1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TRỐNG RABANA TRONG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI CHĂM Ở AN GIANG - THS. HỒ LƯU PHÚC

213 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trống Rabana Trong Văn Hóa Của Người Chăm Ở An Giang
Tác giả Hồ Lưu Phúc
Người hướng dẫn TS. Phú Văn Hẳn
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn hóa học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 213
Dung lượng 6,25 MB

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (12)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (14)
  • 3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (15)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (19)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu (20)
  • 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn (22)
  • 7. Bố cục và nội dung (23)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (24)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (24)
      • 1.1.1. Tộc người và văn hóa tộc người (24)
      • 1.1.2. Nghệ thuật biểu diễn (27)
      • 1.1.3. Rabana và thuật ngữ liên quan (30)
      • 1.1.4. Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa (39)
      • 1.1.5. Lý thuyết chức năng luận (40)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (42)
      • 1.2.1. Vài nét về đời sống văn hóa của người Chăm ở An Giang (42)
      • 1.2.2. Vài nét về đời sống văn hóa âm nhạc của người Chăm ở An Giang (51)
      • 1.2.3. Nguồn gốc hình thành và phát triển trống Rabana của người Chăm (60)
    • 2.1. Cấu tạo trống Rabana của người Chăm (68)
    • 2.2. Cách làm trống Rabana của người Chăm (70)
    • 2.3. Phân loại và biên chế trống Rabana của người Chăm (87)
    • 2.4. Các chức năng của trống Rabana đối với đời sống người Chăm (91)
    • 2.5. Bảo tồn và phát huy trống cổ Rabana trong cộng đồng Chăm (96)
  • CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN TRỐNG RABANA CỦA NGƯỜI CHĂM (104)
    • 3.1. Không gian và thời gian biểu diễn trống Rabana của người Chăm (104)
    • 3.2. Người biểu diễn và người thưởng thức trống Rabana (111)
    • 3.3. Cách thức diễn tấu trống Rabana (114)
    • 3.4. Cách hình thức biểu diễn trống Rabana (122)
    • 3.5. Bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn trống Rabana của người Chăm (130)
  • KẾT LUẬN (148)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (151)
  • PHỤ LỤC (165)

Nội dung

An Giang là vùng đất sinh sống của bốn tộc người: Việt, Khơ-me, Hoa, Chăm. Trong đó, người Chăm là một trong những tộc người sinh sống lâu đời nơi đây, có đời sống văn hóa vật chất và tinh thần rất phong phú; đặc biệt phải kể đến trống Rabana, một loại nhạc cụ truyền thống được người Chăm sáng tạo và sử dụng trong các hoạt động nghi lễ và lễ hội cộng đồng. Bài viết mong muốn góp phần giới thiệu trống Rabana qua hai phương diện: Thành phần cấu tạo nên trống Rabana được người Chăm sáng tạo từ những chất liệu có sẵn tại địa phương, được chế tác dựa trên những kinh nghiệm lưu truyền qua nhiều thế hệ; Trải qua quá trình định cư sinh sống và giao lưu văn hóa (trong đó có tiếp nhận tôn giáo Islam), người Chăm ở An Giang sử dụng trống Rabana để biểu diễn trong một số nghi lễ, lễ hội mang màu sắc tôn giáo Islam. Ngoài chức năng giáo dục ý thức hệ giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng từ việc biểu diễn trống Rabana, đây còn là hoạt động biểu diễn nhằm nối kết cộng đồng, thể hiện được tài năng sáng tạo và hưởng thụ âm nhạc của người Chăm ở An Giang.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu từ góc độ văn hóa học về nghệ thuật tạo hình trống Rabana và nghệ thuật biểu diễn trống nhạc dân gian, đồng thời làm rõ vị thế của trống Rabana trong đời sống vật chất và tinh thần của người Chăm.

Những đặc điểm văn hóa của cộng đồng Chăm ở An Giang là cơ sở để xác định giá trị cần phát huy của loại hình văn hóa nhạc cụ trống cổ Rabana Cần đề xuất các giải pháp và hướng đi mới nhằm bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn trống Rabana trong bối cảnh hiện nay Điều này không chỉ góp phần bảo tồn di sản văn hóa mà còn phục vụ lợi ích phát triển cộng đồng Chăm, với văn hóa là động lực chính.

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Về nghiên cứu tộc người Chăm:

Người Chăm đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu từ sớm, dẫn đến việc hình thành nhiều công trình nghiên cứu phong phú về tộc người này Một trong những tác phẩm nổi bật là "40 năm nghiên cứu văn hóa Chăm" của nhóm tác giả Phan Quốc Anh và Phú, ghi nhận những đóng góp quan trọng trong việc tìm hiểu và bảo tồn văn hóa của người Chăm.

Văn Hẳn, Bùi Đức Hùng, Võ Công Nguyện đồng chủ biên xuất bản đầu tiên năm

Năm 2015, tác phẩm này được coi là quyển sách chuyên khảo hệ thống nhất về nghiên cứu văn hóa Chăm Qua ba chương chính, sách giới thiệu những nét văn hóa đặc trưng, tín ngưỡng, tập tục hôn nhân, ngôn ngữ và văn học nghệ thuật của người Chăm, giúp người đọc hiểu rõ bản sắc văn hóa của tộc người này Với 40 năm nghiên cứu, các tác giả thể hiện sự am hiểu sâu sắc và gắn bó với văn hóa, con người Chăm.

Công trình "Văn hóa các dân tộc thiểu số tại vùng Tây Nam Bộ" của nhóm tác giả Phú Văn Hẳn và Sơn Minh Thắng là một nghiên cứu quan trọng về đời sống văn hóa của các dân tộc, đặc biệt là đồng bào Chăm ở An Giang Tác phẩm này tổng hợp 30 bài nghiên cứu từ Hội thảo Khoa học Quốc gia, trong đó nổi bật là các nghiên cứu như "Một số vấn đề dân tộc ở Tây Nam Bộ trong phát triển bền vững" của Phú Văn Hẳn, "Văn hóa và sinh kế của người Chăm ở Tây Nam Bộ trong phát triển bền vững" của Ngô Văn Bửu, và "Thực trạng và giải pháp phát triển giáo dục dân tộc Chăm - Islam ở tỉnh An Giang" của Trương Quang Đạt và Nguyễn Ngọc Trường Xuân Những công trình này cung cấp thông tin quý giá cho học viên nghiên cứu đề tài.

Nghiên cứu về người Chăm Nam Bộ, đặc biệt là quá trình di cư từ miền Trung đến An Giang, được thể hiện rõ trong tác phẩm "Người Chàm Hồi giáo 2 miền Tây Nam Phần Việt Nam" (1974) của Nguyễn Văn Luận, với thông tin chi tiết về phong tục, tín ngưỡng và tổ chức xã hội Các nghiên cứu khác như "Người Chăm ở Đồng bằng Sông Cửu Long" (1991) của Phan Văn Dốp và Nguyễn Việt Cường, cùng với "Một số tập tục của người Chăm ở An Giang" (1993) của Lâm Tâm, cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về đời sống tinh thần và văn hóa của người Chăm Ngoài ra, các tác phẩm như "Người Chăm xưa và nay" của Nguyễn Duy Hinh (2010) và "Văn hóa cổ Champa" của Ngô Văn Doanh (2002) tiếp tục làm phong phú thêm hiểu biết về lịch sử và văn hóa của cộng đồng này.

Bernard Lafont (2012) đã nghiên cứu về Vương quốc Champa, bao gồm địa dư, dân cư và lịch sử Công trình của Phan Đăng Nhật và cộng sự (2003) đề cập đến luật tục Chăm và luật tục Raglai, trong khi Inrasara (2017) khám phá hành trình văn hóa Chăm Năm 2020, Trương Văn Món tái bản công trình "Tiếp cận một số vấn đề văn hóa Chăm," trong đó có phần trình bày về nguồn gốc ban đầu của các nhạc cụ Chăm, đặc biệt là trống Chăm, cung cấp thông tin quý giá cho nghiên cứu luận văn.

Về nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc, các nhạc cụ dân tộc của người Chăm:

Công trình nghiên cứu Âm nhạc dân gian Chăm của Đàng Năng Hòa, xuất bản năm 2019, tập trung vào các nghệ thuật biểu diễn, đặc biệt là ca múa nhạc của người Chăm Tác phẩm này điểm qua nhiều loại nhạc cụ và các đặc trưng, công dụng của chúng trong âm nhạc Chăm Qua đó, nghiên cứu khẳng định nghệ thuật biểu diễn, bao gồm âm nhạc Chăm, là một phần quan trọng trong văn hóa và di sản của cộng đồng người Chăm.

Đạo Islam, hay Hồi giáo, đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa và tinh thần của người Chăm, ảnh hưởng sâu sắc đến phong tục và tín ngưỡng của họ Mặc dù trong luận văn này, thuật ngữ "đạo Islam" được thống nhất sử dụng, một số tác giả vẫn giữ nguyên tên gọi "Hồi giáo" để phù hợp với các công trình nghiên cứu trước đó.

Nghiên cứu Âm nhạc Chăm của Văn Thu Bích (2012) chỉ ra rằng âm nhạc đóng vai trò quan trọng trong văn hóa nghi lễ và lễ hội của người Chăm, là yếu tố không thể thiếu để tạo nên không khí thiêng liêng cho các nghi lễ Những nhạc khí không chỉ làm tăng thêm sự trang trọng cho buổi lễ mà còn là cầu nối giữa con người và thần linh Mỗi nhạc khí đều có chức năng riêng, góp phần tạo nên phần hồn cho các nghi lễ thông qua sự kết hợp nhịp nhàng trong âm thanh.

