1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) hành vi ngôn ngữ thu hút sự chú ý trong tiếng việt

115 570 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hành Vi Ngôn Ngữ Thu Hút Sự Chú Ý Trong Tiếng Việt
Tác giả Huỳnh Tiểu Cương
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Lập
Trường học Trường Đại Học Quy Nhơn
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2019
Thành phố Quy Nhơn
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,29 MB

Cấu trúc

  • 1. Lí do chọn đề tài (9)
  • 2. Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu (10)
  • 3. Lịch sử vấn đề (10)
  • 4. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu (12)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (13)
  • 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài (14)
  • 7. Cấu trúc luận văn (14)
  • Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG (15)
    • 1.1 LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI NGÔN NGỮ (15)
      • 1.1.1 Hành vi ngôn ngữ (15)
      • 1.1.2 Phân loại hành vi ngôn ngữ (18)
      • 1.1.3 Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp (23)
    • 1.2 BIỂU THỨC NGỮ VI VÀ PHÁT NGÔN NGỮ VI (24)
      • 1.2.1 Biểu thức ngữ vi và động từ ngữ vi (24)
      • 1.2.2 Phát ngôn ngữ vi (28)
    • 1.3 HỘI THOẠI (29)
      • 1.3.1 Các đơn vị hội thoại (29)
      • 1.3.2 Lượt lời (32)
      • 1.3.3 Lời ướm trước (32)
      • 1.3.4 Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ đi kèm hành vi ngôn ngữ (33)
  • Chương 2: HÀNH VI THU HÚT SỰ CHÚ Ý TRONG TIẾNG VIỆT (38)
    • 2.1 HÀNH VI THU HÚT SỰ CHÚ Ý (38)
    • 2.2 ĐẶC TRƯNG CỦA HÀNH VI THU HÚT SỰ CHÚ Ý (39)
      • 2.2.1 Đặc trưng về từ loại (39)
      • 2.2.2 Cấu trúc ngữ pháp (41)
      • 2.2.3 Khả năng kết hợp của từ trong phát ngôn thu hút sự chú ý (42)
      • 2.2.4 Đại từ xưng hô dùng để thu hút sự chú ý (43)
    • 2.3 MỘT SỐ HÀNH VI NGÔN NGỮ THU HÚT SỰ CHÚ Ý THƯỜNG GẶP (44)
      • 2.3.1 Thu hút sự chú ý bằng phương tiện là các từ hô hiệu “thưa, bẩm, trình, báo, (44)
      • 2.3.2 Các từ “này, ơi, ê, đâu (0)
      • 2.3.3 Thu hút sự chú ý bằng các từ chỉ ngôi đối (51)
      • 2.3.4 Từ “xin lỗi” như một tín hiệu thu hút sự chú ý (54)
      • 2.3.5 Thu hút sự chú ý bằng từ nghi vấn “thế nào” (57)
      • 2.3.6 Lời rao (57)
      • 2.3.7 Hành vi phi ngôn ngữ đi kèm hành vi ngôn ngữ (61)
  • Chương 3: HÀNH VI NGÔN NGỮ THU HÚT SỰ CHÚ Ý VÀ LỊCH SỰ (68)
    • 3.1 LỊCH SỰ TRONG GIAO TIẾP (68)
      • 3.1.1 Lí thuyết lịch sự (68)
      • 3.1.2 Bất lịch sự (72)
      • 3.1.3 Quan hệ liên cá nhân với văn hóa giao tiếp (74)
      • 3.1.4 Văn hóa giao tiếp của người Việt (75)
    • 3.2 HÀNH VI NGÔN NGỮ THU HÚT SỰ CHÚ Ý LỊCH SỰ (76)
      • 3.2.1 Thu hút sự chú ý bằng từ “xin lỗi”- hành vi thể hiện tính lịch sự cao (76)
      • 3.2.3 Thu hút sự chú ý bằng ngôi đối mang tính chất trung hòa (81)
      • 3.2.4 Tín hiệu phi ngôn ngữ, yếu tố đi kèm với lịch sự (84)
    • 3.3 HÀNH VI NGÔN NGỮ THU HÚT SỰ CHÚ Ý BẤT LỊCH SỰ (85)
      • 3.3.1 Thu hút sự chú ý bằng từ nghi vấn “thế nào” (86)
      • 3.3.2 Lời rao (86)
      • 3.3.3 Cấu trúc ngôi đối + kia (87)
      • 3.3.4 Các từ “này, ơi, ê, đâu, hỡi, đấy, kìa, (0)
      • 3.3.5 Hành vi phi ngôn ngữ (90)
  • PHỤ LỤC (102)

Nội dung

Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu Đi sâu vào nghiên cứu đề tài “Hành vi ngôn ngữ thu hút sự chú ý trong tiếng Việt” chúng tôi hướng tới mục tiêu:

Biểu thức ngữ vi liên quan đến hành vi ngôn ngữ thu hút sự chú ý bao gồm các thành tố quan trọng như từ ngữ, ngữ điệu và cử chỉ Những thành tố này đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra ấn tượng và thu hút sự quan tâm của người nghe Việc xác định rõ các yếu tố này giúp nâng cao hiệu quả giao tiếp và tăng cường khả năng thu hút sự chú ý trong các tình huống giao tiếp khác nhau.

+ Xem xét vấn đề lịch sự trong quá trình sử dụng hành vi ngôn ngữ thu hút sự chú ý của người Việt

Dựa trên lý thuyết ngữ dụng học, luận văn nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ thu hút sự chú ý trong tác phẩm văn học và lời nói hàng ngày Đối tượng nghiên cứu tập trung vào hành vi ngôn ngữ dưới góc nhìn ngữ dụng, nhằm phân tích chi tiết hai phương diện: hành vi ngôn ngữ và sự lịch sự trong giao tiếp.

Lịch sử vấn đề

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng trong đời sống con người, và đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu từ lâu Tại các nền văn hóa văn học lâu đời như Hy Lạp, Ấn Độ và Trung Quốc, các triết gia đã bắt đầu tìm hiểu về ngôn ngữ từ trước công nguyên, nhưng chủ yếu từ góc độ triết học và tôn giáo Mặc dù nghiên cứu ngôn ngữ đã được quan tâm hơn theo thời gian, nhưng phạm vi nghiên cứu vẫn chủ yếu tập trung vào cấu trúc ngôn ngữ mà chưa mở rộng sang ngữ dụng học Năm 1916, một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ diễn ra khi F De Saussure, một giáo sư ngôn ngữ học người Thụy Sĩ, xuất bản tác phẩm có ảnh hưởng lớn đến lĩnh vực này.

Giáo trình ngôn ngữ học đại cương lần đầu tiên trình bày một cách đầy đủ và có hệ thống các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ học Tuy nhiên, lý thuyết về hành vi ngôn ngữ vẫn chưa được đề cập một cách rõ ràng trong giáo trình này.

