1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Người đại diện hợp pháp của đương sự trong tố tụng

104 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 0,94 MB

Cấu trúc

  • 1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ (13)
    • 1.1.1. Khái niệm người đại diện hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự (13)
    • 1.1.2. Đặc điểm của người đại diện hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự (21)
    • 1.1.3. Vai trò của người đại diện hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự (24)
  • 1.2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ (26)
    • 1.2.1. Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự (26)
    • 1.2.2. Đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự (27)
    • 1.2.3. Đảm bảo quyền con người, quyền lợi của những người không có khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (28)
    • 1.2.4. Đảm bảo sự tham gia tố tụng của đương sự một cách thuận lợi, (29)
    • 1.2.5. Đảm bảo mối liên hệ giữa các quy định về người đại diện trong quan hệ pháp luật nội dung và người đại diện trong tố tụng dân sự (30)
  • 1.3. SƠ LƯỢC VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ (0)
    • 1.3.1. Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1989 (31)
    • 1.3.2. Giai đoạn từ 1989 đến năm 2004 (32)
    • 1.3.3. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay (34)
  • CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ (38)
    • 2.1. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ (38)
      • 2.1.1. Người được đại diện và người đại diện theo pháp luật (38)
      • 2.1.2. Căn cứ phát sinh và chấm dứt người đại diện theo pháp luật (45)
      • 2.1.3. Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật (48)
      • 2.1.4. Phạm vi tham gia tố tụng dân sự (54)
    • 2.2. NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ (58)
      • 2.2.1. Người ủy quyền và người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự (58)
      • 2.2.2. Phạm vi ủy quyền và hình thức ủy quyền (66)
      • 2.2.3. Căn cứ phát sinh và chấm dứt người đại diện theo ủy quyền (69)
      • 2.2.4. Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo ủy quyền (72)
      • 2.2.5. Những người không được tham gia tố tụng dân sự với tư cách người đại diện theo ủy quyền (73)
    • 2.3. NGƯỜI ĐẠI DIỆN DO TÒA ÁN CHỈ ĐỊNH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ (74)
      • 2.3.1. Người được đại diện và người đại diện do Tòa án chỉ định (74)
      • 2.3.2. Căn cứ phát sinh và chấm dứt người đại diện do Tòa án chỉ định (75)
      • 2.3.3. Quyền và nghĩa vụ của người đại diện do Tòa án chỉ định (77)
  • CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ (80)
    • 3.1. Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về người đại diện hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự (80)
      • 3.1.1. Những kết quả đạt được (80)
      • 3.1.2. Những hạn chế, tồn tại (81)
      • 3.1.3. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc (91)
    • 3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về người đại diện hợp pháp của đương sự (93)
  • KẾT LUẬN (37)

Nội dung

KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Khái niệm người đại diện hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự

Để hiểu rõ khái niệm người đại diện hợp pháp của đương sự, trước tiên cần giải thích các khái niệm liên quan đến tố tụng dân sự và đương sự trong tố tụng dân sự.

Thứ nhất, về khái niệm tố tụng dân sự

Trong khoa học pháp lý, Tố tụng dân sự (TTDS) được định nghĩa là trình tự hoạt động theo quy định của pháp luật nhằm xem xét và giải quyết vụ án dân sự, cũng như thi hành án Theo từ điển Luật học, tố tụng là các bước tiến hành mang tính hình thức để giải quyết vụ kiện Hầu hết các quốc gia đều công nhận TTDS là quy trình pháp lý mà Tòa án sử dụng để giải quyết tranh chấp dân sự Tại Việt Nam, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về việc thi hành án dân sự có phải là một giai đoạn của TTDS hay không Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, luận văn chỉ tập trung vào vai trò của người đại diện trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, không đề cập đến người đại diện trong các giai đoạn khác.

Trong giai đoạn thi hành án dân sự, nhiệm vụ của cơ quan thi hành án và chấp hành viên là tổ chức thi hành bản án và quyết định của Tòa án, mà không can thiệp vào nội dung vụ việc dân sự (VVDS) Quy trình tố tụng dân sự (TTDS) chỉ là quá trình Tòa án giải quyết VVDS và xác định quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên liên quan Do đó, TTDS được quy định bởi pháp luật nhằm đảm bảo việc Tòa án giải quyết VVDS theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức.

Đương sự là một chủ thể không thể thiếu trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại tòa án, với vai trò tham gia tố tụng có thể làm phát sinh, thay đổi hoặc đình chỉ tố tụng Theo Từ điển Tiếng Việt, đương sự được định nghĩa là "người là đối tượng trực tiếp của một việc đang được giải quyết", trong khi Từ điển Hán Việt mô tả đương sự là người "có liên quan trực tiếp đến một việc" Từ đó, có thể hiểu rằng đương sự là người có liên quan trực tiếp đến vụ việc đang được xem xét và giải quyết.

Cá nhân và pháp nhân có thể tham gia tố tụng dân sự (TTDS) với vai trò nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đương sự là một trong những nhóm người tham gia TTDS tại Tòa án Nhân dân trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia đình và lao động Các thành phần tham gia TTDS bao gồm đương sự, người đại diện cho đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung, Viện kiểm sát, người làm chứng và người phiên dịch.

Theo Từ điển Luật học của Mỹ, đương sự được hiểu là “người đưa ra hoặc chống lại người đưa ra việc kiện.” Trong một vụ việc, đương sự là những người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ việc đang được xem xét Tùy thuộc vào loại vụ việc, có thể có đương sự trong vụ dân sự, vụ án hành chính và vụ án hình sự Cụ thể, đương sự trong vụ dân sự là người tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình hoặc lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước Các đương sự có thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức, và tham gia tố tụng với vai trò nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Thứ ba, về khái niệm người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự

Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự thường tự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Tuy nhiên, có những trường hợp mà đương sự không thể tự bảo vệ quyền lợi do nhiều lý do như sức khỏe yếu, công việc bận rộn, thiên tai, hoặc thiếu kiến thức pháp luật Do đó, việc có người đại diện tham gia tố tụng là cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Theo Từ điển Tiếng Việt, người đại diện là người được cử thay mặt cho cá nhân hoặc tập thể để thực hiện một công việc cụ thể Từ điển Từ Hán Việt năm 2001 cũng định nghĩa đại diện là "thay mặt" Như vậy, người đại diện có vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ của cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức.