Nghệ sĩ Trần Hồng (2013) đã có những đóng góp đáng kể trong nghiên cứu về Âm nhạc dân tộc Chăm, đặc biệt là sự giao thoa giữa nhạc Chăm và nhạc Việt Công trình của ông được công nhận là nghiêm túc và sâu sắc, tập trung vào các nhạc cụ của tộc người Chăm Qua việc so sánh các nhạc cụ của người Chăm và người Việt, nghiên cứu này làm nổi bật những đặc trưng riêng biệt trong âm nhạc của tộc người Chăm.

Nghiên cứu về nghệ thuật biểu diễn của người Chăm, đặc biệt là công trình của Phú Văn Hẳn (2018b), đã đóng góp quan trọng vào việc hiểu rõ hệ thống nghệ thuật biểu diễn của họ Nghiên cứu này không chỉ làm nổi bật những giá trị văn hóa quý báu cần được bảo tồn mà còn mở ra hướng đi cho các phương án bảo tồn hợp lý Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu khác, như "Âm nhạc cổ truyền của tộc người Chăm" của Bùi Ngọc Phúc (2016), cũng đã khám phá sâu về nghệ thuật, âm nhạc và nhạc cụ dân tộc Chăm.

Kỷ yếu hội thảo khoa học của Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam (2018) tập trung vào đề tài Bảo tồn và phát huy giá trị di sản âm nhạc Chăm Ninh Thuận, cho thấy sự quan tâm ngày càng tăng của các nhà nghiên cứu đối với văn hóa nghệ thuật của người Chăm.

Mặc dù đã có một số nghiên cứu về âm nhạc và nhạc cụ của người Chăm tại Ninh Thuận và Bình Thuận, nhưng các công trình nghiên cứu về âm nhạc, nhạc cụ và nghệ thuật biểu diễn của người Chăm ở Nam Bộ vẫn còn rất hạn chế Do đó, cần thiết phải thực hiện nhiều nghiên cứu sâu hơn để khám phá văn hóa của người Chăm ở khu vực này.

Về các công trình nghiên cứu trống Rabana của người Chăm:

Cho đến nay, tài liệu nghiên cứu về loại trống của người Chăm vẫn còn hạn chế, chủ yếu chỉ có thông tin sơ cấp từ các trang báo Một trong những nguồn đáng chú ý là chương trình Melayu Champa, ghi lại đời sống văn hóa của các cộng đồng người Chăm.

Trống Rabana là nhạc cụ đặc trưng của người Chăm ở An Giang, được gìn giữ và sử dụng trong nhiều hoạt động văn hóa cộng đồng, nghi lễ, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo của người Chăm theo đạo Islam Loại trống này không chỉ thể hiện bản sắc văn hóa độc đáo mà còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng người Chăm.

Vào năm 2020, Võ Văn Thắng và Dương Phương Đông đã công bố bài nghiên cứu “Âm nhạc truyền thống và đương đại của người Chăm ở An Giang” trên Tạp chí Khoa học Quốc tế AUG, cung cấp thông tin quý giá cho việc nghiên cứu âm nhạc Chăm tại An Giang Bài viết giới thiệu về trống Rabana và nghệ thuật biểu diễn của người Chăm, đồng thời sưu tầm và ký âm nhiều bài hát truyền thống, hỗ trợ nghiên cứu sâu hơn cho luận văn của học viên.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Khi thực hiện luận văn, một trong những phương pháp quan trọng là xem văn hóa như một hệ thống lớn, trong đó trống Rabana được coi là một thành tố cấu trúc Đồng thời, trống Rabana cũng hình thành một hệ thống nhỏ hơn, bao gồm nhiều yếu tố cấu thành riêng của nó.

Hoạt động điền dã và khảo sát thực tế là một phần quan trọng trong quá trình nghiên cứu đề tài Các chuyến khảo sát được thực hiện tại các địa phương như làng Chăm Châu Phong, Châu Giang, Vĩnh Trường nhằm tiếp cận và gặp gỡ các chức sắc, nghệ nhân, và đội diễn văn nghệ để thu thập thông tin cần thiết Việc này được tiến hành sau khi có quyết định công nhận đề tài của luận văn.

Phương pháp nghiên cứu định tính sử dụng các kỹ thuật như quan sát, phỏng vấn cá nhân và nhóm để xác định vấn đề nghiên cứu và đưa ra giả thuyết Việc thiết kế bảng hỏi và lập đề cương phỏng vấn sâu giúp nghiên cứu trở nên thuận lợi và chính xác hơn Đặc biệt, phương pháp so sánh văn hóa được áp dụng xuyên suốt nhằm tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa trống Rabana của người Chăm ở An Giang và các loại trống của người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận, cũng như so sánh với trống của các tộc người khác trong khu vực.

Hướng tiếp cận liên ngành là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu văn hóa và con người, giúp kết hợp các lý thuyết và phương pháp của nhiều ngành khoa học khác nhau Đặc biệt, nghiên cứu Trống Rabana trong văn hóa người Chăm ở An Giang cần được xem xét từ nhiều góc độ khoa học để đạt được cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn.

Cuối cùng, việc tiếp cận đề tài từ góc độ nghiên cứu văn hóa học cho thấy rằng các phương pháp nghiên cứu văn hóa đóng vai trò quan trọng, giúp định hướng nghiên cứu một cách chính xác hơn.

Việc tìm hiểu và tổng hợp tư liệu có thể thực hiện qua nhiều hình thức, bắt đầu từ việc tổng hợp các tài liệu văn bản đã được công bố như sách, luận văn, luận án và bài báo khoa học từ các tạp chí uy tín, tạo nền tảng cho nghiên cứu lý luận và thực tiễn Các chuyên khảo về địa lý, dân cư và lịch sử hình thành Nam Bộ, Tây Nam Bộ, đặc biệt là An Giang, rất cần thiết để xác định giới hạn và không gian nghiên cứu Hơn nữa, tư liệu về văn hóa tộc người Chăm, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, nhạc cụ dân tộc và văn hóa dân gian Chăm cũng là nguồn tham khảo quan trọng cho đề tài nghiên cứu.

Việc khảo sát và thực địa tại địa phương giúp học viên tiếp cận thực tế về đề tài nghiên cứu, thông qua việc thu thập thông tin từ khoảng 10 biên bản phỏng vấn sâu Các đối tượng phỏng vấn bao gồm người Chăm có kinh nghiệm chế tác và biểu diễn trống Rabana, các câu lạc bộ văn nghệ Chăm, giáo cả Chăm tại các Thánh đường, và những người tham gia nghi lễ trong cộng đồng Ngoài ra, sự hỗ trợ từ các nhà nghiên cứu văn hóa Chăm, công ty du lịch và bảo tàng ở An Giang cũng cung cấp thông tin cần thiết cho việc thực hiện luận văn.

Trong quá trình thực tế tại địa phương, học viên tham gia các hoạt động ghi âm và ghi hình biểu diễn trống Rabana Họ cũng chụp ảnh các hiện vật trống Rabana được bảo tồn tại các Thánh đường và khu vực nhà riêng của người dân.

Chăm Đây chính là tư liệu cần thiết giúp cho việc nghiên cứu luận văn đảm bảo thông tin được mang tính tính xác thực tốt hơn.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận văn này cung cấp tài liệu quý giá cho nghiên cứu sâu sắc và có hệ thống về nhạc cụ trống Rabana trong văn hóa người Chăm, từ góc nhìn văn hóa học.

Luận văn đánh giá và kết luận về nhận thức và tư duy của đồng bào Chăm ở An Giang về trống Rabana, dựa trên ba phương diện chính: nhận thức, tổ chức và ứng xử Những đánh giá này đóng góp vào sự nghiệp bảo tồn các văn hóa vật thể và phi vật thể của người Chăm nói chung.

Bổ sung kiến thức, phương pháp và lý luận cho nghiên cứu nhạc cụ, âm nhạc dân gian và nghệ thuật biểu diễn của tộc người Chăm là cần thiết để hiểu rõ hơn về văn hóa của họ tại An Giang Việc này không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn nâng cao nhận thức về giá trị nghệ thuật của tộc người Chăm trong bối cảnh văn hóa đa dạng của khu vực.

Luận văn này nghiên cứu hoạt động của trống Rabana trong văn hóa An Giang từ góc độ liên ngành, thông qua khảo sát thực tế để đánh giá thực trạng Nghiên cứu nhằm làm rõ hơn về văn hóa dân gian và vai trò của nhạc cụ Rabana trong cộng đồng người Chăm.

Luận văn này cung cấp cái nhìn sâu sắc về đặc điểm và giá trị của trống Rabana trong đời sống vật chất và tinh thần của người Chăm ở An Giang Bài viết nhấn mạnh những biến đổi trong thực trạng bảo tồn trống Rabana, đồng thời phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của loại nhạc cụ này.

Kết quả nghiên cứu sẽ là tư liệu tham khảo quý giá, hỗ trợ quá trình hoạch định chính sách và tìm kiếm giải pháp hiệu quả cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trống Rabana của người Chăm Điều này không chỉ góp phần vào việc nghiên cứu và phục hồi nhạc cụ Rabana mà còn thúc đẩy sinh hoạt văn hóa, văn nghệ Rabana trong cộng đồng Chăm tại tỉnh An Giang.

Bố cục và nội dung

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn kết cầu thành 3 chương:

Chương 1 của luận văn trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn, bao gồm hai nội dung chính: lý luận về các khái niệm, thuật ngữ và lý thuyết tiếp cận, cùng với phần thực tiễn về đời sống văn hóa của người Chăm ở An Giang Chương này cung cấp cái nhìn tổng quát về âm nhạc dân gian của người Chăm, đặc biệt là văn hóa dân nhạc tại An Giang, nhằm hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu Đồng thời, chương cũng làm rõ nguồn gốc và sự phát triển của trống Rabana trong cộng đồng người Chăm ở An Giang.

