TỔNG QUAN VỀ UMTS
Hệ thống viễn thông di động toàn cầu UMTS
UMTS, hay còn gọi là công nghệ vô tuyến thế hệ thứ ba, được phát triển bởi 3GPP, cung cấp dịch vụ thoại và dữ liệu băng rộng cho người dùng di động Thuật ngữ 3GSM không chỉ phản ánh sự phát triển từ GSM mà còn nhấn mạnh khả năng tương thích giữa GSM và UMTS.
Giao diện vô tuyến của UMTS dựa trên công nghệ W-CDMA, với các đặc tính kỹ thuật của HSPA W-CDMA sử dụng các kênh có băng thông 5MHz, được xác định rõ trong các phiên bản UMTS rel 99 và rel 4 HSPA, được giới thiệu trong rel 5 cho đường xuống và rel 6 cho đường lên, cung cấp tốc độ bit cao hơn đáng kể và cải thiện hiệu suất cho các ứng dụng chuyển mạch gói.
Hiện tại tính đến tháng 7/2014, 3GPP đã chính thức công bố 10 phiên bản
UMTS bao gồm rel 99 và rel 4 đến rel 13 Sau đây ta xem xét kiến trúc đơn giản nhất của hệ thống UMTS.
Kiến trúc hệ thống UMTS
Hình 1.1 : Kiến trúc của UMTS đơn giản
Mạng UMTS bao gồm 3 phần chính:
• Phần trạm di động ( Mobile Station - MS)
• Phần truy nhập vô tuyến ( UMTS - UTRAN)
• Phần mạng lõi ( Core Network - CN)
1.2.1 - Mobile Station MS ( hay User Equipment -UE):
Trạm di động thực hiện chức năng giao tiếp người sử dụng với hệ thống MS gồm hai phần: Đề tài: Báo hiệu trong mạng lõi UMTS
148 Đề tài: Báo hiệu trong mạng lõi UMTS
• MSC/VLR (Mobile Services Switching Center/Visitor Location
Đăng ký là tổng đài MSC và cơ sở dữ liệu VLR, cung cấp dịch vụ chuyển mạch kênh cho thiết bị người dùng (UE) tại vị trí của nó MSC thực hiện các giao dịch chuyển mạch kênh, trong khi VLR lưu giữ bản sao lý lịch người sử dụng và xác định vị trí chính xác của UE trong hệ thống phục vụ.
• GMSC (Gateway MSC): Chuyển mạch kết nối với mạng ngoài.
• SGSN (Serving GPRS): Có chức năng như MSC/VLR nhưng được sử dụng cho các dịch vụ chuyển mạch gói (PS).
• GGSN (Gateway GPRS Support Node): Có chức năng như GMSC nhưng chỉ phục vụ cho các dịch vụ chuyển mạch gói.
Các mạng ngoài: Bao gồm mạng chuyển mạch kênh và mạng chuyển mạch gói.
• Mạng CS : Mạng kết nối cho các dịch vụ chuyển mạch kênh.
• Mạng PS : Mạng kết nối cho các dịch vụ chuyển mạch gói.
Các giao diện trong mạng lõi UMTS
■ Giao diện Gn: xác định kết nối giữa các nút hỗ trợ GPRS (GPRS Support
■ Giao diện Gs: trao đổi dữ liệu giữa các VLR và SGSN có chức năng đăng ký.
Giao diện này cho phép người dùng thực hiện cuộc gọi thoại qua miền PS hoặc gửi yêu cầu đến thiết bị di động sử dụng giao thức dữ liệu gói ngữ cảnh PDP.
■ Giao diện E: Giao thức MAP/E sử dụng để trao đổi thông tin chuyển vùng giữa các MSC.
Giao diện D trong mạng lõi UMTS kết nối HRL-VRL, với giao thức MAP/D được sử dụng để trao đổi dữ liệu liên quan đến vị trí của thiết bị di động (MS) và các thông tin phụ của thuê bao.
