Khái niệm, đặc điểm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
1.1.1 Khái niệm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là yếu tố làm gia tăng mức độ nguy hiểm của một vụ phạm tội so với trường hợp thông thường Những tình tiết này được coi là cơ sở để áp dụng hình phạt nặng hơn đối với hành vi phạm tội cụ thể.
Theo Bộ luật Hình sự Việt Nam 2015, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được định nghĩa tại Điều 52, bao gồm các yếu tố làm tăng mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội.
“Điều 52 Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
1 Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: a) Phạm tội có tổ chức; b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; d) Phạm tội có tính chất côn đồ; đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn; e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng; g) Phạm tội 02 lần trở lên; h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm; i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên;
1 Nguyễn Ngọc Hòa & Lê Thị Sơn, Thuật ngữ Luật hình sự, Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội,1999, tr.116
Phạm tội đối với những người không thể tự vệ, như người khuyết tật nặng hoặc những người bị hạn chế khả năng nhận thức, là hành vi nghiêm trọng Lợi dụng hoàn cảnh như chiến tranh, thiên tai hay dịch bệnh để thực hiện tội phạm cũng là một yếu tố cần lên án Hành động sử dụng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt và tàn ác để phạm tội, cũng như việc sử dụng phương tiện có khả năng gây hại cho nhiều người, đều thể hiện tính chất nguy hiểm của tội phạm Xúi giục người dưới 18 tuổi tham gia vào hành vi phạm tội và có hành động xảo quyệt nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm cũng là những hành vi cần phải bị xử lý nghiêm khắc.
2 Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.”
Theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), chỉ có các tình tiết đã nêu được sử dụng để xác định phạm vi của thuật ngữ tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tình tiết nào khác.
Nhà làm luật Việt Nam chưa đưa ra định nghĩa pháp lý chính thức về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, và trong lĩnh vực khoa học luật hình sự, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm này.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có tác động lớn đến mức độ nguy hiểm của tội phạm trong từng trường hợp cụ thể Chúng có vai trò quan trọng trong việc quyết định hình phạt, vì làm tăng mức án cần áp dụng cho tội phạm trong giới hạn khung hình phạt mà pháp luật quy định.
2 Kiều Đình Thụ, Tìm hiểu luật hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh, 1998, tr.233
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là những yếu tố trong một vụ án cụ thể, làm tăng mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội Khi có các tình tiết này, người phạm tội sẽ phải đối mặt với hình phạt nghiêm khắc hơn trong khung hình phạt đã quy định.
Những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là những yếu tố làm gia tăng mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội hoặc người phạm tội đối với xã hội Do đó, cần áp dụng hình phạt nặng hơn trong phạm vi khung hình phạt đã được quy định.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thể hiện mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, làm cho hình phạt trong khung hình phạt của tội phạm cụ thể trở nên nghiêm khắc hơn.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định trong Bộ luật hình sự nhằm phản ánh mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và khả năng cải tạo của người phạm tội Chúng có vai trò quan trọng trong việc quyết định hình phạt, giúp tăng mức hình phạt trong khung quy định Để đảm bảo nguyên tắc xử lý tội phạm kịp thời và công minh, Bộ luật Hình sự xác định các tình tiết này là căn cứ quan trọng cho Tòa án trong việc đưa ra hình phạt cụ thể Điều này không chỉ thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật mà còn giúp ngăn ngừa tội phạm, đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội, đồng thời có tác dụng răn đe và giáo dục.
Đinh Văn Quế trong tác phẩm "Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự" (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2000) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ trách nhiệm hình sự Đồng thời, trong "Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999" (Nhà xuất bản TP.Hồ Chí Minh, 1999), tác giả cũng đã đề cập đến các khía cạnh quan trọng của bộ luật này, làm rõ hơn về các tình tiết liên quan đến trách nhiệm hình sự.
4 Trường Đại học Cảnh sát, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam,1995, tr 305
5 Trần Văn Sơn, Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội, 1996, tr.36
6 Dương Tuyết Miên, Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự năm 1999, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/2003, tr.19
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, theo quy định của Bộ luật hình sự, được hiểu là những yếu tố làm tăng mức độ nghiêm khắc của hình phạt đối với người phạm tội Đây là cơ sở để Tòa án quyết định hình phạt nặng hơn trong khung hình phạt đã quy định, nhằm mục đích trừng phạt, cải tạo và giáo dục người phạm tội, đồng thời phòng ngừa tội phạm trong xã hội.
