1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu”

54 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 2,68 MB

Cấu trúc

  • MỤC LỤC

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ

  • 1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ:

  • 1.2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:

  • 1.3. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI:

  • CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ CÂY DÓ BẦU

  • 2.1. GIỚI THIỆU VỀ CÂY DÓ BẦU:

  • 2.1.1. ĐẶC ĐIỂM PHÂN LOẠI:

  • 2.1.2. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC CỦA CÂY DÓ BẦU:

  • 2.1.3. ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI:

  • 2.1.4 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI :

  • 2.2.1. GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM:

    • 2.2.1.1 Chọn đất làm vườn ươm cây con:

    • 2.2.1.2 Làm đất và thiết kế líp ươm:

    • 2.2.1.3 Xử lý đất và bón lót phân:

    • 2.2.1.4 Gieo hạt:

    • 2.2.1.5 Làm giàn che cây con:

    • 2.2.1.6 Tưới nước giữ ẩm sau gieo:

  • 2.2.2. GIAI ĐOẠN VƯỜN BẦU:

    • 2.2.2.1 Vỏ bầu:

    • 2.2.2.2 Xử lý đất vô bầu (Ruột bầu):

    • 2.2.2.3 Thiết kế luống bầu:

    • 2.2.2.4 Cấy cây con vào bầu:

    • 2.2.2.5 Tưới nước:

    • 2.2.2.6 Làm cỏ và bón thúc:

    • 2.2.2.7 Đảo bầu và thay bầu:

    • 2.2.2.8 Phòng trừ sâu bệnh:

  • 2.2.3. GIAI ĐOẠN TRỒNG QUY MÔ LỚN:

    • 2.2.3.1. Đất trồng:

    • 2.2.3.2. Thời vụ trồng:

    • 2.2.3.3. Yếu tố khí hậu:

    • 2.2.3.4. Yếu tố đất đai:

    • 2.2.3.5. Cây Dó bầu bị chết do thối rễ:

  • CHƯƠNG III: TỔNG QUAN VỀ TRẦM HƯƠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP CẤY TẠO TRẦM

  • 3.1.ĐẶC TÍNH VÀ CÔNG DỤNG CỦA TRẦM HƯƠNG:

  • 3.1.1. TRẦM VÀ SỰ TẠO TRẦM:

  • 3.1.2. TÍNH CHẤT CỦA TRẦM HƯƠNG:

    • **Thành phần hóa học có trong trầm hương:

  • 3.1.3. CÔNG DỤNG CỦA TRẦM HƯƠNG:

  • Cây Dó bầu và sản phẩm chính của nó là Trầm hương đã có lịch sử từ lâu đời của Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung. Đó là việc Trầm hương thường có mặt trong các tác phẩm văn học, trong tín ngưỡng tôn giáo, trong các đền đài.v.v…

    • 3.1.3.1. Hương liệu mỹ phẩm:

    • 3.1.3.2. Dược Liệu:

    • 3.1.3.4 Trong Tây Y:

    • 3.1.3.5. Các lĩnh vực khác:

  • 3.2. TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ TIÊU THỤ:

  • 3.2.1. TÌNH HÌNH KHAI THÁC TRẦM HƯƠNG TRONG TỰ NHIÊN.

  • 3.2.2. NHU CẦU VÀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ TRẦM HƯƠNG:

  • 3.3. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TRẦM HƯƠNG

  • 3.3.1. SỰ HÌNH THÀNH TRẦM HƯƠNG TRONG TỰ NHIÊN:

  • 3.3.2. KỸ THUẬT CẤY TẠO TRẦM:

    • 3.3.2.1. Cơ sở lý luận của việc cấy tạo Trầm:

    • 3.3.2.2.Các phương pháp cấy tạo Trầm.

    • 3.3.2.3. Đặc điểm một số loài nấm có liên quan đến sự tạo Trầm.

  • 3.3.3. THÍ NGHIỆM CẤY TẠO TRẦM: (công ty TNHH TM&DV Tinh Đất Việt)

    • 3.3.3.1. Khoan cây để bố trí thí nghiệm:

    • 3.3.3.2. Kết quả quan sát phản ứng của cây sau khi bố trí nghiệm:

    • 3.3.3.3. Kết quả hình thành Trầm hương.

  • 3.3.4. MỘT SỐ THÀNH TỰU VỀ NGHIÊN CỨU CẤY TẠO TRẦM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC:

    • 3.3.4.1. Trong nước.

    • 3.3.4.2. Ngoài nước.

  • 3.4.THÁCH THỨC & TRIỂN VỌNG

  • 3.4.1. THÁCH THỨC:

  • 3.4.2. TRIỂN VỌNG:

  • CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

  • 4.1. KẾT LUẬN:

  • 4.2.KIẾN NGHỊ:

Nội dung

Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu” Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu”

ĐẶT V ẤN ĐỀ

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cây Dó bầu, hay còn gọi là cây Trầm hương và cây Kì nam, nổi bật với khả năng sản sinh ra Trầm hương, một sản phẩm quý giá đã được sử dụng từ hàng ngàn năm qua trên toàn thế giới Trầm hương và Kì nam không chỉ là những sản phẩm hiếm có mà còn mang lại giá trị kinh tế cao, khiến cây Dó bầu trở thành đối tượng nghiên cứu hấp dẫn cho nhiều nhà khoa học và người dân, đặc biệt là ở Việt Nam và các quốc gia khác.

Nghiên cứu hệ thống về sự hình thành Trầm hương trên cây Dó bầu mới chỉ bắt đầu trong vài thập niên gần đây Hầu hết các công bố nghiên cứu hiện tại chưa cung cấp quy trình tối ưu và cơ chế hình thành Trầm hương, điều này hạn chế khả năng áp dụng rộng rãi trong sản xuất đại trà.

Sự mất rừng đang dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn Trầm hương tự nhiên, đặc biệt là các loài thuộc chi Aquilaria Tại Việt Nam, việc khai thác Trầm diễn ra bừa bãi, khi những người khai thác chặt đốn cây Dó bầu ở mọi độ tuổi, gây nguy cơ diệt chủng cho loài cây này Trước tình hình nghiêm trọng đó, Chính phủ đã ban hành Nghị Định số 18-HDBT vào ngày 17 tháng 10 để bảo vệ nguồn Trầm hương và ngăn chặn tình trạng khai thác không bền vững.

Vào năm 1992, danh mục thực vật rừng và động vật rừng quý hiếm đã được quy định, trong đó cây Dó bầu được xếp vào nhóm 1A, đồng nghĩa với việc phải bảo vệ nghiêm ngặt.

Hiện nay, nhiều tổ chức, cơ quan và cá nhân ở nước ta đang trồng cây Dó bầu với mục tiêu cải thiện kinh tế, phủ xanh đất trống và góp phần xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên, phần lớn các dự án này vẫn chỉ đang ở giai đoạn trồng và thử nghiệm các phương pháp tạo Trầm, với kết quả thu được chưa khả quan.

Nếu cây Dó bầu mọc tự nhiên trong rừng, khả năng sản sinh Trầm hương chỉ khoảng 10% Chỉ một số ít cây có thể tạo ra Trầm hương do tác động từ bên ngoài như mưa, gió, hay sét đánh làm tổn thương thân và cành Qua những vết thương này, vi sinh vật xâm nhập vào cây, kích thích quá trình hình thành Trầm hương theo thời gian.

Dưới sự hướng dẫn của thầy Bùi Văn Thế Vinh và sự phân công của bộ môn Công Nghệ Sinh Học, tôi đã thực hiện tiểu luận tốt nghiệp với chủ đề “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu”.

MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

+ Tổng quan về cây Dó bầu

+ Tìm hiểu qui trình kĩ thuật cấy tạo Trầm hương nhân tạo bằng phương pháp vi sinh và hóa học có hiệu quả.

GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

Do quỹ thời gian hạn chế, tôi chỉ có thể nghiên cứu tổng quan về quá trình hình thành Trầm hương trên cây Dó bầu và một số thực nghiệm đã được thực hiện liên quan đến vấn đề này.

TỔNG QUAN VỀ CÂY DÓ BẦU

GIỚI THIỆU VỀ CÂY DÓ BẦU

Giống Aquilaria có tất cả 24 loài (Species) khác nhau gồm:

10 Aquilaria parvifolia (Quis) Ding Hou

12 Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte

13 Aquilaria banaense Pham-Hoang-Ho

20 Aquilaria bailonii Pierre ex Lecomte

Vào năm 2005, tiến sĩ Lê Công Kiệt từ Việt Nam và tiến sĩ Paul Kessler từ Hà Lan đã phát hiện ra loài thứ 25 tại cao nguyên Trung Bộ, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong nghiên cứu đa dạng sinh học ở khu vực này.

