1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật lao động việt nam về sử dụng lao động nữ

93 42 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Lao Động Việt Nam Về Sử Dụng Lao Động Nữ
Tác giả Tống Thu Trang
Người hướng dẫn ThS. Hoàng Thị Minh Tâm
Trường học Trường Đại Học Luật Tp Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Khóa Luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Tp Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 589,61 KB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG NỮ TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG (11)
    • 1.1. Khái niệm, đặc điểm của sử dụng lao động nữ trong quan hệ lao động (11)
      • 1.1.1. Khái niệm về sử dụng lao động nữ trong quan hệ lao động (11)
      • 1.1.2. Đặc điểm của lao động nữ và việc sử dụng lao động nữ trong quan hệ lao động (13)
    • 1.2. Vai trò của việc sử dụng lao động nữ trong quan hệ lao động (15)
    • 1.3. Các điều kiện sử dụng lao động nữ trong quan hệ lao động (16)
    • 1.4. Sự cần thiết của việc ban hành các quy định pháp lý điều chỉnh vấn đề sử dụng lao động nữ (19)
    • 1.5. Quy định của pháp luật lao động quốc tế và pháp luật lao động của một số quốc gia khác về sử dụng lao động nữ trong quan hệ lao động (20)
      • 1.5.1. Quy định của pháp luật lao động quốc tế về sử dụng lao động nữ (21)
        • 1.5.1.1. Quy định về quyền đảm bảo việc làm của lao động nữ (22)
        • 1.5.1.2. Đảm bảo các điều kiện khi sử dụng lao động nữ trong quan hệ lao động (23)
      • 1.5.2. Pháp luật lao động một số quốc gia về sử dụng lao động nữ (31)
        • 1.5.2.1. Quy định của pháp luật lao động Hoa về sử dụng lao động nữ (31)
        • 1.5.2.2. Quy định của pháp luật lao động Philippines về sử dụng lao động nữ 34 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG NỮ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ (39)
    • 2.1. Một số quy định pháp luật lao động Việt Nam về sử dụng lao động nữ (45)
    • 2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật lao động trong việc sử dụng lao động nữ (63)
      • 2.2.1. Tổng quan về tình hình sử dụng lao động nữ trong lao động và một số bất cập còn tồn đọng (63)
        • 2.2.1.1. Đảm bảo về vấn đề việc làm cho lao động nữ (64)
        • 2.2.1.2. Về thực trạng đào tạo nghề, bồi dưỡng kỹ năng cho lao động nữ (66)
        • 2.2.1.3. Về quy định tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với lao động nữ (67)
        • 2.2.1.5. Về vấn đề kỷ luật lao động nữ (72)
        • 2.2.1.6. Về vận dụng các quy định liên quan đến vấn đề đảm bảo thai sản và quyền lợi về bảo hiểm xã hội cho lao động nữ (74)
      • 2.2.2. Nguyên nhân của những bất cập còn tồn đọng trong việc sử dụng lao động (78)
    • 2.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật lao động Việt (80)
  • KẾT LUẬN (44)

Nội dung

KHÁI QUÁT VỀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG NỮ TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG

Khái niệm, đặc điểm của sử dụng lao động nữ trong quan hệ lao động

1.1.1 Khái ni ệ m v ề s ử d ụ ng lao độ ng n ữ trong quan h ệ lao độ ng

Lao động, theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội Ngoài việc vận động sức lao động để tạo ra của cải, lao động còn là quá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu nhân loại Do đó, lao động được coi là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế và sự phát triển của toàn xã hội.

Lao động nữ là một phần quan trọng trong lực lượng lao động, và để được công nhận theo quy định của pháp luật lao động hiện hành, họ cần đáp ứng các tiêu chí chung của người lao động Cụ thể, theo Bộ luật Lao động (BLLĐ), các điều kiện này đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của lao động nữ trong môi trường làm việc.

Theo Bộ luật Lao động 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, "người lao động" được định nghĩa là người làm việc cho người sử dụng lao động (NSDLĐ) theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý của NSDLĐ Độ tuổi lao động tối thiểu là 15 tuổi, trừ trường hợp quy định khác So với BLLĐ 2012, khái niệm người lao động đã được mở rộng, trong đó yếu tố hợp đồng lao động không còn là điều kiện bắt buộc; chỉ cần có sự thỏa thuận cũng đủ để xác định người lao động theo pháp luật Khả năng lao động được thể hiện qua năng lực hành vi và năng lực pháp luật lao động của từng cá nhân.

2 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr.545

Hiện tại, các văn bản quy phạm pháp luật lao động Việt Nam chưa định nghĩa cụ thể về người lao động nữ Khi tham gia vào quan hệ pháp luật lao động, lao động nữ có đầy đủ quyền và nghĩa vụ chung, cùng với những quyền và nghĩa vụ đặc thù Khái niệm lao động nữ được xem xét từ góc độ khác biệt về mặt giới tính sinh học, theo định nghĩa tại Khoản 2 Điều 5 của Luật Bình đẳng giới năm 2006 Sự khác biệt này tồn tại từ khi cá thể sinh ra và không thể biến đổi, trừ khi có can thiệp y học Người lao động nữ đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nhờ vào những đặc thù sinh học, đồng thời trở thành chủ thể của quan hệ lao động khi đáp ứng đủ các điều kiện về năng lực pháp luật, năng lực hành vi và độ tuổi Vấn đề giới tính là yếu tố quan trọng để xác định người lao động nữ, từ đó hình thành các quy định pháp lý bảo vệ quyền lợi của họ Tóm lại, lao động nữ được hiểu là người lao động mang giới tính nữ về mặt sinh học, có khả năng lao động, làm việc theo thỏa thuận với người sử dụng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý trong suốt quá trình lao động.

Hiện tại, chưa có quy định pháp lý nào định nghĩa rõ ràng về việc sử dụng lao động nữ Dựa trên quan điểm và hiểu biết của tác giả, cùng với những đặc thù riêng của lao động nữ, khái niệm sử dụng lao động nữ có thể được hiểu một cách tổng quát.

NSDLĐ cần thỏa thuận với lao động nữ về công việc cụ thể, đồng thời đảm bảo các quyền lợi cơ bản như trả công, thời gian làm việc hợp lý, nghỉ ngơi, và hưởng các chế độ trợ cấp, an sinh xã hội theo quy định pháp luật Ngoài ra, NSDLĐ cũng phải đảm bảo quyền lợi đặc thù cho lao động nữ, bao gồm thời gian nghỉ ngơi phù hợp.

4 Xem Khoản 2 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006

Việc sử dụng lao động nữ cần được thực hiện liên tục từ giai đoạn tuyển dụng cho đến khi chấm dứt hợp đồng lao động, với trách nhiệm của người sử dụng lao động là đảm bảo quyền lợi cho họ Cần xây dựng nội quy lao động phù hợp với quy định pháp luật về lao động nữ, nhằm hạn chế các quy định không phù hợp và xâm phạm quyền lợi của lao động nữ trong suốt quá trình làm việc.