1.1.2 Đặc điểm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là những yếu tố làm gia tăng mức độ trách nhiệm của người phạm tội so với các trường hợp thông thường trong cùng một loại tội phạm Dựa trên các khái niệm và thực tiễn xét xử, các tình tiết này có những đặc điểm cơ bản riêng biệt.
Các tình tiết tăng nặng TNHS là căn cứ quan trọng để Tòa án quyết định hình phạt, theo quy định tại Điều 52 BLHS 2015 Chúng không chỉ phản ánh nguyên tắc pháp chế XHCN và công bằng trong luật hình sự Việt Nam mà còn giúp phân hóa và cá thể hóa hình phạt Tình tiết tăng nặng liên quan đến nhân thân người phạm tội chỉ ảnh hưởng đến cá nhân đó, trong khi tình tiết tăng nặng chung áp dụng cho tất cả các bị cáo trong vụ án đồng phạm Tuy nhiên, việc xác định mối liên hệ giữa tình tiết và tội phạm cụ thể là một nhiệm vụ phức tạp Tòa án cần đối chiếu các tình tiết của vụ án với quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS 2015 để đảm bảo tính tương xứng và thích hợp.
52 BLHS 2015 thì mới được coi là các tình tiết tăng nặng TNHS có liên quan tới tội phạm
Phân loại tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
1.2.1 Phân loại căn cứ vào ý nghĩa pháp lý của tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Căn cứ vào tiêu chí này, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được phân loại thành:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định tội;
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung;
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung
* Tình tiết tăng nặng định tội
Tình tiết tăng nặng định tội là yếu tố làm tăng đáng kể tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, dẫn đến việc bị xử lý với tội danh nặng hơn Nếu không có tình tiết này, hành vi vẫn có thể cấu thành tội phạm nhưng ở mức độ nhẹ hơn Yếu tố này không chỉ tăng thêm tính nguy hiểm mà còn làm thay đổi bản chất và mức độ của tội phạm.
Các tội phạm mang tính chất đặc biệt cần được phân loại thành các điều luật và tội danh riêng biệt, dù có bản chất tương tự Điều này là cần thiết để bảo vệ các yếu tố đặc biệt mà pháp luật phải quan tâm.
* Tình tiết tăng nặng định khung
Tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là yếu tố làm tăng mức độ nguy hiểm của tội phạm, dẫn đến trách nhiệm hình sự cao hơn với chế tài quy định ở khung cao hơn so với khung hình phạt cơ bản Để thực hiện nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và tránh quyết định hình phạt tùy tiện, hình phạt được phân chia thành các khung nhất định với biên độ biến thiên nhỏ Khoảng cách giữa mức độ cao nhất và thấp nhất của hình phạt càng lớn, các nhà làm luật càng chia thành nhiều khung hình phạt hơn Các tình tiết tăng nặng nào thể hiện tính nguy hiểm xã hội lớn hơn sẽ được sử dụng làm căn cứ xác định khung hình phạt cao hơn.
Trong lĩnh vực pháp luật hình sự, một số tình tiết tăng nặng trách nhiệm định khung thường gặp bao gồm: "phạm tội có tổ chức", "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp", "tái phạm nguy hiểm", và "phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng" Những tình tiết này được áp dụng rộng rãi trong nhiều nhóm tội và các loại tội phạm khác nhau.
BLHS 2015 áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung, đặc biệt là tình tiết phạm tội có tổ chức, trong các tội danh như giết người, hiếp dâm và cướp tài sản.
* Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung là những yếu tố làm gia tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, dẫn đến việc tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong khung hình phạt cụ thể Ý nghĩa pháp lý của các tình tiết này là đảm bảo việc cá thể hóa hình phạt một cách chính xác và triệt để.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự rất đa dạng và phong phú, được xác định bởi nhà làm luật dựa trên nhiều yếu tố như yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và tình hình kinh tế - xã hội Hiện nay, các tình tiết này được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cần được áp dụng theo thứ tự ưu tiên, bao gồm: tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định tội, sau đó là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung, và cuối cùng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung.
Phân loại tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự giúp nghiên cứu và xây dựng các tội phạm cũng như cấu thành tăng nặng một cách phù hợp Đồng thời, việc xác định giá trị pháp lý của từng loại tình tiết cũng hỗ trợ cho việc áp dụng pháp luật hình sự, từ đó giúp định tội, xác định khung hình phạt và cá thể hóa hình phạt một cách chính xác.