Aquilaria rugosa L.C.Kiet & PJ.A Kessler.

Cây Dó bầu thuộc loài Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte

Tùy theo mỗi quốc gia mà Trầm hương có tên khác nhau:

- Trung Quốc: Tuchenxiang (Tiếng phổ thông: Ch'en Hsiang).

- Pháp: Bois d'aigle, Bois d'aloes, Calambac, Calambour

- Anh: Agarwood hay Aloes wood, Malayan eaglewood

- Campuchia: Kalampeahk chan, Crassna, KresnaKlampèoh.

- Hình 2.1: Vườn cây Dó bầu được 5 tuổi

- Việt Nam: Cây Trầm hương, Dó bầu, Dó trầm, Cây Tóc…

Tại Việt Nam, tên gọi của các loài cây Dó rất đa dạng và khác nhau giữa các địa phương Ở Phú Quốc, người dân phân chia cây Dó thành hai loại: Dó nghệ gỗ với màu vàng nhạt và độ cứng cao, và Dó bầu gỗ có màu trắng và mềm Trong khi đó, các tỉnh miền Trung lại phân loại cây Dó thành bốn loại: Dó bầu hương, Dó mẹ, Dó dây và Dó bầu thường Ngoài ra, một số địa phương khác còn có các tên gọi như Dó bầu, Dó niệt, Dó mẹ và Dó gạch Sự phân chia này khiến cho việc xác định tên khoa học của mỗi loài trở nên khó khăn.

Cây Dó bầu, với tên khoa học là Aquilaria Crassna Pierre, hiện đang gây tranh cãi về cách phân loại và đặt tên, cho thấy sự thiếu thống nhất trong nghiên cứu khoa học tại Việt Nam.

Lecomte) được nông dân ưa chuộng và nhân giống rộng rãi vì có khả năng cho

Trầm nhiều và chất lượng Trầm tốt nhất.

Dó bầu, còn được biết đến với nhiều tên gọi khác như cây Tóc, cây Trầm, cây Trầm hương và cây Kì Nam, là một loại cây quý giá Theo nghiên cứu của Nguyễn Hiền và Võ Văn Chi, các sản phẩm từ dó bầu mang lại giá trị kinh tế và văn hóa đáng kể.

Năm 1991, cây Dó bầu được chính thức đặt tên khoa học là Aquilaria crassna dựa trên mẫu vật do nhà thực vật học người Pháp Pierre thu thập tại Phú Quốc (Việt Nam) và núi Aral, tỉnh Samrongtong (Campuchia) vào tháng 05 năm 1870 Pierre đã lấy tên gọi Karasna từ Campuchia để đặt cho cây, nhưng tên này chưa được mô tả chính thức Sau đó, Henri Lecomte đã lần đầu tiên mô tả các loài thuộc chi Aquilaria ở Đông Dương trong bộ sách Thực Vật Chí Đông Dương và công bố chính thức trong lĩnh vực thực vật học của Pháp.

Năm 1914, chi Aquilaria được xếp vào họ Trầm Theo nghiên cứu gần đây của Phạm Hoàng Hộ (1992), tại Việt Nam, chi Aquilaria thuộc họ Trầm hương có ba loài đã được xác định.

+ Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte: Dó bầu, Trầm; ghi nhận ở Phú Khánh,Bảo Lộc và Phú Quốc.

+ Aquilaria baillonii Pierre ex Lecomte: Dó baillon; ghi nhận ở rừng dầy ẩm Bình Trị Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng.

+ Aquilaria banaensae Phạm Hoàng: Dó Bà Na; ghi nhận ở rừng dầy ẩmQuảng Nam, Đà Nẵng.

Tiến sĩ Lê Công Kiệt từ Việt Nam và tiến sĩ Paul Kessler từ Hà Lan đã phát hiện ra loài thứ tư tại cao nguyên Trung Bộ vào năm 2005.

Aquilaria rugosa L.C.Kiet & PJ.A Kessler.

Các tác giả khác như GS Lê Văn Kí (1993), các tác giả trong quyển “Cây Gỗ Rừng Việt Nam Tập IV” (1991); “Phân Loại Thực Vật” (Nxb Giáo dục,1972) và

Trong "Danh Mục Thực Vật Tây Nguyên" (1984), cây Dó bầu được ghi nhận với tên khoa học Aquilaria agallocha Roxd Tuy nhiên, theo Vũ Văn Chiên (1976) trong "Tóm tắt đặc điểm họ cây thuốc", loài cây này chỉ có ở Ấn Độ và không có mặt tại Việt Nam, đồng thời cũng không được ghi nhận trong "Thực Vật Chí Đông Dương" của Henri Lecomte Một số nghiên cứu khác, như "Định danh Dược thảo và Dược liệu Đông y" của đoàn Dược sĩ Việt Nam, cũng không đề cập đến sự hiện diện của Aquilaria agallocha Roxd tại Việt Nam.

1973) và “Những cây thuốc vị thuốc Việt Nam” (Nxb.Khoa học và kỹ thuật Hà Nội,

1981) lại cho rằng Aquilaria agallocha Roxd là đồng danh của Aquilaria crassna

2.1.2 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC CỦA CÂY DÓ BẦU:

Những đặc điểm quan trọng về thực vật học của cây Dó bầu được nhiều tác giả ghi nhận như sau:

Dó bầu là cây gỗ lớn, cao từ 20m đến 40m, đường kính ngang ngực từ 40-50cm, có thể đạt 80cm Vỏ cây mỏng 2-4mm, chứa nhiều sợi dài và bền Lá cây đơn, mọc cách, hình ngọn giáo, dài 6-15cm và rộng 2-3cm, với đầu nhọn Hoa của cây có hình tán, màu trắng Quả mang hình trứng ngược, dài 3-5cm, rộng 2-3cm, có lông, khi chín sẽ mở thành hai mảnh và chứa từ một đến hai hạt màu đen, với phần vỏ ngoài cứng và bên trong mềm, chứa nhiều dầu.

Hạt Dó bầu có tuổi thọ ngắn và hiện nay chủ yếu được nhân giống bằng hạt Sau khi thu hái, quả cần được phơi trong bóng mát, sau vài ngày vỏ quả sẽ nứt và hạt rơi ra Mỗi quả chỉ chứa một hạt, và cây Dó bầu trung bình chỉ cho khoảng 2.000 hạt mỗi năm, với khối lượng 1.000 hạt khoảng 670 gram Hạt Trầm nhanh chóng mất sức nảy mầm, do đó cần gieo ngay sau khi thu hái Hạt bắt đầu nảy mầm sau 10-12 ngày, nhưng thời gian này có thể kéo dài lên đến một tháng Thí nghiệm tại Ấn Độ cho thấy thời gian bảo quản ảnh hưởng lớn đến khả năng nảy mầm: tỷ lệ nảy mầm đạt 65% khi gieo ngay, giảm xuống 45% sau một tuần bảo quản và chỉ còn 5% sau ba tuần.

Cây Dó bầu bắt đầu ra hoa và kết trái sau 4-5 năm tuổi, với thời gian ra hoa khác nhau tùy theo vùng miền Ở Miền Trung Việt Nam, cây ra hoa vào tháng 3 và trái chín vào tháng 7, trong khi ở Miền Nam, thời gian ra hoa là tháng 2 và trái chín từ tháng 5 đến tháng 6 Trong giai đoạn vườn ươm, cây con cần được giữ ẩm, che bóng và phòng trừ sâu bệnh Sau 40-45 ngày, cây con cao khoảng 3-4 cm có thể được trồng vào bầu đất Đến 10-12 tháng tuổi, cây con đạt chiều cao 30-35 cm và có thể được trồng trên diện tích sản xuất Tại Malaysia, việc trồng cây con trong bầu với bộ rễ nguyên vẹn giúp tăng tỷ lệ sống cao.

Tại miền Đông Bắc Ấn Độ, thời gian trồng Trầm thường diễn ra vào tháng 5 và tháng 6, với khoảng cách trung bình giữa các cây là 2,5 m x 2,5 m Trong khi đó, các quần thể Trầm ở Malaysia được trồng với khoảng cách 6 m x 2 m.