1.1.2 Đặc điể m c ủ a lao độ ng n ữ và vi ệ c s ử d ụng lao độ ng n ữ trong quan h ệ lao độ ng

Lao động nữ không chỉ có những đặc điểm chung như người lao động mà còn mang những đặc thù riêng biệt do sự khác biệt giới tính Họ không chỉ tham gia vào quan hệ lao động sản xuất mà còn có thiên chức làm mẹ, bao gồm việc mang thai, sinh con, chăm sóc, bảo vệ và nuôi dạy con cái Ngoài ra, họ còn có trách nhiệm vun vén cho gia đình và thực hiện công việc nội trợ hàng ngày Để khai thác hiệu quả nguồn lực lao động này, đồng thời đảm bảo quyền lợi cho lao động nữ và tạo điều kiện cho họ tham gia vào quá trình lao động xã hội theo đúng nguyện vọng, cần hiểu rõ hai đặc điểm quan trọng của họ.

Phụ nữ và nam giới có những khác biệt tự nhiên về sức khỏe và tâm sinh lý, đặc biệt là về vóc dáng và khả năng thể chất Phụ nữ thường phải đối mặt với những sự kiện sinh lý như hành kinh và sinh sản, điều này góp phần làm cho họ có thể lực yếu hơn so với nam giới Sự khác biệt này dẫn đến việc phụ nữ thường bị gán với những công việc nhẹ nhàng, tỉ mỉ như may vá hay nấu ăn Do đó, họ thường bị hạn chế cơ hội việc làm, nhất là trong các lĩnh vực yêu cầu sức khỏe và thể lực cao, vì nhà tuyển dụng cho rằng phụ nữ không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu công việc nặng nhọc hoặc độc hại.

Sức khỏe và khả năng sinh sản của người lao động nữ có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi nhiều yếu tố Trong quá trình làm mẹ, phụ nữ cũng gặp khó khăn trong việc phát triển kỹ năng nghề nghiệp, dẫn đến việc họ dễ bị tụt hậu về trình độ và chuyên môn.

Trong quá trình mang thai và nuôi con nhỏ, lao động nữ thường bị ảnh hưởng tâm lý do sự gia tăng nội tiết tố, khiến họ nhạy cảm hơn với môi trường xung quanh Áp lực từ công việc gia đình và xã hội có thể dẫn đến căng thẳng và mất tập trung, ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản và thai nhi Do đó, pháp luật lao động đã ưu tiên quy định những quyền lợi cho lao động nữ mang thai, như thời gian nghỉ thai sản và bảo đảm việc làm, nhằm giảm bớt gánh nặng trong công việc.

Thứ hai, đặc điểm trong vai trò của lao động nữ về xã hội và gia đình Tại

Người phụ nữ Việt Nam thường bị đánh giá qua những tiêu chuẩn truyền thống như “Tam tòng tứ đức” và “Công dung ngôn hạnh”, dẫn đến sự coi thường và hạn chế trong việc tham gia các hoạt động xã hội Tư tưởng lạc hậu này vẫn tồn tại, khiến phụ nữ ít được quan tâm đào tạo và có cơ hội nâng cao tay nghề như nam giới, dẫn đến sự thụ động trong công việc và giảm chất lượng lao động Điều này cũng khiến nhà tuyển dụng ngần ngại khi tuyển dụng lao động nữ Tuy nhiên, không thể phủ nhận những đóng góp quan trọng mà phụ nữ mang lại cho xã hội Các hoạt động bình đẳng giới trong lao động đang dần hình thành, giúp nhận thức đúng đắn về vai trò của phụ nữ trong quan hệ lao động sản xuất Trong bối cảnh hội nhập và phát triển kinh tế, phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định vị trí của mình trong lực lượng lao động, không chỉ đảm nhiệm vai trò nội trợ mà còn vượt qua định kiến để tham gia tích cực vào sản xuất.

Lao động nữ hiện nay đóng góp tích cực vào nhiều lĩnh vực như chính trị, khoa học, quản lý và kỹ thuật, thể hiện khả năng làm tốt những công việc trước đây chủ yếu do nam giới đảm nhận Họ không chỉ góp phần vào sự phát triển kinh tế mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì các mối quan hệ gia đình Mặc dù công nghệ hỗ trợ họ trong công việc nội trợ, nhưng lao động nữ vẫn phải tự mình đảm nhiệm nhiều công việc nhà và giáo dục con cái Đồng thời, họ cũng cần làm việc bên ngoài để đạt được giá trị vật chất, tinh thần, kiến thức và kỹ năng Điều này đòi hỏi lao động nữ phải cân bằng giữa vai trò làm vợ, làm mẹ và trách nhiệm hoàn thành công việc, đồng thời phát triển kỹ năng cá nhân.

NSDLĐ cần nâng cao vai trò và trách nhiệm khi sử dụng lao động nữ, nhận thức rõ sự khác biệt và đặc thù của nhóm đối tượng này để áp dụng pháp luật lao động hiệu quả hơn Việc sử dụng lao động nữ cần chú trọng đến quyền lợi liên quan đến sức khỏe và tâm lý của họ Bảo vệ và tạo điều kiện cho lao động nữ không bị ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe trong quá trình làm việc là yếu tố quan trọng, đặc biệt với lao động nữ mang thai và nuôi con nhỏ, nhằm đảm bảo sức lao động và góp phần tạo ra lực lượng lao động tương lai cho đất nước.

Vai trò của việc sử dụng lao động nữ trong quan hệ lao động

Mặc dù là phái yếu, lao động nữ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và hội nhập của xã hội Họ không chỉ góp phần về giá trị tinh thần mà còn về giá trị vật chất trong nhiều lĩnh vực Hiện nay, nhiều ngành nghề yêu cầu sự khéo léo, tinh tế và sáng tạo, cho thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của phụ nữ trong lực lượng lao động.

Nhiều phụ nữ đã chứng minh được sức mạnh của mình trong quá trình lao động, từ đó đạt được những thành công đáng kể.

Lao động nữ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu, mang lại lợi ích kinh tế đáng kể Tại các quốc gia phát triển, nữ lao động có trình độ chuyên môn cao tham gia vào các công việc phù hợp, được hưởng chế độ công bằng với nam giới, giúp họ hoàn thành nhiệm vụ hiệu quả hơn Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), việc giảm 25% khoảng cách giới có thể tăng GDP toàn cầu thêm 5,8 nghìn tỷ USD vào năm 2025, chủ yếu ở các nền kinh tế mới nổi với bất bình đẳng giới lớn Sự tăng trưởng này phản ánh sự chuyển đổi từ hoạt động sản xuất tại nhà sang thị trường lao động Nữ lao động, cùng với nam giới, là lực lượng chủ yếu trong quá trình sản xuất, góp phần tạo ra của cải vật chất và phát triển kinh tế xã hội Khi tham gia lao động và nhận lương công bằng, chất lượng cuộc sống của nữ lao động được cải thiện, đồng thời nâng cao tâm lý của họ trong vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội.

Các điều kiện sử dụng lao động nữ trong quan hệ lao động

Khi NSDLĐ hợp tác với lao động nữ, cần chú ý đảm bảo quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho họ, đồng thời duy trì chất lượng lao động tương đương với lao động nam Việc sử dụng lao động nữ có những đặc điểm và điều kiện riêng biệt cần được xem xét kỹ lưỡng.

