Chương 1 : Những vấn đề chung về đầu tư và dự án đầu tư của doanh nghiệp xây dựng 1.1 Đầu tư 1 1.1.1.Khái niệm đầu tư 1 1.1.2.Phân loại đầu tư 2 1.1.3.Mục tiêu đầu tư của doanh nghiệp 4 1.1.4. Các hình thức đầu tư và nguyên tắc quản lý đầu tư ở các doanh nghiệp 6 1.2. Vốn đầu tư 8 1.2.1.Khái niệm vốn đầu tư 8 1.2.2.Phân loại vốn đầu tư 9 1.2.3.Thành phần vốn đầu tư 10 1.2.4. Nguyên tắc quản lý và sử dụng vốn đầu tư trong doanh nghiệp xây dựng 11 1.3. Dự án đầu tư 12 1.3.1.Khái niệm dự án đầu tư 12 1.3.2. Một số đặc điểm của việc lập dự án đầu tư cho doanh nghiệp xây dựng 14 1.3.3. Phân loại các trường hợp lập dự án đầu tư trong doanh nghiệp xây dựng 15 1.3.4.Các nguyên tắc xây dựng dự án và hiệu quả của dự án đầu tư 16 Chương 2 : dự án đầu tư mua sắm và trang bị máy trong doanh nghiệp xây dựng 2.1. Những vấn đề chung 19 2.1.1. ý nghĩa của việc lập dự án đầu tư mua sắm và trang bị máy xây dựng 19 2.1.2.Các giai đoạn đầu tư mua sắm và trang bị máy xây dựng………19 2.1.3.Các phương pháp đánh giá phương án máy xây dựng 21 2.2. Nội dung của dự án đầu tư 24 2.2.1.Xác định sự cần thiết phải đầu tư 24 2.2.2.Lựa chọn hình thức đầu tư 26 2.2.3. Lựa chọn công nghệ, phương án sản phẩm, giải pháp kỹ thuật và công nghệ của máy 26 2.2.4. Dự báo các địa điểm sử dụng máy, phương án tổ chức quản lý máy và sử dụng lao động phục vụ máy 27 2.2.5.Phân tích tài chính và kinh tế xã hội của dự án 28 2.3. Phương pháp lập dự án đầu tư mua sắm và trang bị máy xây dựng cho một số trường hợp 29 2.3.1. Trường hợp mua sắm các tập hợp máy xây dựng có tính đến hạn chế của nguồn vốn đầu tư mua máy 29 2.3.2. Lập dự án đầu tư trang bị máy xây dựng khi thành lập doanh nghiệp 30 2.3.3. So sánh phương án nhập khẩu máy với phương án tự sản xuất trong nước 32 2.3.4.So sánh phương án tự mua sắm và đi thuê máy 33 2.3.5. Phương pháp lập dự án đầu tư mua sắm máy xây dựng để chuyên cho thuê 34 Chương 3: Các chỉ tiêu đánh giá dự án đầu tư Mua sắm và trang bị máy xây dựng 3.1 Hệ chỉ tiêu đánh giá các phương án máy xây dựng 36 3.1.1.Nhóm chỉ tiêu tài chính và kinh tế 36 3.1.2.Nhóm chỉ tiêu về trình độ kỹ thuật và công năng 39 3.1.3.Nhóm chỉ tiêu về xã hội 41 3.2. Đánh giá dự án đầu tư về mặt tài chính 43 3.2.1.Phương pháp dùng nhóm chỉ tiêu tĩnh 43 3.2.2.Phương pháp dùng nhóm chỉ tiêu động. 47 3.2.3.Các trường hợp và vấn đề khác 55 3.2.4.Đánh giá mức độ an toàn tài chính 57 3.3. Phân tích, đánh giá dự án đầu tư về mặt kinh tế xã hội. 63 3.3.1.Sự cần thiết của phân tích kinh tế xã hội. 63 3.3.2. Sự khác nhau giữa phân tích tài chính và phân tích kinh tế xã hội 64 3.3.3.Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội 64 Chương 4: phân tích dự án đầu tư mua sắm máy móc thiết bị thi công đường bộ của công ty CTGT 116 4.1. Giới thiệu công ty CTGT 116 67 4.1.1.Quá trình hình thành 67 4.1.2.Tình hình hoạt động của Công ty 67 4.1.3.Phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch năm 2003 70 4.2. Sự cần thiết phải đầu tư 71 4.2.1.Xác định nhu cầu thị trường 71 4.2.2.Kế hoạch đầu tư thiết bị năm 2003 72 4.2.3.Danh mục thiết bị thi công xin đầu tư……………………………73 4.3. Phân tích tài chính của dự án 73 4.3.1.Tính toán chi phí của dự án đầu tư 73 4.3.2.Tính toán thu nhập của dự án 80 4.3.3.Kế hoạch và khả năng trả nợ 81 4.3.4.Đánh giá dự án 82 4.4. Kết luận và kiến nghị 87
Đầu tư
Phân loại đầu tư
Đầu tư có nhiều loại khác nhau, và để dễ dàng theo dõi, quản lý cũng như nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư, chúng ta có thể phân loại chúng dựa trên một số tiêu chí nhất định.
Các việc đầu tư hữu hình, vào tài sản vật lý (đất, bất động sản, máy móc thiết bị…)
Các khoản đầu tư vô hình, như bằng sáng chế, chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển, cũng như đào tạo, thường không mang lại hiệu quả ngay lập tức hoặc rõ ràng Tuy nhiên, chúng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra giá trị bền vững cho doanh nghiệp trong tương lai.
Các việc đầu tư về tài chính (phát hành các loại chứng khoán tham gia góp vốn).
Các việc đầu tư để đổi mới nhằm duy trì năng lực sản xuất nhất định.
Các việc đầu tư để hiện đại hoá hay để thay thế nhằm tăng năng suất, chống hao mòn vô hình.
Các khoản đầu tư chiến lược thường không thể đo lường hiệu quả ngay lập tức, nhưng chúng có thể liên quan đến nghiên cứu và phát triển, xây dựng hình ảnh thương hiệu, đào tạo nhân lực, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo vệ môi trường.
Theo nội dung kinh tế
Đầu tư vào lực lượng lao động (đầu tư phát triển nhân lực) nhằm mục đích tăng cả về số lượng và chất lượng lao động.
Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động nhằm tạo ra hoặc nâng cao mức độ hiện đại của tài sản cố định trong doanh nghiệp Điều này bao gồm việc xây dựng mới nhà xưởng và đầu tư vào máy móc, thiết bị cũng như công nghệ tiên tiến.
Đầu tư vào tài sản lưu động là cần thiết để tạo nguồn vốn lưu động, đảm bảo hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục và hiệu quả Việc này bao gồm đầu tư vào các công cụ lao động nhỏ, nguyên liệu và tiền tệ, giúp hỗ trợ tối ưu cho quá trình sản xuất và kinh doanh.
Đầu tư bên ngoài bao gồm các hoạt động như mua trái phiếu, cổ phiếu và góp vốn vào các liên doanh, liên kết với doanh nghiệp khác nhằm mục tiêu sinh lời.
Đầu tư bên trong, hay còn gọi là đầu tư nội bộ, đề cập đến việc chi tiêu để mua sắm các yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất, bao gồm tài sản cố định, tài sản lưu động và phát triển nguồn nhân lực.
Theo góc độ trình độ tiến bộ kỹ thuật
Đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
Đầu tư theo trình độ cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá…
Đầu tư theo tỷ trọng vốn đầu tư cho mua sắm máy móc thiết bị, cho xây dựng và chi phí đầu tư khác.
Theo thời đoạn kế hoạch
Đầu tư ngắn hạn (đáp ứng lợi ích trước mắt).
Đầu tư trung hạn (đáp ứng lợi ích trung hạn).
Đầu tư dài hạn (đáp ứng các lợi ích dài hạn và đón đầu tình thế chiến lược).
Mục tiêu đầu tư của doanh nghiệp
Harold Geneen_một nhà quản lý doanh nghiệp hàng đầu của nước Mỹ, có nói:
Quản trị kinh doanh có thể tóm gọn trong ba câu: đọc sách từ đầu đến cuối, lãnh đạo doanh nghiệp theo chiều ngược lại, bắt đầu từ kết quả để thực hiện các bước cần thiết Phương pháp này, được Harold Geneen diễn đạt, nhấn mạnh việc xác định mục tiêu trước tiên và sau đó tìm kiếm giải pháp để đạt được mục tiêu đó Trong phân tích dự án đầu tư, mục tiêu đóng vai trò là tiêu chuẩn hiệu quả, giúp ra quyết định lựa chọn phương án và dự án phù hợp.