Trong giai đoạn đầu, việc làm cỏ và vệ sinh trong các quần thể Trầm là rất quan trọng, thường cần thực hiện đến 4 lần trong năm đầu tiên Khi Trầm đã phát triển tốt, số lần làm cỏ sẽ giảm dần, và đến năm thứ 5-6, chỉ cần làm cỏ một lần mỗi năm Sau giai đoạn này, việc tỉa thưa để cải thiện dinh dưỡng, độ thông thoáng và ánh sáng cho quần thể là cần thiết Tại Malaysia, quần thể Trầm ở độ tuổi 6-7 năm có mật độ trung bình chỉ 31 cây/ha.

Để hỗ trợ sự phục hồi và phát triển của cây Trầm trong rừng tự nhiên, cần thực hiện việc trồng dặm bổ sung cũng như phát quang để loại bỏ dây leo và các cây có giá trị thấp Hiện tại, vẫn chưa có thông tin về các loại sâu bệnh hại ảnh hưởng đến cây Trầm.

Sự phân bố của Trầm hương trong tự nhiên:

Cây Aquilaria, hay còn gọi là cây Trầm hương, được phân bố rộng rãi tại nhiều quốc gia ở khu vực Châu Á, bao gồm Trung - Cận Đông, Nam Á, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á.

- Ở vùng Trung – Cận Đông cây Trầm hương mọc nhiều trên những rặng núi hiểm trở phía Nam Ả Rập.

KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY DÓ BẦU

Do hạt Dó bầu có đời sống rất ngắn, không thể lưu trữ lâu ngày được nên hạt chỉ có vào mùa thu hoạch hạt.

Thời điểm thu hoạch hạt phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và khí hậu của từng vùng, nhưng thường bắt đầu sớm nhất vào tháng 6 dương lịch hàng năm.

Hiện nay hạt Dó bầu rất khan hiếm và giá rất đắt Việc tìm mua hạt giống về để gieo ươm gặp một số khó khăn như:

Thời gian giữa thu hoạch và gieo hạt chỉ kéo dài từ 7-10 ngày, gây khó khăn trong việc bảo quản hạt giống và chuẩn bị đất gieo Việc này làm giảm khả năng kiểm soát chất lượng hạt giống, bao gồm tỷ lệ nảy mầm và nguồn gốc của giống.

Mua cây con để trồng là lựa chọn tốt nhất, nhưng nếu bạn muốn nhân giống và bán cây con với số lượng lớn, hãy tìm mua hạt giống từ những nguồn đáng tin cậy và chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào trồng.

2.2.1.1 Chọn đất làm vườn ươm cây con:

- Vị trí vườn ươm cây con phải được đặt ở những nơi cao ráo, thoáng mát, kín gió…

- Phải có đủ nguồn nước sạch để tưới và đất phải thoát nước tốt.

- Vườn ươm phải gần đường giao thông để thuận tiện cho việc chuyên chở.

- Đất phải giàu dinh dưỡng, thành phần cơ giới nhẹ (đất cát hoặc cát pha), pH 5-6.

2.2.1.2 Làm đất và thiết kế líp ươm:

- Đất làm vườn ươm cây con phải được cày bừa thật tơi xốp, sâu khoảng 25-30 cm và sạch cỏ dại.

- Lên líp ươm cao 15-20 cm so với mặt đất, chiều rộng 1m, chiều dài 10m, khoảng cách giữa 2 líp ươm từ 45-50 cm để tiện việc đi lại và chăm sóc.

- Hệ thống tưới-tiêu, đặc biệt là các mương thoát, phải bố trí một cách hợp lý và khoa học.

2.2.1.3 Xử lý đất và bón lót phân:

Trước khi gieo hạt 5-7 ngày, líp ươm phải được xử lý thuốc sát trùng và bón phân lót.

- Thuốc sát trùng có thể dùng dung dịch Bordeaux 1% hoặc dung dịch CuSO4 0.5% tưới điều lên mặt líp.

- Phân bón lót gồm: Phân chuồng hoại (10kg/10m 2 /líp), super Lân (300-500 gr/10m 2 /líp) Có thể thay thế super Lân bằng DAP hoặc N-P-K với liều lượng từ 150- 200gr/10m 2 /líp.

Phân bón lót cần được nghiền mịn và rải đều lên bề mặt líp Sau đó, sử dụng cuốc để xới và trộn đều phân lót cùng với thuốc sát trùng vào lớp đất sâu khoảng 5-7cm Đảm bảo mặt líp phẳng, tơi xốp và không có cỏ dại.

Sau khi thu hoạch hạt, cần gieo ngay để đảm bảo chất lượng Nếu chưa gieo, hạt phải được bảo quản trong cát ẩm với tỉ lệ 2 phần cát và 1 phần hạt, để nơi thoáng mát và thường xuyên đảo hạt ít nhất 3 lần/ngày, đồng thời giữ ẩm cho cát Phương pháp bảo quản này chỉ hiệu quả trong khoảng 7-10 ngày; nếu quá thời gian này, tỉ lệ nảy mầm sẽ giảm.

Trước khi gieo, cần xử lý hạt giống bằng cách ngâm trong dung dịch thuốc tím 0,1% trong 3-4 giờ Sau đó, rửa sạch hạt giống và loại bỏ những hạt lép, hạt thối trước khi tiến hành gieo.

Rải hạt đều trên mặt líp, hạt cách hạt khoảng 2cm (mật độ 200-250gr hạt/m 2 ) Sau khi gieo rải một lớp cát dày 1cm để lấp hạt.

Trung bình 1kg hạt gieo được 4.500 - 6.000 cây con.

2.2.1.5 Làm giàn che cây con:

Mái che cho vườn ươm cây con có thể được làm từ các vật liệu địa phương như rơm rạ hoặc lá dừa, với yêu cầu độ che phủ từ 60 đến 70% Việc điều chỉnh ánh sáng khi cần thiết cũng rất quan trọng để đảm bảo sự phát triển tối ưu cho cây con.

2.2.1.6 Tưới nước giữ ẩm sau gieo:

Luôn luôn giữ ẩm cho mặt líp để hạt nảy mầm và cây con phát triển tốt trong suốt giai đoạn vườn ươm.

Khoảng 15 ngày sau gieo hạt bắt đầu nảy mầm Sau gieo khoảng 30 – 40 ngày, cây con cao 6 – 8 cm có 2 – 4 lá là nhổ cây cấy vào bầu.

Để làm bầu đất cho cây con, nên sử dụng bao nylon có kích cỡ tối thiểu 9cm x 14cm và cần đục lỗ để thoát nước Việc chọn vỏ bầu quá nhỏ có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự sinh trưởng và phát triển của cây con, trong khi vỏ bầu quá lớn sẽ làm tăng chi phí và gây khó khăn trong quá trình vận chuyển.

2.2.2.2 Xử lý đất vô bầu (Ruột bầu):

Để làm đất bầu cho cây con, nên chọn những nơi có lớp đất mặt tơi xốp và giàu dinh dưỡng Trước tiên, cần xới xáo đất cho thật tơi, sau đó trộn đều 10-14% phân chuồng hoai, 1% super Lân và thuốc sát trùng như dung dịch bordeaux 1% hoặc CuSO4 0.5% Việc trộn đều phân bón vào đất bầu là rất quan trọng Ngoài ra, một số nơi còn sử dụng hỗn hợp tro trấu với xơ dừa để tạo đất bầu.

Luống bầu được thiết kế giống như líp ươm với chiều cao khoảng 15-20cm, rộng 1m và dài 10m Khoảng cách giữa các luống là 45-50cm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc cây Bề mặt líp được trải PE và lấp một lớp đất dày 1-3cm nhằm ngăn rễ cây con phát triển sâu vào đất, giúp bảo vệ rễ khi di dời hoặc vận chuyển bầu ra trồng.

- Lượng đất vô bầu vừa phải không nên nén chặt.

- Bầu đất phải được đặt ngay ngắn theo từng hàng.

- Khoảng cách giữa các bầu tối thiểu 1cm.

- Xung quanh vườn bầu phải vét các mương thoát nước.

Giàn che vườn bầu cần đảm bảo độ che phủ từ 50-60% và có khả năng điều chỉnh ánh sáng khi cần thiết Sau 8 tuần từ khi cấy bầu, cần gỡ dần giàn che để huấn luyện cây con phát triển tốt.