The ILO office in Hanoi emphasizes that narrowing the gender gap significantly benefits women, society, and the economy This initiative highlights the importance of gender equality and its positive impact on overall development For more details, please visit the ILO website.

Khi sử dụng lao động nữ, NSDLĐ cần đảm bảo tuân thủ các điều kiện về vệ sinh an toàn lao động, tạo ra môi trường làm việc lành mạnh Do sự khác biệt về sinh lý, lao động nữ cần được đáp ứng các nhu cầu cơ bản như buồng vệ sinh riêng trong thời gian hành kinh, phòng nghỉ ngơi riêng tư và phòng vắt sữa cho lao động nuôi con nhỏ Việc trang bị thiết bị an toàn lao động cũng là yếu tố quan trọng để bảo vệ sức khỏe và cơ thể của lao động nữ, ngăn ngừa các tác động xấu từ công việc.

Trong quá trình sử dụng lao động, NSDLĐ không chỉ nên chú trọng đến tiền lương mà còn cần quan tâm đến các vấn đề như nghỉ ngơi, tâm lý, sức khỏe, sinh sản và nâng cao trình độ cho lao động nữ Đây là nghĩa vụ của NSDLĐ, bên cạnh quyền lợi mà họ có khi tham gia quan hệ pháp luật lao động Lao động nữ cần được ưu tiên và hưởng các quyền lợi đặc thù như nghỉ thai sản, có buồng vệ sinh riêng, phòng vắt sữa và được nghỉ sớm khi mang thai Những quyền lợi này là điều kiện quan trọng mà NSDLĐ cần lưu ý khi sử dụng lao động nữ, đảm bảo sự bình đẳng trong quá trình sản xuất và tuân thủ quy định của pháp luật.

Để đảm bảo quyền lợi cho lao động nữ, cần chú trọng đến điều kiện giao kết và thực hiện hợp đồng lao động Hình thức sử dụng lao động đóng vai trò quan trọng, vì mỗi hình thức sẽ dẫn đến các vấn đề pháp lý khác nhau liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và lao động nữ Hiện nay, Việt Nam đang nỗ lực áp dụng các quy định của ILO và các văn bản pháp lý quốc tế vào luật lao động, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm cho phụ nữ và xóa bỏ bất bình đẳng trong lao động, từ đó hình thành nhiều hình thức linh hoạt trong việc sử dụng lao động nữ.

Tham gia vào quan hệ pháp luật lao động, việc ký kết hợp đồng lao động là hình thức phổ biến nhất hiện nay đối với lao động nữ Quan hệ hợp đồng lao động tạo ra sự lệ thuộc pháp lý giữa NSDLĐ và người lao động nữ, trong đó NSDLĐ có quyền quản lý và giám sát quá trình lao động Tuy nhiên, NSDLĐ cũng phải tuân thủ các điều kiện sử dụng lao động đặc thù cho đối tượng này Trong bối cảnh này, người lao động nữ thường ở vị thế yếu thế hơn, nhưng họ cũng có quyền lợi riêng biệt do đặc thù giới tính, bên cạnh các quyền lợi chung dành cho người lao động.

Khi sử dụng lao động nữ thông qua hợp đồng lao động, NSDLĐ cần thỏa thuận rõ ràng về công việc và mức trả công Sức lao động được xem như hàng hóa, chỉ có thể chuyển giao khi "bên bán" thực hiện công việc theo yêu cầu của "bên mua" Điều này phân biệt hợp đồng lao động với các hợp đồng dân sự khác, vì trong hợp đồng lao động, yếu tố trả công cho công việc là yếu tố nổi bật Lao động nữ thực hiện công việc và nhận lương mà không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của NSDLĐ Hợp đồng lao động có thể có thời hạn nhưng thường phải được thực hiện liên tục, chỉ tạm hoãn theo quy định pháp luật hoặc thỏa thuận Trong quá trình làm việc, lao động nữ phải được đảm bảo về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm, đồng thời cũng cần chú ý đến các vấn đề như vệ sinh, sinh sản và nghỉ chăm con Do đó, khi ký kết hợp đồng lao động với lao động nữ, NSDLĐ cần đặc biệt quan tâm đến các vấn đề này.

6 Trường Đại học Luật TP.HCM, Giáo trình Luật lao động (2018), PGS.TS Trần Hoàng Hải (chủ biên), Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.155

Để bảo vệ quyền lợi của lao động nữ, cần thỏa thuận và quy định rõ ràng các quyền lợi liên quan đến đặc thù của họ Điều này giúp tránh tình trạng lao động nữ trở thành gánh nặng do vi phạm quyền và lợi ích của họ.

Khi sử dụng lao động nữ, NSDLĐ cần đảm bảo quyền được lên tiếng và góp ý của họ, vì lao động nữ thường ở thế yếu hơn trong quan hệ lao động Trước khi đưa ra quyết định ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của lao động nữ, NSDLĐ nên tham khảo ý kiến của họ hoặc người đại diện Điều này không chỉ nâng cao sự bình đẳng và tôn trọng trong quan hệ lao động mà còn ngăn chặn việc NSDLĐ tự ý ban hành quy định gây bất lợi cho lao động nữ.

Việc sử dụng lao động nữ cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật lao động về chống phân biệt đối xử và quấy rối tình dục trong môi trường làm việc Đảm bảo sự công bằng và bình đẳng giữa lao động nữ và các chủ thể khác là điều cần thiết, giúp tạo ra một môi trường lao động tích cực Thực thi các quy định đặc thù và đảm bảo quyền lợi chung sẽ giúp lao động nữ yên tâm phát huy tối đa vai trò của mình trong sản xuất và lao động.

Sự cần thiết của việc ban hành các quy định pháp lý điều chỉnh vấn đề sử dụng lao động nữ

Lao động nữ đóng vai trò quan trọng trong xã hội, vừa là người lao động vừa là người mẹ chăm sóc gia đình Do đó, cần có các quy định pháp luật riêng để bảo đảm quyền làm việc và quyền bình đẳng giới cho phụ nữ, giúp họ thực hiện tốt cả chức năng lao động lẫn trách nhiệm nuôi dạy thế hệ trẻ Việc thiết lập các quy định pháp lý nhằm điều chỉnh việc sử dụng nguồn lực lao động nữ là cần thiết trong bối cảnh hội nhập lao động hiện nay Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện cho lao động nữ có việc làm ổn định, cải thiện điều kiện làm việc và phát triển nghề nghiệp.