Lí thuyết về hành vi ngôn ngữ lần đầu tiên được giới thiệu qua tác phẩm “How to do things with words” của Austin vào năm 1962 Tại Việt Nam, nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ và ngữ dụng học chỉ bắt đầu phát triển vào những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, cho thấy sự chậm trễ so với thế giới Tuy nhiên, ngành Ngữ dụng học Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, nhờ vào các công trình nghiên cứu của các giáo sư đầu ngành như Đỗ Hữu Châu, Diệp Quan Ban, Nguyễn Thiện Giáp, và Nguyễn Đức Dân, tạo nền tảng khoa học quan trọng cho việc nghiên cứu hành vi ngôn ngữ trong tiếng Việt.

Lí thuyết hành vi ngôn ngữ đã được Đỗ Hữu Châu nghiên cứu sâu sắc trong cuốn “Đại cương ngôn ngữ học, tập 2” Bên cạnh đó, Nguyễn Đức Dân cũng trình bày các vấn đề cơ bản của lí thuyết này trong tác phẩm “Ngữ dụng học”.

Dựa trên cơ sở lý thuyết hành vi ngôn ngữ, nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu các vấn đề cụ thể liên quan đến hành vi ngôn ngữ Những công trình này không chỉ làm sáng tỏ các khía cạnh của giao tiếp mà còn góp phần nâng cao hiểu biết về cách thức con người sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống khác nhau.

TS Nguyễn Văn Lập trong tác phẩm “Nghi thức lời nói tiếng Việt trên cơ sở lý thuyết hành vi ngôn ngữ so sánh với tiếng Anh” đã nêu ra các nghi thức lời nói thể hiện hành vi thu hút sự chú ý, mặc dù chỉ được giới thiệu một cách sơ lược Tuy nhiên, những thông tin này tạo nền tảng quan trọng cho nghiên cứu của chúng tôi về các nghi thức lời nói trong tiếng Việt.

Nhiều luận văn thạc sĩ và khóa luận tốt nghiệp đã nghiên cứu sâu về hành vi ngôn ngữ trong tiếng Việt, bao gồm các đề tài như “Hành vi mời và hồi đáp lời mời” của Phan Thị Thúy, “Hành vi ngôn ngữ cảm ơn và xin lỗi” của Nguyễn Thị Bắc, và “Các hành vi cầu khiến” của Nguyễn Thị Lan Anh.

Ngoài các khóa luận, luận văn và luận án, tạp chí “Ngôn ngữ và đời sống” cũng đã đăng nhiều bài viết thú vị, trong đó có tác phẩm “Hành động ngôn ngữ trì hoãn trong tiếng Việt” của tác giả Lê Thị Hiền.

Thành công của các luận văn và công trình nghiên cứu trước đã cung cấp cho chúng tôi kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong việc nghiên cứu hành vi ngôn ngữ Đề tài của chúng tôi kế thừa và phát triển những nghiên cứu đã có, đặc biệt là về hành vi thu hút sự chú ý, một lĩnh vực vẫn còn mới mẻ và chưa được khám phá sâu sắc Dựa trên nền tảng của các tác giả trước, chúng tôi tiếp tục mở rộng và hoàn thiện đề tài “Hành vi ngôn ngữ thu hút sự chú ý trong tiếng Việt” một cách toàn diện hơn.

Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

Bài viết này tập trung vào việc xác định các đặc trưng và phân loại hành vi ngôn ngữ thu hút sự chú ý, dựa trên lý thuyết về hành vi ngôn ngữ và hội thoại Chúng tôi phân tích hành vi ngôn ngữ trong bối cảnh lịch sự của văn hóa giao tiếp Việt Nam Qua đó, bài viết cung cấp cái nhìn tổng quan về cách sử dụng hiệu quả hành vi ngôn ngữ thu hút sự chú ý trong giao tiếp.

Hành vi ngôn ngữ trong giao tiếp rất đa dạng, nhưng bài viết này sẽ tập trung nghiên cứu hành vi thu hút sự chú ý trong các cuộc hội thoại hàng ngày, đặc biệt là dưới hình thức cặp thoại và song thoại.

Nghiên cứu hành vi ngôn ngữ thu hút sự chú ý trong các đoạn hội thoại của tác phẩm văn học qua các giai đoạn lịch sử giúp chúng ta hiểu rõ sự thay đổi của hành vi này theo thời gian Bằng cách phân tích các đoạn hội thoại, ta có thể nhận diện được những yếu tố văn hóa, xã hội và ngữ cảnh ảnh hưởng đến cách thức giao tiếp của nhân vật Sự biến đổi này không chỉ phản ánh đặc điểm của từng thời kỳ mà còn cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của ngôn ngữ và văn hóa trong văn học.

Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp phân tích tổng hợp được áp dụng để nghiên cứu các đoạn thoại, nhằm xác định các câu thoại chứa hành vi thu hút sự chú ý Qua quá trình phân tích, chúng tôi tìm ra những câu cụ thể thể hiện hành vi này, từ đó khái quát hóa thành các biểu thức và phân loại các dạng hành vi thu hút sự chú ý.

Phương pháp thống kê là công cụ hữu ích để phân tích hành vi thu hút sự chú ý trong các tác phẩm văn học Bằng cách sử dụng dữ liệu thống kê, chúng ta có thể khảo sát và phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến sự chú ý của độc giả Kết quả thống kê không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về xu hướng mà còn làm nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực văn học.

Phương pháp hệ thống hóa được thực hiện dựa trên việc phân tích và tổng hợp tư liệu, nhằm xem xét các khía cạnh đồng nhất và đối lập liên quan đến hành vi thu hút sự chú ý Qua đó, chúng tôi xác định các đặc trưng của hành vi này, phân loại các dạng hành vi thu hút sự chú ý và nghiên cứu các vấn đề lịch sự liên quan.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Đề tài “Hành vi ngôn ngữ thu hút sự chú ý trong tiếng Việt” đã được nghiên cứu từ góc độ nghi thức lời nói, và trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào hành vi ngôn ngữ Chúng tôi hệ thống hóa và cung cấp cái nhìn tổng quát, sâu sắc hơn về đối tượng nghiên cứu Kết quả của nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ và nâng cao hiểu biết về hành vi ngôn ngữ nói chung, cũng như hành vi thu hút sự chú ý trong tiếng Việt.

Nghiên cứu này sẽ góp phần hỗ trợ quá trình giao tiếp hiệu quả hơn bằng cách giúp nhận diện và sử dụng hành vi ngôn ngữ một cách phù hợp Nó cũng có giá trị trong việc giảng dạy lý thuyết về hành vi ngôn ngữ, đặc biệt là hành vi thu hút sự chú ý trong tiếng Việt.

Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 2: Hành vi ngôn ngữ thu hút sự chú ý trong tiếng Việt

Chương 3: Hành vi ngôn ngữ thu hút sự chú ý với vấn đề lịch sự trong giao tiếp của người Việt

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI NGÔN NGỮ

Trong cuộc sống hàng ngày, con người thực hiện nhiều hành động khác nhau, được chia thành hai loại chính: hành động vật lý như đi, đứng, quét nhà, nấu nướng, viết, và hành động tinh thần như suy nghĩ, tư duy, lo lắng Đặc biệt, trong số các hành động này, hành động ngôn ngữ, hay còn gọi là hành vi ngôn ngữ, là một loại hành động quan trọng được thực hiện thông qua phương tiện ngôn ngữ.

Năm 1955, tại trường đại học Harvard, triết gia người Anh J.L Austin đã trình bày 12 chuyên đề về hành động bằng lời nói Đến năm 1962, những chuyên đề này được biên soạn và xuất bản thành sách mang tên "How to do things with words" Công trình của J.L Austin được xem là nền tảng quan trọng cho nghiên cứu và phát triển hành vi ngôn ngữ.

Khác với các nhà logic và ngôn ngữ học chỉ tập trung vào các câu khảo nghiệm và đánh giá chúng theo tiêu chuẩn đúng – sai, J.L Austin đã chỉ ra rằng có những phát ngôn khác, mặc dù có hình thức tương tự như phát ngôn khảo nghiệm (constatifs), nhưng không thể được đánh giá nội dung theo tiêu chuẩn logic này.

Bây giờ là mấy giờ rồi?

Tôi cá với anh là Việt Nam sẽ vô địch!

Theo tiêu chuẩn lôgic đúng – sai, các phát ngôn thường được phân loại thành câu giả – khẳng định hoặc câu vô nghĩa Tuy nhiên, J.L Austin đã lập luận rằng những phát ngôn này không chỉ đơn thuần là giả – khẳng định hay vô nghĩa, mà còn mang một ý nghĩa sâu sắc hơn.

Phát ngôn ngữ vi, theo J.L Austin, là những lời nói được sử dụng để thực hiện một hành động cụ thể, như hỏi, bộc lộ cảm xúc hoặc cá cược Khi chúng ta phát biểu những câu này, chúng ta không chỉ truyền đạt thông tin mà còn thực hiện chính hành động mà chúng ta đang nói đến.

J.L Austin đã phân biệt giữa phát ngôn khảo nghiệm và phát ngôn ngữ vi, từ đó nhận ra bản chất hành động của ngôn ngữ Khi chúng ta giao tiếp, chúng ta không chỉ đơn thuần nói mà còn thực hiện hành động thông qua ngôn ngữ, cho thấy ngôn ngữ là một phương tiện đặc biệt để thực hiện những hành động cụ thể.

Theo J.L Austin, hành vi ngôn ngữ được chia thành ba loại chính: hành vi tạo lời (acte locutoire), hành vi mượn lời (acte perlocutoire) và hành vi ở lời (acte illocutoire), theo cách dịch của tác giả Đỗ Hữu Châu.

Hành vi tạo lời (acte locutoire) là việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng và cấu trúc câu để tạo ra phát ngôn có hình thức và nội dung rõ ràng Để thực hiện hành vi này, người nói cần phải nắm vững hình thức và ý nghĩa của các yếu tố ngôn ngữ, bao gồm từ vựng và cú pháp.

Hành vi mượn lời (acte perlocutoire) là việc sử dụng ngôn ngữ nhằm tạo ra những tác động ngoài ngôn ngữ đến người nghe, người nhận hoặc chính người nói Những hiệu quả này có thể khác nhau tùy thuộc vào từng nhân vật giao tiếp, thể hiện sự đa dạng trong cách thức giao tiếp và ảnh hưởng của lời nói.

Hiệu quả giao tiếp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm nghề nghiệp, tâm lý, quê quán và bối cảnh xã hội của từng người tham gia Do đó, việc đánh giá hiệu quả của hành vi mượn lời là rất khó khăn và không thể tính toán một cách chính xác.

Khi nghe dự báo thời tiết “ngày mai sẽ có mưa to”, mỗi người sẽ có những phản ứng khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh của họ Người đi làm bằng xe máy và ở xa cơ quan có thể cảm thấy không vui, trong khi người gần cơ quan và đi ô tô lại vui mừng vì thời tiết dễ chịu hơn Nông dân sẽ hạnh phúc vì vụ mùa của họ được tưới tắm sau thời gian khô hạn, nhưng các thợ xây sẽ bực tức vì không thể làm việc do mưa.

Hành vi ở lời (acte illocutoire) là những hành động mà người nói thực hiện ngay trong quá trình nói, tạo ra hiệu ứng ngôn ngữ và phản ứng tương ứng từ người nhận Trong giao tiếp, các phát ngôn của các nhân vật không chỉ liên kết về nội dung mà còn về hành vi ở lời, với việc luân phiên thực hiện các hành vi này Chuỗi hành vi ở lời trong giao tiếp mang tính quy ước, với các quy tắc được cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận và tuân theo.

Hành động hỏi, yêu cầu hay ra lệnh thường đòi hỏi một phản ứng từ người nghe Nếu không thực hiện, điều này có thể bị coi là thiếu lịch sự, trở thành một nguyên tắc giao tiếp không chính thức trong xã hội Ví dụ, câu hỏi "Mấy giờ rồi Lan?" thể hiện sự mong đợi về một câu trả lời.

Theo O Ducrot, hành vi ở lời khác với hành vi tạo lời và hành vi mượn lời ở chỗ nó có khả năng thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại, từ đó thiết lập nghĩa vụ và quyền lợi mới cho người nói và người nghe Chẳng hạn, khi ra lệnh cho ai đó, người ra lệnh phải chịu trách nhiệm về các lệnh của mình, đồng thời đặt người nghe vào tình thế phải thực hiện hoặc ít nhất cảm thấy áy náy nếu không tuân theo.

Việc phát hiện hành vi ở lời là một thành tựu quan trọng của J.L Austin trong nghiên cứu ngôn ngữ giao tiếp Khác với hành vi mượn lời, hành vi ở lời có tính quy ước và tuân theo những quy tắc không hiển ngôn mà cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận Nắm vững ngôn ngữ không chỉ là hiểu âm, từ ngữ, câu mà còn là hiểu các quy tắc điều khiển hành vi ở lời Điều này cho phép chúng ta thực hiện các hành vi như chào, mời, hứa, hỏi, xin một cách phù hợp với ngữ cảnh, đảm bảo hiệu quả giao tiếp cao nhất.