Theo Từ điển Luật học, người đại diện được định nghĩa là “Người nhân danh và vì lợi ích của một người khác xác lập, thực hiện các giao dịch trong phạm vi thẩm quyền đại diện” Trong tố tụng dân sự, người đại diện của đương sự đóng vai trò “thay mặt” đương sự tham gia vào quá trình tố tụng, thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự.

Tác giả Nguyễn Thuỳ Dương định nghĩa đại diện là hành vi liên quan đến hai chủ thể: người đại diện và người được đại diện Trong đó, người đại diện thực hiện các giao dịch dân sự nhân danh người được đại diện, trong phạm vi thẩm quyền đã được ủy quyền.

Theo Điều 134 BLDS 2015, cá nhân và pháp nhân không đủ điều kiện để thực hiện giao dịch dân sự có thể ủy quyền cho người khác thực hiện giao dịch thay cho mình Quan hệ đại diện bao gồm người đại diện và người được đại diện, trong đó người đại diện hành động nhân danh và vì lợi ích của người được đại diện để thực hiện giao dịch trong phạm vi được ủy quyền.

Khi tham gia tố tụng tại Tòa án, các đương sự có quyền tự thực hiện nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia Trong trường hợp đương sự không thể tự tham gia, Tòa án có quyền chỉ định người thay mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Tất cả những người đại diện cho đương sự tại Tòa án nhằm thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự đều có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự Họ hành động nhân danh và vì lợi ích của người được đại diện, đảm bảo quyền và lợi ích của đương sự được bảo vệ một cách hiệu quả tại Tòa án.

Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự (TTDS) là cá nhân tham gia tố tụng thay mặt cho đương sự, thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự trước Tòa án.

Trong quá trình tham gia tố tụng dân sự tại Tòa án, có nhiều loại đại diện thay mặt cho đương sự, tùy thuộc vào năng lực hành vi, kinh nghiệm và ý chí của họ Các loại đại diện này bao gồm người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền và người đại diện do Tòa án chỉ định, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

* Người đại diện theo pháp luật là người tham gia TTDS để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự theo quy định của pháp luật

Đặc điểm của người đại diện hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự

Cơ sở xác định người đại diện hợp pháp trong tố tụng dân sự (TTDS) được quy định bởi pháp luật, dựa trên thỏa thuận giữa người đại diện và người được đại diện, hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Người đại diện hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự là cá nhân hoặc pháp nhân có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi Tuy nhiên, họ phải không thuộc các trường hợp mà pháp luật cấm làm người đại diện hợp pháp trong lĩnh vực này.

Người đại diện hợp pháp trong tố tụng dân sự có vai trò quan trọng khi thay mặt cho đương sự tham gia vào quan hệ pháp luật Để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng một cách hiệu quả, người đại diện hợp pháp cần đáp ứng các điều kiện nhất định.

Cá nhân và pháp nhân cần có năng lực chủ thể, bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự Đối với cá nhân, yêu cầu là phải từ đủ 18 tuổi trở lên và không bị mất năng lực hành vi dân sự Đối với pháp nhân, cần có năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự phù hợp với công việc đại diện Pháp nhân, với vai trò người đại diện hợp pháp trong tố tụng dân sự, phải có đăng ký kinh doanh hoặc có nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng về việc cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý và đại diện trong các vụ việc tố tụng.

Cá nhân và pháp nhân không thuộc các trường hợp bị cấm làm người đại diện hợp pháp, vì những người này có thể không vì lợi ích của người được đại diện hoặc sự tham gia của họ có thể ảnh hưởng đến những người tiến hành tố tụng, từ đó tác động đến quá trình giải quyết khách quan vụ án Do đó, họ không được phép tham gia với tư cách người đại diện trong tố tụng dân sự.

- Người đại diện hợp pháp của đương sự nhân danh đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự

Người đại diện hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật hoặc do đương sự ủy quyền Họ tham gia hai quan hệ pháp luật: quan hệ đại diện và quan hệ tố tụng Quan hệ đại diện là điều kiện cần thiết để người đại diện hợp pháp có thể tham gia tố tụng; nếu không có quan hệ này, họ sẽ không có tư cách tố tụng thay mặt cho đương sự.

Người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng thay mặt cho đương sự, nhưng hành động này diễn ra dưới danh nghĩa của đương sự và vì lợi ích của họ Điều này tạo ra sự khác biệt giữa người đại diện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Người bảo vệ không chỉ tham gia cùng đương sự trong quá trình tố tụng mà còn có vị trí pháp lý độc lập, không bị ràng buộc bởi các quyền và nghĩa vụ của đương sự Vai trò chính của người bảo vệ là hỗ trợ và giúp đỡ đương sự về mặt pháp lý, đồng thời thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của riêng mình.

Người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự dựa trên mối quan hệ đại diện, do đó quyền và nghĩa vụ của họ phụ thuộc vào nội dung quyền, nghĩa vụ của đương sự Các đương sự ở vị trí tố tụng khác nhau có quyền và nghĩa vụ khác nhau, dẫn đến người đại diện cũng thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác nhau tương ứng Quan hệ đại diện có nhiều dạng, mỗi dạng mở ra phạm vi đại diện khác nhau cho người đại diện, từ đó ảnh hưởng đến mức độ thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng Mục đích của người đại diện là vì lợi ích của người được đại diện, trong khi người đại diện có thể nhận thù lao nếu có thỏa thuận trong quan hệ đại diện theo ủy quyền; còn trong quan hệ đại diện theo pháp luật, họ không được hưởng lợi ích vật chất cụ thể.

