MỤC LỤC i MỤC LỤC GIỚI THIỆU DỰ ÁN 1 I ĐẶT VẤN ĐỀ 1 II CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ LẬP QUY HOẠCH 1 III PHẠM VI QUY HOẠCH 3 IV MỤC TIÊU QUY HOẠCH 4 V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4 PHẦN I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, NGUỒN LỢ[.]
CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ LẬP QUY HOẠCH
1 Quyết định 332/QĐ-TTg, ngày 03/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển Nuôi trồng thủy sản đến năm 2020;
2 Quyết định số 1690/QĐ-TTg, ngày 16/09/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020;
Quyết định số 2033/QĐ-TTg, ban hành ngày 04/12/2009, của Thủ tướng Chính phủ, đã phê duyệt Đề án phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhằm thúc đẩy ngành nuôi trồng thủy sản và nâng cao giá trị kinh tế của sản phẩm cá tra đến năm 2020.
Quyết định số 150/2004/QĐ-TTg, ban hành ngày 20/06/2005, của Thủ tướng Chính phủ, đã phê duyệt Quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trên toàn quốc Quy hoạch này hướng đến việc cải thiện hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản, với mục tiêu cụ thể đến năm 2010 và tầm nhìn dài hạn đến năm 2020.
Theo Quyết định số 10/2006/QĐ-TTg, ban hành ngày 11/01/2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
Thông tư số 45/2010/TT-BNNPTNT, ban hành ngày 22/07/2010 bởi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, quy định các điều kiện cần thiết cho cơ sở và vùng nuôi cá tra thâm canh nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
Thông tư số 05/2003/TT-BKH, ban hành ngày 22/7/2003, của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn chi tiết về nội dung, trình tự lập, thẩm định và quản lý các dự án quy hoạch phát triển ngành cũng như quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lãnh thổ Thông tư này đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và quản lý các dự án phát triển, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong quá trình thực hiện.
8 Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/08/2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
9 Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ IX Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long, nhiệm kỳ 2010 – 2015;
12 Nghị định số 92/2006/NĐ-CP, ngày 07/09/2006, về việc lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể pht triển kinh tế - x hội;
Quyết định số 2194/QĐ-TTg, được ban hành vào ngày 25/12/2009, của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án phát triển giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản đến năm 2020 Đề án này nhằm nâng cao chất lượng và sản lượng giống, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và thủy sản Việt Nam.
14 Thông tư 01/2007/TT-BKH ngày 07/02/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 92/2006/NĐ-CP;
Nghị định 04/2008/NĐ-CP, ban hành ngày 11/01/2008, của Chính phủ đã sửa đổi và bổ sung một số điều của Nghị định 92/2006/NĐ-CP liên quan đến việc lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
16 Nghị định số 41/2010/NĐ-CP, ngày 12/04/2010 của Chính phủ về Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn;
17 Nghị định số 61/2010/NĐ-CP, ngày 04/06/2010 của Chính phủ về Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
18 Thông tư 03/2008/TT-BKH ngày 01/7/2008 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 04/2008/NĐ-CP;
Thông tư 03/2006/TT-BTS, ban hành ngày 12/4/2006 bởi Bộ Thủy sản, cung cấp hướng dẫn thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Thông tư này nhằm mục tiêu phát triển bền vững ngành thủy sản, đảm bảo nguồn lợi thủy sản và nâng cao hiệu quả kinh tế trong lĩnh vực này.
Quyết định số 281/2007/QĐ-BKH, ban hành ngày 26 tháng 3 năm 2007, của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, quy định khung giá và định mức chi phí cho việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội theo ngành và lãnh thổ Quyết định này nhằm tạo ra cơ sở pháp lý và tiêu chuẩn hóa quy trình lập quy hoạch, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong phát triển kinh tế - xã hội.
Thông tư 03/2006/TT-BTS, ban hành ngày 12 tháng 4 năm 2006 bởi Bộ Thủy sản, cung cấp hướng dẫn thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Thông tư này nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành thủy sản, đồng thời thúc đẩy các hoạt động sản xuất và chế biến thủy sản hiệu quả.
22 Quyết định số 242/2006/QĐ-TTg ngày 25/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ v/v phê duyệt Chương trình Phát triển xuất khẩu thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;
23 Quyết định số 56/2008/QĐ-BNN, ngày 29/04/2008 của Bộ NN&PTNT Ban hành Quy chế kiểm tra, chứng nhận nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững;
24 Quyết định số: 70/2008/QÐ-BNN ngày 05/06/2008 của Bộ NN&PTNT Ban hành Quy chế quản lý vùng và cơ sở nuôi cá tra
Quyết định số 102/2008/QĐ-BNN, ban hành ngày 17/10/2008 bởi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đã phê duyệt quy hoạch phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010, với định hướng mở rộng đến năm 2020.