Đầu tư quốc gia cần hướng tới hai mục tiêu chính: thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân, đồng thời cải thiện phân phối thu nhập để đảm bảo công bằng xã hội Trong khi đó, mục tiêu đầu tư của doanh nghiệp phải dựa trên nhu cầu thị trường, khả năng và chiến lược kinh doanh của chính họ, cũng như phù hợp với đường lối phát triển của đất nước và các quy định pháp luật hiện hành Các dự án đầu tư của doanh nghiệp có thể hướng đến nhiều mục tiêu khác nhau.
*Mục tiêu cực tiểu chi phí và cực đại lợi nhuận:
Có thể nói mục tiêu cực đại lợi nhuận thường được gọi là mục tiêu quan trọng và phổ biến nhất.
Việc sử dụng mục tiêu lợi nhuận trong các dự án đầu tư yêu cầu đảm bảo tính chắc chắn của các chỉ tiêu lợi nhuận dự kiến qua các năm Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng việc này gặp nhiều khó khăn do sự biến động không ngừng của thị trường, khiến cho việc dự báo chính xác lợi nhuận trong dài hạn trở nên rất thách thức.
*Mục tiêu cực đại khối lượng hàng hoá bán ra trên thị trường
Mục tiêu này thường áp dụng khi các yếu tố tính toán lợi nhuận chưa được đảm bảo, nhưng vẫn hướng tới việc tối đa hóa lợi nhuận thông qua việc gia tăng khối lượng hàng hóa bán ra trên thị trường Mặc dù lợi nhuận trên mỗi sản phẩm có thể thấp, nhưng với khối lượng bán lớn, tổng lợi nhuận vẫn có thể cao Do đó, doanh nghiệp cần đảm bảo rằng mức doanh lợi của đồng vốn đạt yêu cầu tối thiểu.
*Cực đại giá trị tài sản của các cổ đông tính theo giá trên thị trường
Trong kinh doanh, hai vấn đề quan trọng mà các nhà đầu tư luôn chú trọng là lợi nhuận dài hạn và sự ổn định, trong đó sự ổn định thường liên quan đến mức độ rủi ro Hai mục tiêu này thường mâu thuẫn, vì lợi nhuận cao thường đi kèm với rủi ro lớn và sự ổn định thấp Để giải quyết mâu thuẫn này, các doanh nhân áp dụng mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản cổ đông dựa trên giá thị trường, tức là tối đa hóa giá trị cổ phiếu hiện có Giá trị cổ phiếu phản ánh cả lợi nhuận và mức độ rủi ro của doanh nghiệp, từ đó cho phép phân tích các phương án kinh doanh, bao gồm cả các dự án đầu tư.
*Duy trì sự tồn tại và an toàn của doanh nghiệp
Bên cạnh việc tối đa hóa lợi nhuận, mục tiêu duy trì sự tồn tại lâu dài và an toàn cho doanh nghiệp cũng rất quan trọng Các nhà kinh doanh thường ưu tiên đạt được một mức độ lợi nhuận nhất định để đảm bảo sự bền vững và an toàn cho doanh nghiệp, thay vì theo đuổi lợi nhuận cực đại với nhiều rủi ro tiềm ẩn và khả năng phá sản Quan điểm này có thể được áp dụng để phân tích và ra quyết định cho các dự án đầu tư.
Đầu tư vào chất lượng sản phẩm không chỉ giúp nâng cao uy tín với khách hàng mà còn tăng cường khả năng cạnh tranh, từ đó chiếm lĩnh thị trường hiệu quả hơn, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu.
*Đầu tư theo chiều sâu để đổi mới công nghệ , đón đầu nhu cầu mới sẽ xuất hiện trên thị trường, tăng thêm độc quyền doanh nghiệp.
*Đầu tư để liên doanh với nước ngoài, tranh thủ công nghệ mới, mở rộng thị trường xuất khẩu.
*Đầu tư để cải thiện điều kiện lao động của doanh nghiệp , bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật…
Trong một giai đoạn nhất định, doanh nghiệp có thể đặt ra nhiều mục tiêu đồng thời, và những mục tiêu này có thể thay đổi theo thời gian.
Các hình thức đầu tư và nguyên tắc quản lý đầu tư ở các doanh nghiệp
Các hình thức đầu tư
Việc sắp xếp các hình thức đầu tư không có tính chất cố định, mặc dù vậy có thể phân chia hình thức đầu tư như sau:
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư không tham gia trực tiếp vào quản lý, nhưng vẫn có thể thu lợi từ hoạt động kinh tế Hình thức này thường được thực hiện qua việc mua cổ phiếu hoặc tín phiếu Đầu tư gián tiếp ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt đối với những nhà đầu tư có tiềm lực tài chính nhưng không đủ điều kiện hoặc khả năng để đầu tư trực tiếp.
Đầu tư trực tiếp là hình thức mà nhà đầu tư tham gia trực tiếp vào hoạt động và quản lý, nắm rõ mục tiêu và phương thức sử dụng vốn Hình thức này có thể bao gồm hợp đồng liên doanh, công ty cổ phần, mở rộng và tăng cường năng lực sản xuất Đầu tư trực tiếp được chia thành hai loại chính: đầu tư chuyển dịch và đầu tư phát triển.
Đầu tư chuyển dịch là quá trình chuyển nhượng vốn từ một cá nhân hoặc tổ chức sang một cá nhân hoặc tổ chức khác thông qua cơ chế thị trường, thường thể hiện qua việc mua lại cổ phần trong doanh nghiệp Mặc dù việc chuyển dịch này không làm thay đổi tổng vốn của doanh nghiệp, nhưng nó có thể mang lại năng lực quản lý và sản xuất mới Hiện nay, việc cổ phần hóa các doanh nghiệp tại Việt Nam là một hình thức điển hình của đầu tư chuyển dịch.
Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư chủ yếu, liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh tế Mục tiêu của hoạt động này là nâng cao năng lực sản xuất về cả số lượng và chất lượng, đồng thời tạo ra năng lực sản xuất mới Đây không chỉ là hình thức tái sản xuất mở rộng mà còn là yếu tố quan trọng trong việc tạo ra việc làm mới, sản phẩm mới và thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Trong đầu tư phát triển, việc kết hợp giữa đầu tư theo chiều sâu và chiều rộng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế Đầu tư theo chiều sâu tập trung vào việc áp dụng các công nghệ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến, giúp tăng sản lượng và chất lượng sản phẩm mà không làm tăng số lượng lao động hay diện tích sản xuất Ngược lại, đầu tư theo chiều rộng nhằm mở rộng quy mô sản xuất với các công nghệ và kỹ thuật truyền thống Sự cân bằng giữa hai hình thức đầu tư này là cần thiết để đạt được sự phát triển bền vững.
Đầu tư gián tiếp hay đầu tư chuyển dịch không thể hoạt động và tồn tại độc lập mà không có đầu tư phát triển Ngược lại, đầu tư phát triển có thể mở rộng quy mô lớn nhờ sự tham gia của các hình thức đầu tư khác.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, Chính phủ không bắt buộc hình thức đầu tư cho mọi thành phần kinh tế, nhưng cần can thiệp để đảm bảo sự phát triển của thị trường đầu tư phù hợp với tăng trưởng kinh tế Doanh nghiệp cần phấn đấu đạt mục tiêu chiến lược trong từng giai đoạn để tối ưu hóa lợi ích, đồng thời tuân thủ các nguyên tắc quản lý đầu tư.
Các nguyên tắc quản lý đầu tư ở các doanh nghiệp
Quản lý đầu tư là tập hợp các biện pháp của Nhà nước hoặc chủ đầu tư nhằm kiểm soát toàn bộ quá trình đầu tư, bắt đầu từ việc xác định dự án cho đến thực hiện và khai thác dự án, với mục tiêu đạt được những kết quả đã đề ra.
Quản lý đầu tư doanh nghiệp cần căn cứ vào mục tiêu chiến lược sản xuất kinh doanh tại từng thời kỳ và các mục tiêu cụ thể từ các dự án đầu tư Mục tiêu này nhằm đạt được lợi ích tối đa cho doanh nghiệp, đồng thời phải tuân thủ đường lối phát triển của đất nước và các quy định pháp luật liên quan đến đầu tư.
Quản lý đầu tư trong doanh nghiệp cần tập trung vào việc sản xuất sản phẩm và dịch vụ có giá cả hợp lý và chất lượng cao, nhằm đáp ứng lợi ích của doanh nghiệp, người tiêu dùng và hỗ trợ mục tiêu phát triển của đất nước.
