1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

THUYẾT MINH QUY HOẠCH HUYỆN VỤ BẢN

94 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thuyết Minh Quy Hoạch Huyện Vụ Bản
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,09 MB

Cấu trúc

  • 2. Nhiệm vụ quy hoạch (6)
  • 1. Vị trí (8)
  • 2. Quy mô (8)
  • 1. Điều kiện tự nhiên (8)
    • 1.1. Địa hình, thổ nhưỡng (8)
    • 1.2. Khí hậu (9)
    • 1.3. Thủy văn (9)
  • 2. Tài nguyên (10)
    • 2.1. Tài nguyên nước (10)
    • 2.2. Tài nguyên đất (10)
    • 2.3. Tài nguyên khoáng sản (10)
  • 1. Hiện trạng kinh tế (13)
  • 2. Thu chi ngân sách và đầu tư phát triển (13)
  • 3. Thực trạng phát triển các ngành và các lĩnh vực (14)
    • 3.1. Sản xuất nông, lâm, thủy sản (14)
    • 3.2. Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (16)
    • 3.3. Ngành xây dựng (17)
    • 3.4. Dịch vụ thương mại, du lịch (18)
    • 3.5. Thực trạng phát triển các lĩnh vực (20)
      • 3.5.1. Giáo dục - Đào tạo (20)
      • 3.5.2. Y tế (21)
      • 3.5.3. Văn hóa, thể thao (22)
  • 4. Hiện trạng dân số - xã hội (22)
    • 4.1. Dân số (22)
    • 4.2. Nguồn nhân lực (22)
  • 1. Thực trạng phát triển hệ thống đô thị (23)
  • 2. Thực trạng phát triển nông thôn (23)
  • 1. Lợi thế (30)
  • 2. Hạn chế khó khăn (31)
  • 3. Cơ hội (32)
  • 4. Thách thức (32)
    • 2.1. Dự báo tăng trưởng kinh tế (35)
    • 5.2. Định hướng phát triển (41)
  • 2. Hệ thống y tế, bảo vệ sức khỏe (54)
  • 3. Văn hóa – Thể thao (55)
  • 1. Căn cứ pháp lý (65)
  • 3. Phạm vi và nội dung nghiên cứu (66)
  • III. DỰ BÁO TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG KHI THỰC HIỆN QUY HOẠCH.................................................. 66 1. Nhận diện, đánh giá diễn biến các vấn đề môi trường tại các vùng chức năng trên địa bàn khi thực hiện (67)
    • 2. Dự báo và diễn biến các thành phần môi trường đến năm 2030 (70)
    • 3. Nhận dạng và đánh giá những tác động riêng lẻ (71)
  • IV. CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA, GIẢM THIỂU VÀ QUẢN LÝ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG.............. 72 4. Các giải pháp quản lý, kiểm soát môi trường (73)
    • 5. Chương trình quan trắc và giám sát chất lượng môi trường (76)

Nội dung

Nhiệm vụ quy hoạch

- Xác định các mô hình định hướng phát triển không gian huyện và các khu vực giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

- Đánh giá thực trạng và tiềm năng, lợi thế cũng như hạn chế của huyện.

Dự báo cơ cấu phát triển dân số, lao động sản xuất, đất đai đô thị và nông thôn, cùng với các chỉ tiêu đô thị hóa, là rất quan trọng cho các giai đoạn phát triển Việc này giúp xác định các xu hướng và nhu cầu trong tương lai, từ đó xây dựng các chính sách phù hợp để quản lý và phát triển bền vững.

Đề xuất hệ thống tổ chức không gian lãnh thổ bao gồm các đô thị trung tâm và các điểm dân cư đô thị - nông thôn, đồng thời định hướng phát triển các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thương mại - dịch vụ - du lịch Ngoài ra, cần phát triển các trung tâm chuyên ngành như giáo dục - đào tạo, y tế, và văn hóa - thể thao để nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy sự phát triển bền vững.

- Định hướng phát triển hạ tầng kỹ thuật như giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, chất thải rắn, đánh giá tác động môi trường chiến lược, ….

- Đề xuất các chương trình dự án ưu tiên đầu tư phát triển và cơ cấu điều hành thực hiện, kiểm soát phát triển.

PHẦN II TỔNG QUAN THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH VÀ NGUỒN LỰC

I VỊ TRÍ VÀ GIỚI HẠN PHẠM VI VÙNG QUY HOẠCH

Vị trí

Vụ Bản nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Nam Định

+ Phía Bắc giáp huyện Mỹ Lộc và tỉnh Hà Nam;

+ Phía Đông giáp thành phố Nam Định;

+ Phía Tây giáp huyện Ý Yên;

+ Phía Nam giáp huyện Nam Trực.

Vụ Bản sở hữu vị trí địa kinh tế thuận lợi, nằm cạnh hai trung tâm kinh tế lớn của vùng Nam đồng bằng sông Hồng là thành phố Nam Định và thành phố Ninh Bình.

Vụ Bản được kết nối giao thông thuận lợi nhờ vào các tuyến đường quốc lộ như QL10, QL38B, QL37B, QL21 và TL486B, cùng với hệ thống huyện lộ và đường giao thông nông thôn.

Quy mô

Huyện Vụ Bản có diện tích tự nhiên 152,81 km², được chia thành 18 đơn vị hành chính, bao gồm 1 thị trấn và 17 xã Dân số trung bình của huyện là

Thị trấn Gôi là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội của huyện, cách thành phố Nam Định 17 km.

II PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

Điều kiện tự nhiên

Địa hình, thổ nhưỡng

Huyện Vụ Bản nằm trong vùng đất cổ với địa hình tương đối ổn định, chủ yếu là đồng bằng phẳng Mặc dù vậy, khu vực này vẫn có sự khác biệt về độ cao, tạo nên những vùng cao thấp khác nhau.

Vùng đất cao dọc quốc lộ 10 và quốc lộ 38B bao gồm thị trấn Gôi và các xã Kim Thái, Liên Bảo, Tam Thanh, Cộng Hoà, Trung Thành, Quang Trung, Đại An, cùng một phần nhỏ phía Tây Bắc xã Liên Minh Với địa hình cao hơn các xã lân cận từ 0,5m đến 2,5m, khu vực này rất thích hợp cho việc cấy lúa hai vụ hoặc một vụ lúa kết hợp với một vụ màu.

Vùng đất thấp của huyện được chia thành hai khu vực chính: phía Bắc gồm các xã Minh Thuận, Tân Khánh, Hiển Khánh, Hợp Hưng và Minh Tân; phía Nam bao gồm các xã Vĩnh Hào, Đại Thắng, Thành Lợi, Tân Thành cùng phần lớn xã Liên Minh (trừ khu vực phía Tây Bắc) Với độ cao trung bình từ 0,5m đến 0,7m, địa hình nơi đây thấp trũng và thường xuyên bị ngập úng trong mùa mưa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cấy lúa và nuôi trồng thuỷ sản.

Huyện có 5 ngọn núi nhỏ với tổng diện tích hơn 60 ha, bao gồm Núi Hổ tại xã Liên Minh, Núi Gôi ở thị trấn Gôi, Núi Lê Xá thuộc xã Tam Thanh, Núi Tiên Hương tại xã Kim Thái và Núi Ngăm nằm giữa xã Kim Thái và xã Minh Tân.

Với địa hình như trên tạo thuận lợi cho Vụ Bản trong phát triển nông nghiệp và du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái.

Khí hậu

Vụ Bản mang đầy đủ những đặc điểm khí hậu của khu vực nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, có 4 mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Nhiệt độ trung bình hàng năm ở khu vực này dao động từ 23°C đến 24°C Vào mùa đông, nhiệt độ trung bình ghi nhận là 18,9°C, với tháng lạnh nhất là tháng 1 và tháng 2 Trong khi đó, mùa hè có nhiệt độ trung bình khoảng 27°C, và tháng nóng nhất là tháng 7, khi nhiệt độ đạt mức trung bình 29,4°C.