26 Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản tỉnh Vĩnh Long đến năm 2010 đã được phê duyệt;
27 Quy hoạch phát triển ngành thương mại tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020 đã được phê duyệt;
28 Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011 – 2015 có xét đến năm 2020;
29 Quy hoạch phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tỉnh Vĩnh Long giai đoạn
2009 – 2015 và định hướng đến năm 2020;
Căn cứ theo quyết định số 111/QĐ-SNN&PTNT, ngày 01/06/2009 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ban chỉ đạo thực hiện đề án về nông nghiệp, nông dân và nông thôn đã được thành lập nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp.
Theo CV số 12/KH-SNN&PTNT, ngày 01/06/2009, kế hoạch thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy về Đề án nông nghiệp – nông dân – nông thôn giai đoạn 2009 – 2010 được triển khai nhằm phát triển bền vững khu vực nông thôn Chương trình này tập trung vào việc nâng cao đời sống của nông dân, cải thiện cơ sở hạ tầng và khuyến khích sản xuất nông nghiệp hiệu quả.
31 Căn cứ vào Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 – 2015) tỉnh Vĩnh Long, ngày 06/04/2011
32 Báo cáo Quy hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội tỉnh Vĩnh Long thời kỳ 2011 –
PHẠM VI QUY HOẠCH
Giới hạn quy hoạch cho hoạt động thủy sản trong toàn tỉnh được phân bố đến từng đơn vị huyện, thành phố và các vùng sản xuất tập trung.
Từ số liệu hiện trạng giai đoạn 2006-2010, với năm 2009 làm mốc và dự báo cho năm 2010, chúng tôi tiến hành đánh giá hiện trạng ngành thủy sản Mục tiêu là xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020.
Các chỉ tiêu quy hoạch tính cho các giai đoạn 2011-2015, 2016-2020
MỤC TIÊU QUY HOẠCH
Đánh giá toàn diện về nguồn lực và hiện trạng sản xuất thủy sản tỉnh Vĩnh Long, phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ và thách thức là rất cần thiết Dựa trên các phân tích này, cần xây dựng các mục tiêu phát triển cho đến năm 2020, đảm bảo tính khoa học và phù hợp với chủ trương của tỉnh, đồng thời cân đối với sự phát triển chung của khu vực và cả nước.
Xây dựng các phương án phát triển ngành thủy sản tỉnh đến năm 2015 và 2020 dựa trên phân tích các yếu tố tác động chủ quan và khách quan Đưa ra các giải pháp khả thi nhằm thực hiện quy hoạch, hướng tới sự phát triển ổn định và bền vững cho ngành thủy sản.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020 thực hiện các phương pháp sau:
1 Phương pháp tiếp cận hệ thống trong điều tra tổng hợp và xây dựng mục tiêu
Phương pháp điều tra thực tế được áp dụng để thu thập thông tin từ các hộ và cơ sở sản xuất trong lĩnh vực nghề cá Bộ câu hỏi điều tra kỹ thuật chuyên ngành kết hợp với các yếu tố kinh tế-xã hội sẽ giúp thu thập dữ liệu chính xác và đầy đủ.
Các phương pháp phối hợp liên ngành và phương pháp chuyên gia bao gồm việc tham vấn ở cả diện hẹp và diện rộng, đồng thời thu thập ý kiến từ các hội thảo được tổ chức ở cấp tỉnh.
4 Các phương pháp hiện hành sử dụng tính toán trong quy hoạch Ứng dụng phần mềm MapInfo trong xây dựng bản đồ
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, NGUỒN LỢI THUỶ SẢN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH 1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH
THỜI TIẾT KHÍ HẬU, THỦY VĂN
Vĩnh Long, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có khí hậu nóng ẩm quanh năm với nhiệt độ cao và bức xạ dồi dào Nơi đây có hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, và mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, chịu tác động của gió mùa Tây Nam.
Nền nhiệt tại khu vực này cao và ổn định, với nhiệt độ trung bình trên 27°C và tổng tích ôn đạt 9.585°C/năm Sự biến động nhiệt độ giữa các tháng trong năm là không đáng kể, trong khi nhiệt độ tăng mạnh nhất thường xảy ra từ tháng 2 đến tháng 4 hàng năm.
Tỉnh có khí hậu ẩm ướt quanh năm do nằm giữa hai sông lớn và hệ thống kênh rạch chằng chịt Độ ẩm trung bình hàng năm không có sự khác biệt rõ rệt giữa mùa mưa và mùa khô, thể hiện đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa Độ ẩm không khí trung bình nhiều năm đạt 81%, mặc dù trong những năm gần đây có sự giảm nhẹ khoảng 1%.
