Một số vấn đề lý luận về thừa kế quyền sử dụng đất
Quyền sử dụng đất và thừa kế quyền sử dụng đất
1.1.1 Quyền sử dụng đất và những đặc thù của quyền sử dụng đất
1.1.1.1 Khái niệm quyền sử dụng đất
Quyền sở hữu bao gồm ba quyền năng: quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng Theo Bộ luật Dân sự năm 2005, quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng và hưởng hoa lợi từ tài sản Quyền sử dụng đất, một phần của quyền sở hữu đất đai, được định nghĩa là quyền khai thác công dụng và lợi tức từ đất Người sử dụng đất có quyền thực hiện quyền này theo ý chí của mình, nhưng phải đảm bảo không gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng và quyền hợp pháp của người khác Giáo trình Luật Đất đai cũng nhấn mạnh rằng quyền sử dụng đất là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Bộ luật Dân sự 2005 quy định cụ thể về căn cứ xác lập quyền sử dụng đất, bao gồm việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất Ngoài ra, quyền sử dụng đất cũng có thể được xác lập thông qua việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ người khác, tuân thủ các quy định của Bộ luật và pháp luật về đất đai.
Quyền sử dụng đất đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, không chỉ thúc đẩy sự phát triển kinh tế quốc gia mà còn mang lại lợi ích vật chất cho người sử dụng đất Việc bảo vệ quyền sử dụng đất thông qua các quy định pháp luật hiện nay là rất cần thiết để đảm bảo sự công bằng và ổn định trong quá trình sử dụng đất.
1 Điều 192 Bộ luật Dân sự năm 2005
2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 92
3 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2005
1.1.1.2.Những đặc thù của quyền sử dụng đất Đất đai nước ta thuộc quyền sở hữu toàn dân, là tài sản của chung một cộng đồng người, không của riêng một cá nhân, tổ chức nào Vì vậy, quyền sử dụng đất là một quyền tài sản đặc thù và tài sản ở đây là đất đai - một loại tài sản đặc biệt Việc quy định quyền sở hữu đối với đất đai là một quyền được Hiến Pháp quy định Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta ra đời khi Hiến pháp năm 1959 được ban hành dựa trên cơ sở lý luận về tính tất yếu khách quan của việc xã hội hóa đất đai 1 và được khẳng định một cách tuyệt đối và duy nhất trong Hiến pháp năm 1980 2 , sau đó được tiếp tục khẳng định và củng cố trong Hiến pháp năm 1992 3 cũng như trong các Luật Đất đai năm 1987, 1993 Hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Đất đai năm
2003 cũng có những quy định cụ thể cho loại tài sản đặc biệt này
Quyền sở hữu toàn dân về đất đai là một quyền thiêng liêng, không thể bị xâm phạm hay chia cắt Mặc dù toàn dân là chủ sở hữu đất đai của quốc gia, quyền sở hữu chung này không thể được phân chia cho từng cá nhân Quyền sử dụng đất được coi là một quyền tài sản đặc biệt với những đặc điểm riêng biệt.
QSDĐ là một hình thức thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai
Khoản 1 Điều 5 LĐĐ 2003 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” Vì Nhà nước là đại diện chủ sở hữu nên Nhà nước được thực hiện các quyền năng của một chủ sở hữu đó là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt
Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý vĩ mô các vấn đề đất đai, với quyền chiếm hữu và định đoạt theo quy định pháp luật Để sử dụng đất hiệu quả và rộng rãi, Nhà nước đã trao quyền sử dụng đất cho người dân Theo Khoản 4 Điều 5 Luật Đất đai 2003, Nhà nước thực hiện việc giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất cho những người đã sử dụng đất ổn định, đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Chức năng quản lý này cũng được quy định trong Hiến pháp năm 1992.
Nhà nước không thể trực tiếp sử dụng đất đai mà phải chuyển giao quyền này cho những người có nhu cầu Người sử dụng đất sẽ thực hiện quyền sử dụng đất của mình theo quy định.
Theo Điều 12 của Hiến pháp năm 1959, tất cả các hầm mỏ, sông ngòi, rừng cây, đất hoang và các tài nguyên khác được pháp luật quy định đều thuộc sở hữu của Nhà nước và là của toàn dân.