Vai trò của người đại diện hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự

- Sự tham gia của người đại diện của đương sự trong TTDS góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Mục đích của tố tụng dân sự (TTDS) là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của nhà nước Để bảo vệ những quyền lợi này, đương sự cần tham gia tố tụng và thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, như người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, đương sự không thể tự mình tham gia tố tụng Khi đó, quyền và lợi ích hợp pháp của họ sẽ không được đảm bảo nếu không có người đại diện tham gia Ngay cả khi đương sự có năng lực hành vi tố tụng nhưng do hạn chế về hiểu biết pháp luật hoặc lý do khách quan, họ cũng có thể ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng, từ đó giúp bảo vệ quyền lợi của mình một cách hiệu quả hơn Sự tham gia của người đại diện là cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Sự tham gia của người đại diện trong vụ việc dân sự (VVDS) đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án trong quá trình giải quyết Người đại diện giúp kết nối hiệu quả giữa cơ quan tố tụng và đương sự, đặc biệt là đối với những người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hay người gặp khó khăn trong nhận thức Nếu không có người đại diện, những đối tượng này sẽ gặp khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Sự tham gia của người đại diện không chỉ giúp đẩy nhanh quá trình giải quyết VVDS mà còn đảm bảo rằng các quyền và nghĩa vụ tố tụng được thực hiện đầy đủ, như quyền chứng minh và cung cấp chứng cứ, từ đó tạo cơ sở cho Tòa án ra quyết định chính xác Trong trường hợp đương sự không thể tham gia trực tiếp, cơ chế ủy quyền sẽ được áp dụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giúp cơ quan tố tụng tiếp cận vụ việc một cách khách quan và chính xác.

Sự tham gia của người đại diện trong tố tụng dân sự (TTDS) giúp quá trình giải quyết vụ việc dân sự diễn ra nhanh chóng và thuận lợi, từ đó ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm phạm quyền lợi hợp pháp của người khác Điều này không chỉ buộc các bên khắc phục hậu quả mà còn nâng cao ý thức tôn trọng và thi hành pháp luật Quy định về người đại diện của đương sự trong TTDS là cơ sở pháp lý quan trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trước Tòa án.

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự

Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự là biểu hiện quan trọng của dân chủ trong tố tụng dân sự, góp phần đảm bảo hoạt động xét xử diễn ra khách quan và thành công.

Nguyên tắc này nhấn mạnh rằng các đương sự phải được tự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, đồng thời có quyền ủy quyền hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền lợi hợp pháp Tòa án có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định pháp luật để tạo điều kiện cho các đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Việc thực hiện quyền bảo vệ có thể do chính đương sự tiến hành hoặc thông qua sự trợ giúp của người khác.

Quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự (TTDS) là quyền chống lại các hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ Để bảo vệ quyền lợi này trước Tòa án, việc đảm bảo cho đương sự thực hiện các quyền trong TTDS là rất cần thiết Tuy nhiên, không phải lúc nào đương sự cũng có khả năng tự tham gia tố tụng, đặc biệt là trong trường hợp họ là người không có năng lực hành vi dân sự, chưa thành niên, hoặc có khó khăn trong nhận thức Nếu đương sự không thể tham gia tố tụng, quyền và lợi ích hợp pháp của họ sẽ bị ảnh hưởng Ngay cả khi đương sự có khả năng tự tham gia, họ có thể thiếu hiểu biết pháp luật và muốn ủy quyền cho người khác để bảo vệ quyền lợi của mình Do đó, việc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự bao gồm quyền ủy quyền cho người khác, nhờ người có hiểu biết pháp luật tham gia tố tụng, hoặc Tòa án chỉ định người đại diện khi đương sự không thể tự mình tham gia.

Đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự

Trong tố tụng dân sự (TTDS), quyền tự định đoạt của đương sự phát sinh từ bản chất của các quan hệ dân sự, được xây dựng trên nền tảng bình đẳng, tự do và tự nguyện Quyền này cho phép đương sự lựa chọn phương thức tham gia tố tụng mà họ cho là tốt nhất để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Nguyên tắc quyền tự định đoạt đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền lợi cho các bên liên quan Khi xảy ra tranh chấp, các bên có thể thương lượng và thỏa thuận để giải quyết hoặc quyết định khởi kiện ra Tòa án Tòa án chỉ giải quyết vụ án khi có đơn khởi kiện và trong phạm vi yêu cầu của đương sự, từ đó bảo vệ quyền lợi của họ Trong quá trình giải quyết vụ việc, các đương sự có quyền thay đổi yêu cầu hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, miễn là không vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội Nguyên tắc này cũng xác định trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự.

Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự không chỉ giúp ổn định trật tự xã hội và giữ vững kỷ cương, mà còn bảo vệ quyền lợi của nhân dân Pháp luật tố tụng dân sự đảm bảo cho các chủ thể trong quan hệ dân sự thực hiện quyền tự định đoạt, từ đó giảm bớt áp lực giải quyết tranh chấp cho Tòa án Điều này góp phần giúp cho việc giải quyết tranh chấp diễn ra nhanh chóng, tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả Tòa án lẫn đương sự.

Nguyên tắc quyền tự định đoạt cho phép đương sự lựa chọn phương thức giải quyết vụ việc một cách thuận tiện, nhanh chóng và hiệu quả, góp phần ổn định trật tự xã hội và bảo vệ lợi ích của người dân Trong một số trường hợp, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp tốt hơn, đương sự có thể ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng, điều này thể hiện sự đảm bảo quyền tự định đoạt Đương sự có quyền ủy quyền cho người đại diện thực hiện một phần hoặc toàn bộ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình Tuy nhiên, sau khi ủy quyền, đương sự vẫn có quyền tham gia tố tụng để hỗ trợ cho hoạt động của người đại diện.

Đảm bảo quyền con người, quyền lợi của những người không có khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Khi quyền lợi và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm hại, họ có quyền tự bảo vệ mình Tuy nhiên, một số nhóm người, như người khuyết tật về nhận thức, trẻ em chưa đủ tuổi hoặc những người mắc bệnh ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát bản thân, thường không nhận thức được sự xâm hại này và không có khả năng tự vệ Vì vậy, họ cần sự hỗ trợ từ các thiết chế pháp lý để bảo vệ quyền lợi của mình Nhà nước đã thiết lập cơ chế trợ giúp thông qua người đại diện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người không thể tự bảo vệ mình.

Đảm bảo sự tham gia tố tụng của đương sự một cách thuận lợi,

Sự tham gia của người đại diện trong quá trình tố tụng đóng vai trò quan trọng, giúp giải quyết vụ việc dân sự (VVDS) nhanh chóng và thuận lợi Người đại diện, có thể là luật sư hoặc người hiểu biết pháp luật, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự, bao gồm việc chứng minh yêu cầu và cung cấp chứng cứ Điều này giúp Tòa án tiết kiệm thời gian thu thập chứng cứ, từ đó tạo cơ sở để giải quyết VVDS hiệu quả hơn Thêm vào đó, sự tham gia của người đại diện đảm bảo tính khách quan trong quá trình xét xử, ngăn chặn sự chủ quan của Tòa án, giúp VVDS được giải quyết một cách chính xác Do đó, sự hiện diện của người đại diện trong tố tụng không chỉ thúc đẩy quá trình giải quyết mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người liên quan.