THIẾT LẬP CUỘC GỌI VỚI ISUP/BICC
Giao thức BICC (Bearer Independent Call Control) được phát triển dựa trên ISUP, nhằm đảm bảo tính tương thích với các dịch vụ trên mạng PSTN/IDNS Mặc dù BICC và ISUP có nhiều bản tin báo hiệu tương tự, chúng không tương thích peer-to-peer Điểm khác biệt chính là ISUP chỉ có thể gán khe thời gian của hệ thống PCM-39 hoặc PCM-24 với tốc độ cố định (64 hoặc 56 kbps), trong khi BICC có khả năng cung cấp và kiểm soát chất lượng dịch vụ (QoS) cần thiết cho kết nối end-to-end Với sự ra đời của mạng lõi CS Rel.4, BICC cho phép cung cấp dịch vụ cho thuê bao 3G, mở rộng từ kiến trúc đơn giản đến các giải pháp băng rộng đa phương tiện thời gian thực.
2.1.1 - Thông số địa chỉ cho bản tin ISUP/BICC : Ít nhất hai giao thức cung cấp dịch vụ giao vận cho ISUP và bản tin BICC: SS#7
Message Transfer Part ( phần chuyển giao của bản tin SS#7(MTP)) và MTP Layer 3
The User Adaptation Layer (M3UA) serves as the third layer in user communication, utilizing the Stream Control Transmission Protocol (SCTP) and Internet Protocol (IP) to facilitate efficient data transmission.
Hình 2.1 minh họa các địa chỉ của MTP dùng cho định tuyến bản tin
Oeder of bỉts Đề tài: Báo hiệu trong mạng lõi UMTS
Hình 2.2 minh họa lưu lượng cuộc gọi, cho thấy quá trình trao đổi bản tin ISUP giữa hai MSCs, được kết nối qua điểm trao đổi tín hiệu (STP).
Signaling Transfee Point) Nhiệm vụ duy nhất của STP là để định tuyến các bản tin báo hiệu SS#7. Đề tài: Báo hiệu trong mạng lõi UMTS
Mặc dù nó không khởi tạo cuộc gọi nào, nhưng vị trí trung tâm của nó trong mạng STP làm cho nó trở thành một điểm kết nối lý tưởng cho các cơ sở dữ liệu Điều này cho phép mạng cung cấp các dịch vụ thông minh như tính di động số và trả trước cuộc gọi bằng thẻ.
Trong các mạng thực tế, cặp STP kết nối tất cả các cài đặt để đảm bảo dự phòng Điều này nâng cao độ tin cậy của mạng, cho phép linh hoạt thay đổi tuyến vận chuyển khi xảy ra lỗi đơn trên liên kết báo hiệu SS#7.
Mỗi ISUP bắt đầu thử gọi với một bản tin địa chỉ khởi đầu ( IAM: Initial
Address Message) có chứa nhóm số người đã gọi đến của người dùng khởi đầu và nhóm số người gọi đến.
Bản tin ACM (Address Complete Message) cho biết SPC-B đã nhận đủ thông tin cần thiết để kết thúc cuộc gọi Sau khi nhận được thông báo này, bên A không thể gửi thêm thông tin quay số.
Bản tin trả lời (ANM) cho thấy bên B đã được kết nối và các cuộc gọi đã được kích hoạt, cho đến khi bên A hoặc bên B khởi tạo bản tin nhận cuộc gọi Thông báo này bao gồm một giá trị chỉ ra nguyên nhân, chẳng hạn như bên nhận bản tin REL xác nhận cuộc gọi thông qua bản tin hoàn thành khởi tạo (RLC).
2.1.3 - Cuộc gọi ISUP ( không thành công): Đối với thủ tục thiếp lập cuộc gọi không thành công, cuộc gọi bị từ chối bởi
SPC-B ngay lập tức phát đi thông báo REL với các giá trị nguyên nhân, chỉ rõ lý do tại sao cuộc gọi không thể hoàn thành, chẳng hạn như trường hợp bên B “Người dùng bận” (Hình 2.3).
Hình 2.3: Thiết lập cuộc gọi ISUP không thành công Đề tài: Báo hiệu trong mạng lõi UMTS
Khi cuộc gọi không thực hiện được, có nhiều nguyên nhân có thể gây ra vấn đề Tuy nhiên, những nguyên nhân này không phải lúc nào cũng phản ánh chính xác tình hình Trong nhiều trường hợp, các sự kiện khác nhau có thể dẫn đến những nguyên nhân tương tự Hơn nữa, các nhà sản xuất khác nhau có thể cung cấp các giá trị nguyên nhân cho những lý do khác nhau Đáng chú ý, một số bộ SS#7 cho phép cấu hình miễn phí các giá trị nguyên nhân trong trường hợp xảy ra sai sót.