Lượng bốc hơi bình quân hàng năm của tỉnh khá lớn, khoảng 1.400 – 1.500 mm/năm Lượng bốc hơi tháng vào mùa khô từ 116 – 179 mm/tháng
Mùa mưa ở tỉnh thường bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 11, chiếm hơn 90% tổng lượng mưa hàng năm Trong thời gian này, lượng mưa tập trung cao, kết hợp với lũ từ thượng nguồn sông Mekong vào tháng 8-9, dẫn đến tình trạng ngập lụt ở một số vùng trũng.
- Lượng mưa trung bình năm: 1.414 mm
- Số ngày mưa trung bình năm: 185 ngày
Tỉnh Vĩnh Long và vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ít chịu ảnh hưởng trực tiếp từ bão, đặc biệt trong các tháng 10, 11, 12 hàng năm Mặc dù có sự xuất hiện của các cơn bão cuối mùa từ khu vực Nam Trung bộ, nhưng sức gió thường yếu và thiệt hại do bão gây ra không lớn.
Hiện tượng dông, lốc xảy ra tần suất nhỏ; tuy nhiên hàng năm từ tháng 4 đến tháng
Mưa lớn kèm theo dông, lốc đã gây ra 11 hiện tượng ngập úng cục bộ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của các ngành kinh tế và đời sống của người dân.
1.2.2 Hệ thống sông ngòi và chế độ thủy văn
Tỉnh có hai hệ thống sông chính thuộc hệ thống sông Mekong, bao gồm sông Tiền và sông Hậu, với tổng chiều dài 79 km Ngoài ra, mạng lưới kênh rạch chính và cấp I dài 114 km, cùng với mạng lưới kênh rạch nội đồng lên tới 1.728 km.
Sông Cổ Chiên, một nhánh của sông Tiền, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Vĩnh Long, có chiều dài tổng cộng 74 km, trong đó đoạn chảy qua Vĩnh Long dài 42 km Sông có bề rộng từ 800 đến 2.500 m và độ sâu dao động từ 20 đến 40 m, với lưu lượng nước thay đổi từ 1.814 đến 19.540 m³/s.
Sông Tiền: chảy qua địa bàn tỉnh Vĩnh Long khoảng 12 km (phía Bắc của huyện Long Hồ và TP Vĩnh Long)
Sông Hậu, với tổng chiều dài khoảng 195 km, chảy dọc theo phía Tây Nam của tỉnh và theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Đoạn sông đi qua Vĩnh Long có chiều dài 37 km.
7 chiều rộng từ 1.500 – 3.000m, sâu từ 15 - 30m, lưu lượng bình quân dao động từ 1.154 - 12.434 m 3 /s
Sông Măng Thít, thuộc tỉnh Vĩnh Long, bao gồm một phần kênh tự nhiên và một phần kênh đào, kết nối từ sông Cổ Chiên tại Quới An đến sông Hậu tại Trà Ôn Sông có chiều dài 47km, bề rộng trung bình từ 110 đến 150m và độ sâu từ 9 đến 11m.
Một số sông khác có kích thước tương đối lớn chảy ra sông Tiền và sông Hậu:
+ Sông Cái Đôi, Cái Côn, Cái Cam đổ ra sông Cổ Chiên
+ Sông Trà Mơn, Tấn Quới, Cái Vồn đổ ra sông Hậu
Dòng chảy của sông Tiền và sông Hậu, cùng với thủy triều biển Đông và chế độ mưa hàng năm, tạo nên một hệ thống thủy văn đặc trưng Thủy triều biển Đông ảnh hưởng đến hai nhánh sông chính, sông Cổ Chiên và sông Hậu, với chế độ bán nhật triều không đều, gồm hai kỳ triều cường và triều kém mỗi tháng Trong một ngày, có hai đỉnh và hai chân triều, với biên độ triều cường lớn nhất lên đến 4 m vào tháng 12 và tháng 1, trong khi biên độ nhỏ nhất đạt 2,5 m vào tháng 3 và tháng 4 Sự thay đổi của thủy triều biển Đông đã tạo điều kiện cho nước mặn xâm nhập sâu vào nội địa qua hệ thống sông rạch.
Xâm nhập mặn tại huyện Vũng Liêm và huyện Trà Ôn diễn ra ở mức độ thấp, với độ mặn dưới 2 g/l và chỉ xảy ra trong một số ngày ngắn vào tháng 4 Mặn từ sông Hậu đã lên tới cửa Đại Ngãi, trong khi sông Tiền ảnh hưởng đến đầu cù lao Quới Thiện huyện Vũng Liêm Tuy nhiên, hầu hết các vùng chịu ảnh hưởng đã được trang bị hệ thống thủy lợi ngăn mặn, giúp bảo vệ hiệu quả cho các khu vực canh tác nông nghiệp.
Lưu tốc dòng chảy tại trạm Mỹ Thuận ghi nhận Vmax cao nhất là 1,60 m/s vào tháng 09/2002 và thấp nhất là 0,90 m/s vào tháng 02/2003 Trong khi đó, lưu tốc dòng chảy trung bình cực đại khi triều lên đạt 0,96 m/s vào tháng 04/2003.
