BỐI CẢNH CHUNG CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN
Tình hình quốc tế
Sau Chiến tranh thế giới thứ II, một hệ thống xã hội mới đã hình thành trên vũ đài chính trị quốc tế, với nhiều nước dân chủ nhân dân lựa chọn phát triển theo chủ nghĩa xã hội, lấy Liên Xô làm hình mẫu lớn.
Năm 1949 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc thay đổi cục diện thế giới sau chiến tranh, khi Liên Xô đã phá vỡ độc quyền hạt nhân của Mỹ và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời Sự kiện này đã làm thay đổi cán cân lực lượng toàn cầu, nghiêng hẳn về phía các quốc gia chống chủ nghĩa đế quốc.
Bước vào thập kỷ 50, Liên Xô tiếp tục thực hiện các "Kế hoạch 5 năm" nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội, mặc dù nền kinh tế - xã hội của đất nước này vẫn đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề từ chiến tranh.
Chỉ sau 7 năm từ những tổn thất nặng nề, Liên Xô đã tạo ra "Sự kiện Sputnik", gây bất ngờ cho các thế lực đối địch và đánh dấu sự xuất hiện của khả năng bảo vệ hòa bình thế giới Đồng thời, các nước Đông Âu cũng bắt tay vào công cuộc kiến thiết đất nước với các kế hoạch dài hạn nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội.
21201100 Nhận xét bài làm Điểm
Vào tháng 11 năm 1957 tại Matxcơva, Hội nghị Quốc tế 64 Đảng Cộng sản và Công nhân đã tổng kết kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội và ra tuyên bố hòa bình, củng cố phong trào Cộng sản Quốc tế Thế giới từ cuối thập kỷ 50 đến đầu thập kỷ 60 bước vào thời kỳ phát triển mới, với Liên Xô đóng vai trò quan trọng trong việc kiến thiết và gìn giữ hòa bình Tuy nhiên, châu Âu đã bị chia cắt, đánh dấu sự khởi đầu của cuộc chiến tranh lạnh, và hệ thống xã hội mới ra đời đã bước vào giai đoạn đối đầu với chủ nghĩa đế quốc.
Cũng sau chiến tranh thế giới lần II, phong trào giải phóng dân tộc ở Á - Phi
Mỹ La-tinh đang trải qua một cơn bão cách mạng mạnh mẽ, phá vỡ các mảng thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc Các cuộc đấu tranh vũ trang và lực lượng cách mạng đang chiếm ưu thế, thể hiện xu hướng độc lập, dân chủ, hòa bình và trung lập Đây là những điểm mới quan trọng trong tiến trình phát triển của phong trào.
Sau khi giành được độc lập, nhiều nước thuộc địa đã chọn con đường phi đế quốc, trong đó một số quốc gia như Trung Quốc, Việt Nam và Cuba đã nhanh chóng tiến vào chủ nghĩa xã hội Trung Quốc bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội từ năm 1953, trong khi Việt Nam và Cuba trở thành những biểu tượng trong phong trào giải phóng dân tộc, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội mà không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
Sau khi Chiến tranh thế giới kết thúc và chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt, nhiều quốc gia, cả thắng và bại, đều bị tàn phá nặng nề Tuy nhiên, đế quốc Mỹ lại trở nên giàu có hơn bao giờ hết Là một trong những cường quốc đóng góp quyết định vào thắng lợi của phe Đồng minh, Hoa Kỳ không chỉ trở thành nước mạnh nhất sau chiến tranh mà còn khẳng định vị thế lãnh đạo quốc tế, với mong muốn lan tỏa tự do kiểu Mỹ ra toàn cầu.
Chiến lược toàn cầu của Mỹ thể hiện tham vọng khẳng định sức mạnh của đế quốc Hoa Kỳ trên toàn thế giới Mục tiêu chính trong các kế hoạch chiến lược hiện tại của Mỹ là thiết lập vị thế vững mạnh trên mọi khu vực.
Chiến lược toàn cầu của Mỹ trong việc tiêu diệt chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là tại Liên Xô và các nước Đông Âu, đã tập trung vào việc dập tắt phong trào giải phóng dân tộc ở Á, Phi và Mỹ La-tinh, với Việt Nam và Cuba là những ví dụ điển hình Mỹ đã lôi kéo và khống chế các đồng minh, đặc biệt là ở Tây Âu và Nhật Bản, thông qua ba phương thức chủ yếu: chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang và thực hiện chủ nghĩa thực dân mới Sự đối đầu giữa hai hệ thống thế giới đã tạo ra một cuộc chiến chống lại Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa, trong khi chủ nghĩa thực dân mới được áp dụng để thay thế các phương thức thống trị thuộc địa đã lỗi thời.