Quy định cho phép pháp nhân có nhiều người đại diện theo pháp luật giúp tăng cường khả năng thực hiện các hành vi pháp lý và hợp đồng giao dịch một cách nhanh chóng và thuận lợi Điều này đặc biệt quan trọng đối với các pháp nhân hoạt động đa lĩnh vực hoặc ở nhiều địa bàn khác nhau.

Đảm bảo mối liên hệ giữa các quy định về người đại diện trong quan hệ pháp luật nội dung và người đại diện trong tố tụng dân sự

Mục đích hình thành quan hệ đại diện trong luật dân sự và tố tụng dân sự là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, đặc biệt là những đối tượng thiệt thòi trong xã hội Trong bối cảnh kinh tế phát triển, đời sống dân sự trở nên phức tạp với nhiều loại quan hệ đa dạng, khiến cho những người không chuyên sâu về pháp lý gặp khó khăn trong việc hiểu và bảo vệ quyền lợi của mình Điều này dẫn đến nhu cầu trợ giúp pháp lý ngày càng cao, và quy định về người đại diện của đương sự mở ra cơ hội cho họ giải quyết những nhu cầu cấp thiết này.

Các quy định về người đại diện hợp pháp trong pháp luật là cơ sở quan trọng cho sự tham gia của họ trong tố tụng dân sự (TTDS) Để đảm bảo quá trình giải quyết tranh chấp diễn ra thuận lợi, các quy định này cần phù hợp với tính chất của tố tụng Những người đại diện cho các chủ thể có quyền lợi hợp pháp trong các lĩnh vực như dân sự, hôn nhân gia đình, lao động và thương mại thường tiếp tục giữ vai trò đại diện trong TTDS khi có tranh chấp được đưa ra Tòa án Quan hệ đại diện trong TTDS chỉ phát sinh khi có những căn cứ nhất định liên quan đến việc tham gia tố tụng.

SƠ LƯỢC VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1989

Cơ sở pháp lý cho các quy định về người đại diện hợp pháp của đương sự trong tố tụng, đặc biệt là trong tố tụng dân sự, được xác định từ Sắc lệnh số 33 ngày 13/09/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó nêu rõ việc thành lập tòa án quân sự.

Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền lợi của mình Tinh thần này đã được kế thừa và phát triển trong quy định về người đại diện, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho bị cáo trong quá trình tố tụng.

Vào ngày 22/12/1949, Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh 144/SL, mở rộng quyền bào chữa cho các bị cáo trước Tòa án, cho phép họ nhờ một công dân không phải là luật sư để bảo vệ quyền lợi Sắc lệnh này sửa đổi Sắc lệnh 69/SL ngày 18/06/1949, quy định quyền lợi cho bị can tại các Tòa án thường và Tòa án đặc biệt Tiếp theo, vào ngày 22/5/1950, Sắc lệnh 85/SL được ban hành nhằm cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, trong đó Điều 2 quy định rằng luật sư có thể tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Năm 1954, sau khi miền Bắc được giải phóng, nhiều văn bản pháp luật quan trọng đã được ban hành, trong đó Hiến pháp 1959 thay thế Hiến pháp 1946 Trong lĩnh vực tố tụng dân sự (TTDS), Nhà nước đã phát hành nhiều quy định và hướng dẫn về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, bao gồm các văn bản liên quan đến quyền nhờ người khác đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án.

Thông tư 2225/HCTP ngày 24/10/1956 quy định về việc chấn chỉnh quyền bào chữa, cùng với Thông tư số 22/HCTP ngày 18/02/1957, đã giải đáp một số vấn đề liên quan đến bào chữa của Bộ Tư pháp Khi Hiến pháp 1959 và Luật tổ chức TAND có hiệu lực, TANDTC đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn chi tiết về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, như Thông tư số 614/DS ngày 24/04/1963 và Thông tư số 06/TATC ngày 25/02/1974, đều quy định về quyền nhờ người khác bảo vệ cho đương sự trong tố tụng dân sự.

Năm 1972, Chính quyền Ngụy Sài Gòn đã ban hành Bộ luật Dân sự và Thương mại, quy định các thủ tục giải quyết vụ việc dân sự, trong đó có những tiến bộ như thừa nhận quyền tự bảo vệ của đương sự và quyền nhờ luật sư, cũng như quyền tham gia tố tụng của người thân như vợ chồng và anh em Sau chiến thắng của Cuộc tổng tiến công năm 1975, đất nước ta đã thống nhất.

Vào năm 1980, Hiến pháp được ban hành, ghi nhận vai trò của tổ chức luật sư trong việc hỗ trợ bị cáo và các đương sự khác về pháp lý Điều này được cụ thể hóa trong Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987, trong đó quy định rằng một trong những nhiệm vụ của luật sư là đại diện cho các bên đương sự trong các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động (khoản 1 Điều 13).

Giai đoạn từ 1989 đến năm 2004

Sau năm 1986, Việt Nam bắt đầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và mở cửa đất nước, dẫn đến sự phong phú trong các quan hệ xã hội như dân sự, thương mại và lao động Để đáp ứng nhu cầu này, pháp luật cần có các quy định điều chỉnh, đặc biệt trong lĩnh vực dân sự Trong giai đoạn này, nhiều văn bản pháp luật quan trọng đã được ban hành, bao gồm ba pháp lệnh liên quan đến người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự: PLTTGQCVADS năm 1989, PLTTGQCVAKT năm 1994, và PLTTGQCTCLĐ năm 1996 Trước đây, các quy định về người đại diện chưa cụ thể, nhưng hiện nay đã được sửa đổi và bổ sung nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng trong thực tế.