Quản lý đầu tư trong doanh nghiệp cần dựa trên kiến thức vững chắc về sản xuất kinh doanh, kết hợp với những kinh nghiệm và nghệ thuật kinh doanh đã được kiểm chứng, đồng thời không ngừng đổi mới và sáng tạo.
Quản lý đầu tư của doanh nghiệp cần được thực hiện liên tục từ giai đoạn lập dự án đến giai đoạn thực hiện và vận hành, nhằm đảm bảo sự phù hợp giữa các tính toán lý thuyết và thực tế, cũng như tuân thủ đúng trình tự đầu tư.
Vốn đầu tư
Khái niệm vốn đầu tư
Đầu tư vốn là hành động có suy nghĩ của nhà quản lý khi quyết định bỏ vốn vào một mục tiêu kinh doanh với kỳ vọng đạt được hiệu quả cao trong tương lai.
Trong nền sản xuất hàng hoá, tiền là yếu tố thiết yếu cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Đối với các cơ sở mới thành lập, vốn được sử dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm thiết bị và nguyên vật liệu, cũng như chi trả lương cho công nhân Trong khi đó, các cơ sở đang hoạt động cần tiền để đầu tư vào máy móc mới, mở rộng nhà xưởng, tăng vốn lưu động, cũng như sửa chữa hoặc thay thế tài sản cố định đã hư hỏng.
Đầu tư yêu cầu một số tiền lớn, không thể lấy từ các khoản chi tiêu hàng ngày của các cơ sở sản xuất và kinh doanh mà không gây rối loạn hoạt động bình thường Vì vậy, nguồn vốn cho đầu tư chủ yếu là từ tiền tích lũy của xã hội, tiền tiết kiệm của người dân, và vốn huy động từ nước ngoài.
Vốn đầu tư được hiểu là tổng số tiền tích luỹ từ xã hội, các cơ sở sản xuất kinh doanh, tiền tiết kiệm của dân và các nguồn huy động khác, nhằm phục vụ cho quá trình tái sản xuất xã hội Nó đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt xã hội của mỗi gia đình Nói chung, vốn đầu tư là số tiền cần thiết để đạt được mục tiêu đầu tư trong một khoảng thời gian nhất định.
Phân loại vốn đầu tư
Phân loại vốn đầu tư là quá trình chia tổng mức đầu tư thành các nhóm và tổ theo các tiêu chí nhất định Việc này nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu và phân tích vốn đầu tư trong doanh nghiệp một cách hiệu quả.
Vốn đầu tư bao gồm các chi phí cần thiết để đạt được mục tiêu đầu tư, như xây dựng nhà xưởng và mua sắm máy móc thiết bị Do tính chất phức tạp của đối tượng đầu tư, vốn đầu tư cũng rất đa dạng, vì vậy cần phân loại vốn để phản ánh toàn diện hoạt động đầu tư Việc này giúp nhận diện mối quan hệ tỷ lệ đầu tư trong doanh nghiệp, cũng như sự cân đối hay mất cân đối trong phát triển ngành xây dựng và từng doanh nghiệp Từ đó, có thể định hướng đầu tư vào từng đối tượng và yếu tố phù hợp với chiến lược phát triển của Nhà nước, ngành và doanh nghiệp.
Phân loại vốn đầu tư theo đối tượng
Đầu tư vào các đối tượng vật chất như nhà xưởng, thiết bị, máy móc và dự trữ vật tư không chỉ hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ mà còn phục vụ cho các mục đích văn hóa xã hội.
Đầu tư cho tài chính (mua cổ phiếu, trái phiếu, cho vay lấy lãi, gửi tiền tiết kiệm…).
Phân loại vốn đầu tư theo góc độ tái sản xuất tài sản cố định
Đầu tư mới là việc sử dụng vốn để trang bị các tài sản mới mà doanh nghiệp chưa từng sở hữu trước đây, bao gồm xây dựng cơ sở hạ tầng và mua sắm thiết bị, máy móc hiện đại.
Đầu tư mở rộng và cải tạo bao gồm việc sử dụng vốn để mua sắm các bộ phận bổ sung cho hệ thống đang hoạt động, cũng như vốn để đổi mới, thay thế và hiện đại hóa các tài sản cố định hiện có.
Đầu tư kết hợp hai loại trên.
Phân loại vốn đầu tư theo nguồn vốn
Đầu tư từ vốn Nhà nước được thực hiện cho các đối tượng cụ thể, bao gồm cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, an ninh và quốc phòng Ngoài ra, Nhà nước còn hỗ trợ các doanh nghiệp Nhà nước đầu tư vào những lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước và cung cấp vốn vay cho doanh nghiệp nhằm thúc đẩy phát triển.
Đầu tư từ nguồn vốn tín dụng được Nhà nước bảo lãnh, cùng với vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, là hình thức mà các doanh nghiệp vay vốn từ Nhà nước để thực hiện các dự án đầu tư.
Đầu tư từ vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp Nhà nước Bao gồm:
Vốn khấu hao cơ bản, vốn tích luỹ từ lợi nhuận sau thuế, vốn tự huy động của doanh nghiệp.
Vốn của các doanh nghiệp Nhà nước liên doanh với nước ngoài.
Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, gồm đầu tư trực tiếp FDI và vốn vay ODA.
Nguồn vốn đầu tư từ cá nhân và tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh, cùng với sự hỗ trợ từ các cơ quan ngoại giao và tổ chức quốc tế tại Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế Các nguồn vốn này không chỉ góp phần vào sự tăng trưởng bền vững mà còn tạo ra nhiều cơ hội hợp tác và phát triển cho các doanh nghiệp trong nước.
Thành phần vốn đầu tư
Để thực hiện các hoạt động đầu tư hiệu quả, cần có một khoản vốn lớn và sự chuẩn bị kỹ lưỡng về tài chính, vật tư, và lao động Đồng thời, cần xem xét các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội, và pháp luật liên quan đến quá trình đầu tư Tất cả các chi phí trong quá trình chuẩn bị và thực hiện đầu tư đều phải được tính toán kỹ lưỡng và đưa vào chi phí đầu tư.
Vốn đầu tư cho một dự án là tổng số tiền cần thiết để chi trả cho toàn bộ quá trình đầu tư, nhằm đạt được mục tiêu và đưa dự án vào khai thác Số vốn này bao gồm cả yếu tố trượt giá, đảm bảo đáp ứng đầy đủ yêu cầu của dự án.
Hai thành phần chính của vốn đầu tư của một dự án đầu tư là:
Vốn cố định được dùng để xây dựng công trình, mua sắm thiết bị để hình thành nên tài sản cố định của dự án đầu tư.
Vốn lưu động, bao gồm dự trữ vật tư, sản xuất dở dang và vốn tiền mặt, đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác và sử dụng tài sản cố định của dự án đầu tư, góp phần vào quá trình sản xuất kinh doanh hiệu quả.
Ngoài ra còn các chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí dự phòng.
Vốn đầu tư mua sắm máy ban đầu bao gồm:
Giá mua máy, nếu là máy nhập khẩu thì tính theo giá CIF.
Chi phí vận chuyển máy đến kho trung tâm của doanh nghiệp.
Chi phí tháo lắp lần đầu (nếu có).
Chi phí đào tạo công nhân vận hành và chuyển giao công nghệ (nếu có).
Ngoài chi phí chính, cần lưu ý các khoản chi phí bổ sung cho việc phục vụ máy, bao gồm chi phí cho nhà kho, bệ máy, và các thiết bị hỗ trợ cho việc tháo lắp và di chuyển máy trong tương lai (nếu có).
Giá máy móc sản xuất trong nước phụ thuộc vào quy mô của sêri sản xuất, điều này rất quan trọng khi đánh giá phương án cho nhà máy chế tạo máy.
Nguyên tắc quản lý và sử dụng vốn đầu tư trong doanh nghiệp xây dựng
Nguyên tắc cơ bản về quản lý và sử dụng vốn bao gồm việc có người tin cậy chịu trách nhiệm, sử dụng vốn đúng mục đích và kế hoạch, đồng thời đảm bảo hiệu quả và hợp lý Vốn cần được sử dụng hợp pháp, tập trung và không bị dàn trải hay chia nhỏ Hạch toán phải thực hiện theo nguyên tắc thu bù chi, và trong một số trường hợp, cần duy trì tính bí mật.
Quản lý và sử dụng vốn của các doanh nghiệp xây dựng cần phải được cân đối hợp lý, phản ánh đầy đủ các nguồn khấu hao cơ bản, lợi tức sau thuế, cùng với các nguồn huy động từ trong và ngoài nước, vốn tín dụng đầu tư của nhà nước và hỗ trợ từ ngân sách nhà nước (nếu có).