Chương 2: Nghệ thuật tạo hình trống Rabana của người Chăm tập trung vào nghiên cứu cấu tạo, phân loại, biên chế và quy trình chế tác trống Rabana, cùng với những chức năng văn hóa mà nó mang lại trong đời sống của người Chăm ở An Giang Chương này cũng phân tích thực trạng của trống Rabana trong cộng đồng Chăm và đề xuất các giải pháp bảo tồn nhằm gìn giữ giá trị văn hóa này.

Chương 3 khám phá nghệ thuật biểu diễn trống Rabana của người Chăm, bao gồm không gian, thời gian và các quy trình nghệ thuật liên quan Những phương thức biểu diễn này không chỉ là nét đặc sắc mà còn định hình phong cách biểu diễn trống Rabana tại An Giang Các đặc điểm văn hóa độc đáo trong phong cách này là cơ sở quan trọng để tìm ra giải pháp tối ưu, góp phần bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn trống Rabana trong cộng đồng người Chăm ở An Giang.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Cơ sở lý luận

1.1.1 Tộc người và văn hóa tộc người

Theo nghiên cứu của Ju.V Bromleju (1993) và V.I Kozlov (1967), tộc người được định nghĩa là etnikos, là một tập hợp những con người có nguồn gốc lịch sử trên một lãnh thổ cụ thể Họ chia sẻ những đặc điểm văn hóa và tâm lý tương đối bền vững, bao gồm ngôn ngữ, và có ý thức về sự thống nhất cũng như sự khác biệt với các tộc người khác, được thể hiện qua cái tên tự gọi (tộc danh) của họ (Nghiêm Văn Thái, 1998, trang 127).

Theo Nghiêm Văn Thái (1998), điều kiện quan trọng trong việc hình thành tộc người không nhất thiết phải bao gồm việc tái sản xuất mọi mặt của nó Ngôn ngữ không đồng nhất với tộc người, và đặc điểm văn hóa chỉ trở thành yếu tố nhận diện khi tộc người đó có ý thức tự nhận thức Ý thức tự giác về tộc người và tên tự gọi, cùng với những mối quan hệ vững chắc giữa các thành viên, là những dấu hiệu quan trọng và cần thiết để xác định bản sắc tộc người.

Nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn định nghĩa rằng tộc người (Ethnie) là một cộng đồng có chung tên gọi, ngôn ngữ và các giá trị văn hóa, tạo thành tính cách tộc người với khát vọng sống chung và lịch sử chung Theo ông, các yếu tố cấu thành tộc người bao gồm tên gọi, ngôn ngữ, lãnh thổ, sinh hoạt kinh tế - văn hóa và ý thức tự giác Những tiêu chí này cũng được sử dụng để xác định các tộc người ở Việt Nam, chủ yếu chịu ảnh hưởng từ các nhà dân tộc học Liên Xô.

Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng nhất trong việc xác định một tộc người, theo nhiều nghiên cứu khác nhau Nó không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là biểu tượng văn hóa, giúp duy trì bản sắc dân tộc Khi ngôn ngữ còn tồn tại, dân tộc và tộc người cũng sẽ được bảo tồn.

Tiếng nói từ tuổi thơ không chỉ gợi nhớ về quá khứ dân tộc mà còn mang ý nghĩa thiêng liêng như lời ru trẻ thơ và tiếng nói của những chiến binh đã hy sinh Ngôn ngữ trở thành biểu tượng đấu tranh cho sự sống còn của một tộc người, đặc biệt trong bối cảnh phải đối diện với chính sách đồng hóa từ những người cầm quyền.

Ý thức tộc người đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự sống còn của một tộc người, bên cạnh các đặc trưng như ngôn ngữ, tên gọi, và sinh hoạt kinh tế - văn hóa Mỗi cá nhân cần nhận thức rõ về cộng đồng của mình, chia sẻ những ý niệm chung về nguồn gốc và tuân thủ phong tục, tập quán của tộc người Điều này không chỉ giúp họ tự hào về nền văn hóa của mình mà còn thúc đẩy ý thức bảo vệ văn hóa đó Theo Ngô Đức Thịnh, tộc người được hình thành từ các yếu tố như ngôn ngữ, văn hóa vật chất và tinh thần, cùng với các sắc thái tâm lý và phong tục, tạo nên sự phân biệt giữa các tộc người khác nhau Văn hóa tộc người chính là nền tảng cho sự phát triển của ý thức tộc người.

Các tác giả có nhiều quan điểm khác nhau về yếu tố quyết định sự hình thành tộc người, nhưng nhìn chung, họ đều đồng thuận rằng các yếu tố như ngôn ngữ, tên gọi, lãnh thổ, sự tác động kinh tế - văn hóa, và ý thức tự giác của tộc người đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình này.

Trong quá trình phát triển của nhân loại, sự hình thành các tộc người phản ánh quy luật chung của lịch sử, bao gồm cả yếu tố chủ quan và khách quan Sự khác biệt trong các quá trình này dẫn đến sự phát triển không đồng đều giữa các tộc người Mỗi dân tộc đều tạo ra những giá trị văn hóa riêng, và sự khác biệt về hoàn cảnh cũng như điều kiện sống giữa các tộc người là nguyên nhân chính gây ra sự phát triển không đồng đều này.

Việc đánh giá một tộc người có văn hóa hay không là không chính xác, vì các giá trị văn hóa góp phần làm phong phú bức tranh văn hóa toàn cầu Văn hóa tộc người bao gồm cả yếu tố vật chất và tinh thần, giúp phân biệt rõ ràng giữa các tộc người Chính văn hóa tộc người đã hình thành và phát triển ý thức tự giác tộc người.

Văn hóa tộc người bao gồm tất cả các khía cạnh trong đời sống của con người, tạo nên sắc thái bản sắc riêng biệt giúp tộc người tồn tại như một thực thể độc lập Bản sắc văn hóa này là tổng thể các tính chất và tính cách được hình thành qua lịch sử, góp phần tạo ra sức mạnh vật chất và tinh thần cho mỗi tộc người trước những thử thách lớn lao Qua tiến trình lịch sử, mỗi tộc người đã xây dựng và củng cố bản sắc văn hóa riêng của mình.

Văn hóa tộc người chủ yếu thể hiện qua văn hóa dân gian, bao gồm các giá trị về ẩm thực, trang phục, kiến trúc, phong tục tập quán, lễ hội, và các hình thức văn hóa truyền khẩu như sử thi, cổ tích, ca dao, tục ngữ Văn hóa tộc người không bị giới hạn bởi biên giới quốc gia, và không nhất thiết mỗi tộc người phải có một nhà nước riêng để tồn tại và phát triển Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đang diễn ra nhanh chóng khiến văn hóa tộc người có nguy cơ mai một, đe dọa bản sắc văn hóa dân tộc Để bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt là các giá trị văn hóa vật thể, cần thực hiện một cuộc kiểm kê và lập kế hoạch lưu giữ hiệu quả.

Trong bài viết “Tổng quan về các dạng thức văn hóa ở Việt Nam” trên tạp chí văn hóa dân gian số 04 năm 2005, Ngô Đức Thịnh nhấn mạnh rằng văn hóa tộc người tại Việt Nam đã hình thành từ thời kỳ hậu kỳ đá mới và vẫn tồn tại bền vững đến ngày nay Việt Nam được ví như một Đông Nam Á thu nhỏ, nơi quy tụ đầy đủ các nhóm ngôn ngữ và tộc người như Nam Á, Nam Đảo, và Hán Tạng Bên cạnh mối quan hệ ngôn ngữ, các tộc người ở Việt Nam còn chia sẻ nhiều đặc trưng văn hóa tương đồng.

Nghiên cứu về người Chăm cho thấy tộc người này có nhiều nét văn hóa tương đồng với các tộc người thuộc nền văn hóa Sa Huỳnh Trong quá trình sinh sống tại Việt Nam, người Chăm đã giao lưu và tiếp biến văn hóa trên nền tảng văn hóa bản địa, từ đó hình thành một nền văn hóa phong phú cả về nội dung lẫn hình thức, tạo nên sắc thái văn hóa Chăm đặc trưng như hiện nay.

Trống Rabana là di sản văn hóa đặc sắc của người Chăm ở An Giang, phản ánh bản sắc văn hóa của họ Việc hiểu và áp dụng khái niệm văn hóa tộc người sẽ hỗ trợ trong việc bảo tồn và phát huy trống Rabana, góp phần phát triển nền văn hóa Việt Nam với sự đa dạng bản sắc các dân tộc Tôn trọng bản sắc văn hóa của người Chăm là điều cần thiết, tránh áp đặt tiêu chí có thể làm mất đi giá trị văn hóa của họ Công tác bảo tồn và phát huy cần hướng tới lợi ích vật chất và tinh thần của cộng đồng người Chăm.

Nghệ thuật biểu diễn dân gian, hay nghệ thuật trình diễn dân gian, là một hình thức văn hóa xã hội diễn ra định kỳ qua các sự kiện như Hội Gióng, Hội Xoan, và Hội chùa Keo, thường quy mô cấp làng xã Ngoài ra, nghệ thuật này cũng xuất hiện không theo thời gian nhất định trong các dịp như xây nhà mới, đám cưới, đám tang, lễ thành niên, và lễ thượng thọ Đây là lối trình diễn tự nhiên, không theo quy tắc cố định, phản ánh nhu cầu sinh hoạt và lao động, như hát trong lúc làm việc hoặc trong thời gian rảnh rỗi.

Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Vài nét về đời sống văn hóa của người Chăm ở An Giang

An Giang, nằm ở đầu nguồn đồng bằng sông Cửu Long, nổi bật với đặc thù nông nghiệp, có sự kết hợp giữa đồng bằng và đồi núi, cùng với gần 100km đường biên giới giáp Campuchia Tỉnh này còn là nơi sinh sống của nhiều dân tộc như Kinh, Chăm, Hoa, Khmer, tạo nên sự đa dạng văn hóa độc đáo và góp phần vào nét chung của văn hóa dân tộc Việt Nam.

Lịch sử hình thành cộng đồng người Chăm ở An Giang vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau và những cứ dẫn không giống nhau Tuy nhiên, dựa trên tài liệu dân tộc học và hiện vật còn lưu giữ, đặc biệt là quyết định xác minh cộng đồng dân tộc của Tổng cục Thống kê Việt Nam ngày 02/03/1979, có thể khẳng định rằng người Chăm ở An Giang có mối liên hệ với người Chăm ở khu vực Nam Trung.

Bộ đều chung một nguồn gốc lịch sử từ lâu đời Kể cả người Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh và Campuchia (Lâm Tâm, 1994)

Người Chăm là tộc người có lịch sử lâu đời trên lãnh thổ Việt Nam, từng là cư dân chủ yếu của vương quốc Champa Với trình độ tổ chức xã hội cao, người Chăm đã tạo nên một nền văn hóa độc đáo và phong phú, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử Việt Nam.

Do nhiều nguyên nhân lịch sử, người Chăm đã di cư từ quê hương đến An Giang và Campuchia, hình thành một cộng đồng xuyên biên giới Sau này, các sự kiện lịch sử đã thúc đẩy người Chăm trở lại An Giang để sinh sống và phát triển.

Do ảnh hưởng lịch sử, người Chăm tại An Giang đã thiết lập mối quan hệ với cộng đồng người theo đạo Islam ở bán đảo Mã Lai, từ đó mở rộng giao lưu với các cộng đồng Islam trong khu vực.

Theo Nguyễn Văn Luận (1974), M Ner trong bài viết về người Hồi giáo ở bán đảo Đông Dương đã chỉ ra rằng người Chàm tại Kampuchea và miền Tây Nam chỉ còn nhớ mơ hồ về quá khứ Họ nhận thức được rằng tổ tiên của mình đã rời khỏi vùng Phan Rang, Phan Rí bằng cả đường thủy lẫn đường bộ, và có thể những người đầu tiên đã dừng chân tại bến Sài Gòn trước khi tiếp tục theo sông Cửu Long đến vùng Kompong Cham.

Trong cộng đồng người Chăm tại An Giang, một bộ phận là người Mã Lai, hình thành từ sự kết hôn giữa đàn ông Mã Lai đến Campuchia làm ăn và phụ nữ Khmer, được gọi là “Javar – Kur” Từ “Java” chỉ những người nói tiếng Mã Lai ở đảo Java và khu vực Đông Nam Á, còn “Kur” dùng để chỉ người Khmer Hậu duệ của họ hiện tập trung tại xóm Châu Giang, thị xã Tân Châu, và một số sống tại Koh Tambong, huyện Châu Phú Như vậy, người Chăm An Giang ngày nay là “cộng đồng dân tộc trong nhiều nguồn gốc khác nhau”, chịu ảnh hưởng sâu sắc của người Mã Lai về ngôn ngữ và tín ngưỡng, hơn so với các cộng đồng Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận.

Cộng đồng người Chăm tại An Giang là một trong bốn dân tộc sinh sống ở vùng này và chiếm số lượng đông đảo nhất trong cộng đồng người Chăm ở đồng bằng sông Cửu Long Theo thống kê năm 2001, người Chăm ở An Giang có 2.039 hộ với khoảng 13.060 người (Nguyễn Mạnh Cường, 2010, trang 117) Đến năm 2009, Cục thống kê tỉnh An Giang ghi nhận số hộ người Chăm tăng lên 14.209 người, trong đó có 6.977 nam và 7.232 nữ, chiếm 0,61% tổng dân số tỉnh Tình hình phân bố dân cư của người Chăm tại An Giang thể hiện sự phát triển và gia tăng dân số đáng kể trong những năm qua.

Bảng 1.1: Tên gọi một số làng Chăm ở An Giang

STT Huyện Xã Ấp Tên làng

Quốc Thái Đồng Cô Ky Koh Kaghia

2 Vĩnh Trường Lama Koh Plao Ba

3 Đa Phước Phước Thành Koh Kaboak

4 Nhơn Hội Ka Koi Koh Ghoi

5 Châu Phú Khánh Bình Sa Bâu Prek Sabau

6 Khánh Hòa Khánh An Koh Taboong

7 Tân Châu Châu Phong Châu Giang Mat Chruk

7 Người Mã Lai hay Người Malay (tiếng Mã Lai: Melayu; chữ Jawi: ويلام) là một dân tộc Nam Đảo nói Tiếng

Người Mã Lai chủ yếu sinh sống trên bán đảo Mã Lai và các khu vực ven biển phía đông đảo Sumatra, bao gồm miền cực nam Thái Lan, bờ biển phía nam Myanmar, quốc đảo Singapore, cùng với các khu vực ven biển của đảo Borneo như Brunei, Tây Kalimantan, Sarawak và Sabah Tập hợp các khu vực này tạo thành Alam Melayu (Thế giới Mã Lai), với các khu cư trú chính của người Mã Lai hiện nay nằm trong lãnh thổ của nhiều quốc gia như Malaysia, miền Tây Indonesia, Singapore, Brunei, miền cực Nam Myanmar và miền Nam Thái Lan.

Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_M%C3%A3_Lai

Hoạt động kinh tế của người Chăm ở An Giang bao gồm sự kết hợp hài hòa giữa buôn bán, dệt thủ công, đánh bắt cá và sản xuất nông nghiệp.

Trước khi đất nước thống nhất, khoảng 60-70% hộ người Chăm tham gia vào hoạt động buôn bán, chủ yếu thông qua việc trao đổi hàng hóa giữa các địa phương mà không mở cửa hiệu tại nơi cư trú Trước năm 1945, họ thường sử dụng thuyền để vận chuyển hàng hóa giữa Việt Nam và Campuchia Tuy nhiên, từ sau năm 1954, sự cạnh tranh với người Hoa và người Việt khiến nhiều người Chăm rơi vào tình trạng phá sản, chuyển sang buôn bán lẻ hoặc trở thành người buôn bán dạo các mặt hàng tiêu dùng Gần đây, hoạt động buôn bán của người Chăm đã giảm bớt việc di chuyển xa, nhờ vào sự thuận tiện trong vận chuyển hàng hóa từ đô thị về nông thôn và sự phổ biến của các cửa hàng tạp hóa tại khu vực nông thôn.

Nghề dệt thủ công của người Chăm là một trong những nghề truyền thống nổi bật, được yêu thích nhờ chất lượng cao, kỹ thuật nhuộm tinh xảo và hoa văn đặc sắc Tại An Giang, nhiều khu vực như ấp Phum Soài, xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, xã Đa Phước huyện An Phú, và xã Khánh Hòa, huyện Châu Phú chuyên sản xuất vải dệt Sản phẩm đa dạng phục vụ nhu cầu hàng ngày như khăn choàng tắm và xà rông nam giới, đến các mặt hàng thổ cẩm cao cấp như quần áo, túi xách và bóp Đặc biệt, làng dệt Chăm Châu Phong nổi bật với những tấm thổ cẩm đa dạng màu sắc, tạo nên nét đặc trưng riêng cho từng sản phẩm.

Nghề đánh bắt cá của người Chăm ở An Giang trước năm 1975 gắn liền với cuộc sống bên sông Hậu, nơi họ có điều kiện thuận lợi để khai thác các loại cá nước ngọt Họ sử dụng nhiều công cụ đánh bắt như chài, lưới, nôm và câu Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nghề này đã suy giảm do nguồn cá ngày càng ít, khiến ngư dân chỉ còn là một bộ phận nhỏ trong cơ cấu ngành nghề tại An Giang Để thích ứng với tình hình, nhiều người Chăm đã chuyển sang nuôi cá bè và cá basa nhằm bảo vệ nguồn thu nhập.

Sản xuất nông nghiệp - Quá trình cộng cư cùng sinh sống với tộc người

Người Khmer, người Kinh và người Chăm đã kết hợp kỹ thuật nông nghiệp truyền thống với các phương pháp canh tác của các tộc người khác, góp phần cải tạo tự nhiên và biến đất hoang thành ruộng vườn Qua đó, họ đã từng bước biến đổi vùng đất An Giang từ hoang vu thành những cù lao màu mỡ và cánh đồng trĩu nặng phù sa.

Về hoạt động xã hội : Nhiều năm qua, các kết cấu cơ sở hạ tầng của người

Chăm sóc và phát triển hạ tầng nông thôn đã được ưu tiên với sự đầu tư vào cầu, đường, hệ thống giao thông, trường học, trạm y tế, điện lưới quốc gia và cấp nước sinh hoạt Nhiều chương trình hỗ trợ từ Trung ương và tỉnh như chương trình 135, 134, điện nước nông thôn, và các chính sách phát triển nghề thủ công truyền thống, đào tạo nghề, việc làm và xuất khẩu lao động đã được triển khai hiệu quả trong nhiều năm qua.

