1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cross-border-Tuberculosis-Control-Viet-Nam-Cambodia-VI

84 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiểm Soát Bệnh Lao Khu Vực Biên Giới Việt Nam Và Campuchia
Người hướng dẫn Phó Giáo Sư, Tiến Sỹ Nguyễn Viết Nhung, Phó Giáo Sư, Tiến Sỹ Nguyễn Hòa Bình, Tiến Sĩ Yuda Chan Huot, Bà Park Mihyung, Bà Parco Kristin
Trường học Bệnh viện Phổi Trung ương Việt Nam
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 8,51 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU (16)
  • CHƯƠNG 2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (24)
  • CHƯƠNG 3. THẢO LUẬN (66)
  • CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ (71)
  • Tài liệu tham khảo (82)

Nội dung

Kiểm soát bệnh lao khu vực biên giới Việt Nam và Campuchia Các ý kiến trình bày trong báo cáo này hoàn toàn thuộc về các tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của các tổ chức liên quan đến ng[.]

GIỚI THIỆU

Bệnh lao và người di cư

Bệnh lao vẫn được xem là một vấn đề sức khỏe toàn cầu nghiêm trọng, với khoảng 10 triệu người mắc bệnh và 1,2 triệu ca tử vong vào năm 2019 Lao là một trong mười nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên thế giới, và trong năm đó, có 206.030 trường hợp lao đa kháng thuốc (MDR-TB) được chẩn đoán Công tác phòng chống lao đang đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt trong việc phát hiện và điều trị lao đa kháng thuốc, điều này đe dọa tính mạng bệnh nhân nếu không được chẩn đoán kịp thời và thiếu phác đồ điều trị hiệu quả, nhất là ở các quốc gia có nguồn lực hạn chế.

Bệnh lao lây truyền từ người sang người, đặc biệt ảnh hưởng đến những người sống trong điều kiện không hợp vệ sinh và đông đúc, chủ yếu là người nghèo Những người suy dinh dưỡng và có hệ miễn dịch kém cũng dễ mắc lao, trong khi những người sống chung với HIV/AIDS có nguy cơ cao gấp 26 đến 31 lần so với người bình thường Bệnh lao là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với tính mạng của các nhóm dân cư dễ bị tổn thương như người vô gia cư, người tị nạn và người di cư.

Người di cư thường sống trong điều kiện chật chội và ít khi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dẫn đến chậm trễ trong chẩn đoán bệnh lao do hạn chế tài chính và rào cản ngôn ngữ Họ trở thành đối tượng dễ bị tổn thương khi không có bảo hiểm y tế, phải đối mặt với sự kỳ thị và phân biệt đối xử, cùng với tình trạng pháp lý không rõ ràng Gánh nặng tài chính liên quan đến chẩn đoán và điều trị bệnh lao cũng gây ra những tác động tiêu cực cho người di cư và gia đình họ.

Tính di biến động của người di cư khiến họ di chuyển đến nơi khác trước khi có kết quả xét nghiệm lao, có thể gây ra tác động bất lợi cho cá nhân và cộng đồng nếu kết quả dương tính hoặc cần theo dõi Điều này đặc biệt nghiêm trọng do mối liên hệ giữa việc không hoàn thành điều trị lao và sự xuất hiện của lao đa kháng thuốc Vì vậy, việc phát hiện và hỗ trợ tuân thủ điều trị cho bệnh nhân lao di cư là rất quan trọng Các cơ sở y tế cần cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc lao, đặc biệt là đối với những người gặp khó khăn trong việc thực hiện phác đồ điều trị DOTS và hoàn thành liệu trình tiêu chuẩn kéo dài sáu tháng Họ cũng phải đối mặt với thách thức trong kiểm soát bệnh lao do lưu lượng người di chuyển lớn, hạn chế nguồn lực và thiếu cơ chế hợp tác trong các hoạt động phối hợp qua biên giới, với mức độ hợp tác thường phụ thuộc vào mối quan hệ cá nhân và các điều kiện thực tế khác.