Doanh nghiệp có quyền sử dụng vốn đầu tư để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, với nguyên tắc đảm bảo hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn Bên cạnh đó, mỗi nguồn hình thành vốn đầu tư còn có những điều kiện cụ thể đi kèm.
Doanh nghiệp nhà nước phải chịu trách nhiệm về hiệu quả đầu tư và đảm bảo trả nợ đúng hạn khi sử dụng vốn tín dụng được Nhà nước bảo lãnh Đồng thời, các tổ chức cho vay có trách nhiệm thẩm định phương án tài chính, kiểm tra khả năng trả nợ và giám sát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, cũng như thu hồi vốn vay hiệu quả.
Doanh nghiệp nhà nước cần tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện đầu tư phát triển, tuân thủ các chế độ chính sách của nhà nước về quản lý đầu tư, định mức, đơn giá và quy chế đấu thầu Ngoài ra, tổ chức quản lý vốn và các tổ chức hỗ trợ vốn cho dự án có nghĩa vụ kiểm tra việc thực hiện quyết định đầu tư và thực hiện quyết toán vốn đầu tư.
Doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn khác cần tự chịu trách nhiệm về hiệu quả đầu tư Quản lý vốn đầu tư phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản về quản lý và sử dụng vốn đã đề ra.
Dự án đầu tư
Khái niệm dự án đầu tư
Dự án đầu tư là đơn vị cơ bản trong hoạt động đầu tư, bao gồm các biện pháp dựa trên cơ sở khoa học và pháp lý Nó đề xuất các yếu tố về kỹ thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất và tài chính, nhằm tạo nền tảng cho quyết định đầu tư Mục tiêu là đạt được hiệu quả tài chính cao cho doanh nghiệp và tối đa hóa lợi ích kinh tế xã hội cho quốc gia.
Theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ, dự án đầu tư được định nghĩa là tập hợp các đề xuất liên quan đến việc đầu tư vốn nhằm tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo cơ sở vật chất Mục tiêu của dự án là đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ trong một khoảng thời gian xác định, chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp.
Các góc độ của dự án đầu tư
Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ
Dự án đầu tư là một bộ hồ sơ tài liệu chi tiết, hệ thống hóa các hoạt động và chi phí theo kế hoạch, nhằm đạt được những kết quả và mục tiêu cụ thể trong tương lai.
Dự án đầu tư là công cụ quản lý hiệu quả việc sử dụng vốn, vật tư và lao động, nhằm tạo ra kết quả kinh tế tài chính bền vững trong dài hạn.
Dự án đầu tư là công cụ quan trọng trong kế hoạch hoá, thể hiện chi tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế xã hội Nó đóng vai trò là tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ, đồng thời là đơn vị hoạt động kinh tế nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế.
Dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động có liên quan, được lên kế hoạch để đạt mục tiêu cụ thể Những hoạt động này nhằm tạo ra kết quả nhất định trong một khoảng thời gian xác định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực rõ ràng.
Thành phần của dự án đầu tư
Một dự án đầu tư thường bao gồm 4 thành phần chính.
Mục tiêu của dự án được phân thành hai cấp độ: Mục tiêu phát triển, phản ánh lợi ích kinh tế xã hội từ việc thực hiện dự án, và mục tiêu trước mắt, đề cập đến các mục tiêu cụ thể cần đạt được trong quá trình triển khai dự án.
Các kết quả là những chỉ số cụ thể và có thể đo lường được, phản ánh từ các hoạt động khác nhau của dự án Đây là yếu tố quan trọng để đạt được các mục tiêu đề ra của dự án.
Các hoạt động trong dự án bao gồm các nhiệm vụ và hành động nhằm tạo ra kết quả cụ thể Những nhiệm vụ này, kết hợp với lịch trình và trách nhiệm rõ ràng của các bộ phận thực hiện, sẽ hình thành nên kế hoạch làm việc cho toàn bộ dự án.
Các nguồn lực cần thiết cho dự án bao gồm vật chất, tài chính và con người Giá trị hoặc chi phí của những nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần thiết để triển khai các hoạt động của dự án.
Một số đặc điểm của việc lập dự án đầu tư cho doanh nghiệp xây dựng
Do đặc thù của ngành sản xuất xây lắp có nhiều điểm khác biệt so với các ngành khác, việc lập dự án đầu tư cho doanh nghiệp xây dựng cần chú trọng đến những đặc điểm riêng biệt.
Trong lĩnh vực xây dựng, việc lập dự án đầu tư là cần thiết để thực hiện hai nhóm nhiệm vụ chính: thi công xây lắp và các nhiệm vụ sản xuất phụ trợ Dự án đầu tư cho nhóm thi công xây lắp đóng vai trò quan trọng, tuy nhiên, các quy định hiện hành về lập dự án đầu tư cho trường hợp này vẫn còn thiếu sót và chưa phù hợp.
Lập dự án đầu tư trong doanh nghiệp xây dựng thường gặp khó khăn do tính xác định thấp và rủi ro cao Việc đầu tư vào tài sản cố định, đặc biệt là máy xây dựng, phải đối mặt với nhiều yếu tố không chắc chắn như địa điểm xây dựng, khả năng trúng thầu trong tương lai, cũng như sự ảnh hưởng của thời tiết và thời gian thi công kéo dài.
Trong doanh nghiệp xây dựng, việc lập dự án đầu tư cho các tài sản cố định bao gồm bộ phận di động và bộ phận cố định là rất quan trọng Bộ phận di động, như máy xây dựng, chiếm tỷ lệ lớn hơn và do đó, việc đầu tư vào bộ phận này đóng vai trò chủ yếu trong dự án.
Việc lập dự án đầu tư trong doanh nghiệp xây dựng được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn tạo dựng và mua sắm ban đầu, giai đoạn sử dụng, và giai đoạn cải tạo sửa chữa Kết quả tính toán ở giai đoạn tạo dựng và mua sắm ban đầu có thể khác biệt lớn so với giai đoạn sử dụng, do trong giai đoạn đầu còn nhiều yếu tố thi công cụ thể chưa được xác định.
Việc lập dự án đầu tư để thành lập doanh nghiệp xây dựng mới rất phức tạp và có nhiều điểm khác với các doanh nghiệp khác.
Khi lập dự án đầu tư cho quá trình thi công, cần chú ý đến hiệu quả từ việc rút ngắn thời gian xây dựng do thời gian thi công thường kéo dài Việc áp dụng quy tắc bội số chung bé nhất không thể thực hiện để đảm bảo thời gian tính toán cho các phương án là giống nhau, do đó, nhân tố thời gian cần được xem xét kỹ lưỡng trong quá trình lập dự án.
Phương pháp phân tích và cấu trúc nội dung, dự án cũng có một số điểm khác với các doanh nghiệp của ngành công nghiệp khác.
Phân loại các trường hợp lập dự án đầu tư trong doanh nghiệp xây dựng
Việc xác định mua sắm và xây dựng ban đầu cho máy móc cần đảm bảo tiêu chuẩn hiệu quả suốt vòng đời sản phẩm Do đó, việc phân chia các trường hợp lập dự án đầu tư theo từng giai đoạn là cần thiết để quản lý và tính toán hiệu quả đầu tư theo thời gian Qua đó, có thể xây dựng kế hoạch đầu tư và tổ chức thực hiện một cách tốt nhất.
Giai đoạn mua sắm và tạo dựng ban đầu
Lập dự án đầu tư thành lập doanh nghiệp xây dựng mới
Trường hợp dự báo và chưa biết hợp đồng xây dựng cụ thể
Trường hợp đã biết hợp đồng xây dựng
Lập dự án đầu tư mua sắm và tạo dựng tài sản cố định cho các doanh nghiệp hiện có
Lập dự án đầu tư cho bộ phận tài sản cố định di động (máy xây dựng).
Lập dự án đầu tư mua sắm các tài sản cố định máy xây dựng riêng lẻ.
Lập dự án cho các tập hợp máy xây dựng.
Để lập dự án đầu tư cho các trường hợp khác, cần xem xét các lựa chọn như nhập khẩu máy xây dựng, tự mua sắm hoặc thuê máy Ngoài ra, việc thành lập doanh nghiệp chuyên cho thuê máy xây dựng cũng là một hướng đi tiềm năng.
Lập dự án đầu tư cho bộ phận tài sản cố định không di động (nhà xưởng).
Giai đoạn vận hành và sử dụng
Lập dự án đầu tư để thực hiện quá trình xây lắp
Cho giai đoạn tranh thầu.
Cho giai đoạn sau khi đã thắng thầu.
Lập dự án đầu tư theo năm niên lịch
Giai đoạn sửa chữa cải tạo và thay thế
Lập dự án đầu tư cho sửa chữa tài sản cố định xây dựng
Theo góc độ lợi ích của tổ chức xây lắp
Lập dự án đầu tư sửa chữa tài sản cố định xây dựng (máy xây dựng, nhà xưởng).