1.1.2 Phân loại hành vi ngôn ngữ

BIỂU THỨC NGỮ VI VÀ PHÁT NGÔN NGỮ VI

1.2.1 Biểu thức ngữ vi và động từ ngữ vi

Trong giao tiếp ngôn ngữ, biểu thức ngữ vi đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các hành vi ngôn ngữ Đây là những công thức nói năng đặc trưng cho mỗi hành vi ngôn ngữ, giúp chúng ta nhận diện và phân biệt các hành vi này Mỗi hành vi ngôn ngữ, trừ những trường hợp gián tiếp, đều tương ứng với một biểu thức ngữ vi, tạo nên sự liên kết giữa ngữ pháp và ngữ nghĩa trong giao tiếp.

Trong giao tiếp, hành vi ngôn ngữ của con người rất phong phú và đa dạng, chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như hoàn cảnh, thói quen giao tiếp, đặc trưng ngôn ngữ dân tộc và phong tục tập quán Mặc dù có sự linh hoạt trong cách sử dụng, hành vi ngôn ngữ vẫn tuân theo những công thức nhất định Theo thời gian, các hành vi này sẽ biến đổi để phù hợp với môi trường giao tiếp Đồng thời, biểu thức ngữ vi cũng không ngừng thay đổi, với các dấu hiệu giúp nhận biết các biểu thức này.

+ Kết cấu đặc trưng: Là kiểu cấu trúc các từ ngữ, công thức khái quát của các biểu thức ngữ vi

Ví dụ: Biểu thức ngữ vi ở hành vi thu hút sự chú ý có kiểu kết cấu

“xin lỗi làm ơn ”, “xin lỗi, phiền ”, “thưa ”, “bẩm ”,

Từ ngữ đặc thù là những từ chuyên dụng trong các biểu thức ngữ vi, giúp tổ chức cấu trúc và xác định hành vi đang được thực hiện.

Ví dụ: Những từ ngữ đặc thù của hành vi thu hút sự chú ý là: này, ơi, ê, đâu, ạ, bớ, alo, kìa, đấy, đây

Ngữ điệu đóng vai trò quan trọng trong hành vi ngôn ngữ, vì mỗi hành vi có ngữ điệu riêng biệt Dù sử dụng cùng một tổ chức từ vựng và ngữ pháp, nhưng khi phát âm với các ngữ điệu khác nhau, chúng ta sẽ tạo ra những biểu thức ngữ vi khác nhau, phản ánh sự đa dạng trong các hành vi ngôn ngữ.

+ Trật tự các từ ngữ trong phát ngôn cũng là những dấu hiệu ngữ vi

Ví dụ: Anh ấy không đi => Hành vi ngôn ngữ trình bày

Anh ấy đi không? => Hành vi ngôn ngữ hỏi

Hai biểu thức ngữ vi có thể chứa những từ ngữ giống nhau nhưng được sắp xếp theo trật tự khác nhau, dẫn đến việc tạo ra các biểu thức ngữ vi khác nhau.

Mỗi biểu thức ngữ vi mang dấu hiệu ngữ vi riêng, thể hiện một loại hành động ngôn ngữ cụ thể Trong giao tiếp thực tế, người ta có thể áp dụng các biểu thức ngữ vi này để thực hiện các hành vi ngôn ngữ mà chúng đại diện.

Ví dụ: SP1: Mấy giờ rồi?

Biểu thức ngữ vi ở SP1 thể hiện hành vi ngôn ngữ hỏi “mấy”, nhằm nhận câu trả lời về thời gian ở SP2 Hành vi ngôn ngữ này được thực hiện một cách trực tiếp, với hiệu lực rõ ràng trong lời hỏi trực tiếp.

Trong một số trường hợp, vì nhiều lý do khác nhau, con người có thể áp dụng các biểu thức ngữ vi đặc trưng cho một hành vi ngôn ngữ để thực hiện một hành vi ngôn ngữ khác.

Ví dụ: Học sinh đi học muộn

SP1 (thầy): Mấy giờ rồi?

Trong cuộc hội thoại, SP2 xin lỗi thầy vì quên cài báo thức, thể hiện sự hối lỗi Biểu thức ngữ vi của SP1 sử dụng dấu hiệu hỏi nhưng không nhằm mục đích hỏi mà để phê bình Hành vi ngôn ngữ phê bình ở đây được thực hiện gián tiếp thông qua cách hỏi, cho thấy rằng hành vi hỏi có thể mang ý nghĩa phê bình trong ngữ cảnh giao tiếp.

Động từ nói năng là những động từ biểu thị hành vi ngôn ngữ, trong đó có nhóm động từ đặc biệt gọi là động từ ngữ vi (performative verbs) Những động từ này có khả năng thực hiện hành vi ngay khi được phát âm, đôi khi không cần kèm theo biểu thức ngữ vi Theo định nghĩa, "động từ ngữ vi là những động từ mà khi phát âm, người nói thực hiện ngay hành vi mà chúng biểu thị."

GS.TS.Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra sự khác biệt rõ ràng giữa hai động từ "rửa" và "hứa" Động từ "rửa" trong câu "tôi rửa tay" thể hiện rằng hành động chưa được thực hiện, vì để rửa tay cần có nước và xà phòng; tay không thể sạch chỉ bằng lời nói mà cần hành động cụ thể Ngược lại, động từ "hứa" trong câu "Tôi hứa mai tôi sẽ đến" cho thấy hành động đã được thực hiện ngay khi từ "hứa" được phát ngôn.

Và ở đây cũng cần chú ý hành vi hứa chỉ được thực hiện bằng lời nói, không thể thực hiện bằng hành động phi ngôn ngữ

Theo Austin, động từ ngữ vi chỉ có hiệu lực khi được sử dụng ở ngôi thứ nhất, thời hiện tại, thể chủ động và thức thực thi.

Ví dụ: Mình khuyên cậu nên ở lại

Động từ “khuyên” có thể được phân loại thành động từ ngữ vi khi hành động “khuyên” diễn ra ngay khi từ này được phát ngôn Tuy nhiên, trong câu “Lan khuyên cô ấy nên ở lại”, “khuyên” chỉ đóng vai trò như một động từ miêu tả thông thường Theo Nguyễn Đức Dân, để một động từ nói năng thực hiện chức năng ngữ vi, bổ ngữ của nó cần phải ở ngôi thứ hai.

Trong giao tiếp, cách xin lỗi có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau Ví dụ, khi nói “Xin lỗi chị, làm ơn đỡ hộ tôi thùng hàng này,” người nói thể hiện hành vi xin lỗi để thu hút sự chú ý và nhờ sự giúp đỡ ngay lập tức Ngược lại, câu “Tôi xin lỗi chị ấy, ” chỉ đơn thuần thông báo về việc đã xin lỗi một người khác để nhờ sự hỗ trợ từ người thứ ba.

Trong tiếng Việt, có nhiều động từ nói năng như xin, khuyên, yêu cầu, hứa, và mời có thể sử dụng với chức năng ngữ vi Ngược lại, một số động từ như hứa hẹn, xin xỏ, và đe dọa không thể dùng với chức năng này Các động từ nói năng thể hiện hành vi ngôn ngữ qua phát ngôn và biểu thức ngữ vi, giúp chúng ta nhận diện các phát ngôn một cách rõ ràng.