2.2.2.4 Cấy cây con vào bầu:

Trước khi tiến hành cấy, cần tưới nước cho bầu đất để đảm bảo độ ẩm đầy đủ Cây con nên được đặt ở giữa bầu đất, với thân cây thẳng và rễ tiếp xúc tốt với đất Lưu ý không cấy cây quá sâu hoặc quá cạn để đảm bảo sự phát triển tốt nhất.

Hình 2.7: Cây Dó bầu trong vườn ươm

Để duy trì độ ẩm cho vườn bầu, cần thường xuyên kiểm tra và tưới nước Lượng nước tưới nên được điều chỉnh phù hợp với điều kiện thời tiết và độ tuổi của cây con.

2.2.2.6 Làm cỏ và bón thúc:

Kết hợp nhổ cỏ, phá váng và bón phân cho cây con là rất quan trọng Sử dụng phân bón thúc như DAP hoặc NPK với liều lượng 1kg cho 200 lít nước (0.5%) và tưới đều lên luống bầu, với tỷ lệ 50 gram cho 10 lít nước trên 10 mét vuông.

2.2.2.7 Đảo bầu và thay bầu:

Trong giai đoạn cây con, thời gian ở trong bầu khá lâu, thường từ 6 tháng trở lên Nếu kích cỡ bầu đất quá nhỏ và không đủ dinh dưỡng cho sự phát triển của cây ở giai đoạn tiếp theo, việc chuyển cây sang bầu lớn hơn là cần thiết.

TÌNH HÌNH TRỒNG VÀ PHÁT TRIỂN TRONG NƯỚC

Chất lượng Trầm hương Việt Nam đã từ lâu được công nhận trên toàn cầu, được hình thành từ thân gỗ của cây Dó bầu (Aquilaria Crassna Pierre).

Trầm hương, một sản phẩm quý giá chỉ có ở Việt Nam và Campuchia, đang được thị trường quốc tế ưa chuộng và mua với giá cao Tuy nhiên, nguồn khai thác Trầm hương tự nhiên đang ngày càng cạn kiệt, tạo ra áp lực lớn cho ngành sản xuất này.

Kỹ thuật cấy tạo Trầm nhân tạo hiện nay đã trở nên phổ biến, mang lại chất lượng tương đương với Trầm tự nhiên nhưng thời gian sản xuất nhanh hơn Cây Dó bầu chỉ cần 6-7 năm trồng để bắt đầu cấy tạo Trầm, và sau 24-36 tháng từ khi cấy hóa chất, có thể tiến hành khai thác Trầm.

Mặt khác, điều kiện tự nhiên của Việt Nam rất thích hợp để cây Dó bầu sinh trưởng và phát triển.

Những nguyên nhân trên đã làm động lực thúc đẩy cho sự phát triển vườn Dó bầu ở Việt Nam.

Hiện nay, nhiều nông dân Việt Nam đã đạt được sự giàu có nhờ vào việc trồng và cấy tạo Trầm hương trên cây Dó bầu, với lợi nhuận trung bình từ 50 đến 150 triệu đồng mỗi hectare mỗi năm.

Nhân giống cây Dó bầu để bán đã mang lại lợi nhuận cao cho nhiều nông dân, với giá một cây giống có thể lên tới 25.000 đồng trong một số thời điểm.

Theo số liệu thống kê của “Hội Trầm hương Việt Nam” tính đến cuối năm

Năm 2004, cả nước có khoảng 22 tỉnh trồng cây Dó bầu với tổng diện tích hơn 7000 hecta, trong đó có khoảng 190 hecta có thể khai thác Trầm hương Tại miền Bắc, một số tỉnh như Thái Nguyên và Phú Thọ mới bắt đầu trồng cây Dó bầu vào năm 2004, dẫn đến diện tích trồng còn hạn chế.

Các tỉnh Miền Trung từ Hà Tĩnh đến Khánh Hòa đã trồng hơn 3.240 hecta cây xanh, trong đó Hà Tĩnh dẫn đầu với 840 hecta, tiếp theo là Quảng Bình với 740 hecta, và Quảng Nam với 425 hecta Các tỉnh còn lại cũng góp phần vào diện tích trồng cây này.

Tây Nguyên tổng diện tích trồng khoảng 1.700 hecta bao gồm các tỉnh KonTum (325 hecta), Gia Lai (225 hecta), Đăklăk (615 hecta), ĐăkNông (226 hecta) và Lâm Đồng (265 hecta).

Các tỉnh Miền Đông Nam Bộ trồng khoảng 1.743 hecta bao gồm Đồng Nai

Tại Việt Nam, diện tích trồng cây nông nghiệp đáng chú ý bao gồm Bình Phước với 950 hecta, tiếp theo là Tây Ninh (218 hecta), Bình Dương (230 hecta) và Đồng Bằng Sông Cửu Long với An Giang và Kiên Giang (bao gồm đảo Phú Quốc) tổng cộng khoảng 387 hecta.

Theo ước tính, đến 2010 diện trồng Dó bầu trên cả nước vào khoảng 30.000 hecta, trung bình hàng năm diện tích tăng từ 2.500-4.000 hecta.

TỔNG QUAN VỀ TRẦM HƯƠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP CẤY TẠO TRẦM

ĐẶC TÍNH VÀ CÔNG DỤNG CỦA TRẦM HƯƠNG

3.1.1 TRẦM VÀ SỰ TẠO TRẦM:

Mặc dù số lượng cá thể của các loài Aquilaria spp đã giảm sút và nguồn cung cấp Trầm hương trở nên khan hiếm, nhưng nhu cầu về sản phẩm này trên thị trường toàn cầu lại đang gia tăng mạnh mẽ Hiện nay, các quốc gia tiêu thụ Trầm hương chủ yếu là khu vực Trung Cận Đông và Châu Á, cùng với sự gia tăng tiêu thụ tại Mỹ và Châu Âu.

Theo Vũ Văn Cần và Vũ Văn Dũng (1978), Trầm được phân loại thành hai loại chính: Trầm sinh, lấy từ cây sống, và Trầm rục, lấy từ cây đã chết hoặc cây bị đốn Trầm sinh thường có màu sáng, trong khi Trầm rục có màu cánh dán hoặc đen xỉ, thường được thu hoạch từ gốc hoặc rễ cây Giá trị của Trầm sinh thường cao hơn so với Trầm rục.

Trầm rục từ 2-3 lần và trên mỗi cây có

Trầm có thể thu hoạch được từ 5-10kg

Trầm Ngoài ra phần xung quanh khối

Trầm Kỳ đã có sự biến đổi với sự xuất hiện của các chỉ Trầm, được gọi là Tóc trong tiếng Khmer, mang lại mùi hương thơm khi cháy và được dùng làm Nhang Trầm Theo Phillips (1997), thị trường ghi nhận nhiều dạng Trầm và sản phẩm từ Trầm như Trầm mảnh, Trầm bóng, Trầm vụn, bột Trầm, Trầm bánh và tinh dầu Trầm, được sử dụng làm hương liệu và dược liệu Erhartdt, Lê Công Thuân và Hopwood (1997) đã phân tích Trầm và tinh dầu Trầm bằng phương pháp sắc ký khí kết hợp với khối phổ, phát hiện hai sesquiterpen phổ biến là (+)-Aromadendrene và -Selinene Tuy nhiên, -Selinene không có trong mẫu Trầm chất lượng thấp Guaiene, một sesquiterpene khác, có mặt trong mẫu gỗ Trầm tự nhiên nhưng chỉ có trong tinh dầu, trong khi Guriunene, đồng phân của Aromadendrene, lại phổ biến trong tinh dầu nhưng không có trong mẫu gỗ tự nhiên.

Đến năm 2004, nghiên cứu về sự hình thành Trầm vẫn còn hạn chế, và việc áp dụng kiến thức về cơ chế tạo Trầm để sản xuất bền vững vẫn là thách thức lớn cho các nhà khoa học Mặc dù đã có một số nghiên cứu trên cây Dó bầu non trong môi trường kiểm soát, nhưng chưa có thực nghiệm hoàn chỉnh nào được thực hiện Theo Phạm Hoàng Hộ (1985), Dó bầu có Trầm thực chất là cây Dó bầu bị bệnh, và nguồn gốc của bệnh này chỉ mới được phát hiện trong những năm gần đây Khảo sát của Julaluddin cũng đã chỉ ra những khía cạnh quan trọng liên quan đến vấn đề này.