- Độ ẩm: Tương đối cao, trung bình năm khoảng 80 - 85%, tháng có độ ẩm cao nhất (90%) là tháng 2, tháng có độ ẩm thấp nhất (81%) là tháng 11.

Mỗi năm, khu vực này trải qua trung bình 250 ngày nắng, với tổng số giờ nắng dao động từ 1.650 đến 1.700 giờ Đặc biệt, mùa hè ghi nhận khoảng 1.100 đến 1.200 giờ nắng, chiếm khoảng 70% tổng số giờ nắng trong cả năm.

Tổng lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 1700 đến 1800 mm, với sự phân bố không đều theo mùa Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa trong năm, trong đó các tháng 7, 8 và 9 là thời điểm mưa nhiều nhất Ngược lại, mùa khô diễn ra từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chỉ chiếm khoảng 20% lượng mưa cả năm, với tháng 12, 1 và 2 là những tháng ít mưa nhất, thậm chí có tháng gần như không có mưa.

Hướng gió thịnh hành thay đổi theo mùa, với tốc độ gió trung bình cả năm khoảng 2 – 2,3 m/s Vào mùa đông, gió Đông Bắc chiếm ưu thế với tần suất 60 – 70% và tốc độ trung bình từ 2,4 – 2,6 m/s, trong khi những tháng cuối mùa đông, gió có xu hướng chuyển dần về phía Đông Ngược lại, mùa hè chứng kiến gió Đông Nam chiếm tần suất 50 – 70%, với tốc độ trung bình khoảng 1,9 – 2,2 m/s, và đầu mùa hạ thường có các đợt gió Tây khô, nóng.

- Bão: Hàng năm thường chịu ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân 4 – 6 cơn bão/năm (từ tháng 6 đến tháng 10).

Khí hậu Vụ Bản rất thuận lợi cho sự phát triển của con người và hệ sinh thái động, thực vật, đặc biệt là trong mùa đông khi nhiều loại rau màu có giá trị kinh tế cao được trồng Tuy nhiên, sự biến động mạnh mẽ của thời tiết, bao gồm bão, dông và lượng mưa tập trung theo mùa, kết hợp với địa hình thấp, dẫn đến tình trạng lũ lụt và úng cục bộ Do đó, cần có các biện pháp phòng tránh kịp thời để giảm thiểu thiệt hại.

Thủy văn

- Hệ thống sông ngòi: Huyện Vụ Bản được bao bọc bởi hai sông chính là sông Đào, sông Sắt và hệ thông các sông cấp II, cấp III.

Mật độ sông và ngòi trong khu vực khá dày, với chế độ thuỷ văn phụ thuộc vào hệ thống thuỷ văn lục địa và hai con sông lớn là sông Đào và sông Sắt Trong mùa mưa, khi lượng mưa lớn, có thể xảy ra tình trạng ngập úng cục bộ ở các vùng thấp, trũng, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống của người dân.

Tài nguyên

Tài nguyên nước

Nguồn nước mặt tại huyện Vụ Bản rất phong phú nhưng phân bố không đồng đều do ảnh hưởng của địa hình Hai con sông chính cung cấp nước là sông Đào và sông Sắt Sông Đào chảy dọc theo phía Đông và Đông Nam, tạo thành ranh giới giữa huyện Vụ Bản và huyện Nam Trực, trong khi sông Sắt chảy dọc theo phía Tây, tạo ranh giới giữa huyện Vụ Bản và huyện Ý Yên Nguồn nước từ hai con sông này đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, cung cấp nước tưới tiêu và phục vụ sinh hoạt.

Vụ Bản không chỉ sở hữu nguồn nước mặt phong phú mà còn có trữ lượng nước ngầm dồi dào Nằm ở tầng chứa nước lỗ hổng Plutoxen (HN) với độ sâu trung bình từ 40 đến 120m, nguồn nước ngầm này vẫn chưa được khai thác hiệu quả cho nhu cầu sinh hoạt của người dân do chất lượng nước chưa đạt yêu cầu.

Tài nguyên đất

Đất đai Vụ Bản hình thành từ quá trình biển lùi hàng ngàn năm trước, được bồi đắp bởi hệ thống sông Hồng, tạo nên đất màu mỡ với hàm lượng dinh dưỡng cao (NPK) và các chất dễ tiêu hóa, phù hợp cho sản xuất nông nghiệp Các nhóm đất chính có thể được phân loại như sau:

Đất glâysol có độ cao từ 0,5-0,7m và tổng diện tích khoảng 1.500ha, thường hình thành ở khu vực đất thấp trũng, dễ bị ngập úng vào mùa mưa Loại đất này chủ yếu phân bố ở các xã thượng huyện và một số xã thấp trũng tại trung tâm huyện, thường được sử dụng cho canh tác nông nghiệp và nuôi thủy sản.

- Đất phù sa không được bồi, glây trung bình: độ cao từ 0,8-1,2m; tổng diện tích khoảng 3.500ha; phân bố hầu hết ở các xã trung tâm huyện.

Đất phù sa không được bồi, có tính glây yếu, với độ cao từ 1,2-1,5m, tổng diện tích khoảng 1.500ha Loại đất chủ yếu là cát hoặc đất thịt nhẹ, phân bố ở các xã ven QL38B, QL10 và ven sông Đào.

- Đất cát pha thịt nhẹ: độ cao 2m; diện tích khoảng 800ha; chủ yếu trồng màu, cây công nghiệp.

Trong huyện có diện tích lớn thuộc vùng đồng trũng, việc dễ bị úng ngập là một vấn đề nghiêm trọng Khu vực đất thấp trũng cần được chú ý, vì có nguy cơ bị chua, đòi hỏi các biện pháp xử lý kịp thời để đảm bảo an toàn cho sản xuất nông nghiệp.

Tài nguyên khoáng sản

Vụ Bản sở hữu nguồn nguyên liệu fenspat từ núi Gôi, có khả năng khai thác để sản xuất phụ gia cho ngành gốm sứ Đồng thời, nước khoáng từ núi Gôi cũng đang được nghiên cứu và thử nghiệm nhằm khai thác phục vụ cho ngành nước giải khát và chữa bệnh.

Toàn huyện có 46ha đất rừng phòng hộ chủ yếu tại khu vực 5 ngọn núi (núi

Hổ, núi Gôi, núi Lê Xá, núi Tiên Hương, núi Ngăm) Các loại cây trồng chủ yếu là thông, keo, bạch đàn và các cây phân tán khác.

2.5 Tài nguyên du lịch và nhân văn

Huyện Vụ Bản là vùng đất cổ với dấu vết người nguyên thuỷ, được coi là một trong những cái nôi của người Việt cổ Nơi đây có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, với nhiều di tích lịch sử và văn hoá được Nhà nước công nhận, cùng với các thắng cảnh nổi tiếng có giá trị du lịch Đặc biệt, vào ngày 1/12/2016, “Tín ngưỡng thờ mẫu” đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Tài nguyên du lịch lễ hội và văn hoá tâm linh, như quần thể di tích Phủ Dầy – chợ Viềng, tín ngưỡng thờ mẫu, và du lịch sinh thái Núi Ngăm, là những tài sản quý giá của huyện Ngoài ra, các di tích khác như đền bà Mai Hồng, đền trạng Lương Thế Vinh, và nhà lưu niệm Trần Huy Liệu, Nguyễn Bính cũng góp phần làm phong phú thêm giá trị văn hoá nơi đây.

Quần thể di tích lịch sử - văn hoá Phủ Dầy, tọa lạc tại xã Kim Thái, cách thành phố Nam Định 14km về phía Tây Nam, bao gồm 21 di tích liên quan đến thánh mẫu Liễu Hạnh, một trong “tứ bất tử” của điện thần Việt Nam Nơi đây được bao bọc bởi các dãy núi sót giữa vùng đồng bằng châu thổ, tạo nên vẻ đẹp độc đáo Các di tích được xây dựng với quy mô bề thế, mang đậm phong cách kiến trúc cổ truyền dân tộc Đặc biệt, lăng Bà chúa Liễu, do Nam Phương Hoàng Hậu xây dựng năm 1938, được làm hoàn toàn bằng đá xanh và có 60 búp sen đá hồng, với mộ tưởng niệm công chúa Liễu Hạnh là công trình tiêu biểu nhất trong quần thể.