Hình 2.4 minh họa quy trình cuộc gọi ISUP giữa hai điểm tín hiệu SS#7, liên quan đến cùng một kênh giao vận, được xác định bởi các quy tắc CIC (Circuit Identification Code) tương ứng.
Mã định danh mạch là một thủ tục quan trọng trong quá trình thực hiện cuộc gọi Trong lần gọi đầu tiên, bên B nhận được một tín hiệu tạm ngưng (bản tin SUS) trước khi cuộc gọi được khởi tạo thành công Tuy nhiên, trong lần gọi thử thứ hai, cuộc gọi không thành công vì những lý do chưa được xác định rõ ràng.
Hình 2.4: Thủ tục cuộc gọi ISUP
Hình 2.5 minh họa các nguyên nhân khởi tạo cuộc gọi đa dạng, tuy nhiên việc phân biệt chúng có thể gặp khó khăn Các giá trị nguyên nhân có thể được phân loại thành hai nhóm: tốt và xấu.
Hình 2.5 : Nguyên nhân bản tin từ chối ISUP
Normal call clearing, normal unspecified, user busy, and user not responding represent the correct modes of the network "No circuit available" indicates that there are no time slots available for the traffic channel, which is also a valid mode from a technical perspective This article discusses signaling in the UMTS core network.
Trong các phương pháp phân biệt tương tự nhau, giá trị nguyên nhân "no router destination" cần được lưu ý Giá trị này có thể chỉ ra các hướng dẫn sai do lỗi logic trong định tuyến mạng, dẫn đến sai sót trong bảng hoặc cơ sở dữ liệu dịch tiêu đề toàn cầu (GTT) Ngoài ra, giá trị nguyên nhân này cũng có thể được trả lại nếu bên gọi nằm trong danh sách đen, tức là thuê bao bên A bị cấm do chưa thanh toán hóa đơn.
Destination out of order cho thấy vấn đề về phần cứng hoặc phần mềm của SS#7 trong thiết bị chuyển mạch trên đường từ A đến B.
Cuối cùng, thất bại tạm thời thường rất phức tạp, thường xảy ra khi một IAM được gửi đi nhưng không có ACM hoặc bản tin REL trong mạng Các Tiam bộ đếm thời gian để yêu cầu một câu trả lời cho IAM trong một khoảng thời gian nhất định, chẳng hạn như 10 giây Đây là một nguyên nhân chính dẫn đến việc ANM có thể bị bỏ lỡ.
Báo hiệu trên giao diện Gn
Giao diện Gn đóng vai trò quan trọng trong việc xác định kết nối giữa các nút hỗ trợ GPRS (GSNs), bao gồm cả nút phục vụ GPRS (SGSNs) và nút cổng GPRS (GGSNs) Các SGSNs có thể kết nối với UTRAN qua giao diện IuPS hoặc với GERAN qua giao diện Gb, trong khi GGSNs kết nối với mạng dữ liệu gói (PDN) qua giao diện Gi hoặc với mạng PLMN khác qua giao diện Gp Ngoài ra, giao diện Gn cũng được sử dụng để kết nối các SGSNs với nhau, đảm bảo sự liên lạc và truyền tải dữ liệu hiệu quả trong hệ thống.
BKC ANM (CIC = ỉ ■ DT1 Oifect7rafwferCOiíNECT
DT1 DírectrransterRELEẠSE lCsise - ,nwmíl Ml clesriiỊg-j DT1 ũwcĩn3JisferRELCMP
ALCAP REL 'II ri.i,-;H, r,o n^irr-r
Hình 2.10 : Lưu đồ cuộc gọi BICC (4/5) ŨT1 : rưReltí^e
Trong giao thức GPRS Tunneling Protocol (GTP), cả giao diện Gp và Gn đều sử dụng GTP để truyền tải dữ liệu Mạng giao vận dưới mặt bằng điều khiển sử dụng MTP cho tín hiệu GTP-C, trong khi mặt bằng người dùng GTP đảm nhận việc truyền tải IP payload qua IP trên Ethernet hoặc liên kết ATM Để đảm bảo dịch vụ giao vận nhanh giữa các thực thể GTP ngang hàng, giao thức UDP được áp dụng Mặc dù TCP, với độ tin cậy cao hơn, được định nghĩa trong các tài liệu tiêu chuẩn như một lựa chọn thay thế, nhưng nó không được các nhà mạng và nhà sản xuất sử dụng do có thể làm giảm thông lượng dữ liệu trong miền PS.
