1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN lý NHÀ nước về đầu tư CÔNG ở TỈNH LONG AN

109 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 916,5 KB

Cấu trúc

  • LỜI CẢM ƠN

  • DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

  • A. MỞ ĐẦU

  • 1. Lý do chọn đề tài

  • 2. Mục đích nghiên cứu

  • 3. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

  • 5. Phương pháp nghiên cứu

  • 6. Những đóng góp mới của luận văn

  • 7. Cấu trúc luận văn

  • B. NỘI DUNG

  • Chương 1

  • CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ

  • NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ CÔNG

  • 1.1. Đầu tư công, đặc điểm và vai trò của đầu tư công

  • 1.1.1. Khái niệm đầu tư công

  • 1.1.2. Đặc điểm của đầu tư công

  • 1.1.3. Vai trò của đầu tư công đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

  • 1.2. Hiệu quả quản lý Nhà nước về đầu tư công

  • 1.2.1. Khái niệm quản lý Nhà nước

  • 1.2.2. Hiệu quả quản lý Nhà nước về đầu tư công

  • 1.2.3. Vai trò quản lý Nhà nước về đầu tư công

  • 1.3. Nội dung quản lý Nhà nước về đầu tư công

  • 1.3.1. Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư công

  • 1.3.2. Tổ chức thực hiện quản lý các dự án đầu tư công

    • Sơ đồ 1.3: Quy trình thực hiện dự án đầu tư công

  • 1.3.3. Quản lý công tác thanh tra, kiểm tra về đầu tư công

  • 1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý Nhà nước về đầu tư công

  • 1.4.1. Các nhân tố chủ quan

  • 1.4.2. Các nhân tố khách quan

  • Kết luận Chương 1

  • Chương 2

  • THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

  • VỀ ĐẦU TƯ CÔNG Ở TỈNH LONG AN

  • 2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở tỉnh Long An

  • 2.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

    • Hình 2.1: Bản đồ tỉnh Long An

  • 2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội

  • 2.2. Thực trạng quản lý Nhà nước về đầu tư công ở tỉnh Long An

  • 2.2.1. Bộ máy tổ chức quản lý Nhà nước về đầu tư công

  • 2.2.2. Các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách quản lý đầu tư công

  • 2.2.3. Năng lực của cán bộ quản lý đầu tư công

  • 2.2.4. Quản lý quy hoạch phát triển

  • 2.2.5. Công tác lập kế hoạch và phân bổ vốn đầu tư công

  • 2.2.6. Quản lý công tác đấu thầu và quản lý chất lượng công trình

  • 2.2.7. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về đầu tư công

  • 2.3. Đánh giá chung về hiệu quả quản lý Nhà nước về đầu tư công ở tỉnh Long An

  • 2.3.1. Kết quả đạt được

    • Bảng 2.3: Vốn ĐTPT tỉnh Long An giai đoạn 2011 - 2015

    • Hình 2.3: Vốn ĐTPT từ NSNN theo lĩnh vực giai đoạn 2011 - 2015

  • 2.3.2.Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại, hạn chế về quản lý đầu tư công

  • Kết luận chương 2

  • Chương 3

  • QUAN ĐIỂM VÀ CÁC NHÓM GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ CÔNG Ở TỈNH LONG AN

  • 3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về đầu tư công ở tỉnh Long An

  • 3.1.1. Quản lý Nhà nước về đầu tư công ở tỉnh Long An phải đảm bảo đúng quy định, phù hợp với pháp luật

  • 3.1.2. Quản lý Nhà nước về đầu tư công ở tỉnh Long An phải phù hợp với thực tiễn địa phương

  • 3.2. Các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về đầu tư công ở tỉnh Long An

  • 3.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế và chính sách quản lý Nhà nước về đầu tư công

  • 3.2.2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, thực hiện các dự án đầu tư công

  • 3.2.3. Nhóm giải pháp đổi mới phương thức quản lý, tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động đầu tư công; nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư công

  • 3.2.4. Nhóm giải pháp về huy động vốn cho đầu tư công

  • Kết luận chương 3

  • C. KẾT LUẬN

  • D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

NỘI DUNG

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ

NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ CÔNG

1.1 Đầu tư công, đặc điểm và vai trò của đầu tư công

Đầu tư công là khái niệm được hiểu từ nhiều góc độ khác nhau, trong đó PGS.TS Trần Đình Thiên - Viện Kinh tế Việt Nam định nghĩa rằng đầu tư công là việc gia tăng vốn xã hội, thuộc chức năng của Chính phủ Do đó, đầu tư công thường được xem là các hoạt động đầu tư do chính phủ thực hiện, bao gồm đầu tư từ ngân sách phân bổ cho các Bộ ngành Trung ương và địa phương, các chương trình hỗ trợ có mục tiêu, tín dụng đầu tư với mức ưu đãi từ Nhà nước, cũng như đầu tư từ các doanh nghiệp Nhà nước, trong đó phần lớn vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.