1.2.2 Phân loại căn cứ vào tính chất của tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Căn cứ vào tiêu chí phân loại về tính chất của tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết này được chia thành nhiều loại khác nhau.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc mặt khách quan của tội phạm;
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc mặt chủ quan của tội phạm;
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc chủ thể tội phạm;
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc khách thể tội phạm;
* Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm bao gồm các dấu hiệu bên ngoài thể hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả của nó Điều này liên quan đến mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả, cùng với các yếu tố như công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội, thời gian và hoàn cảnh thực hiện Những dấu hiệu này, dù ở mức độ khác nhau, đều mang tính quyết định trong việc xác định tội phạm.
16 tiêu chí được xác định để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, từ đó ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của cá nhân thực hiện hành vi nguy hiểm.
Dấu hiệu hành vi nguy hiểm là yếu tố quan trọng trong các cấu thành tội phạm, đóng vai trò định tội Dấu hiệu hậu quả không bắt buộc trong tất cả các tội phạm, chỉ cần thiết với những tội phạm có cấu thành vật chất Tuy nhiên, hậu quả xác định mức độ nguy hại của tội phạm; hậu quả lớn hơn tương ứng với mức độ nghiêm trọng cao hơn và hình phạt nghiêm khắc hơn Mối quan hệ nhân – quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả là cần thiết; nếu không có, hậu quả không thể coi là do hành vi gây ra Dấu hiệu hậu quả có thể được sử dụng để tăng nặng trách nhiệm hình sự, với các tình tiết như gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Trong cấu thành tội phạm, ngoài các dấu hiệu chính, còn tồn tại những yếu tố khách quan như phương thức thực hiện, công cụ, thời gian, địa điểm và hoàn cảnh phạm tội Mặc dù những dấu hiệu này không phải là căn cứ để định tội hay tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng chúng có thể là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp, chẳng hạn như hành hung để tẩu thoát, xúi giục người chưa thành niên phạm tội, hoặc sử dụng các thủ đoạn xảo quyệt và tàn ác nhằm che giấu hành vi phạm tội.
Trong bối cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc các khó khăn đặc biệt khác của xã hội, 17 nhóm đối tượng đã lợi dụng tình hình để thực hiện các hành vi phạm tội, đặc biệt là tội phạm có tổ chức, gây nguy hại cho nhiều người.
VỊ TRÍ PHÁP LÝ, NỘI DUNG NHỮNG TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
Quy định về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam
2.1.1 Quy định về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trước khi ban hành Bộ Luật hình sự Việt Nam năm 1985
Trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời, quy định về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển trong lịch sử Việt Nam, bao gồm thời kỳ phong kiến, Pháp thuộc và xã hội chủ nghĩa Trong các giai đoạn này, các tình tiết tăng nặng chưa được quy định cụ thể trong một điều luật riêng biệt, mà chỉ được phân tán trong các quy định của pháp luật hình sự Thời kỳ phong kiến chứng kiến sự phát triển của pháp luật hình sự qua các bộ luật cổ, nổi bật nhất là Bộ luật Hồng Đức và Hoàng Việt luật lệ Quốc Triều Hình Luật đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong lập pháp Việt Nam, mặc dù còn thiếu sót, nhưng đã đặt nền tảng cho hệ thống pháp luật hình sự và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Hoàng Việt Luật Lệ, ra đời vào thế kỷ XIX, đã kế thừa một số quy định từ Quốc Triều Hình Luật, nhưng do tính bảo thủ của triều Nguyễn, các quy định này nhanh chóng trở nên lạc hậu và không còn phù hợp với xã hội thời bấy giờ.
Trong giai đoạn 1945-1985, Việt Nam trải qua thời kỳ thuộc Pháp và bị đế quốc Mỹ xâm lược, dẫn đến nhiều khó khăn do chiến tranh, khiến Bộ luật Hình sự (BLHS) chưa được ban hành Trong thời kỳ này, pháp luật chủ yếu dựa vào các pháp lệnh, với nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định.
Trong giai đoạn 1945 – 1985, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) chủ yếu áp dụng cho các tội phản cách mạng và một số tội xâm phạm tài sản của Nhà nước và công dân, được quy định tại điều 19 Pháp lệnh về trừng trị các tội phản cách mạng (30/7/1967) và điều 22 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa (20/10/1970) Các báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao chỉ ra rằng các tình tiết này là hình thức cụ thể của các quy định trong hai pháp lệnh trên Thời kỳ này đã đặt nền tảng cho việc hình thành các quy định về tình tiết tăng nặng TNHS cho tất cả các loại tội phạm và xây dựng các nguyên tắc chung áp dụng cho những tình tiết đó Theo Bản tổng kết thực tiễn vận dụng kèm theo Công văn số 38/NCPL ngày 16/01/1976, tình tiết tăng nặng được phân thành ba nhóm chính.