Ba trụ cột quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ hiện nay bao gồm viện trợ kinh tế và quân sự, xây dựng hệ thống liên minh phòng thủ, cũng như củng cố lực lượng quân sự mạnh mẽ Đặc biệt, sau kế hoạch Marshall, Mỹ đã đầu tư 50 tỷ đô la vào việc phục hồi các quốc gia.
Trang 10 tư bản, Mỹ tiếp tục đẩy mạnh viện trợ cho các nước, tính bình quân mỗi năm trong thời kỳ 8 năm 1953 - 1960 là 5 tỷ dollar Trong đó số viện trợ quân sự gần 3 tỷ dollar với tỷ lệ theo ưu tiên cho các khu vực là: Tây Âu 54%, Đông Nam Á và Viễn Đông 24,2%, Trung Cận Đông 14,9%, các nơi khác 6%
Mỹ đã hình thành nhiều khối liên minh quân sự song phương và đa phương, bao gồm NATO (1949), SEATO (1954), CENTO (1955) và ANZUS (1951), cùng với các hiệp ước tay đôi với các quốc gia ở Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á Trong giai đoạn 1953 - 1960, mặc dù quân số giảm, Mỹ đã tăng cường các căn cứ quân sự ở nước ngoài, với hơn 2.200 căn cứ trên toàn cầu và 7 hạm đội hoạt động trên các đại dương Ngoài ra, Mỹ cũng triển khai phái đoàn quân sự và cố vấn tại 45 quốc gia, đồng thời phát triển nhiều loại vũ khí mới như máy bay ném bom chiến lược B52, B47, tên lửa vượt đại châu có đầu đạn hạt nhân, tên lửa tầm trung và tàu ngầm nguyên tử trang bị tên lửa hạt nhân chiến thuật.
Hình 1.1 Liên Xô đổ máu, Mỹ hưởng lợi
2 Tình hình Việt Nam Ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ đã triển khai chiến lược toàn cầu từ rất sớm, trong đó Việt Nam là một trong những trọng điểm Việt Nam nằm trong khu vực có tiềm năng lớn về kinh tế vì rất giàu khoáng sản, nguyên nhiên liệu, lại có nguồn nhân lực lao động dồi dào Việt Nam còn có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự cho cả vùng Đông Nam Á Đất liền nối với nhiều quốc gia và đi sâu vào tận miền Trung Á Biển có những đảo và hải cảng không những thuận tiện giao thông, dễ sự dụng tàu thuyền, mà còn có khả năng khống chế cả
Trang 11 vùng rộng lớn Việt Nam lại là tiêu điểm của phong trào giải phóng dân tộc đang sôi sục ở châu Á
Sau Cách Mạng Tháng Tám, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á - đã làm thay đổi cục diện chính trị trên bán đảo Đông Dương, gây bất lợi cho chủ nghĩa đế quốc Mặc dù có sự tập hợp các lực lượng phản cách mạng chống lại cuộc cách mạng, nhưng chúng đã không thành công Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi, giải phóng nửa nước ở miền Bắc và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Việt Nam còn là nơi ấp ủ những mưu toan của Mỹ từ lâu Đầu thập kỷ 50
ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC THỐNG NHẤT TỔ QUỐC GIAI ĐOẠN 1954 ĐẾN 1964
ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC THỐNG NHẤT TỔ QUỐC GIAI ĐOẠN 1965 ĐẾN 1975
Bối cảnh lịch sử
Sau Hiệp định Giơnevơ, cách mạng Việt Nam vừa có những thuận lợi mới, vừa đứng trước nhiều khó khăn, phức tạp
Hệ thống xã hội chủ nghĩa tiếp tục lớn mạnh cả về kinh tế, quân sự, khoa học - kỹ thuật, nhất là của Liên Xô
Phong trào giải phóng dân tộc đang gia tăng mạnh mẽ tại Châu Á, Châu Phi và Mỹ La Tinh, trong khi phong trào hòa bình và dân chủ cũng đang diễn ra sôi nổi ở các quốc gia tư bản Miền Bắc đã hoàn toàn được giải phóng, trở thành căn cứ địa chung cho toàn quốc.
