1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TangNhatA-Ham-MucLuc - TRANG 3-142

139 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu Tạng Thanh Vân
Trường học Nhà Xuất Bản Phương Đông
Thể loại Tài Liệu
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 2,36 MB

Cấu trúc

  • I. Kết Tập và Bộ Loại (0)
    • 1. Hình Thức Kết Tập (5)
    • 2. Ý Nghĩa Tăng N hất (9)
    • 3. Yếu Tố Đại Thừa (18)
  • II. Truyền Thừa và Truyền Dịch (26)
    • 1. Truyền Thừa (26)
    • 2. Hán Dịch (31)
  • I. Đối Chiếu Hán-Pãli (0)
  • II. Đơn Hành Bản (73)
  • III. Đối Chiếu Pãli-Hán (80)

Nội dung

Kết Tập và Bộ Loại

Hình Thức Kết Tập

Tăng nhất A-hàm (Skt Ekottarãgamà) được xem là bộ A-hàm thứ tư trong bốn bộ A-hàm, tuy nhiên thứ tự này không đồng nhất giữa các trường phái, phụ thuộc vào mức độ tôn trọng mà mỗi phái dành cho từng bộ.

Phật giáo, sau khi phân thành các bộ phái, mỗi bộ đều có một hệ thống Thánh điển riêng Tất cả các hệ Thánh điển này được cho là phiên bản của một hệ Thánh điển nguyên thủy, đã được kết tập lần đầu tại thành Vương xá bởi năm trăm Đại A-la-hán, được coi là hệ chính thống Tuy nhiên, nhiều dấu hiệu cho thấy không phải tất cả Phật ngôn được kết tập trong Đại hội này đều được thừa nhận là hoàn toàn trung thực Sự khác biệt ý kiến giữa Đại Ca-diêp và Phú-lâu-na, như được ghi chép trong luật Tứ phần và Tiểu phẩm Luật tạng Pãli, minh chứng cho điều này Dù sao, ý nghĩa chính thống vẫn cần được tôn trọng để duy trì sự hòa hiệp của Tăng đoàn sau khi đức Phật tịch diệt.

Hình thức và nội dung của Đại hội được ghi chép trong các tài liệu Hán tạng và Pãli đều nhất trí, cho thấy sự đồng thuận trong việc truyền thừa Thánh điển giữa các bộ phái Điều này khẳng định rằng các bộ phái này xuất phát từ một hệ nguyên thủy chung và được công nhận rộng rãi.

1 Tứ phần luật, quyển 54, T22 tr 968c

Trong 2 CũỊavagga, Pancasaikakkhandham, Vin ii 289, có thể thấy rằng mặc dù đa số các bộ phái có quan điểm chính thống, vẫn tồn tại một số khác biệt do cách nhìn nhận của từng phái Điểm khác biệt quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là thứ tự các kinh.

Một cách tổng quát, có hai loại hình thứ tự được ghi nhận:

(1) Trường, Trung, Tạp, Tăng nhất: thứ tự này được ghi chép trong Luật tạng của các bộ Ngũ phần (Hóa địa bộ),

Ma-ha-tăng-kỳ (Đại chúng bộ), Tứ phần (Đàm-vô-đức), và Pãli.

(2) Tạp (Tương ưng), Trung, Trường, Tăng nhất: thứ tự ghi bởi Ti-nại-da tạp sự của Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ.3

Trung gian còn có những thay đổi.4

Luật Tứ phần thuộc Pháp tạng bộ (Dharmagupta) phân loại các kinh điển thành bốn nhóm chính: Trường A-hàm gồm các kinh dài, Trung A-hàm cho các kinh vừa, Tăng nhất A-hàm từ một đến mười một sự, và Tạp A-hàm bao gồm các kinh liên quan đến Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, chư thiên, Đế Thích, Ma, và Phạm vương Các kinh điển này bao gồm những tác phẩm như Như thị kinh, Sanh kinh, Bản kinh, và Thiện nhân duyên kinh.

3 Ấn Thuận, Nguyên thủy Phật giáo Thánh điển chi tập thành,

Mô hình căn bản của các bộ phái Phật giáo vào năm 1993 bao gồm hai nhóm chính: (1) Đại chúng bộ với các thành phần Trường, Trung, Tạp (Tương ưng), Tăng nhất; (2) Thuyết nhất thiết hữu bộ với các thành phần Tương ưng, Trung, Trường, Tăng nhất Sau này, mô hình có sự phân chia chuyên sâu hơn, bao gồm (1) Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ với các thành phần Tạp, Trường, Trung, Tăng nhất; và (2) Đại chúng bộ mạt phái với thứ tự Tăng nhất, Trung, Trường, Tạp.

Theo Lâm Sùng An, từ hai loại hình căn bản, trung gian đã biến chuyển thành tám loại Trong tác phẩm "Phật học luận văn tuyển tập" (2008), ông nghiên cứu về sự hình thành của kinh điển A-hàm và nguyên lưu của kinh điển Đại thừa, trình bày chi tiết trong các trang 53-72.

Phương đẳng kinh, Vị tằng hữu kinh, Thí dụ kinh, Ưu-bà-đề-xá kinh, Cú nghĩa kinh, Ba-la-diên kinh, Tạp nan kinh, và Thánh kệ kinh là những bộ kinh tiêu biểu, tất cả đều được tập hợp thành Tạp tạng.

Thứ tự bộ loại này hoàn toàn phù hợp với Pãli, gồm năm tạng A-hàm tương đương năm bộ Nikăya.