Năm 1977, nghiên cứu cho thấy vùng Tóc Trầm có sự hiện diện của nấm Cryptosphaeria mangifera Nghiên cứu này được thực hiện bằng cách nhiễm nấm vào những cây Dó bầu khỏe mạnh để xác định loại nấm này.

Sau một thời gian, vùng bị nhiễm sẽ trở nên sẫm màu, hình thành Tóc rõ rệt và phát ra mùi Trầm đặc trưng khi đốt Đây là những tín hiệu ban đầu của quá trình hình thành Trầm, tuy nhiên nghiên cứu hiện tại vẫn còn quá ngắn để xác định giai đoạn Trầm Kỳ Đến nay, đã xác định được nấm Cytosphaera mangiferae có mặt trong Trầm của loài A malaccensis và nấm Melanotus flavolives tồn tại trong khối Trầm từ loài A sinensis.

Trầm có thể xuất hiện trên cây Dó bầu, bất kể kích thước, từ những cây có đường kính 15cm đến những cây lớn lên tới 50-60cm Các nghiên cứu gần đây cho thấy, cây Dó bầu trồng từ 4-5 năm tuổi có khả năng kích thích tạo Trầm Tuy nhiên, Trầm thường xuất hiện nhiều hơn ở những cây Dó bầu lớn và già cỗi Theo kinh nghiệm dân gian, có thể nhận biết cây đã có Trầm thông qua các đặc điểm hình thái và điều kiện môi trường nơi cây sinh trưởng.

Cây đã lớn đường kính trên 20cm.

Thân cành có u bướu, cây nhiều mắt, cây bị bệnh hoặc bị thương.

Lá cằn cỗi, màu xanh vàng.

Vỏ khó bóc hơn những cây bình thường.

Cây mọc trên đất xấu nhiều sỏi đá.

Trầm hương thường xuất hiện chủ yếu ở rễ, gốc và đoạn thân cây, với độ cao trên 60cm hiếm khi có mặt Đặc biệt, phần lớn Trầm hương tập trung quanh gốc và rễ, do đó, khi tìm kiếm, người ta phải đào sâu vào rễ Những người tìm Trầm không lo sợ bị rắn cắn vì họ tin rằng Trầm hương có khả năng xua đuổi rắn Tại Ba Rền (Bình Trị Thiên), đôi khi người dân chặt cành cây để tìm kiếm Trầm hương.

**Thành phần hóa học có trong trầm hương:

Trầm Hương chất lượng cao được chiết xuất từ cây Dó Bầu, có hàm lượng tan trong cồn đạt 40-50% Sau khi trải qua quá trình xà phòng hóa với KOH và chưng cất hơi nước, tinh dầu thu được khoảng 13% Thành phần chính trong tinh dầu bao gồm Benzylacetone (26%), Methoxybenzylacetone (53%) và Terpene alcohol (11%), bên cạnh đó còn có axit cinamic và các dẫn xuất như axit B-fenilacrilic.

Năm 1960, Sadgopal tiến hành nghiên cứu hàm lượng tinh dầu trong các mẫu cây có độ tuổi từ 10 đến 80 năm bằng phương pháp chưng cất hơi nước Kết quả cho thấy hàm lượng tinh dầu thu được dao động từ 0,1% đến 1,2%.

Năm 1963, Maheshwari đã tiến hành nghiên cứu tách phân đoạn tinh dầu Trầm hương ở nhiệt độ thấp, trước đây được chiết xuất bằng dung môi ở nhiệt độ phòng từ các loại gỗ nhiễm nấm ở Ấn Độ Nhóm nghiên cứu đã kết hợp sắc ký khí và sắc ký cột, từ đó tổng hợp thành công ba hợp chất furanosesquiterpen mới thuộc nhóm selinan.

Vào năm 1984, nhóm nghiên cứu của Nakanishi đã so sánh thành phần hóa học của hai loại tinh dầu trầm hương: Aquilaria agallocha Roxb từ Việt Nam và Aquilaria malaccensis từ Indonesia bằng phương pháp GC/MS (Gas Chromatography/ Mass spectrometry), và đã thu được những kết quả đáng chú ý.

Bảng 3.2: Bảng so sánh Trầm hương của nhóm nghiên cứu Nakanishi

Aquilaria agallocha Roxb Aquilaria malaccensis b-Agarofuran 0,6 - a-Agarofuran - 1,3

Vào năm 1993, nhóm nghiên cứu của Ishihara đã tiến hành chưng cất thử một mẫu gỗ Trầm hương lấy từ Ấn Độ và thu được kết quả như sau:

Bảng 3.3 Bảng thành phần hóa học của nhóm nghiên cứu Ishihara

STT Công thức hóa học Thành phần %

10 Acid Guaia-1(10), 11-dien-15-oic acid 1.0

12 Jinko-eremol 00.7 selina-4,11-dien-14-al 0.7

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành so sánh thành phần hóa học của bốn loại tinh dầu được chiết xuất từ bốn loại gỗ Trầm hương khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam Phân tích bằng phổ GC/MS cho thấy tất cả các mẫu tinh dầu đều chứa một lượng lớn sesquiterpen và chromon, như được trình bày trong bảng dưới đây.

Bảng 3.4 Bảng so sánh thành phần hóa học của nhóm nghiên cứu Ishhara từ 4 loại gỗ Trầm tại Việt Nam

STT Hợp chất Thành phần %

I = Kanankoh (Ryoku-yu) ex VietNam (A agallocha)

II = Kanankoh (Cha-yu) ex VietNam (A agallocha)

III = Kanankoh (Murasaki) ex VietNam (A agallocha)

IV = Jinkoh (Bateikei) ex VietNam (A sinensis)

Hàm lượng các chất dễ bay hơi từ mỗi mẫu tinh dầu thu được ở trên là: – mẫu

Hàm lượng các chất không bay hơi, bao gồm các dẫn xuất của chromon, trong các mẫu I, II và III dao động từ 57,3% đến 70,5%, trong khi mẫu IV chỉ đạt khoảng 14,8% Cụ thể, mẫu I chiếm 41%, mẫu II 45%, mẫu III 34% và mẫu IV 2,7%.

Ngoài ra, thành phần chính của các mẫu cây từ I – III còn được chia làm 2 nhóm như sau:

- Thành phần sesquiterpen chính của các mẫu tinh dầu I và II là: guaia-1(10)-dien15- al; guaia-1(10),11-dien-15,2-olide; selina-3,11-dien-9-on; và selina-3,11-dien-9-ol.

- Thành phần sesquiterpen chính của mẫu tinh dầu III là oxo-agarospirol.

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành so sánh thành phần hóa học của các mẫu cây khi bị đốt cháy, bằng cách đốt mẫu I và IV trong hệ thống kính ở nhiệt độ 180–210 o C Hơi khói thu được được chiết xuất bằng diethyl eter và phân tích bằng máy GC/MS, cho kết quả chi tiết về thành phần hóa học.

Bảng 3.5 Bảng so sánh thành phần hóa học khi đốt cháy mẫu I, IV của nhóm nghiên cứu Ishihara

STT Hợp chất Thành phần %

TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ TIÊU THỤ

3.2.1 TÌNH HÌNH KHAI THÁC TRẦM HƯƠNG TRONG TỰ NHIÊN

Trầm hương, Đinh hương, Nhục quế và Dầu thơm đã có mặt trên thị trường từ rất sớm, cùng với muối ăn Trong số đó, Trầm hương được coi là mặt hàng quý giá nhất nhờ vào những công dụng đặc biệt trong đời sống và tín ngưỡng tôn giáo Tại Việt Nam, việc khai thác và sử dụng Trầm hương đã có lịch sử lâu dài, đặc biệt trong thời Bắc thuộc, khi nhà nước phong kiến phương Bắc yêu cầu nhân dân cống nạp các sản vật quý giá, bao gồm cả Trầm hương.

Dưới triều đại nhà Nguyễn, việc khai thác Trầm hương được quản lý nghiêm ngặt bởi nhà nước Các vùng có nguồn Trầm hương được triều đình chỉ định đội ngũ canh gác, đồng thời yêu cầu những người vào rừng khai thác Trầm phải nộp cống nạp cho triều đình.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, chính quyền thực dân đã bãi bỏ quy định buộc dân chúng phải nộp Trầm cho vua quan, nhưng đồng thời lại gia tăng sự kiểm soát đối với việc chặt cây.

Dó bầu để khai thác Trầm.