Theo Khoản 2 và Khoản 3 PLTTGQCVADS năm 1989, người đại diện bao gồm người chưa thành niên (trừ trường hợp từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng) và người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần không thể tham gia tố tụng Nếu người chưa thành niên, người có nhược điểm hoặc người vắng mặt không có ai đại diện, Tòa án sẽ cử người thân thích hoặc thành viên tổ chức xã hội làm đại diện Điều 22 quy định về người đại diện theo ủy quyền, cho phép đương sự là công dân ủy quyền cho luật sư hoặc người khác trong tố tụng, ngoại trừ trường hợp ly hôn và hủy kết hôn trái pháp luật Đối với pháp nhân, tham gia tố tụng qua người lãnh đạo hoặc người đại diện được ủy quyền bằng văn bản.

Năm 2001, Pháp lệnh Luật sư 2001 được ban hành nhằm thay thế Pháp lệnh Luật sư 1987, nhằm phát triển đội ngũ luật sư đáp ứng yêu cầu hội nhập và nhu cầu bào chữa của bị can, bị cáo Pháp lệnh này khẳng định vai trò của luật sư trong việc tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động và hành chính (Điều 14).

Giai đoạn từ năm 2004 đến nay

Dựa trên các pháp lệnh về thủ tục trước đó và những thành tựu lập pháp quốc tế từ Pháp, Nga, Trung Hoa, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) vào ngày 15/5/2004, có hiệu lực từ 01/01/2005 BLTTDS quy định về người đại diện hợp pháp của đương sự tại 5 điều từ Điều 73 đến Điều 78, bao gồm các quy định về loại người đại diện, quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như các trường hợp không được làm người đại diện và quy định về chấm dứt đại diện Đây là lần đầu tiên chế định người đại diện được ghi nhận cụ thể trong hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Sau 7 năm thi hành, vào năm 2011, Quốc hội đã sửa đổi một số điều của BLTTDS, nhưng quy định về người đại diện không có sự thay đổi nào.

Và đến ngày 25/11/2015 Quốc hội đã ký thông qua BLTTDS năm

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 thay thế BLTTDS năm 2004, có hiệu lực từ ngày 01/7/2016, đã có những thay đổi quan trọng về quy định người đại diện BLTTDS năm 2015 làm rõ hơn về chế định người đại diện hợp pháp của đương sự, cho phép cả cá nhân và tổ chức làm người đại diện, giúp giải quyết vướng mắc trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng của các cơ quan, tổ chức khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Ngoài ra, BLTTDS năm 2015 còn bổ sung quy định về việc tham gia tố tụng của tổ chức đại diện tập thể lao động theo khoản 3 Điều 85.

BLTTDS năm 2015 quy định rằng tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện và tham gia tố tụng tại Tòa án khi quyền lợi hợp pháp của tập thể người lao động bị xâm phạm, đồng thời có thể đại diện cho người lao động khi được ủy quyền Trong trường hợp nhiều người lao động có cùng yêu cầu đối với người sử dụng lao động, họ có thể ủy quyền cho một đại diện của tổ chức này để khởi kiện Bên cạnh đó, BLTTDS năm 2015 cũng đã bổ sung quy định về quyền yêu cầu ly hôn của cha, mẹ và người thân thích khi một bên vợ, chồng không còn năng lực hành vi dân sự do bệnh tật hoặc bị bạo lực gia đình Điều này giúp giải quyết những trường hợp khó khăn trong việc xin ly hôn cho người thân không thể tự mình thực hiện yêu cầu, khắc phục những hạn chế của luật cũ.

BLTTDS năm 2015 đã bổ sung rõ ràng các trường hợp cần chỉ định người đại diện trong tố tụng dân sự Cụ thể, khi tiến hành tố tụng, nếu có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, hoặc người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi mà không có người đại diện, thì cần phải chỉ định người đại diện theo quy định của pháp luật.

Theo Điều 87 của Bộ luật này, Tòa án có quyền chỉ định người đại diện tham gia tố tụng Trong trường hợp vụ việc lao động có đương sự thuộc quy định tại khoản 1 hoặc người lao động chưa thành niên không có người đại diện, và Tòa án không thể chỉ định người đại diện theo quy định, thì Tòa án sẽ chỉ định tổ chức đại diện tập thể lao động để bảo vệ quyền lợi cho người lao động đó.

Luật Bảo vệ người tiêu dùng sửa đổi bổ sung năm 2011 chỉ áp dụng cho những cá nhân có năng lực hành vi dân sự bị hạn chế, mà không đề cập đến người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ, trong trường hợp không được phép làm người đại diện hợp pháp theo quy định hiện hành.

BLTTDS năm 2015 đã được thông qua và có hiệu lực, mang đến những bổ sung quan trọng, đánh dấu một bước đột phá trong quy định về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự.

Nghiên cứu các quy định về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự cho thấy sự phát triển và hoàn thiện liên tục của các quy định này Điều này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà còn hỗ trợ các cơ quan tố tụng trong việc giải quyết vụ việc dân sự một cách hiệu quả.

Người đại diện hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự (TTDS) đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Họ là cá nhân hoặc pháp nhân có năng lực hành vi tố tụng, tham gia tố tụng theo quy định pháp luật, ủy quyền hoặc chỉ định của Tòa án Sự tham gia này không chỉ nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi mà còn tạo thuận lợi cho quá trình tố tụng Qua thời gian, chế định người đại diện ngày càng hoàn thiện, đảm bảo quyền lợi của người dân, phù hợp với chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời góp phần tìm ra sự thật khách quan và thực thi công lý.

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG DÂN

2.1.1 Người được đại diện và người đại diện theo pháp luật

Khoản 1 Điều 134 BLDS 2015 quy định: Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự Ngoài ra, khoản 2 Điều 85 BLTTDS

Năm 2015, quy định tại khoản 2 Điều 73 BLTTDS năm 2004 về người đại diện theo pháp luật được tiếp tục duy trì, theo đó người đại diện theo pháp luật theo quy định của BLDS sẽ là người đại diện trong tố tụng dân sự, trừ khi bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của pháp luật Do đó, trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, việc xác định người đại diện theo pháp luật của đương sự sẽ khác nhau tùy thuộc vào từng loại đối tượng được đại diện, bao gồm cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác.

Người được đại diện trong các vụ án dân sự phải là cá nhân không có năng lực hành vi tố tụng dân sự (NLHVTTDS), bao gồm những đối tượng như người chưa thành niên, người đã mất, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, và người gặp khó khăn trong nhận thức cũng như khả năng kiểm soát hành vi Những cá nhân này không đáp ứng đủ điều kiện NLHVTTDS theo quy định của pháp luật.

