mại, như tài khoản bị phong tỏa ở ngân hàng nước ngoài hoặc hàng hóa đã chuẩn bị nhưng không thể xuất do các biện pháp này.
Công ty, với tư cách là doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch Upcom, hoạt động dưới sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật liên quan đến Luật Doanh nghiệp và lĩnh vực chứng khoán Hiện nay, hệ thống pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán đang trong quá trình hoàn thiện, với nhiều thay đổi chính sách có thể xảy ra Những thay đổi này sẽ có tác động nhất định đến hoạt động quản trị và kinh doanh của Công ty.
Rủi ro đặc thù của ngành
Rủi ro từ điều kiện thiên nhiên
Ngành xuất nhập khẩu chịu ảnh hưởng lớn từ các điều kiện tự nhiên ngoài tầm kiểm soát Mặc dù công ty đã tiến hành nghiên cứu và khảo sát để áp dụng các biện pháp giảm thiểu rủi ro, nhưng vẫn không thể hoàn toàn tránh khỏi những tác động này.
Trang 8 rủi ro này có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguyên liệu đầu ra của Công ty đồng thời làm tăng chi phí sản xuất ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh Ngoài ra những biến động của thời tiết như mưa, bão lụt, cũng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài của Công ty
Ngành dệt may và sản xuất thuốc nhuộm đang phải đối mặt với nhiều thách thức từ yếu tố môi trường, bao gồm việc bảo vệ tài nguyên và xử lý chất thải sản xuất Sự gia tăng các khoản phí như phí tài nguyên môi trường, phí xử lý chất thải và tiền thuê đất đang ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả kinh doanh của các công ty trong lĩnh vực này.
Rủi ro về nguyên phụ liệu
Công ty chủ yếu nhập nguyên phụ liệu từ nước ngoài, do đó, có nguy cơ gặp rủi ro khi giá nguyên phụ liệu toàn cầu biến động bất thường, dẫn đến tăng giá đầu vào Để giảm thiểu rủi ro từ sự bất ổn giá cả, Công ty cần xây dựng chính sách cung ứng và dự trữ nguyên phụ liệu hợp lý.
Rủi ro về sản xuất
Trong hoạt động SXKD, Công ty vừa áp dụng cả 02 phương thức: gia công
Khi áp dụng phương thức FOB, doanh nghiệp có thể đối mặt với nhiều rủi ro, bao gồm sự cố sản xuất, giao hàng trễ hạn hoặc chất lượng sản phẩm không đảm bảo Những vấn đề này có thể dẫn đến việc khách hàng phạt, phải xuất hàng bằng máy bay hoặc thậm chí từ chối nhận hàng, ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả kinh doanh của công ty.
Rủi ro của đợt chào bán, của dự án sử dụng tiền thu được từ đợt chào bán
Rủi ro của đợt chào bán
Trong đợt chào bán này, do không có sự bảo lãnh phát hành từ đơn vị tư vấn, có khả năng xảy ra rủi ro là cổ phiếu chào bán không được mua hết Nếu số cổ phần chào bán không được tiêu thụ hết, Hội đồng Quản trị sẽ tiến hành phân phối cho các đối tượng khác.
Nếu đợt chào bán không đạt kỳ vọng, Công ty sẽ sử dụng vốn tự có và vay từ các tổ chức tín dụng để đáp ứng nhu cầu vốn cho các dự án hiện tại Đồng thời, Công ty sẽ linh hoạt điều chỉnh tiến độ và quy mô dự án dựa trên nguồn vốn thực tế huy động được, nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn Tuy nhiên, việc này có thể làm khó khăn cho mục tiêu huy động vốn và ảnh hưởng đến kế hoạch hoạt động kinh doanh trong những năm tới.
Rủi ro của dự án sử dụng tiền thu được từ đợt chào bán
Toàn bộ số tiền thu được từ đợt chào bán vào khoảng gần 10 tỷ đồng sẽ được sử dụng để đầu tư cụ thể như sau:
- Đầu tư máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất, kinh doanh
- Bổ sung vốn lưu động để sản xuất kinh doanh
Công ty sẽ tập trung đầu tư nguồn vốn huy động từ đợt chào bán cổ phiếu vào máy móc thiết bị cho hoạt động sản xuất chính, thay vì phân tán Kế hoạch sử dụng vốn chủ yếu nhằm nâng cao năng lực sản xuất Tại thời điểm lập hồ sơ chào bán chứng khoán, Công ty đã có nhiều đơn hàng lớn và một số dự án mới đang triển khai Với năng lực và uy tín hiện có, Công ty tự tin sẽ sử dụng hiệu quả số tiền thu được, do đó rủi ro là không lớn.