Đầu tư công là việc sử dụng nguồn vốn Nhà nước để triển khai các chương trình và dự án nhằm phát triển kinh tế - xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh Các lĩnh vực đầu tư bao gồm phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng và an ninh Đầu tư công còn bao gồm các dự án không có điều kiện xã hội hoá trong các lĩnh vực như văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo Ngoài ra, các chương trình và dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, cũng như các dự án cộng đồng được hỗ trợ từ vốn Nhà nước theo quy định pháp luật cũng thuộc phạm vi đầu tư công.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ CÔNG

Đầu tư công, đặc điểm và vai trò của đầu tư công

1.1.1 Khái niệm đầu tư công Đầu tư công là một khái niệm được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo PGS.TS Trần Đình Thiên - Viện Kinh tế Việt Nam thì việc gia tăng vốn xã hội được gọi là đầu tư công Việc tăng vốn xã hội thuộc chức năng của Chính phủ, vì vậy đầu tư công thường được đồng nhất với đầu tư mà chính phủ thực hiện Đầu tư công bao gồm: đầu tư từ ngân sách (phân cho các Bộ ngành Trung ương, các địa phương); đầu tư theo các chương trình hỗ trợ có mục tiêu (thường là các chương trình mục tiêu trung và dài hạn), cũng được thông qua trong kế hoạch ngân sách hằng năm, tín dụng đầu tư (vốn cho vay) của Nhà nước có mức độ ưu đãi nhất định; đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước, mà phần vốn quan trọng của doanh nghiệp có nguồn gốc từ NSNN.

Đầu tư công là việc sử dụng nguồn vốn Nhà nước để thực hiện các chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội không nhằm mục đích kinh doanh, bao gồm các lĩnh vực như hạ tầng kỹ thuật, môi trường, quốc phòng, an ninh, y tế, giáo dục và đào tạo Nó cũng bao gồm các dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, và các dự án đầu tư cộng đồng được hỗ trợ từ vốn Nhà nước Đầu tư công được xác định không chỉ dựa trên mục đích mà còn dựa trên tính sở hữu của nguồn vốn, với các nguồn vốn như ngân sách Nhà nước, tín dụng do Nhà nước bảo lãnh và vốn từ doanh nghiệp Nhà nước Đây là cách hiểu phổ biến và là đối tượng của chính sách đầu tư của Nhà nước hiện nay.

Theo Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13, đầu tư công được định nghĩa là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình và dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, cũng như đầu tư vào các chương trình và dự án nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Đối tượng sử dụng nguồn vốn Nhà nước trong đầu tư công rất đa dạng, bao gồm các chương trình mục tiêu, dự án phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, công trình công cộng, cũng như các lĩnh vực quốc phòng và an ninh Tất cả những hoạt động này đều được tài trợ từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước dành cho đầu tư phát triển.

Theo Điều 21 của Luật Đầu tư công số 49/2014/QH 13, vốn đầu tư công bao gồm nhiều nguồn tài chính như ngân sách nhà nước, công trái quốc gia, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, vốn ODA, và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ nước ngoài Ngoài ra, còn có vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, nguồn thu để lại cho đầu tư chưa cân đối ngân sách, cùng với các khoản vay khác từ ngân sách địa phương phục vụ cho đầu tư.

Như vậy, vốn đầu tư công được hình thành từ các nguồn sau:

Vốn trong nước đóng vai trò quyết định trong sự phát triển kinh tế của đất nước, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn Các nguồn vốn này bao gồm nhiều hình thức khác nhau, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế bền vững.

Vốn ngân sách nhà nước (NSNN) bao gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương, được hình thành từ sự tích lũy của nền kinh tế Nguồn vốn này được trích một phần từ thu ngân sách hàng năm, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế và thực hiện các chính sách công.

Vốn tín dụng đầu tư được quản lý bởi Ngân hàng Phát triển và Quỹ hỗ trợ phát triển, bao gồm nguồn vốn từ Nhà nước, vốn huy động từ các đơn vị kinh tế và cộng đồng dân cư, cũng như vốn vay dài hạn từ các tổ chức tài chính quốc tế và kiều bào Việt Nam ở nước ngoài.