Thế và lực của cách mạng đã lớn mạnh hơn sau chín năm kháng chiến
Có ý chí độc lập thống nhất Tổ quốc của nhân dân từ Bắc chí Nam
1.1.2 Khó khăn Đế quốc Mỹ có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, âm mưu làm bá chủ thế giới với các chiến lược toàn cầu phản cách mạng
Thế giới bước vào thời kỳ chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa
Sự bất đồng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, đặc biệt giữa Liên Xô và Trung Quốc, đã dẫn đến sự chia cắt đất nước ta thành hai miền Miền Bắc đối mặt với tình trạng kinh tế nghèo nàn, trong khi miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới dưới sự kiểm soát của Mỹ, kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta Đảng lãnh đạo hai chiến lược cách mạng khác nhau cho hai miền, đây là đặc điểm nổi bật của cách mạng Việt Nam sau tháng 7/1954 Những đặc điểm và thuận lợi, khó khăn này đã tạo cơ sở cho Đảng phân tích và hoạch định đường lối chiến lược chung cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới.
Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải là một di tích lịch sử đặc biệt, đánh dấu sự chia cắt tạm thời của đất nước Việt Nam thành hai miền Bắc - Nam vào năm 1954, sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, với vĩ tuyến 17 làm ranh giới.
10/10/1954: Miền Bắc giải phóng hoàn toàn
16/05/1955: toàn bộ quân đội viễn chinh rút khỏi miền Bắc Việt Nam
1954 -1956: nhân dân miền Bắc bắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh và cải tạo kinh tế
1957-1960: khôi phục và phát triển kinh tế
❖ Thuận lợi: Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, căn cứ địa vững chắc của cả nước
❖ Khó khăn: Kinh tế miền Bắc nghèo nàn, lạc hậu
Hình 2.2 Miền Bắc hoàn toàn giải phóng
Mỹ đã âm thầm thực hiện chiến lược áp đặt chủ nghĩa thực dân mới tại miền Nam Việt Nam, với mục tiêu biến khu vực này thành một mắt xích quan trọng trong hệ thống thuộc địa của mình.
Tiêu diệt lực lượng Miền Nam, tiến quân ra Bắc
Lập phòng tuyến ngăn chằn CNXH lan xuống vùng Đông Nam Á
Nước ta chia làm 2 miền với 2 chế độ khác nhau nhưng Đảng ta có các chiến lược cho cả hai miền để đi đến thắng lợi
Về chính trị: dựng lên bộ máy chính quyền đứng dầu là Ngô Đình Diệm, hệ thống cố vấn của Mỹ cắn sâu từ trung ương đến cơ sở
Về quân sự: xây dựng lực lượng quân đội Ngụy, do cố vấn Mỹ trực tiếp huấn luyện, trang bị và chỉ huy
Về kinh tế: miền nam thành thị trường tiêu thụ hàng hóa ế thừa của Mỹ
Về văn hóa: văn hóa độc hại
✓ Thuận lợi: Miền nam có hậu phương là miền Bắc XHCN
✓ Khó khăn: Đối mặt với đế quốc Mỹ: tiềm lực kinh tế, quân sự lớn mạnh
Hình 2.3 Phong trào Đồng Khởi (Bến Tre)
2 Quá trình hình thành, nội dung và ý nghĩa của đường lối
2.1 Quá trình hình thành và nội dung đường lối
Vào tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị đã ban hành nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng, chỉ rõ những đặc điểm chủ yếu trong giai đoạn cách mạng Việt Nam chuyển tiếp từ chiến tranh sang hòa bình Nghị quyết nhấn mạnh rằng đất nước tạm thời chia thành hai miền, quá trình phát triển chuyển từ nông thôn vào thành thị và từ tình trạng phân tán sang tập trung.
Vào tháng 7 năm 1954, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 đã phân tích tình hình cách mạng Việt Nam và hoàn toàn nhất trí với đường lối mà Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị đề ra, đó là sử dụng phương pháp thương lượng để khôi phục hòa bình ở Đông Dương Khẩu hiệu của chúng ta lúc bấy giờ là: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ.
Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 và thứ 8 vào năm 1955, Đảng xác định rằng để chống lại đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất và hoàn thành độc lập, điều quan trọng là phải tăng cường miền Bắc Để đạt được điều này, Ban Chấp hành Trung ương nhấn mạnh cần hoàn thành cải cách ruộng đất, phân chia ruộng đất cho nông dân và xóa bỏ chế độ sở hữu của địa chủ Đồng thời, miền Bắc cần tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, kiện toàn lãnh đạo các cấp và củng cố Mặt trận Dân tộc thống nhất.
Hội nghị đề ra kế hoạch 3 năm (1955-1957) với những mục tiêu cụ thể:
Khôi phục kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh là mục tiêu quan trọng, từ đó phát triển sản xuất để giảm bớt khó khăn cho nhân dân Chúng ta phấn đấu phục hồi mức sản xuất đạt được vào năm 1939, năm có sản lượng cao nhất ở Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc.