HỘI THOẠI

1.3.1 Các đơn vị hội thoại

Hai chức năng cơ bản quan trọng nhất của ngôn ngữ là giao tiếp và tư duy Những chức năng này thường xuyên xuất hiện trong hội thoại, hình thức giao tiếp phổ biến và thường xuyên của ngôn ngữ Hội thoại không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là nền tảng cho các hoạt động ngôn ngữ khác.

Trong giao tiếp hội thoại, sự hồi đáp giữa người nói và người nghe là rất quan trọng, với mỗi bên đều ảnh hưởng đến nhau Hội thoại có thể diễn ra giữa hai người (song thoại), ba người (tam thoại) hoặc nhiều người (đa thoại), trong đó dạng cơ bản nhất là song thoại.

Lý thuyết hội thoại Thụy Sĩ - Pháp cho rằng hội thoại có cấu trúc tổ chức tương tự như một đơn vị cú pháp, với các đơn vị cấu trúc được sắp xếp theo thứ tự tôn ti.

Trong số các đơn vị giao tiếp, ba đơn vị đầu tiên mang tính chất lưỡng thoại, được hình thành từ quá trình tương tác giữa các nhân vật trong hội thoại Ngược lại, hai đơn vị còn lại (tham thoại và hành vi ngôn ngữ) có đặc điểm đơn thoại, tức là chỉ do một người phát biểu.

Cuộc thoại là đơn vị hội thoại lớn nhất, có thể bao gồm một hoặc nhiều đề tài và mục đích khác nhau Để xác định một cuộc thoại, cần có sự thống nhất về nhân vật tham gia, môi trường diễn ra (thời gian, địa điểm) và chủ đề thảo luận.

Đoạn thoại là một phần quan trọng trong cuộc thoại, được định nghĩa là một mảng diễn ngôn với sự liên kết chặt chẽ về ngữ nghĩa hoặc ngữ dụng giữa các cặp trao đáp Đoạn thoại có thể được chia thành ba phần: đoạn mở thoại, đoạn thân thoại và đoạn kết thoại Các hành vi ngôn ngữ như chào hỏi, hỏi thăm sức khỏe, chào tạm biệt và hứa hẹn gặp lại là những dấu hiệu đặc trưng cho đoạn mở thoại và kết thoại.

Cặp thoại, hay còn gọi là cặp trao đáp, là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất, bao gồm một tham thoại dẫn nhập và một tham thoại hồi đáp.

Trong tác phẩm "Người ngựa và ngựa người" của Nguyễn Công Hoan, có những cặp thoại đặc biệt chỉ bao gồm một tham thoại, được gọi là cặp thoại hẫng.

Ví dụ: SP1: - Anh có mệt không?

Cũng có những trường hợp cặp thoại có ba tham thoại Tham thoại thứ ba là kết thúc hay đáp lại một lời hồi đáp, đánh giá

Ví dụ: SP1: - Nghỉ hè rồi cậu có đi du lịch không?

SP2: - Mình đi Phú Quốc

Một cặp thoại thường bao gồm hai thành phần chính: một tham thoại dẫn nhập có chức năng giới thiệu và một tham thoại hồi đáp có vai trò phản hồi.

Tham thoại, theo GS.TS Đỗ Hữu Châu, là sự đóng góp của từng nhân vật trong một cặp thoại nhất định Nội tại của tham thoại được hình thành từ một hoặc nhiều hành vi ngôn ngữ Trong mỗi cặp thoại, có hai loại tham thoại chính: tham thoại dẫn nhập và tham thoại hồi đáp Tham thoại dẫn nhập là câu nói đầu tiên trong cặp thoại, tạo ra hiệu lực yêu cầu người nghe phải phản hồi bằng những hành vi tương ứng.

Ví dụ: SP1 – Cho tớ mượn quyển sách nhé! (tham thoại dẫn nhập) SP2 - Ừ cậu lấy đi (tham thoại hồi đáp)

Tham thoại hồi đáp đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tính chất của phản hồi Nếu phản hồi thỏa mãn mục tiêu của tham thoại dẫn nhập, đó được xem là hồi đáp tích cực Ngược lại, khi phản hồi đi ngược lại với mục tiêu của tham thoại dẫn nhập, nó sẽ được coi là hồi đáp tiêu cực.

Ví dụ: (1) SP1 – Bác Hai dạo này có khỏe không?

SP2 – Cảm ơn chị, tôi khỏe (hồi đáp tích cực)

(2) SP1 – Anh vẫn khỏe chứ?

SP2 – Không cần cô quan tâm (hồi đáp tiêu cực)

Dựa trên đặc điểm và tính chất của tham thoại hồi đáp, các cặp thoại được phân chia thành hai nhóm chính: cặp thoại tích cực, chứa tham thoại hồi đáp tích cực, và cặp thoại tiêu cực, chứa tham thoại hồi đáp tiêu cực.

Theo GS.TS Đỗ Hữu Châu, lượt lời được định nghĩa là chuỗi đơn vị ngôn ngữ mà một nhân vật hội thoại phát biểu, bắt đầu từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc, cho phép nhân vật đó hoàn thành ý kiến của mình trong một lượt nói.

Lượt lời là phần lời của mỗi nhân vật trong một cuộc giao tiếp, diễn ra khi một người nói xong và những người khác không nói, tạo nên sự luân phiên trong cuộc đối thoại Việc duy trì sự luân phiên lượt lời là cần thiết để cuộc hội thoại diễn ra bình thường, đảm bảo rằng lời của mỗi người không chồng chéo lên nhau.

Các lượt lời trong giao tiếp có thể do một người điều phối hoặc do các nhân vật tự thống nhất với nhau Cần lưu ý rằng lượt lời không hoàn toàn đồng nhất với tham thoại, vì một lượt lời có thể chứa nhiều tham thoại hoặc ngược lại, một lượt lời có thể nhỏ hơn tham thoại.

Ví dụ: SP1: Bác Hai, đi đâu mà vội thế?

HÀNH VI THU HÚT SỰ CHÚ Ý TRONG TIẾNG VIỆT

HÀNH VI THU HÚT SỰ CHÚ Ý

Hành vi thu hút sự chú ý là một yếu tố quan trọng trong giao tiếp, thường được sử dụng để khởi đầu cuộc thoại và tạo điều kiện cho người nghe tham gia một cách tích cực Khi người nói sử dụng hành vi này, họ giúp người nghe chuẩn bị cho cuộc hội thoại, từ đó tạo ra sự kết nối và tương tác hiệu quả hơn giữa hai bên Hành vi thu hút sự chú ý không chỉ mở đầu cuộc trò chuyện mà còn xác định vai trò của người nghe trong quá trình giao tiếp, giúp họ sẵn sàng lắng nghe và phản hồi những gì được trình bày.

Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (xuất bản năm 2018):

+ Hướng mắt nhìn, lắng tai nghe một cách tập trung, để hết tâm trí vào một lúc nào đó

Ví dụ: Chú ý nghe giảng

Chú ý, phía trước có xe!

Tập trung sự chú ý vào điểm chính

+ Để tâm đến một cách thường xuyên

Ví dụ: Chú ý dạy dỗ con cái

Thu hút là: Lôi cuốn, làm dồn mọi sự chú ý vào

Ví dụ: Một vấn đề có sức thu hút mạnh mẽ

Phong trào thu hút được đông đảo quần chúng tham gia Thu hút hỏa lực về phía mình (để đánh lạc hướng)

Hành vi ngôn ngữ thu hút sự chú ý là khi người nói sử dụng ngôn ngữ để lôi cuốn người nghe, nhằm tạo sự tập trung và chuẩn bị cho cuộc trò chuyện.

Hành vi thu hút sự chú ý thường được thể hiện qua các câu khuyến nghị và câu hỏi Ngoài ra, các thành phần phụ hô ngữ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự hấp dẫn cho nội dung.

Thành phần hô ngữ trong tiếng Việt có vị trí linh hoạt, có thể đứng ở đầu, giữa hoặc cuối câu Tuy nhiên, thành phần hô ngữ trong hành vi thu hút sự chú ý chỉ có thể đứng ở vị trí đầu câu; nếu thay đổi vị trí, nó sẽ mất khả năng thu hút sự chú ý Phần phụ hô ngữ trong phát ngôn này thể hiện ý nghĩa tình thái chủ quan, phản ánh mối quan hệ và thái độ của người nói đối với nội dung còn lại trong câu Mặc dù hành vi thu hút sự chú ý mang tính chủ quan, nhưng nội dung của nó vẫn liên quan đến hiện thực khách quan và phụ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp cũng như đối tượng giao tiếp.

Hành vi ngôn ngữ thu hút sự chú ý có những đặc trưng cơ bản do cấu tạo đặc biệt của thành phần trong câu Điều này cần được lưu ý trước khi tiến hành xem xét và phân loại.

ĐẶC TRƯNG CỦA HÀNH VI THU HÚT SỰ CHÚ Ý

2.2.1 Đặc trưng về từ loại

Tiếng Việt là một ngôn ngữ đa dạng với nhiều từ ngữ mang ý nghĩa riêng biệt, nhưng vẫn có sự tương đồng về nghĩa khái quát và đặc điểm cú pháp Dựa vào ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp, từ tiếng Việt có thể được phân loại thành các loại như danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, phụ từ, quan hệ từ, trợ từ và thán từ.

Trong hành vi thu hút sự chú ý, các từ chủ yếu được sử dụng bao gồm đại từ, trợ từ, thán từ, động từ và danh từ Các loại từ như tính từ, phụ từ, số từ và quan hệ từ không có khả năng thu hút sự chú ý Những từ thu hút sự chú ý này thường được phân chia thành hai loại chính.

Có những từ có khả năng tự mình tạo ra hành vi thu hút sự chú ý mà không cần thêm từ nào khác, được gọi là từ hô gọi Những từ này bao gồm: Này, ê, kìa, alô, đây, đấy, xin lỗi, thế nào Ngoài ra, còn có các từ chỉ tên riêng và quan hệ thân thuộc như ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em, cùng với từ chỉ nghề nghiệp và chức tước như bác sĩ, kỹ sư, y tá.

Ví dụ: - Bác sĩ, con tôi sắp sinh rồi

- Lan, Lan đấy phải không?

- Đây, nhờ ông làm ơn cho tôi (NCH, TCKHTLS II)

Loại từ thứ hai là những từ thu hút sự chú ý nhưng không thể tạo ra hành vi một mình, mà cần kết hợp với các từ khác Những từ này bao gồm: thưa, bẩm, trình, ạ, ơi, hỡi, bớ, và nhiều từ khác.

Ví dụ: - Ối giời ơi! Nó ăn cắp khoai của tôi! (NCH, BNĐ)

- Lạy quan lớn, quả tình con không biết việc cướp đêm qua

Tất cả các từ trong tiếng Việt, ngoại trừ những từ có chức năng hô gọi, đều đóng vai trò khác trong giao tiếp và tư duy Chúng không thể được sử dụng độc lập để thu hút sự chú ý hoặc không có yếu tố hô gọi đi kèm.

Hiện tượng chuyển loại từ trong tiếng Việt là một khía cạnh quan trọng của ngôn ngữ Chuyển loại diễn ra giữa các lớp từ, bao gồm việc chuyển từ thực từ này sang thực từ khác, và giữa danh từ, động từ, tính từ Ngoài ra, có sự chuyển đổi từ thực từ sang hư từ, cũng như giữa các lớp hư từ Trong các hành vi thu hút sự chú ý, phần lớn từ loại trong câu không thay đổi, chỉ một số từ thay đổi vị trí có thể dẫn đến chuyển loại.

Từ "này" có hai cách sử dụng khác nhau trong câu Khi đứng sau danh từ, nó đóng vai trò là đại từ, ví dụ: "Anh này, anh đợi em một lát." Ngược lại, khi đứng trước danh từ, "này" trở thành trợ từ, như trong câu: "Này chị, chị làm như vậy là không được."

Khi đứng độc lập thì nó lại là cảm từ: - Này, em ăn đi

Câu thể hiện hành vi thu hút sự chú ý chủ yếu là câu đặc biệt, không có quan hệ chủ ngữ, vị ngữ Câu đặc biệt thường được tạo thành từ một từ hoặc cụm từ, với các từ loại phổ biến như danh từ, động từ và tính từ Đặc điểm nổi bật của câu đặc biệt trong hành vi thu hút sự chú ý là không có trung tâm cú pháp chính là tính từ, mà chỉ bao gồm danh từ, động từ, đại từ và cảm từ.

Câu đặc biệt là một loại câu có danh từ làm thành phần trung tâm Trong việc thu hút sự chú ý, danh từ thường bao gồm các từ chỉ quan hệ thân thuộc và tên riêng.

Ví dụ: - Vũ! Anh đừng làm như vậy

Ngoài ra, còn có các danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp, chỉ người

Ví dụ: Bác sĩ! Bác sĩ, em tôi thế nào rồi?

Câu đặc biệt – danh từ là một cấu trúc ngữ pháp chỉ sự tồn tại của sự vật, diễn tả hiện tượng xảy ra tại một thời gian và địa điểm cụ thể Khi được sử dụng để thu hút sự chú ý, câu này trở thành lời gọi, biển đề tên các cơ quan, địa điểm, tên báo chí, và đầu đề thư từ.

Ví dụ: - Thắng! Mày về khi nào?