Luật Ngũ phần6, thuộc Hóa địa bộ (Mahĩẩasãka), ghi nhận thứ tự tương tự với năm tạng A-hàm, nhưng có sự không nhất trí về hình thức kết tập Đại Ca-diếp đã hỏi A-nan về nơi Phật thuyết kinh Tăng nhất và kinh Tăng thập, tiếp theo là kinh Đại nhân duyên, Tăng-kỳ-đà, và Sa-môn quả Điều này đặt ra nghi vấn liệu Tăng nhất A-hàm có được kết tập trước tiên, trước khi đến Trường A-hàm hay không Sự đảo lộn thứ tự này có thể do sự phát triển sau này, nhưng nghi vấn này không hoàn toàn chính xác, vì Tăng nhất và Tăng thập đều thuộc trong Trường A-hàm, điều này vẫn còn được ghi nhận trong bản Hán dịch hiện tại.

Pháp tạng và Hóa địa đều là những bộ phân nhánh từ Thượng tọa bộ (Sthãvira) nên hệ thống Thánh điển truyền thừa có thể gần nhất trí.

Tăng nhất A-hàm Hán dịch được ghi nhận là bộ kinh quan trọng nhất trong các bộ Thánh điển, với thứ tự được đặt lên hàng đầu Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bộ kinh này thuộc Đại chúng bộ.

5 Tứ phần luật quyển 54, T22 tr 968b

6 Ngũ phần luật quyển 30, T 22 tr 191al5

7 Lâm Sùng An, sách dẫn trên

Theo luật Tăng-kỳ, thứ tự các bộ kinh được ghi là Trường, Trung, Tạp, Tăng nhất, và Tạp tạng là bộ cuối cùng Điều này khác với thứ tự được đề cập trong Mahãsanghika.

Do sự không nhất trí như vậy, cho nên quan điểm được bổ túc là cho rằng đây thuộc Đại chúng bộ hậu kỳ.10

Tăng Nhất A-hàm Hán dịch thuộc Đại Chúng Bộ, điều này có cơ sở vững chắc Trong phẩm 33, kinh số 2, câu chuyện kể về Tôn giả Thi-bà-la được gia chủ cúng dường.

“trăm nghìn lượng vàng” nhưng không nhận, nói rằng

Phật không cho phép Tỳ-kheo nhận trăm ngàn lượng vàng, nhưng khi gia chủ thỉnh nguyện, Ngài đã cho Thi-bà-la nhận số vàng này để gia chủ được phước Thi-bà-la, được xác nhận là vị Thanh văn giàu có nhất, không có nơi nào ghi nhận việc Phật cho phép nhận vàng cúng dường Điều này cho thấy các Đại chúng bộ đã hợp pháp hóa việc Tỳ-kheo nhận tiền, dẫn đến đại hội kết tập lần thứ hai tại Tì-da-ly Quy định Tỳ-kheo không được cầm nắm và cất giữ vàng bạc, tiền nằm trong điều khoản ni-tát-kỳ ba-dật-đề, được công nhận bởi tất cả các luật bộ của các phái trong ba hệ ngôn ngữ.

8 Lữ Trừng, Ấn độ Phật học nguyên lưu lược giảng, Lữ Trừng Phật học luận trước tuyển tập, tập iv, tr 2018

Trong quyển 32 của Ma-ha-tăng-kỳ, trang 491, đoạn 6, Tôn giả Đạo Lực đã nghe về các bộ kinh như Tì-ni, A-tì-đàm, Tạp A-hàm, Tăng nhất A-hàm, Trung A-hàm và Trường A-hàm, được kể theo thứ tự ngược tại trang 492, đoạn 8.

10 Ấn Thuận, Nguyên thủy Phật giáo Thánh điển chi tập thành,

Lịch sử truyền dịch hiện còn từ các nguồn Pãli, Hán và Tây Tạng đều nhất trí về nội dung Nguyên văn Hán dịch hoàn toàn phù hợp với văn Pãli, tuy nhiên nguyên văn Phạn bản do Pachow và Ramakanta phát hiện có sự khác biệt Sự thay đổi này có thể đã xảy ra sau đại hội kết tập Tì-da-li, cho thấy sự phát triển của chế độ Tăng già đã trải qua nhiều giai đoạn biến đổi về kinh tế, chính trị và xã hội, ảnh hưởng đến đời sống và hành đạo của các Tỳ-kheo.

Ý Nghĩa Tăng N hất

Việc đặt Tăng nhất lên hàng đầu trong thứ tự liệt kê không chỉ là sự ngẫu nhiên hay vấn đề tiện lợi, mà còn phản ánh mối quan hệ giữa Tăng đoàn hoằng pháp và quần chúng, điều này rất quan trọng cho sự phát triển của Đại thừa Do đó, thứ tự mà Đại trí độ trình bày cũng cần được chú ý Mặc dù có ý kiến cho rằng tác giả của Đại trí độ không phải là Long Thọ của Trung Quốc.

12 So sánh, văn Pãli (Vin iii tr 237): yopana bhikkhu jãtarũparajatam ugganheyya vã ugganhãpeyya vã upanikkhittam vãsãdiyeyya, nissaggiyampãcittiyan’ti Hán, T22 tr 55lclO:

• 3 g { £ Á ỉ Ễ ° m m m • ĨẼ ° Skt.: 20 yo punabhiksur anekavidham jãtarũparajatavikrtivyavahãrariĩ samãpadyeya nihsargika pãcattikamịị

13 Đại trí độ, quyển 3, T26 tr 69c4: ;Ẩ;ỉỊllftsnPãJit • 'iĩt m k m s À ’ m ím H Íẩ : ử ' o -

11 ỉuận,u điều chắc chắn không thể phủ nhận đây là tác phẩm lớn của Đại thừa Đại trí độ chấp nhận thứ tự các

A-hàm như thế, điều này muốn nói rằng Thánh điển nguyên thủy mà các nhà Đại thừa trong truyền thừa của luận Đại trí độ là các A-hàm của Đại chúng bộ, hay rõ hơn, Đại chúng bộ hậu kỳ Thế nhưng, không phải tất cả Đại thừa đều tụng A-hàm của Đại chúng bộ như là Thánh điển chính thống Luận Du-già sư địa, phái Du-già hành truyền thừa bởi Vô Trước, đưa Tạp A-hàm lên hàng đầu và xem như bộ phận nền tảng của toàn bộ Phật ngôn Các điểm giáo nghĩa của Tạp A-hàm được luận giải trong Du- già sư địa chứng tỏ phần A-hàm này được kết tập bởi các nhà Hữu bộ (sarvãstivãdin).15 Vậy, chỉ một bộ phận của Đại chúng bộ về sau phát triển thành Đại thừa, hay được chấp nhận bởi các nhà Đại thừa Nhiều chi tiết trong Tăng nhất này cung cấp một số dữ kiện để lý giải ý nghĩa lịch sử này.