Theo góc độ lợi ích của doanh nghiệp sửa chữa
Lập dự án đầu tư để thực hiện quá trình sửa chữa theo hợp đồng.
Lập dự án đầu tư cho nhà máy sửa chữa máy xây dựng.
Lập dự án đầu tư cho cải tạo tài sản cố định xây dựng
Lập dự án đầu tư thay thế tài sản cố định xây dựng
Các nguyên tắc xây dựng dự án và hiệu quả của dự án đầu tư
Các nguyên tắc cần tuân thủ khi xây dựng dự án
Dự án cần phải đảm bảo thực hiện các mục tiêu của cả dự án và doanh nghiệp Mọi nội dung và vấn đề trong dự án đều phải được giải quyết theo hướng đạt được các mục tiêu đã đề ra, nhằm tối ưu hóa quá trình thực hiện mục tiêu đó.
Dự án cần phải kết hợp hài hòa giữa tính khả thi và tính hiệu quả Tùy thuộc vào các mục tiêu cụ thể, có thể nhấn mạnh một trong hai yếu tố này, nhưng không thể xây dựng một dự án chỉ dựa vào tính khả thi hoặc tính hiệu quả mà không có sự cân bằng giữa chúng.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, dự án cần huy động tất cả các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp Việc xác định nguồn lực nên ưu tiên vào những nguồn lực chưa được khai thác triệt để hoặc hoàn toàn chưa được sử dụng mà doanh nghiệp đang sở hữu.
Để đạt được hiệu quả cao, cần hạn chế tối đa các rủi ro và bất trắc có thể xảy ra Việc nghiên cứu, phân tích và lựa chọn giải pháp tối ưu cho từng vấn đề là rất quan trọng Tuy nhiên, cũng cần chấp nhận một mức độ mạo hiểm nhất định.
Mỗi nội dung của dự án cần được trình bày một cách rõ ràng và đầy đủ, đảm bảo sự thống nhất về ngôn ngữ và cách diễn đạt Điều này giúp tránh nhầm lẫn và sai lệch trong quá trình trao đổi và truyền đạt thông tin.
Hiệu quả của dự án đầu tư
Hiệu quả của dự án đầu tư được định nghĩa là tổng thể các mục tiêu mà dự án hướng tới, bao gồm các chỉ tiêu định tính thể hiện các loại hiệu quả đạt được và các chỉ tiêu định lượng thể hiện mối quan hệ giữa chi phí đầu tư và kết quả đạt được theo mục tiêu đề ra.
Phân loại hiệu quả của dự án
Hiệu quả của dự án được phân loại thành nhiều loại khác nhau, bao gồm hiệu quả tài chính, kỹ thuật và kinh tế xã hội Nó có thể được đánh giá từ góc độ lợi ích của doanh nghiệp cũng như lợi ích quốc gia Bên cạnh đó, hiệu quả còn có thể được xem xét từ các khía cạnh liên quan đến dự án, bao gồm hiệu quả trực tiếp và lâu dài, cũng như hiệu quả gián tiếp.
Hiệu quả định lượng thể hiện độ lớn của các chỉ tiêu hiệu quả định tính qua hệ thống chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật và xã hội Một số chỉ tiêu kinh tế, như mức chi phí sản xuất, lợi nhuận, doanh lợi đồng vốn, thời hạn thu hồi vốn, hiệu số thu chi, suất thu lợi nội tại và tỷ số thu chi, được coi là chỉ tiêu đo hiệu quả tổng hợp để lựa chọn phương án Việc sử dụng các chỉ tiêu này, có thể là riêng lẻ hoặc kết hợp, phụ thuộc vào quan điểm của nhà kinh doanh trong từng trường hợp cụ thể.
Tiêu chuẩn chính trong việc lựa chọn phương án đầu tư là tối ưu hóa chi phí và kết quả Cụ thể, với một mức chi phí đầu tư nhất định, cần đạt được kết quả cao nhất; hoặc ngược lại, với một kết quả cần đạt, phải đảm bảo chi phí thấp nhất.
Khi đánh giá hiệu quả tài chính của vốn đầu tư, người ta thường sử dụng hai chỉ tiêu chính: hiệu quả kinh tế tuyệt đối, thể hiện qua hiệu số giữa thu nhập và chi phí, và hiệu quả kinh tế tương đối, được tính bằng tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí đã bỏ ra.
Khi so sánh các phương án chi tiêu, hiệu quả của mỗi phương án cần vượt qua một ngưỡng nhất định để được xem xét Trong quá trình đánh giá, phương án tốt nhất sẽ được chọn dựa trên hai tiêu chí: hiệu quả tương đối lớn nhất và hiệu quả kinh tế tuyệt đối lớn nhất Trong trường hợp lý tưởng, cả hai tiêu chí này đều đạt yêu cầu Tuy nhiên, nếu không đáp ứng được điều kiện này, tiêu chí hiệu quả kinh tế tuyệt đối sẽ được ưu tiên, miễn là hiệu quả tương đối vẫn vượt qua ngưỡng quy định.
dự án đầu tư mua sắm và trang bị máy trong doanh nghiệp xây dựng 2.1 Những vấn đề chung
ý nghĩa của việc lập dự án đầu tư mua sắm và trang bị máy xây dựng
Một đặc điểm quan trọng của kinh tế thị trường trong lĩnh vực xây dựng là sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào khả năng thắng thầu Việc mua sắm máy móc xây dựng cần được cân nhắc kỹ lưỡng, vì nếu doanh nghiệp đầu tư quá nhiều, có thể dẫn đến tình trạng máy móc không được sử dụng do thiếu hợp đồng Do đó, việc trang bị máy móc cho doanh nghiệp cần được xem xét theo hai giai đoạn thời gian khác nhau.
Khi doanh nghiệp xây dựng chưa có đối tượng hợp đồng xây dựng cụ thể để thực hiện.
Khi doanh nghiệp xây dựng đã thắng thầu và có hợp đồng nhiệm vụ xây dựng cụ thể.
Lập phương án mua sắm máy xây dựng cần dựa trên dự báo nhu cầu thị trường, đồng thời xây dựng các dự án đầu tư để đảm bảo hiệu quả Quá trình này phải được thực hiện với một mức độ rủi ro nhất định để tối ưu hóa nguồn lực và đáp ứng kịp thời yêu cầu của ngành xây dựng.
Việc lập kế hoạch trang bị máy xây dựng cho giai đoạn thứ hai cần dựa trên kết quả mua sắm máy móc ở giai đoạn đầu, đồng thời phải kết hợp các loại máy xây dựng phù hợp với từng công trường cụ thể và theo từng năm lịch nhất định.
Việc lập dự án đầu tư mua sắm máy xây dựng ở giai đoạn đầu mặc dù chưa có tính xác định cao nhưng lại rất quan trọng, vì nó sẽ quyết định phương án trang bị máy xây dựng ở giai đoạn tiếp theo.
Các giai đoạn đầu tư mua sắm và trang bị máy xây dựng
Giai đo n chu n b đ u t , ạn chuẩn bị đầu tư, ẩn bị đầu tư, ị đầu tư, ầu tư, ư, bao g m các công vi c: ồm các công việc: ệc:
Để phát triển dự án hiệu quả, cần tiến hành điều tra toàn diện nhu cầu của thị trường xây dựng, bao gồm cả việc khảo sát thị trường cung cấp máy xây dựng và dịch vụ cho thuê máy Đồng thời, đánh giá khả năng cung cấp vốn và xác định các thuận lợi cũng như khó khăn có thể gặp phải trong quá trình thực hiện dự án là rất quan trọng.
Xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng, nhất là các vấn đề có liên quan đến máy móc xây dựng.
Khi lập dự án đầu tư mua sắm máy xây dựng, chỉ những máy móc có độ phức tạp cao và yêu cầu vốn đầu tư lớn mới cần thực hiện bước lập dự án tiền khả thi.
Giai đoạn thực hiện mua sắm máy móc để thực hiện dự án đầu tư, gồm các công việc:
Ký kết hợp đồng mua sắm máy xây dựng với nhà cung cấp là bước quan trọng trong quá trình đầu tư Đối với các máy móc xây dựng phức tạp, việc áp dụng phương thức đấu thầu sẽ giúp đảm bảo lựa chọn được nhà cung cấp uy tín và giá cả hợp lý.
Tiến hành nhận máy, vận chuyển về nơi sử dụng, kể cả việc lắp đặt và chạy thử nếu có.
Xây dựng các cơ sở vật chất để cất giữ và bảo quản máy.