Theo quy định pháp luật, cá nhân phải từ 18 tuổi trở lên và không bị mất năng lực hành vi dân sự (NLHVDS) để tự tham gia tố tụng dân sự (TTDS) Nếu không đủ NLHVDS, họ phải nhờ người đại diện để thực hiện quyền và nghĩa vụ Tuy nhiên, cá nhân từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng vẫn có thể tự tham gia TTDS liên quan đến quan hệ lao động hoặc dân sự của mình, theo khoản 6 Điều 69 BLTTDS 2015.

Theo Điều 23 Bộ luật Dân sự 2015, có quy định mới về người gặp khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi Trong trường hợp này, Tòa án sẽ chỉ định người giám hộ và xác định rõ quyền và nghĩa vụ của người giám hộ.

Như vậy, đương sự là cá nhân thì những người sau đây cần có người đại diện theo pháp luật:

Người chưa thành niên, trừ những cá nhân từ đủ mười lăm đến chưa đủ mười tám tuổi, có quyền tham gia lao động thông qua hợp đồng lao động hoặc thực hiện giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình.

- Người bị hạn chế NLHVDS;

Người có khó khăn trong việc nhận thức và kiểm soát hành vi của mình cần có người đại diện theo pháp luật tham gia vào quá trình tố tụng dân sự tại Tòa án Những chủ thể này sẽ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho cá nhân trong các trường hợp liên quan.

+ Người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên: trước tiên, cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên (Điều

Theo Điều 47 BLDS 2015, người giám hộ sẽ là đại diện pháp lý cho người chưa thành niên trong các thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án khi cha, mẹ không còn hoặc không đủ khả năng chăm sóc, giáo dục con Người giám hộ có thể là người giám hộ đương nhiên theo Điều 52 BLDS 2015, người được UBND cấp xã chỉ định, hoặc người do Tòa án chỉ định trong trường hợp có tranh chấp về quyền giám hộ (Điều 54 BLDS 2015).

Người đại diện theo pháp luật cho người mất năng lực hành vi dân sự (NLHVDS) là người giám hộ đương nhiên Nếu không có người giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 48 BLDS 2015, người giám hộ sẽ được xác định theo Điều 53 BLDS 2015 Cụ thể, nếu vợ mất NLHVDS, chồng sẽ là người giám hộ và ngược lại Trong trường hợp cả cha và mẹ đều mất NLHVDS hoặc một trong hai không đủ điều kiện làm giám hộ, người con cả sẽ là người giám hộ Nếu người con cả không đủ điều kiện, con tiếp theo có đủ điều kiện sẽ đảm nhận vai trò này Đối với người thành niên mất NLHVDS chưa có vợ, chồng, hoặc con, cha mẹ sẽ là người giám hộ Tất cả các giám hộ nêu trên đều là người đại diện theo pháp luật cho người mất NLHVDS Nếu không có người giám hộ đương nhiên, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú sẽ cử người giám hộ Trong trường hợp có tranh chấp về người giám hộ, Tòa án sẽ chỉ định người giám hộ.

+ Người đại diện theo pháp luật của người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi:

Theo quy định tại Điều 23 BLDS năm 2015 những trường hợp được xác định là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi là:

Người thành niên có thể gặp khó khăn trong việc nhận thức và làm chủ hành vi do tình trạng thể chất hoặc tinh thần, nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự Theo yêu cầu của người này, hoặc của người có quyền lợi liên quan, hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án sẽ ra quyết định tuyên bố tình trạng này dựa trên kết luận giám định pháp y tâm thần Quyết định này bao gồm việc chỉ định người giám hộ và xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.

Người đại diện hợp pháp cho người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi là người giám hộ, và cần có sự đồng ý của người được giám hộ nếu họ có khả năng thể hiện ý chí tại thời điểm yêu cầu (theo Điều 46 BLDS năm 2015) Theo khoản 4 Điều 54, trừ trường hợp áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 48, người giám hộ sẽ do Tòa án chỉ định từ danh sách những người giám hộ theo quy định tại Điều 54.

Theo Điều 53 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu không có người giám hộ theo quy định, Tòa án sẽ chỉ định người giám hộ hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện vai trò này Người giám hộ sẽ thực hiện các quyền theo quyết định của Tòa án đối với những người có khó khăn trong nhận thức và khả năng làm chủ hành vi.

Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là người thành niên có khả năng hành vi nhưng do nghiện ma túy hoặc chất kích thích dẫn đến việc phá tán tài sản gia đình Việc yêu cầu tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi chỉ được thực hiện bởi những người có quyền lợi liên quan hoặc cơ quan, tổ chức có mối quan hệ với người đó, và Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền ra quyết định này Người đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi cần phải đáp ứng các điều kiện như một người giám hộ, mặc dù luật không quy định rõ Người đại diện sẽ được chỉ định theo quyết định của Tòa án, thường là vợ hoặc chồng của người bị hạn chế năng lực, nếu không có thì sẽ là người thân thuộc.

Người đại diện theo pháp luật là cần thiết cho các pháp nhân có cơ cấu tổ chức phức tạp, vì họ không thể trực tiếp tham gia vào tố tụng dân sự Do đó, mọi quyền và nghĩa vụ liên quan đến tố tụng dân sự phải được thực hiện thông qua người đại diện này.

Trong BLDS 2015 để thống nhất với Điều 13 Luật doanh nghiệp

2014 là pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật thì Điều

Theo quy định tại Điều 137 BLDS 2015, một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật, mỗi người đều có quyền đại diện cho pháp nhân theo Điều 140 và 141 của Bộ luật này Quy định mới này nhằm bảo đảm quyền của thành viên pháp nhân trong việc thỏa thuận và lựa chọn nhiều người đại diện, từ đó giúp pháp nhân thực hiện các hành vi pháp lý, hợp đồng và giao dịch một cách nhanh chóng và thuận lợi, đặc biệt là đối với những pháp nhân hoạt động trên nhiều lĩnh vực hoặc địa bàn khác nhau Tuy nhiên, để tránh rủi ro trong việc giao kết và thực hiện các giao dịch với người không có thẩm quyền, Điều 141 BLDS năm 2015 cũng cần được lưu ý.

NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO ỦY QUYỀN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

2.2.1 Người ủy quyền và người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự

2.2.1.1 Người ủy quyền trong tố tụng dân sự

Trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự (TTDS), có nhiều chủ thể tham gia, bao gồm cơ quan, người tiến hành TTDS và các đương sự Người đại diện theo ủy quyền trong TTDS được quy định bởi Bộ luật Dân sự (BLDS), trừ khi pháp luật cấm ủy quyền Cá nhân và pháp nhân có thể ủy quyền cho người khác để thực hiện giao dịch dân sự và tham gia vào các quan hệ pháp luật TTDS Các thành viên trong hộ gia đình, tổ hợp tác hoặc tổ chức không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử người đại diện để xác lập và thực hiện giao dịch dân sự, cũng như tham gia giải quyết các vụ việc liên quan đến tài sản chung của họ.

Người ủy quyền trong tố tụng dân sự (TTDS) cần có năng lực hành vi tố tụng dân sự (NLHVTTDS), khác với đại diện theo pháp luật Người ủy quyền có thể là đương sự, bao gồm cá nhân hoặc pháp nhân, hoặc người đại diện theo pháp luật của đương sự Khi đương sự hoặc người đại diện theo pháp luật không muốn tham gia TTDS hoặc muốn một người có hiểu biết về pháp luật đại diện cho mình, họ có thể ủy quyền cho người đó tham gia TTDS và thực hiện các quyền, nghĩa vụ liên quan.

- Đối với đương sự là cá nhân thì cá nhân nếu có NLHVTTDS (từ đủ

Người từ 18 tuổi trở lên và không mất năng lực hành vi dân sự có quyền ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng dân sự (TTDS) thay cho mình Đối với người từ 15 tuổi trở lên, họ có thể tự tham gia TTDS khi có tranh chấp liên quan đến hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự mà không cần sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật Tòa án có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ, nhưng họ vẫn có thể ủy quyền cho người khác tham gia TTDS trong các tranh chấp liên quan đến tài sản riêng của mình.

Trong trường hợp đương sự là cá nhân chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, họ không thể tự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật Do đó, họ cũng không thể lập văn bản ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng dân sự Trong tình huống này, người đại diện theo pháp luật của đương sự có thể ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

- Đối với đương sự là các cá nhân là thành viên của tổ hợp tác, hộ gia đình, tổ chức không có tƣ cách pháp nhân:

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, tổ hợp tác, hộ gia đình và tổ chức không có tư cách pháp nhân có thể tham gia quan hệ dân sự thông qua người đại diện theo pháp luật Cụ thể, chủ hộ là đại diện theo pháp luật của hộ gia đình, trong khi tổ trưởng tổ hợp tác là đại diện theo pháp luật của tổ hợp tác (Khoản 1 Điều 107; Khoản 1 Điều 113 BLDS năm 2005) Người đại diện theo pháp luật có quyền ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ liên quan đến quan hệ dân sự thay mặt cho hộ gia đình, tổ hợp tác hoặc tổ chức không có tư cách pháp nhân.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 101 BLDS 2015, hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chức không có tư cách pháp nhân có thể tham gia quan hệ dân sự thông qua các thành viên của mình Nếu các thành viên không được ủy quyền làm người đại diện, họ vẫn có thể xác lập và thực hiện giao dịch dân sự với tư cách cá nhân Điều này thể hiện sự thay đổi so với BLDS 2005, khi mà BLDS 2015 tiếp tục thừa nhận sự tồn tại của các thực thể pháp lý này trong đời sống xã hội, cho phép họ tham gia vào nhiều quan hệ pháp luật dân sự như sử dụng đất, điện, nước, phù hợp với các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và lịch sử của Việt Nam.

Sửa đổi của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định rõ về việc tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, và tổ chức không có tư cách pháp nhân vào quan hệ dân sự thông qua cá nhân đại diện Quy định mới này giúp giải quyết các vướng mắc kéo dài liên quan đến việc tham gia các quan hệ dân sự và tranh chấp tại Tòa án Theo đó, các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, và tổ chức không có tư cách pháp nhân có quyền tự tham gia tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện Điều này có nghĩa là trong các vụ việc dân sự, chỉ các cá nhân là thành viên của những tổ chức này mới được xem là đương sự, trong khi tổ chức không có tư cách pháp nhân không cần phải có người đại diện theo pháp luật tham gia.

Điều 69 khoản 7 BLTTDS năm 2015 quy định rằng đương sự là cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng thông qua người đại diện hợp pháp, điều này phù hợp với pháp nhân Đối với tổ hợp tác, hộ gia đình, và tổ chức không có tư cách pháp nhân, việc tham gia tố tụng phải thông qua các thành viên hoặc người đại diện được ủy quyền Do đó, cần sửa đổi quy định tại khoản 7 Điều 69 để đảm bảo sự phù hợp giữa BLDS 2015 và BLTTDS 2015.

Đối với pháp nhân, người đại diện theo pháp luật có quyền ủy quyền cho cá nhân khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, thay mặt cho pháp nhân.

Theo Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, đối với người lao động hoặc tập thể lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện các vụ án lao động nhằm bảo vệ quyền lợi cho tập thể Khi tổ chức này khởi kiện, họ được xem là người đại diện theo pháp luật cho tập thể lao động Trong trường hợp người lao động cá nhân hoặc nhóm nhỏ không thuộc tập thể, họ có quyền tự khởi kiện mà không cần thông qua tổ chức đại diện, trừ khi có sự ủy quyền từ người lao động hoặc nhóm lao động đó.

2.2.1.2 Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự

Khoản 1 Điều 85 BLTTDS 2015 tiếp tục kế thừa quy định trong BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định về người đại diện theo ủy quyền Điểm mới trong BLDS 2015 và BLTTDS 2015 so với BLDS 2005 và BLTTDS 2005 là người đại diện theo ủy quyền trong TTDS đƣợc quy định rõ là cá nhân, pháp nhân

Để cá nhân đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng dân sự tại Tòa án, cần phải đáp ứng một số điều kiện nhất định.

- Là người có NLHVTTDS theo quy định tại Điều 69 BLTTDS 2015, người đại diện theo ủy quyền là người từ đủ mười tám tuổi trở lên không bị mất NLHVDS

Theo Điều 87 BLTTDS 2015, một số trường hợp không đủ điều kiện làm người đại diện theo ủy quyền Những người này bao gồm những cá nhân không được phép đại diện theo quy định pháp luật.