Thứ nhất, về yếu tố vừa mang tính hệ thống, vừa mang hàm tàng nghĩa lịch sử.

Trước khi nhập Niết-bàn, Đức Phật đã nêu bốn nguyên lý, gọi là bốn “đại giáo pháp” 16 v ề sau, khi các bộ phái

14 Etienne Lamotte, Le Traité de la Grande Vertue de Sagesse,

Tom iii, “Introduction.” Bác bỏ ý kiến của Lamotte, xem: K Venkata Ramanan, Nãgãrjuna’s Phylosophy, 2002;

15 Lữ Trừng, Tạp A-hàm kinh san định ký Lữ Trưng Phật học luận trước tuyển tập i

Trong phần II của "Du hành" tại Trường A-hàm, kinh số 2, bốn đại giáo pháp ỈZ3Aífc'Ẻ và bốn quyết định thuyết Pl.: cattãro mahãpadesã được trình bày rõ ràng Bốn nhân do phổ biến trong đó xác định rằng giáo pháp được thiết lập một cách không nghi hoặc Tham khảo ẩiksasamuccơya, 63: kãlopadeẳamahãpradesãnapahãya, Hán dịch, Tập Bồ-tát học.

Lịch sử truyền dịch đã chứng kiến nhiều tranh luận về giáo nghĩa, trong đó bốn nguyên lý chính được sử dụng để khẳng định quan điểm chính thống và loại bỏ những kinh điển không được các bộ phái thừa nhận Thực tế, chưa có đại luận sư nào được công nhận hoàn toàn vượt qua ảnh hưởng của truyền thống và thời đại của mình để truyền đạt giáo lý Phật một cách chân thực.

Việc xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh cho toàn bộ Phật ngôn là rất quan trọng, tương tự như việc không cần phải thử hết nước trong mọi con sông để cảm nhận được hương vị của nó Tính hệ thống trong Phật ngôn cũng mang ý nghĩa tương tự, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về triết lý và giáo lý của Phật giáo.

Tính hệ thống trong việc tập hợp Phật ngôn là cần thiết để tạo ra một hệ thống giáo nghĩa mạch lạc và hoàn chỉnh, giúp nhận thức sâu sắc và phổ quát về giáo lý Điều này không chỉ liên quan đến việc học hỏi và ghi nhớ, mà còn bảo vệ tính thống nhất và chính thống của giáo nghĩa Mặc dù hai yêu cầu này đã được Đức Phật và các đại đệ tử nhấn mạnh, nhưng chúng không được duy trì nguyên vẹn qua lịch sử do những áp lực từ thời đại và địa lý.

Trong 45 năm liên tục thuyết pháp, cho đủ mọi thành phần xã hội, những đề tài được nhắc đến trong Phật ngôn thật vô cùng đa dạng, vượt ngoài khả năng tư duy của luận 5 (T 1636) ^'fÊcl£!ft$Ể/Sllt;Ả;Ì$Ề bất y thời thuyết cập quảng đại thuyết

Trong Thuận chính lý, có nhiều trường hợp mà một số kinh điển do Hữu bộ dẫn chứng không được Thế Thân hay các bộ khác như Kinh bộ và Thí dụ bộ thừa nhận.

Trong cuộc sống, con người thường chỉ bình thường, ngoại trừ một số ít người có trí tuệ vượt trội Để hiểu được tinh túy của giáo nghĩa Phật, cần phải học hỏi một cách hệ thống từ những chủ đề cơ bản và sau đó đi sâu vào các giáo lý Việc này yêu cầu sự kiên trì trong quá trình học tập và tu tập theo những nguyên lý của Phật giáo.

“Một thời, Đức Phật đến nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Câp-cô-độc.

Tôn giả A-nan, sau khi rời chỗ ngồi tĩnh tọa, đã dẫn các tỳ-kheo niên thiếu đến chỗ Phật, cúi lạy dưới chân Ngài và ngồi sang một bên Các tỳ-kheo niên thiếu cũng thực hiện cúi lạy tương tự trước khi ngồi xuống bên cạnh.

“Tôn giả A-nan bạch rằng:

Bạch Đức Thế Tôn, con cần răn bảo và dạy dỗ các tỳ-kheo niên thiếu này một cách thích hợp Con sẽ thuyết pháp cho họ nghe để giúp họ hiểu rõ hơn về giáo lý và thực hành đúng đắn.

“Đức Thế Tôn bảo rằng:

A-nan, hãy chia sẻ và giảng dạy về quê hương cho các tỳ-kheo trẻ Khi ông truyền đạt kiến thức về quê hương, họ sẽ tìm thấy sự an ổn, sức mạnh và hạnh phúc, giúp thân tâm không bị phiền nhiễu, từ đó có thể tu hành phạm hạnh suốt đời.

Bài viết này tập trung vào ba yếu tố chính trong giáo nghĩa: xứ (ãyatana), uẩn (skandha) và giới (dhãtu) Mỗi yếu tố này không chỉ bao hàm các khía cạnh cơ bản của thân, tâm và thế giới, mà còn thể hiện mối quan hệ tác động lẫn nhau, từ đó làm sáng tỏ bản chất của sự tồn tại Qua đó, chúng ta có thể nhận diện giới hạn của đau khổ và hiểu rõ hơn về ý nghĩa của cuộc sống.