Rủi ro pha loãng cổ phiếu
Sau khi phát hành thêm cổ phiếu, tổng số lượng cổ phiếu lưu hành của Công ty sẽ tăng 50%, dẫn đến rủi ro pha loãng cổ phiếu Điều này có thể làm giảm giá trị sổ sách và thu nhập trên mỗi cổ phần, do doanh thu và lợi nhuận chưa tăng tương ứng với số lượng cổ phiếu mới Tỷ suất lợi nhuận dự kiến sẽ sụt giảm so với trước khi phát hành, vì vậy nhà đầu tư cần chú ý đến rủi ro này.
Trang 10 số tiền từ đợt chào bán cho cổ đông hiện hữu
Bảng 1: Rủi ro pha loãng cổ phiếu
Stt Nội dung Đơn vị tính
1 Lợi nhuận sau thuế TNDN Đồng 11.700.000.000
2 Vốn chủ sở hữu trước thời điểm phát hành Đồng 31.272.258.504
3 Số lượng cổ phiếu cuối năm – Cổ phiếu quỹ Cổ phần 1.987.820
4 Số lượng cổ phiếu phát hành cho cổ đông hiện hữu Cổ phiếu 993.910
5 Số lượng cổ phiếu sau khi phát hành (5)=(3) + (4) Cổ phiếu 2.981.730
Số lượng cổ phiếu bình quân gia quyền sau khi phát hành tại thời điểm tháng 10 năm 2015 (6) = {(3)x10 + (5)x2}/12
7 Vốn chủ sở hữu sau thời điểm phát hành Đồng 41.211.358.500
8 Thu nhập/cổ phiếu trước khi phát hành (8) = (1)/(3) Đồng/cổ phiếu 5886
9 Thu nhập/cổ phiếu điều chỉnh (9) =
10 Giá trị sổ sách một cổ phiếu trước khi phát hành (10) = (2)/(3) Đồng/cổ phiếu 15732
11 Giá trị sổ sách một cổ phiếu sau khi phát hành (11) = (7)/(5) Đồng/cổ phiếu 13.821
Sự khác biệt giữa tốc độ tăng trưởng lợi nhuận và vốn chủ sở hữu ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số EPS và giá trị sổ sách của Công ty Rủi ro pha loãng có thể giảm thiểu khi Công ty sử dụng hiệu quả số tiền huy động được từ đợt phát hành để đầu tư vào các dự án Do đó, nhà đầu tư cần chú ý đến cách Công ty triển khai các khoản đầu tư này.
Các rủi ro khác
Các rủi ro bất khả kháng như động đất, hỏa hoạn, chiến tranh, dịch bệnh đều gây ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động của Công ty.
NHỮNG NGƯỜI CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH ĐỐI VỚI NỘI DUNG BẢN CÁO BẠCH
Tổ chức phát hành
Ông Phạm Phú Cường hiện giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quản trị, trong khi ông Hồ Hai đảm nhận vai trò Tổng Giám đốc Ông Huỳnh Tấn Long là Trưởng ban kiểm soát, góp phần quan trọng vào việc quản lý và giám sát hoạt động của công ty.
Bà Lê Đình Bích Hợp Chức vụ: Kế toán trưởng
Chúng tôi cam kết đảm bảo tính chính xác và trung thực của tất cả thông tin và số liệu trong Bản cáo bạch này, đồng thời chịu trách nhiệm về sự xác thực của chúng.
Tổ chức tư vấn
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng Tùng
Chức vụ: Giám đốc chi nhánh
Bản cáo bạch này được lập bởi Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Đà Nẵng, dựa trên hợp đồng tư vấn với Công ty Cổ phần Vinatex Đà Nẵng Chúng tôi cam kết rằng việc phân tích, đánh giá và lựa chọn ngôn từ trong Bản cáo bạch đã được thực hiện một cách cẩn trọng, dựa trên thông tin và số liệu do Công ty Cổ phần Vinatex Đà Nẵng cung cấp.
Công ty Cổ phần Vinatex Đà Nẵng, được thành lập vào ngày 23 tháng 11 năm 2004, đã nhận Giấy chứng nhận ĐKKD số 0400410498 từ Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Đà Nẵng lần đầu vào ngày 08 tháng 08 năm 2005 và đã trải qua 6 lần thay đổi, với lần thay đổi gần nhất vào ngày 10 tháng 05 năm 2012.
Bản cáo bạch là tài liệu công bố thông tin của công ty, cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh Mục đích của bản cáo bạch là giúp nhà đầu tư đánh giá chính xác và đưa ra quyết định đầu tư chứng khoán hiệu quả.
3/ “Cổ phần”:Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau
4/ “Cổ phiếu”:Chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần cổ phần của Công ty
5/ “Cổ đông”:Tổ chức hay cá nhân sở hữu một hoặc một số cổ phần của
Công ty và có đăng ký tên trong sổ đăng ký cổ đông của Công ty
Cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được phân chia cho mỗi cổ phần, có thể bằng tiền mặt hoặc tài sản khác, được trích từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty sau khi đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính.