Hình 2.13: Giao diện Gn cho đường hầm IP
Giao diện Gn có mục đích chính là đóng gói và tạo đường hầm cho các gói tin IP, giúp dẫn dữ liệu một cách thông suốt qua mạng lõi Mỗi ngữ cảnh PDP của người đăng ký GPRS sẽ có một đường hầm GTP-U (GTP User Plane) giữa các GSNs, cho phép dẫn trực tiếp tất cả các gói tin IP trong cả hai chiều Để tạo, điều chỉnh và xóa đường hầm, một tập hợp các bản tin báo hiệu GTP được sử dụng, với các bản tin GTP-C được trao đổi qua một đường hầm độc lập giữa các GSNs Các thông số của đường hầm, như tốc độ thông lượng, được xác định từ thỏa thuận giữa các bên liên quan.
Hình 2.12: Nút và giao diện hỗ trợ GPRS trong miền PS
The article discusses the importance of Quality of Service (QoS) in the context of Packet Data Protocol (PDP) for QĨPCorKral Plant messages It highlights that the IP transport layer carries GTP data packets, which include user IP data Utilizing IP-in-IP encapsulation allows for monitoring on the Gn interface, as the lower-layer IP addresses are associated with the transport layer of the Serving GPRS Support Node (SGSN) and Gateway GPRS Support Node (GGSN) This ensures effective tracking and management of data traffic within the network.
IP đường hầm (được vận chuyển bởi GTP T-PDU) là địa chỉ của người đăng ký
GPRS và máy chủ IP (IP Server).
Kiến trúc của GTP gồm có ba mặt bằng: mặt phẳng điều khiển (GTP-C), mặt bằng người sử dụng (GTP-U) và GTP tính cước.
Hình 2.14 cho thấy những chức năng này có thể tìm thấy giữa những nút này của kiến trúc mạng.
Hình 2.14: Các chức năng của GTP trong UMTS
GTP-C quản lý việc thiết lập và giải phóng các đường hầm người dùng giữa các GSNs để trao đổi thông tin báo hiệu GTP Nó cũng có chức năng tạo, sửa đổi và xóa các đường hầm mặt bằng người dùng Bên cạnh đó, GTP-C còn hỗ trợ quản lý di động và quản lý định vùng tùy chọn.
GTP-U là giao thức truyền tải gói tin IP trong mạng chuyển mạch gói, áp dụng cho cả giao diện IuPS và Gn Trên giao diện IuPS, các đường hầm được quản lý bởi tín hiệu RANAP Trong khi đó, GTP’ được sử dụng giữa GSNs và chức năng cổng tính cước (CGF) để truyền tải các bản tin chi tiết về cước phí.
2.2.1 - Khởi tạo ngữ cảnh PDP trên Gn (GTP-C và GTP-U) :
Lưu đồ cuộc gọi sau đây cho thấy việc kích hoạt ( giới hạn GTP : khởi tạo ) của
” GĨP-C-ĨM Create ppp Conteirt Rẹquest _2/ rTEID c HL-ĨEin-D MSISRU NSAH, APtJ, PDP-lntol * nw,- Craartl* PỮP CantOĩl BđSpnilM
(TEID -C C ° f ' tf,Kt IŨL-TElù-0 H ì sti-up
SĨPC- TM: Otteto PĐP Cantừxt RBquMt
GĨP-C ĩự Detetẹ ppp Cantert Rgsponse
Hình 2.15: Kích hoạt/vô hiệu hóa ngữ cảnh PDP trên giao diện Gn
GTP T-PDU (đơn vị dữ liệu gói) được sử dụng để truyền IP payload trong đường hầm mặt bằng người dùng.
Các bản tin giải phóng trong ngữ cảnh PDP trước đó chứa đường hầm tín hiệu TEID-C Các TEID phù hợp với mặt bằng người dùng đã được lưu trữ bởi các thực thể GTP liên quan đến TEID-C Vì vậy, đường hầm mặt bằng người sử dụng sẽ bị xóa theo.