18 Trung A-hàm, kinh số 86 “Thuyết xứ”, Việt dịch, Tuệ Sỹ

Lịch sử truyền dịch giới hạn của hạnh phúc khám phá biên tế tận của thế giới và nhân sinh Hệ thống này cho phép người học tự khám phá từng bước, trải qua các giai đoạn từ thấp đến cao, từ cạn đến sâu Tốc độ tiến bộ phụ thuộc vào căn khí của mỗi cá nhân.

A-nan thuộc hàng đệ tử đa văn, là vị đa văn đệ nhất, với khả năng ghi nhớ Phật ngôn vô cùng rộng rãi Trong kho tàng Phật ngôn bao la ấy, làm thế nào để hướng dẫn hàng hậu bối, các Tỳ-kheo trẻ, học và hiểu; khi mà khả năng nhận thức hạn chế Bắt đầu từ đâu, và tiến hành như thế nào; đây là suy nghĩ của A-nan, và trình mối ưu tư ấy lên Phật Đức Phật chỉ dẫn A-nan lập thành một hệ thống bao hàm của Phật ngôn với ba bộ phận uẩn-xứ-giới ấy.

Yếu Tố Đại Thừa

Yếu tố Đại thừa trong Tăng nhất được thể hiện rõ ngay từ phần Tựa Cần lưu ý rằng Tăng nhất A-hàm Hán dịch thuộc về Thánh điển của Đại chúng bộ giai đoạn hậu kỳ Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng ta cần xem xét thêm một số dữ liệu Đầu tiên, để hiểu mối liên hệ giữa tiền kỳ và hậu kỳ của Đại chúng bộ trong việc soạn tập và truyền thừa Tăng nhất, chúng ta nên đọc lại luật Ma-ha-tăng kỳ liên quan đến đại hội này Điểm chung với các bộ khác là thành phần tham dự đều là A-la-hán, do đó, A-nan chỉ được chấp nhận sau khi đã được xác nhận chứng quả A-la-hán Một điểm quan trọng trong thể thức kết tập mà hầu hết các bộ đề cập là thủ tục yết-ma (karmavãcanã/kammavãcã) Sau mỗi kinh, Ca-diếp với vai trò chủ tọa sẽ hỏi ý kiến đại hội; ai đồng ý thì im lặng, ai không đồng ý thì lên tiếng Mặc dù luật Ma-ha-tăng-kỳ không mô tả chi tiết thể thức biểu quyết của đại hội, nhưng có ghi nhận việc A-nan yêu cầu các trưởng lão thực hiện quyền phủ quyết.

22 Sa-di oai nghi, Tống cầu-na-bạt-ma dịch, T24 tr 935a; Đạo Tuyên, Tùy cơ yểt-ma, T40 tr 496c

Lịch sử truyền dịch cho thấy rằng "già yết-ma" được sử dụng để bác bỏ những gì A-nan đã thuyết trình mà không được tín nhiệm Theo quy tắc yết-ma, trong tất cả các luật của Đại chúng bộ và các bộ khác, những người không đủ tư cách thành viên không được phép tham dự nghe các phát biểu trong đại hội, kể cả chư thiên.

Vấn đề được nêu ra trong phầm Tựa Tăng Nhất là sự tham dự của các chư thiên, Đế Thích, và Phạm Thiên bên cạnh các trưởng lão A-la-hán, cùng với việc hội đủ bốn chúng Theo Luật, những ai không thọ cụ túc phải rời khỏi khu vực khi Tăng cử hành yết-ma, do đó sự tham dự của chư thiên trong hội nghị của các trưởng lão A-la-hán là không được chấp nhận Điều này cho thấy yếu tố bình dân đã được đưa vào Kinh, phản ánh mức độ phổ biến rộng rãi của Tăng Nhất trong cộng đồng Đồng thời, đây cũng là yếu tố góp phần phát triển "phong trào Đại thừa" trong hàng đệ tử của Phật.

Vì tường thuật của phẩm Tựa về đại hội kết tập không nhất trí với luật Ma-ha-tăng-kỳ, nên Tăng nhất Hán dịch ban đầu không được công nhận là Thánh điển riêng biệt của Đại chúng bộ Tuy nhiên, với yếu tố Đại thừa hiện diện trong đó, nhiều quan điểm cho rằng Đại thừa là sự phát triển cao của Đại chúng bộ, dẫn đến ý kiến rằng Kinh này thuộc về giai đoạn hậu kỳ của Đại chúng bộ.

Chưa có dữ liệu xác đáng để phân định giữa tiền kỳ và hậu kỳ của Đại chúng bộ, đặc biệt liên quan đến sự kiện "Đại Thiên ngũ sự" Đại chúng bộ được biết đến với việc hạ thấp giá trị A-la-hán, không phải là việc giảm thiểu lý tưởng tu tập mà là nhấn mạnh cứu cánh hướng đến thành Phật Điều này thể hiện một quan điểm khác về mục tiêu tu hành, cho thấy sự chuyển hướng trong tư tưởng Phật giáo.

Có 21 phẩm chất của A-la-hán, và căn khí của mỗi đệ tử không giống nhau, dẫn đến thành tựu cứu cánh cũng khác biệt Điều này là hiển nhiên Theo truyền thuyết, từ khi Tỳ-kheo Đại Thiên (Mãhadeva) xuất hiện và đưa ra năm luận điểm, phẩm cách của A-la-hán đã bị triệt hạ, khiến giáo đoàn phân chia thành hai nhánh: Đại chúng và Thượng tọa.