Câu đặc biệt có trung tâm cú pháp là động từ, đại từ hoặc cảm từ, thường được sử dụng để thu hút sự chú ý và thực hiện lời gọi đáp Những câu này có thể được hình thành chỉ bằng một từ duy nhất, thể hiện sự tối giản trong ngữ nghĩa.

Ví dụ: - Này! Tri ạ, cái mặt anh trông thế nào ấy Quả thực không chơi được! (NC, CMKCĐ)

- Alô! Luân đây, ai đấy? (NDTL, VBLN)

Câu đặc biệt là những câu không có thành phần phụ và thực hiện hành vi thu hút sự chú ý Khi câu này đứng độc lập, nó được gọi là câu đặc biệt; tuy nhiên, khi nằm trong cấu trúc lớn hơn, nó trở thành thành phần phụ của câu.

Ví dụ: - Báo cáo chỉ huy!

- Báo cáo chỉ huy, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ

- Ê, phụ một tay nhanh đi

Câu đặc biệt khi thu hút sự chú ý không có thành phần phụ Do đó, khi các ngữ đặc biệt trở thành thành phần phụ của câu, chúng phải phụ thuộc vào bối cảnh và mục đích giao tiếp.

Câu dưới bậc là một dạng biến thể của câu đơn, nhưng không đáp ứng đầy đủ các đặc trưng quan trọng của câu Mặc dù câu dưới bậc có ngữ điệu kết thúc độc lập, song nó không tự lập về mặt cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa.

Trong cuốn "Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông", Diệp Quang Ban đã phân loại câu dưới bậc, trong đó có câu khuyết chủ ngữ, thường được sử dụng trong các hành vi ngữ vi như chúc tụng, cầu mong và chào hỏi Những câu này thuộc phạm vi câu dưới bậc và có tác dụng thu hút sự chú ý.

MỘT SỐ HÀNH VI NGÔN NGỮ THU HÚT SỰ CHÚ Ý THƯỜNG GẶP

Khi bắt đầu cuộc thoại, việc sử dụng các từ hô hiệu kết hợp với một từ chỉ ngôi đối sẽ giúp thu hút sự chú ý của người nghe Tuy nhiên, nếu những từ này được sử dụng độc lập, không kèm theo ngôi đối và không đứng ở đầu câu, chúng sẽ không có hiệu quả trong việc gây sự chú ý.

Khác với những từ ngữ thu hút sự chú ý mang sắc thái trung hòa, từ hô hiệu thể hiện sự phân biệt rõ ràng về tầng lớp, lứa tuổi và vai vế trong giao tiếp Chúng có một công thức chung trong việc sử dụng giữa các nhân vật trong cuộc thoại.

Từ "thưa" là một hô hiệu phổ biến trong xã hội, đặc biệt trong quan hệ gia đình Khi xã hội ngày càng dân chủ hơn, "thưa" trở thành lựa chọn hàng đầu để thay thế cho những từ hô hiệu cũ như "bẩm", "trình", hay "lạy", không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay.

Ví dụ: - Thưa bà, con so (NCH, OTRR)

- Thưa bà, xe ngày tết vẫn thế, (NCH, NGNG)

Bẩm và trình là hai từ có nghĩa tương đương, thường được sử dụng trong giao tiếp giữa người có địa vị thấp với người có địa vị cao trong xã hội như quan lại, địa chủ, hoặc thầy đồ, đặc biệt phổ biến trước cách mạng tháng Tám Sau thời điểm này, các công thức chứa hai từ này đã ít được sử dụng Mặc dù không còn phổ biến, chúng vẫn được ghi nhận trong các tác phẩm văn học trước cách mạng, phản ánh sự phân cấp rõ ràng trong xã hội Việt Nam Sự thay đổi trong cách sử dụng hai từ này cũng cho thấy sự phát triển và bình đẳng hóa của xã hội Việt Nam hiện nay, khi mà những cách thu hút sự chú ý này không còn xuất hiện nữa.

Ví dụ: - Bẩm cụ, chẳng hay việc lành hay việc dữ? (NCH, SVM)

- Bẩm quan lớn, thế thì hậu quá! (NL, NCX)

- Trình cụ, Báo cáo của bộ ngoại giao (NDTL, VBLN)

Từ "tâu" là một công thức giao tiếp đặc biệt trong thời phong kiến, được sử dụng khi nhân dân, quan lại, và bề tôi đối thoại với vua, chúa hoặc các bậc bề trên Sự sử dụng từ này phản ánh ngôi đối trong giao tiếp, với các từ chỉ vua, chúa, hoàng hậu, quan lại, công chúa, và hoàng tử.

Ví dụ: Tâu hoàng thượng!

Trong một số trường hợp để tăng mức độ tôn kính thì có thể thêm từ

“muôn” vào trước công thức

Ví dụ: Muôn tâu hoàng thượng! Thần thiếp bị oan

Bạch là một từ ngữ thể hiện sự tôn kính đối với những người có địa vị cao trong đạo Phật, thường được sử dụng trong môi trường nhà chùa Các từ đi kèm thường gặp bao gồm thầy, hòa thượng, sư cụ, cụ, và sư cô, nhằm thể hiện lòng kính trọng đối với các bậc thầy và người hướng dẫn trong Phật giáo.

Ví dụ: - Bạch thầy, con xin vào lễ Phật

- Bạch cụ, chú Mộc vừa ra vườn sau

Báo cáo là thuật ngữ chủ yếu được sử dụng trong quân đội, bắt đầu xuất hiện trong giao tiếp từ năm 1945 Từ này thường được dùng để mở đầu cuộc thoại khi cấp dưới giao tiếp với cấp trên, với các từ chỉ ngôi đối thường là từ chỉ cấp bậc hoặc từ "đồng chí".

Ví dụ: - Báo cáo tiểu đoàn trưởng, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ

- Báo cáo đồng chí, tôi đã trở về

Công thức "Lạy + ngôi đối" đã trở nên phổ biến trong xã hội, không chỉ giới hạn trong quân đội, mà mọi người đều có thể sử dụng để tạo không khí vui vẻ trong cuộc trò chuyện Từ "lạy" thể hiện sự tôn kính và cung kính của người nói đối với người nghe, và khi được sử dụng ở đầu câu, nó không chỉ thu hút sự chú ý mà còn mang ý nghĩa chào hỏi và cầu xin Tuy nhiên, hiệu quả thu hút sự chú ý của công thức này lại không rõ ràng.

Ví dụ: - Lạy cụ, chúng con thành tâm lên tết cụ (NCH, SVM)

- Lạy cụ lớn, tiện sĩ tài hèn sức yếu, biết có làm được không

- Lạy quan, thôi thì trăm sự nhờ quan (NCH, BĐC)

- Lạy cụ, cụ làm phúc cho con (NCH, BĐC)

Hiện nay, công thức này đã trở nên ít phổ biến và không còn được sử dụng để thu hút sự chú ý Nó chỉ còn được áp dụng trong những tình huống van xin.