Nếu các đương sự có quyền và lợi ích hợp pháp đối lập với người được đại diện trong cùng một vụ án, điều này cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo quyền lợi của tất cả các bên liên quan.

Khi một người đại diện theo pháp luật tham gia vào tố tụng dân sự cho một đương sự, họ cần lưu ý rằng quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó có thể đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình trong cùng một vụ án.

NGƯỜI ĐẠI DIỆN DO TÒA ÁN CHỈ ĐỊNH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

2.3.1 Người được đại diện và người đại diện do Tòa án chỉ định

Trước đây, Điều 76 BLTTDS năm 2004 chỉ cho phép Tòa án chỉ định người đại diện cho đương sự khi họ bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (NLHVDS) mà không có người đại diện hợp pháp Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định rằng khi một bên vợ hoặc chồng mất NLHVDS và bên kia yêu cầu ly hôn, Tòa án sẽ chỉ định người đại diện cho bên mất NLHVDS Ngoài ra, khi chấm dứt việc nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và con đẻ sẽ được khôi phục, và nếu cha mẹ đẻ không đủ điều kiện nuôi con, Tòa án sẽ chỉ định người giám hộ cho con Điều 88 BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm các trường hợp mà Tòa án có quyền chỉ định người đại diện tham gia tố tụng dân sự.

Khi tiến hành thủ tục tố tụng dân sự (TTDS), nếu có sự tham gia của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi mà không có người đại diện hợp pháp, Tòa án sẽ phải chỉ định người đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều 87 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 để đảm bảo quyền lợi cho các đối tượng này trong quá trình TTDS.

Trong trường hợp vụ việc lao động có đương sự thuộc quy định tại khoản 1 Điều này hoặc người lao động chưa thành niên không có người đại diện, và Tòa án không thể chỉ định người đại diện, Tòa án sẽ chỉ định tổ chức đại diện tập thể lao động thay mặt cho người lao động đó.

2.3.2 Căn cứ phát sinh và chấm dứt người đại diện do Tòa án chỉ định

2.3.2.1 Căn cứ phát sinh người đại diện do Tòa án chỉ định

Quan hệ đại diện do Tòa án chỉ định phát sinh từ quyết định của Tòa án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Theo quy định tại Điều 76 BLTTDS 2004, Tòa án chỉ được chỉ định người đại diện trong trường hợp đương sự bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và không có người đại diện hợp pháp hoặc người đại diện theo pháp luật không đủ điều kiện đại diện.

Theo Điều 75 BLTTDS 2004, Tòa án không được chỉ định những người không đủ điều kiện làm đại diện theo pháp luật cho đương sự, điều này gây bất bình đẳng trong việc giải quyết các vụ án dân sự Điều này không tương thích với các quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc chỉ định người đại diện cho người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi Để khắc phục, BLTTDS 2015 đã bổ sung quy định về việc Tòa án phải chỉ định người đại diện cho những người mất năng lực hành vi, người chưa thành niên hoặc người có khó khăn trong nhận thức khi không có người đại diện hợp pháp Đặc biệt, trong các vụ án lao động, nếu có đương sự là người mất năng lực hành vi hoặc chưa thành niên mà không có người đại diện, Tòa án sẽ chỉ định tổ chức đại diện tập thể lao động để bảo vệ quyền lợi cho họ Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho những người không có khả năng tự bảo vệ quyền lợi của mình Người đại diện do Tòa án chỉ định sẽ tham gia tố tụng và có quyền, nghĩa vụ tương ứng với đương sự mà họ đại diện.

Người đại diện được Tòa án chỉ định sẽ tham gia tố tụng kể từ khi có quyết định chính thức từ Tòa án Phạm vi tham gia của họ không bị giới hạn trong bất kỳ loại vụ việc nào.

2.3.2.2 Căn cứ chấm dứt người đại diện do Tòa án chỉ định

Quan hệ đại diện trong tố tụng dân sự sẽ chấm dứt khi có sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật, như khi người đại diện không còn đủ điều kiện tham gia tố tụng Những người như chưa thành niên, người mất, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức cần có người đại diện tham gia Khi những người này được khôi phục năng lực hành vi, chẳng hạn như khi họ đã thành niên hoặc không còn bị hạn chế, Tòa án sẽ hủy bỏ quyết định liên quan, cho phép họ tự mình tham gia tố tụng hoặc ủy quyền cho người khác Điều này là một trong những căn cứ chấm dứt quan hệ đại diện do Tòa án chỉ định.

Khi người đại diện do Tòa án chỉ định qua đời, hoặc khi người bị mất năng lực hành vi dân sự, gặp khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, thì quan hệ đại diện này sẽ chấm dứt Ngoài ra, nếu người đại diện không đủ điều kiện để thực hiện vai trò của mình, quan hệ đại diện cũng sẽ kết thúc.

2.3.3 Quyền và nghĩa vụ của người đại diện do Tòa án chỉ định

Khác với người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền sẽ có quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự (TTDS) theo nội dung văn bản ủy quyền Đối với người đại diện do Tòa án chỉ định, pháp luật TTDS chưa quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ, họ chỉ được tham gia TTDS trong vụ án mà Tòa án đang giải quyết và không thể đại diện cho đương sự trong các vụ án khác Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người đại diện do Tòa án chỉ định có thể thực hiện tất cả quyền và nghĩa vụ TTDS trong phạm vi vụ án mà họ được chỉ định, nhằm đảm bảo quyền lợi cho đương sự.

BLDS 2015 và BLTTDS 2015 đã có những bổ sung chi tiết và quy định mới về đại diện tập thể lao động, người có khó khăn trong nhận thức, và việc chỉ định người đại diện của Tòa án Những sửa đổi này giúp thuận lợi hơn cho đương sự và cơ quan tiến hành TTDS trong việc xác định tư cách pháp lý, từ đó đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự một cách khách quan Luận văn cũng phân tích, so sánh các quy định hiện hành với những quy định trước đây để làm rõ các vấn đề lý luận và chỉ ra những điểm mới cũng như những quy định chưa phù hợp với thực tiễn.

THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Ngày đăng: 28/02/2022, 22:49

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w