Trong Đại thừa, Du-già hành tông phát triển sau cùng nhưng vẫn tôn kính phẩm cách A-la-hán như nguyên thủy Luận Duy thức tam thập tụng của Thế Thân mô tả cứu cánh thành Phật với các phẩm tính như “An lạc”, “Giải thoát thân” và “Đại Mâu-ni” Trong đó, “Giải thoát” được hiểu là kết quả của việc đoạn trừ phiền não chướng, cho thấy rằng các Thanh văn cũng đạt được Giải thoát thân Do đó, A-la-hán có vai trò trong thành tựu cứu cánh của Phật.

Trong Tăng nhất, phẩm cách A-la-hán được tôn trọng, thể hiện rõ trong luật Ma-ha-tăng-kỳ, thánh điển chủ yếu của Đại chúng bộ Không có bất kỳ thái độ miệt thị nào đối với phẩm cách A-la-hán, vì vậy cần phân biệt giữa việc hạ thấp lý tưởng và hạ thấp phẩm cách.

Tăng nhất này chứa đựng các yếu tố mầm móng của Đại thừa, được thể hiện rõ ràng qua hai nhóm chính: yếu tố xã hội và yếu tố giáo nghĩa Trong đó, yếu tố xã hội nổi bật hơn cả, không chỉ liên quan đến các vấn đề tồn tại của xã hội mà còn bao gồm các khía cạnh như xung đột giai cấp và cạnh tranh sinh tồn.

23 Giải thích bởi Sthiramati, kleảãvaranaprahãnãt ẳrãvakãm vimuktikãya Xem Thành duy thức, Tuệ Sỹ, 2009; tr 752

Lịch sử truyền dịch kinh tế, chính trị và an ninh được đề cập trong Tăng Nhất không phong phú như trong Trường A-hàm Hán dịch và Trường Bộ Kinh Pãli Tăng Nhất tập trung vào yếu tố xã hội, đặc biệt là sự hiện diện của quần chúng bình dân, phản ánh bản chất và tồn tại của xã hội.

Trong Tăng nhất đại bộ, thành phần nghe pháp chủ yếu là Tỳ-kheo, tương tự như trong các A-hàm khác Tuy nhiên, cách diễn giải pháp không mang tính kinh viện mà được trình bày theo cách thông tục, dễ hiểu Điều này cho thấy sự hiện diện và tham gia của quần chúng bình dân trong việc tiếp cận giáo lý.

Pháp duyên khởi, một khái niệm quan trọng trong kinh điển, được nhấn mạnh qua đoạn kinh mà A-nan bày tỏ sự ngạc nhiên về sự sâu xa của mười hai duyên khởi mà Đức Phật đã dạy Đức Phật đã chỉ ra rằng, mặc dù A-nan cảm thấy nó dễ hiểu, nhưng thực chất, ánh sáng của mười hai duyên khởi là rất sâu sắc và khó nắm bắt Ngài cũng cảnh báo rằng những người chưa thấy duyên sẽ khó khăn trong việc quán sát và phân biệt nghĩa lý của nó Kinh này tập trung vào việc làm rõ ý nghĩa sâu và cạn của pháp duyên khởi, cho thấy rằng mặc dù có thể nhận thức được một phần, nhưng để hiểu thấu đáo thì vẫn cần có sự sâu sắc trong tư duy.

Bài kinh này được giải thích qua một câu chuyện cổ về vua A-tu-la, người muốn bốc mặt trời và mặt trăng từ đáy biển Ông hiện ra với thân hình to lớn, nhưng khi con ông thấy mặt nước chỉ ngang hông, cậu tưởng biển cạn và muốn lặn xuống tắm Dù cha cản ngăn, cậu vẫn không tin và bị thả xuống biển, nhận ra rằng biển sâu hơn nhiều so với vẻ bề ngoài Qua đó, bài kinh minh họa ý nghĩa triết học sâu sắc về sự hiểu biết và nhận thức Sớ giải Pãli của A-nan cho rằng ánh sáng duyên khởi rất sâu xa nhưng lại hiển nhiên, với ví dụ về nước cạn có màu đen vì lá mục, khiến người ta thấy như sâu, trong khi nước sông Hằng trong suốt lại khiến người ta nghĩ là cạn dù thực tế rất sâu.

Pháp duyên khởi là một khái niệm sâu sắc và khó hiểu đối với những người thiếu trí tuệ Kinh điển ghi chép rằng trước khi thuyết pháp, Đức Phật đã cảnh báo rằng pháp duyên khởi mà Ngài chứng ngộ rất khó để chúng sinh, đặc biệt là những người có tâm tham ái, có thể hiểu được Ngay cả A-nan, người có trí tuệ vượt trội, cũng chưa thể thấu hiểu hết những tầng sâu hay nông của pháp duyên khởi.

Tăng nhất đã sử dụng hình thức minh họa cổ tích để giúp mọi người, từ những người có căn trí bình thường đến những người có hiểu biết sâu sắc, dễ dàng tiếp cận và hiểu nội dung Điều này chứng tỏ rằng Tăng nhất tập hợp các kinh điển thường được giảng giải cho một đối tượng rộng rãi, bao gồm cả tăng ni và người dân, nhằm phục vụ cho quảng đại quần chúng Vì lý do này, mức độ kể chuyện trong Tăng nhất phong phú hơn so với các A-hàm khác.

Truyền Thừa và Truyền Dịch

Truyền Thừa

Ngoài Tăng nhất A-hàm Hán dịch hiện tại thuộc Đại chúng bộ hậu kỳ, các bộ phái khác cũng có những bộ phận Tăng nhất riêng, ví dụ như phần Tăng chi bộ - Anguttara-nikãya trong truyền thống Pãli.

Luận Đại tì-bà-sa chỉ ra rằng, trong kinh Tăng nhất A-cấp-ma, từ một pháp đến trăm pháp đã bị mai một, hiện chỉ còn từ một đến mười, và trong số này, phần lớn cũng đã thất lạc Điều này cho thấy rằng Hữu bộ có riêng Tăng nhất, nhưng phần lớn nội dung của nó đã không còn được truyền lại.