Thiết lập tổ công nhân vận hành máy, bao gồm cả công việc đào tạo thợ và chuyển giao công nghệ nếu cần.
Xác định một số vốn lưu động cần thiết cho khâu vận hành máy (nhất là dự trữ chi tiết máy và nhiên liệu).
Giai đoạn vận hành và sử dụng máy, bao gồm các công việc:
Quyết định sử dụng máy cho các công việc xây dựng cụ thể ở các công trường xây dựng một cách hợp lý.
Tiến hành bảo dưỡng và lập kế hoạch sửa chữa máy một cách hợp lý.
Trong quá trình kiểm tra sự phù hợp giữa hiệu quả sử dụng máy cụ thể và hiệu quả tính toán trong dự án đầu tư ban đầu, cần lưu ý rằng giai đoạn lập dự án thường thiếu thông tin về các điều kiện sử dụng máy Những yếu tố như quy mô công việc tại từng công trường, khoảng cách vận chuyển máy, và nhu cầu về công trình tạm thời có thể ảnh hưởng lớn đến kết quả so sánh Việc không tính đến những yếu tố này có thể dẫn đến những kết quả hoàn toàn trái ngược nhau trong việc đánh giá hiệu quả đầu tư.
Do vậy việc kiểm tra lại hiệu quả khi lập dự án đầu tư ban đầu là rất cần thiết.
Các phương pháp đánh giá phương án máy xây dựng
Có nhiều phương pháp để đánh giá các giải pháp kỹ thuật về mặt kinh tế, đặc biệt là đối với máy xây dựng Những phương pháp này giúp phân tích hiệu quả kinh tế và tính khả thi của các giải pháp kỹ thuật trong ngành xây dựng.
Phương pháp dùng một vài chỉ tiêu kinh tế tổng hợp kết hợp với một hệ chỉ tiêu bổ sung.
Phương pháp dùng chỉ tiêu tổng hợp không đơn vị đo để xếp hạng phương án.
Phương pháp giá trị-giá trị sử dụng.
Phương pháp dùng một vài chỉ tiêu kinh tế tổng hợp kết hợp với một hệ chỉ tiêu bổ sung.
Phương pháp này sử dụng chỉ tiêu tài chính kinh tế tổng hợp làm tiêu chí chính để lựa chọn phương án, trong khi các hệ chỉ tiêu bổ sung chỉ đóng vai trò phụ.
Ưu nhược điểm của phương pháp là:
Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp mang tính khái quát cao, phản ánh đầy đủ phương án và được áp dụng rộng rãi, phù hợp với thực tế sản xuất kinh doanh.
Phương pháp này gặp nhược điểm do các chỉ tiêu kinh tế bị ảnh hưởng bởi biến động và chính sách giá cả của Nhà nước, dẫn đến cùng một giải pháp kỹ thuật nhưng lại cho ra các chỉ tiêu khác nhau Hơn nữa, tỷ giá hối đoái cũng tác động đến việc tính toán, khiến các chỉ tiêu không phản ánh đúng bản chất kỹ thuật của dự án Bên cạnh đó, quan hệ cung cầu không thể hiện được ưu việt kỹ thuật của phương án Do đó, hai phương án có trình độ kỹ thuật tương đương nhưng có thể mang lại lợi nhuận và giá cả sản phẩm khác nhau do ảnh hưởng của quan hệ cung cầu.
Hệ chỉ tiêu đánh giá phương án máy xây dựng sẽ được trình bày cụ thể ở phần 3.1 và bao gồm ba nhóm chính:
Nhóm chỉ tiêu tài chính, kinh tế
Nhóm chỉ tiêu về trình độ kỹ thuật và công năng
Nhóm chỉ tiêu về xã hội
Phương pháp dùng chỉ tiêu tổng hợp không đơn vị đo để xếp hạng phương án.
Các phương pháp đánh giá hiện tại thường sử dụng một hệ thống chỉ tiêu với các đơn vị đo khác nhau, gây khó khăn trong việc so sánh các phương án Một phương án có thể tốt hơn một phương án khác theo một số chỉ tiêu, nhưng lại kém hơn theo những chỉ tiêu khác Để khắc phục vấn đề này, cần gộp tất cả các chỉ tiêu cần so sánh vào một chỉ tiêu duy nhất để xếp hạng các phương án Do đó, phương pháp sử dụng chỉ tiêu tổng hợp không có đơn vị đo ra đời, cho phép tính toán và so sánh các chỉ tiêu một cách hiệu quả hơn.
Ưu nhược điểm của phương pháp:
Việc tính gộp các chỉ tiêu có đơn vị đo khác nhau thành một chỉ tiêu duy nhất giúp dễ dàng xếp hạng các phương án Phương pháp này cho phép so sánh nhiều chỉ tiêu khác nhau, đồng thời cũng xem xét tầm quan trọng của từng chỉ tiêu Hơn nữa, các chỉ tiêu này có thể được biểu diễn một cách trực quan, thay vì chỉ diễn tả bằng lời.
Việc đánh giá các chỉ tiêu thường dễ dẫn đến sự trùng lặp và có thể làm mất đi sự chú trọng vào những chỉ tiêu chính Bên cạnh đó, việc thu thập ý kiến từ các chuyên gia có thể mang tính chủ quan Các chỉ tiêu này ít được áp dụng trong thực tế kinh doanh và chủ yếu được sử dụng để so sánh các phương án không nhằm mục đích lợi nhuận, cũng như để đánh giá các phương án thiết kế trong phân tích kinh tế-xã hội của dự án đầu tư.
Chỉ tiêu tổng hợp không đơn vị đo của phương án j (ký hiệu Vj ) được xác định theo công thức:
Trong đó, Pij _chỉ tiêu đã làm mất đơn vị đo của chỉ tiêu i và phương án j.
Cij _trị số ban đầu có đơn vị đo của chỉ tiêu i phương án j.
Wi _trọng số chỉ tầm quan trọng của chỉ tiêu i. m _số chỉ tiêu bị so sánh. n _số phương án.
Chỉ tiêu Wi được xác định bằng cách hỏi ý kiến chuyên gia và một loạt các phương pháp khác.
Phương pháp giá trị-giá trị sử dụng.
Mỗi phương án kỹ thuật được đặc trưng bởi các chỉ tiêu giá trị và chỉ tiêu giá trị sử dụng Để so sánh một nhân tố, chỉ nhân tố đó thay đổi trong khi các nhân tố khác giữ nguyên Nếu không đảm bảo điều kiện này, cần quy về dạng có thể so sánh được Phương pháp giá trị-giá trị sử dụng giúp giải quyết khó khăn này thông qua chỉ tiêu chi phí (giá trị) tính cho một đơn vị giá trị sử dụng tổng hợp.
Ưu nhược điểm của phương pháp
Phương pháp này phù hợp để so sánh các phương án có giá trị sử dụng khác nhau, thường gặp trong thực tế Nó cho phép lôi cuốn nhiều chỉ tiêu giá trị sử dụng vào quá trình so sánh, đồng thời mang lại ưu điểm của chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khi tính toán giá trị Ngoài ra, phương pháp này cũng có lợi thế của chỉ tiêu tổng hợp không có đơn vị đo khi tính toán giá trị sử dụng tổng hợp.
Phương pháp này ít được áp dụng trong thực tế kinh doanh, chủ yếu được sử dụng để so sánh các phương án kỹ thuật không mang tính lợi nhuận, tập trung vào chất lượng sử dụng Nó cũng có thể được dùng để phân tích các yếu tố kinh tế xã hội của dự án đầu tư, đánh giá sự hợp lý giữa tốc độ tăng chất lượng sản phẩm và giá cả, từ đó hỗ trợ quyết định mua máy móc với giá cả và chất lượng khác nhau từ các nhà cung cấp.
Một phương án tốt khi
Cij là chi phí được tính cho mỗi đơn vị giá trị sử dụng tổng hợp, bao gồm các yếu tố như năng suất, tuổi thọ, độ bền và độ tin cậy, trình độ kỹ thuật, mức độ tiện nghi khi sử dụng, cải thiện điều kiện lao động, cũng như bảo vệ môi trường của phương án j.
_chi phí cho phương án j (vốn đầu tư mua máy, chi phí sử dụng máy…). m _số chỉ tiêu được đưa vào so sánh.
Pij _chỉ tiêu đã làm mất đơn vị đo của chỉ tiêu i phương án j.
(xác định theo công thức 2.2).
Sj _giá trị sử dụng tổng hợp của phương án j.
Một số lý thuyết cơ bản thường được áp dụng trong nghiên cứu bao gồm lý thuyết quy hoạch tuyến tính, quy hoạch động, phục vụ đám đông và trò chơi Các phương pháp toán học thường sử dụng một chỉ tiêu kinh tế nhất định để xây dựng hàm mục tiêu.