Cấu tạo trống Rabana của người Chăm

Về cấu tạo trống Rabana, có thể chia trống Rabana ra thành 5 bộ phận cơ bản như sau:

4 Vòng song mây (dawan hawei)

5 Con kê/ Con nêm (baji)

Hình 2.1: Các bộ phận cấu tạo trống Rabana (Hồ Lưu Phúc, 2020)

Mặt trống Rabana thường có hình dạng tròn và kích thước đường kính không cố định, phụ thuộc vào đường kính của mặt trên thành trống Tuy nhiên, kích thước phổ biến của mặt trống hiện nay dao động từ 20 cm đến 40 cm.

Trước đây, người Chăm không chú trọng đến kích thước trống trong quá trình chế tác, nhưng hiện nay, với sự phát triển của công nghệ và việc trống Rabana được biểu diễn rộng rãi, các nghệ nhân đã bắt đầu thiết kế những trống Rabana có kích thước đồng nhất và nhỏ gọn hơn Điều này không chỉ giúp đội trống có sự đồng nhất mà còn nâng cao tính thẩm mỹ khi trình diễn trên sân khấu.

Thành trống Rabana, hay còn gọi là tang trống, có hình dạng trụ tròn với phần bên trong rỗng Hai mặt trên và dưới của thành trống được thiết kế thông suốt, chiều cao dao động từ 7 cm đến 15 cm Đường kính của hai mặt có thể bằng nhau, từ 20 cm đến 30 cm, hoặc mặt trên có đường kính lớn hơn mặt dưới, với kích thước mặt trên từ 20 cm đến 40 cm và mặt dưới từ 20 cm đến 30 cm hoặc 35 cm.

Hình 2.2: Kích thước tiêu chuẩn của thành trống Rabana

Con kê hay con nêm trống Rabana có hình dạng tam giác cân với chiều dài hai cạnh bên khoảng 5 cm và cạnh đáy 2 cm, hoặc có thể là hình hộp chữ nhật với kích thước 2 cm x 4 cm hoặc 2 cm x 5 cm Chức năng của các con kê này là điều chỉnh sự co giãn của mặt trống, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng âm thanh Số lượng con kê sử dụng cho trống Rabana không được quy định cụ thể, mà phụ thuộc vào kích thước trống; trống lớn sẽ cần nhiều con kê hơn so với trống nhỏ.

Vòng song mây và dây mây là hai thành phần quan trọng trong cấu trúc của trống Vòng song mây được đặt ở vị trí phía dưới của thành trống, có đường kính tương đương với mặt dưới của thành trống, giúp nâng cao thành trống lên một mức cao hơn.

Các dây mây được đan vào mặt da trống và kéo căng, kết nối với vòng song mây, giúp mặt da trống căng hơn Ban đầu, vòng này được làm bằng dây mây, nhưng khi nguyên vật liệu mây trở nên khan hiếm, nó đã được thay thế bằng các vòng sắt hoặc chất liệu inox có độ bền cao hơn.

Cách làm trống Rabana của người Chăm

Bước đầu tiên và quan trọng trong quá trình chế tạo trống Rabana là tìm kiếm nguyên vật liệu Việc lựa chọn nguyên liệu chất lượng sẽ quyết định đến độ bền và khả năng bảo quản của trống Các nguyên vật liệu cần thiết bao gồm gỗ, dây mây (hay song mây) và da động vật, như da dê hoặc da bò.

Theo một nghệ nhân làm trống Rabana chia sẻ:

Trước đây, nguyên vật liệu để làm trống tại An Giang rất dễ tìm nhờ vào địa hình nhiều rừng Người Chăm và các thợ mộc thường lấy gỗ từ Campuchia, nơi có nhiều rừng rậm và cây cổ thụ quý giá Việc mua gỗ và vận chuyển qua sông Mê Công bằng bè tre hay thuyền bè cũng thuận tiện hơn so với các khu vực Đông Nam Bộ.

Tây Nguyên trước đây phát triển giao thông đường thủy hơn đường bộ, đặc biệt tại An Giang với địa hình sông nước và kênh rạch phong phú Việc mua gỗ và vận chuyển từ Campuchia về An Giang trở nên thuận lợi nhờ vào điều kiện này Ngoài ra, các nguyên vật liệu như dây mây và da dê, da bò cũng dễ dàng tìm thấy tại địa phương.

Nguyên liệu gỗ được chọn để làm trống rất đa dạng, bao gồm các loại như cà chích, căm xe, thau lau, cây mít, giá tỵ và gỗ lim Mặc dù có giá trị khác nhau, tất cả đều sở hữu vân gỗ đẹp và chứa nhiều chất nhựa đặc biệt, giúp duy trì độ bền và khả năng chống mối mọt, từ đó kéo dài tuổi thọ sản phẩm Các loại gỗ này cũng có độ cứng vượt trội, khó bị biến dạng dưới tác động lớn, đảm bảo sử dụng lâu dài Khi khai thác, những cây gỗ đủ tuổi sẽ không gặp phải các vấn đề như cong vênh, co ngót hay vặn xoắn do sự thay đổi của thời tiết.

Ngày nay, người Chăm chủ yếu sử dụng gỗ cây mít và gỗ cây me để làm trống Rabana do chi phí thấp và chất lượng gỗ bền bỉ Trong khi đó, các loại gỗ khác ngày càng trở nên đắt đỏ và thường được khai thác để sản xuất nội thất, nên ít được người Chăm lựa chọn Sau khi khai thác, gỗ thường được xử lý mối mọt để đảm bảo độ bền.

Các làng nghề mộc truyền thống ở An Giang vẫn duy trì phương pháp ngâm gỗ trong nước để bảo vệ gỗ khỏi mối mọt và tăng độ bền Tuy nhiên, hiện nay, nhiều xưởng mộc đã chuyển sang sử dụng hóa chất chống mối mọt nhằm tiết kiệm thời gian xử lý gỗ, thay vì tiếp tục áp dụng phương pháp ngâm truyền thống.

Nguyên liệu mây, hay còn gọi là song mây, hiện có hơn 600 loài phân bố chủ yếu ở các khu rừng rậm nhiệt đới ẩm từ Bắc vào Nam Với đặc tính dẻo dai, dễ uốn và bề mặt bóng đẹp, song mây trở thành nguồn nguyên liệu quan trọng trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng và kiến trúc Nó được sử dụng để làm rổ rá, dây buộc, bàn, ghế, cầu treo, và nhiều sản phẩm khác, với mọi bộ phận của mây từ trái, thân, lá, đến nhựa đều có công dụng riêng Song mây thường được thu hoạch khi đạt độ tuổi từ 5 đến 7 năm, và cây có thể dài tới 9m, thậm chí lên đến 100m nếu không bị khai thác.

Mây có thể được khai thác hai lần trong năm, đặc biệt ở các khu vực miền Trung và Nam Bộ Thời gian khai thác mây diễn ra từ tháng 1 đến tháng 7 dương lịch.

Từ tháng 10 đến tháng 12, người Chăm tiến hành thu hoạch mây sau thời gian ra hoa và kết quả từ tháng 7 đến tháng 10 Quá trình khai thác bắt đầu bằng việc sử dụng dao để chặt các tay leo và cành lá, sau đó rút cây và tách bẹ lá bằng cách bẻ cong từ gốc lên Ngọn mây non, có chất lượng kém và dễ gãy, sẽ được cắt bỏ Cuối cùng, mây được cuộn lại thành từng bó để dễ dàng vận chuyển ra khỏi rừng.

Vận chuyển mây bằng thuyền bè ở An Giang mang lại nhiều thuận lợi, bởi khi ngâm trong nước, mây tăng độ bền dẻo và giảm hàm lượng đường, giúp chống mối mọt hiệu quả Phương pháp làm mây để buộc hay thắt rất phổ biến, bên cạnh đó, phương pháp hun khói truyền thống của người Chăm cũng được áp dụng, giúp mây khô nhanh và tạo lớp bảo vệ chống nấm mốc Mây được gác lên mái bếp để hun khói mang lại hiệu quả tốt hơn Ngoài ra, việc bảo quản mây bằng nước vôi cũng được thực hiện, tuy nhiên, phương pháp này có hiệu quả không cao khi mây sử dụng ngoài trời Hiện nay, người Chăm còn sử dụng hóa chất chống mối mọt hòa tan trong nước để ngâm mây, nhằm tăng cường khả năng bảo vệ.

Ngày nay, do nguyên vật liệu mây trở nên khan hiếm và nhu cầu vận chuyển xa, người Chăm đã bắt đầu thay thế mây bằng dây cước làm từ nhựa dẻo Dây cước này có độ bền cao và thường được sử dụng để buộc cố định các đồ vật Tuy nhiên, khi làm trống, dây cước lại có nhược điểm là tính co giãn cao, điều này ảnh hưởng đến sự căng giãn của mặt da trống và dẫn đến chất lượng âm thanh không đạt yêu cầu như khi sử dụng dây mây.

Nguyên liệu da để làm trống thường được chọn từ da dê và da bò, trong khi một số nơi còn sử dụng da ếch Mặc dù giá thành của những loại da này thấp, nhưng chất lượng âm thanh của chúng không cao, nên chỉ thích hợp cho các loại trống kích thước vừa và nhỏ Đặc biệt, người Chăm ở An Giang không sử dụng da heo để làm mặt trống do quy định cấm kỵ trong đạo Islam Việc chọn lựa da rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng âm thanh của trống.

Người Chăm xưa thường sử dụng da dê, đặc biệt là từ những con dê ăn cỏ đã già, vì da của chúng rất chắc chắn Tuy nhiên, hiện nay, phần lớn dê được chăn nuôi và cho ăn thức ăn công nghiệp, dẫn đến chất lượng da không còn như trước Ngoài da dê, người Chăm cũng lựa chọn da bò như một nguyên liệu thay thế.