Chỉ thị teardown nhằm xác định xem tất cả các ngữ cảnh PDP có chia sẻ địa chỉ PDP giống như ngữ cảnh PDP bị xóa sẽ bị xóa hay không (Teardown = "1"), hoặc nếu chỉ có ngữ cảnh PDP duy nhất cùng với hiển thị NSAPI.
Xóa ngữ cảnh PDP yêu cầu sẽ xóa ( Teardown Ind.=”0”).
Một lý do quan trọng cho việc vô hiệu hóa thông tin về ngữ cảnh PDP là do sự tương tác trong các cuộc gọi thoại trước đó.
2.2.2 - Quản lí vị trí GTP-C:
Quản lý vị trí GTP-C đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các trường hợp yêu cầu kích hoạt mạng lưới ngữ cảnh PDP Điều này đặc biệt hữu ích khi GGSN không có giao diện bản SS7 MAP, cụ thể là giao diện Gc.
GTP-C được sử dụng để truyền tải thông điệp giữa GGSN và giao thức chuyển đổi GTP-MAP GSN trong mạng backbone của GPRS Các chức năng và phần mềm trên GTP-MAP thực hiện việc chuyển đổi giữa các GSN khác nhau trong mạng.
Để xác định địa chỉ IP của các MS GGSN nhằm gửi thông tin định tuyến cho GPRS, cần gửi bản yêu cầu đến HLR, trong đó bao gồm IMSI của MS.
Nếu MS không thể kết nối với GGSN, nó sẽ gửi yêu cầu báo cáo thất bại đến HLR Khi HLR nhận được thông báo này, các trạm điện thoại không thể truy cập GPRS (MNRG) sẽ đánh dấu IMSI trong HLR, và một bản tin phản hồi báo cáo thất bại sẽ được gửi đến các thực thể ngang hàng Khi cờ MNRG được thiết lập, MS cần thực hiện một đính kèm mới vào vùng PS.
Khi một MS trở thành thiết bị truy cập cho GPRS, cần lưu ý rằng MS GPRS hiện tại yêu cầu gửi bản tin đến HLR và cờ MNRG sẽ bị xóa.
2.2.3 - Quản lí di động GTP-C:
Các bản tin quản lý di động GTP-C là tín hiệu được trao đổi giữa SGSNs trong GPRS, phục vụ cho thủ tục cập nhật khu vực định tuyến Inter SGSN Mục đích chính của tín hiệu này là truyền tải dữ liệu liên quan đến quá trình quản lý kết nối di động.
MS từ SGSN cũ đến SGSN mới.
Thủ tục trên giao diện Gs
Giao diện Gs được thiết lập để trao đổi dữ liệu giữa các VLR và SGSN, phục vụ cho chức năng đăng ký Giao diện này có thể được sử dụng để gửi yêu cầu trang tới thuê bao thực hiện cuộc gọi thoại qua miền PS hoặc yêu cầu trang tới thiết bị di động sử dụng giao thức dữ liệu gói ngữ cảnh PDP qua miền CS.
Các chồng giao thức trên Gs tương tự như trên GSM, nhưng một số tiến trình như BSSAP+ đã được cải tiến Tất cả các bản tin BSSAP+ được truyền tải dưới danh nghĩa của SCCP.
Các bản tin unitdata (UDT) sử dụng dịch vụ vận tải phi kết nối SCCP.
2.3.1 - Cập nhật vị trí qua Cs:
Trong tiến trình này SGSN thông báo cho VLR về một bản cập nhập vị trí vùng chuyển mạch CS
IMSI được sử dụng để xác định các thuê bao duy nhất trong toàn bộ các thông báo Chỉ số phân hệ con SCCP Subsystem Number (SSN) thường được các nhà khai thác viễn thông quyết định, tuy nhiên trong một số trường hợp, SSN2 được coi là giá trị thực trong mạng lõi.