= 2,55 m/s là vào tháng 09/2002 (Trung Tâm Dự Báo Khí Tượng Thủy Văn Vĩnh Long,
Lưu tốc dòng chảy khi triều xuống thường cao hơn so với khi triều lên Từ tháng 8 đến tháng 12, lũ từ thượng nguồn đổ về khiến nước không thể chảy ngược, dẫn đến tình trạng không có lưu tốc triều lên Trong giai đoạn này, nước chỉ chảy một chiều từ thượng nguồn ra biển.
Hàng năm, nước sông Tiền và sông Hậu dâng cao, tràn sâu vào đất liền, gây ra lũ lụt từ tháng 8, 9 đến tháng 11, 12 Theo số liệu của Đài khí tượng thủy văn Vĩnh Long, mức nước cao nhất ghi nhận được là 2,03 m vào năm 1994 tại trạm Mỹ Thuận, 2,01 m vào năm 1978, và 2,24 m vào năm 1997 tại Cần Thơ.
TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN, NGUỒN LỢI THỦY SẢN
Theo kết quả điều tra khảo sát thổ nhưỡng của Chương trình Đất tỉnh Vĩnh Long năm 1990-1994, Vĩnh Long có 4 nhóm đất chính:
Đất phèn tại tỉnh chiếm tới 68,94% tổng diện tích, mặc dù có diện tích lớn, nhưng tầng sinh phèn lại nằm khá sâu và tỷ lệ phèn thấp Điều này giúp cho đất ở đây có chất lượng cao và màu mỡ hơn so với các tỉnh khác trong khu vực.
Đất phù sa chiếm 30,81% tổng diện tích tỉnh, được bồi đắp hàng năm bởi phù sa từ sông Tiền và sông Hậu, tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển với năng suất cao và sinh khối lớn.
+ Đất giồng cát chiếm 0,16% diện tích toàn tỉnh
+ Đất xáng thổi chiếm 0,09% diện tích toàn tỉnh
1.3.1.2 Cơ cấu sử dụng đất
Tính đến ngày 1/1/2010, tổng diện tích tự nhiên của tỉnh đạt 147.912,8 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất với 116.180,6 ha, tương đương 78,55% Diện tích đất phi nông nghiệp là 31.626,9 ha, chiếm 21,38%, trong khi đó, đất chưa sử dụng chỉ chiếm 105,3 ha, tương đương 0,07%.
Theo Nghị quyết số 32/2006/NQ-CP, Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch sử dụng đất tỉnh Vĩnh Long đến năm 2010, trong đó đất dành cho nuôi trồng thủy sản (NTTS) là 3.517 ha Đến năm 2010, đã có 2.876 ha đất trồng lúa nước chuyển sang NTTS và 53 ha đất NTTS chuyển đổi sang phi nông nghiệp Tuy nhiên, thực tế chỉ có 2.481 ha được sử dụng cho NTTS, chưa đạt kế hoạch 5 năm Do đó, cần tiếp tục khai thác hiệu quả diện tích đất NTTS để tránh lãng phí nguồn quỹ đất này.
Tỉnh Vĩnh Long được cung cấp nguồn nước ngọt quanh năm nhờ dòng chảy của sông Mekong và lượng mưa dồi dào Nguồn nước mặt được phân bổ đồng đều trên toàn tỉnh, nhờ vào ba con sông lớn, cung cấp nước cho hệ thống kênh rạch nội đồng.
Nguồn nước mặt của Vĩnh Long rất dồi dào và hoàn toàn ngọt, với chế độ thủy văn điều hòa và lưu lượng dòng chảy thay đổi theo mùa Chất lượng nước tại đây phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá, tôm cùng các thủy sinh vật Mặc dù có sự khác biệt về một số yếu tố như đạm, lân, sắt giữa mùa khô và mùa mưa, nhưng tất cả đều nằm trong giới hạn cho phép, hỗ trợ cho sự phát triển của các loài thủy sinh.
Nguồn nước ngầm tại Vĩnh Long mặc dù có hạn chế và chỉ phân bố ở một số khu vực nhất định, nhưng chất lượng của nó tương đối tốt Một số độ sâu có nguồn nước ngầm ổn định được ghi nhận trong khu vực này.
Tầng nước ngầm tại tỉnh Vĩnh Long có độ sâu trung bình từ 86,4m đến 150m, chủ yếu phân bố ở khu vực ven sông Hậu và sông Tiền, cùng một số xã phía Nam Trữ lượng khai thác tiềm năng của tầng nước ngầm này ước tính đạt khoảng 46.169 đến 86.299 m³/ngày.
Tầng nước ngầm nằm ở độ sâu trung bình từ 425 m đến 439 m với bề dày lớn, hiện đang được khai thác chủ yếu qua các giếng khoan công nghiệp Trữ lượng khai thác tiềm năng của tầng nước này ước tính khoảng từ 19.520 đến 31.669 m³/ngày.