Điều 19 Hiến pháp năm 1980 quy định rằng đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, và các tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất cũng như vùng biển và thềm lục địa, cùng với các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và thương nghiệp quốc doanh, đều thuộc sở hữu toàn dân và là tài sản của Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 17 của Hiến pháp năm 1992, đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên dưới lòng đất, lợi ích từ vùng biển, thềm lục địa, vùng trời, cũng như vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư, cùng các tài sản khác theo quy định của pháp luật, đều thuộc sở hữu toàn dân và là tài sản của Nhà nước.
Điều 18 Hiến pháp năm 1992 quy định rằng Nhà nước quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và hiệu quả Quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai được thực hiện thông qua việc Nhà nước đại diện cho người dân, giúp họ thực hiện quyền lợi một cách khoa học và hiệu quả Việc trao quyền sử dụng đất cho người dân không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng đất mà còn mang lại lợi ích cho họ, đồng thời tạo điều kiện cho người dân tham gia vào việc thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai.
QSDĐ là quyền tài sản và mang tính quyền lực
Theo quy định của Bộ luật Dân sự, quyền tài sản là quyền có giá trị bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự Đối với đất đai, một loại tài sản đặc biệt thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, vì vậy cá nhân và tổ chức chỉ được Nhà nước trao quyền sử dụng đất Quyền sử dụng đất, cũng là quyền tài sản, có giá trị tiền tệ và có thể chuyển nhượng qua các hình thức như chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, góp vốn, và bảo lãnh Trong giao dịch dân sự, đất đai có những đặc thù riêng, không phải là hàng hóa bình thường, và việc chuyển nhượng phải tuân theo quy định pháp luật nghiêm ngặt Pháp luật Việt Nam đã ban hành các luật như Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Đất đai để quản lý giao dịch liên quan đến đất Đất đai là hàng hóa có giá trị khi được đầu tư và cải tạo đúng cách, nhưng cũng là hàng hóa có giới hạn, không thể tái tạo, và giá trị quyền sử dụng đất khác nhau tùy thuộc vào vị trí, ví dụ như giữa đất thành phố và đất ngoại ô.
Đất đai là tài sản quý giá, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành lãnh thổ quốc gia và ảnh hưởng đến kinh tế, chính trị cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ Do đó, việc sử dụng đất của người dân phải tuân theo sự quản lý của Nhà nước.
Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để quản lý và điều chỉnh quyền sử dụng đất của người dân thông qua các quy định pháp luật Các quy định này bao gồm căn cứ xác lập quyền sử dụng đất, nguyên tắc thực hiện quyền sử dụng, và việc thống nhất quản lý đất đai Luật Đất đai năm 2003 đã quy định rõ ràng phương thức mà Nhà nước thực hiện sự quản lý này.
Sơ lược quá trình hình thành các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất trong pháp luật Việt Nam
Trong thời kỳ phát triển của Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc, quan hệ tài sản không cho thấy sự sở hữu tư nhân về đất đai; thay vào đó, ruộng đất thuộc quyền sở hữu chung của công xã, với các thành viên chỉ có quyền chiếm hữu và sử dụng Do đó, vấn đề thừa kế quyền sử dụng đất chưa được đặt ra, và chế định về thừa kế cũng chưa tồn tại trong giai đoạn này.
Trong giai đoạn đấu tranh chống đồng hóa của phong kiến Trung Quốc (179 tr.CN – 938), hay còn gọi là thời kỳ Bắc thuộc, đất đai chủ yếu có hai hình thức sở hữu: sở hữu tối cao của Hoàng đế Trung Quốc và sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu tư nhân chủ yếu thuộc về các quan lại, địa chủ người Hán và một số quý tộc người Việt Tài liệu lịch sử không ghi nhận việc mua bán hay chuyển nhượng đất đai tư nhân cho đến triều đại Lý - Trần - Hồ (1010 – 1047), khi chế định thừa kế bắt đầu xuất hiện Các Đạo chiếu và lệnh trong thời kỳ này đã quy định vấn đề sở hữu đất đai, chính thức công nhận sở hữu tư nhân qua các Đạo chiếu từ năm 1135 đến 1320 Tuy nhiên, quyền sở hữu tư nhân bị hạn chế bởi quyền sở hữu của nhà vua, mặc dù đã có những quy định về quyền chiếm hữu và sử dụng Đặc biệt, Đạo chiếu tháng 1/1237 đã đề cập đến việc lập chúc thư và văn khế liên quan đến ruộng đất, cho thấy sự hình thành các quy định pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất trong thời kỳ này.