Các tình tiết tăng nặng thuộc về phương diện khách quan của tội phạm bao gồm việc cộng phạm, xúi giục, và lôi kéo người chưa thành niên tham gia tội phạm Ngoài ra, tội phạm còn lợi dụng thiên tai, địch họa, hoàn cảnh chiến tranh, cũng như các tình huống khẩn cấp như lũ lụt và hỏa hoạn Việc lợi dụng tình hình quản lý kinh tế lỏng lẻo, chức vụ quyền hạn, và chuyên môn nghề nghiệp để thực hiện hành vi phạm tội cũng được xem là tình tiết tăng nặng Các thủ đoạn và phương pháp phạm tội có tính chất táo bạo, xảo quyệt, và tàn ác, gây nguy hiểm cho nhiều người, đặc biệt là tội phạm nhằm vào trẻ em, người già, người ốm đau, hoặc người thi hành công vụ, đều được coi là những yếu tố nghiêm trọng làm tăng mức độ của tội phạm.
Những tình tiết tăng nặng trong nhân thân người phạm tội bao gồm việc kẻ phạm tội là lưu manh chuyên nghiệp, sống dựa vào các hoạt động phi pháp như trộm cắp, lừa đảo hoặc chứa mại dâm Họ thường có hành vi càn quấy, tái phạm và thuộc nhóm phần tử xấu Ngoài ra, người phạm tội có tiền án (không thuộc trường hợp tái phạm) hoặc đã thực hiện nhiều tội phạm, cũng như có thái độ tiêu cực sau khi phạm tội, đều là những yếu tố làm tăng mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội.
Những tình tiết tăng nặng thuộc phương diện chủ quan của tội phạm thường ít và liên quan đến mục đích, động cơ phạm tội Các tình tiết này bao gồm phạm tội vì động cơ đê hèn, động cơ hưởng lạc, quyết tâm phạm tội cao và lỗi vô ý nặng.
Các yếu tố thuộc tính chất hành vi khách quan, mặt chủ quan của tội phạm và nhân thân người phạm tội đã thể hiện sự hợp lý và chi tiết, phản ánh đầy đủ mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, cho thấy sự gia tăng ở nhiều khía cạnh khác nhau Quy định này là cần thiết để đảm bảo việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự một cách triệt để, bảo đảm công bằng và đạt được mục đích của hình phạt.
Tội phạm ảnh hưởng đến công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, xâm phạm nền chuyên chính vô sản và quan hệ sở hữu xã hội chủ nghĩa sẽ chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Cụ thể, những hành vi gây thiệt hại trực tiếp đến cuộc kháng chiến và sự nghiệp quốc phòng, cũng như lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai hay khó khăn khác để phạm tội sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định tại Khoản 1,2 Điều 19 Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng.
Năm 1967, Điều 22 của Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa quy định rằng hành vi gây thiệt hại trực tiếp đến sản xuất, đời sống của nhân dân hoặc an ninh quốc phòng sẽ bị xử lý nghiêm Đồng thời, những hành vi lợi dụng hoàn cảnh khó khăn chung cũng sẽ bị truy cứu trách nhiệm.
Trong quá trình xét xử các tội phạm hình sự, việc lợi dụng tình hình chiến sự để phạm tội được coi là một tình tiết tăng nặng Đặc biệt, trong các vụ án giết người có ý thức lợi dụng tình hình này, cần xem xét đây như một yếu tố tăng nặng Ngay cả trong những vụ án giết người không có ý thức lợi dụng chiến sự, nhưng hành vi thực tế vẫn gây ra ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt đến sự an tâm sản xuất và chiến đấu của quần chúng.