Bệnh lao và người di cư qua biên giới giữa Việt Nam và Campuchia

Năm 2020, Việt Nam và Campuchia nằm trong số 30 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao nhất toàn cầu Mặc dù đã có tiến bộ trong việc giảm tỷ lệ mắc bệnh lao, cả hai quốc gia vẫn thiếu nguồn lực tài chính cần thiết để loại bỏ bệnh lao như một vấn đề sức khỏe cộng đồng Trong bối cảnh hạn chế về nguồn lực y tế, người di cư trở thành một yếu tố cần được chú ý trong công tác phòng chống bệnh lao.

Việc kiểm soát bệnh lao ở khu vực biên giới Việt Nam và Campuchia đang gặp nhiều thách thức, đặc biệt là đối với người di cư nội địa và người di cư qua biên giới Những nhóm này có thể dễ dàng bị bỏ sót hoặc không được chú ý trong các nỗ lực quốc gia nhằm phát hiện và điều trị bệnh lao.

Nghiên cứu được thực hiện tại hai tỉnh An Giang và Tây Ninh ở Việt Nam, cùng với hai tỉnh Svay Rieng và Takéo của Campuchia, nơi có tỉ lệ phát hiện bệnh lao cao và người dân thường xuyên di chuyển qua lại biên giới Theo Bảng 1, tỉ lệ mắc bệnh lao tại Việt Nam và Campuchia được ước tính cao hơn mức trung bình toàn quốc, như thể hiện trong Bảng 2.

Hình 1 Bản đồ địa điểm nghiên cứu tại Việt Nam và Campuchia

Phỏng vấn sâu 52 người di cư qua biên giới nhiễm lao và 42 cán bộ y tế

Phỏng vấn sâu 15 người di cư qua biên giới nhiễm lao và 26 cán bộ y tế

Phỏng vấn sâu 48 người di cư qua biên giới nhiễm lao và 46 cán bộ y tế

Phỏng vấn sâu 8 người di cư qua biên giới nhiễm lao và 25 cán bộ y tế

Bản đồ này được xây dựng bởi IOM nhằm mục đích minh họa, và các ranh giới, địa danh cũng như ký hiệu trên bản đồ không phản ánh sự chứng thực hay công nhận chính thức từ IOM.

Bảng 1 Ước tính gánh nặng bệnh lao tại Việt Nam và Campuchia năm 2019

Tỉ lệ lao mới mắc các thể 176 (112-255) 287 (186-410)

Tỉ lệ hiện mắc lao/HIV dương tính mới mắc 5,8 (3,7-8,3) 7,6 (4,9-11)

Tỉ lệ mắc lao đa kháng thuốc/lao kháng rifampicine (MDR/RR-TB) 8,8 (5,5-13) 6,1 (3-10)

Tỉ lệ tử vong do lao (HIV âm tính) 9,8 (6,1-14) 17 (11-25)

Tỉ lệ tử vong do lao (HIV dương tính) 2 (1,3-2,9) 2,5 (1,6-3,6)

Tỉ lệ phát hiện lao các thể 106 181

Nguồn: WHO Hồ sơ bệnh lao tại Việt Nam và Campuchia https://worldhealthorg.shinyapps.io/tb_profiles/

Bảng 2 Tỉ lệ mắc lao được báo cáo tại các tỉnh thực hiện nghiên cứu năm 2020

An Giang Tây Ninh Takéo Svay Rieng

Tỉ lệ phát hiện ca bệnh lao các thể 213.1 202.7 188 363

Nguồn: NTP Việt Nam Báo cáo Quốc gia thường niên về bệnh lao năm 2020.

CENAT Campuchia Báo cáo Quốc gia thường niên về bệnh lao năm 2020.

An Giang và Tây Ninh là hai tỉnh có sự hiện diện của nhiều nhóm dân tộc thiểu số như người Khmer Krom, người Chăm và người Hoa Trong đó, người Khmer Krom chiếm khoảng 75% dân số các nhóm dân tộc thiểu số tại An Giang Theo ước tính năm 2019, khoảng 38.000 người di cư từ Việt Nam đã được Campuchia tiếp nhận, tuy nhiên, số lượng di cư không được báo cáo có thể lớn hơn nhiều Do tình trạng pháp lý không chính thức, những người di cư ở khu vực biên giới thường dễ bị tổn thương và ít được tiếp cận với các hệ thống y tế quốc gia.