Nghệ nhân Trưởng ban trống cổ Lama, đồng thời là Giáo cả (Hakim) của Thánh đường Khramanlar Rohmah tại ấp Lama, xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, tỉnh An Giang, chia sẻ về vai trò và sự phát triển của nghề làm trống truyền thống.

Sau các ngày lễ quan trọng và Tết Roya của người Chăm An Giang, thịt bò trở thành thực phẩm thiết yếu do người Chăm không ăn thịt heo vì lý do tôn giáo, và thịt trâu ít được tiêu thụ do lo ngại về sức khỏe Thịt bò phải được giết mổ theo nghi thức Halal, nghĩa là phải được đọc kinh Takbia trước khi thực hiện Phần da bò thường bị bỏ đi vì ít được ăn, nhưng có thể được sử dụng làm nguyên liệu chế tạo trống Để lấy da, bò phải từ 4 tuổi trở lên, vì da non dễ bị rách Trong khi đó, người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận lại sử dụng da trâu đực vì độ bền cao hơn, không dùng da bò do bò là vật thiêng trong tín ngưỡng của họ.

Phân loại và biên chế trống Rabana của người Chăm

2.3.1 Phân loại trống Rabana của người Chăm

Hiện nay, nhạc cụ âm nhạc, đặc biệt là nhạc cụ trống của người Chăm, được phân loại theo nhiều cách khác nhau Hai phương pháp phân loại phổ biến nhất hiện nay là dựa trên tiêu chí âm nhạc cổ điển phương Tây và theo phân loại của Hội đồng âm nhạc truyền thống (ITCM).

Theo cách phân loại âm nhạc cổ điển phương Tây:

Nhạc khí đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nét văn hóa âm nhạc độc đáo của mỗi dân tộc Đối với cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận và An Giang, nhạc cụ dân tộc là phần không thể thiếu trong các nghi lễ tôn giáo và sinh hoạt hàng ngày Tuy nhiên, nhạc cụ của người Chăm Islam tại An Giang và Campuchia có những đặc điểm riêng biệt do ảnh hưởng từ mối quan hệ thường xuyên với người Mã Lai, khác biệt so với nhạc cụ của người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận.

Trước đây, các nhà nghiên cứu âm nhạc thường phân loại nhạc cụ truyền thống của các dân tộc Việt Nam theo cách tổ chức của dàn nhạc giao hưởng trong âm nhạc cổ điển phương Tây.

Theo Đàng Năng Hòa (2019, trang 36-37), nhạc cụ truyền thống Việt Nam, đặc biệt là của người Chăm, được phân loại thành ba nhóm chính: bộ dây, bộ hơi và bộ gõ.

Bảng 2.1: Phân loại trống Rabana theo phân loại âm nhạc cổ điển phương Tây

Bộ gõ Bộ hơi Bộ dây

Theo cách phân loại của Hội đồng âm nhạc truyền thống (ITCM):

Trong bối cảnh hiện tại, các nhà nghiên cứu âm nhạc cho rằng phương pháp phân loại nhạc cụ truyền thống không còn phù hợp với thực tiễn âm nhạc Việt Nam (Tô Ngọc Thanh & Hồng Thao, 1986, như trích dẫn ở Đàng Năng Hòa, 2019, trang 36-37) Do đó, các nhạc cụ được phân loại theo tiêu chí của Hội đồng âm nhạc Truyền thống (ITCM) thuộc UNESCO Phương pháp phân loại này được phát triển từ sáng kiến của hai nhà âm nhạc học phương Tây, E.M Hornbostel và C Sachs vào năm 1914, dựa trên hai nguyên tắc cơ bản.

Các nhạc cụ được phân loại thành bốn họ dựa trên nguồn vật chất chuyển động tạo ra âm thanh, bao gồm họ dây, họ hơi, họ màng rung và họ thân tự vang.

- Dựa trên phương pháp kích âm để chia các loại nhạc cụ trong cùng một họ thành các chi

Theo cách phân loại này, các nhạc cụ của người Chăm được phân loại thành các họ và các chi như sau:

Bảng 2.2: Phân loại trống Rabana theo Hội đồng âm nhạc Truyền thống

Họ màng rung Họ dây Họ hơi Họ thân tự vang

Chi màng rung vừa gõ vừa vỗ

Rabana Rabana Kompang Rabana Hadrah Jumak (Trống dẫn)

Nhạc cụ của người Chăm ở An Giang hiện nay chủ yếu còn lại trống, đặc biệt là trống họ màng rung, trong khi các nhạc cụ khác như đàn, kèn và chiêng đã không còn được duy trì Nguyên nhân cho sự biến mất này rất đa dạng Tuy nhiên, trống Rabana vẫn tồn tại và được sử dụng rộng rãi do có giá trị lịch sử lâu đời và thường được nhắc đến trong các tài liệu liên quan đến đạo Islam, đặc biệt trong cộng đồng người Chăm ở An Giang.

2.3.2 Biên chế trống Rabana của người Chăm

Trống Rabana của người Chăm ở An Giang có nguồn gốc tương tự như nhạc cụ của người Mã Lai và bao gồm nhiều biến thể như Rabana Kompang, Rabana Hadrah và trống Jumak Một bộ trống Rabana truyền thống thường có 1 trống Jumak giữ nhịp và nhiều trống Rabana khác, nhưng hiện nay, bộ trống hoàn chỉnh chỉ duy trì trống Rabana và Jumak Điều này tạo nên sự khác biệt rõ rệt trong nhạc cụ của người Chăm ở An Giang so với các vùng như Ninh Thuận, Bình Thuận hay nhạc cụ trống của người Mã Lai.

Bộ trống Rabana của người Chăm có sự linh hoạt về số lượng, không có quy định cụ thể nào về số lượng trống trong một bộ hoàn chỉnh Thông thường, trong các buổi biểu diễn ở An Giang, nghệ sĩ Chăm thường sử dụng 12 trống để tạo sự cân đối cho đội hình, mặc dù số lượng này không mang ý nghĩa tượng trưng Trong khi đó, ở Ninh Thuận và Bình Thuận, bộ ba nhạc cụ trống Baraneng, kèn Saranai và trống Ginang được coi là những phần không thể thiếu trong các nghi lễ, thể hiện sự gắn bó chặt chẽ như các bộ phận của một cơ thể người.

Người Chăm ở An Giang không khuyến khích sử dụng nhạc cụ hiện đại du nhập từ phương Tây, mà thay vào đó, họ giữ gìn những đặc trưng văn hóa riêng biệt gắn liền với tự nhiên và xã hội, đặc biệt là đạo Islam Trống Rabana, một nhạc cụ cổ truyền, hiện vẫn được duy trì và đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động nghi lễ và lễ hội của cộng đồng người Chăm ở An Giang.

Bảng 2.3: So sánh về phân loại và biên chế trống Rabana của người Chăm ở

An Giang và trống Baraneng của người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận Tiêu chí so sánh Trống Rabana Trống Baraneng

- Nhiều biến thể trống Rabana như Rabana Kompang, Jumak (Rabana Darbuka) … Không quy định số lượng cụ thể

- Chỉ có một loại nhạc cụ trống là Baraneng và không có biến thể khác

- Chỉ có trống Một bộ trống tương đối hoàn chỉnh bao gồm: 1 trống Jumak và nhiều trống Rabana khác (thường khoảng 12 trống)

- Bộ ba nhạc cụ kết hợp bao gồm: 1 trống Baraneng, 1 kèn Saranai và 2 trống Ginang

Nhạc cụ âm nhạc, đặc biệt là trống, ở một số quốc gia Đông Nam Á theo đạo Islam, có nhiều điểm tương đồng với nhạc cụ của người Chăm ở An Giang, nhưng lại đa dạng hơn Malaysia và Indonesia nổi bật với sự phong phú và đa dạng của các loại nhạc cụ trống, được chế tác tinh xảo nhờ vào các kỹ thuật hiện đại.

Rabana có nhiều biến thể khác nhau tại Indonesia và Malaysia, bao gồm Rabana Ibu và Rabana Joget ở Medan, Sumatra; Rebana Ubi và Rabana Redap ở Kelantan; Rabana Keras ở Johor; Rabana Hadrah; Rabana Serepak và Rabana Kompang Đặc biệt, Rabana Redap của Malaysia có hình dạng tương tự như Rabana của người Chăm ở An Giang hiện nay Tuy nhiên, sự khác biệt trong phân loại, biên chế và cách sử dụng nhạc cụ trống đã tạo nên những đặc điểm nổi bật trong văn hóa âm nhạc của người Chăm tại An Giang.

Biên chế bộ trống Rabana có sự khác biệt giữa các dân tộc và khu vực, thể hiện qua số lượng Rabana trong cùng một biên chế trống Sự không thống nhất trong biên chế này phản ánh những yếu tố đặc thù và đa dạng trong cách sử dụng nhạc cụ của người Chăm, tạo nên nét văn hóa riêng biệt của tộc người Chăm tại An Giang.

Các chức năng của trống Rabana đối với đời sống người Chăm

Trống Rabana là nhạc cụ tiêu biểu trong văn hóa của người Chăm ở An Giang, có vai trò quan trọng trong các nghi lễ và lễ hội Nhạc cụ này không chỉ là của cải vật chất quý giá mà còn mang đậm bản sắc văn hóa riêng của người Chăm Giá trị văn hóa của trống Rabana không chỉ làm phong phú thêm cho văn hóa cộng đồng người Chăm, mà còn góp phần vào sự đa dạng và quý giá của văn hóa nghệ thuật dân tộc Việt Nam.