Trong Hán tạng Đại chánh tân tu hiện hành, có bản dịch của An Thế Cao với đề kinh là Thất xứ tam quản kinh, bao gồm 47 kinh Các biên tập viên đã xếp nó vào loại kinh dị dịch của Tăng Nhất Đại sư An Thuận đã chỉnh lý nội dung các kinh này, nhằm phỏng đoán rằng chúng đồng nhất với bản dịch được nhắc đến trong Xuất tam tạng kỷ tập của Tăng Hựu, cụ thể là “Tạp kinh 44 thiên 2 quyển” kèm theo lời chú.

Ngài Đạo An cho rằng nguồn gốc của văn bản này là từ Tăng Nhất A-hàm, nhưng không có đề kinh và chưa xác định được dịch giả Qua các đối chiếu, các biên tập viên của Đại Chánh Tân Tu không tìm thấy kinh nào trong số 47 kinh này tương đương với Tăng Nhất Hán dịch hiện tại, tuy nhiên, phần lớn lại có sự tương đồng nhất định.

25 Tì-bà-sa quyển16, T27 tr 79b8

26 Tăng Hựu, Xuất tam tạng ký tập, quyển 2, T55 tr 6al3.

Lịch sử truyền dịch các kinh trong Tăng Chi Bộ Pãli và một số tương đương trong Tương Ưng Bộ cho thấy lời chú của Tăng Hựu có thể có cơ sở Tuy nhiên, theo kết luận của Đại sư Ấn Thuận, vẫn chưa xác định được kinh này thuộc về bộ phái nào.

Trong bối cảnh hiện tại, Tăng nhất trong Hán tạng được công nhận là thuộc Đại chúng bộ hậu kỳ, tương đương với Tăng chi bộ của Thượng tọa bộ Pãli, mặc dù chưa hoàn toàn tuyệt đối Hiện chưa có phát hiện nào về bộ phận Thánh điển tương đương trong các bộ phái khác Về lịch sử truyền thừa của Tăng nhất, theo phẩm Tựa, sau khi được kết tập, Bồ-tát Di-lặc đã khuyến khích các Bồ-tát trong Hiền kiếp hãy khuyên nhủ các tộc tánh nam, nữ phúng tụng và thọ trì Tôn pháp Tăng nhất, đồng thời phổ biến để mọi người, từ trời đến người, đều thực hành Nhiệm vụ lưu truyền này được giao phó trước hết cho hàng tại gia, bao gồm cả chư thiên, quỷ thần và loài người.

Tôn giả A-nan đã phú chúc Tăng nhất cho tỳ-kheo Ưu-đa-la, điều này được giải thích bởi lịch sử nhiều kiếp trước của Ưu-đa-la, khi ông đã được phú chúc lưu truyền pháp Tăng nhất từ thời đức Phật Tì-bà-thi cho đến thời Phật Ca-diếp A-nan dẫn chứng rằng sự lưu truyền này tương tự như truyền thống của các vương triều, nơi pháp của các vua được truyền từ cha sang con một cách liên tục và không gián đoạn, nhấn mạnh tính chính thống của các dòng họ.

27 Ấn Thuận, sách đã dẫn, tr 761-3

Vô Trước trong phần chú giải kinh Kim cang bát-nhã đã nhấn mạnh về ân đức và sự phú chúc của các Như Lai đối với Bồ-tát, bao gồm giáo dục và hỗ trợ để Bồ-tát trưởng thành Sau đó, Như Lai phú chúc chánh pháp cho các Bồ-tát nhằm duy trì chủng tánh bất đoạn, tức là dòng họ Như Lai, dòng họ của Giác ngộ Giống như pháp của Chuyển luân vương cần được duy trì liên tục qua các thế hệ để đảm bảo trật tự và an lạc cho nhân dân, chủng tộc Như Lai cũng cần được bảo tồn để mang lại an lạc cho chúng sanh trong thế gian.

Ý niệm về sự truyền thừa liên tục để bảo đảm tính chính thống không chỉ xuất hiện trong sự phát triển của Đại thừa mà còn từ khi Tăng già phân phái Tính chính thống được trọng thị và chỉ được bảo đảm qua sự truyền thừa trực tiếp từ thầy đến trò Một ví dụ điển hình là tường thuật của Thượng tọa bộ về đại hội Vương xá, trong đó không nhấn mạnh sự truyền thừa chính thống mà chỉ đề cập đến sự kiện của Trưởng lão Purana từ Nam sơn cùng với 500 Tỳ-kheo đến tham dự sau khi đại hội kết thúc Tăng đã thông báo kết quả và đưa ra khuyến cáo.

Hiền giả Purana được nhắc nhở rằng Pháp và Luật đã được các Tỳ-kheo Trưởng lão kết tập và khuyến khích ông thọ trì đọc tụng Tuy nhiên, Purana khẳng định rằng ông chỉ thọ trì những gì mà bản thân ông trực tiếp nghe từ Tế Tôn, cho thấy sự tôn trọng đối với nguồn gốc và tính chân thực của giáo lý.

28 Kim cang bát-nhã luận, Vô Trước Bồ-tát tạo, No 1510, T25 tr 757a

Cho đến thời Buddhaghosa, một phả hệ truyền thừa luật được xem là chính thống bắt đầu từ Ưu-ba-li, truyền xuống qua các đệ tử như Đại Tượng Câu, Tô-na-câu, Tất-già-phù, Tối Thăng Tánh và Mục-kiền-liên Tử Đế-tu, tất cả đều được truyền khẩu Đồng thời, Đại chúng bộ cũng xác nhận một phả hệ truyền thừa riêng, bắt đầu từ Ưu-ba-li, tiếp theo là Đà-sa-bà-la, Thọ-đề-đà-sa và truyền xuống đến Đạo Lực.