Sau năm 1975, các khu rừng gỗ quý ở Việt Nam bị tàn phá nặng nề do chiến tranh, dẫn đến sự phát sinh của Trầm Kỳ chất lượng cao từ những cây Dó bầu bị hư hại Chính phủ đã cho phép khai thác và xuất khẩu Trầm hương tại các địa phương như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Đăklăk, Gia Lai, Kontum và đảo Phú Quốc nhằm thu hút ngoại tệ và đáp ứng nhu cầu máy móc thiết bị Mặc dù đã thành lập các đội công nhân chuyên khai thác Trầm hương, nhưng số lượng đội khai thác của nhà nước vẫn còn hạn chế so với nhu cầu thực tế, dẫn đến việc khai thác chủ yếu diễn ra qua các đường dây thương buôn cá thể.

Trầm hương, một nguồn tài nguyên quý giá của Việt Nam, được nhà nước thu mua chủ yếu để phục vụ cho sản xuất dược liệu và xuất khẩu sang các thị trường như Singapore, Hồng Kông, Nhật Bản Tuy nhiên, đến cuối thập niên 1990, nguồn Trầm hương tự nhiên đã gần như cạn kiệt Để bảo vệ tài nguyên quốc gia, Chính phủ Việt Nam đã ban hành lệnh cấm khai thác và mua bán Trầm hương, coi đây là hàng quốc cấm.

Trong tự nhiên, chỉ khoảng 10% cây Dó bầu trưởng thành có đường kính trên 20cm có khả năng tạo ra Trầm hương và Kỳ nam, thường là những cây bị bệnh sau 10-20 năm hoặc lâu hơn Vì vậy, việc tìm kiếm Trầm hương và Kỳ nam từ xưa đến nay luôn là một công việc khó khăn và gian khổ Gần đây, con người đã chủ động trồng cây để tăng cường nguồn cung cấp.

Dó bầu là nguyên liệu quan trọng trong việc khai thác Trầm hương và chưng cất tinh dầu Trầm Nhiều nghiên cứu khoa học đã thành công trong việc phát triển các phương pháp cấy tạo Trầm trên thân gỗ của cây, mở ra cơ hội mới cho ngành công nghiệp này.

Dó bầu từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước và đã mở ra một hướng đi mới cho thị trường Trầm hương trong nước cũng như thế giới.

3.2.2 NHU CẦU VÀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ TRẦM HƯƠNG:

Nhu cầu tiêu thụ Trầm hương và tinh dầu Trầm trên toàn cầu hiện đang rất cao, tuy nhiên, do sự hạn chế về vùng nguyên liệu, lượng cung cấp chỉ đáp ứng khoảng 40% so với nhu cầu thực tế.

Trên toàn cầu, nhu cầu nhập khẩu Trầm hương chủ yếu tập trung ở các quốc gia như Đài Loan, Ả Rập Saudi, Hồng Kông, Ai Cập, Ấn Độ, Nhật Bản, Oman, Trung Quốc và nhiều nước khác Đài Loan dẫn đầu về nhập khẩu Trầm hương, tiếp theo là Ả Rập Saudi và Hồng Kông Từ năm 1993 đến 1998, Đài Loan đã nhập khẩu tổng cộng 4.500 tấn Trầm hương từ nhiều quốc gia, trong đó Indonesia là nguồn cung lớn nhất với 2.829,5 tấn, tiếp theo là Việt Nam với 531,8 tấn.

Trầm hương, một sản vật quý giá của các nước Nam Á, đã trải qua sự suy giảm đáng kể về nguồn nguyên liệu theo thời gian Khoảng 10 năm trước, chỉ còn một số quốc gia như Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Myanmar sản xuất Trầm hương Tuy nhiên, sản lượng Trầm hương hiện nay đã giảm mạnh do nguồn khai thác gần như cạn kiệt.

Hiện nay, chỉ còn một số quốc gia cung cấp trầm hương cho thị trường toàn cầu, và trầm hương Việt Nam được công nhận là có chất lượng tốt nhất Trước năm 1991,

Việt Nam xuất khẩu từ 10 đến 15 triệu USD Trầm hương hàng năm, nhưng chủ yếu dưới dạng thô hoặc sản phẩm đồ gỗ thủ công mỹ nghệ, dẫn đến giá trị xuất khẩu không được cao.

Qua khảo sát thị trường tại TPHCM vào thời điểm 2005, Trầm hương được phân thành 6 loại với giá trung bình như sau:

Bảng 3.7 Bảng giá Trầm hương (2005).

- Tinh dầu Trầm: 10.000 – 14.000 USD/lít

-Kỳ nam (loại đặc biệt): 30.000 – 35.000 USD/kg

*Hiệu quả kinh tế: a.Chi phí đầu tư và lợi nhuận:

Các chi phí cho việc trồng cây Dó Bầu:

- Chuẩn bị mặt bằng, đào hố

- Nước tưới, hệ thống tưới

- Công chăm sóc, dọn cỏ và phí trông coi bảo vệ.

Sau đây là một ví dụ về chi phí đầu tư cho một ha (trồng 1000 cây).

* Chi phí năm đầu tiên.

1 Công phát băng giải phóng mặt bằng

2 Công giăng dây, đào hố(40x40x40m)

3 Cây giống 1000 cây x 6.000 đồng/cây

5 Công dọn cỏ và chăm sóc

6 Hệ thống nước tưới (khoan giếng, ống dẫn, máy bơm)

8 Phân bón lót và bón thúc

- Phân bón lót (5 tấn phân chuồng)

10 Công trông coi bảo vệ

11 Phát băng phòng chống cháy

* Tiền mua chế phẩm tạo Trầm năm thứ 8.

( Đây là ước tính trung bình tùy theo cây lớn nhỏ mà lượng chế phẩm khác nhau)

* Tổng chi phí/1ha (từ khi trồng đến khi thu hoạch)

* Tiền sau khi thu hoạch được.

Giá một cây tính trên 11 năm tuổi sau 3 năm xử lý hóa chất giảm còn 4 triệu đồng, thấp hơn nhiều so với mức giá tối thiểu hiện nay là 7 triệu đồng, tuy nhiên giá có thể thay đổi theo thị trường.

- Trường hợp sau 11 năm chưa muốn khai thác mà để lâu hơn thì lượng Trầm sẽ tăng lên, giá trị cây càng tăng lên rất nhiều

Tiền sau khi thu hoạch – chi phí đầu tư

4 tỉ VNĐ – 378.9 triệu VNĐ = 3.6211 tỉ VNĐ b So sánh hiệu quả kinh tế giữa cây Dó bầu với cây trồng khác:

Bảng 3.8 Bảng so sánh hiệu quả kinh tế

STT Loại cây Chi phí đầu tư

Thời gian thu hoạch(năm)

Lợi nhuận (triệu/ha/năm)

Dó bầu là cây đa dụng, có thể cho những sản phẩm như:

+ Gỗ làm đồ gia dụng, làm bột giấy, bột nhang

Cây Dó bầu chủ yếu sản xuất Trầm hương, phần có giá trị cao nhất Việc trồng cây Dó bầu, tạo ra Trầm hương, chế biến và xuất khẩu mang lại hiệu quả kinh tế rất khả quan.

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TRẦM HƯƠNG

3.3.1 SỰ HÌNH THÀNH TRẦM HƯƠNG TRONG TỰ NHIÊN:

Sự tạo Trầm trong tự nhiên của cây Dó bầu là quá trình biến đổi gỗ do tác động bệnh lý như vết nứt gãy và sự xâm nhập của nấm Theo thời gian, khi cây bị nhiễm bệnh, nó sẽ tích tụ nhựa tại vùng bị tổn thương để tự băng bó, hình thành nên Trầm hương và Kỳ nam như một cơ chế tự đề kháng chống lại bệnh tật.

Trong tự nhiên, không phải cây Dó bầu nào cũng chứa Trầm hương; chỉ những cây bị bệnh mới có Trầm ở phần lõi thân Quan sát qua kính lúp, ta thấy các tế bào gỗ ở phần này thoái hóa, biến dạng và chứa một chất nhựa thơm (tinh dầu), tạo thành những khối không đều với màu sậm gọi là Kỳ nam Xung quanh Kỳ nam, gỗ cũng biến chất ít nhiều, tạo ra Tóc, khi đốt cháy, Tóc tỏa ra mùi thơm và được dùng làm nhang đốt.