Vụ Bản là điểm đến du lịch hấp dẫn với tiềm năng khám phá văn hóa cộng đồng và lối sống độc đáo của cư dân vùng đồng bằng sông Hồng Du khách có thể tham quan các làng nghề truyền thống như gối mây Tiên Hào, cơ khí nhỏ và nghề rèn Giáp Nhất, cùng với dệt may Quả Linh Ngoài ra, lễ hội hàng năm tại đây còn diễn ra nhiều trò chơi dân gian và môn thể thao truyền thống như hát trống quân, thi đánh cờ đèn dưới nước, múa rồng, chơi đu, đánh kiếm, múa roi và võ vật, mang đến trải nghiệm văn hóa phong phú cho du khách.

Vụ Bản, một trong những cái nôi của người Việt cổ, nổi bật với truyền thống hiếu học và nhiều nhân tài xuất sắc đã đóng góp vào văn hóa dân tộc Trong thời kỳ khoa cử phong kiến, huyện Vụ Bản đã sản sinh ra 16 vị tiến sĩ, thám hoa, bảng nhãn và trạng nguyên Người dân nơi đây không chỉ cần cù, dũng cảm chống thiên tai và giặc ngoại xâm, mà còn giữ vững tinh thần tự lực tự cường và ý thức cộng đồng Truyền thống này như sợi chỉ đỏ kết nối quá khứ với hiện tại, tạo nên sức sống và trí tuệ của người Vụ Bản Nơi đây cũng là quê hương của nhiều nhân vật nổi tiếng như Nhà sử học Trần Huy Liệu và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch.

Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh, cùng với Thượng tướng Song Hào, Nhà thơ Nguyễn Bính, Nhạc sĩ Văn Cao, và Giáo sư nông học Bùi Huy Đáp, đã có những đóng góp quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trong việc trồng lúa chiêm xuân, mở ra hướng mới cho sản xuất nông nghiệp Việt Nam.

III HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÀ THỰC TRẠNG XÂY DỰNG

Theo thống kê năm 2016, huyện Vụ Bản có tổng diện tích đất tự nhiên là 15.281 ha, trong đó xã Đại Thắng là đơn vị hành chính có diện tích lớn nhất với 1.399 ha, còn xã Tân Thành là đơn vị có diện tích nhỏ nhất với 427 ha.

Hiện trạng sử dụng đất huyện Vụ Bản năm 2016

Chỉ tiêu Diện tích (ha) %

Tổng diện tích tự nhiên 15.281 100

1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 9.983 65,3

1.2 Đất lâm nghiệp có rừng 46 0,3

1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 638 4,2

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Vụ Bản

Vào năm 2015, tổng diện tích đất nông nghiệp đạt 10.804 ha, chiếm 70,7% tổng diện tích tự nhiên, cao hơn mức trung bình toàn tỉnh là 67,7% Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp chiếm 65,3%, đất rừng 0,3%, đất nuôi trồng thủy sản 4,2% và đất nông nghiệp khác 0,9%.

Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2016

STT Chỉ tiêu Diện tích (ha)

Tổng diện tích đất phi nông nghiệp 4.426

2.1 - Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 98

2.2 - Đất quốc phòng, an ninh 16

2.3 - Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 284

2.4 - Đất có mục đích công cộng 2.390

3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 84

4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 220

5 Đất sông suối và mặt nước 445

6 Đất phi nông nghiệp khác 3

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Vụ Bản năm 2016

Diện tích khoảng 51 ha, 0,3% diện tích tự nhiên

Cơ cấu sử dụng đất hiện nay cần được đánh giá một cách tổng thể để xác định hiệu quả sử dụng và tình hình quản lý đất đai Các vấn đề tồn tại trong việc sử dụng đất như phân bổ không hợp lý, lãng phí tài nguyên và thiếu minh bạch trong quản lý cần được xem xét kỹ lưỡng Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, cần có các giải pháp đồng bộ nhằm cải thiện tình hình quản lý và khắc phục những hạn chế hiện tại.

- Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện đã thể hiện những mặt tích cực trong kế hoạch sử dụng đất như sau:

Công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn đã có những chuyển biến tích cực, với việc thực hiện quản lý đất đai theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất ngày càng chặt chẽ Điều này góp phần quan trọng vào việc sử dụng đất một cách hợp lý và hiệu quả.

+ Đảm bảo được quỹ đất sản xuất nông nghiệp, đất lúa trên địa bàn, đảm bảo cảnh quan môi trường sinh thái

Công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất của các cấp chính quyền đã được nâng cao, đảm bảo việc giao và cho thuê đất phù hợp với kế hoạch địa phương Kế hoạch sử dụng đất không chỉ giúp quản lý và khai thác hiệu quả tài nguyên đất đai mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cơ sở hạ tầng, từ đó thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Đấu giá quyền sử dụng đất và đấu thầu dự án sử dụng đất đã biến đất đai thành nguồn lực tài chính quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Mặc dù có nhiều mặt tích cực, nhưng tình hình sử dụng đất vẫn gặp một số vấn đề tồn tại Cụ thể, quản lý Nhà nước về đất đai tại một số khu vực vẫn còn yếu kém, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả và chất lượng phát triển bền vững.

Một số chỉ tiêu sử dụng đất theo kế hoạch không được thực hiện, trong khi đó, hạ tầng cơ sở đầu tư chưa đáp ứng kịp thời với yêu cầu phát triển và tốc độ gia tăng dân cư.

+ Hiệu quả khai thác sử dụng nguồn lực đất đai còn có mặt hạn chế, các trường hợp vi phạm đất đai còn diễn ra ở một địa phương

IV ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI

Hiện trạng kinh tế

Trong những năm gần đây, huyện đã chứng kiến sự phát triển toàn diện và vững chắc trong nền kinh tế xã hội Giá trị sản xuất của huyện (theo giá SS 2010) trong năm

Từ năm 2011 đến 2016, giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng đạt 6.890,9 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 12,1% Các ngành công nghiệp và dịch vụ có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn mức trung bình.

Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tiến bộ, với tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp ngày càng tăng và các ngành nông, lâm, thuỷ sản giảm dần Cụ thể, vào năm 2016, tỷ lệ cơ cấu ngành nông, lâm, thuỷ sản, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ (theo GTSX, giá hiện hành) lần lượt là 25%, 54% và 21%.

Thu chi ngân sách và đầu tư phát triển

Năm 2016, huyện ghi nhận tổng thu ngân sách đạt 572,9 tỷ đồng, trong đó ngân sách cấp trên hỗ trợ 380,6 tỷ đồng Tổng chi ngân sách trong cùng năm là 545,5 tỷ đồng, với chi thường xuyên chiếm 472,4 tỷ đồng.

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2016 đạt 2.775,3 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn từ doanh nghiệp dân doanh và tư nhân chiếm 46,2%, vốn Nhà nước chiếm 12,8%, và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 41%.

Thực trạng phát triển các ngành và các lĩnh vực

Sản xuất nông, lâm, thủy sản

Tốc độ tăng trưởng GTSX (giá SS 2010) ngành nông – lâm – thuỷ sản giai đoạn 2011 – 2016 đạt 2,1%/năm

Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và duy trì sự tăng trưởng ổn định Cơ cấu nội bộ của ngành nông nghiệp đã có những chuyển biến tích cực, với tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng lên, trong khi tỷ trọng ngành trồng trọt và dịch vụ có sự biến động nhẹ.

Tốc độ chuyển dịch cơ cấu nội ngành diễn ra chậm, dẫn đến thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp không ổn định và giá trị gia tăng của sản phẩm vẫn còn thấp.