Trong thời đại phong kiến nhà Lê (1428 – 1527), pháp luật phát triển mạnh mẽ với bộ Quốc triều hình luật nổi bật Bộ luật này đã đưa ra những quy định cụ thể và tiến bộ về thừa kế, bao gồm thừa kế theo di chúc (các Điều 354, 388) và thừa kế theo luật, phản ánh sự tiến bộ trong tư duy pháp lý của thời kỳ này.
Bộ luật quy định rõ ràng quyền thừa kế của con gái ngang bằng con trai, đặc biệt trong các vấn đề liên quan đến sở hữu và ruộng đất Ruộng đất, bao gồm cả ruộng công và ruộng tư, là đối tượng chủ yếu trong các quan hệ sở hữu, hợp đồng và thừa kế Chế độ tư hữu về ruộng đất đang ngày càng phát triển, đồng thời việc bảo vệ quyền tư hữu cũng được luật pháp chú trọng Các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất được thể hiện rõ ràng trong các trường hợp thừa kế giữa vợ chồng, con cái và cả phần ruộng đất làm hương hỏa.
Thời kỳ phong kiến nhà Nguyễn (1802 - 1884) đã ban hành Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ) với những quy định rõ ràng về thừa kế, được ghi tại các Điều 76, 82, 83, 87 cùng các điều lệ bổ sung Điểm nổi bật của Hoàng Việt luật lệ là sự coi trọng vai trò của trưởng nam, trong khi con gái chỉ được thừa kế khi không có con trai Bộ luật này không đề cập đến quyền thừa kế của người vợ, thể hiện sự thụt lùi so với Bộ luật Hồng Đức Sự khác biệt này phản ánh ảnh hưởng của Nho giáo nhà Thanh lên pháp luật nhà Nguyễn Giáo sư Vũ Văn Mẫu đã nhận xét rằng những tiến bộ trong bộ luật triều Lê đã không còn tồn tại trong luật nhà Nguyễn, không còn những điều khoản liên quan đến hương hỏa, chúc thư, điều kiện về giá thú và chế độ tài sản của vợ chồng.
Trong chế định thừa kế thời Nguyễn, có sự đổi mới khi công nhận quyền thừa kế của con nuôi và con rể, với quy định rằng nếu được cha mẹ yêu quý, họ có thể được hưởng tài sản mà không bị pháp luật can thiệp Nếu di sản không có người thừa kế, nó sẽ được xem xét để sung công Pháp luật nhà Nguyễn cũng quy định rõ ràng về quyền sở hữu và thừa kế ruộng đất trong gia đình, đặc biệt là trong trường hợp vợ hoặc chồng qua đời, cùng với việc thừa kế của các con và sử dụng ruộng đất cho mục đích hương hỏa.
1 Đại Việt sử ký toàn thư , Nxb Khoa học xã hội, 1993, Hà Nội, tr 164
2 Vũ Văn Mẫu ( 1973), Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử, quyển 1, tập 1, Sài Gòn
3 Điều 83 Hoàng Việt luật lệ
Trong thời kỳ Pháp thuộc (1858 – 1945), Việt Nam chịu sự thống trị của thực dân Pháp, dẫn đến ảnh hưởng về mặt lập pháp Thực dân Pháp đã áp dụng và thực thi ba bộ luật chính: Dân luật Bắc kỳ (1931), Dân luật Trung kỳ (Hoàng Việt hộ luật năm 1936) và Dân luật giản yếu Nam kỳ (1883), tất cả đều chịu ảnh hưởng từ Bộ luật Dân sự Pháp 1804 (Bộ luật Napoleon) nhưng đã trải qua nhiều sửa đổi Các bộ luật này quy định về thừa kế, hôn nhân gia đình, khế ước và nhiều vấn đề khác, nhằm bảo vệ quyền lợi của các tập đoàn tư bản Pháp và địa chủ phong kiến bản xứ, đồng thời cũng bảo vệ một phần quyền lợi hợp pháp của người dân.