Việc nâng cao trình độ nghề nghiệp và chăm sóc sức khoẻ cho lao động nữ là cần thiết để họ phát huy hiệu quả năng lực nghề nghiệp, đồng thời hài hoà cuộc sống lao động và gia đình Cần tạo điều kiện cho lao động nữ tham gia vào quan hệ lao động một cách tự do, đảm bảo không bị phân biệt Tuy nhiên, nhiều lao động nữ, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, còn thiếu thông tin về quyền lợi của mình, do đó cần quy định và ban hành các chính sách pháp lý giúp họ dễ dàng tiếp cận và được bảo vệ Hệ thống quy phạm pháp lý chặt chẽ không chỉ đảm bảo quyền lợi cho lao động nữ mà còn thể hiện cam kết của Việt Nam với các tiêu chuẩn lao động quốc tế Trong bối cảnh nền kinh tế và công nghiệp đang chuyển đổi mạnh mẽ, việc xây dựng quy định tiên tiến, an toàn cho lao động nữ là giải pháp quan trọng để bảo vệ quyền lợi con người và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Quy định của pháp luật lao động quốc tế và pháp luật lao động của một số quốc gia khác về sử dụng lao động nữ trong quan hệ lao động

Lao động nữ được coi là một chủ thể đặc biệt trong quan hệ lao động, điều này được nhiều quốc gia công nhận thông qua các quy định pháp lý trong các công ước và hiệp định quốc tế Những quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của lao động nữ trong môi trường làm việc, nâng cao nhận thức cho người sử dụng lao động, và tạo sự cân bằng giới tính trong việc làm, tiền lương và phúc lợi Đồng thời, chúng cũng chú trọng đến các vấn đề riêng của lao động nữ như khả năng tiếp cận việc làm và nghỉ thai sản Các quốc gia phát triển đang dần tiếp cận và áp dụng các công ước quốc tế, nhằm xây dựng các chính sách và quy định thiết thực cho lao động nữ.

16 tâm và quy định đến nhiều khía cạnh, giải quyết được nhiều vấn đề bất cập trong quá trình sử dụng lao động nữ trên thế giới

1.5.1 Quy đị nh c ủ a pháp lu ật lao độ ng qu ố c t ế v ề s ử d ụng lao độ ng n ữ

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là một tổ chức quốc tế quan trọng mà nhiều quốc gia tham gia ký kết và áp dụng các quy định lao động Một trong những mục tiêu nổi bật của ILO là bảo hộ lao động nữ Kể từ khi gia nhập ILO vào năm 1992, Việt Nam đã cam kết thúc đẩy các tiêu chuẩn lao động quốc tế và đã gia nhập 25 công ước của ILO, trong đó có 7 trong 8 công ước cơ bản liên quan đến thương lượng tập thể, phòng chống phân biệt đối xử và lao động cưỡng bức ILO còn có nhiều công ước và khuyến nghị nhằm bảo vệ lao động nữ, bao gồm Công ước số 3 về sử dụng lao động nữ trước và sau khi đẻ, Công ước số 45 về sử dụng phụ nữ trong hầm mỏ, và Công ước 111 về phân biệt đối xử trong việc làm Ngoài ILO, Công ước CEDAW cũng đề cập đến quyền của lao động nữ, yêu cầu các quốc gia không được chối bỏ quyền lợi cơ bản của họ.

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Viện Khoa học An toàn và Vệ sinh Lao động đã nghiên cứu và đưa ra một số công ước và khuyến nghị của ILO nhằm bảo vệ lao động nữ và trẻ em Thông tin chi tiết có thể được tìm thấy tại trang web của Viện Khoa học An toàn và Vệ sinh Lao động.

CEDAW nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ngăn chặn và loại trừ sự phân biệt đối xử với phụ nữ, giúp họ tiếp cận đầy đủ các quyền con người được pháp luật công nhận Bên cạnh các khía cạnh dân sự và chính trị, công ước này còn đề cập đến các vấn đề kinh tế - xã hội, văn hóa và gia đình CEDAW không chỉ xác định quyền lợi của phụ nữ mà còn chỉ rõ các lĩnh vực mà họ thường bị phân biệt, đặc biệt trong lĩnh vực lao động Một số vấn đề cơ bản liên quan đến việc sử dụng lao động nữ trong quan hệ lao động được quy định cụ thể trong các công ước này.

1.5.1.1 Quy định về quyền đảm bảo việc làm của lao động nữ

Quyền lao động là quyền cơ bản và quan trọng nhất của người lao động, giúp họ tạo ra của cải và giá trị tinh thần cho xã hội, đồng thời phát triển bản thân để đáp ứng nhu cầu cá nhân và gia đình Theo pháp luật quốc tế, quyền được lao động của phụ nữ được công nhận là một quyền con người thiết yếu Các văn kiện quốc tế như Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc 1948, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa xã hội 1966 và Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị 1966 đều nhấn mạnh rằng quyền lao động là quyền hàng đầu cần được bảo vệ.

Khoản 1 Điều 23 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền 1948 đã khẳng định: “Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do chọn việc làm, quyền được hưởng các điều kiện làm việc chính đáng và thuận lợi đối với công việc, và quyền được bảo vệ chống thất nghiệp” 9 Điều 8 của Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 tuy không trực tiếp đề cập đến quyền lao động nhưng mang theo tinh thần bảo vệ lợi ích NLĐ như cấm mọi hình thức nô lệ, nô dịch, không ai bị yêu cầu phải lao động hoặc lao

Theo cổng thông tin Bộ Tư pháp, quyền của người phụ nữ được bảo vệ và thúc đẩy thông qua Công ước CEDAW Công ước này cam kết đảm bảo quyền bình đẳng cho phụ nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa Việc tìm hiểu và thực hiện các quyền này là rất quan trọng để nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội Thông tin chi tiết có thể được tham khảo tại trang web của Quảng Nam.

9 Xem Khoản 1 Điều 23 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền 1948

18 động cưỡng bức, với mục đích là để người lao động được thực hiện quyền lao động một cách tự do nhất 10

Khoản 1 Điều 6 của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa xã hội

Theo quy định năm 1966, các quốc gia thành viên Công ước công nhận quyền làm việc của mọi người, bao gồm quyền tự do lựa chọn hoặc chấp nhận công việc Mục tiêu của quy định này là đảm bảo người lao động có khả năng kiếm sống và phát triển thông qua công việc phù hợp với khả năng của họ Người lao động cũng có quyền thiết lập quan hệ lao động với các tổ chức hoặc cá nhân mà họ tin tưởng Trong trường hợp không thể tự tìm kiếm việc làm, họ có quyền tiếp cận các dịch vụ tư vấn hỗ trợ do Nhà nước cung cấp.

Trong bài viết về “Các biện pháp bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ theo

Pháp luật Lao động Việt Nam: Nhìn từ góc độ bình đẳng giới”, Tiến sĩ Lê Thị Thúy

Công ước về xóa bỏ hình thức phân biệt đối với phụ nữ (CEDAW) yêu cầu các quốc gia tham gia thực hiện các biện pháp cần thiết để loại bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực việc làm Điều này nhằm đảm bảo quyền làm việc và cơ hội nghề nghiệp bình đẳng cho phụ nữ, bao gồm tiêu chuẩn tuyển dụng công bằng, quyền tự do lựa chọn ngành nghề, quyền thăng tiến, bảo vệ lao động, và quyền hưởng phúc lợi Hơn nữa, phụ nữ cũng có quyền tham gia các chương trình dạy nghề và đào tạo nâng cao để phát triển kỹ năng nghề nghiệp.

1.5.1.2 Đảm bảo các điều kiện khi sử dụng lao động nữ trong quan hệ lao động

Quyền được làm việc là một trong những quyền cơ bản của mỗi cá nhân lao động, thể hiện tầm quan trọng của việc bảo vệ và đảm bảo quyền lợi cho người lao động trong môi trường làm việc.