Tính cách truyền thừa chính thống của Luật tạng được coi trọng hơn Kinh, nhờ vào tính hợp pháp của cộng đồng Tăng lữ Sự nhấn mạnh vào tính chính thống này có thể xuất phát từ nhu cầu chứng minh sự hợp pháp của bộ phái trong bối cảnh mở rộng.

Sau sự phú chúc của A-nan cho Ưu-đa-la, luận Phân biệt công đức tường thuật tình hình lưu truyền Tăng nhất như sau:

Kinh này có 100 sự kiện, trong đó A-nan phú chúc cho Ưu-đa-la Sau mười hai năm, A-nan nhập niết-bàn, và các tỳ-kheo chỉ chuyên tâm vào việc tọa thiền, bỏ qua việc tụng đọc Họ cho rằng tọa thiền là phương pháp cao nhất trong ba nghiệp mà Phật dạy Mười hai năm sau, Tỳ-kheo Ưu-đa-la cũng nhập niết-bàn.

Kinh này đã mất đi 90 sự kiện do việc truyền bá giữa thầy trò Pháp sư chỉ thông qua khẩu truyền, không chấp nhận ghi chép bằng văn tự.

30 Thiện kiến luật Ti-bà-sa, quyển 1, T24 tr 77b

31 Ma-ha-tăng-kỳ luật, quyển 32, T22 tr 493a

31 giờ những điều được truyền chỉ mười một sự là hết Từ đó truyền cho đến nay như văn hiện có vậy.”32

Truyền bản gốc Phạn cho Tăng nhất hiện tại được cho là do Đàm-ma-nan-đề (Dharmanandi) đến từ Đâu-khư-lặc (Tukhãra) tụng đọc Sư đến Hoa vào thời Kiến nguyên (365-385) Như bài Tựa của Đạo An viết cho Tăng nhất, khi Sư đến Hoa, những người đồng hương ngoại quốc rất trọng vọng ông Nhờ đó, Sư được vua Tần Phù Kiên tiếp đãi nồng hậu Sau đó, theo thỉnh cầu của Thái thú Triệu Chính, dưới sự chủ trì của Đạo An, việc dịch thuật được tiến hành.

Hán Dịch

Bản Tăng Nhất Hán dịch ấn hành trong Đại Chánh là phiên bản duy nhất, được dịch bởi Tam Tạng người Kê-tân (Kasmữa), Cu-đàm Tăng-già-đề-bà.

35 Tây vực ký, quyển I, T 51 tr 872a5: Đổ-hóa-la quốc, cũ gọi là Đổ-hỏa-la Ị lítlI I I I (HBỌ±)Jc]fÌlll).

36 Thiện kiến luật quyển 2, T24 tr 684c

Trong Tựa Tăng nhất A-hàm, Đạo An đề cập đến Sa-môn Đàm-ma-nan-đề (Dharmanandi), người nước Đâu-khư-lặc, xuất gia từ nhỏ và có học thức rộng rãi Ông đã đọc thuộc hai bộ A-hàm, kết hợp giữa cái cũ và cái mới, và đã đi qua nhiều quốc gia Vào năm Kiến nguyên thứ hai mươi triều đại Tần (384), ông đến Trường An, nơi được đông đảo người ngoại quốc ca tụng Thái thú Triệu Văn Nghiệp đã mời ông phiên dịch, và Trúc Phật Niệm đã đảm nhận việc dịch thuật, hoàn thành vào mùa xuân năm sau.

Bài viết đề cập đến 41 quyển kinh, được chia thành hai bộ: bộ thượng gồm 26 quyển còn nguyên vẹn và bộ hạ gồm 15 quyển bị thiếu các bài kệ lục Tác giả cùng với Pháp Hòa đã khảo chính và bổ sung những chỗ thiếu sót với sự hỗ trợ của Tăng Mậu, quá trình này kéo dài 40 ngày Cuối cùng, khi hiệp cả hai bộ thượng và hạ lại, tổng cộng có 472 kinh.

Bản lưu hành hiện tại trong Đại chánh bao gồm 472 kinh, được phân thành 51 quyển, khả năng đồng nhất với bản mà Đạo An viết tựa Tiểu sử Đàm-ma-nan-đề được tóm tắt trong bài Tựa của Đạo An, với các chi tiết được ghi chép rõ ràng.

Cao tăng truyện Chi tiết này cũng không nhiều lắm, ngoài sự kiện dịch Tăng nhât cùng hai bộ nữa nhăc đên là

A-tì-đàm tâm luận và Tam pháp độ ỉuận.ĩ9 Sau các công trình phiên dịch chừng ấy, Sư trở về nước, không biết về sau ra sao.

38 Xuất tam tạng ký tập, dẫn trên Tăng nhất A-hàm kinh tự, T2 tr

39 Cao tăng truyện, Huệ Hạo, quyển 1, T50 tr 328bl9 tt

Ngoài ba bản dịch kể trên, Lịch đại Tam bảo ký tổng kết tất cả có 5 bản dịch, trừ Ti-đàm-tâm không được nhắc đến Kể thêm:

- Trung A-hàm, 59 quyển, xuất năm Kiến nguyên 21 (tl

385), bản Hán dịch đầu tiên; Trúc Phật Niệm bút thọ.

- A-dục vương thải tử hoại mục nhân duyên kinh, 1 quyển.