Trầm hương được hình thành từ những cây Dó bầu bị bệnh sau 10 – 20 năm hoặc lâu hơn, với dấu hiệu lá vàng và nhỏ dần, thân cây có nhiều u bướu và điểm nâu đỏ Gỗ của cây trở nên bóng như đá sỏi, có nếp nhăn giống cánh chim ưng, tạo nên Trầm hương và Kỳ nam quý giá.

3.3.2 KỸ THUẬT CẤY TẠO TRẦM:

3.3.2.1 Cơ sở lý luận của việc cấy tạo Trầm:

Trầm, bao gồm tinh dầu và gỗ của cây Dó bầu, được hình thành qua quá trình tích lũy tinh dầu trong mô gỗ dưới tác động của yếu tố tự nhiên trong nhiều năm Hiện tượng tụ Trầm là kết quả của tiến trình bệnh lý trong mô gỗ, nơi các tế bào Libe phản ứng với tác nhân bên ngoài để tạo ra hợp chất Sesquiteipones, mang lại mùi đặc trưng cho gỗ Trầm Để cấy tạo Trầm, cần tạo vết thương đặc biệt trên tế bào Libe, có thể thực hiện bằng nhiều biện pháp vật lý, hóa học hoặc sinh học Tuy nhiên, việc sử dụng các tác nhân thông thường không đạt hiệu quả mong muốn mà cần có chất xúc tác và tác nhân sinh học đi kèm.

3.3.2.2.Các phương pháp cấy tạo Trầm.

Mặc dù mỗi người có cách làm riêng, không ai giống ai nhưng nhìn chung việc cấy tạo trầm chỉ dựa trên 3 phương pháp cơ bản sau đây:

Phương pháp vật lý, hay còn gọi là gây vết thương cơ giới, là một kỹ thuật tác động vào thân cây Dó bầu nhằm tạo điều kiện cho quá trình hình thành Trầm Qua các vết thương, vi sinh vật dễ dàng xâm nhập và ký sinh vào cây Mặc dù phương pháp này đơn giản và dễ thực hiện, nhưng tỷ lệ thành công lại khá thấp.

+ Phương pháp hóa học (Xúc tác hóa chất):

Một số hóa chất tiêm vào thân cây qua vết thương có khả năng kích thích sản xuất trầm, mang lại hiệu quả nhanh chóng trong việc tạo ra sản phẩm Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là có thể để lại các hóa chất độc hại như Cl-, SO4 2-, NO2- và PO4 3-, làm giảm chất lượng sản phẩm và không được người tiêu dùng ưa chuộng Để khắc phục, phương pháp sinh học sử dụng men vi sinh là một lựa chọn tiềm năng.

Cây Dó bầu khi bị bệnh do nấm hoặc vi khuẩn sẽ tiết ra nhựa để cô lập vết thương, từ đó hình thành Trầm Phương pháp cấy tạo trầm bằng men vi sinh thực chất là gây bệnh cho cây bằng một loại nấm hoặc vi khuẩn đã được xác định Nghiên cứu về phương pháp này đã cho thấy kết quả khả quan với tỷ lệ thành công cao và không để lại dư lượng độc hại trong sản phẩm.

3.3.2.3 Đặc điểm một số loài nấm có liên quan đến sự tạo Trầm.

Aspergillus spp (Jaladaddin, 1970) có cấu trúc sinh sản đặc trưng với cuống sinh bào tử gọi là túi đỉnh, có hình cầu, hình bầu dục hoặc hình thùy Cuống sinh bào tử phát triển từ tế bào khuẩn ty, với đầu túi đỉnh mọc ra các tế bào hình ống gọi là thể bình, có thể ở dạng đơn hoặc đôi Các bào tử đơn hình cầu được sinh ra liên tiếp từ thể hình và khi chín, chúng sẽ tách rời và phát tán ra môi trường bên ngoài.

Penicillium sp (Jaladaddin, 1970) là loại nấm có bào tử hình cầu hoặc hình trứng, màu sáng hoặc trong suốt Bào tử được nối tiếp nhau và gắn lên cuống sinh bào tử, cuống này có khả năng sinh nhánh từ 1 đến 3 tầng trên thể bình Khi bào tử chín, chúng tách rời và rời khỏi cuống sinh bào tử để phát tán ra môi trường xung quanh.

Botryodiplodia sp (Gidson, 1977) là một loại nấm có bào tử hình trứng, ban đầu trong suốt và không có màu sắc, nhưng khi trưởng thành sẽ chuyển sang màu nâu đen và có vách ngăn Các bào tử này được lưu trữ trong một cấu trúc gọi là Pycnidia.

Pycnidia tập trung tạo với nhau tạo thành những ổ nấm Khi chín thì các Pycnidia vỡ ra cho các bào tử phát tán ra ngoài.

Cladosporium sp (Blanchette, 2002) là loại nấm có bào tử thường biến đổi từ 1 đến 2 tế bào, với hình dạng không ổn định, có thể là hình cầu, hình trứng không đều hoặc hình trái chanh Bào tử của loại nấm này thường được đính lên cây để sinh sản Cladosporium sp thường sống ký sinh và hoại sinh trên thực vật bậc cao.

Diplodia sp (chưa biết tác giả tuy nhiên có nhiều tài liệu nói đến khả năng tạo

Bào tử của nấm này có hình dạng trứng hoặc bầu dục, khi còn non thì trong suốt, nhưng khi chín sẽ chuyển sang màu nâu đen và có vách ngăn Trong giai đoạn chưa chín, bào tử nằm trong Pycnidia, và các Pycnidia này thường mọc đơn lẻ, không tạo thành cụm như một số loại Pycnidia khác.

Botriodiplodia sp Các Pycnidia cũng chứa ít bào tử Khi chín Pycnidia vỡ ra cho bào tử phát tán ra ngoài Bào tử thường ít và đơn độc.

Macrophoma sp (chưa biết tác giả) sinh sản thông qua bào tử đơn, có màu trong suốt tương tự như bào tử của Botriodiplodia còn non Bào tử này được bao bọc bởi cấu trúc gọi là Pycnidia.

Pycnidia cũng mọc đơn lẻ như Diplodia.

Rhizoctonia sp (Gidson, 1977) là loại vi khuẩn không có nhân, có cấu trúc tế bào với vách ngăn giữa các tế bào Bào tử của chúng nhỏ, không nhân, thường có màu tối hoặc đen và có hình dạng không ổn định Những bào tử này được sinh ra từ các khuẩn ty.

Trichoderma sp (Gidson, 1977) là một loại nấm có cuống bào tử trong suốt và phân nhánh, với bào tử hình trứng, một tế bào trong suốt không nhân Loại nấm này thường được nhận diện dễ dàng nhờ vào tốc độ tăng trưởng nhanh và sự xuất hiện của đốm xanh trên cuống bào tử.

THÁCH THỨC & TRIỂN VỌNG

Cây Dó bầu đã được trồng và tạo ra Trầm hương, mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng đây mới chỉ là bước khởi đầu và mang tính tự phát Để phát triển sản xuất trầm hương nhân tạo thành một ngành kinh tế hàng hóa hiệu quả, dựa trên lợi thế tự nhiên của Việt Nam, chúng ta còn phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức trong việc trồng cây Dó, chế biến và xuất khẩu sản phẩm.

Trước hết là ở cấp quốc gia chưa có chiến lược phát triển rõ ràng đối với cây

Cây Dó bầu (Aquilaria crassna) được xác định theo Nghị định số 18/HĐBT ngày 17/01/1992 là một trong những thực vật đặc hữu có giá trị khoa học và kinh tế cao, đang đứng trước nguy cơ diệt chủng do số lượng và trữ lượng hạn chế Chính phủ nghiêm cấm khai thác và sử dụng cây Dó bầu, đồng thời khuyến khích bảo vệ và phát triển nguồn lợi quý hiếm này Tuy nhiên, đến năm 2005, Bộ NN & PTNT mới chính thức đưa cây Dó bầu vào danh mục cây trồng rừng sản xuất tại 6/9 vùng sinh thái lâm nghiệp, trong khi trước đó, vào năm 1998, cây này không có mặt trong danh sách cây trồng chính của dự án trồng mới 5 triệu ha rừng.

Cây Dó bầu đang đối mặt với nhiều khó khăn do thiếu chiến lược và quy hoạch trồng trọt chính thức, dẫn đến việc không có đất trồng phù hợp và nguồn cung cấp tín dụng cần thiết cho sự phát triển của loài cây này.