Nội dung của dự án đầu tư
2.2.1 Xác định sự cần thiết phải đầu tư
Xác định nhu cầu của thị trường có liên quan đến máy xây dựng:
Nhu cầu của thị trường xây dựng, bao gồm:
Khối lượng đầu tư và xây dựng trong thời gian tới của các chủ đầu tư ở mọi lĩnh vực, khu vực địa lý.
Các loại vật liệu xây dựng, kết cấu xây dựng, kiểu nhà, công nghệ xây dựng có liên quan đến loại máy đang định mua sắm
Trình độ tập trung hoá và chuyên môn hoá của ngành xây dựng, nhất là quy mô công trường và độ xa chuyên chở máy đến công trường
Tình hình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng
Số máy xây dựng định mua sắm còn thiếu trên thị trường.
Mt = Mc – (Mhc + Mn ) + Mđ (2.5) Trong đó,
Mc _số máy đang xét cần có cho thị trường xây dựng theo dự báo cho kỳ đang xét.
Mhc _số máy hiện có trên thị trường xây dựng.
Mn _số máy do các chủ thầu xây dựng nước ngoài nhập vào Việt Nam cho kỳ đang xét.
Mđ _số máy cũ có thể bị đào thải dự báo ở kỳ đang xét.
Khả năng cung cấp máy xây dựng của thị trường máy xây dựng, bao gồm:
Các nguồn cung cấp, mẫu mã máy
Trình độ kỹ thuật, đặc tính sử dụng và hiệu quả kinh tế, giá cả của các loại máy đang cần mua.
Điều kiện mua bán và thanh toán.
Nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và khả năng của doanh nghiệp xây dựng
Khả năng thắng thầu và nhiệm vụ xây dựng của doanh nghiệp theo dự báo.
Chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng tập trung vào việc nâng cao khả năng thắng thầu, đồng thời hướng tới công nghiệp hoá và hiện đại hoá Doanh nghiệp cần áp dụng các phương pháp tiên tiến và công nghệ mới để cải thiện hiệu quả sản xuất, tối ưu hoá quy trình làm việc và nâng cao chất lượng dịch vụ Việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường hợp tác với các đối tác chiến lược cũng là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế trên thị trường.
Khả năng đáp ứng của doanh nghiệp về vốn, về trình độ công nhân vận hành máy.
Các điều kiện thuận lợi và khó khăn
Bao gồm các vấn đề như:
Cơ sở hạ tầng phục vụ máy hoạt động (đường giao thông, điện, chất đốt, cơ sở sửa chữa, khả năng cung cấp thiết bị phụ tùng thay thế…).
Các điều kiện tự nhiên như thời tiết, khí hậu nhiệt đới, địa chất công trình và địa chất thuỷ văn đóng vai trò quan trọng tại các công trường thi công máy móc.
Các điều kiện về nguyên vật liệu xây dựng có liên quan đến xây dựng phải vận chuyển và chế biến.
Hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội dự kiến đạt được và kết luận
Tính toán hiệu quả sơ bộ và theo những nét lớn để kết luận về sự cần thiết phải đầu tư mua máy.
2.2.2 Lựa chọn hình thức đầu tư
Lựa chọn hình thức kinh doanh như hình thức vay vốn hay tiến hành liên doanh để mua máy.
So sánh giữa phương án tự mua sắm và đi thuê máy.
So sánh giữa khả năng cải tạo máy hiện có (nếu có) với phương án mua sắm mới.
So sánh giữa phương án mua sắm máy để tự làm công việc xây dựng hay đem máy cho thuê, hay kết hợp cả hai khả năng.
So sánh giữa phương án mua máy nội địa hay nhập khẩu máy.
2.2.3 Lựa chọn công nghệ, phương án sản phẩm, giải pháp kỹ thuật và công nghệ của máy
Xác định công suất của máy
Để xác định công suất của máy, cần xem xét các yếu tố như khối lượng công việc hàng năm, khả năng cung cấp máy móc phù hợp, nguồn vốn của doanh nghiệp, hiệu quả kinh tế, trình độ tập trung và quy mô công trường, cũng như khoảng cách vận chuyển máy đến công trường Nếu khoảng cách vận chuyển lớn, quy mô công trường nhỏ và phân tán, việc sử dụng máy có công suất lớn sẽ không mang lại lợi ích.
Trong quá trình lập kế hoạch cho dự án, cần xác định các loại công suất quan trọng, bao gồm công suất thiết kế và công suất tính toán, với một mức độ an toàn nhất định Đồng thời, cũng cần xem xét công suất tối thiểu để đảm bảo sản lượng hòa vốn và an toàn tài chính trong suốt thời gian sử dụng máy.
Xác định phương án sản phẩm của máy
Lựa chọn máy đa năng (thực hiện nhiều sản phẩm) hay máy chuyên dùng (một sản phẩm).
Khả năng thực hiện các loại công việc xây dựng với một chất lượng sản phẩm cho phép
Xác định giải pháp kỹ thuật và công nghệ cho máy
Xác định trình độ kỹ thuật hiện đại của máy phù hợp.
Khi lựa chọn nguyên lý tác động kỹ thuật của máy, cần xem xét các yếu tố như nguyên lý tĩnh hay chấn động, cơ cấu thuỷ lực hay cơ cấu cơ học bình thường, phương thức di chuyển bằng bánh xích hay bánh hơi, loại chất đốt sử dụng, cũng như chế độ hoạt động liên tục hay theo chu kỳ.
Xác định công nghệ cho máy, bao gồm phần cứng (máy móc) và phần mềm (con người với kỹ năng nhất định, thông tin và tổ chức thi công).
Để đánh giá hiệu quả sản xuất, cần xác định một số chỉ tiêu cơ bản như mức độ tự động hóa, độ dài chu kỳ công nghệ, hệ số sử dụng nguyên liệu, thế hệ kỹ thuật, độ linh hoạt, tỷ lệ phế phẩm, chất lượng sản phẩm, an toàn lao động, cải thiện điều kiện làm việc, bảo vệ môi trường, cũng như độ bền và độ tin cậy của sản phẩm.
Xác định nhu cầu về máy móc thiết bị phục vụ kèm theo khi tháo lắp và chuyên chở máy.
2.2.4 Dự báo các địa điểm sử dụng máy, phương án tổ chức quản lý máy và sử dụng lao động phục vụ máy
Dự báo các địa điểm sử dụng máy
Bao gồm các vấn đề như:
Dựa trên các điều kiện tự nhiên của công trường và tình trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, chúng ta có thể sơ bộ xác định các loại công trường xây dựng mà máy móc có thể tham gia.
Để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng máy xây dựng, cần xác định loại quy mô công trường và khoảng cách vận chuyển máy phù hợp với loại máy dự định nhập Việc này giúp đảm bảo rằng các điều kiện sử dụng máy tại công trường được đáp ứng tốt nhất.
Nhu cầu về vật chất để đầu tư và bảo quản máy móc ngày càng tăng cao Việc xây dựng cơ sở vật chất phù hợp là rất quan trọng để cất giữ và bảo quản máy móc một cách hiệu quả Đảm bảo các thiết bị được bảo quản trong điều kiện tốt sẽ giúp tăng tuổi thọ và hiệu suất hoạt động của máy.
Bao g m các v n đ nh : ồm các công việc: ấn đề như: ề như: ư:
Giải pháp các công trình xây dựng để bảo quản và cất giữ máy.
Giải pháp các loại công trình tạm phục vụ máy (bệ máy, lán trại, đường ray…).
Phương án tổ chức quản lý và sử dụng lao động phục vụ máy
Bao gồm các vấn đề như:
Xác định hình thức tổ chức sử dụng máy là bước quan trọng, bao gồm việc lựa chọn giữa chuyên môn hoá hoặc sử dụng hỗn hợp, cũng như quyết định phân tán hay tập trung Đồng thời, cần đánh giá nhu cầu về bộ máy quản lý nếu có, để đảm bảo hiệu quả trong việc vận hành và quản lý hệ thống.
Xác định biên chế công nhân lái máy.
2.2.5 Phân tích tài chính và kinh tế xã hội của dự án
Bao g m các v n đ : ồm các công việc: ấn đề như: ề như:
Xác định các số liệu xuất phát để phân tích.
Vốn đầu tư mua sắm máy xây dựng, dự kiến tuổi thọ của máy và giá trị thu hồi khi đào thải máy.
Vốn lưu động cho máy móc trong quá trình vận hành chủ yếu bao gồm dự trữ nhiên liệu, vật liệu xây dựng như cho máy trộn vữa, và dự trữ phụ tùng thay thế được tính theo số ngày dự trữ theo định mức.