+ Vốn của các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế.

- Vốn nước ngoài: nguồn vốn này có vai trò hết sức quan trọng cho đầu tư công và sự phát triển của mỗi quốc gia, bao gồm:

+ Vốn vay, viện trợ của các tổ chức quốc tế như WB, ADB… các tổ chức Chính phủ như Jica (Nhật Bản)… Đây được gọi là nguồn vốn ODA.

+ Vốn viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ cho đầu tư công.

+ Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua hình thức 100% vốn nước ngoài, liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Các hoạt động đầu tư công đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh, vì chúng có tác động trực tiếp và rõ ràng hơn Đối với các nước đang phát triển, vốn đầu tư vào lĩnh vực này được xem là yếu tố then chốt Trong khi đó, đầu tư vào các lĩnh vực xây dựng cơ bản (XDCB) thường có tác động gián tiếp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo ra các điều kiện cần thiết Tuy nhiên, hiệu quả của các khoản đầu tư này thường chỉ được nhận thấy sau một thời gian dài.

Vốn đầu tư công đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là nguồn lực tài chính công thiết yếu của quốc gia Sự ảnh hưởng của nó có thể chỉ được nhận thấy sau 10 hoặc 20 năm.

Vốn đầu tư công đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, vừa là động lực thúc đẩy tăng trưởng, vừa là công cụ điều tiết và điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô, đồng thời định hướng cho sự phát triển xã hội.

1.1.2 Đặc điểm của đầu tư công

Hàng hóa công là loại hàng hóa không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng, cho phép nhiều người cùng hưởng lợi mà không làm tăng chi phí Tính phi cạnh tranh này có nghĩa là khi một người sử dụng hàng hóa công, điều đó không làm giảm khả năng sử dụng của người khác Chính phủ thường là đơn vị cung cấp chính cho hàng hóa công, nhưng cũng có thể kêu gọi sự tham gia của khu vực tư nhân để đáp ứng nhu cầu của xã hội.

Hàng hóa công có tính chất tiêu dùng chung, nghĩa là khi có thêm một người tiêu dùng, lợi ích của những người tiêu dùng hiện tại không bị giảm sút Đồng thời, chi phí để đáp ứng nhu cầu của các đối tượng tiêu dùng mới là bằng không.

Chính phủ cần cung cấp hàng hóa công do sự thất bại của khu vực tư trong việc cung cấp chúng, dẫn đến hiệu quả thấp và giảm phúc lợi xã hội Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, chi tiêu công không chỉ tồn tại mà còn tạo ra sự tái phân phối giữa các khu vực kinh tế Chính phủ là trung tâm trong quá trình tái phân phối thu nhập thông qua chi tiêu công, do đó đầu tư công trở nên quan trọng trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế để sử dụng nguồn vốn hiệu quả Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, đầu tư công đã chuyển hướng mạnh mẽ vào phát triển hạ tầng kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế và chương trình xóa đói giảm nghèo.

Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước (NSNN) đóng vai trò quan trọng trong đầu tư công, góp phần tạo ra những bước đột phá cho sự phát triển của đất nước Trong bối cảnh nền kinh tế đa dạng, khu vực tư nhân trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài cũng tham gia vào việc đầu tư và kinh doanh cơ sở hạ tầng thông qua các hình thức như BOT, BTO, và BT.

Với những nội dung trên, nhận thấy đầu tư công có những đặc điểm sau:

- Đầu tư công của NSNN là khoản chi tích lũy

Hiệu quả quản lý Nhà nước về đầu tư công

1.2.1 Khái niệm quản lý Nhà nước

Quản lý được định nghĩa trong "Đại Từ điển Tiếng Việt" là tổ chức và điều khiển hoạt động của các đơn vị, cũng như trông coi và theo dõi những việc cần thiết Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam 3", quản lý là chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nhằm duy trì cấu trúc ổn định, tối ưu hóa hoạt động và đảm bảo thực hiện các chương trình, mục tiêu của hệ thống.

Thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách hiểu khác nhau tùy thuộc vào góc độ tiếp cận Nói chung, quản lý được định nghĩa là hành động có mục đích của một chủ thể tác động vào các đối tượng quản lý để đạt được các mục tiêu đã đề ra.

Các Mác đã nhấn mạnh rằng quản lý là một chức năng đặc biệt phát sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động, cho thấy tầm quan trọng của quản lý trong việc tổ chức và điều phối các hoạt động lao động trong xã hội.

Tất cả các hoạt động lao động xã hội, dù là trực tiếp hay chung, đều cần sự chỉ đạo để điều hòa các hoạt động cá nhân và thực hiện các chức năng chung Trong khi một nghệ sĩ độc tấu có thể tự quản lý bản thân, thì một dàn nhạc lại cần có sự dẫn dắt của nhạc trưởng để đạt được sự hòa hợp và hiệu quả trong biểu diễn.

Luận điểm của Mác cho thấy rằng mọi hoạt động chung của con người đều cần quản lý, vì sự hiệp tác giữa con người đòi hỏi phải có sự liên kết Quản lý tồn tại trong mọi quan hệ xã hội và lĩnh vực, bất kể giai đoạn phát triển nào Tổ chức là hình thức liên kết quan trọng, quyết định đến hiệu quả quản lý; không có tổ chức, quản lý sẽ không thể thực hiện Đồng thời, quản lý cũng nhằm duy trì tính tổ chức và các mối quan hệ xã hội để đạt được các mục tiêu cụ thể.

Lênin nhấn mạnh rằng để quản lý hiệu quả, không chỉ cần thuyết phục mà còn phải tổ chức thực tiễn Để điều hành và phối hợp hoạt động của con người, cần có các phương tiện buộc họ hành động theo nguyên tắc và mệnh lệnh nhất định Uy tín và quyền uy là hai yếu tố quan trọng trong sự phục tùng, trong đó quyền uy đóng vai trò chủ yếu Quyền uy là công cụ thiết yếu giúp người quản lý khiến đối tượng quản lý tuân thủ, là yếu tố không thể thiếu trong quản lý.

Quản lý là quá trình tác động có mục đích của người quản lý vào đối tượng quản lý thông qua các công cụ, phương tiện và cơ chế đa dạng, nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra, đồng thời phù hợp với quy luật phát triển khách quan của xã hội.

Khái niệm quản lý Nhà nước

Quản lý Nhà nước là một phần quan trọng trong quản lý xã hội, thể hiện quyền lực của Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền Trong nghĩa rộng, nó bao gồm hoạt động của Nhà nước trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại Trong nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước chủ yếu liên quan đến các cơ quan hành chính, đảm bảo việc thực thi pháp luật và các nghị quyết của cơ quan quyền lực, nhằm tổ chức và quản lý mọi khía cạnh của đời sống xã hội.

Quản lý Nhà nước là hình thức quản lý xã hội do bộ máy Nhà nước thực hiện, liên quan chặt chẽ đến quyền lực Nhà nước Nội dung của quản lý Nhà nước thay đổi theo chế độ chính trị và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia qua các thời kỳ lịch sử Về mặt chức năng, quản lý Nhà nước bao gồm ba hoạt động chính: lập pháp, hành pháp và tư pháp Chính nhờ ba hoạt động này, quản lý Nhà nước có những đặc điểm riêng biệt so với các hình thức quản lý xã hội khác.

Quản lý Nhà nước chỉ bắt đầu khi có sự hình thành của Nhà nước, và khi đó, nhiều công việc quan trọng trong xã hội sẽ được Nhà nước đảm nhận và quản lý.

Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý Nhà nước, cho phép Nhà nước ủy quyền cho các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động quản lý thay mặt cho mình.

Chủ thể của quản lý Nhà nước bao gồm các tổ chức và cá nhân có quyền lực Nhà nước, thực hiện các chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp Các chủ thể này gồm Nhà nước, cơ quan Nhà nước, cũng như những tổ chức và cá nhân được Nhà nước trao quyền để tiến hành hoạt động quản lý.

- Khách thể của quản lý Nhà nước là trật tự quản lý Nhà nước, trật tự này do pháp luật quy định.

Quản lý Nhà nước là sự tác động có mục đích của các tổ chức và cá nhân có quyền lực Nhà nước, chủ yếu thông qua pháp luật, nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước.

1.2.2 Hiệu quả quản lý Nhà nước về đầu tư công

Hiệu quả kinh tế là chỉ số phản ánh khả năng sử dụng tối ưu nguồn lực của đơn vị và nền kinh tế, nhằm đạt được các mục tiêu đề ra với chi phí thấp nhất Nó được đo lường bằng cách so sánh kết quả đầu ra với chi phí đầu vào.

Quản lý Nhà nước về đầu tư công là quá trình tổ chức và điều chỉnh các hoạt động xã hội thông qua quyền lực Nhà nước, nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò của người đại diện sở hữu Nhà nước trong các dự án công Điều này bao gồm việc ngăn ngừa các tác động tiêu cực từ các dự án, kiểm tra và kiểm soát việc sử dụng vốn Nhà nước để tránh thất thoát và lãng phí ngân sách Nhà nước.

Nội dung quản lý Nhà nước về đầu tư công

Quản lý Nhà nước về đầu tư công là quá trình tác động có tổ chức và định hướng của các chủ thể vào đầu tư xây dựng, thông qua hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội và kỹ thuật Mục tiêu chính là đạt được kết quả và hiệu quả đầu tư cao nhất.

Nội dung quản lý Nhà nước về đầu tư công được quy định tại Điều 13 Luật Đầu tư công [41, tr.18-19], bao gồm các công việc sau:

- Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư công;

- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch, quy hoạch, giải pháp và chính sách đầu tư công;

- Đánh giá hiệu quả đầu tư công;

- Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật;

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo và khen thưởng, xử lý vi phạm.

Quản lý Nhà nước về đầu tư công được thể hiện qua ba khía cạnh chính: xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đầu tư công, tổ chức thực hiện các dự án đầu tư công, và xử lý các vi phạm trong lĩnh vực đầu tư công.

1.3.1 Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư công

Trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước đã nỗ lực xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vì lợi ích của nhân dân Họ đang từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt chú trọng vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo nền tảng vững chắc cho việc quản lý Nhà nước bằng pháp luật.

Hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng là bước đầu tiên trong chu trình quản lý Nhà nước, tạo nền tảng pháp lý cho việc quản lý và thúc đẩy đầu tư xây dựng từ các thành phần kinh tế Nhà nước có trách nhiệm xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, xác định thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước trong việc ban hành và tổ chức thực hiện các quy định liên quan đến đầu tư xây dựng, đồng thời quy định nội dung quản lý Nhà nước về đầu tư công.

Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ đã đề ra các giải pháp cấp bách để ngăn chặn suy giảm kinh tế và duy trì tăng trưởng, đồng thời bảo đảm an sinh xã hội Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì và phối hợp với các cơ quan liên quan để rà soát toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về đầu tư và xây dựng, nhằm sửa đổi những bất cập ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án đầu tư Hơn nữa, cần khẩn trương xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung các Luật về đầu tư và xây dựng.

Hiện nay, quản lý đầu tư công tại Việt Nam được quy định bởi nhiều luật như Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách Nhà nước, và Luật Đấu thầu Các văn bản hướng dẫn và tiêu chuẩn cũng đang được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu hội nhập Chính sách quản lý đầu tư đã phân cấp mạnh mẽ, tăng cường quyền tự chủ cho doanh nghiệp, đồng thời cải cách thủ tục hành chính nhằm giảm bớt sự phức tạp, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà thầu nước ngoài và nâng cao khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp.

1.3.2 Tổ chức thực hiện quản lý các dự án đầu tư công

Quản lý đầu tư công là một lĩnh vực bao gồm nhiều giai đoạn, từ lập kế hoạch đến thực hiện và quyết toán dự án Mục tiêu chính của quản lý đầu tư công là tối ưu hóa việc sử dụng nguồn vốn nhà nước, ngăn chặn thất thoát và lãng phí Đồng thời, cần đảm bảo rằng các dự án được xây dựng theo quy hoạch bền vững, bảo vệ môi trường và tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh Việc áp dụng công nghệ tiên tiến và đảm bảo chất lượng, thời hạn xây dựng với chi phí hợp lý là rất quan trọng, cùng với việc bảo hành công trình sau khi hoàn thành.

Công tác quản lý đầu tư công đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Các yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến kết quả đầu tư, bao gồm việc hoàn thành các dự án, mà còn tác động đến chi phí liên quan đến đầu tư.

Chống tham nhũng và lãng phí trong đầu tư công là vấn đề then chốt trong quản lý, bởi vì tham nhũng có thể làm sai lệch quá trình ra quyết định cho các dự án đầu tư công Điều này dẫn đến việc tăng chi phí đầu tư và giảm chất lượng cơ sở hạ tầng, từ đó làm suy giảm hiệu quả đầu tư tổng thể.

Chất lượng quản lý đầu tư xây dựng ảnh hưởng lớn đến việc tiết kiệm và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư, đồng thời quyết định đến khối lượng và lợi ích kinh tế - xã hội từ các kết quả đầu tư Những thiếu sót trong công tác này dẫn đến thất thoát và lãng phí vốn, khiến cho một số dự án hoàn thành không đạt hiệu quả như mong đợi, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.

Quản lý tổ chức thực hiện các dự án đầu tư công là một nhiệm vụ phức tạp, liên quan đến nhiều chủ thể trong xã hội Nội dung của việc tổ chức thực hiện các dự án này bao gồm nhiều khía cạnh quan trọng.

Một là, công tác hoạch định quy hoạch.

Quản lý công tác hoạch định đầu tư là yếu tố thiết yếu trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giúp dự kiến và sắp xếp các nguồn lực cho các chương trình mục tiêu và dự án đầu tư công Hoạch định đầu tư bao gồm quy hoạch, cơ cấu đầu tư và tiến độ thực hiện dự án Để thực hiện chiến lược phát triển đô thị quốc gia, công tác quy hoạch xây dựng đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập phương hướng và kế hoạch phát triển, đảm bảo sự cải tạo và xây dựng có trật tự Ngoài ra, quy hoạch xây dựng còn góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiệu quả, ngăn chặn sự phát triển tự phát trong tổ chức không gian.

Công tác quy hoạch bao gồm việc đánh giá hiện trạng điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội, xác định động lực phát triển vùng, hệ thống đô thị, điểm dân cư, khu công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, du lịch, cũng như các khu vực bảo vệ di sản, cảnh quan thiên nhiên và di tích lịch sử văn hóa Ngoài ra, quy hoạch còn xác định các khu vực cấm xây dựng, khu dự trữ phát triển, mạng lưới và quy mô các công trình hạ tầng kỹ thuật mang tính chất vùng hoặc liên vùng Đồng thời, quy hoạch dự kiến các hạng mục ưu tiên phát triển và nguồn lực thực hiện, cũng như dự báo tác động môi trường và đề xuất biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường.

Trong việc thực hiện nhiệm vụ quy hoạch đô thị, UBND và HĐND các cấp giữ vai trò chủ đạo Chính phủ chỉ quyết định quy hoạch chung cho các đô thị lớn và quy hoạch tổng thể cho các vùng trọng điểm liên vùng, trong khi quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết cho các đô thị khác phải do UBND và HĐND địa phương xem xét và quyết định.

Dựa trên quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt, UBND các tỉnh, thành phố cần thiết lập kế hoạch công bố quy hoạch, xác định mốc giới và chỉ giới quy hoạch trên thực địa, cấp chứng chỉ quy hoạch xây dựng, huy động nguồn đầu tư, cấp giấy phép xây dựng, và giám sát việc thực hiện nhằm đảm bảo trật tự và kỷ cương trong xây dựng đô thị.

Hai là, tổ chức quản lý các dự án đầu tư công.

Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý Nhà nước về đầu tư công

1.4.1 Các nhân tố chủ quan

Tổ chức bộ máy quản lý đầu tư công tại cấp tỉnh bao gồm HĐND, UBND và các ngành như Kế hoạch, Tài chính, Kho bạc, Giao thông, Xây dựng, Thủy lợi, Tài Nguyên môi trường cùng các đơn vị chủ đầu tư và ban quản lý dự án Việc thực hiện đúng trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý Nhà nước là rất quan trọng để đảm bảo việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư công hiệu quả Cần sắp xếp bộ máy quản lý đầu tư công một cách khoa học, hợp lý để đảm bảo đầu tư tập trung, đồng bộ, chất lượng và tiết kiệm, tránh thất thoát và lãng phí Đồng thời, cần bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động đầu tư công, tránh tình trạng chồng chéo hoặc lỏng lẻo trong quản lý vốn đầu tư.

Thứ hai, các cơ chế, chính sách quản lý đầu tư công

Cơ chế quản lý đầu tư công là phần quan trọng trong quản lý kinh tế và tài chính, bao gồm các quy định về nguyên tắc, quy phạm và giải pháp để điều chỉnh hoạt động của các tổ chức tỉnh Việc áp dụng cơ chế quản lý hiệu quả sẽ giúp đạt được các mục tiêu phát triển, trong khi cơ chế không phù hợp có thể gây cản trở, lãng phí nguồn lực và khó khăn trong thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Cơ chế và chính sách quản lý vốn đầu tư công đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về đầu tư công Những quy định này được quy định trong các văn bản pháp luật như Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư, và các luật khác liên quan Bên cạnh đó, các văn bản dưới luật và quy định cụ thể về quản lý vốn đầu tư cũng góp phần quan trọng Sự thay đổi trong hệ thống cơ chế, chính sách ảnh hưởng lớn đến quản lý đầu tư và vốn đầu tư công Thời gian qua, các chính sách và cơ chế quản lý đã được bổ sung và sửa đổi để đảm bảo quản lý đầu tư công một cách chặt chẽ và hiệu quả hơn.

Trình độ năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý đầu tư công là yếu tố quyết định đến hiệu quả của công tác đầu tư xây dựng Hoạt động đầu tư thường phức tạp và đa dạng, liên quan đến nhiều ngành và cấp độ khác nhau Trong mọi hình thái kinh tế - xã hội, con người luôn là trung tâm của sự phát triển Đặc biệt trong thời đại hiện nay, việc chăm sóc và phát triển con người là điều kiện tiên quyết cho sự phồn vinh và thịnh vượng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra.

Cán bộ đóng vai trò then chốt trong mọi công việc, quyết định thành bại của một dự án Sự thành công hay thất bại của công việc đều phụ thuộc vào chất lượng cán bộ Khi có cán bộ tốt, mọi nhiệm vụ đều có thể hoàn thành một cách hiệu quả.

Trong bối cảnh hiện nay, công nghiệp hóa (CNH) và hiện đại hóa (HĐH) là những yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, với đầu tư công đóng vai trò then chốt Để đạt được hiệu quả cao trong đầu tư công, yếu tố con người là rất quan trọng, vì năng lực quản lý yếu kém có thể dẫn đến tham nhũng, dù có chính sách và môi trường đầu tư tốt Như V Lênin đã nhấn mạnh, việc tìm kiếm những cán bộ có bản lĩnh là điều cần thiết, nếu không, các quyết định sẽ trở nên vô nghĩa.

Các biểu hiện của những hạn chế trong nhân tố con người đối với quản lý đầu tư công:

Quyết định đầu tư vội vàng và chất lượng quy hoạch thấp dẫn đến nhiều dự án thiếu cơ sở hạ tầng và quy hoạch tổng thể, gây tổn thất và lãng phí Nhiều công trình phải dịch chuyển địa điểm do không có quy hoạch rõ ràng, làm giảm hiệu quả đầu tư Thêm vào đó, các cấp có thẩm quyền thường ra quyết định thiếu chính xác về tổng mức đầu tư và dự toán, dẫn đến việc phải điều chỉnh nhiều lần trong quá trình thực hiện.

Bố trí kế hoạch thực hiện công trình hàng năm quá phân tán làm giảm hiệu quả và làm mờ mục tiêu chiến lược Số lượng dự án đưa vào kế hoạch đầu tư hàng năm quá lớn và phân tán, dẫn đến nợ đọng kéo dài và thời gian thi công bị kéo dài Các công trình có khối lượng lớn lại được cấp vốn đầu tư thấp, gây chậm trễ trong việc đưa các dự án vào khai thác sử dụng.

Thứ tư, ý thức tuân thủ pháp luật, áp dụng khoa học kỹ thuật của các cơ quan quản lý Nhà nước

Việc tuân thủ chính sách và pháp luật trong quản lý và sử dụng vốn đầu tư công là rất quan trọng, bởi vì lĩnh vực này dễ xảy ra các hiện tượng tiêu cực.

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt, vụ lợi, tham nhũng trong quản lý và sử dụng vốn đầu tư công

Chủ chương trình và chủ đầu tư đã thông đồng với tổ chức tư vấn, dẫn đến quyết định chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư các chương trình, dự án gây ra thất thoát và lãng phí vốn, tài sản của Nhà nước cũng như tài nguyên quốc gia Hành động này không chỉ gây tổn hại mà còn xâm phạm lợi ích của công dân và cộng đồng.

- Sử dụng vốn đầu tư công không đúng mục đích, không đúng đối tượng, vượt tiêu chuẩn, định mức theo quy định của pháp luật

Việc thanh toán sai khối lượng, đơn giá và định mức, cùng với các vi phạm trong quản lý vốn đầu tư, dẫn đến thất thoát và tham nhũng, yêu cầu cán bộ quản lý phải có bản lĩnh và không vụ lợi Để đảm bảo quản lý vốn đầu tư công hiệu quả, cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Nhà nước Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý vốn đầu tư từ lập kế hoạch đến đánh giá kết quả là rất cần thiết, giúp tăng cường tính minh bạch và hiệu quả Do đó, các tổ chức và cá nhân liên quan cần tránh các hành vi vi phạm trong quy trình quản lý vốn đầu tư.

Việc làm giả hoặc làm sai lệch thông tin, hồ sơ và tài liệu liên quan đến quyết định chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự minh bạch trong triển khai thực hiện các chương trình và dự án, mà còn gây thiệt hại cho nền kinh tế và niềm tin của nhà đầu tư.

Việc cố ý báo cáo và cung cấp thông tin không đúng, không trung thực và không khách quan có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình lập, thẩm định và quyết định các kế hoạch, chương trình và dự án.

Việc cố ý báo cáo và cung cấp thông tin sai lệch, không trung thực và không khách quan có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm trong việc triển khai kế hoạch, chương trình và dự án.

1.4.2 Các nhân tố khách quan

Thứ nhất, điều kiện tự nhiên

Các yếu tố môi trường, địa hình thi công, thời tiết và khí hậu có ảnh hưởng lớn đến chi phí và hiệu quả đầu tư xây dựng công trình Địa hình khó khăn, giao thông cách trở và thời tiết xấu như mưa lũ kéo dài làm tăng suất đầu tư và giảm hiệu quả Nhiều dự án không thể thi công đúng tiến độ, dẫn đến thời gian thi công kéo dài, phát sinh khối lượng công việc, và phải điều chỉnh tổng mức đầu tư, ảnh hưởng đến quá trình nghiệm thu, thanh toán và quyết toán dự án.

Thứ hai, điều kiện kinh tế

Ngày đăng: 11/03/2022, 18:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Phạm Sĩ An (2009), Vai trò của đầu tư công trong tăng trưởng kinh tế, Báo cáo chuyên đề cho Viện Kinh tế Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của đầu tư công trong tăng trưởng kinhtế
Tác giả: Phạm Sĩ An
Năm: 2009
[2]. Nguyễn Hoàng Anh (2008), Hiệu quả quản lý đầu tư công tại Thành phố Hồ Chí Minh: Vấn đề và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả quản lý đầu tư công tại Thànhphố Hồ Chí Minh: Vấn đề và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Hoàng Anh
Năm: 2008
[3]. Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Quang Thái (2011), Đầu tư công –Thực trạng và tái cơ cấu, NXB.Từ điển Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư công –Thực trạngvà tái cơ cấu
Tác giả: Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Quang Thái
Nhà XB: NXB.Từ điển Bách Khoa
Năm: 2011
[4]. TS.Vũ Thành Tự Anh (2014), Quản lý và phân cấp quản lý đầu tư công - Thực trạng ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright,Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và phân cấp quản lý đầu tưcông - Thực trạng ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế
Tác giả: TS.Vũ Thành Tự Anh
Năm: 2014
[5]. Ths.Phạm Hồng Biên (2013), Nhận diện những bất cập trong đầu tư công ở Việt Nam, Tạp chí Tài chính, (số 33) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tài chính
Tác giả: Ths.Phạm Hồng Biên
Năm: 2013
[6]. PGS.TS Mai Văn Bưu (2001), Hiệu quả và quản lý dự án Nhà nước, NXB.Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả và quản lý dự án Nhà nước
Tác giả: PGS.TS Mai Văn Bưu
Nhà XB: NXB.Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2001
[8]. Thạc sĩ Võ Văn Cần (2013), “Kiểm tra, giám sát đầu tư công Việt Nam”, Tạp chí Phát triển và hội nhập (số 12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra, giám sát đầu tư công ViệtNam”, "Tạp chí Phát triển và hội nhập
Tác giả: Thạc sĩ Võ Văn Cần
Năm: 2013
[9]. Bùi Mạnh Cường (2007), “Nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế (số 348) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bảncủa Nhà nước”, "Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
Tác giả: Bùi Mạnh Cường
Năm: 2007
[19]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Sự thật
Năm: 1987
[20]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb.Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Sự thật
Năm: 1991
[21]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 1996
[22]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 2001
[23]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 2006
[24]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 2011
[25]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 2016
[33]. V.I. Lênin, Tuyển tập, tập 34, Nxb.Tiến bộ, Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Nhà XB: Nxb.Tiến bộ
[34]. C.Mác, Tự bản, quyển 1, tập 2, Nxb. Sự thật, H.1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự bản
Nhà XB: Nxb. Sự thật
[35]. C.Mác và Ph.Ăng ghen, Toàn tập, tập 23, Nxb. Sự thật, H.1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Sự thật
[36]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
[37]. Nguyễn Công Nghiệp (2009), Nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, Bộ Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầutư từ ngân sách nhà nước ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Công Nghiệp
Năm: 2009

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w