Một vài số liệu tính toán hết sức thú vị về loài cây này: Nếu có 100 triệu cây

Trồng 100.000 ha cây Dó bầu trưởng thành có thể tạo ra khoảng 10 tỷ USD trong 10 năm, với mỗi cây sản xuất 1 kg trầm hương loại 5, giá bán tối thiểu 100 USD/kg Nếu toàn bộ cây Dó được chế biến thành tinh dầu (50 cây/lít), giá trị có thể đạt 12 tỷ USD Tuy nhiên, để đạt được 10-12 tỷ USD, cần đầu tư ít nhất 60.000 tỷ VNĐ và có đủ diện tích đất, điều này đặt ra một thách thức lớn.

Thách thức trong việc trồng cây Dó và sản xuất Trầm hương bao gồm chu kỳ sản xuất dài khoảng 10 năm và yêu cầu vốn đầu tư lớn hơn 500 triệu đồng/ha Sản phẩm này không phải là mặt hàng thiết yếu, do đó, nếu không có chính sách hỗ trợ từ Nhà nước, đặc biệt là về tín dụng, ngành sản xuất này sẽ khó phát triển nhanh chóng Nếu tình trạng này tiếp tục, Việt Nam sẽ chậm phát triển hơn so với Thái Lan, mặc dù Thái Lan không có lợi thế tự nhiên bằng Việt Nam.

Thách thức lớn nhất trong công nghệ tạo Trầm là thiếu nghiên cứu và thực nghiệm bài bản, dẫn đến sản phẩm chưa đạt chất lượng đồng đều và chưa được chuyển giao rộng rãi Thêm vào đó, thông tin thị trường hiện tại còn thiếu sót và không rõ ràng, chủ yếu dựa vào số liệu thương mại lịch sử Ngoài ra, các vấn đề khác như chất lượng cây giống, chỉ tiêu lâm sinh cho cây Dó bầu, sự tương thích giữa các loại cây trồng, bệnh tật của cây, cũng như việc tạo ra Trầm chất lượng cao và hiểu biết về Kỳ nam, đều đang đặt ra những thách thức cấp bách cần được giải quyết.

Triển vọng của việc trồng cây Dó bầu, tạo Trầm hương, chế biến, xuất khẩu là rất hiện thực và hấp dẫn:

Trồng cây Dó để tạo ra Trầm hương mang lại hiệu quả kinh tế cao, với giá trị 1,5 - 1,8 tỷ đồng cho mỗi ha sau 10 năm, tạo ra lợi nhuận từ 50 - 60% Sản phẩm Trầm hương, đặc biệt là tinh dầu, có thị trường tiềm năng lớn nhờ vào nguồn gốc thảo dược quý hiếm, phục vụ cho ngành hương liệu và mỹ phẩm, đặc biệt là đối tượng phụ nữ thượng lưu Ngoài ra, nhu cầu sử dụng Trầm hương trong các lĩnh vực đông y, dược phẩm, cũng như tín ngưỡng tôn giáo ngày càng gia tăng, tạo ra một thị trường lý tưởng và khả năng thanh toán nhanh cho ngành sản xuất Trầm hương nhân tạo tại Việt Nam.

Sự khan hiếm nguồn cung cấp Trầm hương thiên nhiên đang gia tăng, dẫn đến giá cả có xu hướng tăng cao Điều này tạo cơ hội cho ngành sản xuất Trầm hương nhân tạo phát triển mạnh mẽ, nhất là khi cây Dó bầu, nguồn cung cấp Trầm hương chất lượng, chủ yếu chỉ có ở Việt Nam và một số quốc gia như Campuchia và Lào Với kinh nghiệm trong việc trồng cây Dó bầu, sự sáng tạo và khát khao làm giàu của người Việt, cùng với sự hỗ trợ từ Chính phủ, ngành sản xuất Trầm hương nhân tạo ở Việt Nam đang có nhiều tiềm năng để phát triển.

Sở Khoa học - Công nghệ TP.HCM vừa thông qua đề tài "Nghiên cứu thành phần hóa học và khả năng sử dụng lá cây dó bầu như nguồn nguyên liệu mới để chế biến trà" Đề tài này mở ra triển vọng mới cho việc sử dụng cây Dó bầu trong ngành trà, thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học Nghiên cứu được thực hiện bởi cử nhân Đặng Uy Nhân cùng các cộng sự từ Khoa Hóa học, ĐH Khoa học Tự nhiên TP.HCM.

Trầm hương và Kỳ nam được chiết xuất tinh dầu phục vụ cho ngành công nghiệp hương liệu và y khoa, dẫn đến giá trị cao trên thị trường Tuy nhiên, cây Dó bầu cần từ 5 đến 7 năm để sản sinh Trầm hương, trong khi lá của nó có thể được sử dụng để chế biến trà Tại Đồng Nai và Bình Phước, lá Dó bầu được phơi khô để nấu nước uống, thu hút sự quan tâm từ một số công ty nước ngoài Cử nhân Đặng Uy Nhân cho biết, vào tháng 9/2009, anh sẽ hợp tác với một công ty Đan Mạch để nghiên cứu khả năng sử dụng lá Dó bầu trong sản xuất trà và các tác dụng của nó.

Ngày đăng: 23/01/2022, 12:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2: Bảng so sánh Trầm hương của nhóm nghiên cứu Nakanishi - Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu”
Bảng 3.2 Bảng so sánh Trầm hương của nhóm nghiên cứu Nakanishi (Trang 26)
Bảng 3.3. Bảng thành phần hóa học của nhóm nghiên cứu Ishihara - Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu”
Bảng 3.3. Bảng thành phần hóa học của nhóm nghiên cứu Ishihara (Trang 27)
Bảng 3.4. Bảng so sánh thành phần hóa học của nhóm nghiên cứu Ishhara từ 4 loại gỗ Trầm tại Việt Nam - Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu”
Bảng 3.4. Bảng so sánh thành phần hóa học của nhóm nghiên cứu Ishhara từ 4 loại gỗ Trầm tại Việt Nam (Trang 28)
Bảng 3.5. Bảng so sánh thành phần hóa học khi đốt cháy mẫu I, IV của nhóm nghiên cứu Ishihara - Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu”
Bảng 3.5. Bảng so sánh thành phần hóa học khi đốt cháy mẫu I, IV của nhóm nghiên cứu Ishihara (Trang 29)
Bảng 3.6. Bảng thành phần hóa học tinh dầu một mẫu gỗ tươi của nhóm nghiên cứu Naf - Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu”
Bảng 3.6. Bảng thành phần hóa học tinh dầu một mẫu gỗ tươi của nhóm nghiên cứu Naf (Trang 31)
Bảng 3.7. Bảng giá Trầm hương (2005). - Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu”
Bảng 3.7. Bảng giá Trầm hương (2005) (Trang 37)
Bảng 3.8. Bảng so sánh hiệu quả kinh tế - Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu”
Bảng 3.8. Bảng so sánh hiệu quả kinh tế (Trang 39)
Hình 3.6: Bào tử nấm Aspergillus spp - Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu”
Hình 3.6 Bào tử nấm Aspergillus spp (Trang 43)
Hình 3.7: Bào tử nấm Penicillium sp - Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu”
Hình 3.7 Bào tử nấm Penicillium sp (Trang 43)
Hình 3.8: Bào tử nấm Botryodiplodia sp    Hình 3.9: Bào tử nấm - Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu”
Hình 3.8 Bào tử nấm Botryodiplodia sp Hình 3.9: Bào tử nấm (Trang 44)
Hình 3.10: Bào tử nấm Diplodia sp              Hình 3.11: Bào tử nấm Pycnidia - Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu”
Hình 3.10 Bào tử nấm Diplodia sp Hình 3.11: Bào tử nấm Pycnidia (Trang 44)
Hình 3.12: Bào tử nấm Macrophoma sp   Hình 3.13: Bào tử nấm Rhizotonia sp - Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu”
Hình 3.12 Bào tử nấm Macrophoma sp Hình 3.13: Bào tử nấm Rhizotonia sp (Trang 45)
Hình 3.14: Bào tử nấm Trichoderma sp       Hình 3.10: Bào tử nấm Torula sp - Tiểu luận tốt nghiệp “Phương pháp cấy tạo Trầm trên cây Dó bầu”
Hình 3.14 Bào tử nấm Trichoderma sp Hình 3.10: Bào tử nấm Torula sp (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w