SCCP UDT|CLD_PT¥ = VLR I.E 164 ị S5N-192 CLN_PTY- 5GSN lE.1641 SSN-1S2 |BSSÃP* LURQ (IMSI=a SGSN No.= SG5N (E 164l
GPRS Locatiũn Updateĩype = IM SI Ariath C B II Global Ideníty
MCC+MNC+LAC=b+RAC+CI, MS Classmark, Location Area Identitier:
SCCPUDTICLD PTY= SGSNíE I64- SSN = 1&2 CLN PTY= VLR lE 164Ì 2SH-192 ỊBSSAP*LŨÀC Clr.1Sl=a Lũcaton Area Idemitier' MCC+MNC+ờỏ-bHĨ
Hình 2.19: Giao diện Gs: Lưu đồ thủ tục cập nhập vị trí IMSI
2.3.2 - Chỉ định bóc tách qua Gs:
Quá trình bóc tách IMSI và GPRS có thể được thực hiện thông qua báo hiệu Gs Ví dụ trong việc theo dõi cuộc gọi, tiến trình tách GPRS được thể hiện rõ ràng Thông tin nhận dạng đi kèm cho thấy rằng tiến trình tách này của dịch vụ GPRS là yêu cầu từ mạng.
SCCP UDT|CLD_PTY = VLR lE 164ì S5N = 192 CLM_PTY= 5G5N
'lẺ 164: SSN-192 |BSSÀP+GDÍb (IMSI=a SGSN No.= SGSN lE 164i
IMSI C*etach from GPRS Service Type ” Network Inítialed IM SI Detath írom GPRS Service Cel Global Idéntiry MCCƯự||4C+LAC+RAC+CI}p
SCCPUDT1CLD PTY = SGSN 1E 164 ■ SShl2, CLN PTY-VLR
Hình 2.20: Giao diện Gs: lưu đồ thủ tục bóc tách IMSI/GPRS
2.3.2 - Tìm và gọi qua Gs:
Báo hiệu Gs trong hình 2.21 minh họa một thông báo yêu cầu tìm và gọi được gửi từ VLR đến SGSN, cho thấy quy trình tìm kiếm và gọi CS qua miền.
PS Phản hồi phù hợp với yêu cầu tìm và gọi này được gán vào trong bản tin RANAP qua miền IuCS.
Hình 2.21: Giao diện Gs: lưu đồ yêu câu tìm và gọi CS
Báo hiệu xử lý chuyển vùng
2.4.1 - Thủ tục chuyển giao nội 3G:
Giao thức ứng dụng di động MAP không chỉ phục vụ truyền thông giữa các cơ sở dữ liệu mà còn hỗ trợ chuyển giao thông tin giữa các MSC và chức năng truyền tải cho các giao thức truy nhập mạng vô tuyến lớp 3 Cụ thể, MAP có khả năng mang bản tin RNAP giữa các RNC kết nối với các MSC khác, trong khi RNAP hỗ trợ một phần chức năng truyền tải cho giao thức RRC Các bản tin RNAP chứa thông tin RRC MSC trên giao diện E trong mạng 3G và được nhúng trong các hoạt động MAP có thể được giám sát Do đó, các chồng giao thức cần thiết cho giám sát phải khác với các tiêu chuẩn quốc tế Việc giải mã hoàn chỉnh các bản tin báo hiệu yêu cầu các chồng giao thức "real world" Bài viết cũng giải thích lý do tại sao MAP mang thông tin RANAP và RRC, nhấn mạnh rằng một UTRAN không chỉ kết nối với một MSC/SGSN mà còn phản ánh cấu trúc phức tạp của mạng 3G, bao gồm nhiều UTRAN và MSC, SGSN khác nhau.
RNCs trong cùng một UTRAN có thể kết nối qua giao diện Iur, trong khi không có kết nối Iur giữa các RNCs của các UTRAN khác nhau.
UTRANS khác nhau được liên kết thông qua giao diện E của miền CS và giao diện
Trong miền PS, khi một UE chuyển giao giữa các tế bào thuộc UTRAN khác nhau, các CRNC của các tế bào cần phải giao tiếp để đảm bảo quá trình chuyển giao cứng không gặp lỗi Trong trường hợp này, chuyển giao mềm không khả thi trừ khi các tế bào sử dụng cùng tần số.
Hình 2.22: Giao diện UMTSgiữa 2 UTRAN
Tất cả các kết nối giữa UE và mạng khởi đầu bằng việc thiết lập một kết nối RRC, được điều khiển bởi RNC Kết nối này kết thúc các giao diện Iu và được gọi là RNC serving (SRNC) Trong hình 2.23, SRNC ban đầu được xác định là RNC 1.