2.4.1 Trống Rabana trong các nghi lễ cộng đồng Chăm

Trống Rabana được sử dụng trong các nghi thức Selawat của người Chăm tại các Thánh đường Islam, đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện các bài kinh ca ngợi Thượng Đế Allah và Nabi Mohammed Theo nhà nghiên cứu Berg (2010), các nhạc cụ trống thường đi kèm với lời cầu nguyện, mang ý nghĩa khen ngợi và tưởng nhớ, đặc biệt trong các dịp tưởng niệm Nabi Mohammed.

Nhạc cụ Chăm, theo nghiên cứu của Phú Văn Hẳn, chủ yếu được sáng tạo để phục vụ các nghi lễ tôn giáo, không phải chỉ để giải trí Điều này thể hiện rõ qua âm thanh trống Rabana kết hợp với lời ca tụng, tạo nên không khí trang nghiêm trong các buổi cầu nguyện tại Thánh đường.

Nghiên cứu của Iswanto (2015) trong bài viết “Fungsi Seni Hadrah pada Masyarakat Lampung” chỉ ra rằng các buổi biểu diễn trống Rabana thường diễn ra trong các nghi lễ tôn giáo của đạo Islam, liên quan chặt chẽ đến vòng đời con người Những buổi biểu diễn này thường được tổ chức tại các Thánh đường hoặc trong không gian riêng tư, được coi là một “nghệ thuật thiêng liêng” và là một phần quan trọng của các nghi lễ Hơn nữa, chúng còn đóng vai trò là phương tiện truyền thông hiệu quả để truyền bá đạo Islam (Dakwah).

Trống Rabana đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng người Chăm, được xem như một thông điệp kết nối cuộc sống cá nhân với sinh mệnh cộng đồng thông qua luật tục, tín ngưỡng và nghệ thuật Mỗi lần tiếng trống vang lên, nó nhắc nhở mọi người sống đúng đắn theo giáo điều của Thượng đế Allah và nỗ lực hoàn thiện bản thân, từ đó làm cho bản thân trở nên xứng đáng hơn trong cộng đồng.

Trống Rabana vẫn giữ vai trò quan trọng trong các nghi lễ cưới hỏi của người Chăm, biểu thị niềm vui và hạnh phúc của cộng đồng khi cặp đôi kết đôi Âm thanh của trống không chỉ là sự chúc mừng mà còn là lời ca ngợi Thượng đế, thể hiện cam kết chung thủy giữa cô dâu và chú rể Qua đó, họ hứa hẹn sống tốt đời đẹp đạo, luôn tuân thủ những giá trị tôn thờ của Thượng đế Allah.

Trống Rabana hiện nay vẫn giữ vai trò quan trọng trong các lễ cưới của người Chăm ở An Giang, với âm thanh trống dẫn đầu đoàn rước, tạo không khí nhộn nhịp cho buổi lễ Ngoài ra, tiếng trống Rabana còn mang ý nghĩa linh thiêng, là biểu tượng dẫn lối cho thanh niên Chăm Trong những dịp lễ hội như Tết Roya hay Ramadan, những người Chăm đang sống xa quê thường trở về, tụ hội bên gia đình và cộng đồng, thể hiện sự gắn kết văn hóa và truyền thống.

Tiếng trống Rabana vang lên trong các dịp lễ hội, nhắc nhở người Chăm về nguồn cội và văn hóa truyền thống của mình Âm thanh này không chỉ tạo nên sự gắn kết trong cộng đồng Chăm mà còn là một phần quý giá cần được bảo tồn trong nền văn hóa đa dạng của các dân tộc Việt Nam.

Trống Rabana của người Chăm hiện nay không chỉ đóng vai trò là nhạc cụ tôn giáo mà còn được sử dụng trong âm nhạc nghệ thuật sân khấu Trong các cuộc thi giao lưu văn hóa, trống Rabana thường được các nghệ sĩ dùng để đệm cho các bài thánh ca và bài dân ca Chăm, đồng thời cũng là đạo cụ quan trọng trong các đội múa Chăm.

Trống Rabana đóng vai trò quan trọng trong các nghi lễ và lễ hội của cộng đồng Chăm, được coi là chức năng chính và cơ bản nhất của loại trống này.

2.4.2 Trống Rabana - Sợi dây nối kết cộng đồng

Tiếng trống Rabana trong các nghi lễ và lễ hội không chỉ khơi dậy ký ức văn hóa dân tộc Chăm, mà còn tạo ra những yếu tố mới giúp cộng đồng Chăm phát triển Những ký ức văn hóa, tri thức và kinh nghiệm của tộc người được tái sinh và thăng hoa, làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Chăm.

Tiếng trống Rabana không chỉ là âm thanh, mà còn là biểu tượng gắn kết cộng đồng người Chăm, nhắc nhở họ về bản sắc văn hóa của mình Những nhịp trống mạnh mẽ và đều đặn thể hiện sức mạnh tập thể và sự đoàn kết trong cộng đồng Âm thanh của tiếng trống mang đến cảm xúc hùng hồn, thể hiện tinh thần đấu tranh cho cuộc sống bình yên, nhưng cũng có lúc nhẹ nhàng, phản ánh ước vọng về hạnh phúc giản đơn và cuộc sống an lành.

Chức năng gắn kết cộng đồng của người Chăm không chỉ thể hiện qua sự kết nối với các tộc người xung quanh mà còn qua việc biểu diễn trống Rabana trong các nghi lễ và hoạt động văn hóa Hiện nay, trống Rabana không chỉ được sử dụng trong các nghi lễ truyền thống mà còn trở thành một phần quan trọng trong các chương trình giải trí văn nghệ của cộng đồng Chăm Các tiết mục biểu diễn trống Rabana thường kết hợp với nhiều nhạc cụ khác, chứng minh vai trò quan trọng của nghệ thuật này trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa Chăm tại An Giang.

Người Chăm đang trải qua quá trình hội nhập văn hóa, do đó, việc bảo tồn và phát triển văn hóa nghệ thuật là cần thiết Quy luật phát triển của mọi nền văn hóa cho thấy rằng văn hóa dân tộc không thể tiến bộ nếu tự khép kín Sự giao lưu văn hóa giúp các dân tộc gần nhau hơn và làm nổi bật bản sắc riêng, đặc biệt là nghệ thuật trình diễn dân gian Chăm Trong quá trình hội nhập, cần chú trọng đến việc chọn lọc, tìm kiếm những giá trị tinh túy và phù hợp để phát triển bền vững.

2.4.3 Trống Rabana - Sự sáng tạo và hưởng thụ âm nhạc

Nhà nghiên cứu Malinowski (1922) đã chỉ ra rằng một đồ vật có thể trở nên vô dụng nếu chỉ xét đến bản thân nó, nhưng khi được gán cho một giá trị văn hóa, nó lại mang ý nghĩa và giá trị hoàn toàn khác.

Bảo tồn và phát huy trống cổ Rabana trong cộng đồng Chăm

2.5.1 Thực trạng bảo tồn và phát triển trống Rabana hiện nay trong cộng đồng Chăm

Trống Rabana, một nhạc cụ truyền thống quan trọng trong các nghi lễ và lễ hội của người Chăm ở An Giang, đang đối mặt với nguy cơ mai một Việc đánh giá thực trạng và tìm kiếm giải pháp bảo tồn là cần thiết để gìn giữ và phát triển loại trống này, không chỉ trong cộng đồng người Chăm mà còn góp phần làm phong phú thêm di sản âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Trống cổ Rabana, được chế tác bởi người Chăm, có tuổi đời hàng trăm năm, hiện nay đã gần như biến mất hoặc chỉ còn lại trong tình trạng hư hại nghiêm trọng Theo Trưởng ban trống cổ Lama, nguyên nhân cho sự suy tàn này cần được làm rõ.

Trước đây, các trống thường được đặt tại Thánh đường để anh em Chăm tụ họp và chơi cùng nhau Tuy nhiên, do chiến tranh loạn lạc, nhiều trống đã phải được mang về nhà để bảo quản riêng, dẫn đến tình trạng mất mát hoặc bảo quản không tốt Hệ quả là nhiều trống bị hư hại nặng nề hoặc bị sử dụng sai mục đích.

Một vấn đề đáng lo ngại hiện nay là kỹ thuật chế tác và chỉnh âm trống Rabana của người Chăm đã gần như biến mất Số lượng nghệ nhân biết làm trống ngày càng ít, khiến người Chăm phải phụ thuộc vào công nghệ hỗ trợ từ người Kinh hoặc đặt hàng từ các nghệ nhân ở Ninh Thuận, Bình Thuận Sự thiếu chủ động trong việc chế tác trống dẫn đến chất lượng trống và âm thanh không đạt yêu cầu trong các buổi biểu diễn.

Việc chế tác trống Rabana của người Chăm ở An Giang diễn ra một cách tự phát và nhỏ lẻ, nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng trong cộng đồng Các nghệ sĩ trống không ngừng tìm tòi và học hỏi để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho các nghi lễ và lễ hội Đến nay, chưa có cơ sở làm trống nào do người Chăm quản lý, chuyên biệt cho việc chế tác trống Rabana hay các nhạc cụ khác phục vụ cộng đồng Chăm.

Thiếu hụt dụng cụ, nguyên vật liệu và kỹ năng chế tác trống là những rào cản lớn đối với sự phát triển của loại trống trong cộng đồng người Chăm Việc sản xuất trống mới đã khó, nhưng việc phục hồi các trống cổ truyền hàng trăm năm tuổi còn khó khăn hơn do sự thiếu hụt kiến thức về kỹ thuật chế tác từ cha ông, cùng với việc không có người kế thừa để gìn giữ những kỹ năng quý báu này.