Bộ luật Dân sự giản yếu của Nam Kỳ năm 1883 chỉ tập trung vào các vấn đề cá nhân như kết hôn và ly hôn, trong khi thiếu sót trong quy định về hợp đồng, chế độ tài sản vợ chồng và thừa kế, dẫn đến việc phải áp dụng Bộ luật Gia Long và Hồng Đức Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 hạn chế năng lực hành vi của phụ nữ có chồng trong các giao dịch dân sự, yêu cầu sự đồng ý của chồng để thực hiện mua bán hoặc nhận thừa kế Chế định thừa kế trong bộ luật này được quy định cụ thể từ Điều 310 đến Điều 436, bao gồm các nguyên tắc thừa kế, quyền của người để lại và nhận thừa kế, cũng như thừa kế theo di chúc và pháp luật Bộ luật Dân sự Trung Kỳ 1936 cũng quy định về thừa kế nhưng vẫn mang tư tưởng trọng nam khinh nữ Ngoài ra, các bộ luật này phân loại tài sản thành động sản và bất động sản, quy định hình thức sở hữu và phân chia tài sản khi người chồng qua đời, đồng thời đề cập đến thừa kế hương hỏa theo Bộ luật Hồng Đức.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam tiếp tục áp dụng ba bộ luật thời Pháp thuộc, nhưng đã ban hành nhiều Sắc lệnh để điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh lịch sử đất nước.
Năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được ban hành, khẳng định quyền tư hữu tài sản của công dân và quy định sự bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực.
Luật Cải cách ruộng đất năm 1953 đã công nhận quyền thừa kế đất đai trong trường hợp đất đai thuộc sở hữu tư nhân Tuy nhiên, quy định này đã tạo ra những khó khăn cho công cuộc xây dựng và phát triển nông nghiệp.
Điều 9 Hiến pháp năm 1946 đã đặt nền móng cho việc xây dựng xã hội chủ nghĩa, dẫn đến việc Hiến pháp năm 1959 thu hẹp quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai Hiến pháp này xác lập các hình thức sở hữu mới như sở hữu tập thể và sở hữu hợp tác xã, đồng thời ghi nhận và bảo hộ quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân, với quy định rằng "Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân".
Sau năm 1975, Việt Nam chính thức thống nhất, mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử đất nước, đánh dấu thời kỳ độc lập và tự do của dân tộc Các bộ luật tại miền Nam cũng được xem xét và điều chỉnh để phù hợp với tình hình mới.
Bộ luật Dân sự bị bãi bỏ, pháp luật miền Bắc được áp dụng thống nhất trong phạm vi cả hai miền Nam - Bắc
Hiến pháp năm 1980 thiết lập chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai một cách tuyệt đối, và Luật Đất đai năm 1987 đã cụ thể hóa quy định này bằng việc khẳng định "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý." Điều 17 của luật này chỉ đề cập đến quyền sử dụng đất trong trường hợp thừa kế nhà ở, cho phép người thừa kế hoặc người chưa có chỗ ở được quyền sử dụng đất sau khi được cơ quan Nhà nước công nhận quyền sở hữu nhà Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 1987 không đề cập đến việc thừa kế quyền sử dụng đất, mà chỉ quy định về chuyển quyền sử dụng đất trong trường hợp thành viên trong hộ gia đình được giao đất qua đời.
Vào ngày 30/8/1990, Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Pháp lệnh Thừa kế 1990, đánh dấu một bước quan trọng trong việc quy định hệ thống về thừa kế tại Việt Nam Trong bối cảnh chưa có Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 được xem như một phần của luật dân sự Theo Nghị quyết số 02/1990, quyền sử dụng đất thuộc sở hữu toàn dân không được coi là di sản của công dân khi họ qua đời, và các tranh chấp liên quan đến di sản có quyền sử dụng đất sẽ được giải quyết theo Luật Đất đai cùng các văn bản hướng dẫn liên quan.