10 Xem Điều 8 của Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966

11 Xem Khoản 1 Điều 6 của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa xã hội 1966

12 Lê Thị Thúy Hương (2013), Các biện pháp bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ theo pháp luật lao động

Việt Nam: Nhìn từ góc độ bình đẳng giới, Kỷ yếu Hội thảo về quyền con người, Khoa Luật Dân sự, trường Đại học Luật TP.HCM, tr.04

Cả nam và nữ đều có quyền làm việc để kiếm sống cho bản thân và gia đình, do đó, việc đảm bảo bình đẳng trong lao động và tạo cơ hội việc làm cho phụ nữ là điều các quốc gia cần chú trọng Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn tồn tại sự bất công trong việc sử dụng lao động nữ, khi những định kiến và phong tục tập quán cũ vẫn ảnh hưởng đến cách nhìn nhận và quy trình tạo ra việc làm.

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã xây dựng nhiều tiêu chuẩn lao động nhằm đảm bảo bình đẳng trong việc sử dụng lao động nữ, nổi bật là Công ước 111 năm 1958 về cấm phân biệt đối xử trong việc làm Công ước yêu cầu các quốc gia thành viên áp dụng biện pháp phù hợp để đảm bảo rằng lao động nữ có quyền lợi bình đẳng như lao động nam trong cùng một công việc, miễn là cả hai đáp ứng các tiêu chí đề ra Khoản 2 Điều 5 của Công ước 111 cho phép các quốc gia xác định các biện pháp đặc biệt để bảo vệ những nhóm lao động cần hỗ trợ, như phụ nữ, người cao tuổi, và người khuyết tật ILO kiên quyết chống lại sự phân biệt đối xử dựa trên giới tính Ngoài Công ước 111, ILO còn có Công ước 122 và khuyến nghị 122 năm 1964, nhấn mạnh quyền tự do lựa chọn việc làm và cơ hội phát triển kỹ năng cho tất cả lao động mà không phân biệt về giới tính, chủng tộc hay tình trạng xã hội Sự bình đẳng trong sử dụng lao động là một vấn đề quan trọng mà các quốc gia cần đảm bảo để bảo vệ quyền lợi của người lao động.

20 nữ cũng có quyền được lao động, được tự do làm việc, được bình đẳng với nam giới trong môi trường làm việc

Tiền lương là mối quan tâm hàng đầu của người lao động trong quan hệ lao động, đặc biệt trong môi trường cạnh tranh và nền kinh tế thị trường Việc các quốc gia tuân thủ nguyên tắc trả lương công bằng, hợp lý cho các công việc có tính chất tương đương là rất cần thiết Các tiêu chuẩn quốc tế được thiết lập nhằm ngăn chặn sự bất công trong việc trả lương, đặc biệt là để loại bỏ phân biệt giới tính trong tiền lương của lao động nữ Tổ chức ILO nhấn mạnh rằng việc quy định tiền lương không được dựa vào giới tính, tuổi tác, dân tộc hay tôn giáo, mà cần dựa vào tính chất công việc, sự đóng góp và chất lượng hoàn thành công việc Do đó, lao động nữ và lao động nam thực hiện công việc giống nhau sẽ được trả lương ngang nhau mà không có bất kỳ sự phân biệt giới nào.

Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 khẳng định rằng thù lao cho tất cả mọi người lao động phải đảm bảo công bằng, với mức lương hợp lý cho những công việc có giá trị tương đương mà không có sự phân biệt Đặc biệt, phụ nữ cần được đảm bảo điều kiện làm việc và mức lương ngang bằng với nam giới cho những công việc giống nhau.

Trong Luận án tiến sĩ về “Quyền của lao động nữ theo pháp luật Việt Nam”, Đặng Thị Thơm nhấn mạnh rằng Hiến chương của Tổ chức Lao động Quốc tế đã kêu gọi công nhận nguyên tắc thù lao cho các công việc có giá trị ngang nhau Công ước 100 năm 1951 của ILO về Trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cũng khẳng định rằng mức trả công không được phân biệt đối xử dựa trên giới tính.

Một số quy định pháp luật lao động Việt Nam về sử dụng lao động nữ

Việt Nam có tỷ lệ nữ tham gia lực lượng lao động cao, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội Pháp luật Việt Nam đã áp dụng nhiều chính sách ưu tiên cho lao động nữ, nhằm hỗ trợ họ trong công việc Sau khi Bộ luật Lao động 2019 có hiệu lực, quy định về lao động nữ đã được cập nhật để chống phân biệt đối xử tại nơi làm việc, hướng tới bình đẳng trong việc làm, đào tạo và trả công Đặc biệt, các quy định hiện hành bảo vệ quyền lợi của lao động nữ mang thai, có con nhỏ, khuyết tật và lao động nữ giúp việc gia đình, yêu cầu người sử dụng lao động phải đảm bảo quyền lợi cơ bản, thúc đẩy bình đẳng giới trong mọi khía cạnh như thời gian làm việc, nghỉ ngơi, lương bổng và các chế độ khác.

2.1.1 Đả m b ả o vi ệ c làm c ủ a la o độ ng n ữ trong quan h ệ lao độ ng

Lao động nữ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển xã hội và gia đình, đồng thời góp phần thúc đẩy sản xuất Tuy nhiên, với đặc điểm sinh học riêng, phụ nữ phải đảm nhận vai trò sinh sản và dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố độc hại, khiến họ gặp khó khăn hơn nam giới trong việc tìm kiếm việc làm Họ cần một công việc ổn định, có thu nhập đảm bảo và được bảo vệ trong môi trường lao động, đồng thời phải tránh những tác động tiêu cực đến chức năng sinh đẻ và nuôi con Theo nghiên cứu của Mạng lưới Hỗ trợ lao động di cư Việt Nam (M.net) vào năm 2019, lao động nữ chiếm hơn 64% tổng số lao động trong các khu công nghiệp, đặc biệt trong các ngành như dệt may và chế biến.

Hơn 70% lực lượng lao động trong ngành thủy sản là nữ, nhưng trước sự phát triển mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp 4.0, họ đang đối mặt với nguy cơ mất việc làm do máy móc thay thế Để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong lao động, Nhà nước đã ban hành các quy định pháp lý và giải pháp cụ thể nhằm tăng cường sự tham gia của nữ giới vào thị trường lao động và tạo điều kiện cho họ có được việc làm ổn định.

Việt Nam đã phê chuẩn Công ước 122 của ILO về Chính sách việc làm, nhằm tạo cơ hội cho người lao động lựa chọn công việc mà không bị phân biệt về chủng tộc, giới tính, tôn giáo hay nguồn gốc xã hội Hiến pháp 2013 cũng khẳng định quyền lao động của công dân, quy định tại Điều 35 rằng mọi người có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp và nơi làm việc, đồng thời nhấn mạnh công bằng và bình đẳng trong lao động Điều 26 của Hiến pháp nêu rõ nam, nữ bình đẳng về mọi mặt và Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới.