1.3.3 Tài nguyên thủy sinh vật
Nguồn lợi thủy sinh vật tại các thủy vực ở tỉnh Vĩnh Long rất đa dạng và phong phú Kết quả từ 4 đợt khảo sát trong mùa mưa năm 2003 và mùa khô năm 2004 cho thấy có tổng cộng 132 loài tảo, 93 loài động vật nổi và 69 loài động vật đáy, chủ yếu là các loài có nguồn gốc nước ngọt.
Tại tỉnh Vĩnh Long, sự đa dạng của các thành phần loài thực vật nổi rất phong phú, với tổng số 132 loài tảo đã được xác định tại 30 trạm khảo sát Các loài tảo được phân loại theo thứ tự giữa các ngành khác nhau.
- Ngành Bacillariophyta (tảo silic) 60 loài
- Ngành Chlorophyta (tảo lục) 31 loài
- Ngành Cyanophyta (tảo lam) 20 loài
- Ngành Euglenophyta (tảo mắt) 18 loài
- Ngành Pyrrophyta (tảo giáp) 3 loài
1.3.3.2 Động vật nổi Đã định danh được 93 loài động vật nổi thuộc 5 ngành phân bố trên các thủy vực sông rạch của tỉnh Vĩnh Long Ngành chân khớp Arthropoda có số lượng phong phú nhất với 46 loài chiếm 49,46%; kế đến là lớp trùng bánh xe Rotatoria (ngành Aschelminthes)
34 loài chiếm 36,55%; ngành Protozoa 9 loài chiếm 9,67%; ấu trùng Mollusca 2 loài chiếm 2.15% và ấu trùng giun nhiều tơ 1 loài chiếm 1,07%
1.3.3.3 Động vật đáy Đã ghi nhận được 69 loài động vật đáy phân bố vào 2 mùa (mùa mưa và mùa khô) trên các thủy vực thuộc địa bàn tỉnh Vĩnh Long bao gồm:
+ Lớp ốc chân bụng Gastropoda : 12 loài (17,39%) + Lớp hai mảnh vỏ Bivalvia : 11 loài (15,94%)
+ Lớp giun ít tơ Oligochaeta : 4 loài (5,79%) + Lớp giun nhiều tơ Polycheata : 10 loài (14,49%)
Lớp giáp xác Crustacea chiếm 37,68% với 26 loài, trong khi lớp ấu trùng thủy sinh Insecta có 6 loài, tương đương 8,69% Các loài này chủ yếu phân bố phổ biến tại các thủy vực sông, kênh rạch nước chảy và đặc biệt là trong môi trường nước bị nhiễm mặn theo mùa trong năm.
1.3.3.4 Nguồn lợi thủy sinh vật dọc theo sông Tiền
1 Thực vật nổi : Tổng số loài tảo định danh được tại các thủy vực dọc sông Tiền là 88 loài trong đó chiếm ưu thế luôn là ngành tảo silic (39 loài); kế đến là ngành tảo lục với 22 loài; 18 loài tảo lam; 8 loài tảo mắt; tảo giáp chỉ có 1 loài
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
1.4.1 Tổng sản phẩm (GDP) tỉnh Vĩnh Long
Về tăng trưởng : GDP giá hiện hành: tốc độ tăng trưởng bình quân tổng sản phẩm
Trong giai đoạn 2005-2010, GDP đạt mức tăng trưởng 21,4% mỗi năm, với khu vực nông, lâm, ngư tăng 18,8%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 24,8%, và khu vực dịch vụ tăng 24,1% Tổng GDP năm 2010 đạt 21,67 nghìn tỷ đồng, gấp 2,6 lần so với năm 2005.
Cơ cấu GDP : Năm 2005 ngành nông – lâm – thủy sản chiếm tỷ trọng 55,6% tổng
GDP của toàn tỉnh được cấu thành từ nhiều ngành, trong đó ngành thủy sản đóng góp khoảng 4,5%, ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 14,1%, và nhóm ngành dịch vụ chiếm 30,4% Giai đoạn 2005 – 2010 cho thấy sự phát triển ổn định của cơ cấu các ngành kinh tế.
Hình 1.1: Cơ cấu GDP năm 2005 và 2010 tỉnh Vĩnh Long theo giá hiện hành
Cơ cấu kinh tế đang có sự chuyển dịch từ khu vực 1 sang khu vực 2 và 3, nhưng quá trình này diễn ra chậm Đến năm 2010, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu kinh tế, với khu vực 1 đạt 49,9%, khu vực 2 16,2% và khu vực 3 33,9% tổng GDP.