Người di cư qua biên giới đối mặt với nguy cơ cao mắc bệnh lao, nhưng hiện vẫn thiếu dữ liệu để xây dựng hướng dẫn và chính sách kiểm soát bệnh lao cho nhóm này tại Việt Nam và Campuchia Chưa có nghiên cứu nào đánh giá rào cản trong việc tiếp cận chẩn đoán và điều trị bệnh lao cho người di cư giữa hai quốc gia Hơn nữa, thông tin về quy trình chuẩn quốc gia trong chẩn đoán, điều trị, báo cáo ca bệnh và truy vết tiếp xúc cũng rất hạn chế Dữ liệu về các ca bệnh lao theo tình trạng di cư không có trong cơ sở dữ liệu của NTP Việt Nam và Campuchia, mặc dù tỷ lệ mắc lao ở người di cư cao hơn mức trung bình của cả nước.

Nghiên cứu này nhằm khám phá các rào cản và yếu tố thuận lợi trong việc tiếp cận dịch vụ chẩn đoán và điều trị bệnh lao ở người di cư, đồng thời đánh giá hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân dựa trên lịch sử di cư Nghiên cứu cũng xem xét mối liên hệ giữa di cư và sự lan truyền bệnh lao tại các khu vực biên giới, xác định các thách thức trong kiểm soát bệnh lao và tìm kiếm cơ hội hợp tác giữa các cơ quan chính phủ và phi chính phủ trong khu vực biên giới Việt Nam-Campuchia Phương pháp Quản lí Y tế và di chuyển qua biên giới (HBMM) được áp dụng để lập bản đồ các cơ sở y tế, từ đó hiểu rõ hơn về mạng lưới chăm sóc sức khỏe ban đầu, khả năng xét nghiệm X-quang và điều trị bệnh lao Nghiên cứu sẽ trả lời các câu hỏi liên quan đến các vấn đề trên.

IOM định nghĩa HBMM là một khung khái niệm nhằm tăng cường các biện pháp dự phòng, phát hiện và ứng phó với sự lây lan của dịch bệnh Khung này đặc biệt chú trọng đến những thách thức trong quá trình di chuyển liên tục và dễ bị tổn thương của các nhóm người di cư và dân di.

KIỂM SOÁT BỆNH LAO KHU VỰC BIÊN GIỚI VIỆT NAM VÀ CAMPUCHIA

Người di cư qua biên giới đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức đáng kể trong việc tiếp cận các dịch vụ chẩn đoán và điều trị bệnh lao Họ thường thiếu thông tin về các dịch vụ y tế sẵn có, gặp khó khăn trong việc tiếp cận các cơ sở y tế do hạn chế về ngôn ngữ, tài chính và giấy tờ tùy thân Ngoài ra, họ cũng có thể gặp phải sự kỳ thị và phân biệt đối xử từ cộng đồng và các cơ quan y tế, khiến họ e ngại tìm kiếm sự giúp đỡ.

2 Điều gì đã giúp người di cư qua biên giới tiếp cận và sử dụng các dịch vụ liên quan đến chẩn đoán và điều trị bệnh lao?

3 Mô hình di cư và di chuyển của người di cư mắc bệnh lao là gì?

4 Người di cư qua biên giới tiếp cận dịch vụ y tế liên quan đến bệnh lao lần đâu tiên tại đâu?

5 Khoảng thời gian từ khi xuất hiện triệu chứng nghi ngờ lao đến lần khám sức khỏe đầu tiên là bao lâu?

6 Các cơ sở y tế có cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh lao cho người di cư nằm tại những địa điểm nào ở khu vực biên giới?

Các mối quan hệ và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan y tế và cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe là rất quan trọng trong việc kiểm soát bệnh lao khu vực biên giới Tuy nhiên, các cơ sở y tế đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc kiểm soát bệnh lao, bao gồm nguồn lực hạn chế, sự thiếu hụt thông tin và sự khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế.

8 Cán bộ cung cấp dịch vụ y tế đang phải đối mặt với những thách thức nào trong việc kiểm soát lao khu vực biên giới?

Nhóm nghiên cứu đã áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu trong thời gian từ tháng 8 năm 2020 đến tháng 3 năm 2021 Nghiên cứu bao gồm phỏng vấn sâu bán cấu trúc với người di cư qua biên giới và các bên liên quan trong lĩnh vực kiểm soát bệnh lao Đồng thời, việc lập bản đồ cũng được thực hiện để thu thập thông tin về lịch sử di cư của những người di cư và dữ liệu vị trí của các cơ sở y tế tại các địa điểm nghiên cứu.

Bối cảnh nghiên cứu và dân số nghiên cứu

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ©IOM Việt Nam

Các phát hiện từ phỏng vấn người di cư qua biên giới mắc bệnh lao hoặc tiền sử mắc bệnh lao

Bảng 3 trình bày đặc điểm của 123 người di cư qua biên giới tham gia nghiên cứu, trong đó 100 người là người Campuchia Tỷ lệ nam giới cao hơn nữ giới với độ tuổi trung bình là 53,2 Một nửa số người được phỏng vấn có thu nhập dưới 200 USD mỗi tháng, và 13,01% không có thu nhập Người Việt Nam di cư qua biên giới có trình độ học vấn cao hơn, với trung bình 5,95 năm học so với 3,6 năm của người Campuchia Chỉ có một người có trình độ đại học, trong khi 34,14% chưa bao giờ đi học Gần 14% người tham gia có khả năng nói hai ngôn ngữ, và chỉ 25% có thẻ bảo hiểm y tế Phần lớn làm việc chân tay, với khoảng một nửa là nông dân và 17,89% đã nghỉ hưu hoặc thất nghiệp Người tham gia từ Việt Nam chủ yếu là người Kinh, trong khi tất cả người Campuchia được phỏng vấn đều là người Khmer Hơn một nửa số người từ An Giang và Tây Ninh biết nói tiếng Khmer, và khoảng 25% người Campuchia có thể nói tiếng Việt.

Bảng 3 Đặc điểm xã hội-nhân khẩu học của người di cư qua biên giới chia theo địa bàn nghiên cứu ở Việt Nam và Campuchia, 2020 (n3) Đặc điểm An Giang,

* Từ cấp tiểu học đến đại học.

KIỂM SOÁT BỆNH LAO KHU VỰC BIÊN GIỚI VIỆT NAM VÀ CAMPUCHIA Đặc điểm An Giang,

Có thẻ bảo hiểm y tế

Có thẻ hộ nghèo ở nước xuất xứ

Mô hình di chuyển của người di cư qua biên giới

Hiểu mô hình di chuyển của bệnh nhân lao di cư qua biên giới là rất quan trọng để kiểm soát bệnh lao, giúp xác định khoảng cách di chuyển và nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng tiếp nhận Người di cư từ khu vực có tỉ lệ ghi nhận bệnh lao cao đến khu vực thấp có thể làm gia tăng nguy cơ lây truyền nếu không có biện pháp phòng ngừa Nhóm nghiên cứu đã khảo sát người tham gia về địa điểm di chuyển và khoảng cách giữa nơi cư trú và điểm đến của họ.

Trong một cuộc khảo sát với 123 người di cư qua biên giới, chỉ có 102 người có thể xác định được khoảng cách tương đối giữa điểm xuất phát và điểm đến, cũng như tên tỉnh/huyện/xã của điểm đến Hầu hết những người tham gia cho biết họ đã đến các địa điểm bên kia biên giới gần với quê hương của mình Hình 2 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh lao được báo cáo tại Việt Nam và Campuchia, với các tỉnh phía Nam Việt Nam, nơi giáp biên giới với Campuchia, có tỷ lệ phát hiện lao (CNRs) cao hơn so với các tỉnh khác trong nước.

Hình 2 Tỉ lệ phát hiện ca bệnh lao năm 2019 tại Việt Nam và Campuchia

Bản đồ này được tạo ra bởi IOM và chỉ mang tính chất minh họa Các đường biên giới và địa danh trên bản đồ không thể hiện sự công nhận hay bảo hộ chính thức từ Tổ chức Di cư Quốc tế.

Các cửa khẩu quốc tế trên đất liền giữa Việt Nam và Campuchia đã đóng cửa từ tháng 3 năm 2020 để ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19 Khi các cửa khẩu này được mở lại, cần đánh giá lại xu hướng di cư, vì lưu lượng người di cư có thể sẽ khác so với thời điểm trước đại dịch.

Nhóm nghiên cứu đã lập bản đồ các điểm đến của người di cư qua biên giới bằng cách phân tích các yếu tố như địa điểm phỏng vấn, khoảng cách đến biên giới và mục đích di cư Họ đã minh họa các luồng di cư ước tính theo cụm trên bản đồ, thay vì theo từng cá nhân Ví dụ, có 14 người sống ở Kirivong đã tham gia khảo sát.

Kiểm soát bệnh lao tại khu vực biên giới Việt Nam và Campuchia là một vấn đề quan trọng Người dân đã di chuyển qua biên giới đến các huyện Châu Đốc, Tịnh Biên, Tri Tôn và Long Xuyên thuộc tỉnh An Giang, Việt Nam Tuy nhiên, trên bản đồ chỉ có bốn lộ trình di chuyển được xác định rõ ràng.

Nhiều người di cư từ Việt Nam đã di chuyển trong bán kính khoảng 30 km từ nơi cư trú của họ để làm việc, buôn bán và giải trí tại các sòng bạc Một số trường hợp đặc biệt, như hai người từ Long Xuyên, An Giang và một người từ Tân Biên, Tây Ninh, đã đi xa tới Phnom Penh, Campuchia Ngược lại, người Campuchia thường xuyên qua biên giới để kiểm tra sức khỏe, mua sắm và làm việc tại các huyện lân cận của Việt Nam Một số ít cũng đã di chuyển đến các thành phố lớn như Long Xuyên, Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh cho các mục đích tương tự.

Hình 3 và 4 minh họa lộ trình di cư qua biên giới giữa Việt Nam và Campuchia Cụ thể, Hình 3 thể hiện dòng người di cư từ An Giang, Việt Nam đến các tỉnh Takéo, Kandal, Prey Veng và Phnom Penh của Campuchia, cùng với sự di chuyển ngược lại của người Campuchia từ Takéo đến An Giang Trong khi đó, Hình 4 cho thấy người Việt Nam di cư từ Tây Ninh đến các tỉnh Svay Rieng và Tboung Khnum, đồng thời người Campuchia di cư từ Svay Rieng đến Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

Hình 3 Dòng di cư trước đại dịch COVID-19 của người di cư qua biên giới giữa tỉnh An Giang, Việt Nam và Takéo, Kandal, Prey Veng, Phnôm Pênh, Campuchia

Bản đồ được phát triển bởi IOM chỉ mang tính chất minh họa và không đại diện cho sự công nhận chính thức hay bảo hộ từ Tổ chức Di cư Quốc tế Các đường biên giới và địa danh trên bản đồ không nên được hiểu là có giá trị pháp lý.

Hình 4 Dòng di cư trước đại dịch COVID-19 của người di cư qua biên giới giữa tỉnh Tây Ninh, Việt Nam và tỉnh Svay Rieng, Tboung Khmum, Campuchia

Bản đồ do IOM tạo ra chỉ mang tính minh họa và không thể hiện sự công nhận chính thức về biên giới hoặc địa danh Tổ chức Di cư Quốc tế không bảo đảm hay chấp nhận bất kỳ thông tin nào được thể hiện trên bản đồ này.

Một số lý do chính khiến người dân di cư qua biên giới là để tìm kiếm cơ hội việc làm Nhiều người di cư từ Việt Nam cho biết họ đã vượt biên để tham gia vào hoạt động mua bán nông sản Tương tự, một số người ở Campuchia cũng cho biết họ di chuyển qua biên giới để thu hoạch mùa màng và tham gia vào giao dịch nông sản cũng như vật nuôi.

KIỂM SOÁT BỆNH LAO KHU VỰC BIÊN GIỚI VIỆT NAM VÀ CAMPUCHIA

Hình 5 Một số lí do chính của việc di cư qua biên giới phân tách theo địa điểm nghiên cứu

Tìm kiếm cơ hội việc làm (Bán hàng, mua bán nông sản, thu hoạch mùa vụ )

Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ

Mua sắm Thăm họ hàng, bạn bè

An Giang Tây Ninh Takéo Svay Rieng

Chăm sóc sức khỏe không phải là lý do chính khiến người di cư từ Việt Nam qua biên giới, trong khi đó, dịch vụ chăm sóc sức khỏe lại là động lực chủ yếu cho người di cư từ Campuchia Gần một nửa số người được phỏng vấn ở Takéo và 7,2% ở Svay Rieng cho biết họ đã qua biên giới vì lý do này Người Campuchia chọn đến các cơ sở y tế của Việt Nam vì nhân viên y tế thân thiện, chất lượng dịch vụ tốt hơn và gần nơi cư trú hơn Trong số những người được phỏng vấn, 45,16% cho biết có triệu chứng bệnh lao như sụt cân, ho và đổ mồ hôi ban đêm trước khi đi khám Một nửa trong số họ đã được chẩn đoán mắc bệnh lao tại Việt Nam, và có trường hợp đã khám tại hai cơ sở y tế ở Việt Nam để xác nhận chẩn đoán bệnh lao.

Tôi, một nữ bệnh nhân 37 tuổi từ Svay Rieng, Campuchia, đã được chẩn đoán mắc bệnh lao tại bệnh viện Chi Phu, nhưng tôi không tin do không có triệu chứng như ho Sau đó, tôi đã đến một phòng khám tư nhân ở Việt Nam để kiểm tra lại và kết quả cho thấy tôi thực sự mắc bệnh lao Tuy nhiên, tôi vẫn hoài nghi và tiếp tục đến một bệnh viện công ở Việt Nam, nơi họ xác nhận chẩn đoán của tôi Cuối cùng, tôi quyết định trở lại bệnh viện Chi Phu để thực hiện xét nghiệm khẳng định và bắt đầu điều trị.

Trong số những bệnh nhân Campuchia mắc bệnh lao ở Việt Nam, hai người cho biết họ đã được chuyển về Campuchia để điều trị, nhưng không rõ quy trình hành chính của việc chuyển này Năm bệnh nhân khác không xác nhận liệu họ có được chuyển chính thức từ các cơ sở y tế Việt Nam về bệnh viện Campuchia hay không Hơn nữa, rào cản ngôn ngữ khiến họ khó hiểu các chỉ dẫn chẩn đoán và điều trị từ bác sĩ Việt Nam.

Ngày đăng: 01/05/2022, 23:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. World Health Organization. Global Tuberculosis Report 2020.; 2020. www.who.int/publications/i/item/9789240013131 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Tuberculosis Report 2020
23. Tschirhart, N, Nosten F, Foster AM. Migrant tuberculosis patient needs and health system response along the Thailand-Myanmar border. Health Policy Plan. 2017;32(8):1212 – 1219.doi:10.1093/heapol/czx074 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health Policy Plan
25. Thomas, D.R. A general inductive approach for qualitative data analysis. Am J Eval. 2006;27(2):237 – 246 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Am J Eval
27. Bridget, O.C., I. Harris and T. Beckman. Standards for Reporting Qualitative Research: A Synthesis of Recommendations. Acad Med. 2014. doi:10.1097/ACM.0000000000000388 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acad Med
28. International Organization for Migration (IOM). International Migration Law. Glossary on Migration 2nd Edition.; 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Migration Law. Glossary on Migration 2nd Edition
29. International Organization for Migration (IOM), World Health Organization. Population Mobility and Malaria.; 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Population Mobility and Malaria
30. Royal Government of Cambodia. National Social Protection Policy Framework 2016-2025.; 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: National Social Protection Policy Framework 2016-2025
31. F. Kaona, M. Tuba, S. Siziya and L. Sikaona. An assessment of factors contributing to treatment adherence and knowledge of TB transmission among patients on TB treatment. BMC Public Health. 2004;4:68. doi:10.1186/1471-2458-4-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BMC Public Health
32. Carrillo J.E., V. Carrillo and H.R. Perez. Defining and targeting health care access barriers. J Health Care Poor Underserved. 2011;22(2):562 – 575. doi:10.1353/hpu.2011.0037 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Health Care Poor Underserved
38. Mahmood, S., K. Hasan, M.C. Carras and A. Labrique. Global preparedness against COVID-19: We must leverage the power of digital health. JMIR Public Heal Surveill. 2020;6(2). doi:10.2196/18980 39. World Health Organization Western Pacific Region. Consultation on Tuberculosis and Migration Sách, tạp chí
Tiêu đề: JMIR Public Heal Surveill". 2020;6(2). doi:10.2196/1898039. World Health Organization Western Pacific Region
26. Guion, L.A., D.C. Diehl and D. Mcdonald. Conducting an In-depth Interview. Univeristy of FLORIDA IFAS, Extention. http://greenmedicine.ie/school/images/Library/Conducting%20An%20In%20Depth%20Interview.pdf. Accessed 13 September, 2021 Link
37. E-ASEAN | ASEAN Investment. http://investasean.asean.org/index.php/page/view/e-asean. Accessed 24 March, 2021 Link
24. Schutt, R.K. Investigating the Social World, The Process and Practice of Research Seventh Edition Khác
33. In review: the healthcare framework in Cambodia. www.lexology.com/library/detail Khác
aspx?g=2a46adef-61df-4c6e-b37d-96c48d86b87e. Accessed 25 May, 2021 Khác
34. World Health Organization. WHO Consolidated Guidelines on Tuberculosis. Module 2: Screening Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Bản đồ địa điểm nghiên cứu tại Việt Nam và Campuchia - Cross-border-Tuberculosis-Control-Viet-Nam-Cambodia-VI
Hình 1. Bản đồ địa điểm nghiên cứu tại Việt Nam và Campuchia (Trang 18)
Bảng 2. Tỉ lệ mắc lao được báo cáo tại các tỉnh thực hiện nghiên cứu năm 2020 - Cross-border-Tuberculosis-Control-Viet-Nam-Cambodia-VI
Bảng 2. Tỉ lệ mắc lao được báo cáo tại các tỉnh thực hiện nghiên cứu năm 2020 (Trang 19)
Bảng 1. Ước tính gánh nặng bệnh lao tại Việt Nam và Campuchia năm 2019 - Cross-border-Tuberculosis-Control-Viet-Nam-Cambodia-VI
Bảng 1. Ước tính gánh nặng bệnh lao tại Việt Nam và Campuchia năm 2019 (Trang 19)
Bảng 3 trình bày các đặc điểm của 123 người di cư qua biên giới tham gia vào nghiên cứu - Cross-border-Tuberculosis-Control-Viet-Nam-Cambodia-VI
Bảng 3 trình bày các đặc điểm của 123 người di cư qua biên giới tham gia vào nghiên cứu (Trang 25)
Mô hình di chuyển của người di cư qua biên giới - Cross-border-Tuberculosis-Control-Viet-Nam-Cambodia-VI
h ình di chuyển của người di cư qua biên giới (Trang 26)
Hình 2. Tỉ lệ phát hiện ca bệnh lao năm 2019 tại Việt Nam và Campuchia - Cross-border-Tuberculosis-Control-Viet-Nam-Cambodia-VI
Hình 2. Tỉ lệ phát hiện ca bệnh lao năm 2019 tại Việt Nam và Campuchia (Trang 27)
Hình 3 và 4 minh họa lộ trình di cư qua biên giới trong nghiên cứu. Hình 3 cho thấy dòng người di cư qua biên giới di chuyển từ An Giang, Việt Nam đến các tỉnh của Campuchia (Takéo, Kandal, Prey  Veng và Phnom Penh) và sự di chuyển của người Campuchia từ - Cross-border-Tuberculosis-Control-Viet-Nam-Cambodia-VI
Hình 3 và 4 minh họa lộ trình di cư qua biên giới trong nghiên cứu. Hình 3 cho thấy dòng người di cư qua biên giới di chuyển từ An Giang, Việt Nam đến các tỉnh của Campuchia (Takéo, Kandal, Prey Veng và Phnom Penh) và sự di chuyển của người Campuchia từ (Trang 28)
Hình 4. Dòng di cư trước đại dịch COVID-19 của người di cư qua biên giới giữa tỉnh Tây Ninh, Việt Nam và tỉnh Svay Rieng, Tboung Khmum, Campuchia - Cross-border-Tuberculosis-Control-Viet-Nam-Cambodia-VI
Hình 4. Dòng di cư trước đại dịch COVID-19 của người di cư qua biên giới giữa tỉnh Tây Ninh, Việt Nam và tỉnh Svay Rieng, Tboung Khmum, Campuchia (Trang 29)
Hình 5. Một số lí do chính của việc di cư qua biên giới phân tách theo địa điểm nghiên cứu - Cross-border-Tuberculosis-Control-Viet-Nam-Cambodia-VI
Hình 5. Một số lí do chính của việc di cư qua biên giới phân tách theo địa điểm nghiên cứu (Trang 30)
Hình 6 minh họa tần suất mà những người tham gia phỏngvấn trả lời về số lần họ đã từng đi qua biên giới trước khi được chẩn đoán mắc bệnh lao - Cross-border-Tuberculosis-Control-Viet-Nam-Cambodia-VI
Hình 6 minh họa tần suất mà những người tham gia phỏngvấn trả lời về số lần họ đã từng đi qua biên giới trước khi được chẩn đoán mắc bệnh lao (Trang 31)
Hình 7. Thời gian lưu trú bên kia biên giới theo địa điểm nghiên cứu - Cross-border-Tuberculosis-Control-Viet-Nam-Cambodia-VI
Hình 7. Thời gian lưu trú bên kia biên giới theo địa điểm nghiên cứu (Trang 32)
Hình 8. Phương tiện người di cư sử dụng để di chuyển qua biên giới theo địa điểm nghiên cứu - Cross-border-Tuberculosis-Control-Viet-Nam-Cambodia-VI
Hình 8. Phương tiện người di cư sử dụng để di chuyển qua biên giới theo địa điểm nghiên cứu (Trang 32)
Hình 9. Số lượng cơ sở y tế bệnh nhân đến khám trước khi được chẩn đoán bệnh lao theo địa điểm nghiên cứu - Cross-border-Tuberculosis-Control-Viet-Nam-Cambodia-VI
Hình 9. Số lượng cơ sở y tế bệnh nhân đến khám trước khi được chẩn đoán bệnh lao theo địa điểm nghiên cứu (Trang 33)
Hình 10. Thời gian xuất hiện các triệu chứng bệnh lao trước khi được chẩn đoán bệnh lao theo địa điểm nghiên cứu - Cross-border-Tuberculosis-Control-Viet-Nam-Cambodia-VI
Hình 10. Thời gian xuất hiện các triệu chứng bệnh lao trước khi được chẩn đoán bệnh lao theo địa điểm nghiên cứu (Trang 33)
Hình 11. Số người được phỏngvấn ở chung phòng trước khi được chẩn đoán mắc bệnh lao theo địa điểm nghiên cứu - Cross-border-Tuberculosis-Control-Viet-Nam-Cambodia-VI
Hình 11. Số người được phỏngvấn ở chung phòng trước khi được chẩn đoán mắc bệnh lao theo địa điểm nghiên cứu (Trang 34)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w