7/ “Đại hội đồng cổ đông”:Đại hội đồng cổ đông của Công ty Cổ phần
8/ “Hội đồng quản trị”:Hội đồng quản trị của Công ty Cổ phần Vinatex Đà
9/ “Ban kiểm soát”: Ban kiểm soát của Công ty Cổ phần Vinatex Đà Nẵng 10/“Ban Tổng Giám đốc”: Ban Tổng Giám đốc của Công ty Cổ phần
11/"Vốn điều lệ":Vốn do tất cả các cổ đông đóng góp và quy định tại Điều lệ
12/“Tổ chức phát hành”: Công ty Cổ phần Vinatex Đà Nẵng
13/“Tổ chức tư vấn”: Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Nông
14/“Tổ chức kiểm toán”:Công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Các từ, nhóm từ được viết tắt hoặc được nhắc lại nhiều lần trong Bản cáo bạch này có nội dung như sau:
VINATEX Công ty Cổ phần Vinatex Đà Nẵng ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông Công ty Cổ phần Vinatex Đà Nẵng
HĐQT Hội đồng quản Công ty Cổ phần Vinatex Đà Nẵng
BKS Ban kiểm soát Công ty Cổ phần Vinatex Đà Nẵng
GĐ Giám đốc Công ty Cổ phần Vinatex Đà Nẵng
BGĐ Ban Giám đốc Công ty Cổ phần Vinatex Đà Nẵng
CBCNV Cán bộ công nhân viên Công ty Cổ phần Vinatex Đà Nẵng
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
TSCĐ Tài sản cố định
TSLĐ Tài sản lưu động
VSCH Vốn chủ sở hữu
Giấy CNĐKKD Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Số CMND Số chứng minh nhân dân
UBCKNN Ủy ban chứng khoán Nhà nước
BCTC Báo cáo tài chính
CTCP Công ty cổ phần
IV TÌNH HÌNH VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TỔ CHỨC PHÁT HÀNH
1 Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển
1.1 Giới thiệu chung về tổ chức phát hành
- Tên công ty : CÔNG TY CỔ PHẦN VINATEX ĐÀ NẴNG
- Tên giao dịch quốc tế : VINATEX DANANG JOINT STOCK
- Địa chỉ : số 25, Trần Quý Cáp, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng
- Website : http://www.vinatexdn.com.vn
- Email : vinatexdn@dng.vnn.vn
- Vốn điều lệ đăng ký : 20.000.000.000 VNĐ ( hai mươi tỷ đồng)
- Vốn điều lệ thực góp : 20.000.000.000 VNĐ ( hai mươi tỷ đồng)
Giấy chứng nhận ĐKKD số 0400410498 được cấp bởi Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Đà Nẵng lần đầu vào ngày 08 tháng 08 năm 2005, và đã trải qua 6 lần thay đổi, với lần thay đổi gần nhất vào ngày 10 tháng 05 năm 2012.
- Ngành nghề kinh doanh của Công ty bao gồm:
Sản xuất hàng may sẵn (trừ trang phục)
Bán lẻ hàng hóa khác trong các cửa hàng chuyên doanh
Bán mô tô, xe máy
Lắp đặt hệ thống điện, bán buôn phụ liệu may mặc và giày dép
Xây dựng nhà các loại
Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng hoặc đi thuê
Trang 15 tùng máy dệt, may, da giày
Vận tải hàng hóa bằng đường bộ
Dịch vụ giao nhận, bảo quản hàng hóa xuất nhập khẩu
1.2 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty Cổ phần Vinatex Đà Nẵng, tiền thân là Công ty Sản xuất – Xuất nhập khẩu Dệt May Đà Nẵng (Doanh nghiệp Nhà nước), đã thực hiện cổ phần hóa theo Quyết định số 142/2004/QĐ-BCN ngày 23/11/2004 của Bộ Công Nghiệp Công ty hoạt động độc lập theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0400410498, do Sở kế hoạch và Đầu tư Thành phố Đà Nẵng cấp vào ngày 8/8/2005, với vốn điều lệ ban đầu là 10 tỷ đồng Đến tháng 12/2006, công ty đã phát hành thêm 10 tỷ mệnh giá cổ phiếu, nâng tổng vốn điều lệ lên 20 tỷ đồng theo nghị quyết ĐHĐCĐ lần 2 ngày 07/09/2006.