- Chủ trương khôi phục nông nghiệp là trọng tâm Ban hành nhiều chính sách khuyến nông
Chính phủ đã đề ra chính sách khôi phục tiểu thủ công nghiệp và công thương nghiệp, ban hành nhiều chính sách bảo hộ nhằm phát triển sản xuất cho các xí nghiệp công, tư thương nghiệp phục vụ dân sinh Không vội vàng thủ tiêu công thương nghiệp tư nhân nếu thấy có lợi cho nền kinh tế, đồng thời coi trọng thành phần kinh tế quốc doanh và tạo điều kiện để thành phần này dần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.
Tháng 8/1956 tại nam bộ đồng chí Lê Duẩn đã dự thảo Đường lối cách mạng Việt Nam
Vào tháng 12 năm 1957, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13, đường lối cách mạng được xác định bao gồm hai chiến lược đồng thời: củng cố miền Bắc và tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời tiếp tục đấu tranh cho sự thống nhất đất nước trên cơ sở độc lập và dân chủ, bằng phương pháp hòa bình.
Hội nghị tập trung vào việc cải tạo kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và buôn bán nhỏ, chuyển đổi sở hữu cá thể thành sở hữu tập thể xã hội chủ nghĩa, với hai hình thức là toàn dân và tập thể Mục tiêu chính là phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao đời sống nhân dân và củng cố chế độ dân chủ Đồng thời, xây dựng và củng cố miền Bắc thành một cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.
Vào tháng 1 năm 1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 đã thảo luận về cách mạng miền Nam, quyết định rằng việc giành chính quyền phải thông qua bạo lực cách mạng Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào Đồng khởi bắt đầu từ tỉnh Bến Tre vào tháng 1 năm 1960 và nhanh chóng lan rộng ra toàn miền Nam Đến tháng 12 năm 1960, Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam Việt Nam được thành lập, đánh dấu sự chuyển biến của cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công.
+ Hội nghị xác định tính chất xã hội miền Nam sau 1954 là xã hội thuộc địa kiểu mới và nửa phong kiến
+ Mâu thuẫn cơ bản của xã hội miền Nam là mâu thuẫn giữa nhân dân ta ở miền Nam với đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai của chúng
+ Mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam mà chủ yếu là nông dân với địa chủ phong kiến
Mâu thuẫn chủ yếu ở miền Nam Việt Nam là giữa nhân dân và đế quốc Mỹ xâm lược, cùng với tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, đại diện cho địa chủ phong kiến và tư sản mại bản phản động nhất của Mỹ.
2.3 Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam:
❖ Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
❖ Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam
Các nhiệm vụ chiến lược mặc dù có tính chất khác nhau nhưng vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hướng tới mục tiêu chung là duy trì hòa bình và thực hiện thống nhất.
Trang 18 nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội
Kết quả, ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi, bài học kinh nghiệm
- Tiếp tục phát triển sản xuất, văn hóa, giáo dục chế đọ XHCN bươc đầu hình thành , sx nông nghiệp phát triển, công nghiệp được tăng cường
Miền Bắc đã vượt qua cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ, không chỉ hỗ trợ tích cực cho chiến trường mà còn đóng vai trò quan trọng là căn cứ địa cách mạng cho toàn quốc, đồng thời thực hiện nhiệm vụ hậu phương vững chắc cho miền Nam.
Hình 3.1 Những đoàn xe chi viện từ Miền Bắc cho Miền Nam
- 1954-1960: đánh bại chiến tranh đơn phương của Mỹ - Ngụy- 1961-1965: đánh bại chiến lược "chiến tranh đặc biệt"
- 1965-1968: đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán ở Pari
Giai đoạn 1969-1975 đánh dấu sự thất bại của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", culminated in Đại thắng mùa xuân năm 1975 với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, dẫn đến việc giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam.
Hình 3.2 Chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cổng Dinh Độc Lập
Sau 21 năm kháng chiến chống Mỹ xâm lược và 30 năm chiến tranh cách mạng kể từ năm 1945, cùng với 115 năm chống thực dân phương Tây từ năm 1858, Việt Nam đã giành được độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Thành công này đánh dấu sự hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ trên toàn quốc.
Mở ra một kỷ nguyên hòa bình và thống nhất cho đất nước, cùng nhau phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội, tăng cường sức mạnh và vị thế của cách mạng và dân tộc Việt Nam, đồng thời nâng cao uy tín của Đảng và Nhà nước Việt Nam trên trường quốc tế.
Cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh vì mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ tự do và hoà bình phát triển của nhân dân Thế giới
- Có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng CSVN
- Là cuộc chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh của nhân dân và quân đội cả nước
- Miền Bắc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là một hậu phương lớn, hết lòng chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.