Chi phí sử dụng máy hàng năm tương ứng với khối lượng công việc hàng năm của máy theo dự kiến.
Chi phí vận hành máy hàng năm không có khấu hao.
Doanh thu hàng năm của máy theo dự kiến.
Khấu hao cơ bản hàng năm và các khoản trừ dần (nếu có).
Tiến độ vay vốn, trả vốn đi vay và các khoản lãi.
Xác định tiền thuế và tiền thuê cơ sở hạ tầng khi sử dụng máy.
Xác định hiệu số giữa doanh thu và chi phí vận hành (còn lại chính là lợi nhuận và khấu hao cơ bản).
Xác định suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được.
Lập dòng tiền tệ của dự án.
Phân tích tài chính là quá trình tổng hợp các chỉ tiêu tài chính và kỹ thuật từ phân tích thị trường, kỹ thuật và nguồn lực, đóng vai trò quan trọng đối với chủ đầu tư và các nhà tài trợ vốn Hệ thống chỉ tiêu tài chính, bao gồm chỉ tiêu tĩnh và động, cùng với phân tích an toàn tài chính của dự án đầu tư sẽ được trình bày chi tiết trong mục 3.2.
Phân tích kinh tế xã hội của dự án đầu tư được trình bày cụ thể ở mục 3.3.
Phương pháp lập dự án đầu tư mua sắm và trang bị máy xây dựng cho một số trường hợp
2.3.1 Trường hợp mua sắm các tập hợp máy xây dựng có tính đến hạn chế của nguồn vốn đầu tư mua máy
Tập hợp dự án đầu tư bao gồm các máy xây dựng riêng lẻ, trong đó có những dự án chỉ sử dụng một máy duy nhất.
Giả sử có một dự án mua sắm các máy xây dựng riêng lẻ, với số lượng máy tập hợp là S = 2m - 1 Chúng ta sẽ xem xét các tập hợp máy xây dựng có thể được mua tương ứng với từng mức vốn cho phép.
Ví dụ: có 3 máy xây dựng A,B,C ta có 2 3 –1 =7 tập hợp máy có thể có là:A, B,
Nếu xét phương án theo chỉ tiêu hiện giá của hiệu số thu chi
Các bước tiến hành lựa chọn:
Xác định số lượng tập hợp máy có thể có S = 2 m – 1 (2.6) m _số máy xây dựng riêng lẻ.
Sắp xếp các tập hợp máy có vốn đầu tư mua máy từ bé đến lớn.
Xác định dòng tiền tệ của mỗi máy riêng rẽ, tính hiệu số thu chi của mỗi máy loại i ở năm t (Hit ).
Xác định dòng tiền cho mỗi tập hợp máy j có thể có
Hiệu số thu chi ở năm t của tập hợp máy j (Ajt )
Hijt _hiệu số thu chi của máy i thuộc tập hợp máy j ở năm t. n _số máy của tập hợp máy j.
Xác định hiện giá của hiệu số thu chi của tập hợp máy j (NPWj ).
R _suất thu lợi tối thiểu được tính toán dựa trên thời gian so sánh giữa các phương án của tập hợp máy j, với điều kiện thời gian tính toán của từng tập hợp máy phải đồng nhất.
Vij _tổng vốn đầu tư của tập máy xây dựng j.
Xác định tập hợp dự án có giá trị NPWj lớn nhất ứng với một mức vốn đầu tư B theo điều kiện:
NPW đạt giá trị tối đa khi Vk-1 ≤ B ≤ Vk, trong đó Vk và Vk-1 là mức vốn đầu tư cho phép của các tập hợp máy k và k-1, với j < k Các mức vốn này được sắp xếp từ nhỏ đến lớn theo thứ tự của các tập hợp máy xây dựng Do đó, với một mức vốn đầu tư cho phép B, có thể xác định phương án tập hợp máy tối ưu nhất tương ứng với NPW = max.
Nếu xét phương án theo chỉ tiêu suất thu lợi nội tại IRR
Sắp xếp phương án từ bé đến lớn theo trị số của vốn đầu tư của các tập hợp máy, và phải thêm vào phương án số 0.
Để đánh giá hiệu quả đầu tư của mỗi tập hợp máy j, ta tính chỉ tiêu gia số của hiệu số thu chi NPWj Khi NPWj > 0, điều này cho thấy IRRj lớn hơn lãi suất r, và phương án đầu tư lớn hơn sẽ được so sánh với phương án tiếp theo Ngược lại, nếu NPWj < 0, tức là IRRj nhỏ hơn r, phương án đầu tư lớn hơn sẽ bị loại bỏ, trong khi phương án đầu tư nhỏ hơn liền kề sẽ được giữ lại để so sánh với phương án lớn hơn ở cấp độ tiếp theo.
Dựa trên mức vốn đầu tư B cho phép, việc so sánh theo nguyên tắc hiệu quả của gia số đầu tư sẽ giúp xác định phương án tối ưu nhất để tập hợp máy móc.
2.3.2 Lập dự án đầu tư trang bị máy xây dựng khi thành lập doanh nghiệp
Trường hợp chung Để lập phương án trang bị máy xây dựng khi thành lập doanh nghiệp mới, cần chú ý các vấn đề sau:
Giai đoạn đầu tư bao gồm các bước chuẩn bị đầu tư, trong đó có việc lập dự án đầu tư, thực hiện dự án đầu tư cho việc mua sắm tài sản cố định như máy móc và thiết bị xây dựng, cùng với việc tạo dựng vốn lưu động Ngoài ra, việc tổ chức xây dựng công trình cũng là một phần quan trọng trong quá trình vận hành dự án.
Bản dự án đầu tư cho máy xây dựng không chỉ bao gồm các mục tiêu cơ bản mà còn phức tạp hơn do cần tính toán cho toàn bộ doanh nghiệp Những vấn đề cơ bản cần xem xét bao gồm hiệu quả đầu tư, chi phí vận hành, và tác động đến hoạt động kinh doanh tổng thể.
Điều tra nhu cầu của thị trường xây dựng về mọi mặt
Doanh nghiệp cần xác định rõ loại hình xây dựng mà mình sẽ thực hiện, bao gồm xây nhà ở, công trình giao thông, xây dựng công nghiệp, hoặc các công trình hỗn hợp Việc này giúp định hướng chiến lược phát triển và tối ưu hóa nguồn lực cho từng loại hình dự án.
Xác định năng lực sản xuất và nhiệm vụ xây dựng hàng năm phải thực hiện.
Lựa chọn loại và số lượng máy xây dựng phù hợp là rất quan trọng để đảm bảo đáp ứng nhu cầu sản xuất và nhiệm vụ xây dựng hàng năm đã được xác định.
Xây dựng loại hình tổ chức của doanh nghiệp và cơ cấu nhân lực của doanh nghiệp có liên quan đến máy xây dựng.
Phân tích tài chính và kinh tế xã hội của dự án.
Phương pháp phân tích tài chính và kinh tế xã hội trong lập dự án đầu tư cho máy xây dựng có những nét tương đồng, nhưng cũng tồn tại một số điểm khác biệt quan trọng.
Thời kỳ tính toán không chỉ đơn thuần là tuổi thọ của máy móc, mà còn phản ánh thời gian tồn tại dự kiến của doanh nghiệp Trong trường hợp khó xác định chỉ tiêu này, có thể sử dụng bội số chung nhỏ nhất của các tuổi thọ máy xây dựng hoặc lấy tuổi thọ của máy có chỉ tiêu lớn nhất Tuy nhiên, cần lưu ý rằng thời kỳ tính toán không nên quá dài để tránh những dự đoán không chính xác liên quan đến biến động thị trường và tiến bộ kỹ thuật trong ngành xây dựng.
Số lượng và chủng loại máy móc có thể đa dạng, và việc thay thế máy do hết tuổi thọ là điều cần thiết Do đó, việc tổ hợp hệ thống máy móc một cách tối ưu là rất quan trọng để đảm bảo hiệu suất và tuổi thọ của thiết bị.
Việc thay thế máy móc khi hết tuổi thọ có thể dẫn đến việc phát sinh vốn đầu tư vào những thời điểm trung gian trong dòng tiền Điều này khiến cho dòng tiền có thể thay đổi dấu nhiều lần, gây khó khăn trong việc áp dụng chỉ tiêu suất thu lợi nội tại.
Khi thành lập doanh nghiệp nhằm thực hiện hợp đồng xây dựng kéo dài nhiều năm, đây là một trường hợp cụ thể, vì nhiệm vụ xây dựng đã được xác định rõ ràng cho doanh nghiệp đó.