Nhà nước, xã hội và gia đình cần tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện và phát huy vai trò trong xã hội, đồng thời nghiêm cấm mọi hình thức phân biệt đối xử về giới Quyền làm việc bình đẳng của lao động nữ được bảo đảm, tạo thuận lợi cho họ trong việc tìm kiếm và tự tạo việc làm, cũng như đảm bảo việc làm trong quan hệ lao động Điều này được quy định rõ trong Luật Việc làm năm 2013, nhấn mạnh quyền làm việc, tự do lựa chọn công việc và nơi làm việc, cũng như bình đẳng về cơ hội việc làm và thu nhập Luật Bình đẳng giới năm 2006 cũng khẳng định quyền này tại Điều 13.

Việc làm cho lao động nữ trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 đang trở thành một chủ đề quan trọng trong xã hội hiện đại Các chính sách và chiến lược cần được cải thiện để hỗ trợ phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ và sản xuất Cần có các chương trình đào tạo phù hợp nhằm nâng cao kỹ năng và tạo cơ hội việc làm cho lao động nữ, giúp họ thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động.

25 Xem Khoản 1 Điều 35 Hiến pháp 2013

27 Xem Điều 4 Luật Việc làm 2013

Luật Lao động 2019 quy định về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động, đảm bảo nam, nữ có cùng tiêu chuẩn và độ tuổi khi tuyển dụng, cũng như được đối xử công bằng tại nơi làm việc Đặc biệt, Điều 135 nhấn mạnh quyền làm việc của lao động nữ, khuyến khích nhà sử dụng lao động tạo điều kiện cho họ có việc làm thường xuyên với chế độ làm việc linh hoạt, bao gồm làm việc không trọn thời gian và làm việc tại nhà Mục tiêu là giúp lao động nữ cân bằng giữa công việc và cuộc sống gia đình, từ đó có cơ hội tiếp cận với những công việc phù hợp và linh hoạt hơn Nghị định 145/2020/NĐ-CP cũng quy định trách nhiệm của nhà sử dụng lao động trong việc đảm bảo điều kiện làm việc cho lao động nữ, góp phần tạo ra môi trường làm việc công bằng và hỗ trợ sự phát triển của họ trong lực lượng lao động.

Nhà nước cam kết thực hiện quyền bình đẳng cho lao động nữ và lao động nam thông qua các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới trong nhiều lĩnh vực như tuyển dụng, đào tạo, tiền lương, khen thưởng và thăng tiến Đồng thời, các chế độ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, cùng với điều kiện lao động, an toàn lao động, thời giờ làm việc và nghỉ ngơi cũng được chú trọng Đặc biệt, Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động ưu tiên tuyển dụng phụ nữ và thực hiện các chính sách tốt hơn so với quy định pháp luật để tạo điều kiện cho họ phát triển.

Khi tham gia quan hệ lao động với NSDLĐ, người lao động nữ cần được đảm bảo các cam kết về việc làm đã thỏa thuận Điều này bao gồm các quy định liên quan đến tiền lương, thời gian làm việc, điều kiện lao động, và quyền được bảo vệ công việc trong trường hợp nghỉ thai sản.

28 Xem Điều 13 Luật Bình đẳng giới 2006

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 137 BLLĐ 2019, người lao động có quyền được bảo đảm việc làm trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc tái tổ chức doanh nghiệp, và không bị sa thải hoặc chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản hay nuôi con dưới 12 tháng tuổi Đặc biệt, lao động nữ được đảm bảo quyền lợi trở lại làm việc sau khi sinh con, theo Điều 140 BLLĐ 2019.

Theo Bộ luật Lao động 2019, lao động nữ sau khi nghỉ thai sản, nhận con nuôi dưới 6 tháng tuổi, mang thai hộ, hay lao động nam nghỉ việc chăm sóc vợ mang thai sẽ được bảo đảm việc làm cũ mà không bị cắt giảm lương và quyền lợi Nếu công việc cũ không còn, người sử dụng lao động phải bố trí một công việc mới tương đương với mức lương không thấp hơn trước khi nghỉ Điều này không chỉ đảm bảo công việc cũ mà còn bảo vệ quyền lợi và sự bình đẳng cho người lao động.

Tiếp theo đó, BLLĐ 2019 cũng quy định cụ thể hơn so với Điều 160 của BLLĐ

Theo Điều 142 BLLĐ 2019, các công việc có ảnh hưởng tiêu cực đến chức năng sinh sản và nuôi con của phụ nữ được quy định rõ ràng Khoản 1 của điều này nêu rõ rằng danh mục nghề nghiệp có tác động xấu đến sức khỏe sinh sản và khả năng nuôi con sẽ do Bộ Lao động – Thương binh và xã hội ban hành.

Năm 2019, Điều 10 và 11 của Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH đã quy định chi tiết về hợp đồng lao động, hội đồng thương lượng tập thể và các nghề, công việc có ảnh hưởng xấu đến chức năng sinh sản và nuôi con Cụ thể, Điều 10 liệt kê danh mục nghề, công việc ảnh hưởng đến chức năng sinh sản của lao động nữ và nam Phụ lục kèm theo Thông tư 10 cung cấp thông tin chi tiết về các công việc độc hại, nặng nhọc, và những tác động tiêu cực đến lao động nữ, đặc biệt là những người đang mang thai.

31 Xem Điều 10 Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH

Người sử dụng lao động (NSDLĐ) có trách nhiệm công khai và minh bạch thông tin về công việc có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của lao động nữ, đặc biệt là những người đang mang thai hoặc nuôi con nhỏ Trước khi ký hợp đồng, NSDLĐ cần xem xét kỹ lưỡng tính chất công việc để đảm bảo không gây tác động tiêu cực đến sức khỏe sinh sản và khả năng nuôi con của họ Luật pháp cũng trao quyền cho lao động nữ trong việc quyết định làm việc ban đêm, làm thêm giờ hoặc đi công tác xa trong thời gian mang thai hoặc nuôi con nhỏ.

Theo Khoản 1 Điều 137 BLLĐ 2019, người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ, hoặc đi công tác xa nếu họ đang mang thai từ tháng 06 trở đi hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ khi có sự đồng ý của người lao động Khoản 2 của điều này cũng quy định rằng lao động nữ làm công việc nặng nhọc, độc hại, hoặc có ảnh hưởng xấu đến chức năng sinh sản có quyền được chuyển sang công việc nhẹ hơn hoặc giảm 1 giờ làm việc mỗi ngày mà không bị giảm lương và quyền lợi cho đến khi con họ đủ 12 tháng tuổi.

Thực trạng áp dụng pháp luật lao động trong việc sử dụng lao động nữ

2.2.1 T ổ ng quan v ề tình hình s ử d ụng lao độ ng n ữ trong lao độ ng và m ộ t s ố b ấ t c ậ p còn t ồ n đọ ng

Mặc dù Bộ Luật Lao động 2019 đã tạo ra nhiều cơ hội mới nhằm thu hẹp khoảng cách giới trong lao động và đảm bảo bình đẳng theo các công ước quốc tế, như việc giảm chênh lệch độ tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ, cũng như xóa bỏ các hạn chế đối với phụ nữ trong một số ngành nghề, nhưng thực tế áp dụng pháp luật vẫn cho thấy những con số đáng lo ngại Các quy định thúc đẩy bình đẳng về tiền lương, thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi và điều kiện làm việc vẫn chưa được thực hiện hiệu quả, dẫn đến việc mở rộng cơ hội việc làm cho nữ giới vẫn còn nhiều thách thức.

Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Phòng Thương mại - Công nghiệp Việt Nam đã ban hành Bộ Quy tắc ứng xử nhằm ngăn chặn quấy rối tình dục tại nơi làm việc Bộ Quy tắc này hướng tới việc tạo ra môi trường làm việc an toàn và tôn trọng cho tất cả người lao động.

59 khác, cho thấy tuy rằng quy định đã có nhưng việc tiếp cận và áp dụng trên thực tiễn vần còn nhiều khác biệt

2.2.1.1 Đảm bảo về vấn đề việc làm cho lao động nữ

Pháp luật Việt Nam cam kết tạo cơ hội việc làm bình đẳng cho lao động nữ, nhưng thực tế vẫn tồn tại sự chênh lệch trong phân bố công việc Theo báo cáo của ILO tháng 3/2021, tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động thấp hơn nam giới, chủ yếu do trách nhiệm gia đình không được phân chia công bằng Điều tra năm 2018 cho thấy 47,5% phụ nữ không tham gia kinh tế vì lý do cá nhân hoặc gia đình, trong khi chỉ có 18,9% nam giới viện dẫn lý do tương tự Mặc dù có tỷ lệ tham gia cao, phụ nữ vẫn gặp bất bình đẳng trong cơ hội việc làm và phát triển nghề nghiệp do "gánh nặng kép" Thêm vào đó, báo cáo của Navigos Group năm 2018 chỉ ra rằng 39% nam ứng viên được tuyển dụng chỉ vì họ là nam giới, cho thấy khoảng cách trong tiếp cận việc làm giữa hai giới vẫn còn tồn tại.

45 Tổ chức lao động quốc tế ILO (2021), Tóm tắt nghiên cứu “Giới và thị trường lao động ở Việt Nam”, tr.02

Bà Valentina Barcucci, chuyên gia kinh tế lao động của ILO Việt Nam và tác giả chính của nghiên cứu “Giới và thị trường lao động ở Việt Nam”, cho biết rằng bất bình đẳng trong chất lượng việc làm và phát triển nghề nghiệp của phụ nữ xuất phát từ trách nhiệm kép mà họ phải chịu Cụ thể, phụ nữ dành thời gian làm việc nhà gấp đôi so với nam giới, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến cơ hội nghề nghiệp của họ.

Phụ nữ vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm cơ hội việc làm và thăng tiến trong sự nghiệp, với 60% từng bị từ chối chỉ vì giới tính Trong khi nam giới thường được ưu tiên cho các công việc chuyên sâu như kiến trúc sư và kỹ sư, phụ nữ lại bị giới hạn trong các vị trí hỗ trợ như lễ tân và kế toán Mặc dù Nhà nước đã có chính sách khuyến khích bình đẳng giới trong lao động, thực tế cho thấy phụ nữ vẫn phải cân bằng giữa công việc và gia đình, đồng thời thiếu cơ hội thăng tiến rõ ràng Định kiến xã hội và sự thiếu hỗ trợ từ pháp luật cũng là những rào cản lớn Báo cáo của ILO chỉ ra rằng phụ nữ chỉ chiếm 29,7% vị trí lãnh đạo trong khu vực kinh tế nhà nước và 34,1% trong khu vực FDI, cho thấy sự chênh lệch rõ rệt trong cơ hội lãnh đạo Mặc dù tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động đang tăng, nhưng tình trạng phân biệt trong tuyển dụng và cơ hội thăng tiến vẫn còn tồn tại, gây khó khăn cho họ trong việc đạt được vị trí lãnh đạo.

47 Navigos Group Việt Nam (2018), Báo cáo “Vai trò của nữ giới trong sự phát triển bề vững của doanh nghiệp”, tr.05

48 Tổ chức lao động quốc tế ILO (2021), tlđd 45, tr.07

61 chế, khi mà tỉ lệ lãnh đạo nữ trong lực lượng lao động hiện nay còn khá thưa thớt so với nam giới

2.2.1.2 Về thực trạng đào tạo nghề, bồi dưỡng kỹ năng cho lao động nữ

Nhà nước đang chú trọng tạo cơ hội cho lao động nữ nâng cao tay nghề và thăng tiến trong công việc, đặc biệt thông qua các chương trình đào tạo nghề và chuyên môn Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc phân bổ và đào tạo nghề cho lao động nữ còn chậm và gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với lao động nữ di cư và những người làm việc tại nông thôn, vùng sâu vùng xa Phát triển kỹ năng nghề cho lao động nữ là cần thiết, nhằm đảm bảo sự tham gia của họ vào thị trường lao động và ưu tiên trong các chương trình đào tạo.

Trong quý I năm 2021, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ từ sơ cấp trở lên đạt 26,0%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Tại các doanh nghiệp ở thành phố lớn, việc tổ chức đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng cho lao động nữ diễn ra hiệu quả, tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp Công ty Cổ phần Vàng Bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) đã chú trọng đầu tư thời gian và chi phí cho việc nâng cao chuyên môn cho nhân viên nữ, đồng thời tổ chức các kỳ thi nâng bậc để họ có cơ hội áp dụng kỹ năng đã học Công ty CP Kinh doanh Thủy hải sản Sài Gòn cũng cam kết phát triển bền vững, tạo điều kiện cho lao động nữ được đào tạo tại Nhật Bản Tương tự, Công ty TNHH Nệm Vạn Thành tổ chức các cuộc thi tay nghề và lớp học ngoại ngữ nhằm nâng cao trình độ cho nhân viên nữ Nhìn chung, công tác đào tạo nghiệp vụ và nâng cao tay nghề cho lao động nữ tại các công ty đang được chú trọng.

49 Tổng cục thống kê (2021), Thông cáo báo chí tình hình lao động việc làm Quý 1 năm 2021, tr.01

Báo Người lao động nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đãi ngộ thỏa đáng cho lao động nữ nhằm tạo cơ hội thăng tiến cho họ Việc này không chỉ giúp nâng cao đời sống và tinh thần làm việc của phụ nữ mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội Để đạt được điều này, cần có những chính sách hỗ trợ và môi trường làm việc công bằng, khuyến khích sự đóng góp của lao động nữ.

Trong bối cảnh hiện tại, việc đào tạo nghề cho lao động nữ tại nông thôn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là thiếu nguồn chi phí và nhận thức hạn chế Tỷ lệ lao động được đào tạo giữa khu vực thành thị và nông thôn chênh lệch rõ rệt, với 40,7% tại thành phố so với 17,8% ở nông thôn Hơn nữa, vấn đề đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ chưa được doanh nghiệp chú trọng, đặc biệt khi công nghệ đang chuyển đổi nhanh chóng trong cuộc cách mạng 4.0 Mặc dù pháp luật có quy định về việc mở rộng các loại hình đào tạo cho lao động nữ, nhưng trách nhiệm nghiên cứu và tổ chức đào tạo vẫn thuộc về doanh nghiệp, điều này gây khó khăn cho họ và dẫn đến sự bất bình đẳng trong tuyển dụng lao động nữ.