7 Trần Thị Thùy Trang, Luận văn Thạc sĩ “ Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam”, tr 42 - 43
8 Tòa án nhân dân tối cao (1975), Tập hệ thống hóa luật lệ về hình sự, tr 104 -105
9 Lời tổng kết hội nghị công tác năm 1964 của Tòa án nhân dân tối cao, tr 11
26 cũng cần xử nặng hơn bình thường, vì tác hại lớn hơn và yêu cầu đấu tranh chống tội phạm cao hơn 10
Các quy định này đã đóng góp quan trọng vào việc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất đất nước, phù hợp với bối cảnh lịch sử của giai đoạn này.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đã được quy định một cách hệ thống và chặt chẽ, phản ánh tính nguy hiểm gia tăng của tội phạm đối với xã hội Điều này phù hợp với bối cảnh kinh tế và xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện tại Ngoài việc quy định trong các văn bản pháp luật hình sự, thực tiễn áp dụng các tình tiết này cũng đã đóng góp quan trọng thông qua việc tổng kết kinh nghiệm xét xử từ các loại tội phạm khác nhau trong ngành Tòa án.
2.1.2 Quy định về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Bộ Luật hình sự Việt Nam năm 1985
Năm 1985, Bộ luật Hình sự (BLHS) đã được Quốc Hội khóa VII Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua, đánh dấu một bước phát triển mới trong pháp luật hình sự Việt Nam BLHS 1985 quy định đa dạng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) với nội dung khái quát cao Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự, danh mục các tình tiết tăng nặng TNHS được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 39 Khoản 2 Điều 39 cũng nêu rõ chỉ các tình tiết được quy định tại Khoản 1 mới được coi là tình tiết tăng nặng TNHS, đồng thời quy tắc áp dụng chung xác định rằng những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt sẽ không được xem là tình tiết tăng nặng TNHS.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1985 không có nhiều sự thay đổi so với các quy định trước đó Điều này cho thấy sự kế thừa và duy trì các nguyên tắc pháp lý trong việc xác định trách nhiệm hình sự.
Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1985, một số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
10 Bản tổng kết ngày 10/8/1970 của Tòa án nhân dân tối cao về thực tiễn xét xử loại tội giết người
Để phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh mới, một số điều khoản đã được lược bỏ, đồng thời bổ sung thêm các tình tiết mới làm tăng nặng trách nhiệm hình sự.
* Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định tội
Thực tiễn áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự ở nước ta hiện nay
2.2.1 Thực trạng các vụ án áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại một số địa phương tại Việt Nam
Trong quá trình xét xử tại Tòa án Việt Nam, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được áp dụng rộng rãi nhằm đảm bảo tính chính xác trong việc xác định loại tội phạm và khung hình phạt tương ứng Điều này không chỉ giúp hoàn thành công tác xét xử hình sự mà còn đảm bảo rằng các hình phạt được tuyên phù hợp với hành vi phạm tội Đặc biệt, các tình tiết này cũng được Toà án xem xét khi áp dụng đối với người chưa thành niên Dưới đây là một số thống kê liên quan đến tình trạng phạm tội của đối tượng chưa thành niên.
Có 50 tội danh và vụ án hình sự áp dụng tình tiết tăng nặng, bao gồm cả các vụ án do người chưa thành niên thực hiện tại một số địa phương cụ thể Những tình tiết này thường liên quan đến mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và ảnh hưởng đến quyết định xử lý của cơ quan chức năng.
Tòa án nghiên cứu Số vụ án thụ lý Số bị cáo
Số bị cáo là người chưa thành niên
TAND Tỉnh Bà Rịa - VT 734 1376 342
Bảng 2.1 trình bày thống kê tỷ lệ người chưa thành niên phạm tội năm 2010 tại một số Tòa án địa phương, dựa trên báo cáo tổng kết từ các địa phương.
Nghiên cứu dựa trên 100 vụ án ngẫu nhiên được xét xử tại một số Toà án cho thấy tỷ lệ áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong quá trình xét xử Đặc biệt, nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt trong các vụ án liên quan đến người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức xử lý trách nhiệm hình sự trong các trường hợp này.
Tòa án nghiên cứu Số hồ sơ vụ án nghiên cứu
Số vụ án có áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS
TAND Tỉnh Bà Rịa - VT 100 18
Bảng 2.2 trình bày thống kê tỷ lệ các vụ án áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, dựa trên nghiên cứu 100 vụ án tại một số địa phương.
Dựa trên các phương pháp nghiên cứu như thống kê, so sánh và phân tích số liệu, tỷ lệ vụ án áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Việt Nam đã gia tăng đáng kể Việc áp dụng các tình tiết này trong công tác xét xử vụ án hình sự diễn ra một cách tương đối chính xác, góp phần nâng cao tính công bằng và hiệu quả trong quá trình xét xử.
Trong công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, việc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự vẫn còn nhiều sai sót, bao gồm cả tình tiết định khung và tình tiết chung Những thiếu sót này thể hiện rõ qua một số bản án cụ thể, cho thấy sự cần thiết phải cải thiện quy trình xử lý để đảm bảo tính chính xác và công bằng trong việc trừng phạt, cải tạo và giáo dục người phạm tội.
Vào năm 2002, Nguyễn Công S từ Tây Ninh chuyển đến sống cùng ông M, nơi có cháu ngoại ông M là Nguyễn Thị Hoàng Q, sinh năm 1998 Từ năm 2010, S đã dụ dỗ và thực hiện hành vi giao cấu với Q ba lần, lợi dụng sự quen biết và nhận thức hạn chế của cháu Lần đầu xảy ra vào tháng 9/2010 tại nhà ông M, khi Q lên võng ngồi cùng S Lần thứ hai vào ngày 20/03/2011, khi Q đến chơi tại nhà S Lần thứ ba vào tháng 3/2012, khi S chở Q về sau bữa tối tại nhà S và thực hiện hành vi tại một quán nước bỏ hoang Đến tháng 5/2015, sau khi bị ông M mắng, Q đã về sống với mẹ và kể lại toàn bộ sự việc, dẫn đến việc bà D tố cáo S đến cơ quan chức năng.
Tại bản án số 08/2018/HSST, ngày 07/02/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước đã xét xử bị cáo Nguyễn Công S về hai tội danh nghiêm trọng, bao gồm Hiếp dâm người dưới 16 tuổi với tình tiết định khung tăng nặng "Giao cấu với người dưới 13 tuổi" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 BLHS năm 2015, và tội Giao cấu với trẻ em.
52 khung tăng nặng là “phạm tội nhiều lần” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều
Nguyễn Văn T đã bị Tòa án nhân dân tỉnh HT xét xử với ba tội danh: Giết người, Cướp tài sản và Dâm ô với trẻ em Vào ngày 03/7/2016, khi chở chị Phạm Thị O, T đã cố tình chạy vào những tuyến đường vắng để thực hiện hành vi cướp tài sản Khi chị O chống cự, T đã bóp cổ và ném chị xuống sông, dẫn đến cái chết của nạn nhân Ngoài ra, trước khi gây án, T còn thừa nhận đã thực hiện hành vi dâm ô đối với cháu Nguyễn Thị R, một hành khách khác của mình vào ngày 02/6/2016.
Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2017/HSST ngày 26/4/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh HT đã tuyên bị cáo phạm ba tội: Giết người, Cướp tài sản và Dâm ô đối với trẻ em Sau khi bị cáo kháng cáo, bản án hình sự phúc thẩm số 714/2017/HSPT ngày 16/10/2017 đã không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Công S đã thực hiện nhiều hành vi phạm tội đối với trẻ em ở những thời điểm khác nhau, dẫn đến việc phải chịu các tội danh khác nhau tương ứng với độ tuổi của bị hại Bài viết ủng hộ quyết định của Tòa án khi áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” cho bị cáo, nhưng lưu ý rằng tình tiết này chỉ được áp dụng cho tội Giao cấu với trẻ em, sau đó mới tổng hợp hình phạt với tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
Trong trường hợp này, Tòa án đã áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội nhiều lần” chỉ đối với một tội duy nhất Ngược lại, trong trường hợp thứ hai, bị cáo đã phạm đến ba tội nhưng không thuộc vào các tình tiết để tăng nặng hình phạt Điều này cho thấy việc “phạm nhiều tội” nguy hiểm hơn so với việc thực hiện cùng một tội phạm nhiều lần, tuy nhiên, Bộ luật Hình sự hiện hành chỉ xem xét tình tiết tăng nặng cho một tội duy nhất.
Điều 53 quy định việc điều chỉnh hành vi phạm nhiều tội thông qua quyết định hình phạt cho từng hành vi vi phạm riêng biệt Sau đó, hình phạt của từng tội sẽ được tổng hợp để đưa ra hình phạt chung thống nhất cho các tội đã thực hiện, tuy nhiên không quy định rõ tình tiết cụ thể nào.
"Phạm nhiều tội" được xem là tình tiết tăng nặng trong trách nhiệm hình sự (TNHS) do mức độ nguy hiểm cao hơn so với việc phạm nhiều lần cùng một tội Nếu Tòa án không có căn cứ để tăng nặng TNHS đối với hành vi của người phạm nhiều tội, điều này sẽ không phản ánh đúng tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Do đó, cần bổ sung quy định này vào hệ thống tình tiết tăng nặng TNHS để đảm bảo tính công bằng và chính xác trong xét xử.