Ngày 01/07/2008, Công ty Cổ phần Sản xuất - Xuất nhập khẩu Dệt May Đà Nẵng đổi tên thành Công ty Cổ phần Vinatex Đà Nẵng
Vào ngày 31/10/2010, Công ty cổ phần Vinatex Đà Nẵng đã chính thức niêm yết cổ phiếu VDN trên sàn giao dịch chứng khoán Upcom với tổng số lượng 2.000.000 cổ phiếu, mệnh giá 10.000 đồng Mục tiêu của việc niêm yết này là nhằm tăng vốn điều lệ để tái đầu tư vào cơ sở vật chất và mở rộng sản xuất.
.Một số hình ảnh về công ty
2 Cơ cấu tổ chức Công ty
Công ty Cổ phần Vinatex Đà Nẵng hoạt động theo Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13, được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014 Công ty tuân thủ Điều lệ tổ chức và hoạt động cùng các văn bản pháp luật liên quan khác.
Hiện Trụ sở chính của công ty đặt tại:
- Địa chỉ : số 25 Trần Quý Cáp, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng
- Website : www.vinatexdn.com.vn
- Email :vinatexdn@dng.vnn.vn
3 Cơ cấu bộ máy quản lý công ty ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐỒNG
PHÒNG TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH XÍ NGHIỆP MAY 1
PHÒNG TÀI CHÍNH KẾ TOÁN NHÀ MÁY MAYTHANH SƠN
PHÒNG KINH DOANH THỊ TRƯỜNG NHÀ MÁY MAY DUNG QUẤT
PHÒNG KẾ HOẠCH ĐIỀU ĐỘ NHÀ MÁY MAY PHÙ MỸ
PHÒNG KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
PHÒNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
Trang 19 Đại hội đồng Cổ đông Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty cổ phần Vinatex Đà Nẵng Đại hội cổ đông có quyền và nhiệm vụ thông qua định hướng phát triển, quyết định các phương án, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh; quyết định sửa đổi, bổ sung vốn điều lệ của Công ty; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát; và quyết định tổ chức lại, giải thể Công ty và các quyền, nhiệm vụ khác theo quy định của Điều lệ Công ty
Hội đồng Quản trị hiện tại gồm năm thành viên, bao gồm bốn thành viên điều hành và một thành viên độc lập Hội đồng họp định kỳ hàng quý để đánh giá hoạt động công ty và thảo luận các vấn đề chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh, và chính sách chi trả cổ tức Ngoài ra, các cuộc họp bất thường sẽ được tổ chức khi cần thiết Trước mỗi cuộc họp, Hội đồng nhận thông tin cập nhật từ Ban Tổng Giám đốc và Thư ký Hội đồng về tình hình sản xuất, kinh doanh Ban Tổng Giám đốc có trách nhiệm triển khai các nghị quyết đã được Hội đồng thông qua.
Ông Phạm Phú Cường Chủ tịch HĐQT
Ông Văn Hữu Thành Thành viên HĐQT kiêm PTGĐ
Ông Hồ Hai Thành viên HĐQT kiêm TGĐ
Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm Thành viên HĐQT
Ông Nguyễn Văn Tốn Thành viên HĐQT
Ban Kiểm soát có trách nhiệm giám sát Hội đồng Quản trị và Tổng Giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ theo quy định pháp luật và điều lệ công ty Các nhiệm vụ này bao gồm việc xem xét phạm vi và kết quả kiểm toán từ kiểm toán độc lập, cũng như thẩm định các báo cáo tài chính và báo cáo về hệ thống kiểm soát nội bộ.
Ban Kiểm soát của công ty bao gồm 3 thành viên, trong đó có một thành viên độc lập Ban Kiểm soát có quyền thuê tư vấn chuyên nghiệp độc lập khi cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ được giao.
Ông Huỳnh Tấn Long Trưởng ban
Ông Lương Chương Thành viên
Bà Nguyễn Thị Phương Mai Thành viên
Ban Tổng Giám đốc của Công ty bao gồm 05 (Năm người): 01 Tổng Giám đốc, 01 Phó Tổng Giám đốc & 03 Giám đốc điều hành
Tổng Giám đốc điều hành là người quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao.
Các Phó Tổng Giám đốc và Giám đốc điều hành hỗ trợ Tổng Giám đốc trong các lĩnh vực cụ thể, chịu trách nhiệm về công việc được giao và chủ động giải quyết các nhiệm vụ theo ủy quyền của Tổng Giám đốc, tuân thủ quy định của Pháp luật và Điều lệ Công ty.
Danh sách ban Tổng Giám đốc bao gồm các thành viên sau: Ông Hồ Hai giữ chức Tổng Giám đốc, Ông Văn Hữu Thành là Phó Tổng Giám đốc, Ông Trần Văn Tiến đảm nhiệm vị trí Giám đốc điều hành, và Ông Đặng Trọng Tâm cũng là Giám đốc điều hành.
Bà Đào Thị Lực - Giám đốc điều hành
* Các phòng, ban chức năng:
Phòng Tài chính – Kế toán