2.2.1.3 Về quy định tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với lao động nữ

Quy định và chính sách của Nhà nước nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trả lương công bằng cho lao động nữ, tương đương với lao động nam khi thực hiện cùng một công việc Trách nhiệm này thuộc về người sử dụng lao động, nhằm thể hiện sự công bằng và bình đẳng, từ đó nâng cao tinh thần làm việc của lao động nữ Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều doanh nghiệp và cơ sở sản xuất vẫn có xu hướng phân biệt tiền lương, dẫn đến việc trả lương không công bằng cho người lao động.

51 Tổng cục thống kê (2021), tlđd 49, tr.02

Trong bối cảnh khó khăn do dịch bệnh kéo dài, nhiều doanh nghiệp đã cắt giảm các khoản phụ cấp cho lao động nữ, dẫn đến cuộc sống của họ trở nên bấp bênh Theo Báo cáo nghiên cứu Giới và thị trường lao động ở Việt Nam tháng 3/2021, thu nhập trung bình của phụ nữ thấp hơn so với nam giới Một khía cạnh quan trọng của bình đẳng trong việc làm là áp dụng nguyên tắc trả lương bình đẳng cho công việc có giá trị tương đương, điều mà Việt Nam đã cam kết thực hiện khi phê chuẩn Công ước 100 của ILO Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ ra rằng chênh lệch tiền lương ở Việt Nam đã tăng trung bình 1,2 điểm phần trăm mỗi năm kể từ năm 2016, sau một thời gian giảm dần.

Theo báo cáo năm 2018, sự chênh lệch thu nhập giữa nam và nữ không chỉ phản ánh qua chỉ số quốc gia mà còn cho thấy những bất lợi mà phụ nữ phải đối mặt trong nhiều lĩnh vực Phân tích cho thấy rằng sự chênh lệch này chủ yếu xuất phát từ "gánh nặng kép" mà lao động nữ phải gánh vác, bao gồm cả công việc gia đình như chăm sóc con cái và nội trợ, khiến họ không thể nâng cao tay nghề liên tục Theo báo cáo Điều tra Lao động Quý 4 năm 2020, thu nhập bình quân tháng của lao động nam cao gấp 1,1 lần so với lao động nữ, với mức thu nhập tương ứng là 6,9 triệu đồng và 6,3 triệu đồng Đến quý I năm 2021, thu nhập bình quân tháng của lao động nam tiếp tục cao hơn 1,4 lần so với lao động nữ, đạt 6,3 triệu đồng, tăng 339 nghìn đồng so với quý trước và 106 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.

52 Tổ chức lao động quốc tế ILO (2021), tlđd 45, tr.04

53 Tổng cục thống kê (2020), Báo cáo điều tra lao động việc làm quý 4 năm 2020, tr.08

Mức thu nhập của lao động nữ tại các khu chế xuất và khu công nghiệp hiện nay vẫn còn thấp, không đủ để trang trải chi phí sinh hoạt hàng ngày, đặc biệt là đối với lao động nữ nhập cư phải thuê nhà trọ Điều này dẫn đến việc họ không có đủ tiền để sinh hoạt Thêm vào đó, quy định về tuổi nghỉ hưu cũng góp phần làm gia tăng chênh lệch lương theo giới, khi tuổi nghỉ hưu của nữ sớm hơn nam (55 tuổi so với 60 tuổi) Sự khác biệt này ảnh hưởng đến quá trình làm việc, thăng tiến của nữ giới, khi họ thường phải đối mặt với những rào cản từ gia đình và thiên chức làm mẹ Kết quả là, đến tuổi nghỉ hưu, lao động nữ không có nhiều thời gian dành cho sự nghiệp như nam giới, dẫn đến việc quy định tuổi nghỉ hưu rút ngắn cơ hội thăng tiến và phát triển sự nghiệp của họ.

Năm 2020, nền kinh tế gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, dẫn đến tổng số giờ làm việc của lao động nữ giảm, đặc biệt trong những ngành có tỷ trọng lao động nữ cao Tuy nhiên, vào quý 3 và 4, khi kinh tế hồi phục và trường học mở cửa trở lại, cả phụ nữ và nam giới phải làm thêm giờ để bù đắp thu nhập bị mất Trung bình, phụ nữ làm thêm nhiều giờ hơn nam giới, gia tăng gánh nặng cho họ Việc làm thêm giờ cùng với trách nhiệm gia đình đã tạo ra nhiều áp lực cho lao động nữ.

2.2.1.4 Về vấn đề thực hiện, chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ

Quy định cấm NSDLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng với lao động nữ do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi nhằm bảo vệ quyền lợi của họ và ngăn chặn tình trạng NSDLĐ từ chối tuyển dụng vì lo ngại về gánh nặng từ việc mang thai và nghỉ thai sản Điều này giúp đảm bảo sự công bằng trong môi trường làm việc và khuyến khích sự tham gia của lao động nữ.

54 Tổng cục thống kê, Thông cáo báo chí tình hình lao động việc làm quý 1 năm 2021 (2021), tr.05

55 Nhóm Ngân hàng Thế giới, Tương lai việc làm Việt Nam dưới góc nhìn giới (2018), tr.08

56 Tổ chức lao động quốc tế ILO, Tóm tắt nghiên cứu “Giới và thị trường lao động ở Việt Nam” (3/2021), tr.15

Ngày đăng: 05/05/2022, 11:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) năm 1979 Khác
2. Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền của Liên Hợp Quốc năm 1948 Khác
3. Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 Khác
4. Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa xã hội 1966 Khác
5. Công ước số 3 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về Bảo vệ thai sản năm 1919 Khác
6. Công ước số 30 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về thời giờ làm việc trong thương mại và văn phòng năm 1930 Khác
7. Công ước số 100 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về Trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau năm 1951 Khác
8. Công ước số 111 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về Cấm phân biệt đối xử trong việc làm, nghề nghiệp năm 1958 Khác
9. Công ước số 122 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về Chính sách việc làm năm 1964 Khác
10. Công ước số 183 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về Bảo vệ bà mẹ năm 2000 Khác
11. Bộ Luật Lao Động (Luật số 10/2012/QH13 2012) ngày 18 tháng 6 năm 2012 Khác
12. Bộ luật Lao động (Bộ luật số 45/2019/QH14) ngày 20 tháng 11 năm 2019 Khác
13. Hiếp pháp ngày 28 tháng 11 năm 2013 Khác
14. Luật Việc làm (Luật số 38/2013/QH13) ngày 16 tháng 11 năm 2013 Khác
15. Luật Bảo hiểm xã hội (Luật số 58/2014/QH13) ngày 20 tháng 11 năm 2014 Khác
16. Luật Bình đẳng giới (Luật số 73/2006/QH 11) ngày 29 tháng 6 năm 2006 Khác
17. Nghị quyết số 04-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 12 tháng 07 năm 1993 về Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới Khác
18. Nghị định 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14 tháng 12 năm 2020 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về điều kiện lao động và quan hệ lao động Khác
19. Nghị định 135/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18 tháng 11 năm 2020 về Tuổi nghỉ hưu Khác
20. Nghị định 28/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01 tháng 3 năm 2020 quy định Xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3 Công ước về Xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ - Pháp luật lao động việt nam về sử dụng lao động nữ
3 Công ước về Xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (Trang 5)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN