1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghien-cuu-ve-kinh-te-so-ban-sach

95 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,82 MB

Cấu trúc

  • 1.1 Giới thiệu (8)
  • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (10)
  • 1.3 Phương pháp luận (10)
  • 1.4 Phạm vi và kết cấu của bảo cáo nghiên cứu (10)
  • 2.1 Một số vấn đề lý thuyết về kinh tế số (11)
  • 2.2 Tầm quan trọng của kinh tế số (14)
  • 2.3 Lý thuyết về đo lường kinh tế số (15)
  • 2.4 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế số (20)
    • 2.4.1 Kinh nghiệm về phát triển đô thị thông minh của Singapore 13 (0)
    • 2.4.2 Kinh nghiệm về phát triển thương mại điện tử của Trung Quốc (23)
    • 2.4.3 Kinh nghiệm sử dụng AI và IoT để phát hiện và điều trị bệnh nhân mắc COVID19 (28)
    • 2.4.4 Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (34)
  • 3.1 Khung khổ pháp lý và các chính sách phát triển kinh tế số tại Việt Nam (37)
    • 3.1.1 Khung pháp lý chung (37)
    • 3.1.2 Khung pháp lý xây dựng và phát triển chính phủ điện tử (38)
    • 3.1.3 Khung pháp lý phát triển TMĐT (39)
    • 3.1.4 Khung pháp lý cho giao dịch điện tử (40)
    • 3.1.5 Khung pháp lý cho thanh toán không dùng tiền mặt (40)
    • 3.1.6 Khung pháp lý cho các hoạt động kinh tế chia sẻ (41)
    • 3.1.7 Khung pháp lý về phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) (42)
    • 3.1.8 Khung pháp lý phát triển đô thị thông minh (43)
    • 3.1.9 Khung pháp lý về bảo mật, an toàn thông tin, an ninh mạng . 37 (44)
    • 3.1.10 Một số đánh giá (46)
  • 3.2 Thực trạng phát triển kinh tế số ở Việt Nam (48)
    • 3.2.1 Hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin (51)
    • 3.2.2 Doanh thu ICT (55)
    • 3.2.3 Nhóm chỉ số về áp dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo (59)
    • 3.2.4 Nhóm chỉ số về việc làm và tăng trưởng (62)
  • 3.3 Khác biệt trong tiếp cận và sử dụng các dịch vụ số, ứng dụng kinh tế số theo các địa phương, nhóm xã hội (64)
  • 3.4 Một số rào cản đối với phát triển kinh tế số ở Việt Nam (68)
  • 4.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước (71)
    • 4.1.1 Bối cảnh quốc tế (71)
    • 4.1.2 Bối cảnh trong nước (76)
  • 4.2 Một số yêu cầu về cải cách thể chế nhằm phát triển bao trùm về kinh tế số (77)
    • 4.2.1 An toàn, an ninh mạng (77)
    • 4.2.2 Chính sách cạnh tranh (80)
    • 4.2.3 Các quy định về thuế với nền tảng số (80)
    • 4.2.4 Chính sách sở hữu trí tuệ (82)
    • 4.2.5 Thị trường lao động và chính sách an sinh xã hội (84)
    • 4.2.6 Một số kiến nghị phát triển hạ tầng số (85)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (87)
    • Hộp 2: Ứng dụng AI để hỗ trợ quản lý và bảo vệ quyền SHTT ở WIPO (83)

Nội dung

CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH KINH TẾ VĨ MÔ/ TĂNG TRƯỞNG XANH PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HẬU COVID 19 MỘT SỐ YÊU CẦU VÀ LỘ TRÌNH CẢI CÁCH THỂ CHẾ Hà Nội, tháng 11 năm 2020 i LỜI GIỚI THIỆU[.]

Giới thiệu

Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng, chủ yếu nhờ vào sự đột phá trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là làn sóng số hóa trong sản xuất CMCN 4.0 đã làm thay đổi căn bản cuộc sống, cách tiêu dùng và phương thức sản xuất của con người, với sự xuất hiện của dây chuyền sản xuất tự động, trí tuệ nhân tạo (AI) thay thế con người trong nhiều công việc, và Internet vạn vật (IoT) kết nối các hệ thống máy móc trong công xưởng Trong bối cảnh này, phát triển kinh tế số (KTS) trở thành yếu tố quan trọng đối với sự thành công của CMCN 4.0.

Mặc dù các quốc gia đều mong muốn tiếp cận và phát triển KTS, nhưng mỗi nơi lại có cách hiểu khác nhau về khái niệm này Theo nghĩa hẹp, KTS được hiểu là các nền tảng trực tuyến và các hoạt động liên quan Trong khi đó, một cách hiểu rộng hơn về KTS bao gồm tất cả các hoạt động sử dụng dữ liệu số.

Kinh tế số (KTS) đang trở thành ưu tiên hàng đầu của các nền kinh tế, với ước tính đạt 72 tỷ USD ở Đông Nam Á vào năm 2018 và dự báo sẽ tăng lên 240 tỷ USD vào năm 2025 KTS được dự báo sẽ chiếm tới 60% GDP khu vực Châu Á – Thái Bình Dương vào năm 2021 Nhằm thúc đẩy sự phát triển của KTS, các lãnh đạo G20 đã thông qua Tuyên bố Osaka vào tháng 6/2019, trong khi Ủy ban Kinh tế APEC cũng đã thông qua báo cáo Chính sách kinh tế năm 2019, tập trung vào cải cách cấu trúc để phát triển KTS.

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã chủ động tìm kiếm động lực mới cho tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là thông qua việc khai thác cơ hội từ chuyển đổi số Đến đầu năm 2020, nhiều ứng dụng công nghệ đã được triển khai thành công, bao gồm sàn thương mại điện tử, dịch vụ xe công nghệ và ví điện tử kết nối với ngân hàng Đặc biệt, Việt Nam đã bắt đầu triển khai mạng 5G, cấp phép cho Viettel và MobiFone cung cấp dịch vụ này trong tương lai Theo báo cáo của Indochina Research, Việt Nam đứng thứ 5 trong khu vực Đông Nam Á về số lượng người sử dụng internet và mạng xã hội.

Tỷ lệ hoạt động trực tuyến tại Việt Nam, bao gồm mua sắm, tìm kiếm thông tin, làm việc, học tập và kết nối, đang ngày càng gia tăng Theo ước tính của Google và Temasek, quy mô kinh tế số của Việt Nam đã đạt khoảng 3 tỷ USD vào năm 2015, tăng lên 9 tỷ USD vào năm 2018 và dự báo sẽ đạt 30 tỷ USD trong tương lai.

1 Theo APEC https://www.apec.org/Groups/Committee-on-Trade-and-Investment/Digital-Economy-Steering- Group

2 https://thepolicytimes.com/vietnam-innovation-to-adapt-to-the-industrial-revolution-4-0/

2025 Theo đánh giá của Data 61 (Australia), GDP Việt Nam có thể tăng thêm khoảng 162 tỷ USD trong 20 năm nếu Việt Nam chuyển đổi số thành công

Việt Nam đang nắm bắt cơ hội phát triển kinh tế số (KTS) mặc dù là một nước đang phát triển Chính phủ đã thể hiện quyết tâm số hóa nền kinh tế qua Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2020, yêu cầu xây dựng khung pháp lý và chính sách để phát triển kinh tế số Đại dịch COVID-19 đã thúc đẩy các cơ quan và doanh nghiệp Việt Nam mạnh dạn áp dụng nền tảng số hóa trong quản lý và sản xuất Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 749/QĐ-TTg về Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc thúc đẩy KTS tại Việt Nam.

Đến năm 2030, sự chuyển đổi số sẽ đạt được hiệu quả cao nhất nếu được thực hiện song song với việc phát triển Chính phủ số và chuyển đổi số trong các ngành, doanh nghiệp Đồng thời, hạ tầng và khả năng tiếp cận công nghệ số cần phải đảm bảo tính bao trùm, đặc biệt là đối với những khu vực khó khăn và các nhóm yếu thế như phụ nữ và người dân ở miền núi.

Để đảm bảo sự điều chỉnh phù hợp trong chính sách, cần thực hiện đánh giá định kỳ các nội dung liên quan đến lĩnh vực KTS Việc đánh giá này yêu cầu một cách tiếp cận nhanh chóng, tinh vi và có khả năng so sánh theo thời gian cũng như với các quốc gia khác Mặc dù Việt Nam đã xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê về phát triển giới, nhưng việc rà soát các chỉ tiêu liên quan đến phát triển giới trong KTS vẫn rất cần thiết, đặc biệt khi các chỉ tiêu này còn mới và chưa được công bố trên website của Tổng cục Thống kê.

Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đã thực hiện báo cáo “Phát triển kinh tế số ở Việt Nam trong thời kỳ hậu COVID-19: Một số yêu cầu và lộ trình cải cách thể chế”, tập trung vào các nội dung chính như: rà soát lý luận và vai trò của kinh tế số trong bối cảnh CMCN 4.0; khung đo lường kinh tế số và kinh nghiệm quốc tế; đánh giá chính sách và thực trạng phát triển kinh tế số ở Việt Nam sau COVID-19; xác định điều kiện cải cách thể chế cho phát triển bao trùm; và đề xuất lộ trình phát triển kinh tế số tại Việt Nam trong giai đoạn hậu COVID-19.

Mục tiêu nghiên cứu

Báo cáo này nhằm xác định các yêu cầu và điều kiện cần thiết để cải cách thể chế, phục vụ cho sự phát triển kinh tế số (KTS) tại Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệt chú trọng đến giai đoạn hậu COVID-19 Từ đó, báo cáo sẽ đề xuất lộ trình thực hiện trong thời gian tới.

Các mục tiêu cụ thể là:

- Hệ thống hóa các khái niệm, khung khổ lý luận, tầm quan trọng và vai trò của KTS;

- Tìm hiểu, tiếp thu một số kinh nghiệm quốc tế về đo lường và phát triển KTS, và thực tiễn tốt trong bối cảnh COVID-19;

- Cập nhật hiện trạng phát triển KTS tại Việt Nam, tập trung vào một số cấu phần chính trong khung đo lường KTS; và

- Xác định những yêu cầu về cải cách thể chế hướng tới phát triển bao trùm về KTS, gắn với bối cảnh phát triển hậu COVID-19.

Phương pháp luận

Báo cáo sử dụng các phương pháp định tính, và tham vấn chuyên gia:

Phương pháp định tính được thực hiện thông qua việc rà soát và tổng quan các tài liệu nghiên cứu, số liệu từ Tổng cục Thống kê và các tổ chức trong và ngoài nước, nhằm đánh giá thực trạng kinh tế số (KTS) tại Việt Nam Bài viết cũng xem xét các kinh nghiệm quốc tế trong việc thúc đẩy ứng dụng KTS, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch COVID-19 Ngoài ra, các chính sách liên quan đến các lĩnh vực như thương mại điện tử, tài chính-ngân hàng, viễn thông và sở hữu trí tuệ cũng được đánh giá, cùng với khả năng áp dụng của chúng tại Việt Nam.

Nhóm tác giả đã tham vấn các chuyên gia và doanh nghiệp để thảo luận về các vấn đề, hướng giải quyết và kiến nghị cụ thể nhằm phát triển kinh tế số (KTS) một cách bao trùm, đồng thời cải thiện khả năng đo lường KTS phục vụ cho việc hoạch định chính sách tại Việt Nam.

Phạm vi và kết cấu của bảo cáo nghiên cứu

Ngoài phần Mở đầu, báo cáo gồm ba phần chính, cụ thể:

Phần 2: Tổng quan một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn phát triển KTS; Phần 3: Thực trạng phát triển KTS tại Việt Nam; và

Phần 4: Một số yêu cầu và lộ trình cải cách thể chế nhằm phát triển KTS ở Việt Nam

2 Tổng quan một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn về phát triển kinh tế số

Một số vấn đề lý thuyết về kinh tế số

Kinh tế kỹ thuật số (KTS) đã thu hút nhiều nghiên cứu trên toàn cầu, nhưng tính đến tháng 11/2020, vẫn chưa có định nghĩa toàn diện cho lĩnh vực này Sự phát triển nhanh chóng và khác biệt so với kinh tế truyền thống là nguyên nhân chính dẫn đến điều này Các chuyên gia và tổ chức nghiên cứu nhìn nhận KTS từ nhiều góc độ khác nhau Tapscott (1996) mô tả KTS là nền kinh tế mà dữ liệu trở thành số hóa, lưu trữ trên máy tính và truyền tải qua mạng với tốc độ cao, trong khi Lane (1999) lại tập trung vào thương mại điện tử và các vấn đề liên quan đến quyền riêng tư và đổi mới sáng tạo.

Năm 2013 và 2015, Nghị viện châu Âu đã xem xét Kinh tế số (KTS) chủ yếu từ góc độ cạnh tranh, trong khi Ủy ban châu Âu lại tập trung vào khả năng thu thuế từ KTS Những định nghĩa này chỉ phản ánh một phần khía cạnh của KTS, chưa thể hiện đầy đủ bản chất của nó Sự thay đổi nhanh chóng và sâu sắc của KTS trong mọi mặt đời sống đã khiến việc xây dựng một định nghĩa toàn diện trở nên cần thiết và đòi hỏi thêm thời gian.

Buhkt và Heeks (2017) phân loại các định nghĩa về KTS theo ba phạm vi Phạm vi rộng nhất bao gồm các ngành nghề truyền thống như thương mại điện tử, CMCN 4.0 và chính phủ điện tử, đang tích cực áp dụng công nghệ số Phạm vi hẹp hơn tập trung vào các mô hình kinh doanh liên quan đến công nghệ số, như nền tảng trực tuyến, dịch vụ hỗ trợ nền tảng, kinh tế chia sẻ, tài chính tổng hợp, gọi vốn cộng đồng và nền kinh tế làm việc tự do Cuối cùng, phạm vi hẹp nhất chỉ bao gồm lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT), bao gồm sản xuất thiết bị CNTT&TT, dịch vụ viễn thông, truy cập internet, xử lý dữ liệu và phát triển phần mềm.

Theo Mesenbourg (2001), nền kinh tế số (KTS) bao gồm ba thành phần chính: cơ sở hạ tầng kinh doanh điện tử, quy trình kinh doanh điện tử và giao dịch thương mại điện tử Cơ sở hạ tầng kinh doanh điện tử bao gồm phần cứng, phần mềm, dịch vụ ICT và nguồn nhân lực cần thiết để duy trì KTS Quy trình kinh doanh điện tử được thực hiện qua mạng máy tính trung gian, bao gồm các hoạt động như mua sắm trực tuyến, thanh toán trực tuyến và họp trực tuyến Cuối cùng, giao dịch thương mại điện tử là một yếu tố quan trọng trong nền KTS này.

5 Core digital economy tập trung vào giá trị của hàng hóa và dịch vụ được mua bán, trao đổi thông qua mạng máy tính trung gian

Hình 1: Phân loại các định nghĩa về kinh tế số

Knickrehm và cộng sự (2016) định nghĩa KTS dựa trên các nền tảng chính, cho thấy rằng KTS là một phần của tổng sản lượng được tạo ra từ các đầu vào kỹ thuật số Các đầu vào này bao gồm: (i) kỹ năng kỹ thuật số; (ii) thiết bị kỹ thuật số, bao gồm phần cứng, phần mềm và thiết bị truyền thông; và (iii) hàng hóa/dịch vụ kỹ thuật số trung gian được sử dụng trong quá trình sản xuất.

Theo A.T Kearney (2017), nền kinh tế số được định nghĩa qua chuỗi giá trị với các trụ cột chính: quyền nội dung, dịch vụ trực tuyến, công nghệ đáp ứng và nền tảng thanh toán, cơ sở hạ tầng kết nối công nghệ thông tin, và giao diện người dùng Quyền nội dung bao gồm quyền phát hành phim, nhạc và sách trên nền tảng số Dịch vụ trực tuyến bao gồm các sàn thương mại điện tử, dịch vụ đặt phòng trực tuyến như Agoda và Booking.com, cùng với các nền tảng giải trí như Netflix và Spotify Công nghệ đáp ứng liên quan đến hệ thống lưu trữ web và quản lý bán lẻ điện tử như Alibaba Cloud và Shopify, bên cạnh các nền tảng thanh toán như Samsung Pay và Mastercard Cơ sở hạ tầng kết nối công nghệ thông tin được xây dựng bởi các nhà cung cấp mạng như Viettel và Telus, cùng với các dịch vụ CNTT như vệ tinh và cột thu phát sóng Cuối cùng, giao diện người dùng bao gồm thiết bị từ Huawei, Samsung và các ứng dụng trên Apple App Store mà người dùng sử dụng để truy cập Internet và dịch vụ trực tuyến.

Theo WTO và OECD (2019), thương mại số được định nghĩa là tất cả các giao dịch được đặt hàng hoặc chuyển phát dưới dạng kỹ thuật số qua các nền tảng số Vào tháng 3/2019, hai tổ chức này đã thành lập một nhóm làm việc chung nhằm thống nhất khái niệm về thương mại số APEC (2019) cũng nhìn nhận thương mại số một cách linh hoạt, từ các nền tảng trực tuyến và hoạt động liên quan đến các hoạt động kinh tế sử dụng dữ liệu số.

Nhiều tổ chức hiện nay coi KTS như một công cụ quan trọng để đạt được các mục tiêu cụ thể Ngân hàng Thế giới nhận định KTS là một mô hình phát triển kinh tế mới, dựa trên việc trao đổi dữ liệu theo thời gian thực Tại Hội nghị Thượng đỉnh G20 năm 2019, Tuyên bố Osaka đã nhấn mạnh vai trò then chốt của việc khai thác tiềm năng dữ liệu và KTS trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Một số tổ chức khác nhìn nhận KTS theo khía cạnh luật pháp OECD

Nền kinh tế số (KTS) được định nghĩa là hệ thống các thị trường dựa trên nền tảng số, tạo điều kiện cho việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ qua thương mại điện tử Theo Nghị viện châu Âu (2015), KTS là một cấu trúc phức tạp với nhiều lớp kết nối, cho phép tiếp cận người tiêu dùng đa dạng và tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt giữa các mô hình kinh doanh Cạnh tranh trong KTS không chỉ diễn ra giữa các nền tảng mà còn giữa các mô hình kinh doanh, dẫn đến khả năng thống trị thị trường và độc quyền Thị trường số thường mang lại hiệu ứng mạng lưới và lợi thế quy mô, củng cố đặc tính cạnh tranh-để-thống trị Nhiều thị trường số phục vụ cho nhiều nhóm người dùng, như công cụ tìm kiếm phục vụ cả cá nhân và doanh nghiệp Sự kết nối gia tăng giữa các công ty cũng thúc đẩy cạnh tranh, trong khi tỷ lệ đầu tư cao và đổi mới nhanh chóng trong lĩnh vực này khiến các nền tảng có thể nhanh chóng bị thay thế Ủy ban châu Âu (2013) tóm tắt KTS như một nền kinh tế hoạt động dựa trên các nền tảng số, còn được gọi là nền kinh tế dựa trên internet.

Thương mại kỹ thuật số được hiểu tương tự như định nghĩa của OECD, nhưng Ủy ban châu Âu chú trọng hơn đến khả năng thu thuế từ nền kinh tế số Nền kinh tế số được đặc trưng bởi tính lưu động, hiệu ứng mạng lưới và việc sử dụng dữ liệu Tính lưu động giúp các công ty công nghệ giảm tối đa chi phí sản xuất bằng cách thuê ngoài các chức năng đến những khu vực có chi phí thấp hơn Họ không phải chịu chi phí vận chuyển, vật tư hay kho bãi, và sản phẩm có thể hiện diện ở bất kỳ đâu có internet Điều này khiến các cơ quan thuế gặp khó khăn trong việc thu thuế từ các công ty công nghệ, vì thu thuế gián tiếp là một thách thức Ngoài ra, các công ty công nghệ không cần văn phòng đại diện tại quốc gia sở tại để thực hiện nghĩa vụ thuế trực tiếp.

Tại Việt Nam, đa phần các nghiên cứu thiên về một phần/lĩnh vực thuộc phạm trù KTS như thương mại điện tử (CIEM (2018), Ban Kinh tế Trung ương

Năm 2018, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Cơ quan nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Khối thịnh vượng chung Úc (CSIRO) đã định nghĩa Kinh tế số (KTS) là các doanh nghiệp và dịch vụ chủ yếu dựa vào việc mua bán hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ số và các thiết bị hỗ trợ Đây được coi là định nghĩa đầu tiên về KTS tại Việt Nam Tuy nhiên, Việt Nam vẫn cần hoàn thiện hệ thống khái niệm chi tiết về KTS, đặc biệt là việc làm rõ ưu tiên "nông nghiệp số" trong Nghị quyết 52-NQ/TW có bao gồm lĩnh vực thủy sản hay không Các nghiên cứu trước đây cũng đã chỉ ra tầm quan trọng của thể chế và quản lý hành chính trong các lĩnh vực kinh tế số.

Tầm quan trọng của kinh tế số

Lịch sử nhân loại đã chứng kiến bốn cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN), mỗi cuộc đều mang lại những thay đổi sâu sắc cho nền sản xuất CMCN lần thứ nhất đánh dấu sự chuyển đổi từ sản xuất thủ công sang cơ khí hóa Tiếp theo, CMCN thứ hai, bắt đầu từ cuối thế kỷ 19, đã phát triển năng lượng điện, động cơ đốt trong và dây chuyền sản xuất hàng loạt CMCN thứ ba, diễn ra từ giữa thế kỷ 20, tập trung vào năng lượng nguyên tử và sự phát triển của máy tính trong tự động hóa sản xuất Hiện nay, chúng ta đang sống trong CMCN lần thứ tư, đặc trưng bởi làn sóng chuyển đổi số và trực tuyến, với việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, thực tế ảo và tự động hóa, qua đó làm thay đổi cấu trúc và động lực của nhiều ngành công nghiệp (CSIRO, 2019) CMCN 4.0 hứa hẹn sẽ tạo ra cơ hội tăng trưởng mạnh mẽ cho các quốc gia biết tận dụng thời cơ này.

KTS là kết quả tất yếu của cuộc CMCN 4.0, dẫn đến sự thay đổi trong phương thức sản xuất, hành vi tiêu dùng và giao thức kinh doanh Sự phát triển của kinh tế chia sẻ và công nghệ mới sẽ thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển đổi số Ngay cả trước đại dịch COVID-19, chuyển đổi số đã được xem là một xu hướng tự nhiên mà mọi thành phần của nền kinh tế đều phải tham gia Đại dịch đã làm tăng cường tính cấp bách trong việc phát triển KTS và chuyển đổi số Tại Việt Nam, tốc độ tăng trưởng kinh tế đang chậm lại, với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2019 lần lượt đạt 5,8% và 6,9%/năm Năm 2020, tăng trưởng bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi COVID-19, mặc dù vẫn có mức tăng dương trong 3 quý đầu năm Việt Nam đang đối mặt với rủi ro bẫy thu nhập trung bình và cần tìm kiếm động lực tăng trưởng mới để vượt qua thách thức này.

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-TTg nhằm thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam với 12 giải pháp đột phá, thể hiện sự quan tâm kịp thời của Chính phủ trong việc triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị về tham gia CMCN 4.0 Đồng thời, Nghị quyết 52-NQ/TW và Nghị quyết 50/NQ-CP cũng được ban hành để hỗ trợ các chính sách tham gia CMCN 4.0 Gần đây, Quyết định 749/QĐ-TTg đã phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến 2030, khẳng định quyết tâm của Chính phủ trong việc phát triển kinh tế số.

Lý thuyết về đo lường kinh tế số

Để xây dựng các chính sách và kế hoạch hiệu quả cho nền kinh tế và nền kinh tế số, các nhà hoạch định chính sách cần dựa vào một khung đo lường rõ ràng, có căn cứ và thường xuyên cập nhật số liệu.

Thương mại điện tử (TMĐT) đã xuất hiện hơn 20 năm, nhưng chỉ gần đây mới thực sự phát triển mạnh mẽ, đe dọa các kênh bán hàng truyền thống Nguyên nhân chính là do phương thức thanh toán và giao nhận trước đây chưa đủ hiện đại Sự ra đời của các hình thức thanh toán trực tuyến như ví điện tử, tiền di động, quét mã QR và công nghệ Blockchain đã nâng cao tính bảo mật và trải nghiệm người dùng Đồng thời, các dịch vụ vận tải công nghệ như Grab và Uber đã cải thiện đáng kể tốc độ và chi phí giao nhận Sự kết hợp của những công nghệ này đã thúc đẩy sự bùng nổ của thương mại điện tử, làm thay đổi thói quen mua sắm của người tiêu dùng toàn cầu.

Trong giai đoạn 2018 và 2019, Việt Nam đã ghi nhận tốc độ tăng trưởng ấn tượng với mức tăng trưởng lần lượt đạt 7,08% và 7,02% Để đảm bảo tính chính xác và khả năng so sánh của số liệu, phương pháp tính toán cần phải cho phép so sánh theo chuỗi thời gian và theo vùng, đồng thời phải tương thích với các tiêu chuẩn đo lường quốc tế Mục tiêu này yêu cầu sự nhất quán trong việc thu thập và phân tích dữ liệu, cũng như sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan thống kê và thống nhất các tiêu chuẩn chung ở cấp khu vực và toàn cầu.

Việc thiếu định nghĩa thống nhất về phạm vi kinh tế số (KTS) gây khó khăn trong việc đo lường và so sánh quy mô KTS giữa các quốc gia Ví dụ, Học viện Công nghệ Thông tin và Truyền thông Trung Quốc (CAICT) ước tính quy mô nền kinh tế kỹ thuật số của Trung Quốc là 31,3 nghìn tỷ RMB (khoảng 4,5 nghìn tỷ USD) trong năm 2018, chiếm 34,8% GDP, tăng từ 32,9% năm 2017 Trong khi đó, Cục phân tích kinh tế Hoa Kỳ (BEA) ước tính quy mô nền kinh tế kỹ thuật số của Hoa Kỳ chỉ đạt 1,35 nghìn tỷ USD trong năm 2017, tương đương 6,9% GDP danh nghĩa.

Dựa trên các định nghĩa khác nhau về kinh tế kỹ thuật số, có sự chênh lệch lớn trong kết quả thống kê giữa Mỹ và Trung Quốc Tuy nhiên, không thể khẳng định rằng quy mô kinh tế kỹ thuật số của Trung Quốc lớn gấp ba lần so với Hoa Kỳ.

Khi xác định phạm vi thống nhất cho KTS, việc đo lường KTS còn đối mặt với những thách thức kỹ thuật liên quan đến các phương pháp đo lường.

Thụy và cộng sự (2020) đã chỉ ra hai hạn chế trong việc đo lường kinh tế số (KTS) Đầu tiên, hạn chế liên quan đến kế toán tài sản thông tin, khi thông tin vừa có những đặc trưng của tài sản như khả năng trao đổi và tạo ra giá trị kinh tế, nhưng lại không được ghi nhận trong bảng cân đối kế toán do tính vô hình và không có khấu hao theo thời gian Thứ hai, vấn đề về khung tài khoản quốc gia, khi chưa có sự thống nhất trong việc phân loại công nghiệp và sản phẩm cho các nền tảng Internet và dịch vụ liên quan, dẫn đến thách thức lớn trong việc phân loại và thống kê các ngành cũng như cập nhật khung tài khoản quốc gia.

Mặc dù nhiều tổ chức quốc tế đã nỗ lực phát triển các biện pháp đo lường kinh tế số (KTS), Ahmah và Ribarsky (2018) đã đề xuất một khung đo lường KTS với mười câu hỏi quan trọng Những câu hỏi này bao gồm: sản phẩm số là gì, ai là nhà sản xuất và người tiêu dùng số, các yếu tố nào thúc đẩy số hóa, giá trị dữ liệu, số lượng nhân viên trong các công ty sản xuất số, tác động của số hóa đến hạnh phúc của người tiêu dùng, tỷ lệ tiêu thụ hàng hóa số, cách phân phối hàng hóa số, và mức thù lao trung bình của nhân viên trong lĩnh vực này Mặc dù các câu hỏi này phản ánh đầy đủ nội dung khái niệm cơ bản của KTS, một số câu hỏi yêu cầu nghiên cứu sâu hơn và khó thực hiện, đặc biệt là việc đo lường tác động của số hóa đối với hạnh phúc của người tiêu dùng.

Hình 2: Khung khái niệm đo lường kinh tế số

Chú thích: SNA (System of National Account) nghĩa là hệ thống tài khoản quốc gia

NPISH (Non-profit institutions serving households) nghĩa là Các tổ chức phi lợi nhuận hỗ trợ hộ gia đình

ROW (Rest of the world) nghĩa là phần còn lại của thế giới

Nền kinh tế số (KTS) bao gồm năm kiểu thực thể: doanh nghiệp, hộ gia đình, chính phủ, các tổ chức phi lợi nhuận hỗ trợ hộ gia đình và phần còn lại của thế giới Các hoạt động KTS do chính quyền, tổ chức phi lợi nhuận và phần còn lại của thế giới cung cấp đều không được tính vào hệ thống tài khoản quốc gia Tương tự, các sản phẩm và dịch vụ thông tin/dữ liệu từ chính quyền và các tổ chức này cũng không nằm trong hệ thống tài khoản quốc gia Điều này dẫn đến việc đo lường quy mô thực tế của nền KTS bị sai lệch.

Barrera và cộng sự (2018) đã phát triển một phương pháp đo lường kinh tế số thông qua bảng tiêu chí loại hình KTS Bảng này cho phép đánh giá mức độ số hóa của các loại hình kinh tế số và kiểm tra xem hàng hóa/dịch vụ số đã được tích hợp vào hệ thống tài khoản quốc gia hay chưa.

Bảng 1: Các loại hình công nghiệp, sản phẩm và giao dịch kinh tế số

Nguồn: Hà Quang Thụy và cộng sự (2020)

Chú thích: C = Có; K = Không; KS = Không số hóa; SH = Số hóa; NS = Nền tảng số;

Dịch vụ không số hóa (DK) và dịch vụ số hóa (DS) đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý thông tin và dữ liệu (TD) Cung cấp số hóa (CS) và đặt hàng số hóa (ĐS) giúp tối ưu hóa quy trình kinh doanh Nền tảng số (NT) là yếu tố then chốt để kết nối và triển khai các dịch vụ này, mang lại hiệu quả cao hơn cho doanh nghiệp.

Dựa trên bảng phân tích, các loại hình kinh tế số (KTS) có thể được phân loại một cách cụ thể Chẳng hạn, loại hình bán lẻ trực tuyến như Amazon thuộc tài khoản quốc gia và kiểu công nghiệp nền tảng số, thực hiện giao dịch đặt hàng số hóa và nằm trong nhóm sản phẩm dịch vụ số hóa Phương pháp đo lường này mang lại ưu điểm là phân loại khái quát các loại hình KTS, nhưng nhược điểm là việc xây dựng bảng đánh giá cho từng loại hình kinh tế cần nhiều thời gian.

Mô hình tích hợp đo lường KTS đã được đề xuất bởi Cơ quan Thống kê

Liên hợp quốc năm 2019 Mô hình này bao gồm ba phần: (i) khung khái niệm;

Thiết lập thể chế và tính toán thống kê là hai yếu tố quan trọng trong nghiên cứu Thiết lập thể chế cung cấp khung khổ về tính pháp quy, tổ chức, ngân sách và quản lý kiến thức số (KTS), tương tự như các nghiên cứu trước đó.

Phần tính toán thống kê là công cụ quan trọng để phân tích dữ liệu khảo sát và công bố kết quả đo lường KTS Mặc dù mô hình này đã được đề xuất vào năm 2019 và dự kiến triển khai trong năm 2020, nhưng chưa có báo cáo đánh giá hiệu quả thực tế của nó Do đó, hiện tại chưa thể xác định mức độ phù hợp của mô hình đo lường KTS với thực tiễn.

Hình 3: Mô hình tích hợp về đo lường kinh tế số

Nguồn: Hà Quang Thụy và cộng sự (2020)

Phương pháp đo lường KTS của Nhóm các nền kinh tế G20 bao gồm bốn trụ cột chính: cơ sở hạ tầng, trao quyền xã hội, đổi mới sáng tạo và tiếp thu công nghệ, cùng với việc làm và tăng trưởng Trong đó, cơ sở hạ tầng đánh giá sự phát triển vật lý và an ninh của hạ tầng KTS qua các chỉ số như sử dụng điện thoại di động và băng thông rộng Trụ cột trao quyền xã hội nhấn mạnh tầm quan trọng của KTS đối với cuộc sống người dân, thể hiện qua chỉ số sử dụng internet và tài chính bao trùm Đổi mới sáng tạo và tiếp thu công nghệ phản ánh mức độ đổi mới của công nghệ số và vai trò của ICT trong thúc đẩy đổi mới Cuối cùng, mục việc làm và tăng trưởng đánh giá tác động của nền KTS đến việc làm, thương mại điện tử và năng suất.

Kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế số

Kinh nghiệm về phát triển thương mại điện tử của Trung Quốc

Trong những năm gần đây, thị trường thương mại điện tử (TMĐT) tại Trung Quốc đã phát triển mạnh mẽ, trở thành một trong những thị trường hàng đầu thế giới TMĐT không chỉ là động lực quan trọng cho nền kinh tế Trung Quốc mà còn là yếu tố then chốt trong việc chuyển dịch cơ cấu và thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

Sự phát triển mạnh mẽ của TMĐT ở Trung Quốc được thúc đẩy bởi số người dùng Internet 18 và quy mô thị trường thương mại nội địa khổng lồ 19 Theo

17 Tham khảo: https://bnews.vn/singapore-phat-nang-hai-nha-cung-cap-internet-vi-de-mat-mang/168830.html

Tính đến tháng 6/2019, Trung Quốc có khoảng 854 triệu người dùng Internet, chiếm 61,2% tổng dân số Trong đó, số người sử dụng Internet di động thông qua điện thoại di động cũng đạt con số ấn tượng.

847 triệu người, tăng 29,84 triệu người so với cuối năm 2018 Người dùng Internet di động chiếm 99,1% tổng số người dùng Internet

Thị trường thương mại điện tử (TMĐT) tại Trung Quốc đã chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ, với số lượng người mua sắm trực tuyến tăng từ 46 triệu người vào năm 2007 lên hơn 533 triệu người vào năm 2017, tạo ra doanh thu bán lẻ trực tuyến B2C vượt 1.000 tỷ NDT hàng quý (Statista, 2020) Năm 2016, có 441 triệu người tiêu dùng sử dụng điện thoại di động để mua sắm, tăng 29,8% so với năm trước, và chiếm 63,4% tổng số người dùng Internet di động Dự báo từ Emarketer (2020) cho thấy, vào năm 2020, người tiêu dùng Trung Quốc sẽ chi tới 2.090 nghìn tỷ USD (14.440 nghìn tỷ NDT) cho TMĐT bán lẻ, tăng 16,0% so với năm 2019.

Theo Yue Hongfei (2017), tốc độ tăng trưởng giao dịch thương mại điện tử (TMĐT) trung bình của Trung Quốc đạt 38,2%/năm trong 5 năm qua TMĐT Trung Quốc đã trải qua ba giai đoạn quan trọng: lần đầu tiên vượt mốc 100 tỷ nhân dân tệ (NDT) vào năm 2008, chiếm hơn 1% tổng mức bán lẻ hàng hóa tiêu dùng; tiếp theo, đạt 1.000 tỷ NDT vào năm 2012, chiếm khoảng 5%; và vào năm 2014, con số này đã vượt 2.000 tỷ NDT, chiếm khoảng 10% Đặc biệt, trong ngày lễ hội mua sắm 11/11/2016, giao dịch TMĐT đã lập kỷ lục với hơn 120,7 tỷ NDT, trong đó có 50 tỷ NDT chỉ trong 2,5 giờ.

Khác với nhiều lĩnh vực chiến lược khác tại Trung Quốc, lĩnh vực Internet chủ yếu do các doanh nghiệp tư nhân chi phối Trong những thập kỷ qua, các công ty Internet tư nhân đã phát triển mạnh mẽ, với những gã khổng lồ như Baidu, Tencent và Alibaba chiếm lĩnh thị trường Baidu dẫn đầu trong dịch vụ tìm kiếm trực tuyến, Tencent nổi bật trong truyền thông xã hội, và Alibaba thống trị thương mại điện tử Những công ty này không chỉ niêm yết trên thị trường chứng khoán nước ngoài mà còn kinh doanh xuyên biên giới, đạt được nhiều thành công trong lĩnh vực thương mại điện tử tại Trung Quốc.

TMĐT đã trở thành một điểm sáng trong nền kinh tế Trung Quốc với xu hướng tăng trưởng cao Năm 2014, Bộ Thương mại Trung Quốc phối hợp với Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia (NDRC) cùng các cơ quan chính phủ tổ chức chiến dịch TMĐT quốc gia, thiết lập mô hình TMĐT tại 53 vùng và lựa chọn 34 doanh nghiệp đại diện từ 100 doanh nghiệp tiêu biểu tham gia.

Vào giữa những năm 2000, một số cụm thương mại điện tử (TMĐT) đã xuất hiện ở nông thôn Trung Quốc, được gọi là “làng Taobao”, mang lại lợi ích lớn cho nền kinh tế nông thôn Sự phát triển của “làng Taobao” đã nâng cao kỳ vọng rằng TMĐT có thể thúc đẩy nền kinh tế nông thôn trì trệ và góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo Để thực hiện chủ trương của Chính phủ về cải cách nông thôn và hiện đại hóa nông nghiệp, Bộ Thương mại và Bộ Tài chính Trung Quốc đã phối hợp phát động các chiến dịch nhằm củng cố nền tảng TMĐT cho nông sản.

Chương trình "TMĐT toàn diện ở nông thôn" đã triển khai các dự án ứng dụng thương mại điện tử tại 56 huyện thuộc 8 tỉnh và khu vực tự trị, góp phần hình thành nhiều nền tảng dịch vụ đa dạng.

Tính đến tháng 12/2016, số lượng người dùng thanh toán trực tuyến trên thiết bị di động tại Trung Quốc đã đạt 469 triệu, với tốc độ tăng trưởng hàng năm 31,2% Tỷ lệ truy cập thanh toán trực tuyến di động cũng tăng từ 57,7% lên 67,5%, trong đó 50,3% người dùng Internet sử dụng điện thoại di động để thanh toán khi mua sắm tại các cửa hàng truyền thống Dự báo thương mại di động của Trung Quốc sẽ tiếp tục phát triển nhanh chóng với mức tăng trưởng kép hàng năm 28,8% đến năm 2021.

Tính đến năm 2018, Alibaba.com đã trở thành công ty thương mại điện tử thành công nhất tại Trung Quốc, chiếm lĩnh thị trường B2B, trong khi các trang web Tmall và Taobao dẫn đầu thị trường B2C và C2C Đặc biệt, vào năm 2016, Taobao nắm giữ khoảng 70% thị phần trong lĩnh vực bán lẻ trực tuyến của Trung Quốc Alibaba cũng phát triển các nền tảng dịch vụ thông tin sản phẩm nông nghiệp, kết nối việc mua bán nông sản với các chợ đầu mối lớn và chuỗi siêu thị Các mô hình thương mại điện tử mới như từ trang trại đến người tiêu dùng (F2C), người tiêu dùng với doanh nghiệp (C2B), và cộng đồng hỗ trợ nông nghiệp (CSA) đã xuất hiện, phản ánh sự đổi mới trong ngành nông nghiệp và thương mại điện tử.

Hiện nay, Trung Quốc đang thực hiện một số chính sách trọng tâm để phát triển TMĐT, bao gồm:

(i) Hỗ trợ việc xây dựng cơ sở hạ tầng TMĐT: Một trong những cơ sở để

Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử (TMĐT) tại Trung Quốc trong thời gian gần đây chủ yếu nhờ vào sự ra đời nhanh chóng của các nền tảng TMĐT Chính phủ đã tích cực ủng hộ việc xây dựng các nền tảng này bằng cách đơn giản hóa thủ tục đăng ký vốn và giảm rào cản tiếp cận Việc thiết lập hệ thống hậu cần thông minh và xây dựng cơ sở hạ tầng cho các trạm phân phối nhanh cũng được khuyến khích Ngoài ra, chính quyền địa phương đã dành quỹ đất cho kho vận trong quy hoạch thị trấn và khuyến khích đầu tư vào các cơ sở lưu trữ Đặc biệt, trong lĩnh vực nông nghiệp, các chuỗi hậu cần và dự án TMĐT ở nông thôn đã được triển khai rộng rãi, góp phần thúc đẩy sự phát triển của TMĐT tại khu vực này.

(ii) Cung cấp vốn và tăng cường hỗ trợ tài chính cho TMĐT: Chính phủ

Trung Quốc đã triển khai nhiều chính sách tài chính hỗ trợ doanh nghiệp, nổi bật là chương trình cải cách ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) sử dụng công nghệ cao, chuyển từ thuế thu nhập doanh nghiệp sang thuế giá trị gia tăng Ngoài ra, chính phủ cũng thiết lập cơ chế tài trợ đa kênh nhằm hỗ trợ các công ty thương mại điện tử (TMĐT) Để thúc đẩy sự phát triển của DNVVN TMĐT, chính phủ khuyến khích các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ tài trợ, đồng thời kêu gọi các quỹ đầu tư tăng cường hỗ trợ cho các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực TMĐT.

Chính phủ Trung Quốc đang tích cực thúc đẩy hệ thống tín dụng trong thương mại điện tử (TMĐT) bằng cách thiết lập một hệ thống quản lý thông tin tín dụng thống nhất, bao gồm dữ liệu tín dụng của các bên liên quan Họ công khai thông tin tín dụng của pháp nhân, nhãn hiệu và chất lượng sản phẩm từ các công ty TMĐT, đồng thời xây dựng cơ chế đánh giá tín dụng để giám sát các công ty có xếp hạng tín dụng kém, nhằm ngăn chặn hàng giả Các biện pháp như thẻ ID mạng TMĐT, hệ thống tên thật và phát triển dịch vụ chứng chỉ đáng tin cậy cũng được triển khai để cải thiện bảo mật trong giao dịch TMĐT Nhờ những chính sách này, Chính phủ Trung Quốc đã tạo ra một hệ thống tín dụng có kiểm soát, nâng cao uy tín và sự tin tưởng giữa người mua và người bán.

Mô hình thanh toán không dùng tiền mặt qua ví điện tử đang ngày càng phổ biến tại Trung Quốc, với ước tính 531 triệu người sử dụng thanh toán trực tuyến, trong đó có 527 triệu người thanh toán qua ứng dụng di động Hai ứng dụng hàng đầu là WeChat Pay và Alipay, với lần lượt 960 triệu và 520 triệu người dùng Sự phát triển mạnh mẽ của thanh toán điện tử tại Trung Quốc một phần nhờ vào hệ thống tín dụng xã hội, cấp điểm tín dụng cho cá nhân và doanh nghiệp dựa trên hành vi và lịch sử tài chính Việt Nam có thể học hỏi từ sự linh hoạt của Trung Quốc trong phát triển thương mại điện tử mà không cần chờ xây dựng hệ thống thanh toán hoàn chỉnh.

Để phòng ngừa rủi ro trong thương mại điện tử (TMĐT), Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp tuân thủ các quy định và tiêu chuẩn an toàn thông tin Việc xây dựng hệ thống quản lý bảo mật giao dịch giúp xác định rõ trách nhiệm của từng đối tác Chính phủ cũng đã công nhận chéo chứng thư số và khuyến khích ứng dụng chúng trong chứng thực điện tử nhằm giảm thiểu rủi ro Cơ chế quản lý hợp đồng điện tử được chuẩn hóa để cải thiện bảo mật dữ liệu Ngoài ra, cơ quan giám sát rủi ro đã được thành lập để theo dõi các hoạt động trực tuyến, tập trung vào việc ngăn chặn hàng giả, hàng kém chất lượng, trộm cắp qua mạng và các hoạt động buôn bán trực tuyến bất hợp pháp khác.

Kinh nghiệm sử dụng AI và IoT để phát hiện và điều trị bệnh nhân mắc COVID19

CMCN 4.0 mang tới nhiều giải pháp công nghệ số giúp thay đổi nhiều mặt của cuộc sống, trong đó có lĩnh vực y tế Phổ biến trong những công nghệ đó là

AI và IoT là hai công nghệ bổ sung lẫn nhau, với IoT kết nối và thu thập dữ liệu, trong khi AI phân tích và xử lý dữ liệu để đưa ra giải pháp thông minh Sự phát triển nhanh chóng và ứng dụng rộng rãi của chúng đã thể hiện rõ trong cuộc chiến chống COVID-19 Cụ thể, trong lĩnh vực logistics, mô hình ngoại quan giúp giảm bớt các lớp trung gian, tiết kiệm chi phí và thời gian giao hàng, đồng thời cải thiện trải nghiệm người tiêu dùng Ngoài ra, việc giám sát cũng trở nên hiệu quả hơn nhờ vào thông tin và dữ liệu được thu thập từ quy trình đặt hàng, giao hàng và thanh toán, đảm bảo an ninh và kiểm dịch.

22 công ty công nghệ hàng đầu toàn cầu đã ủng hộ việc tự do hóa luồng dữ liệu xuyên biên giới trong nhiều năm Chính phủ Hoa Kỳ đã nêu ra vấn đề này trong các cuộc đàm phán thương mại với Trung Quốc dưới thời Tổng thống Obama và trong Thỏa thuận thương mại giai đoạn một của chính quyền Trump Các công ty Internet Trung Quốc như Alibaba và Tencent đã chỉ ra tác động tiêu cực của các biện pháp bản địa hóa dữ liệu đến kinh tế và đổi mới Họ lập luận rằng quy định quản lý quá nghiêm ngặt đã kìm hãm sự phát triển và cạnh tranh của các công ty Trung Quốc so với Google, Facebook và AWS Đằng sau cánh cửa đóng kín, họ đã gây áp lực lên các cơ quan quản lý Trung Quốc để điều chỉnh mô hình bản địa hóa dữ liệu trở nên linh hoạt hơn.

Vào năm 2018, Stephen Kai-yi Wong, ủy viên quyền riêng tư Hồng Kông về dữ liệu cá nhân, đã đề xuất chính sách về luồng dữ liệu xuyên biên giới Đề xuất này bao gồm cơ chế quản lý danh sách trắng nhằm thúc đẩy sự hội tụ các cơ chế luồng dữ liệu giữa Trung Quốc đại lục và Hồng Kông Mục tiêu là tăng cường hoạt động kinh tế trong khu vực Vịnh Lớn và nâng cao khả năng cạnh tranh của Hồng Kông như một trung tâm tài chính hàng đầu của châu Á.

DeepMind, công nghệ AI của Google, đã phân tích dữ liệu gen để dự đoán cấu trúc protein của virus, từ đó mở ra những hướng điều trị mới cho bệnh nhân.

Các mô hình AI đã chứng minh khả năng phát hiện sớm sự bùng phát của dịch bệnh mới, trong đó có Covid-19 Một trong những công nghệ nổi bật là HealthMap, được áp dụng tại bệnh viện nhi Boston, đã tự động nhận diện sự xuất hiện của bệnh viêm phổi lạ trước khi có các báo cáo chính thức từ các nhà nghiên cứu.

Hệ thống camera giám sát tích hợp AI tại sân bay có khả năng phát hiện nhanh chóng những người có dấu hiệu bệnh, như thân nhiệt cao hoặc triệu chứng ho sốt Nhờ vào công nghệ này, các biện pháp cách ly có thể được áp dụng kịp thời nhằm hạn chế sự lây lan của dịch bệnh.

Hỗ trợ dự báo và xây dựng kịch bản ứng phó là yếu tố quan trọng trong nhiều quốc gia, nơi mà các dự đoán về tốc độ lây lan và tỷ lệ tử vong thường dựa trên những mô hình định lượng Nhiều mô hình này được tăng cường bởi công nghệ AI, giúp nâng cao độ chính xác Nhờ đó, các kịch bản ứng phó có thể được xây dựng nhanh chóng, đảm bảo mang lại lợi ích tốt nhất cho cộng đồng.

Công nghệ IoT đã đóng vai trò quan trọng trong việc truy tìm nguồn gốc bùng phát dịch bệnh Nhiều quốc gia đã áp dụng hệ thống thông tin tổng hợp từ dữ liệu điện thoại của người dân, giúp xác định bệnh nhân F0 và nhận diện những người đã tiếp xúc với người nhiễm bệnh, từ đó cung cấp thông tin vô cùng quan trọng trong công tác phòng chống dịch.

IoT đã chứng minh hiệu quả trong việc đảm bảo tuân thủ các biện pháp cách ly cho bệnh nhân thông qua thiết bị camera giám sát và drone Cơ quan y tế có khả năng theo dõi và phát hiện ngay lập tức trường hợp bệnh nhân trốn cách ly, từ đó đánh giá nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng.

Hỗ trợ chăm sóc bệnh nhân thông qua IoT giúp theo dõi sức khỏe từ xa, giảm thiểu tiếp xúc trực tiếp không cần thiết Thông tin sức khỏe được thu thập qua thiết bị thông minh, trong khi robot hỗ trợ giao nhận thuốc và đồ ăn Điều này không chỉ cắt giảm chi phí khám chữa bệnh mà còn tối ưu hóa tài nguyên, cho phép cơ sở y tế chăm sóc nhiều bệnh nhân cùng lúc.

Các ứng dụng tương tự đang trở thành công cụ hữu ích cho các quốc gia trong cuộc chiến chống Covid, đồng thời phản ánh xu hướng phát triển mới trong ngành y tế toàn cầu Với nền tảng công nghệ và trình độ phát triển khác nhau, những ứng dụng này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý và chăm sóc sức khỏe.

Mức độ ứng dụng công nghệ AI và IoT trong lĩnh vực giám sát điều khiển từ xa khác nhau giữa các quốc gia Theo nghiên cứu của Aruba (2019), 87% cơ sở y tế toàn cầu đã áp dụng công nghệ IoT, nhưng chỉ khoảng 16% cơ sở y tế ở châu Âu sử dụng AI trong hoạt động của mình, theo Ehealth Trendbarometer (2018).

Việc áp dụng AI và IoT trong lĩnh vực y tế đối mặt với nhiều thách thức Đối với IoT, các vấn đề chính bao gồm an ninh thông tin, quyền riêng tư, quy định pháp lý không phù hợp và cơ sở hạ tầng thông tin Tương tự, AI cũng phụ thuộc vào cơ sở dữ liệu người dùng, và các thách thức trong phát triển công nghệ này bao gồm chi phí đầu tư lớn, thiếu cơ sở dữ liệu, khả năng gây gián đoạn thị trường lao động và lực lượng lao động trong ngành AI còn hạn chế.

Tại Ấn Độ, một trong những quốc gia đang có nhiều điều kiện để phát triển

Trong chiến lược quốc gia phát triển AI, Ấn Độ ưu tiên hàng đầu cho ngành y tế Những bài học kinh nghiệm từ việc áp dụng AI và IoT trong lĩnh vực y tế của Ấn Độ rất hữu ích cho các nền kinh tế đang phát triển khác.

Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Thực tiễn phát triển KTS ở nhiều quốc gia cho thấy một số bài học quan trọng Đầu tiên, việc chủ động tiếp cận KTS là cần thiết, không chỉ dựa vào áp lực từ đại dịch COVID-19 Thứ hai, để phát triển KTS hiệu quả, cần kết hợp giữa lực kéo từ nhận thức của người tiêu dùng và lực đẩy từ tinh thần doanh nhân trong một môi trường pháp lý mở Cuối cùng, hội nhập kinh tế quốc tế đóng vai trò quan trọng trong quá trình này.

In 2018, artificial intelligence (AI) emerged as a dominant force in the tech sector, influencing global strategies and initiatives across various countries As nations recognize the importance of AI, many are developing their own strategies to harness its benefits, with countries like Ghana and Egypt taking significant steps toward comprehensive AI policies Existing leaders in AI, such as the UAE, China, and the US, are expected to enhance their commitments, focusing on ethical AI development and attracting talent However, the lack of universally accepted governance frameworks poses challenges, as differing national approaches complicate international consensus on AI regulation Ultimately, the evolution of a global AI ecosystem will depend on collaboration among governments, businesses, and academia, amid ongoing ethical and societal discussions.

Về phát triển đô thị thông minh

Mặc dù Việt Nam chỉ mới bắt đầu xây dựng kế hoạch quốc gia thông minh, nhưng kinh nghiệm của Singapore mang lại nhiều bài học quý giá Việt Nam có thể học hỏi từ Singapore ở một số khía cạnh quan trọng để phát triển hiệu quả hơn trong quá trình này.

Singapore đã có tầm nhìn chiến lược cho phát triển đô thị thông minh từ những năm 1970, giúp biến mục tiêu này thành chương trình xuyên suốt trong hơn 30 năm phát triển kinh tế và xã hội Việc hoạch định sớm đã tạo điều kiện thuận lợi cho các chính sách phát triển đô thị thông minh Việt Nam cần rút kinh nghiệm từ Singapore để xây dựng chiến lược phát triển đô thị thông minh với tầm nhìn từ 20 đến 30 năm.

Để quản lý đô thị thông minh hiệu quả, việc xây dựng chính phủ điện tử là cần thiết Singapore đã phát triển một nền tảng tích hợp nhằm tối ưu hóa việc chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý, giúp tiết kiệm chi phí và giảm thiểu sự trùng lặp trong chức năng giám sát Ngoài ra, quốc gia này còn thành lập một cơ quan trực thuộc chính phủ để điều phối các hoạt động của các cơ quan quản lý, với chức năng giám sát và đưa ra quyết định trong các tình huống khẩn cấp cần sự đồng thuận từ nhiều bên.

Đô thị thông minh cần ưu tiên con người trong quá trình phát triển, và việc áp dụng luật bảo vệ dữ liệu cá nhân là rất quan trọng để xây dựng lòng tin và sự đồng thuận trong cộng đồng khi triển khai mô hình này.

Thí điểm mô hình đô thị thông minh tại một khu vực nhỏ trước khi mở rộng ra toàn quốc sẽ giúp các cơ quan quản lý và nhà hoạch định chính sách nhận diện những lợi ích và thách thức của các dịch vụ thông minh Qua đó, họ có thể đánh giá chi phí thực tế cho việc triển khai và tránh được việc áp dụng các hệ thống không phù hợp.

Để thúc đẩy sự phát triển đô thị thông minh, cần thiết có chính sách dữ liệu mở cho phép công chúng tiếp cận, khuyến khích phân tích và sáng tạo ứng dụng từ nguồn dữ liệu này Hơn nữa, công nghệ ứng dụng trong phát triển đô thị thông minh cần tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế và đảm bảo khả năng tương thích với các quốc gia khác, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền tải dữ liệu giữa các nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập.

Chính phủ Trung Quốc đã đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và thực thi các chính sách thúc đẩy phát triển thương mại điện tử (TMĐT) Việc phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật số và Internet được coi là một trong những ưu tiên hàng đầu, tạo nền tảng vững chắc cho sự mở rộng nhanh chóng của TMĐT tại nước này.

Chính phủ Trung Quốc đặc biệt chú trọng xây dựng hệ thống tín dụng và bảo mật trong thương mại điện tử (TMĐT), bao gồm đánh giá tín dụng nhằm ngăn chặn hàng giả và khuyến khích phát triển dịch vụ chứng chỉ tin cậy Các biện pháp này tạo ra một hệ thống tín dụng TMĐT an toàn và được giám sát, tăng cường sự tin tưởng giữa bên bán và bên mua trong giao dịch trực tuyến Tuy nhiên, nếu Việt Nam không hoàn thiện hệ thống pháp lý và hạ tầng thanh toán, nước này có thể tụt lại phía sau trong phát triển TMĐT và công nghiệp 4.0 Kinh nghiệm từ Trung Quốc cho thấy sự kém phát triển của thẻ tín dụng có thể là cơ hội để phát triển các hình thức thanh toán mới như ví điện tử, phù hợp với TMĐT.

TMĐT nông thôn và TMĐT trong ngành nông nghiệp tại Trung Quốc đã đạt được những thành công đáng kể Các dự án thí điểm về TMĐT ở nông thôn được triển khai rộng rãi, tạo ra mô hình phát triển hiệu quả cho ngành này.

Từ giữa những năm 2000, "làng Taobao" đã được phát triển rộng rãi trên toàn quốc, giúp sản phẩm nông sản được giới thiệu và bán qua các kênh trực tuyến Điều này đã tạo điều kiện cho nông sản đến tay người tiêu dùng nhanh chóng hơn và mở rộng thị trường một cách hiệu quả.

TMĐT xuyên biên giới đang trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, với Trung Quốc đã thiết lập khu thí điểm toàn diện nhằm thúc đẩy lĩnh vực này Quốc gia này liên tục cải tiến các chính sách, hệ thống giám sát và phát triển hệ sinh thái dịch vụ để hỗ trợ TMĐT xuyên biên giới.

Về phát triển AI và IoT trong lĩnh vực y tế

Xây dựng hạ tầng dữ liệu y tế có thể được thực hiện thông qua việc cung cấp số y tế điện tử cho cá nhân và cơ sở y tế, tích hợp với thẻ bảo hiểm y tế và sổ y tế của bệnh nhân Điều này cho phép lưu trữ lịch sử điều trị bệnh của người bệnh trên máy tính, thay vì rải rác trong các sổ y tế giấy như trước đây.

Cần tiến hành rà soát và cập nhật các quy định pháp luật liên quan đến chăm sóc sức khỏe y tế cho người dân, đặc biệt là bổ sung các quy định về trách nhiệm của các cơ sở y tế trong việc ứng dụng AI và IoT Điều này rất quan trọng trong trường hợp AI gây thiệt hại cho sức khỏe và tính mạng của bệnh nhân, hoặc khi xảy ra lỗ hổng bảo mật dẫn đến mất cắp thông tin cá nhân của bệnh nhân.

Khung khổ pháp lý và các chính sách phát triển kinh tế số tại Việt Nam

Thực trạng phát triển kinh tế số ở Việt Nam

Bối cảnh quốc tế và trong nước

Một số yêu cầu về cải cách thể chế nhằm phát triển bao trùm về kinh tế số

Ngày đăng: 30/04/2022, 05:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.T. Kearney, Project Group BISE of Fraunhofer FIT (2017) Designing IT setups in the digital age. https://www.fim-rc.de/wp- content/uploads/Designing-IT-Setups-in-the-Digital-Age.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Designing IT setups in the digital age
3. Anil Chacko and Thaier Hayajneh (2018), Security and Privacy Issues with IoT in Healthcare, EAI Endorsed Transactions on Pervasive Health and Technology, Fordham Center for Cybersecurity, Fordham University, New York, NY, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Security and Privacy Issues with IoT in Healthcare
Tác giả: Anil Chacko and Thaier Hayajneh
Năm: 2018
5. Anthony H. F. Li. (2017). E-commerce and Taobao Villages. A Promise for China’s Rural Development? China perspectives, No.3 , 57-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: China perspectives, No.3
Tác giả: Anthony H. F. Li
Năm: 2017
6. Antitrust and Big Tech (2019), Congressional Research Service Sách, tạp chí
Tiêu đề: Antitrust and Big Tech
Tác giả: Antitrust and Big Tech
Năm: 2019
7. Asia-Pacific Economic Cooperation Secretariat (2017), Internet and digital economy roadmap, APEC Concluding Senior Officials’ meeting 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Internet and digital economy roadmap
Tác giả: Asia-Pacific Economic Cooperation Secretariat
Năm: 2017
8. Bukht, R., & Heeks, R. (2017). Defining, conceptualising and measuring the digital economy. Development Informatics working paper, (68) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development Informatics working paper
Tác giả: Bukht, R., & Heeks, R
Năm: 2017
9. Business Chief. (2020). How e-commerce has become a cornerstone of China’s economy. Retrieved 8 2020, from Businesschief.asia:https://www.businesschief.asia/corporate-finance/how-e-commerce-has-become-a-cornerstone-of-chinas-economy Sách, tạp chí
Tiêu đề: How e-commerce has become a cornerstone of China’s economy
Tác giả: Business Chief
Năm: 2020
10. Cameron A, Pham T, Atherton J (2018) Vietnam Today – first report of the Vietnam’s Future Digital Economy Project. CSIRO, Brisbane Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam Today – first report of the Vietnam’s Future Digital Economy Project
11. China’s digital economy: opportunities and risks (2016), IMF working paper Sách, tạp chí
Tiêu đề: China’s digital economy: opportunities and risks
Tác giả: China’s digital economy: opportunities and risks
Năm: 2016
12. Christian Ritz and Falk Schonning (2019), Germany’s propsed digital anititrust law, CPI Antitrust Chronical Sách, tạp chí
Tiêu đề: Germany’s propsed digital anititrust law
Tác giả: Christian Ritz and Falk Schonning
Năm: 2019
13. Claire Munoz Parry and Urvashi Aneja, Artifical Intelligence for Healthcare: Insights from India, Centre for Universal Health & Asia- Pacific Programme Sách, tạp chí
Tiêu đề: Artifical Intelligence for Healthcare: Insights from India
14. Commission of “Competition Law 4.0” (2019), A new competition framework for the digital economy, Federal Ministry for Economic Affairs and Energy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Competition Law 4.0” (2019), "A new competition framework for the digital economy
Tác giả: Commission of “Competition Law 4.0”
Năm: 2019
15. Competition in digital markets: Vertical integration and acquisitions (2020), Congressional Research Service Sách, tạp chí
Tiêu đề: Competition in digital markets: Vertical integration and acquisitions
Tác giả: Competition in digital markets: Vertical integration and acquisitions
Năm: 2020
16. Competition issues in the digital economy (2019), Trade and Development Board, Trade and Development Commission, Intergovernmental Group of Experts on Competition Law and Policy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Competition issues in the digital economy
Tác giả: Competition issues in the digital economy
Năm: 2019
17. Competition policy for regulating online platforms in the APEC region (2019), APEC Economic Committee Sách, tạp chí
Tiêu đề: Competition policy for regulating online platforms in the APEC region
Tác giả: Competition policy for regulating online platforms in the APEC region
Năm: 2019
18. Competition Policy in a Globalized, Digitalized Economy (2019), World Economic Forum White paper Sách, tạp chí
Tiêu đề: Competition Policy in a Globalized, Digitalized Economy
Tác giả: Competition Policy in a Globalized, Digitalized Economy
Năm: 2019
19. Competition policy: The challenge of digital markets (2019), Special Report by the Monopolies Commission pursuant to Section 44(1)(4) of the Act Against Restraints on Competition, Monopolkommission Sách, tạp chí
Tiêu đề: Competition policy: The challenge of digital markets
Tác giả: Competition policy: The challenge of digital markets
Năm: 2019
20. consumer law, and data protection, MAGKS Joint Discussion Paper Series in Economics, No. 14-2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: consumer law, and data protection
35. How Israel Became the Beating Pulse of Digital Health Innovation - https://itrade.gov.il/spain/how-israel-became-the-beating-pulse-of-digital-health-innovation/ Link
5. Báo cáo số liệu internet tại Việt Nam, https://vnetwork.vn/news/cac-so-lieu-thong-ke-internet-viet-nam-2019 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Phân loại các định nghĩa về kinh tế số - Nghien-cuu-ve-kinh-te-so-ban-sach
Hình 1 Phân loại các định nghĩa về kinh tế số (Trang 12)
Hình 2: Khung khái niệm đo lường kinh tế số - Nghien-cuu-ve-kinh-te-so-ban-sach
Hình 2 Khung khái niệm đo lường kinh tế số (Trang 17)
Dựa trên bảng này, các loại hình KTS có thể được phân tích tương đối cụ thể. Ví dụ loại hình bán lẻ trực tuyến như Amazon có thuộc tài khoản quốc gia,  thuộc kiểu công nghiệp nền tảng số, thực hiện giao dịch đặt hàng số hóa và thuộc  nhóm sản phẩm dịch vụ - Nghien-cuu-ve-kinh-te-so-ban-sach
a trên bảng này, các loại hình KTS có thể được phân tích tương đối cụ thể. Ví dụ loại hình bán lẻ trực tuyến như Amazon có thuộc tài khoản quốc gia, thuộc kiểu công nghiệp nền tảng số, thực hiện giao dịch đặt hàng số hóa và thuộc nhóm sản phẩm dịch vụ (Trang 18)
Hình 3: Mô hình tích hợp về đo lường kinh tế số - Nghien-cuu-ve-kinh-te-so-ban-sach
Hình 3 Mô hình tích hợp về đo lường kinh tế số (Trang 19)
Bảng 2: Mức độ sẵn sàng số hóa của một số nền kinh tế khu vực Châu – Thái Bình Dương - Nghien-cuu-ve-kinh-te-so-ban-sach
Bảng 2 Mức độ sẵn sàng số hóa của một số nền kinh tế khu vực Châu – Thái Bình Dương (Trang 49)
Hình 4: Sự phát triển các lĩnh vực chính của KT Sở Việt Nam - Nghien-cuu-ve-kinh-te-so-ban-sach
Hình 4 Sự phát triển các lĩnh vực chính của KT Sở Việt Nam (Trang 49)
Bảng 3: Một số chỉ tiêu KTS của Việt Nam so với các nước ASEAN - Nghien-cuu-ve-kinh-te-so-ban-sach
Bảng 3 Một số chỉ tiêu KTS của Việt Nam so với các nước ASEAN (Trang 50)
Bảng 6: Một số chỉ tiêu kết nối internet tại Việt Nam, 2010-2019 - Nghien-cuu-ve-kinh-te-so-ban-sach
Bảng 6 Một số chỉ tiêu kết nối internet tại Việt Nam, 2010-2019 (Trang 53)
Bảng 5: Chỉ số phát triển CNTT&TT của Việt Nam - Nghien-cuu-ve-kinh-te-so-ban-sach
Bảng 5 Chỉ số phát triển CNTT&TT của Việt Nam (Trang 53)
Bảng 7: Thuê bao băng rộng mặt đất, 2015-2018 - Nghien-cuu-ve-kinh-te-so-ban-sach
Bảng 7 Thuê bao băng rộng mặt đất, 2015-2018 (Trang 54)
Hình 5: Tốc độ truy cập Internet trung bình ở APEC, 2017 - Nghien-cuu-ve-kinh-te-so-ban-sach
Hình 5 Tốc độ truy cập Internet trung bình ở APEC, 2017 (Trang 55)
Hình 7: Doanh thu và tốc độ tăng trưởng ngành CNTT Việt Nam - Nghien-cuu-ve-kinh-te-so-ban-sach
Hình 7 Doanh thu và tốc độ tăng trưởng ngành CNTT Việt Nam (Trang 56)
Bảng 8: Quy mô thị trường TMĐT B2C Việt Nam, 2015-2019 - Nghien-cuu-ve-kinh-te-so-ban-sach
Bảng 8 Quy mô thị trường TMĐT B2C Việt Nam, 2015-2019 (Trang 56)
Hình 8: Hình thức thanh toán ưu tiên với mua hàng trực tuyến - Nghien-cuu-ve-kinh-te-so-ban-sach
Hình 8 Hình thức thanh toán ưu tiên với mua hàng trực tuyến (Trang 57)
Hình 9: Phần mềm phổ biến DN sử dụng - Nghien-cuu-ve-kinh-te-so-ban-sach
Hình 9 Phần mềm phổ biến DN sử dụng (Trang 57)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN