1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài làm việc tại hà nội

108 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Nhà Nước Đối Với Lao Động Nước Ngoài Làm Việc Tại Hà Nội
Tác giả Đinh Hoàng Việt
Người hướng dẫn TS. Hoàng Khắc Lịch
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 29,17 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỐNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu, cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI (46)
    • 1.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tài (12)
      • 1.1.1 Các nghiên cứu có liên quan (12)
      • 1.1.2 Khoảng trống nghiên cứu (16)
    • 1.2 Cơ sở lý luận về công tác quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài của chính quyền cấp tỉnh (16)
      • 1.2.1 Một số khái niệm cơ bản (16)
      • 1.2.2 Khái niệm quản lý nhà nước cấp tỉnh đối với lao động nước ngoài (0)
      • 1.2.3 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài (23)
      • 1.2.4 Nội dung quản lý nhà nước cấp tỉnh đối với lao động nước ngoài (0)
      • 1.2.5 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài 25 (33)
    • 1.3 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài (0)
      • 1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài của một số địa phương trong nước (36)
      • 1.3.2. Bài học kinh nghiệm có thề vận dụng cho quản lỷ nhà nước đối với lao động nước ngoài làm việc tại Hà Nội nói chung (0)
  • CHƯƠNG 2 (51)
    • 2.1 Câu hỏi nghiên cứu (46)
    • 2.2. Quy trinh thực hiện nghiên cứu (0)
    • 2.3. Phương pháp thu thập dữ liệu (47)
      • 2.3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp (47)
      • 2.3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp (48)
    • 2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu (49)
      • 2.4.1 Phương pháp thống kê mô tả (49)
      • 2.4.2 Phương pháp so sánh (49)
      • 2.4.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp (49)
  • CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐÓI VỚI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TẠI HÀ NỘI (85)
    • 3.1. Đặc điềm kinh tế - xã hội tác động đến quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài làm việc tại Hà Nội và tình hình lao động nước ngoại làm việc tại Thành phố Hà Nội (0)
      • 3.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội tác động đến quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài làm việc tại Hà Nội (51)
      • 3.1.2. Tình hình lao động nước ngoài làm việc tại Hà Nội (53)
    • 3.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài làm việc tại thành phố Hà Nội (56)
      • 3.2.1. Xây dựng kế hoạch, kiến nghị xây dựng và cụ thề hóa chính sách quản lý đối với lao động nước ngoài (0)
      • 3.2.2 Tổ chức thực hiện kể hoạch, vãn bản pháp lý về quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài (0)
      • 3.2.3 Thực trạng thanh tra, giám sát quản lý lao động nước ngoài (77)
    • 3.3 Đánh giá chung về quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài làm việc tại Hà Nội (79)
      • 3.3.1 Thành tựu đạt được (79)
      • 3.3.2 Một số tồn tại (81)
      • 3.3.3 Nguyên nhân của hạn chế (82)
  • CHƯƠNG 4:.GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỔI VỚI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI LÀM VỆC TẠI HÀ NỘI (0)
    • 4.1 Bối cảnh, quan điếm và định hướng quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài làm việc tại Hà Nội (0)
      • 4.1.1 Bối cảnh (85)
      • 4.1.2 Quan điêm quản lý lao động nước ngoài tại thành phô Hà Nội (88)
      • 4.1.3 Mục tiêu quản lý lao động nước ngoài (88)
    • 4.2 Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài làm việc tại Hà Nội (89)
      • 4.2.1 Tăng cường nghiên cứu chính sách đê kiên nghị lên câp Trung ương và lập kê hoạch quản lý lao động nước ngoài (0)
      • 4.2.2 Kiện toàn tồ chức bộ máy quản lý lao động nước ngoài (0)
      • 4.2.3 Tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách cho lao động nước ngoài (0)
      • 4.2.4 Nâng cao dịch vụ công đôi với hoạt động câp phép cho Lao động là người nước ngoài (0)
      • 4.2.5 Tăng cường thanh tra, kiêm tra lao động nước ngoài (0)
  • PHỤ LỤC (107)

Nội dung

TỐNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu, cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI

Tình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tài

1.1.1 Các nghiên cứu có liên quan

Nghiên cứu về quản lý lao động nước ngoài đã có một số tác giả quan tâm, điển hình như:

Cuốn sách "Quản lý nhà nước về lao động nước ngoài chất lượng cao ở Việt Nam" do Phan Huy Đường chủ biên (2012) cung cấp cái nhìn hệ thống về quản lý lao động nước ngoài chất lượng cao, giải thích lý do gia tăng số lượng lao động nước ngoài tại Việt Nam và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với lực lượng lao động này Ngoài ra, tác giả cũng chia sẻ kinh nghiệm từ một số quốc gia trong việc quản lý lao động nước ngoài Dựa trên phân tích thực trạng, nhóm tác giả đưa ra dự báo về xu hướng lao động nước ngoài chất lượng cao sẽ tiếp tục gia tăng tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện công tác quản lý nhà nước đối với lực lượng lao động này.

Luận án Thạc sĩ Luật học của Bùi Thanh Tùng năm 2012 đã phân tích và đánh giá chính sách quản lý lao động nước ngoài tại Singapore, quốc gia nổi bật với chính sách thu hút lao động chuyên môn cao Tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định quản lý lao động nước ngoài ở Việt Nam, nhấn mạnh rằng những "bài học" từ Singapore về chính sách nhập cư và thị trường lao động có giá trị tham khảo quan trọng cho Việt Nam trong việc xây dựng và cải thiện chính sách này.

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hồng Anh thuộc chuyên ngành Quản lý Công tại Học viện Hành chính quốc gia tập trung vào việc nghiên cứu quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài tại Việt Nam Nghiên cứu này phân tích các chính sách và quy định hiện hành, đồng thời đề xuất các giải pháp cải thiện quản lý nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động nước ngoài và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Bài viết này tập trung vào 4 vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam, nghiên cứu các vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài Đồng thời, nó phân tích thực tiễn quản lý nhà nước tại khu vực này và đưa ra các khuyến nghị khoa học nhằm cải thiện hiệu quả quản lý đối với người lao động nước ngoài ở Việt Nam hiện nay.

Bài báo “Vấn đề thanh kiểm tra lao động nước ngoài ở Việt Nam” của tác giả Cao Vàn Sâm và Ngô Vân Hoài, đăng trên Tạp chí Khoa học Lao động và Xã hội, đã phân tích thực trạng thanh kiểm tra lao động nước ngoài tại Việt Nam và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Bài viết đánh giá các khía cạnh như thẩm quyền, chức năng, tần suất và chất lượng hoạt động thanh tra lao động nước ngoài Kết quả cho thấy hoạt động thanh kiểm tra chưa đạt yêu cầu, dẫn đến việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực sử dụng lao động nước ngoài không nghiêm túc.

Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Hoài Hương (2014) nghiên cứu về quản lý lao động nước ngoài tại TP Hồ Chí Minh, nhằm tìm hiểu thực trạng công tác quản lý và nguồn lao động nước ngoài, bao gồm xuất xứ, nghề nghiệp và đời sống của họ Nghiên cứu cũng đánh giá sự đóng góp của lao động nước ngoài vào kinh tế và sự phát triển của TP.HCM, đồng thời chỉ ra những vấn đề trong hoạt động quản lý và cuộc sống của họ Luận án phân tích các văn bản chính sách, cơ quan quản lý, quá trình thực thi và hiệu quả quản lý, cũng như những bất cập trong chính sách hiện hành Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất các giải pháp quản lý lao động nước ngoài nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh và phát triển bền vững đô thị TP.HCM.

Trần Thị Xuân Hương (2017) đã thực hiện nghiên cứu về quản lý lao động nước ngoài tại tỉnh Quảng Ngãi trong luận văn thạc sĩ của mình tại Học viện Hành chính Quốc gia Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích lý luận và thực tiễn trong việc thực hiện pháp luật liên quan đến quản lý lao động nước ngoài, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và tuân thủ các quy định pháp luật trong lĩnh vực này.

Quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam, đặc biệt là tại tỉnh Quảng Ngãi, gặp nhiều thách thức do các yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật như quan hệ cung - cầu lao động, cấp phép lao động, an ninh trật tự xã hội và quyền lợi hợp pháp của người lao động nước ngoài Để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, cần xây dựng quy tắc xử sự nhằm khắc phục những bất cập hiện tại Nghiên cứu của Đào Ngọc Dũng (2018) tại tỉnh Quảng Trị đã làm rõ lý luận về sử dụng lao động nước ngoài, bao gồm khái niệm, đặc điểm và các quy định pháp luật liên quan Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy nhiều hạn chế, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam.

Luận án tiến sĩ của Trân Thúy Hăng (2019) tại Đại học Luật Hà Nội nghiên cứu về pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động (QHLĐ) của người lao động nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Mục tiêu chính của nghiên cứu là làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến pháp luật QHLĐ cho NLĐ nước ngoài, đồng thời phân tích và đánh giá thực trạng quy định pháp luật hiện hành Từ những phân tích này, luận án đề xuất các kiến nghị và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NLĐ nước ngoài, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Phùng Công Nam (2019) trong luận văn thạc sĩ tại Học viện Hành chính Quốc gia đã nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với hoạt động cấp phép lao động cho người nước ngoài tại Hà Nội Mục tiêu của nghiên cứu là hệ thống hóa các hoạt động quản lý nhà nước liên quan đến lao động nước ngoài và đánh giá thực trạng cấp phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, từ đó đưa ra những nhận định về hiệu quả của công tác quản lý này trên địa bàn Thành phố.

Hà Nội đang triển khai các giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong việc cấp phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại thành phố Những biện pháp này nhằm đảm bảo quy trình cấp phép diễn ra nhanh chóng, minh bạch và hiệu quả hơn trong thời gian tới.

Quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh di cư lao động quốc tế hiện nay Pháp luật liên quan tạo ra hành lang pháp lý giúp Nhà nước thực hiện hiệu quả chức năng quản lý Bài viết phân tích thực tiễn pháp luật hiện hành và chỉ ra những bất cập, hạn chế trong hệ thống văn bản pháp luật Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài.

7 với lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam hiện nay.

Nhiều tác giả đã nghiên cứu về quản lý lao động nước ngoài từ nhiều góc độ khác nhau, góp phần xây dựng hệ thống lý luận vững chắc về chủ đề này Các công trình nghiên cứu đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý lao động nước ngoài, bao gồm nhiều khía cạnh nội dung quan trọng.

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về quản lý lao động nước ngoài từ góc độ pháp luật và quản lý công, nhưng chưa có công trình nào khai thác vấn đề này dưới khía cạnh quản lý kinh tế tại các địa phương Hơn nữa, hiện tại chưa có nghiên cứu toàn diện nào về quản lý lao động nước ngoài của Nhà nước tại thành phố, điều này cho thấy sự thiếu hụt trong việc hiểu biết và phát triển chính sách quản lý lao động nước ngoài.

Hà Nội Do đó nghiên cứu của tác giả hoàn toàn cần thiết và không trùng lắp với các công trình nghiên cứu trước đây.

Cơ sở lý luận về công tác quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài của chính quyền cấp tỉnh

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản • •

7.2.7.7 Lao động, người lao động, sức lao động

Trong kinh tế học, lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần cho xã hội Năng suất, chất lượng và hiệu quả của lao động là yếu tố then chốt cho sự phát triển của đất nước Lao động không chỉ là hoạt động có ý thức và mục đích mà còn là quá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người Nhờ lao động, con người đã tách biệt khỏi thế giới động vật và biết vận dụng quy luật tự nhiên để chinh phục thiên nhiên Tóm lại, lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế.

Lao động có thể được hiểu là sự tổng hợp của những cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình làm việc, bao gồm cả các yếu tố thể chất và tinh thần được huy động.

8 động vào quá trình lao động.

Lao động, theo Từ điển Tiếng Việt, là hành động của con người tương tác với tự nhiên Theo giáo trình Quản trị nguồn nhân lực xã hội, lao động được định nghĩa là hoạt động có mục đích, mang lại lợi ích cho con người và tác động lên môi trường xã hội nhằm tạo ra của cải vật chất Trong khuôn khổ luận văn này, lao động được xem xét dưới góc độ là danh từ chỉ người lao động, tức là những người trong độ tuổi lao động theo quy định pháp luật Họ có hợp đồng lao động với chủ sử dụng lao động, thực hiện yêu cầu công việc, nhận lương và chịu sự quản lý trong thời gian làm việc Sản phẩm lao động của họ được sử dụng bởi người khác và trao đổi trên thị trường, với giá trị trao đổi của sản phẩm chân tay thường thấp hơn so với sản phẩm trí óc.

Người lao động là nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, bao gồm cả những người không thuộc độ tuổi lao động nhưng vẫn tham gia lao động Nguồn lao động bắt đầu từ 15 tuổi, và người lao động được hiểu rộng rãi là những người làm công ăn lương theo thỏa thuận với chủ thuê Họ nhận lương dựa trên kết quả lao động, bao gồm sản phẩm vật chất và tinh thần Theo nghĩa hẹp, người lao động thường là những người làm việc có tính chất thể chất, chủ yếu trong nông nghiệp hoặc tiểu thủ nông nghiệp Trong kinh tế học, người lao động là người cung cấp sức lao động, một dạng dịch vụ và hàng hóa cơ bản của nền kinh tế, với cam kết lao động và sản phẩm lao động đối với tổ chức và người khác.

Theo Bộ luật Lao động 2019, người lao động được định nghĩa là cá nhân làm việc cho người sử dụng lao động dựa trên thỏa thuận, nhận lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát từ phía người sử dụng lao động.

Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người trong quá trình tạo ra của cải xã hội, phản ánh khả năng lao động và là điều kiện cần thiết trong lao động xã hội Trong nền kinh tế hàng hóa, sức lao động được xem là hàng hóa đặc biệt vì nó có giá trị và giá trị sử dụng cho các hàng hóa khác, đồng thời cũng là sản phẩm của tư duy và đời sống tinh thần Giá cả sức lao động được xác định thông qua thị trường lao động và tuân theo quy luật cung - cầu Mức cung cao dẫn đến dư thừa lao động và tiền công thấp, trong khi mức cung thấp gây ra tình trạng thiếu lao động và tiền công cao hơn.

Theo tiêu chí quốc tịch, người lao động (NLĐ) nước ngoài là những cá nhân không mang quốc tịch của quốc gia nơi họ làm việc, được định nghĩa trong Điều 2 của Công ước ICRMW 1990 Công ước này xác định NLĐ di trú là người đã, đang hoặc sẽ làm công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà họ không phải là công dân Hai tiêu chí chính để xác định NLĐ di trú bao gồm: (i) tiêu chí nghề nghiệp, tức là thực hiện công việc có hưởng lương; và (ii) tiêu chí quốc tịch, nghĩa là không phải là công dân của quốc gia sở tại Định nghĩa này cũng bao gồm những người sinh ra trên lãnh thổ nước ngoài, mang quốc tịch nước ngoài mà không cần phải di chuyển qua biên giới, như con hoặc cháu của NLĐ nước ngoài sinh ra tại nước ngoài nhưng vẫn làm việc tại quốc gia sở tại.

Theo Trần Thúy Hằng (2019), người lao động nước ngoài tại Việt Nam là những cá nhân từ nước ngoài đến làm việc theo hợp đồng lao động, nhận lương và chịu sự quản lý từ phía người sử dụng lao động.

Theo Vũ Hồng Hải (2018), người lao động nước ngoài là những cá nhân từ nước ngoài đến Việt Nam làm việc dựa trên hợp đồng lao động, nhận lương và chịu sự quản lý cũng như điều hành từ phía người sử dụng lao động.

Người lao động nước ngoài tại Việt Nam được định nghĩa là những cá nhân từ quốc gia khác đến làm việc theo hợp đồng lao động, nhận lương và chịu sự quản lý cũng như điều hành từ người sử dụng lao động, theo Nguyên Thị Hông Anh (2018).

Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 152/2020/NĐ-CP quy định về việc làm của người lao động nước ngoài tại Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 15/02/2021 Nghị định này quy định rõ ràng các hình thức lao động cho công dân nước ngoài, bao gồm thực hiện hợp đồng lao động, di chuyển nội bộ doanh nghiệp, tham gia các hợp đồng thương mại, tài chính, bảo hiểm, khoa học kỹ thuật, giáo dục và y tế Ngoài ra, nó còn đề cập đến việc làm cho tổ chức phi chính phủ, tổ chức quốc tế, tình nguyện viên, và các vị trí quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia kỹ thuật tại Việt Nam Nghị định cũng cho phép thân nhân của thành viên cơ quan đại diện nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Người lao động nước ngoài tại Việt Nam được định nghĩa là công dân nước ngoài làm việc theo các hình thức hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam.

1.2.2 Khái niệm quản lý nhà nước câp tỉnh đôi với lao động nước ngoài nươc r

Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể có quyền lực nhà nước thông qua pháp luật đến các đối tượng được quản lý, nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ đối ngoại của nhà nước Các chủ thể tham gia hoạt động quản lý nhà nước bao gồm cơ quan nhà nước và cá nhân được ủy quyền Hiện nay, hoạt động quản lý nhà nước được triển khai trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp.

11 nhằm thực hiện các chức năng đối với hoạt động quản lý nhà nước.

Một số đặc điếm cùa hoạt động quản lý nhà nước bao gồm:

Quản lý nhà nước là hoạt động thể hiện quyền lực của nhà nước, trong đó các chủ thể có thẩm quyền truyền đạt ý chí của nhà nước thông qua việc ban hành các văn bản pháp lý Hoạt động này bao gồm việc các cơ quan cấp trên ra chỉ thị cho các cơ quan cấp dưới nhằm tổ chức và thực hiện quản lý nhà nước hiệu quả.

Quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức và điều chỉnh, trong đó tổ chức tạo ra mối quan hệ giữa con người nhằm thực hiện quản lý xã hội Tính điều chỉnh thể hiện qua việc nhà nước sử dụng công cụ pháp luật để yêu cầu các đối tượng tuân thủ quy định pháp luật.

Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài của một số địa phương trong nước

1.3.1.1 Kinh nghiêm của Thành phố Hồ Chí Minh

Hiện nay, TP Hồ Chí Minh có 19.534 lao động nước ngoài đang làm việc tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và nhà thầu, trong đó có nhiều lao động được cấp giấy phép và không cần cấp phép Các quốc gia có số lượng lao động cao nhất bao gồm Nhật Bản (3.017 người, 15,5%), Hàn Quốc (3.041 người, 15,5%), Trung Quốc (1.993 người, 10,2%), Anh (1.532 người, 7,8%), Đài Loan (1.614 người, 7,6%), Hoa Kỳ (1.393 người, 5,9%), và Pháp (1.014 người, 5,2%) Số lao động đến từ các quốc tịch khác là 3.262 người, chiếm 16,69% tổng số lao động nước ngoài tại thành phố.

TP Hồ Chí Minh có một lượng lớn lao động nước ngoài (LĐNN), vì vậy, cơ quan quản lý nhà nước về lao động luôn chú trọng tổ chức hiệu quả các hoạt động quản lý đối với LĐNN Trong những năm qua, các cơ quan chức năng đã thực hiện nhiều biện pháp quản lý và đạt được kết quả tích cực Một trong những thành tựu quan trọng là việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp lý nhằm tổ chức quản lý LĐNN Kể từ năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài đã tạo ra khung pháp lý cho việc thu hút LĐNN vào Việt Nam, và đã được điều chỉnh nhiều lần để phù hợp với thực tế và cam kết quốc tế Hiện nay, các văn bản pháp lý như Luật Đầu tư năm 2014 và Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài đang được áp dụng Ủy ban nhân dân thành phố cũng đã ban hành nhiều văn bản cụ thể để triển khai các quy định này, như Quyết định số 13/QĐ-UBND và Công văn số 4279/UBND-VX, nhằm đảm bảo sự phù hợp với thực tiễn địa phương.

Việc cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam đã được quy định rõ ràng trong Quyết định số 5467/QĐ-UBND ngày 06/11/2014, tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan chức năng triển khai quản lý lao động nước ngoài hiệu quả Các cơ quan chức năng đã tích cực tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật về lao động nước ngoài cho cả người sử dụng lao động và người lao động thông qua nhiều hình thức đa dạng Sở Lao động, Thương binh và Xã hội đã tổ chức các hội nghị đối thoại chính sách với doanh nghiệp, có sự tham gia của các cơ quan liên quan như Sở Tư pháp, Sở Ngoại vụ và Công an Thành phố, nhằm giải đáp thắc mắc về quy trình làm việc của lao động nước ngoài tại Việt Nam Đồng thời, Sở cũng phối hợp với các hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài để thông tin về các quy định liên quan Hình thức đối thoại chính sách đã nhận được phản hồi tích cực từ doanh nghiệp, giúp giải quyết hiệu quả những khó khăn và vướng mắc trong việc cấp giấy phép lao động và quản lý lao động nước ngoài.

Trong thời gian qua, cơ quan quản lý đã áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý lao động nước ngoài (LĐNN) tại thành phố Cụ thể, họ đã xây dựng hệ thống thông tin quản lý và áp dụng khoa học - kỹ thuật để cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực này Đặc biệt, vào năm 2015, cơ quan đã thí điểm việc cấp lại giấy phép lao động qua mạng internet, kết hợp với ngành Bưu chính viễn thông để cung cấp các dịch vụ tiện ích cho người sử dụng.

Quy trình cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài tại TP Hồ Chí Minh đã được cải cách thông qua việc nộp hồ sơ và nhận kết quả tại nơi làm việc, tạo ra cơ sở dữ liệu về lao động nước ngoài Quyết định số 13/2015/QĐ-UBND quy định rõ trách nhiệm và mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý lao động nước ngoài tại các doanh nghiệp Sự phối hợp giữa Sở Lao động, Thương binh và Xã hội với Công an thành phố đã hỗ trợ hơn 1.000 lượt Việt kiều và 955 tổ chức, doanh nghiệp về quy định pháp luật lao động và xuất nhập cảnh Bên cạnh đó, các đợt kiểm tra và thanh tra đối với doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài đã được tổ chức thường xuyên, nhằm xử lý vi phạm và đảm bảo tính răn đe của pháp luật trong lĩnh vực này.

Sở Lao động, Thương binh và Xã hội đã phối hợp với Phòng Quản lý xuất, nhập cảnh để kiểm tra các điểm lao động, phát hiện nhiều vi phạm về giấy tờ Cụ thể, vào năm 2014, đã kiểm tra 13 điểm, bao gồm 12 công ty và 1 phòng khám, phát hiện 77 trường hợp không khai báo tạm trú, 5 trường hợp không có giấy tờ tùy thân, 27 trường hợp không có giấy phép lao động, và 3 trường hợp hoạt động sai mục đích nhập cảnh.

Những mặt đạt được trong tố chức QLNN đối với LĐNN trên địa bàn thành

Trong thời gian qua, quản lý lao động nước ngoài (LĐNN) tại TP Hồ Chí Minh đã có những tiến bộ đáng ghi nhận, nhưng vẫn tồn tại nhiều khó khăn Các văn bản hướng dẫn từ các cơ quan trung ương chưa kịp thời và đồng bộ, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc thực hiện Công tác theo dõi và quản lý LĐNN còn hạn chế do một số tổ chức chưa nắm rõ quy định pháp luật về lao động Mặc dù một số vị trí công việc không yêu cầu chuyên môn cao, nhưng việc đảm bảo hồ sơ hợp lệ vẫn cần thiết để được cấp giấy phép lao động Hiện nay, việc phát hiện LĐNN làm việc không có giấy phép chủ yếu dựa vào thanh tra, kiểm tra, nhưng lực lượng này vẫn còn thiếu về cả số lượng lẫn chất lượng.

1.3.1.2 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nang

Theo Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Đà Nằng, tính đến năm 2018, có

Tại Đà Nẵng, có 590 đơn vị và doanh nghiệp sử dụng 1.557 lao động nước ngoài, chiếm khoảng 2,4% tổng số 65.050 lao động Trong số này, có 1.264 nam và 293 nữ, đến từ 57 quốc gia khác nhau Về phân bổ công việc, có 531 người tham gia quản lý, 313 giám đốc điều hành, 270 chuyên gia và 443 lao động kỹ thuật Lĩnh vực du lịch là nơi có nhiều lao động nước ngoài nhất, chủ yếu là hướng dẫn viên du lịch và quản lý tại các cơ sở lưu trú, khu nghỉ mát.

Sự gia tăng lao động nước ngoài, đặc biệt là hướng dẫn viên du lịch, đã tạo ra nhiều thách thức trong công tác quản lý lĩnh vực du lịch Sở Du lịch đã phát hiện và xử lý nhiều vụ vi phạm liên quan đến lao động nước ngoài, nhằm đảm bảo sự tuân thủ quy định và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.

Trong công tác quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam, Đà Nẵng thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn và hướng dẫn dành cho các doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài.

Trong năm qua, 31 lao động nước ngoài đã được đăng ký sử dụng và cấp phép thông qua hệ thống dịch vụ công của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng cổng thông tin điện tử của thành phố Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan để thực hiện quy chế quản lý lao động nước ngoài tại Đà Nẵng, theo Quyết định số 8752/QĐ-UBND ngày 20/12/2016 Hằng tháng, quý, và năm, các đơn vị đã phối hợp trao đổi thông tin về danh sách cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài, giúp theo dõi và quản lý hiệu quả hơn.

Năm 2019, có 638 đơn vị và doanh nghiệp được phê duyệt nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài, với tổng số lượng cần tuyển là 1.425 người Cụ thể, nhu cầu phân theo vị trí làm việc bao gồm: 315 nhà quản lý, 402 giám đốc điều hành, 356 chuyên gia và 352 lao động kỹ thuật.

Tính đến đầu năm 2020, thành phố Đà Nẵng đã cấp mới 837 giấy phép lao động, cấp lại 378 giấy phép và xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép cho 576 trường hợp Hiện tại, có 835 đơn vị, doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài với tổng cộng 2.614 lao động, trong đó 1.956 nam và 658 nữ.

Sự gia tăng lao động nước ngoài trong lĩnh vực du lịch, đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên, đã gây ra nhiều thách thức trong công tác quản lý Kể từ năm 2016, UBND thành phố đã ban hành nhiều công văn yêu cầu các sở, ngành, Công an thành phố và địa phương tăng cường phối hợp trong việc thanh tra, kiểm tra và quản lý lao động nước ngoài Sở Lao động, Thương binh và Xã hội giữ vai trò chủ trì trong các hoạt động này Ông Võ Văn Tiến, Trưởng phòng Việc làm - An toàn lao động, cho biết đơn vị đã tổ chức tập huấn và hướng dẫn thủ tục cấp giấy phép lao động cho lao động nước ngoài cho các doanh nghiệp có nhu cầu, đồng thời hàng tháng phối hợp trao đổi thông tin để nâng cao hiệu quả quản lý.

Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh đã phối hợp với các sở, ban, ngành để cung cấp danh sách cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài, nhằm theo dõi và quản lý hiệu quả Đồng thời, Sở Giao thông vận tải cũng đã tăng cường công tác chấn chỉnh hoạt động vận chuyển du lịch, đặc biệt là đối với các xe mang biển số nước ngoài hoạt động không đúng quy định.

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐÓI VỚI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TẠI HÀ NỘI

PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỔI VỚI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI LÀM VỆC TẠI HÀ NỘI

Ngày đăng: 03/03/2022, 10:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hồng Anh (2019), Quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam, luận án tiến sỹ, Học viện Hành chính quốc gia Khác
2. Bộ Lao động và thương binh xã hội (2014), Thông tư số 03/2014/TT- BLĐTBXH ngày 20/01/2014 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Khác
3. Bộ Lao động và thương binh xã hội (2016), Thông tư số 40/2016/TT- BLĐTBXH ngày 25/10/2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 11/2016/NĐ-CP (Thông tư số 40/2016/TT- BLĐTBXH) Khác
4. Chính phủ (1996), Nghị định số 58/CP ngày 3/10/1996 về cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài Khác
5. Chính phủ (2016), Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 3/2/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam Khác
6. Chính phủ (2003), Nghị định số 105/2003/NĐ-CP ngày 17/9/2003 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tuyển dụng và quảnlý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam Khác
7. Chính phú (2008), Nghị định số 34/2008/NĐ-CP ngày 25/3/2008 quy định về tuyền dụng và quản lỷ người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam Khác
8. Đào Ngọc Dũng (2018), Pháp luật về sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam, qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Trị, luận văn thạc sỹ, Đại học Huế Khác
9. Đinh Dũng (2019), Thực trạng và giải pháp quản lý lao động người nước ngoài tại Binh Phước, Sở lao động và thương binh - xã hội, tỉnh Bình Phước Khác
10. Phan Huy Đường (Chủ biên, 2012), Quản lý nhà nước về lao động nước ngoài chất lượng cao ở Việt Nam, NXB Thống kê Khác
11. Trần Thúy Hằng (2019), Pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động của người lao động nước ngoài tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, luận án tiếnsỹ, Đại học Luật Hà Nội Khác
12. Phạm Thị Hương Giang (2015), Hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước 97 Khác
13. Nguyễn Thị Hoài Hương (2014), Quản lý lao động nước ngoài tại TP Hồ chí Minh, luận án tiến sỹ, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Khác
14. Trần Thị Xuân Hương (2017), Thực hiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài tại tỉnh Quảng Ngãi, luận văn thạc sỹ Khác
15. Phạm Hoàng Linh (2019), Hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng của lao động nước ngoài trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 16 (392) Khác
16. Phùng Công Nam (2019), Quản lý nhà nước về hoạt động cấp phép cho lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam trên địa bàn Thành phố Hà Nội,luận văn thạc sỹ, Học viện Hành chính Quốc gia Khác
17. Trần Thị Bích Nga (2020), Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với người lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Công Thương Khác
18. Diệu Ngọc (2019), Tăng cường quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, báo Dân sinh, Hà Nội Khác
19. Trần Thị Hồng Nhung (2015), Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý, sử dụng lao động tại công ty cổ phần điện tử hàng hải MEC, luận văn thạc sỹ Khác
21. Cao Văn Sâm và Ngô Vân Hoài (2003), vấn đề thanh kiểm tra lao động nước ngoài ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học Lao động và Xã hội, số 35, Quý II, 2013 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w