Ví dụ: - Tôi lạy anh, anh tha cho tôi

- Tao lạy mày, đừng ám tao nữa

Trong quá trình sử dụng cách thu hút sự chú ý bằng cấu trúc “từ hô hiệu

Khi sử dụng ngôi đối trong giao tiếp, cần lưu ý rằng nó phải tương ứng với từ xưng hô Việc thay đổi từ xưng hô ở ngôi đối có thể dẫn đến sự thay đổi ý nghĩa của câu.

2.3.2 Các từ “này, ơi, ê, đâu ”

Các từ ngữ như “ơi, ê” không chỉ có chức năng phát ngôn mà còn đóng vai trò quan trọng trong hành vi “gọi – đáp” Khi muốn gọi ai đó, chúng ta thường sử dụng các từ này hoặc các cụm từ như “anh ơi”, “chị ơi” Để phản hồi lại những lời gọi, tùy thuộc vào tình huống, chúng ta có thể sử dụng các từ như “dạ”, “ơi”, hoặc “gì thế”, “cái gì”.

Các từ như “này, ơi, ê, đâu, ạ, hỡi, bớ ” được phân loại là tình thái từ (thán từ) và được gọi là “giao hiệu từ” theo tác giả “Việt Nam văn phạm” Cách gọi này phản ánh chức năng giao tiếp của chúng, và trong luận văn này, chúng tôi sẽ phân tích những từ này như là tín hiệu thu hút sự chú ý trong giao tiếp.

Từ "này" (hay "nè") được sử dụng để thu hút sự chú ý và có thể đi kèm với từ chỉ ngôi đối ở trước hoặc sau, hoặc cũng có thể đứng độc lập trong câu.

Này, hãy nói với bác ấy rằng dù có trốn đi đâu cũng không thể nằm yên ở đó Nếu không cẩn thận, khi họ vào kiểm tra, bác ấy sẽ gặp rắc rối và có thể bị trói lại.

- Này em ơi! (NCH, OTRR)

- Này, bà trả bao nhiêu? (NCH, NGNG)

- Này! Thằng cháu nhà tôi, đến nay một năm, chẳng có giấy mà gì đấy, ông giáo ạ! (NC, LH)

Từ "ơi" trong tiếng Việt được sử dụng để thu hút sự chú ý khi kết hợp với từ chỉ ngôi đối Khác với từ "này" có thể thu hút sự chú ý khi đứng độc lập, "ơi" không thể tự mình tạo ra tín hiệu gọi Khi "ơi" đứng độc lập, nó chỉ là phản ứng với lời gọi của người khác Tuy nhiên, khi "ơi" được sử dụng sau từ chỉ đối tượng kêu gọi, nó mang ý nghĩa than vãn, ví dụ như "trời ơi!" Cấu trúc "ngôi đối + ơi" tạo ra một khoảng cách không gian hàm ẩn, gây khó khăn cho người nước ngoài trong việc sử dụng từ này "Ơi" có thể được sử dụng trong nhiều tình huống, bất kể khoảng cách giữa người đối thoại, thậm chí khi không nhìn thấy nhau.

Dùng ở phạm vi rất xa:

Ví dụ: - Anh Pha ơi, quan bảo anh đến mổ lợn (NCH, BĐC)

Dùng ở phạm vi tương đối gần và giáp mặt:

Ví dụ: - Cậu ơi, em Bảo sắp về chơi (KH, GĐ)

- Cô ơi, nếu cô biết bụng cho tôi (NCH, TLL)

Dùng trong trường hợp không nhìn thấy nhau:

Ví dụ: - Anh bộ đội ơi, nó trốn trong này (NCH, ACTNBĐA)

- Ếch ơi, về ăm cơm

HÀNH VI NGÔN NGỮ THU HÚT SỰ CHÚ Ý VÀ LỊCH SỰ

Ngày đăng: 03/04/2022, 15:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Thị Vân Anh (2017), Sự kiện lời nói “ xin” trong giao tiếp, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự kiện lời nói “ xin” trong giao tiếp
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 2017
[2] Diệp Quang Ban (1984), Cấu tạo của câu đơn tiếng Việt, Trường ĐHSP Hà Nội I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu tạo của câu đơn tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 1984
[3] Diệp Quang Ban (1989), Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, tập I, II, NXB ĐH & GDCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB ĐH & GDCN
Năm: 1989
[4] Diệp Quang Ban (2010), Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học (sơ thảo), NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học (sơ thảo)
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
[5] Nguyễn Thị Bắc (2013), Hành vi ngôn ngữ cảm ơn và xin lỗi trong lời nói tiếng Việt, khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Quy Nhơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi ngôn ngữ cảm ơn và xin lỗi trong lời nói tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Bắc
Năm: 2013
[6] Đỗ Hữu Châu (1997), Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
[7] Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 1998
[8] Đỗ Hữu Châu (2010), Đại cương ngôn ngữ học, tập II, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
[9] Nguyễn Đức Dân, Hồng Dân, Nguyễn Hàm Dương, Nguyễn Công Đức (1995), Dẫn luận ngôn ngữ học, Trường ĐHTH TPHCM, Khoa Ngữ văn và Báo chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân, Hồng Dân, Nguyễn Hàm Dương, Nguyễn Công Đức
Năm: 1995
[10] Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, tập I, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
[11] Nguyễn Đức Dân (1999), “Ngôn ngữ và giới tính”, Ngôn ngữ và đời sống, số 12(50), tr.21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và giới tính”, "Ngôn ngữ và đời sống
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1999
[12] Hồng Dân (1994), “Văn hóa trong ngôn ngữ”, Kỉ yếu Hội nghị Tiếng Việt cho người nước ngoài, ĐHTH TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa trong ngôn ngữ
Tác giả: Hồng Dân
Năm: 1994
[13] Hữu Đạt (1995), Tiếng Việt thực hành, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
[14] Hữu Đạt (2009), Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp tiếng Việt, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
[15] Nguyễn Văn Độ (1995), Về việc nghiên cứu lịch sự trong giao tiếp, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Văn Độ
Năm: 1995
[16] Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) (1996), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
[17] Nguyễn Thiện Giáp (1998), Cở sở ngôn ngữ học, NXH Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cở sở ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Năm: 1998
[18] Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
[19] Nguyễn Thiện Giáp (2011), Vấn đề từ trong tiếng Việt, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề từ trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
[20] Cao Xuân Hạo (1996), “Văn hóa trong cách xưng hô”, KTNN, số 225, tr.9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa trong cách xưng hô
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Phúc này, hình như anh Dương - (LUẬN văn THẠC sĩ) hành vi ngôn ngữ thu hút sự chú ý trong tiếng việt
h úc này, hình như anh Dương (Trang 112)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w