GDP giá so sánh năm 1994: GDP của tỉnh đạt 4.583 tỉ đồng năm 2005, tăng trưởng bình quân 11,24%/năm; đến năm 2010, GDP đạt 7807 tỉ đồng Trong đó:
+ Ngành CN-XD: đạt 2.002 tỷ đồng, tăng trưởng 19,6%/năm
+ Ngành nông – lâm: đạt 2.392 tỷ đồng, tăng trưởng 3,65%/năm
+ Ngành dịch vụ: đạt 2.894 tỷ đồng, tăng trưởng 12,3%/năm
+ Ngành thủy sản: đạt 518 tỷ đồng, tăng trưởng 28,16%/năm
Sự phát triển của các ngành kinh tế có xu hướng tăng dần trong giai đoạn 2005 –
2010 Tuy nhiên sự phát triển biến động không đều, đỉnh cao của sự phát triển vào năm
Từ năm 2006 đến 2007, ngành thủy sản ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng từ 39% đến 81% Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 2008, khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã tác động tiêu cực đến ngành này, khiến tốc độ phát triển giảm xuống chỉ còn 9% đến 15% trong giai đoạn 2008 – 2010.
Hình 1.2: GDP hiện hành tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2005 - 2010
(Nguồn: NGTK tỉnh Vĩnh Long năm 2008, 2009 & B/c tổng kết năm Sở NN&PTNT VL)
1.4.2 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của tỉnh
Giá trị sản xuất (GO) của tỉnh năm 2010 ước đạt 44.945 tỷ đồng, tăng 2,33 lần so với năm 2005 Trong đó, giá trị sản xuất ngành Nông – Lâm – Thủy sản giảm từ 38,5% tổng GO năm 2005 xuống 32,1% vào năm 2010 Ngược lại, GO nhóm ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 28,6% năm 2005 lên 34% năm 2010 Nhóm ngành dịch vụ có sự biến động không đều, giảm nhẹ trong năm 2007 và 2008 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, nhưng đã phục hồi từ năm 2009 đến 2010.
GO (theo giá thực tế) giai đoạn 2005 - 2010 tăng dần qua các năm với tốc độ tăng
T ố c đ ộ p h át tr iể n h àn g n ăm (T Đ P T ) %
GDP (giá so sánh 1994) tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2005 - 2010
Thủy sản Công nghiệp - xây dựng
TĐPT - CN-XD (%) TĐPT - Nông, lâm (%)TĐPT - Thủy sản (%) TĐPT - Dịch Vụ (%)
Tố c độ p há t t riể n -( TĐ PT )%
GTSX thủy sản Tỉnh Vĩnh Long (giá So sánh)
Tổng GTSX NTTS KTTS DVTS
Ngành Thủy sản, đặc biệt là TĐPT ngành TS NTTS, đã chứng kiến mức tăng trưởng ấn tượng với tỷ lệ phát triển kinh tế thủy sản đạt 30% mỗi năm, từ 859 tỷ đồng năm 2005 lên 2.458 tỷ đồng năm 2010 Tỷ trọng đóng góp của ngành thủy sản vào tổng sản phẩm của tỉnh duy trì ổn định, trung bình khoảng 5,5%.
Theo giá so sánh : năm 2010 đạt 774,4 tỷ đồng, bình quân giai đoạn 2005-2010 tăng 28,8%; Trong đó:
Nuôi trồng thủy sản: đạt 717,9 tỷ đồng
Dịch vụ thủy sản: đạt 13,5 tỷ đồng (Chủ yếu phục vụ nuôi trồng thủy sản)
Khai thác nội đồng: đạt 43 tỷ đồng
Hình 1.3: Giá trị thủy sản tỉnh vĩnh long GĐ 2005 – 2010
Giai đoạn 2005-2010, cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp tiếp tục phát triển đúng hướng, với ngành thủy sản mặc dù gặp khó khăn do khủng hoảng kinh tế, nhưng vẫn ghi nhận mức tăng trưởng bình quân trên 30% Tỷ trọng của ngành thủy sản trong giá trị sản xuất nông-lâm-thủy sản đã đạt gần 18%, tăng 8,68% so với năm 2005 Mặc dù phát triển không bền vững do giá cá tra, ngành thủy sản vẫn đóng góp 1,76% vào tăng trưởng giá trị sản xuất của khu vực 1.
Giá trị sản xuất bình quân trên 1 ha đất nông nghiệp năm 2009 đạt trên 86,12 triệu đồng, tăng 42,44 triệu đồng so với năm 2005, gần gấp đôi Trong đó, giá trị sản phẩm nuôi trồng thủy sản trên 1 ha năm 2009 đạt 873,2 triệu đồng.
GTSP nuôi trồng thủy sản tại huyện Bình Tân cao nhất tỉnh Vĩnh Long đạt 2.078 triệu đồng/ha, trong khi huyện Tam Bình thấp nhất với 325 triệu đồng/ha Các huyện có tỷ lệ giá trị sản xuất nuôi trồng thủy sản cao bao gồm Long Hồ (22,6%), Bình Tân (21,7%), Mang Thít (18,4%) và Vũng Liêm (12,6%) Dù huyện Bình Tân xếp thứ 5 về diện tích, nhưng lại đứng thứ 2 về tỷ lệ đóng góp cho giá trị sản xuất nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh.