Hình 2.23: Thiếp lập kết nối RRC ban đầu giữa UE và SRNC (RNC 1) Đề tài: Báo hiệu trong mạng lõi UMTS
148 Đề tài: Báo hiệu trong mạng lõi UMTS
Hình 2.26: RANAP trên chồng giao thức MAP trên giao diện E
• Tổng quan chuyển giao MSC trong nội mạng 3G:
Hình 2.27: Tổng quan chuyển giao/ tái định vịMSC trong nội mạng 3G
Bước 1 trong thủ tục chuyển giao nội 3G-MSC bắt đầu khi báo cáo đo RRC được gửi đi, khi một thiết bị mới hoạt động trên cùng tần số với một thiết bị cũ.
Khi SRNC (RNC 1) nhận bản tin báo cáo RRC, nó quyết định thực hiện chuyển giao sang RNC 2 Nếu không có giao thức Iur giữa các RNC, việc chuyển giao phải là chuyển giao cứng và tái chỉ định SRNS đồng thời Quá trình này được xử lý bởi SRNC cũ, gửi yêu cầu tái định vị RANAP tới MSC của nó.
Dựa trên bảng định tuyến của MSC phục vụ, RNC 2 được xác định kết nối tới một MSC khác Do đó, MSC cần gửi bản tin yêu cầu tái định vị RANAP tới RNC 2 Để chuyển kênh lưu lượng của cuộc gọi tới MSC mới, MSC phục vụ gửi bản tin chuẩn bị chuyển vùng MAP chứa RANAP tới MSC mới.
Bước 4 MSC mới chuyển bản tin yêu cầu tại định vị RANAP tới RNC 2.
Bước 5: RNC 2 chỉ định tất cả các nguồn tài nguyên vô tuyến cần thiết để chuẩn bị cho kết nối với UE Các chức năng lập lịch và điều khiển quản trị được kiểm tra và tính toán để đảm bảo tính tương thích với các tham số của RNC 1 Quyết định về việc thực hiện chuyển giao phụ thuộc vào kết quả tính toán, được thông báo qua bản tin RRC.
RNC 2 Nếu yêu cầu QoS thay đổi, bản tin tái cấu hình kênh mang vô tuyến đuợc gửi đi, trên ví dụ cho thấy bản tin tái cấu hình kênh vật lý được gửi.
Bước 6 RNC 2 gửi bản tin xác nhận tái định vị RANAP tới RNC 2 để đáp lại bản tin tái cấu hình kênh vật lý RRC.
Bước 7: Trả lời bản tin tiền chuyển giao MAP từ MSC mới tới MSC phục vụ cũ, trong đó bao gồm xác nhận tái định vị RANAP cùng thông tin về việc tái cấu hình kênh vật lý RRC.
Bước 8: MSC cũ gửi lệnh tái định vị RANAP tới RNC 1, trong đó bản tin tái cấu hình kênh vật lý từ RNC 2 được nhúng lại Lệnh tái định vị yêu cầu RNC 1 kết thúc các luật hiện tại áp dụng cho kết nối.
Bước 9: Bản tin tái cấu hình kênh vật lý đqợc chuyển bởi RNC 2 qua lub cũ và giao diện Uu tới UE.
Dựa vào thông tin từ bản tin yêu cầu tái cấu hình kênh vật lý RRC, quá trình chuyển giao được thực hiện và sau đó, bản tin hoàn tất tái cấu hình kênh vật lý được gửi qua giao diện lub mới đến RNC 2.
2.4.2 - Thủ tục chuyển giao giữa 3G -2G- 3G:
Các tế bào UMTS chủ yếu tập trung vào các khu vực đô thị, nhưng vùng phủ sóng có thể không ổn định Do đó, việc chuyển giao cuộc gọi, đặc biệt là giữa các công nghệ truy cập vô tuyến (RAT) khác nhau từ UMTS, là rất cần thiết Thủ tục này thường được gọi là chuyển giao liên hệ thống.
Sự khác biệt chính giữa chuyển giao Internet 3G MSC và thủ tục tái định vị là việc không có mục tiêu RNC cho quá trình bàn giao, mà thay vào đó là mục tiêu BSC Điều này có nghĩa là trong quá trình chuyển giao, BSC đóng vai trò quan trọng hơn RNC.
Trong mạng lõi UMTS, giao thức RANAP chỉ tương tác và "hiểu" BSSAP, điều này đã dẫn đến sự thay đổi trong cách nhìn nhận giao diện tổng quan của hệ thống.
Hình 2.28: Các giao diện có liên quan trong chuyển giao liên hệ thống giữa