Ngành trồng trọt vẫn giữ vai trò chủ đạo trong sản xuất nông nghiệp của huyện, với quy mô không ngừng mở rộng Mặc dù tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng chưa đồng đều, quá trình chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp đã diễn ra, hướng tới sản xuất hàng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Cơ cấu cây trồng đang chuyển dịch theo hướng tăng diện tích các loại cây có giá trị kinh tế và hàng hóa cao, như lúa chất lượng cao, lạc và khoai tây, trong khi diện tích các loại cây trồng có giá trị kinh tế thấp đang giảm dần.

Phân vùng các vùng trồng trọt hiện trạng:

+ Vùng trồng lúa chất lượng cao ở tất cả các xã, thị trấn trên địa bàn huyện. Quy mô 7.500-8.000 ha/năm.

+ Vùng lúa năng suất cao quy mô 7.000 ha/năm.

+ Vùng hoa cây cảnh tại Đại Thắng, Thành Lợi, TT Gôi, Kim Thái Quy mô 30-40 ha.

Vùng trồng lạc chủ yếu tập trung tại các xã và thị trấn như Kim Thái, Liên Bảo, TT Gôi, Liên Minh, Tam Thanh, Đại Thắng và Thành Lợi, với tổng quy mô lên đến 620 ha Toàn huyện có tổng diện tích trồng lạc đạt 1.004 ha.

+ Vùng trồng khoai tây: Thành Lợi, Liên Bảo, Đại Thắng, Liên Minh Quy mô 280 ha Tổng diện tích trồng khoai tây toàn huyện là 350 ha.

Hiện trạng diện tích cánh đồng lớn năm 2016 (vùng > 50ha)

STT Xã, thị trấn Số lượng Diện tích (ha) Sử dụng giống

Trong những năm qua, chăn nuôi đã phát triển ổn định mặc dù chịu ảnh hưởng từ thời tiết, giá nguyên liệu và dịch bệnh Xu hướng chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung quy mô trang trại và gia trại vừa và nhỏ theo hướng an toàn sinh học đang diễn ra Nhiều tiến bộ kỹ thuật trong giống, sản xuất thức ăn và thú y đã được áp dụng, góp phần thay thế phương thức chăn nuôi truyền thống bằng hình thức nuôi công nghiệp và bán công nghiệp Điều này không chỉ tạo việc làm, tăng thu nhập mà còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Hiện tại, toàn huyện có 28 trang trại và 324 gia trại.

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2016 đạt 13.090 tấn, trong đó sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 10.005 tấn.

Diện tích chăn nuôi hiện tại của huyện đạt 120 ha, với các khu vực nuôi lớn chủ yếu tập trung tại các xã như Minh Thuận, Tân Khánh, Minh Tân, Kim Thái, Vĩnh Hào, Hợp Hưng, Đại An và Tân Thành.

- Về nuôi trồng thủy sản:

Trong những năm qua, huyện đã chú trọng phát triển nuôi trồng thủy sản, chuyển đổi 286 ha đất lúa kém hiệu quả sang mô hình trồng lúa kết hợp nuôi thủy sản Các loài cá chủ yếu được nuôi bao gồm cá rô phi đơn tính và các loại cá truyền thống như mè, trắm, rô hu, mirigan, chép, theo phương thức nuôi bán thâm canh Tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản năm 2016 đạt 3.011 tấn.

* Phân vùng nuôi trồng thuỷ sản hiện trạng:

Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của huyện vào năm 2016 đạt 872 ha, phân bổ tại các xã như Minh Thuận, Tân Khánh, Hiển Khánh, Hợp Hưng, Cộng Hoà, Tam Thanh, Liên Minh, Vĩnh Hào, và Đại Thắng.

Khai thác thuỷ sản chủ yếu là cá, sản lượng nhỏ đạt 29 tấn

Toàn huyện có 46 ha đất rừng trên các núi thuộc huyện.

3.1.5 Dịch vụ và kinh tế hợp tác:

Trong thời gian qua, dịch vụ nông nghiệp đã có những chuyển biến tích cực, đặc biệt là hệ thống thuỷ nông, giống cây trồng và vật tư nông nghiệp Những cải tiến này đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân.

Huyện có khoảng 320 điểm giết mổ gia súc và gia cầm nhỏ lẻ, cùng với 16 cơ sở ấp trứng và 20 cơ sở kinh doanh con giống Ngoài ra, còn khoảng 75 cửa hàng chuyên buôn bán và kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Hiện tại, huyện có 34 hợp tác xã (HTX), bao gồm 31 HTX nông nghiệp và 3 HTX chuyên ngành Để thực hiện đề án tăng cường quản lý của UBND xã về nông nghiệp và phát triển nông thôn, huyện đã chuyển đổi HTX sang hình thức kinh doanh dịch vụ theo luật HTX 2012 Tính đến nay, toàn huyện có 18 ban nông nghiệp xã hoạt động tích cực.

Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp huyện Vụ Bản đang phát triển nhanh chóng, đóng vai trò nền tảng cho nền kinh tế và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Giá trị sản xuất công nghiệp tăng lên nhờ vào việc các doanh nghiệp mở rộng quy mô và thu hút đầu tư, dẫn đến sản lượng các sản phẩm chủ yếu gia tăng Nhiều dự án mới cũng đã đi vào hoạt động, như các công ty đầu tư vào khu công nghiệp Bảo Minh, Công ty Bê tông đúc sẵn Thành Nam với dự án đúc cọc ép bê tông tại xã Tân Thành, và Công ty TNHH xây dựng và thương mại Thông Oanh đầu tư tại thị trấn Gôi, góp phần nâng cao giá trị sản xuất ngành công nghiệp.

Huyện có tổng cộng 1.701 cơ sở sản xuất công nghiệp, với giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp năm 2016 đạt 2.797,3 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong giai đoạn 2011-2016 đạt 41,5% mỗi năm.

3.2.1 Tình hình phát triển khu, cụm công nghiệp

Khu công nghiệp Bảo Minh, với diện tích 154,5 ha và tỷ lệ lấp đầy đạt 81,8%, đã đi vào hoạt động sản xuất Tổng vốn đầu tư thứ cấp tại khu công nghiệp này đạt 319,9 tỷ đồng và 194,2 triệu USD.

Trên địa bàn huyện có 2 cụm công nghiệp trong danh mục cụm công nghiệp của tỉnh, đã hình thành và đi vào sản xuất.

- Cụm công nghiệp Quang Trung quy mô 6,1 ha với ngành nghề chủ yếu là cơ khí, chế biến lương thực, sản xuất vật liệu xây dựng, bao bì

- Cụm công nghiệp Trung Thành quy mô 5,6 ha với ngành nghề chủ yếu là chế biến gỗ, sản xuất đồ nhựa, vật liệu xây dựng.

3.2.2 Tình hình phát triển các làng nghề, ngành nghề TTCN:

Toàn huyện có 11 làng nghề, trong đó có 3 làng nghề đã được UBND tỉnh công nhận theo Công văn số 847/SNN-CCPTNT ngày 19/10/2017 là:

+ Làng nghề truyền thống sản xuất gối mây Tiên Hào – xã Vĩnh Hào

+ Làng nghề rèn truyền thống xóm Đồng, xóm Làng 1, xóm Làng 2, xóm Hội 1, xóm Hội 2 – làng Giáp Nhất, xã Quang Trung.

+ Làng nghề dệt truyền thống thôn Quả Linh – xã Thành Lợi.

Các làng nghề truyền thống đang ngày càng được duy trì và phát triển, với tỷ lệ lao động tham gia nghề chính tăng dần qua các năm Hiện tại, số lao động làm nghề chiếm từ 60% đến 70% tổng số lao động trong làng, góp phần tạo ra doanh thu ổn định cho cộng đồng.

Tình hình hoạt động tại các làng nghề nông thôn hiện nay rất đa dạng và phong phú, chủ yếu tập trung vào các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ Nhiều cơ sở hoạt động tự phát, thiếu kỹ thuật cơ bản, và quy trình sản xuất thường gắn liền với việc học hỏi, truyền nghề và tích lũy kinh nghiệm thực tế Các sản phẩm được phát triển dựa trên nhu cầu và thị hiếu của thị trường, góp phần thúc đẩy sản xuất trong cộng đồng.

3.2.3 Tình hình phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu

Ngành dệt may là ngành công nghiệp chủ lực của huyện Vụ Bản và tỉnh Nam Định, với sự phát triển chủ yếu tại khu công nghiệp Bảo Minh và làng nghề truyền thống Quả Linh Các sản phẩm chủ yếu bao gồm bông vải sợi, sợi chỉ số cao, vải mộc khổ rộng, hàng dệt kim, vải len, và quần áo may sẵn Huyện cũng có các cơ sở tư nhân sản xuất dệt may, đặc biệt là thêu ren, với chất lượng và mẫu mã ngày càng được cải thiện, khẳng định vị thế trên thị trường Năm 2016, huyện Vụ Bản đã sản xuất 10,7 triệu sản phẩm quần áo, 10.691 tấn sợi và 13,5 triệu m² vải các loại.

* Công nghiệp cơ khí, gia công kim loại và phi kim loại:

Huyện đang phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực sản xuất gia công và chế biến kim loại cũng như phi kim loại Các sản phẩm chủ yếu bao gồm dao, búa, nông cụ và phụ tùng thay thế cho thiết bị máy nông nghiệp Đặc biệt, công ty Sumi Việt Nam tại KCN Bảo Minh cũng đóng góp vào việc sản xuất dây cáp điện.

* Công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm, đồ uống:

Ngành chế biến thực phẩm tại huyện đã có sự phát triển mạnh mẽ, tập trung vào việc phát triển nguồn nguyên liệu Các sản phẩm chủ yếu bao gồm bánh kẹo, lương thực, thực phẩm, thịt gia súc và gia cầm, cùng với các sản phẩm chế biến sẵn như patê và xúc xích Ngoài ra, còn có chế biến hoa quả, rau sạch, và sản xuất bia, rượu, nước uống, nước giải khát Đặc biệt, năm 2016, huyện đã sản xuất được 154 tấn bánh kẹo, 92 nghìn tấn gạo xay xát, và 466 nghìn lít rượu trắng.

- Chế biến thức ăn gia súc, gia cầm, … từng bước được quan tâm phát triển.

* Chế biến gỗ, mộc dân dụng, giấy, thủ công mỹ nghệ:

Chế biến lâm sản và thủ công mỹ nghệ tại huyện bao gồm sản phẩm giường, tủ, bàn, ghế, cùng với các sản phẩm từ mây, tre, cói, đan thêu và bện rơm rạ như gối mây và ghép nứa tranh sơn mài Năm 2016, huyện đã chế biến được 2,9 nghìn m³ gỗ cưa hoặc xẻ, đáp ứng nhu cầu thị trường với các sản phẩm tinh xảo và chất lượng.

* Sản xuất vật liệu xây dựng:

Năm 2016, huyện sản xuất 5.500 tấn vôi củ, 41 triệu viên gạch đất nung, …

Ngành xây dựng

Trong thời gian qua, huyện đã tích cực triển khai nhiều dự án xây dựng cơ bản, hoàn thành các công trình trọng điểm như cải tạo nâng cấp tuyến đường Chợ Lời (xã Hiển Khánh) đến xã Đại Thắng và tuyến đường phòng chống lụt bão đảm bảo an ninh quốc phòng Các dự án xây dựng đền thờ liệt sỹ huyện, kè sông Hùng Vương, kè sông Chanh, cùng với việc sửa chữa nâng cấp cầu Si và cầu Kênh Nam cũng đã được thực hiện Huyện còn đầu tư nâng cấp mở rộng các tuyến đường địa phương, cắm mốc lộ giới hành lang an toàn giao thông và xây dựng quy hoạch phát triển giao thông Những công trình này đã phát huy hiệu quả, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Dịch vụ thương mại, du lịch

Ngành dịch vụ của huyện có nhiều bước phát triển Tốc độ tăng trưởng GTSX (giá so sánh 2010) giai đoạn 2011 – 2016 ngành dịch vụ đạt 11,1%/năm

Lĩnh vực thương mại, với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, đã nâng cao khả năng cung cấp vật tư và hàng hóa phục vụ sản xuất cũng như tiêu dùng của toàn xã hội Năm 2016, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 861,5 tỷ đồng.

Hoạt động thương mại - dịch vụ phát triển mạnh, năm 2016 có 3.645 cơ sở hoạt động kinh doanh dịch vụ, thương mại.

Theo quyết định phê duyệt hạng chợ của UBND tỉnh Nam Định vào ngày 8/6/2017, hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh sẽ được quy hoạch đến năm 2020 Hiện tại, huyện có 16 chợ hạng III đang hoạt động, trong khi đó, 3 xã là Tam Thanh, Cộng Hoà và Minh Tân vẫn chưa có chợ.

Huyện còn phát triển đa dạng các loại hình thương mại, bao gồm cửa hàng bán buôn quy mô nhỏ theo kiểu truyền thống, cùng với các cửa hàng bán lẻ và cửa hàng tiện lợi.

Hệ thống chợ tại huyện đáp ứng nhu cầu mua bán và trao đổi hàng hóa, nhưng cơ sở vật chất còn hạn chế, dẫn đến việc chưa khai thác hết tiềm năng thương mại của huyện và tỉnh.

Huyện có 25 nhà nghỉ và khách sạn, cùng với 25 nhà ở cho thuê phòng cho khách du lịch Tính đến năm 2016, huyện có một khách sạn đạt tiêu chuẩn 3 sao Tổng lượt khách tham quan trong năm 2016 lên tới hơn 3 triệu người, với doanh thu từ lưu trú du lịch đạt 16,4 tỷ đồng, theo niên giám thống kê huyện.

Các điểm du lịch chính trên địa bàn huyện:

Hội chợ Viềng xuân, diễn ra một lần mỗi năm vào đầu xuân, là phiên chợ đặc trưng của tỉnh Nam Định, mang ý nghĩa "mua may, bán rủi" Tại đây, du khách có thể tìm thấy các mặt hàng như cây cảnh, nông cụ và thịt bò Ngoài việc mua sắm đồ cầu may, du khách còn có cơ hội tham quan và khám phá khu di tích Phủ Dầy, tạo nên một trải nghiệm du lịch tâm linh độc đáo.

Lễ hội và khu di tích Phủ Dầy thờ bà chúa Liễu Hạnh, một trong “Tứ Bất Tử” của điện thần Việt Nam Khu di tích này bao gồm ba thành phần chính: phủ Tiên Hương, phủ Vân Cát và lăng bà Chúa Liễu, tạo thành một quần thể di tích văn hóa đặc sắc.

Phủ Tiên Hương, một công trình kiến trúc đẹp được xây dựng trong thời kỳ Lê - Cảnh Trị (1663 - 1671), đã trải qua nhiều lần trùng tu Công trình gồm 19 toà nhà với 81 gian lớn nhỏ, hướng về dãy núi Tiên Hương Trước phủ là một hồ và sân rộng, cùng với ba toà nhà hai tầng, nơi đón khách hành hương Hồ bán nguyệt được bao quanh bởi lan can thấp, có bình phong và hai cầu đá chạm khắc hình rồng tinh xảo Phủ có bốn lớp thờ, mỗi lớp đều thể hiện nghệ thuật chạm khắc tinh vi với các đề tài phong phú như rồng, phượng, hổ Chính cung (cung đệ nhất) có khám thờ khảm trai tinh xảo, nơi đặt năm pho tượng quý giá từ thế kỷ 19.