Lợi thế nuôi cá Tra ở Vĩnh Long
Vĩnh Long, trong lĩnh vực nuôi cá tra ao/hầm, có những lợi thế nổi bật so với các tỉnh mạnh khác trong ĐBSCL như An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Cần Thơ và Hậu Giang Hai tiêu chí chính thể hiện rõ sự ưu việt của Vĩnh Long là điều kiện tự nhiên thuận lợi và khả năng tiếp cận thị trường tiêu thụ cá tra hiệu quả hơn.
Giá thành sản xuất cá tra ở Vĩnh Long trung bình khoảng 19.500 đồng/kg, trong khi An Giang và Đồng Tháp dao động từ 20.000 đến 20.500 đồng/kg, và Hậu Giang chỉ khoảng 19.000 đồng/kg Sự chênh lệch này chủ yếu do nguồn nước nuôi cá ở An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ phụ thuộc vào các công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp, khiến cho cống thoát nước được thiết kế cao hơn đáy kênh Điều này dẫn đến chi phí bơm nước vào ao cao và việc thoát nước ra sông lớn bị hạn chế, làm chất ô nhiễm tích tụ tại đáy kênh, từ đó gia tăng ô nhiễm trong vùng nuôi cá tra, ba sa.
Vùng có nguồn nước nhiễm mặn cao vượt quá ngưỡng thích nghi của cá Tra sẽ bất lợi cho việc phát triển nuôi đối tượng này Tuy nhiên, các vùng nhiễm mặn nhẹ hoặc vùng có độ mặn cao vào mùa kiệt nhưng lại ngọt trong mùa lũ lại có ưu thế hơn trong việc nuôi cá Tra Ưu thế này được thể hiện qua việc ít bị dịch bệnh ở đối tượng cá Tra, do môi trường nước mặn một thời gian có khả năng gây kìm hãm nhiều tác nhân gây bệnh cho đối tượng cá nước ngọt.
1.4.3 Dân số tỉnh Vĩnh Long
1.4.3.1 Dân số và lao động
Vào năm 2010, dân số tỉnh Vĩnh Long đạt khoảng 1.026.650 người, tăng 0,15% so với năm 2009, với tỷ suất sinh tự nhiên là 13,5% và tỷ suất tăng dân số tự nhiên là 7,6% Cơ cấu dân số đô thị chiếm 15,5%, trong khi dân số lao động nông thôn chiếm 84,5%, tỷ lệ này khá ổn định trong giai đoạn 2005 – 2010 Tỉnh có 12 dân tộc sinh sống, bao gồm Kinh, Khmer, Hoa, Chăm, Êđê, Mường, Thái, Hmông, Tày, Nùng, Dao và Thổ Đặc biệt, đồng bào dân tộc Khmer tập trung tại 48 ấp, 10 xã và 1 thị trấn thuộc 4 huyện: Trà Ôn, Tam Bình, Bình Minh và Vũng Liêm Toàn tỉnh có 1.813 hộ dân tộc thiểu số nghèo, chiếm tỷ lệ 32,71%.
Nguồn lao động của tỉnh chiếm khoảng 69% tổng dân số, với 853.394 người vào năm 2010, trong đó 67% là trong độ tuổi lao động Khoảng 2% dân số ngoài độ tuổi lao động vẫn tham gia làm việc Giai đoạn 2008-2010 cho thấy tỷ lệ phụ thuộc dưới 50, cho thấy tỉnh đang ở giai đoạn dân số vàng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội Sự gia tăng dân số trong độ tuổi lao động đã có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế và cung cấp lực lượng lao động cho các ngành kinh tế, nhưng cũng đặt ra áp lực trong việc giải quyết việc làm hàng năm.
Cơ cấu lao động theo khu vực:
Trong năm 2010, lao động tham gia vào khối ngành phi nông-ngư nghiệp ước đạt khoảng 244 nghìn người, chiếm 39% tổng lao động làm việc Từ năm 2005 đến 2010, các ngành phi nông-lâm-thủy sản đã thu hút một lượng lao động đáng kể, với tỷ lệ cơ cấu tăng từ 33% năm 2005 lên 39% năm 2010 Sự gia tăng này chủ yếu do các ngành nghề phi nông-ngư nghiệp mang lại mức thu nhập cao hơn so với nhóm ngành nông-ngư nghiệp.