- Tãng-già-la-sảt tập, 2 quyển.40

Trong số năm kinh điển, Trung A-hàm và Tăng Nhất được nhắc đến cùng với A-tì-đàm tâm luận và Tam pháp độ luận Theo Cao tăng truyện, các tác phẩm này được dịch bởi Đàm-ma-nan-đề, trong khi Lịch đại Tam bảo kỷ ghi nhận dịch giả là Cù-đàm Tăng-già-đề-bà, với chú thích rằng bản dịch của Đàm-ma-nan-đề có những điểm tương đồng và khác biệt Điều này tạo cảm giác rằng có ít nhất hai bản dịch Tăng Nhất mà Phí Trường Phòng đã sử dụng để tham khảo Tuy nhiên, thực tế cho thấy không có bản dịch nào do Đàm-ma-nan-đề tự tay dịch sang Hán văn, ngay cả khi chỉ là dịch miệng cho người khác chép lại, như trường hợp của hai bộ Trung và Tăng Nhất.

Tăng Hựu cho biết Nan-đề đã đọc “bản Hồ” và Trúc Phật Niệm dịch xuất Trong các ghi chép của Tăng Hựu và Tăng Hạo, không có đề cập đến sự tham gia của Tăng-già-đề-bà trong các bản dịch này.

Trong thư mục của Tăng Hựu, Tăng-già-đề-bà hoạt động trong khoảng Tấn Hiếu Vũ đế và An đế (tl 373-418),

40 Lịch đại Tam bảo kỷ, quyển 8, T49 tr 75c24 tt

41 Sách dẫn trên, quyển 7, tr 70cl 1

42 Xuất Tam tạng ký tập, quyển 2, T55 tr 10b24

35 phiên dịch được 6 bộ, không thấy nhắc đến Tăng nhất A- hàm.43 ’

Tiểu sử Tăng-già-đề-bà được ghi chép trong Xuất tam tạng ký tập đã được tóm tắt trong phần giới thiệu lịch sử truyền dịch của Trang A-hàm, cụ thể là ở mục “Tổng mục lục”, do đó không cần thiết phải lặp lại nội dung này.

Theo ghi chép của Tăng Hựu và mục lục của Phí Trường Phòng, có khả năng bản dịch Tăng nhất được thực hiện từ khẩu tụng của Đàm-ma-nan-đề, do Tăng-già-đề-bà chuyển ngữ và Trúc Phật Niệm chép lại Đại sư Ấn Thuận cũng đã chỉ ra rằng trong các ấn bản Đại tạng Tống-Nguyên-Minh, cuối kinh có ghi phụ chú.

Bài viết đề cập đến "Tăng nhất A-hàm" với 11 pháp và 25 vạn thủ-lô, tổng cộng 80 vạn âm tiết, bao gồm 555 câu văn như thị nhất thời Thủ-lô, hay thủ-lô-ca (Skt sloka), là thể loại thi tụng phổ biến trong các sử thi theo âm luật anustub, mỗi sloka gồm 32 âm tiết chia thành bốn chân Tổng số âm tiết được thống kê là 80 vạn, dựa trên bản Phạn Số lượng kinh hiện có nhiều hơn so với bản hiện tại và số liệu do Đạo An thống kê Ngài An Thuận kết luận rằng bản kinh mà Đàm-ma-nan-đề đọc có nhiều sai sót, phản ánh tình hình tổng quát về bản Hán dịch hiện nay.

43 Sách dẫn trên, tr 10c7-cl4

44 Ấn Thuận, sách dẫn trên, tr 760

TOÁT YÉU NỘI DƯNG CÁC KINH

Văn phẩm tựa gồm hai phần:

Phần đầu, thể kệ tụng, tường thuật diễn tiến cuộc kiết tập kinh điển lần thứ nhất tại Vương xá, trong đó Tăng nhất được xem là căn bản.

Phần hai, thể văn trường hàng, vấn đáp giữa Bồ-tát Di- lặc và A-nan về sự lưu truyền Thánh điển.

Trong phần tựa, yếu tố Đại thừa được thể hiện rõ ràng, với giáo nghĩa Tánh Không được nhấn mạnh và thực hành sáu ba-la-mật được coi trọng.

Phần này nhấn mạnh sự truyền thừa chính thống và liên tục của Thánh giáo, tương tự như sự truyền thừa của các Chuyển luân vương trong lịch sử Bồ-tát Di-lặc đã ủy nhiệm cho các Bồ-tát và chư thiên phổ biến kinh điển này, trong khi An-nan đã phú chúc kinh này cho Tỳ kheo uất-đa-la.

Thiên này bao gồm 13 phẩm và tổng cộng 109 kinh, trong đó Phật dạy giáo nghĩa theo từng đề tài độc lập Mỗi "pháp" được hiểu là có một yếu tố hoặc nội dung riêng biệt, ví dụ như "Niệm Phật" và "Niệm Pháp" đều được Phật giảng dạy như những pháp độc lập.

Phẩm này bao gồm 10 kinh, trong đó Phật dạy về 10 niệm quan trọng: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm thí, niệm thiên, niệm tịch tĩnh, niệm hơi thở, niệm thân, và niệm sự chết Những niệm này giúp người tu hành rèn luyện tâm trí, nâng cao trí tuệ và đạt được sự an lạc trong cuộc sống.

Phẩm gồm 10 kinh Phật dạy quảng diễn, tức phát triển, pháp môn 10 niệm như trong phẩm 2 Trong đây, mỗi kinh được dạy phát triển một niệm.

Phẩm 4: Đệ tử Đức Phật ghi nhận các đại đệ tử, mồi vị đệ nhất ừong một phương diện, từ đệ tử đắc pháp đầu tiên là A-nhã Kiều-trần-như, cho đến vị cuối cùng là Tu-bạt Mười đệ tử, có khi mười một, tập thành một kinh Tất cả có 10 kinh.

Các Đại Tỳ-kheo-ni đệ nhất, bắt đầu từ Đức Bà Kiều-đàm-di cho đến Bạt-đà Quân-đà-la, đã hợp thành mười vị trong một kinh Tổng cộng có năm kinh với sự tham gia của 50 vị trưởng lão ni đệ nhất.

Ngày đăng: 07/04/2022, 18:09

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w