Sự thiếu hụt nhạc cụ trống Rabana trong cộng đồng người Chăm đã dẫn đến khó khăn trong việc biểu diễn và làm giảm sự phổ biến của loại nhạc cụ này Hơn nữa, việc sưu tầm, bảo tồn và trưng bày trống Rabana tại các bảo tàng ở An Giang gặp nhiều thách thức do thiếu hụt hiện vật cổ truyền Trong khi văn hóa Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận có sự đa dạng và phong phú hơn, văn hóa Chăm tại Nam Bộ, đặc biệt là trống Rabana, lại trở nên đơn điệu và kém thu hút, với ít hiện vật trưng bày Đặc biệt, nhiều du khách thường nhầm lẫn hoặc không có đủ thông tin về trống Rabana, làm giảm sự quan tâm đến loại nhạc cụ độc đáo này của người Chăm.

An Giang Nhiều người thường vẫn còn nhầm lẫn loại trống Rabana của người Chăm ở An Giang với trống Baraneng của người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận

Một nghệ sĩ biểu diễn trống Rabana cho biết thêm:

Trước đây, khi tham quan bảo tàng An Giang, một du khách đã góp ý về sự nhầm lẫn trong tên gọi giữa trống Rabana của người Chăm ở An Giang và trống Baraneng của người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận Hai loại trống này thực tế hoàn toàn khác nhau, điều này đã được ghi nhận trong biên bản phỏng vấn số 03, NMS, 1989.

Trong quá khứ, nhạc cụ của người Chăm rất đa dạng với nhiều loại như đàn, kèn, sáo, và trống Tuy nhiên, do quan điểm tôn giáo không phù hợp với đạo Islam, một số nhạc cụ như kèn, sáo, và trống có lục lạc đã bị loại bỏ, chỉ còn lại trống Rabana và trống Jumak được sử dụng trong cộng đồng Việc hạn chế này, mặc dù được cho là phù hợp với tôn giáo, đã làm cho nền văn hóa nghệ thuật của người Chăm trở nên nghèo nàn hơn.

Trống Rabana, một biểu tượng văn hóa của người Chăm, đang dần mất đi vị thế trong cộng đồng do thiếu nhận thức về giá trị văn hóa của nó Nhiều chiếc trống cổ bị hư hại hoặc bị sử dụng sai mục đích, thậm chí bị bán với giá rẻ, dẫn đến việc đánh mất giá trị vốn có Đồng thời, những chiếc trống mới được sản xuất không đạt yêu cầu về kỹ thuật và chất lượng, gây ra tình trạng thiếu hụt trống trong các nghi lễ và lễ hội truyền thống.

Trống Rabana trong cộng đồng Chăm ở An Giang đang dần bị mai một do nhiều nguyên nhân khác nhau Việc đánh giá khách quan tình hình hiện tại là cần thiết để tìm ra các giải pháp phục hồi và phát triển loại trống này, không chỉ cho cộng đồng Chăm mà còn nhằm làm phong phú thêm cho nền âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Hình 2.13: Trống Jumak (trái) và trống Rabana (phải) tại Thánh đường Mubarak, Tân Châu, An Giang) bị hư hại qua thời gian

2.5.2 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy trống Rabana trong cộng đồng Chăm

Thống kê số lượng trống Rabana hiện tại:

Việc kiểm định và thống kê số lượng trống trong cộng đồng Chăm là một nhiệm vụ cần thiết Hiện nay, việc tìm kiếm bộ trống cổ gần như nguyên vẹn trong cộng đồng Chăm gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, vẫn còn nhiều trống đơn lẻ phân bố rải rác ở nhiều nơi trong cộng đồng này.

Hiện nay, bộ trống Rabana đang ngày càng hiếm, nhưng vẫn được bảo tồn tại làng Chăm Châu Giang, cụ thể tại Thánh đường Mubarak và ấp Lama, xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, tỉnh An Giang Tại đây, hai bộ trống Rabana được sử dụng cho các buổi biểu diễn trong cộng đồng và các ngày lễ hội Mặc dù vẫn còn nhiều trống Rabana đơn lẻ trong các gia đình người Chăm, nhưng chúng thường bị hư hại hoặc sử dụng không đúng mục đích.

Việc sưu tầm, thu thập và mua lại các loại trống là cần thiết để bảo tồn văn hóa Sau đó, có nhiều giải pháp phục hồi và giữ gìn nhằm phục vụ cho các nghi lễ, lễ hội, cũng như trưng bày hiện vật tại bảo tàng.

Tuyên truyền ý thức giữ gìn trống trong cộng đồng Chăm:

Việc nâng cao ý thức giữ gìn trống trong cộng đồng người Chăm là rất cần thiết, đặc biệt đối với thanh thiếu niên Nhiều người trong cộng đồng vẫn chưa được trang bị đầy đủ thông tin về giá trị văn hóa của loại trống này Hơn nữa, việc bảo quản trống cổ tại nhà thường không được chú trọng, dẫn đến việc sử dụng sai mục đích và thiếu sự bảo trì, lau chùi, làm cho các loại trống cổ có nguy cơ bị mai một.

Nhà nghiên cứu Phú Văn Hẳn (Viện KHXH vùng Nam Bộ) chia sẻ thêm:

NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN TRỐNG RABANA CỦA NGƯỜI CHĂM

Ngày đăng: 17/01/2022, 13:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.A. Belik. (2000). Văn hóa học: Những lý thuyết nhân học văn hóa. (Đỗ Lai Thúy, Hoàng Vinh, Huyền Giang dịch). Hà Nội: Tạp chí văn hóa nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học: Những lý thuyết nhân học văn hóa
Tác giả: A.A. Belik
Năm: 2000
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (2014). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/06//2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/06//2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2014
3. Ban Chấp hành trung ương Đảng. (2017). Nghị quyết số 08-NQ/TW 16/01/2017 Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW 16/01/2017 Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Tác giả: Ban Chấp hành trung ương Đảng
Năm: 2017
4. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. (2010). Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2010. Hà Nội: Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2010
Tác giả: Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương
Năm: 2010
5. Bế Viết Đẳng. (1984). Các dân tộc ít người ở Việt Nam - Các tỉnh phía Nam. Hà Nội: Viện Dân tộc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ít người ở Việt Nam - Các tỉnh phía Nam
Tác giả: Bế Viết Đẳng
Năm: 1984
6. Bùi Ngọc Phúc (Chủ biên). (2016). Âm nhạc cổ truyền tộc người Chăm. Hà Nội: Mỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm nhạc cổ truyền tộc người Chăm
Tác giả: Bùi Ngọc Phúc (Chủ biên)
Năm: 2016
7. Cao Xuân Phổ. (1983). Những vấn đề lịch sử văn hóa Đông Nam Á: Nghệ thuật Đông Nam Á. Hà Nội: Viện Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lịch sử văn hóa Đông Nam Á: Nghệ thuật Đông Nam Á
Tác giả: Cao Xuân Phổ
Năm: 1983
8. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2006
9. Đàng Năng Hòa. (2007), “Quan hệ Chăm - Việt qua âm nhạc dân gian”, Open University, TCKH 1 (số 11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Chăm - Việt qua âm nhạc dân gian”
Tác giả: Đàng Năng Hòa
Năm: 2007
10. Đàng Năng Hòa. (2019). Âm nhạc dân gian Chăm, Bảo tồn và phát triển. Hà Nội: Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm nhạc dân gian Chăm, Bảo tồn và phát triển
Tác giả: Đàng Năng Hòa
Năm: 2019
11. Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Văn Lệ & Nguyễn Văn Tiệp. (2000). Dân tộc học đại cương. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học đại cương
Tác giả: Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Văn Lệ & Nguyễn Văn Tiệp
Năm: 2000
12. Đặng Nghiêm Vạn. (2009). Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam đa tộc người. Hồ Chí Minh: ĐHQG TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam đa tộc người
Tác giả: Đặng Nghiêm Vạn
Năm: 2009
13. Đăng Văn Lung. (1977). “Ý nghĩa của việc nghiên cứu Diễn xướng dân gian”. Tạp chí văn học số 168, trang 19 -28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa của việc nghiên cứu Diễn xướng dân gian”. "Tạp chí văn học
Tác giả: Đăng Văn Lung
Năm: 1977
14. Đào Duy Anh. (2000). Việt Nam văn hóa sử cương. Hà Nội: Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 2000
15. Đinh Gia Khánh. (1989). Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian. Hồ Chí Minh: KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Năm: 1989
16. Đình Hy. (2001). “Nghệ thuật biểu diễn Chăm, suy nghĩ và kiến nghị”. Diễn đàn văn hóa văn nghệ, 8, trang 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật biểu diễn Chăm, suy nghĩ và kiến nghị”. "Diễn đàn văn hóa văn nghệ, 8
Tác giả: Đình Hy
Năm: 2001
17. Đỗ Minh Hợp & Nguyễn Kim Lai. (2007). Văn hóa học. Hồ Chí Minh: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học
Tác giả: Đỗ Minh Hợp & Nguyễn Kim Lai
Năm: 2007
18. Đoàn Văn Chúc. (1997). Văn hóa học. Hà Nội: Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Năm: 1997
19. Dorohiem & Dohamide. (1965). Dân tộc Chàm lược sử. Sài Gòn: Nhà in Lê- Văn-Phước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Chàm lược sử
Tác giả: Dorohiem & Dohamide
Năm: 1965
99. (Trommel)”. Truy xuất từ: https://de.wikipedia.org/wiki/Tof_(Trommel) lúc 7:37 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w