Phủ Vân Cát hiện nay bao gồm 7 toà với 30 gian lớn nhỏ, nổi bật với hệ thống cửa ngọ môn có 5 gác lầu và hồ bán nguyệt phía trước Giữa hồ là nhà thủy lâu 3 gian với mái cong Trung tâm thờ chúa Liễu, bên trái là chùa thờ Phật, bên phải là đền thờ Lý Nam Đế Trước phủ là phương du giữa hồ nước, nền được bó đá cẩn quy đẹp mắt, có hành lang trang trí tinh xảo với các hoạ tiết như hoa chanh và voi chầu Hai cầu đá ở hai phía bắc - nam có hoạ tiết trạm bầu rượu, mặt cầu là những phiến đá xanh viền kép cong Toà Đệ Tứ gồm 5 gian lớn với 8 mái cong như cánh hoa sen, thể hiện vẻ đẹp thanh thoát Các hàng bẩy cong cong được trạm trổ các đề tài hoa mai, cúc, trúc sống động Hệ thống văn bia có giá trị lịch sử đặt dưới ngũ vân lâu ba tầng, cùng với đồng trụ tường hoa tạo nên một tổng thể kiến trúc chặt chẽ và hài hòa.

Lăng Bà Chúa Liễu, được xây dựng vào năm 1938, nổi bật với kiến trúc đá xanh chạm trổ tinh xảo Lăng có các cửa vào hướng Đông Tây và Nam Bắc, mỗi cửa đều được trang trí bằng trụ cổng hình bông sen Trung tâm lăng là ngôi mộ khối bát giác với mỗi cạnh dài khoảng 1m Đặc biệt, toàn bộ lăng được điểm xuyết bằng 60 búp sen hồng, tạo nên hình ảnh giống như một hồ sen cạn từ xa.

Lễ hội Phủ Dầy diễn ra vào đầu tháng 3 âm lịch, với chính hội vào ngày 3/3 hàng năm, thu hút du khách bởi sự hòa quyện giữa nghi thức trang trọng và hoạt động văn hóa dân gian sôi nổi Điểm nhấn của lễ hội là nghi lễ rước Thánh Mẫu từ phủ Tiên Hương lên chùa Gôi và phủ Vân Cát lên chùa Dần vào ngày 6/3, với đám rước dài gần 1 km, trang trọng và có sự tham gia của đội ngũ nhạc và phường bát âm Ngoài ra, lễ hội còn có các nghi lễ và trò chơi dân gian như xếp chữ, đánh cờ người, múa rồng hội, và hát chầu văn, trong đó hát chầu văn, gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu, đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Du lịch sinh thái Núi Ngăm mang đến trải nghiệm tuyệt vời tại Ngăm Resort, tọa lạc dưới chân Núi Ngăm với diện tích 15 ha, bao quanh là rừng thông và dòng sông Sắt thơ mộng Khung cảnh thiên nhiên hoang sơ và không khí trong lành là điểm đến lý tưởng cho những ai yêu thích sự thư giãn, giúp tạm rời xa nhịp sống hối hả Resort không chỉ là nơi nghỉ dưỡng mà còn là địa điểm lý tưởng để tổ chức các buổi họp mặt bạn bè và gia đình Với khu nhà sàn phục vụ hàng trăm thực khách, du khách sẽ được thưởng thức những món ăn độc đáo do các đầu bếp tài năng chế biến Không gian yên tĩnh bên hồ nước trong xanh cũng là nơi lý tưởng cho các hoạt động giải trí tập thể như câu cá, chèo thuyền và lửa trại, mang đến những khoảnh khắc vui vẻ và đáng nhớ.

* Mô hình du lịch trên địa bàn huyện:

- Du lịch tâm linh, lễ hội, tham quan: chợ Viềng, Phủ Dầy, hội đền Đông, hội đền Giáp Nhất, đền thờ trạng nguyên Lương Thế Vinh, …

- Du lịch sinh thái Núi Ngăm

Ngành ngân hàng, kho bạc và các tổ chức tín dụng đã hiệu quả trong việc cung cấp vốn cho sản xuất và điều hòa nguồn tiền mặt, đáp ứng nhu cầu chi tiêu trên địa bàn Họ tích cực huy động nguồn vốn cho vay, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh.

Hoạt động vận tải đường bộ đã liên tục gia tăng qua các năm Năm 2016, tổng số phương tiện vận tải đạt 497 chiếc, với khối lượng hàng hóa luân chuyển là 11,95 triệu tấn/km và lượng hành khách đạt 17,35 triệu người/km.

Dịch vụ bưu chính viễn thông ngày càng đa dạng, mang lại sự thuận tiện cho việc liên lạc trong nước, khu vực và quốc tế Các bưu điện văn hóa xã hoạt động hiệu quả, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân Mạng lưới Internet đã được phủ sóng toàn huyện.

Thực trạng phát triển các lĩnh vực

Huyện hiện có tổng cộng 68 trường học và 1 trung tâm Giáo dục thường xuyên, bao gồm 18 trường mầm non, 26 trường tiểu học, 19 trường trung học cơ sở và 5 trường trung học phổ thông, trong đó có 4 trường công lập và 1 trường dân lập.

Công tác xây dựng cơ sở vật chất trường học đã đạt được nhiều thành tựu, với 10/18 trường Mầm non, 20/26 trường Tiểu học, 13/19 trường THCS và 1/5 trường THPT đạt chuẩn Quốc gia Bên cạnh đó, 2/18 trường Mầm non, 18/26 trường Tiểu học và 4/19 trường THCS được công nhận là trường xanh – sạch – đẹp – an toàn Về kiểm định chất lượng giáo dục, có 7/18 trường Mầm non, 6/26 trường Tiểu học và 6/19 trường THCS được công nhận đạt tiêu chuẩn.

Quy mô phát triển giáo dục – đào tạo trong huyện

Cấp học Đơn vị tính Năm 2010 Năm 2016

Mầm non Nhóm trẻ, lớp MG 173 247

Nguồn: Niên giám thống kê huyện năm 2016

- Cơ sở y tế: Toàn huyện có 19 cơ sở y tế công lập bao gồm bệnh viện đa khoa huyện và 18 trạm y tế xã, thị trấn

Huyện có 230 cán bộ y tế, với tỷ lệ bác sỹ đạt 4/10.000 dân 100% xã, thị trấn đều có trạm y tế, trong đó 94,4% trạm có bác sỹ Số giường bệnh tại tuyến huyện là 160, tương đương 19 giường/10.000 dân Hạ tầng và trang thiết bị y tế được bổ sung và nâng cấp hàng năm, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân.

Trong những năm qua, ngành y tế huyện đã triển khai hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, góp phần phát triển đồng bộ các hoạt động y tế hàng năm Các chương trình quốc gia về HIV/AIDS và phòng chống dịch bệnh được thực hiện nghiêm túc, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và quản lý hành nghề y dược một cách chặt chẽ.

Công tác khám chữa bệnh tại huyện đã được chú trọng và đổi mới, với nhiều tiến bộ rõ rệt Chất lượng dịch vụ y tế ngày càng được nâng cao nhờ việc áp dụng các kỹ thuật mới tại bệnh viện huyện Hàng năm, bệnh viện nỗ lực hoàn thành và vượt qua các chỉ tiêu, kế hoạch đề ra, dẫn đến số lần khám bình quân cho mỗi người dân trong năm ngày càng tăng.

Một số chỉ tiêu y tế năm 2016

Bác sỹ bình quân 1 vạn dân Người 4

Giường bệnh bình quân 1 vạn dân Giường 19

Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế giai đoạn 2011-2020 % 70

Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi tiêm đủ 7 loại vaccin % 98,4

Tỷ lệ người dân tham gia BHYT % 75

Nguồn: Phòng y tế và niên giám thống kê huyện Vụ Bản năm 2016

- Xây dựng thiết chế văn hoá, thể thao:

Huyện vừa khánh thành và đưa vào sử dụng Nhà văn hoá trung tâm huyện cùng với nhà thi đấu thể dục – thể thao, nâng cao cơ sở hạ tầng văn hóa thể thao Hiện tại, toàn huyện có 19 nhà văn hoá, 20 sân thể thao cấp xã, thị trấn, và 90% khu dân cư đã có nhà văn hoá xóm (tổ dân phố), cùng với 30 câu lạc bộ thể thao hoạt động sôi nổi.

- Hiện trạng phát triển sự nghiệp văn hoá

Đến năm 2016, huyện đã có 89,2% khu dân cư được phê duyệt hương ước, quy ước, trong đó 89% khu dân cư đạt tiêu chuẩn “Xóm, tổ dân phố văn hóa – nông thôn mới” Hiện tại, 85% xã và thị trấn đã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới, 78% đơn vị cơ quan và doanh nghiệp cũng đạt chuẩn văn hóa, cùng với 90% gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa.

- Hiện trạng phát triển sự nghiệp thể dục – thể thao.

Tỷ lệ người dân tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên đạt 30% dân số, trong khi 22% hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao Đặc biệt, 100% học sinh tại các trường học đều đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể.

Thể thao thành tích cao tại địa phương được tổ chức với bình quân hàng năm từ 7 giải thể thao cấp huyện, trong đó tham gia từ 6 giải thể thao cấp tỉnh và đạt được thành tích cao, góp phần nâng cao phong trào thể dục thể thao trong cộng đồng.

Công tác quản lý và bảo vệ di tích lịch sử tại huyện Vụ Bản được chú trọng, với 372 công trình như đình, chùa, đền, miếu mạo, nhà thờ, điện, am, phủ, động Huyện đã có 26 di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng, bao gồm 8 di tích cấp quốc gia và 18 di tích cấp tỉnh Nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ và lễ hội như chợ Viềng xuân, hội Phủ Dầy, hội đền Đông, và hội đền Giáp Nhất được tổ chức, góp phần quan trọng vào việc gìn giữ và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc.

Hiện trạng dân số - xã hội

Dân số

Vào năm 2016, huyện có tổng dân số là 130.954 người, với mật độ dân số đạt 857 người/km² Trong đó, dân số nông thôn chiếm ưu thế với 123.783 người, tương đương 94,5% tổng dân số, trong khi dân số thành thị chỉ có 7.171 người, chiếm 5,5% Tỷ lệ tăng tự nhiên của huyện trong năm 2015 là 1,14%.

Nguồn nhân lực

Năm 2016, tổng số lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp đạt 46.802 người, chiếm 58,96% tổng lao động Trong khi đó, lao động trong ngành công nghiệp - xây dựng là 19.093 người (24,05%) và lĩnh vực dịch vụ có 13.488 người (16,99%) Tỷ lệ lao động qua đào tạo trong năm này đạt 50%.

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển công nghiệp – dịch vụ, huyện đã hợp tác với các cơ quan và doanh nghiệp để tổ chức các lớp đào tạo nghề và tập huấn cho người lao động Đồng thời, huyện cũng tăng cường hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm và xuất khẩu lao động, góp phần tạo việc làm cho khoảng 2.000-2.500 lao động mỗi năm.

V TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ VÀ ĐIỂM DÂN CƯ NÔNG THÔN

Thực trạng phát triển hệ thống đô thị

Mạng lưới các điểm dân cư đô thị Vụ Bản đang phát triển, với thị trấn Gôi là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của huyện Năm 2015, dân số đô thị tại đây đạt 7.171 người, chiếm 5,5% tổng dân số của huyện.

Thị trấn Gôi là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của huyện Vụ Bản, có diện tích 4,56 km 2 , dân số 7.171 người

Thị trấn Gôi có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội nhờ vào vị trí nằm trong khu di tích Phủ Dầy và hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ Giao thông tại đây rất thuận tiện với quốc lộ 37B, QL10, và đường sắt Bắc - Nam, tạo điều kiện giao lưu với các địa phương trong huyện và các huyện lân cận Ngoài ra, thị trấn còn có chợ trung tâm, nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ, cùng với nhiều cơ quan, doanh nghiệp, công ty và trường học, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện.

* Đặc điểm của đô thị Vụ Bản:

Đô thị Gôi có quy mô nhỏ và hình thức phân bố dải đều, chủ yếu hình thành từ các cụm điểm dân cư nông thôn, tập trung dọc theo các trục quốc lộ.

TT Gôi là một trung tâm đô thị đa năng, đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý hành chính và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Thành phố Gôi phát triển theo hình thái tự do, với cấu trúc đô thị hình thành theo điểm, dải và chuỗi dọc theo các trục giao thông Bên cạnh đó, một số khu đô thị nhỏ mới cũng đang được xây dựng theo mô hình tập trung Đáng chú ý, dân số đô thị chủ yếu có nguồn gốc từ nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và lĩnh vực khoa học kỹ thuật.

Thực trạng phát triển nông thôn

Khu vực nông thôn chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ của huyện Khu vực nông thôn là nơi cư trú của 123.783 người, bằng 94,5% dân số toàn huyện

Khu vực nông thôn vẫn là nơi tập trung chủ yếu lao động, với 57,46% tổng số lao động trong nền kinh tế làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được cải thiện, thể hiện qua tình làng nghĩa xóm gắn bó Những giá trị văn hóa truyền thống như “Mỹ tục khả phong, Thiện tục khả phong” được gìn giữ và phát huy, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết, góp phần quan trọng vào việc xây dựng nông thôn mới khi người dân hiểu, tin tưởng và ủng hộ.

Xây dựng nông thôn mới đã có những cách làm sáng tạo và phù hợp, phát động phong trào thi đua “Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới” với 19 tiêu chí xã nông thôn mới của tỉnh Công tác dồn điền đổi thửa đã hoàn thành, tạo điều kiện cho việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đồng thời xây dựng 11 mô hình cánh đồng lớn tại 7 xã và các cánh đồng 3 cùng Đến tháng 3/2017, toàn huyện đã có 14/18 xã, thị trấn được UBND Tỉnh công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, trong khi 04 xã còn lại đang hoàn thiện hồ sơ để đề nghị UBND tỉnh xét công nhận vào quý IV/2017.

Tuy nhiên, có thể thấy khu vực nông thôn vẫn còn kém phát triển, còn nhiều vấn đề phải giải quyết trong thời gian sắp tới:

- Cơ hội tìm việc làm tại khu vực nông thôn còn hạn chế;

- Thu nhập của người dân nông thôn còn thấp;

VI HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG HẠ TẦNG KỸ THUẬT

1 Hiện trạng hệ thống giao thông

- Quốc lộ 10: Đoạn qua địa phận huyện Vụ Bản từ Km 112+600 đến Km

125+760 có chiều dài 13,2 km, quy mô đường cấp III đồng bằng Riêng đoạn qua thị trấn Gôi B nền = 22m, B mặt = 17m.

- Quốc lộ 38B: Quốc lộ 38B đi qua huyện dài 11,12 km từ cầu An Duyên

(xã Đại An) đến cầu Ngăm (xã Minh Tân) quy mô đường cấp IV đồng bằng, mặt đường thảm bê tông nhựa.

- Quốc lộ 37B: Từ xã Tam Thanh đến ngã tư Đồng Đội có chiều dài 8,1 km, quy mô đường cấp IV đồng bằng.

+ Đoạn qua phía Bắc xã Hiển Khánh dài 1 km, quy mô đường cấp III đồng bằng.

+ Đoạn đường Lê Đức Thọ dài 1 km, quy mô đường cấp II đồng bằng.

- Tỉnh lộ 486B: từ nhà máy gạch Thành Vinh đến ngã tư Đồng Đội với chiều dài khoảng 8,5 km, quy mô đường cấp IV đồng bằng

Đường Chợ Lời – Đại Thắng có chiều dài 16,4 km, bắt đầu từ TL486B (phía Nam UBND xã Hiển Khánh) và kết thúc tại Chợ Đế – xã Đại Thắng Đường được thiết kế với quy mô cấp V đồng bằng, trong khi đoạn đi qua trung tâm các xã có quy mô cấp IV đồng bằng.

- Đường Cầu Mái - bờ sông Hùng Vương:

+ Đoạn từ Cầu Mái qua Hiển Khánh, Hợp Hưng, Đại An kết nối với quốc lộ 38B, chiều dài 8,1 km, quy mô đường cấp VI đồng bằng.

+ Đoạn còn lại chiều dài 11,67 km, quy mô đường cấp V đồng bằng.

Đường Cầu Họ - Hạnh Lâm bắt đầu từ UBND xã Minh Thuận và UBND xã Tân Khánh, kết nối với TL486B, có tổng chiều dài 10,52 km Đây là tuyến đường cấp VI đồng bằng, phục vụ nhu cầu giao thông và phát triển kinh tế khu vực.

- Đường B16-B17: Kết nối đường Cầu Họ - Hạnh Lâm (xã Tân Khánh) với

TL 486B, chiều dài 2,9 km, quy mô đường cấp VI đồng bằng.

- Đường Trình Xuyên – Bến Kĩa: Tổng chiều dài 4,1 km

+ Đoạn 1: Từ thôn Trình Xuyên - xã Liên Bảo giao với QL10 tại km 115+970 (lý trình QL10) đến bờ sông Hùng Vương, quy mô đường cấp IV đồng bằng.

+ Đoạn từ bờ sông Hùng Vương đến cuối Dốc Sắn (đê Hữu Đào) quy mô đường cấp V đồng bằng.

+ Đoạn từ Dốc Sắn đến bến đò Kĩa - xã Thành Lợi quy mô đường cấp VI đồng bằng

Đường Khả Chính – Bối Xuyên bắt đầu tại thôn Khả Chính, xã Hợp Hưng, giao với đường Cầu Mái - Bờ sông Hùng Vương tại Km 6+060 Điểm cuối của đường nằm tại thôn Bối Xuyên, xã Cộng Hoà, giao với tỉnh lộ 486B Tuyến đường có chiều dài 4,5 km và được thiết kế theo quy mô đường cấp VI đồng bằng.

1.1.4 Đường trục xã, liên xã, đường thôn xóm

- Đường trục xã, liên xã: Tổng chiều dài 167,9 km, 100% đã cứng hoá

- Đường thôn xóm: Tổng chiều dài 417,8 km, 100% đã cứng hoá.

Huyện Vụ Bản có tuyến đường sắt Bắc – Nam chạy qua với chiều dài 15 km, bao gồm hai ga hành khách và hàng hóa là ga Trình Xuyên và ga Núi Gôi Cả hai ga này đều có quy mô nhỏ và thuộc loại bán vĩnh cửu.

- Đối với các tuyến sông:

+ Tuyến sông Trung ương quản lý (sông Đào – cấp đường thuỷ nội địa cấp

3) nằm trên tuyến vận tải chính của đồng bằng Bắc Bộ (tuyến Quảng Ninh – Ninh Bình), đảm bảo cho các loại phương tiện từ 50 – 1.000 tấn hoạt động.

+ Tuyến sông địa phương quản lý (sông Sắt – cấp V, sông Chanh – cấp V) đảm bảo cho các loại phương tiện dưới 100 tấn hoạt động

Các hệ thống sông hiện có hỗ trợ cho việc di chuyển của thuyền vận tải nhỏ dưới 10 tấn, chủ yếu phục vụ cho vận tải cự ly ngắn trong huyện.

Cảng chuyên dụng nằm tại xã Tân Thành, huyện Vụ Bản, với vị trí từ Km7+380 đến Km7+505 trên sông Đào, có chức năng kinh doanh xăng dầu và cung cấp nhiên liệu cho toàn tỉnh.

Nhà máy và trạm cấp nước sạch mới được xây dựng tại các xã, thị trấn và cụm xã nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu sinh hoạt của người dân Toàn huyện hiện có 12 nhà máy và trạm cấp nước quy mô xã và liên xã, cung cấp nước cho 18 xã, thị trấn với tổng công suất lên tới 19.820 m³/ngày.đêm.

+ Nhà máy nước sạch Vụ Bản công suất 7.000 m 3 /ng.đ, cấp nước cho 06 xã: Tam Thanh, TT Gôi, Liên Minh, Vĩnh Hào, Kim Thái, Cộng Hoà.

+ Nhà máy nước sạch Liên Bảo công suất 3.200 m 3 /ng.đ, cấp nước cho 03 xã Liên Bảo, Hợp Hưng, Đại An

+ Nhà máy nước sạch Đại Thắng công suất 800 m 3 /ng.đ, cấp nước cho xã Đại Thắng.

Xã Thành Lợi được cung cấp nước từ ba trạm cấp nước: Trạm cấp nước Lê Lợi với công suất 1.200 m³/ng.đ, Trạm cấp nước Mỹ Trung có công suất 527 m³/ng.đ và Trạm cấp nước Cốc Thành với công suất 738 m³/ng.đ.

+ Trạm cấp nước xã Minh Tân công suất 900 m 3 /ng.đ, cung cấp nước cho xã Minh Tân

+ Trạm cấp nước xã Minh Thuận công suất 1.174 m 3 /ng.đ, cung cấp nước cho xã Minh Thuận.

+ Trạm cấp nước xã Tân Khánh công suất 1.012 m 3 /ng.đ, cung cấp nước cho xã Tân Khánh.

+ Trạm cấp nước xã Hiển Khánh công suất 809 m 3 /ng.đ, cung cấp nước cho xã Hiển Khánh.

+ Trạm cấp nước xã Trung Thành công suất 1.020 m 3 /ng.đ, cung cấp nước cho xã Trung Thành.

+ Trạm cấp nước xã Quang Trung công suất 1.440 m 3 /ng.đ, cung cấp nước cho xã Quang Trung.

Tỷ lệ người dân dùng nước hợp vệ sinh đạt 99,52%, trong đó 95,49% dùng nước sạch.

Nhân dân huyện được cung cấp nước sạch liên tục, nhưng một số xã vẫn phụ thuộc vào các trạm cấp nước từ sông và kênh nội đồng, dẫn đến nguy cơ ô nhiễm Do đó, cần quy hoạch lại việc sử dụng nguồn nước từ các sông lớn như sông Đào để đảm bảo chất lượng nước sinh hoạt.

Huyện Vụ Bản được cấp điện từ trạm 110kV Trình Xuyên (E3.1) tại thôn Trình Xuyên với công suất (40+63)MVA – 110/35/22kV, Pmax đạt 50MW Ngoài ra, huyện còn nhận điện từ trạm 110kV Ý Yên (E3.15) ở xã Yên Bình, huyện Ý Yên, có công suất 40MVA – 110/35/22kV và Pmax là 27,3MW.

- Lưới điện trung áp: Trên địa bàn huyện sử dụng lưới 3 pha gồm nhiều chủng loại AC tiết diện khác nhau tổng chiều dài 198,5 km

- Lưới điện hạ áp: tổng chiều dài 981,4 km

Lưới điện nông thôn huyện Vụ Bản đã phát triển nhanh chóng, với hệ thống lưới điện và trạm biến áp được cải tạo và nâng cấp Những cải tiến này đáp ứng hiệu quả nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người dân trong khu vực.

Trong những năm gần đây, tình hình cung cấp điện đã chứng kiến sự tăng trưởng nhanh chóng của phụ tải công nghiệp Cụ thể, điện thương phẩm toàn huyện đã đạt tốc độ tăng trưởng 31,6% mỗi năm trong giai đoạn 2011 – 2016.

Hiện nay, tất cả các xã trong huyện đã được cung cấp điện lưới quốc gia, với tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 100% Tính đến tháng 9/2017, điện năng thương phẩm của huyện đạt 158,4 triệu kWh, trong khi tỷ lệ tổn thất điện năng là 5,81%.

4 Hiện trạng hệ thống thủy lợi

Mạng lưới thủy lợi của huyện Vụ Bản hoạt động phụ thuộc vào sông Đào và sông Sắt, lượng mưa và sự vận hành bằng chế độ tự chảy.

Thách thức

DỰ BÁO TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG KHI THỰC HIỆN QUY HOẠCH 66 1 Nhận diện, đánh giá diễn biến các vấn đề môi trường tại các vùng chức năng trên địa bàn khi thực hiện

CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA, GIẢM THIỂU VÀ QUẢN LÝ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 72 4 Các giải pháp quản lý, kiểm soát môi trường

Ngày đăng: 17/03/2022, 22:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w