Lao động tham gia khối ngành nông – ngư nghiệp: năm 2010, chiếm tỷ lệ khoảng
ĐÁNH GIÁ CHUNG
Tỉnh Vĩnh Long có vị trí địa lý thuận lợi tại trung tâm ĐBSCL, với hệ thống giao thông thủy và đường bộ phát triển, giúp kết nối dễ dàng với các tỉnh lân cận, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực thủy sản Khí hậu và thủy văn ổn định, ít chịu ảnh hưởng của thiên tai, tạo điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của các giống thủy sản bản địa và du nhập Địa hình bằng phẳng cùng với hệ thống sông rạch dày đặc, cùng nguồn nước ngọt phong phú từ sông Tiền và sông Hậu, đã tạo điều kiện thuận lợi cho nghề nuôi trồng thủy sản lồng bè và phân cấp nước cho các vùng nuôi tập trung khác trong tỉnh.
Nguồn lợi thủy sản và thủy sinh vật đa dạng trong hệ sinh thái sông rạch, đặc biệt là từ sông Tiền và sông Hậu thuộc hệ thống sông Mekong, tăng cường đáng kể vào mùa mưa lũ, góp phần làm phong phú thêm nguồn lợi thủy sản tự nhiên.
Chất lượng nước mặt tại các sông lớn như sông Tiền, sông Cổ Chiên và sông Hậu vẫn ở mức tốt, hỗ trợ sự phát triển của các loài thủy sản và cung cấp nguồn nước cho các khu nuôi thủy sản tập trung cũng như nuôi xen trong nội đồng.
Lực lượng lao động tại địa phương không chỉ dồi dào mà còn có trình độ cao, với truyền thống và tiềm năng mạnh mẽ trong đào tạo Hệ thống giáo dục bao gồm nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề phát triển, trong đó nổi bật là Trường Đại học Cần Thơ, sở hữu cơ sở vật chất và kỹ thuật hiện đại, đáp ứng tốt nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho ngành thủy sản.
Tỉnh này sở hữu lợi thế du lịch và vị trí gần thành phố Cần Thơ, tạo ra tiềm năng lớn cho phát triển du lịch sinh thái, nghề cá và tiêu thụ thủy sản trong nước.
Địa hình tỉnh có đặc điểm cao ở phía ngoài và thấp trũng ở phía trong, dẫn đến hiện tượng ngập úng, gây khó khăn cho việc cấp thoát nước và ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và thủy sản Hiện nay, hệ thống thủy lợi đang được xây dựng và hoàn thiện để cải thiện khả năng thoát nước, giảm thiểu tình trạng ngập úng trong mùa mưa lũ Tuy nhiên, vẫn cần đầu tư và hoàn chỉnh hơn nữa để đáp ứng nhu cầu sản xuất hiệu quả.
Dông và bão, mặc dù không thường xuyên xảy ra, nhưng khi xuất hiện, chúng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất của nhiều ngành kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực thủy sản.
Nguồn lợi thủy sinh vật đang suy giảm, đặc biệt là các giống loài có giá trị kinh tế, do tác động của các công trình thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong và biến đổi khí hậu Những yếu tố này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sinh tồn và phát triển của các giống loài thủy sản di cư hàng năm, dẫn đến mất tính đa dạng sinh học trong hệ sinh thái thủy vực Trong mùa khô, mực nước các sông chính giảm mạnh, gây ra sự suy giảm sinh khối, kiệt quệ môi trường thủy sinh và khó khăn trong việc cấp nước cho các ao nuôi thủy sản nội đồng.
Vấn đề bảo vệ và ổn định nguồn lợi thủy sản trong tương lai đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý và nhà khoa học Cần thiết phải có sự hợp tác chặt chẽ để tạo ra tiếng nói chung nhằm giải quyết những thách thức hiện tại và đảm bảo sự bền vững cho nguồn tài nguyên này.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của Tỉnh tuy đạt mức cao trong giai đoạn 2005 -
Từ năm 2010, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã có sự phát triển đáng kể, với cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, khi khu vực I giảm dần và khu vực II, III tăng lên Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch này vẫn chưa bền vững và diễn ra chậm.
GDP bình quân đầu người của khu vực ĐBSCL hiện thấp hơn mức trung bình của cả nước Đồng thời, việc huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực này vẫn chưa đạt mức tiềm năng, cần có các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư để thúc đẩy sự phát triển.
Gần thành phố Cần Thơ mang lại lợi thế đáng kể, nhưng cũng đồng nghĩa với việc phải đối mặt với sự cạnh tranh trong việc thu hút đầu tư và các nguồn lực bên ngoài, đặc biệt là nguồn lao động.
Mặc dù nguồn nhân lực dồi dào về số lượng, nhưng trình độ chuyên môn kỹ thuật vẫn còn thấp, đặc biệt là trong ngành nuôi trồng thủy sản (NTTS), nơi mà lao động chưa được đào tạo đáp ứng nhu cầu của ngành Hơn nữa, hiện tượng dịch chuyển lao động ra khỏi tỉnh cũng đang diễn ra.
Chất lượng giao thông nông thôn còn nhiều yếu kém, chưa đủ điều kiện hấp dẫn các thành phần kinh tế đầu tư