1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thi tuyển, bổ nhiệm các chức danh kiểm sát viên

43 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thi Tuyển, Bổ Nhiệm Các Chức Danh Kiểm Sát Viên
Tác giả Bùi Thị Thanh Bạch
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Cảnh Hợp
Trường học Trường Đại Học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hiến Pháp Và Luật Hành Chính
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 1,53 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. BẤT CẬP, VƯỚNG MẮC TRONG THI TUYỂN KIỂM SÁT VIÊN VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC (6)
    • 1.1. Điều kiện dự thi Kiểm sát viên (7)
      • 1.1.1. Khái quát về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên (7)
      • 1.1.2. Quy định chung (11)
      • 1.1.3. Bất cập, vướng mắc (13)
      • 1.1.4. Giải pháp khắc phục (20)
    • 1.2. Hình thức, nội dung và thời gian tổ chức thi tuyển Kiểm sát viên (21)
      • 1.2.1. Bất cập, vướng mắc (21)
      • 1.2.2. Giải pháp khắc phục (24)
    • 1.3. Thời gian tổ chức thi tuyển Kiểm sát viên (25)
      • 1.3.1. Bất cập, vướng mắc (25)
      • 1.3.2. Giải pháp khắc phục (26)
  • CHƯƠNG 2. BẤT CẬP, HẠN CHẾ TRONG VIỆC BỔ NHIỆM KIỂM SÁT VIÊN VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC (7)
    • 2.1. Tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên (28)
      • 2.1.1. Quy định chung (28)
      • 2.2.1. Bất cập, vướng mắc (29)
      • 2.1.2. Giải pháp khắc phục (34)
    • 2.2. Thủ tục bổ nhiệm Kiểm sát viên (36)
      • 2.2.2. Giải pháp khắc phục (38)
    • 2.3. Thời hạn bổ nhiệm, tái bổ nhiệm Kiểm sát viên (38)
      • 2.3.1. Bất cập, vướng mắc (38)
      • 2.3.2. Giải pháp khắc phục (39)
  • KẾT LUẬN (41)

Nội dung

BẤT CẬP, VƯỚNG MẮC TRONG THI TUYỂN KIỂM SÁT VIÊN VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

Điều kiện dự thi Kiểm sát viên

1.1.1 Khái quát về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên

* Nhiệm vụ, quyền hạn chung:

Kiểm sát viên đóng vai trò thiết yếu trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, cùng với Viện trưởng và Phó Viện trưởng, tạo thành ba chức danh pháp lý chủ chốt Họ thực hiện quyền công tố và giám sát việc tuân thủ pháp luật trong điều tra các vụ án hình sự, xét xử các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh doanh thương mại, lao động, và các lĩnh vực khác theo quy định Ngoài ra, Kiểm sát viên còn giám sát việc thi hành bản án, quản lý người chấp hành án phạt tù, cũng như giải quyết khiếu nại, tố cáo Trong hơn 50 năm qua, Kiểm sát viên đã thực hiện nhiều nhiệm vụ khác theo sự phân công của Viện trưởng, khẳng định vị trí quan trọng của họ trong cơ cấu và tổ chức của Viện kiểm sát các cấp, cũng như trong việc xây dựng các văn bản pháp luật liên quan đến chức năng của Viện.

Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo thẩm quyền của Viện kiểm sát cấp mình Họ hoạt động dưới sự phân công của Viện trưởng và chịu trách nhiệm trực tiếp trước Viện trưởng.

Khi thực hiện nhiệm vụ, Kiểm sát viên cần tuân thủ pháp luật và chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ Viện trưởng Viện kiểm sát cấp mình, đồng thời phải tuân theo sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Kiểm sát viên có quyền từ chối nhiệm vụ nếu cho rằng nhiệm vụ đó vi phạm pháp luật Nếu Viện trưởng vẫn quyết định giao nhiệm vụ, Kiểm sát viên phải thực hiện nhưng Viện trưởng sẽ chịu trách nhiệm về quyết định đó Trong trường hợp này, Kiểm sát viên có quyền báo cáo lên Viện trưởng cấp trên và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả từ việc thi hành quyết định.

- Kiểm sát viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong các trường hợp do pháp luật tố tụng quy định

Kiểm sát viên không được làm những việc sau đây:

- Những việc mà pháp luật quy định cán bộ, công chức không được làm;

Tư vấn cho bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án và các vấn đề liên quan diễn ra đúng theo quy định của pháp luật.

Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết các vụ án là hành vi nghiêm trọng, có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến công lý Việc lợi dụng ảnh hưởng cá nhân để tác động đến những người có trách nhiệm giải quyết vụ án không chỉ vi phạm pháp luật mà còn làm suy yếu niềm tin của cộng đồng vào hệ thống tư pháp Cần có các biện pháp ngăn chặn và xử lý nghiêm khắc đối với những hành vi này để bảo đảm tính minh bạch và công bằng trong quá trình tố tụng.

Việc mang hồ sơ vụ án hoặc tài liệu liên quan ra khỏi cơ quan chỉ được thực hiện khi có nhiệm vụ được giao hoặc được sự đồng ý của người có thẩm quyền.

- Tiếp bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác trong các vụ án mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơi quy định

* Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể:

Theo Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong quá trình tố tụng hình sự, có nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể để đảm bảo tính hợp pháp và công bằng của vụ án.

+ Kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra;

+ Đề ra yêu cầu điều tra;

Triệu tập và tiến hành hỏi cung bị can là một bước quan trọng trong quá trình điều tra Đồng thời, việc triệu tập và lấy lời khai từ người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, cũng như những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng cần được thực hiện đầy đủ để đảm bảo tính khách quan và chính xác của thông tin.

+ Kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam;

Tham gia phiên toà bao gồm việc đọc cáo trạng và quyết định của Viện kiểm sát liên quan đến vụ án, đặt câu hỏi, đưa ra chứng cứ và thực hiện luận tội Ngoài ra, các bên tham gia còn phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án và tranh luận với những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà.

Kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án và những người tham gia tố tụng là một nhiệm vụ quan trọng, bao gồm việc kiểm tra, giám sát các bản án và quyết định của Tòa án nhằm đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quá trình tố tụng.

+ Kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Toà án;

+ Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo sự phân công của Viện trưởng Viện kiểm sát

Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trưởng Viện kiểm sát về những hành vi và quyết định của mình

Theo Điều 45 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2005, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011, Kiểm sát viên được phân công kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự có những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể.

+ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, giải quyết việc dân sự của Toà án;

+ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng;

+ Kiểm sát các bản án, quyết định của Toà án;

Tham gia phiên tòa xét xử vụ án dân sự và phiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Viện kiểm sát sẽ phát biểu ý kiến về cách giải quyết vụ việc dân sự.

+ Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo sự phân công của Viện trưởng Viện kiểm sát

+ Ngoài các quy định cụ thể trong BLTTHS, BLTTDS thì Kiểm sát viên còn có các nhiệm vụ, quyền hạn khác do pháp luật quy định

* Trách nhiệm của Kiểm sát viên:

Kiểm sát viên có trách nhiệm pháp lý đối với việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình Nếu xảy ra hành vi vi phạm pháp luật, tùy thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm, họ có thể bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định hiện hành.

Khi kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ và gây thiệt hại, Viện kiểm sát nhân dân nơi họ công tác sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường Đồng thời, cá nhân gây thiệt hại cũng có nghĩa vụ hoàn trả cho Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật.

- Kiểm sát viên phải giữ bí mật nhà nước và bí mật công tác theo quy định của pháp luật

- Kiểm sát viên phải tôn trọng nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân

Hình thức, nội dung và thời gian tổ chức thi tuyển Kiểm sát viên

Việc tổ chức thi tuyển để bổ nhiệm Kiểm sát viên bắt đầu từ năm 2015, sau khi Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 có hiệu lực Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành quy chế tạm thời quy định rõ nguyên tắc, điều kiện, nội dung, hình thức và quy trình thi tuyển cho các cấp Kiểm sát viên Mặc dù quy chế đã tạo ra khung pháp lý cụ thể, việc thi tuyển vẫn gặp phải một số hạn chế cần khắc phục Hình thức thi bao gồm thi viết và thi trắc nghiệm, với thời gian 180 phút cho thi viết và 90 phút cho thi trắc nghiệm, tuy nhiên thực tế cho thấy thi vấn đáp không được thực hiện như quy định Ngoài ra, thời gian thi trắc nghiệm đã giảm từ 90 phút xuống còn 60 phút trong kỳ thi năm 2016.

Một hạn chế đáng chú ý là chất lượng đề thi, khi mà đề thi vẫn mang tính lý thuyết, chưa bao quát đầy đủ các khâu công tác của Viện kiểm sát Điều này dẫn đến việc không đánh giá chính xác trình độ năng lực và kỹ năng nghiệp vụ của thí sinh, chưa đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn chức danh Kiểm sát viên, và thiếu sự phân hóa rõ ràng về trình độ năng lực và nghiệp vụ giữa các ngạch Kiểm sát viên.

Bài thi viết bao gồm hai phần: câu hỏi lý thuyết và câu hỏi kỹ năng Câu hỏi lý thuyết chủ yếu yêu cầu học thuộc Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, không đánh giá được năng lực tổng hợp của thí sinh Trong khi đó, câu hỏi kỹ năng liên quan đến nghiệp vụ kiểm sát trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính và thương mại Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, với Kiểm sát viên đóng vai trò then chốt Họ tham gia vào nhiều giai đoạn từ giải quyết tố giác tội phạm đến xét xử hình sự và kiểm sát việc thi hành án Tuy nhiên, đề thi không bao gồm các câu hỏi liên quan đến kỹ năng kiểm sát ở những khâu này, gây khó khăn cho thí sinh khi không thể thể hiện toàn diện năng lực của mình Đối với phần thi trắc nghiệm, việc chỉ yêu cầu chọn đáp án đúng hoặc sai mà không cần giải thích dẫn đến việc đánh giá không chính xác năng lực chuyên môn của thí sinh, khiến cho hình thức thi này trở nên may rủi và không khuyến khích sự đầu tư vào câu trả lời.

Đề thi cho Kiểm sát viên sơ cấp, trung cấp và cao cấp có nhiều điểm tương đồng, chỉ khác ở một số câu hỏi tình huống Cụ thể, Kiểm sát viên sơ cấp tập trung vào việc định tội danh trong các vụ án hình sự, trong khi Kiểm sát viên trung cấp không chỉ định tội danh mà còn liên quan đến kháng nghị Dù nhiệm vụ và quyền hạn của từng ngạch Kiểm sát viên khác nhau, trách nhiệm cũng nặng nề hơn Kiểm sát viên sơ cấp chỉ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự có khung hình phạt tối đa 15 năm, trong khi Kiểm sát viên trung cấp xử lý các vụ án hình sự có khung hình phạt trên 15 năm, chung thân, tử hình, và tham gia xét xử phúc thẩm Tuy nhiên, việc không có bộ đề thi riêng cho từng ngạch Kiểm sát viên khiến cho việc đánh giá năng lực và trình độ của ứng viên trở nên khó khăn, từ đó ảnh hưởng đến việc lựa chọn những người xuất sắc cho vị trí Kiểm sát viên trung cấp.

Cần thiết phải nghiên cứu và sửa đổi Quy chế tạm thời về thi tuyển Kiểm sát viên sơ cấp, trung cấp và cao cấp nhằm khắc phục những bất cập hiện tại Việc điều chỉnh hình thức và nội dung thi là cần thiết, trong đó không áp dụng hình thức thi vấn đáp Thời gian thi cho từng môn không cần ấn định cố định, cho phép linh hoạt thay đổi theo từng kỳ thi tùy thuộc vào nội dung và câu hỏi thi Tuy nhiên, cần ấn định thời gian thi cụ thể để thí sinh có thể chuẩn bị ôn tập và sắp xếp công việc tại cơ quan.

Việc tổ chức thi vấn đáp không nên được áp dụng do những khó khăn và áp lực mà nó mang lại Mặc dù thi vấn đáp có thể đánh giá chính xác năng lực và khả năng ứng phó của thí sinh, nhưng quy trình này tốn nhiều thời gian và gây căng thẳng cho thí sinh khi phải chờ đợi lâu để đến lượt thi Theo thống kê năm 2015, khu vực phía Bắc, tại Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, số lượng thí sinh dự thi Kiểm sát viên cao cấp, trung cấp và sơ cấp rất lớn, cho thấy sự cần thiết phải tìm kiếm hình thức thi hiệu quả hơn.

Trong khu vực phía Nam, từ tỉnh Thừa Thiên Huế đến tỉnh Cà Mau, Hội đồng thi đã tổ chức tại Trường đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ tại Thành phố Hồ Chí Minh, với số lượng thí sinh dự thi vào các ngạch kiểm sát viên tăng từ 421 người năm 2015 lên 912 người năm 2016 Mặc dù các ngành, đơn vị khác đã tổ chức thi nâng ngạch và thi tuyển công chức, nhưng vẫn chưa có địa phương nào áp dụng hình thức thi vấn đáp Nguyên nhân có thể do những khó khăn trong việc tổ chức, vì vậy, việc thi chỉ được thực hiện dưới hình thức thi viết và thi trắc nghiệm, theo quy định tại Nghị định 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức.

Thời gian làm bài thi không cần quy định cụ thể cho từng môn, điều này giúp tăng tính linh hoạt trong việc ra đề cho các kỳ thi tuyển kiểm sát viên.

Thứ ba, để nâng cao chất lượng đề thi, cần đầu tư nhiều hơn vào việc xây dựng nội dung đa dạng, giảm thiểu tính lý thuyết và tăng cường tính thực tế Đề thi nên chuyển sang dạng tổng hợp và mở, bao gồm các tình huống thực tế, yêu cầu thí sinh vận dụng kiến thức pháp luật từ nhiều lĩnh vực như kinh tế, chuyên ngành và nghiệp vụ Đồng thời, cần nâng cao số lượng câu hỏi xử lý tình huống trong đề thi Kiểm sát viên lên ba phần, trong khi lý thuyết chỉ nên chiếm một phần nhỏ.

Cần xây dựng bộ đề thi riêng cho từng ngạch Kiểm sát viên, trong đó đề thi Kiểm sát viên cao cấp phải chuyên sâu hơn đề thi Kiểm sát viên trung cấp, và đề thi Kiểm sát viên trung cấp phải khó hơn đề thi Kiểm sát sơ cấp Việc nâng cao chất lượng đề thi sẽ giúp phân loại và đánh giá người dự thi, từ đó xác định đúng những ứng viên vừa có kiến thức chuyên môn, vừa có năng lực thực tiễn để bổ nhiệm.

BẤT CẬP, HẠN CHẾ TRONG VIỆC BỔ NHIỆM KIỂM SÁT VIÊN VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

Tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên

Bổ nhiệm là quá trình quyết định giao cho công chức, viên chức một chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc chức danh tư pháp, chức danh khác theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân là chức danh tư pháp quan trọng, được bổ nhiệm theo quy định pháp luật, có nhiệm vụ thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Họ đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và giữ vững pháp chế xã hội chủ nghĩa Là lực lượng chủ yếu của Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên phải đáp ứng các điều kiện và tiêu chuẩn theo quy định, bao gồm tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn riêng.

Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định tiêu chuẩn chung cho Kiểm sát viên, bao gồm: là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, và bản lĩnh chính trị vững vàng Kiểm sát viên cần có trình độ cử nhân luật trở lên, được đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát, có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định, và sức khỏe đảm bảo để hoàn thành nhiệm vụ Những tiêu chuẩn này đảm bảo rằng người được bổ nhiệm làm kiểm sát viên có đủ phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm thực tiễn và sức khỏe cần thiết.

* Tiêu chuẩn riêng đối với từng ngạch Kiểm sát viên:

Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã quy định các tiêu chuẩn cụ thể cho từng ngạch kiểm sát viên dựa trên tiêu chuẩn chung.

Quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động và miễn nhiệm công chức trong Ngành kiểm sát nhân dân của VKSND tối cao quy định rõ tiêu chuẩn cho từng cấp bậc Kiểm sát viên Đối với Kiểm sát viên sơ cấp, yêu cầu có ít nhất 04 năm kinh nghiệm trong công tác pháp luật, năng lực thực hành quyền công tố và đã trúng tuyển kỳ thi tương ứng Kiểm sát viên trung cấp cần có ít nhất 05 năm kinh nghiệm với vai trò Kiểm sát viên sơ cấp, khả năng hướng dẫn nghiệp vụ và đã trúng tuyển kỳ thi vào ngạch trung cấp Đối với Kiểm sát viên cao cấp, yêu cầu là đã làm Kiểm sát viên trung cấp ít nhất 05 năm, có năng lực hướng dẫn cho các Kiểm sát viên cấp dưới và đã trúng tuyển kỳ thi vào ngạch cao cấp.

Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 kế thừa các quy định từ Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002 (sửa đổi bổ sung năm 2011) Luật hiện hành bổ sung tiêu chuẩn mới cho việc bổ nhiệm Kiểm sát viên, bao gồm yêu cầu đã trúng tuyển vào ngạch Kiểm sát viên cao cấp, trung cấp hoặc sơ cấp tùy theo cấp bậc dự thi.

2.2.1 Bất cập, vướng mắc Để được xem là trúng tuyển kỳ thi Kiểm sát viên, Quy chế tạm thời về thi tuyển Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên cao cấp quy định người trúng tuyển phải có đủ các môn thi theo quy định, có số điểm của mỗi môn đạt từ 50 điểm trở lên, có kết quả thi tuyển cao hơn lấy theo thứ tự từ cao xuống thấp trong phạm vi chỉ tiêu Kiểm sát viên cần bổ sung của đơn vị đăng ký dự thi Chỉ tiêu Kiểm sát viên cần bổ sung được hiểu là số lượng Kiểm sát viên còn thiếu trong năm trên tổng số lượng Kiểm sát viên được Viện kiểm sát nhân dân tối cao phân bổ Thông thường chỉ tiêu Kiểm sát viên trung cấp còn thiếu xuất phát từ các trường hợp Kiểm sát viên trung cấp đã nghỉ hưu, chuyển công tác sang ngành khác hoặc nghỉ việc Đối với chỉ tiêu Kiểm sát viên sơ cấp còn thiếu xuất phát từ những Kiểm sát viên sơ cấp đã được bổ nhiệm Kiểm sát viên trung cấp, chuyển công tác sang ngành khác, nghỉ việc Ví dụ: Năm 2016, chỉ tiêu, số lượng Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh A còn thiếu 10 người và có 15 người đăng ký dự thi, kết quả điểm thi của 15 người này đều trên trung bình; nhưng vì lý do chỉ còn thiếu 10 chỉ tiêu Kiểm sát viên sơ cấp nên sẽ lấy 10 người có số điểm cao nhất để bổ nhiệm

Viện kiểm sát nhân dân tối cao không quy định mức điểm chuẩn chung cho tất cả các Viện kiểm sát các tỉnh, mà chỉ đặt ra điểm sàn là 50 điểm cho mỗi môn thi Việc bổ nhiệm Kiểm sát viên phụ thuộc vào chỉ tiêu biên chế của từng tỉnh, với những thí sinh có điểm thi cao được ưu tiên Ví dụ, hai thí sinh từ các tỉnh khác nhau có cùng điểm thi 55 có thể có kết quả khác nhau: một người được bổ nhiệm tại tỉnh A, trong khi người còn lại không được xem là trúng tuyển tại tỉnh B Mặc dù có vẻ không công bằng, nhưng sự khác biệt này hoàn toàn hợp lý, vì nó dựa vào số lượng Kiểm sát viên được phân bổ cho từng địa phương.

Mục đích của việc thi tuyển Kiểm sát viên là thúc đẩy phong trào học hỏi và tạo động lực cho công chức, đặc biệt là cán bộ trẻ có năng lực, thông qua sự cạnh tranh Tuy nhiên, sau hai năm thực hiện, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang và một số tỉnh khác cho thấy sự cạnh tranh chưa rõ rệt, khi chỉ tiêu Kiểm sát viên trong năm 2015 và 2016 cần bổ sung nhiều, dẫn đến việc thí sinh chỉ cần đạt 50 điểm cho mỗi môn thi để được xem là trúng tuyển và bổ nhiệm.

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

Số người đăng ký dự thi

Số người có điểm thi trung bình trở lên

Số người được bổ nhiệm Kiểm sát viên

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

Số người đăng ký dự thi

Số người có điểm thi đạt trung bình trở lên

Số người được bổ nhiệm Kiểm sát viên

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

Số người đăng ký dự thi

Số người có điểm thi đạt trung bình trở lên

Số người được bổ nhiệm Kiểm sát viên

Tất cả các trường hợp đăng ký dự thi Kiểm sát viên sơ cấp đều được bổ nhiệm Tuy nhiên, đối với thí sinh dự thi Kiểm sát viên cao cấp và trung cấp, quy định trong năm có sự khác biệt.

Trong năm 2015 và 2016, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang đã không bổ nhiệm 01 Kiểm sát viên cao cấp và 04 Kiểm sát viên trung cấp do điểm thi không đạt, cùng với lý do không đủ nhiệm kỳ, chuyển công tác sang ngành khác, và vi phạm quy chế Điểm thi tuyển Kiểm sát viên được xem là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá và đề nghị bổ nhiệm, nhưng thực tế cho thấy thiếu sự cạnh tranh giữa các thí sinh, khi chỉ cần đạt điểm trung bình là đủ để trúng tuyển Hệ quả là chất lượng Kiểm sát viên được bổ nhiệm chưa cao, nhiều người không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, đặc biệt là đối với Kiểm sát viên trung cấp.

Trong những năm gần đây, nhiều Kiểm sát viên đã không thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình, dẫn đến việc vi phạm pháp luật và thiếu chuyên nghiệp Điều này đã gây ra những vụ án oan sai nghiêm trọng, như vụ Nguyễn Thanh Chấn và vụ bảy thanh niên ở Sóc Trăng Sự yếu kém về năng lực, trình độ và việc không cập nhật kiến thức pháp luật kịp thời đã khiến cho Kiểm sát viên không thể thực hiện tốt vai trò của mình trong việc giám sát và đảm bảo công lý Những trường hợp này cho thấy tầm quan trọng của Kiểm sát viên trong việc giải quyết các vụ án hình sự, nhằm tránh oan sai và bỏ lọt tội phạm.

Việc thiếu chỉ tiêu cho kỳ thi và bổ nhiệm Kiểm sát viên, cùng với sự thiếu cạnh tranh trong quá trình xét chọn, sẽ ảnh hưởng lâu dài đến chất lượng thi cử và bổ nhiệm Kiểm sát viên trong những năm tới, khi số lượng chỉ tiêu ngày càng giảm Sau hai kỳ thi tuyển, chỉ tiêu Kiểm sát viên trung cấp gần như đã đủ, và trong ba năm tới từ 2017 đến 2019, số lượng cần bổ sung không nhiều do nhiều Kiểm sát viên sẽ nghỉ hưu hoặc chuyển ngành Bảng số liệu cho thấy, chỉ tiêu Kiểm sát viên trung cấp tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang giảm dần theo từng năm, trong khi số người tham gia thi ngày càng tăng Năm 2015, số lượng Kiểm sát viên sơ cấp là 73 người, nhưng đến năm 2019, nhiều người đã đủ điều kiện thi Kiểm sát viên trung cấp Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân như công tác tại Viện kiểm sát cấp huyện hoặc gần đến tuổi nghỉ hưu, số Kiểm sát viên sơ cấp đủ điều kiện và có nhu cầu thi vẫn chiếm tỷ lệ lớn, trong khi chỉ tiêu cho Kiểm sát viên trung cấp chỉ còn vài người, dẫn đến tỷ lệ cạnh tranh cao.

Số lượng Kiểm sát viên hiện có Số lượng Kiểm sát viên còn thiếu

Sơ cấp Trung cấp Cao cấp

Việc thi tuyển chỉ đánh giá năng lực và trình độ, mà không phản ánh đầy đủ phẩm chất đạo đức, lối sống, kinh nghiệm và tố chất của Kiểm sát viên Do đó, Luật quy định cần phải tiến hành sơ tuyển trước kỳ thi để chọn ra những ứng viên đủ điều kiện Viện kiểm sát nhân dân tối cao giữ vai trò quản lý toàn diện đối với công chức ngành kiểm sát và có thể trực tiếp tuyển chọn Kiểm sát viên từ các Viện kiểm sát địa phương dựa trên chỉ tiêu biên chế và số lượng cần thiết.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã giao trách nhiệm sơ tuyển công chức đủ điều kiện tham gia thi cho Ủy ban kiểm sát địa phương, một tập thể có chuyên môn sâu và khả năng đánh giá chính xác phẩm chất đạo đức cũng như năng lực công tác của cán bộ Việc làm này đảm bảo tính khách quan nhờ chế độ thảo luận tập thể và quyết định theo đa số Đây là nghĩa vụ của Viện kiểm sát cấp tỉnh nhằm đảm bảo quyền dự thi cho công chức, đồng thời là lợi ích khi lựa chọn được những cán bộ xuất sắc tham gia kỳ thi Kiểm sát viên Việc này không chỉ giúp bổ sung biên chế mà còn đảm bảo chất lượng Kiểm sát viên, góp phần hoàn thành nhiệm vụ của ngành Tuy nhiên, hiện nay, việc xét chọn chủ yếu dựa vào tiêu chí định lượng như thời gian công tác, chưa chú trọng đến tố chất và năng lực thực hành quyền công tố, một yếu tố quan trọng trong việc hoàn thành chức năng của ngành kiểm sát.

Thủ tục bổ nhiệm Kiểm sát viên

Quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động, luân chuyển, biệt phái, từ chức, miễn nhiệm, và cách chức đối với công chức, viên chức trong Ngành kiểm sát nhân dân được ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-VKSTC-V15 ngày 22/12/2015 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quy định rõ về trình tự bổ nhiệm chức danh tư pháp thông qua thi tuyển.

Ban cán sự Đảng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xác định chủ trương thi tuyển và bổ nhiệm dựa trên các chỉ tiêu và số lượng chức danh được giao.

Cơ quan tham mưu về công tác tổ chức cán bộ cần xây dựng hồ sơ dự thi, đồng thời tập hợp các đơn khiếu nại, tố cáo và tài liệu liên quan (nếu có) để trình Ủy ban kiểm sát cùng cấp Nhiệm vụ này nhằm tuyển chọn những người đáp ứng đủ tiêu chuẩn và điều kiện tham gia thi tuyển.

Hội đồng thi tuyển tiến hành tổ chức kỳ thi và công bố danh sách những người trúng tuyển Sau đó, Hội đồng đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương bổ nhiệm những người đã trúng tuyển vào các chức danh tư pháp theo quy định.

Sau khi Viện kiểm sát nhân dân tối cao công bố danh sách những người trúng tuyển, Viện kiểm sát địa phương cần thực hiện thủ tục đề nghị bổ nhiệm Tuy nhiên, việc bổ nhiệm thường diễn ra chậm, có thể kéo dài đến nửa năm mới có quyết định Thời gian ra quyết định bổ nhiệm giữa các Viện kiểm sát tỉnh cũng không đồng nhất, với một số địa phương có quyết định sớm hơn trong khi kết quả thi tuyển là giống nhau.

Vào năm 2015, kết quả thi được công bố vào tháng 3 năm 2016, nhưng đến tháng 6 năm 2016, VKSND tỉnh Tiền Giang và VKSND tỉnh Bình Thuận mới đưa ra quyết định bổ nhiệm Kiểm sát viên Đến tháng 7 năm 2016, VKSND tỉnh Vĩnh Long cũng mới có quyết định bổ nhiệm tương tự.

Vào năm 2016, kết quả thi được công bố từ tháng 01 đến tháng 05 năm 2017 Trong thời gian này, VKSND tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định bổ nhiệm, trong khi VKSND tỉnh Bình Thuận thực hiện bổ nhiệm Kiểm sát viên vào tháng 04/2017 Đến tháng 06/2017, VKSND tỉnh Vĩnh Long cũng đã có quyết định bổ nhiệm.

Việc chậm trễ trong quyết định bổ nhiệm ảnh hưởng tiêu cực đến công tác chuyên môn của cá nhân và đơn vị Người trúng tuyển thường cảm thấy hoang mang về vị trí công tác mới, dẫn đến lơ là trong nhiệm vụ hiện tại, đặc biệt là với những người được bổ nhiệm Kiểm sát viên trung cấp Họ có xu hướng không nhiệt tình với công việc hiện tại vì nghĩ rằng sẽ chuyển về Viện kiểm sát cấp tỉnh, làm cho quá trình tiếp nhận và giải quyết vụ án gặp khó khăn Đơn vị thường không giao những công việc mới cho người trúng tuyển, trong khi thời hạn điều tra và xử lý các vụ án có thể kéo dài từ 4 tháng trở lên, gây ảnh hưởng đến hiệu quả công việc.

Việc phân công những người đã trúng tuyển kỳ thi Kiểm sát viên để thụ lý và giải quyết các vụ án mới gặp khó khăn do lo ngại về sự liên tục trong thực hiện nhiệm vụ Điều này dẫn đến tình trạng trì trệ trong công việc chung, khi mà trong thời gian chờ quyết định bổ nhiệm, những người trúng tuyển chủ yếu chỉ xử lý công việc cũ còn tồn đọng Hệ quả là công việc mới dồn về những người khác, gây ảnh hưởng đến kế hoạch và chỉ tiêu chung của đơn vị, nhất là khi Viện kiểm sát cấp huyện có chỉ tiêu biên chế hạn chế nhưng khối lượng công việc lại quá tải.

Một vấn đề cần lưu ý là việc công bố và trao quyết định bổ nhiệm thường diễn ra sau ngày quyết định có hiệu lực, trái với quy định yêu cầu phải thực hiện trước thời điểm đó Thực tế cho thấy, các quyết định bổ nhiệm thường được chuyển đến các Viện kiểm sát địa phương không đúng thời gian, dẫn đến việc chậm trễ trong việc nhận quyết định, có khi kéo dài từ nửa tháng đến một tháng Chẳng hạn, quyết định bổ nhiệm chức danh Kiểm sát viên trung cấp đối với ông Trần Quốc N có hiệu lực từ ngày 15/5/2017 nhưng đến ngày 01/6/2017 mới được nhận và trao.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần xem xét và điều chỉnh quy định về thời hạn bổ nhiệm Kiểm sát viên một cách hợp lý, đồng thời đảm bảo sự thống nhất giữa các Viện kiểm sát tỉnh Điều này không chỉ bảo vệ quyền lợi của người được bổ nhiệm mà còn nâng cao hiệu quả công tác chuyên môn, giúp hoàn thành các chỉ tiêu và kế hoạch của ngành.

Viện kiểm sát địa phương cần lãnh đạo và quan tâm đến người trúng tuyển, đồng thời đặt ra trách nhiệm cá nhân trong việc thực hiện và giải quyết các công việc được phân công tại đơn vị cũ sau khi được bổ nhiệm.

Thời hạn bổ nhiệm, tái bổ nhiệm Kiểm sát viên

Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Pháp lệnh Kiểm sát viên quy định nhiệm kỳ của Kiểm sát viên là năm năm, với trường hợp bổ nhiệm lại cũng là năm năm Tuy nhiên, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã điều chỉnh thời hạn bổ nhiệm lại hoặc nâng ngạch lên thành mười năm Điều này có nghĩa là thời hạn bổ nhiệm lại của Kiểm sát viên hiện nay kéo dài thêm năm năm Mặc dù quy định nhiệm kỳ có thời hạn đã nâng cao trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp của Kiểm sát viên, thực tế cho thấy vẫn tồn tại một số bất cập trong việc quy định này.

Gây tâm lý hoang mang cho Kiểm sát viên khi gần đến thời hạn bổ nhiệm lại là một vấn đề nghiêm trọng, vì đây là thời điểm nhạy cảm khiến họ thường né tránh và ngại va chạm Tâm lý này không chỉ ảnh hưởng đến tinh thần làm việc mà còn cản trở nỗ lực trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật.

Thủ tục bổ nhiệm lại Kiểm sát viên hiện nay mang tính hình thức và lãng phí, khi hầu hết các Kiểm sát viên đều được tái bổ nhiệm mà không có trường hợp nào bị từ chối Quá trình này khiến Kiểm sát viên khó tập trung vào chuyên môn, thay vào đó phải dành thời gian cho các hồ sơ và thủ tục liên quan Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh cần tổ chức rà soát và hội họp để đề nghị bổ nhiệm lại lên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nơi phải xem xét hàng trăm đơn vị, gây tốn kém về nhân lực và vật chất Hơn nữa, thủ tục bổ nhiệm lại thường không kịp thời, dẫn đến tình trạng Kiểm sát viên không có tư cách tố tụng sau khi nhiệm kỳ kết thúc, làm chậm tiến độ công việc Chẳng hạn, Kiểm sát viên Nguyễn Văn A, với nhiệm kỳ từ 01/9/2011 đến 01/9/2016, đã không được tái bổ nhiệm kịp thời, khiến công việc của anh bị tồn đọng và gây khó khăn cho người kế nhiệm.

Cần xem xét việc tăng thời hạn bổ nhiệm lần đầu của Kiểm sát viên lên 10 năm và bổ nhiệm lại không thời hạn, bởi Kiểm sát viên là chức danh tư pháp quan trọng trong việc thực hiện quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Việc quy định nhiệm kỳ 5 năm và bổ nhiệm lại 10 năm là không phù hợp, vì những người đủ điều kiện làm Kiểm sát viên cần được công nhận chức danh nghề nghiệp cho đến khi không còn thực hiện nữa Nếu có vi phạm, đã có quy định về miễn nhiệm và cách chức Từ năm 2015, việc bổ nhiệm Kiểm sát viên đã trải qua kỳ thi tuyển, thể hiện sự thận trọng trong đánh giá cán bộ, tạo động lực cho Kiểm sát viên nâng cao phẩm chất đạo đức và trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ.

Việc tăng nhiệm kỳ và bổ nhiệm lại Kiểm sát viên không thời hạn nhằm thực hiện cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, khuyến khích việc "Tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh tư pháp hoặc thực hiện chế độ bổ nhiệm không có kỳ hạn" Nghiên cứu luật pháp quốc tế cho thấy hầu hết các nước không quy định nhiệm kỳ cho Công tố viên, Kiểm sát viên Cụ thể, theo Luật về Địa vị pháp lý của Viện trưởng, Kiểm sát viên tại Hungary năm 2011, Kiểm sát viên được bổ nhiệm lần đầu với thời hạn 3 năm và sau đó sẽ được bổ nhiệm không kỳ hạn, trừ những trường hợp đặc biệt.

5 Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, phần II, mục 2, tiểu mục 2.4

6 Đặng Văn Khanh, Những nội dung mới của Dự thảo Luật tổ chức VKSND (sửa đổi) về Kiểm sát viên VKSND http://vksndtc.gov.vn/tin-chi-tiet-4170

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Hải Long (2015), “Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức thi tuyển Kiểm sát viên trung cấp và kiểm sát viên sơ cấp năm 2015”, Tạp chí kiểm sát (22), tr 6-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức thi tuyển Kiểm sát viên trung cấp và kiểm sát viên sơ cấp năm 2015”, "Tạp chí kiểm sát
Tác giả: Hải Long
Năm: 2015
20. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang (2005), Hồ sơ kiểm sát án hình sự vụ Nguyễn Hữu Ngân và đồng phạm “Cướp giật tài sản” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cướp giật tài sản
Tác giả: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang
Năm: 2005
21. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang (2014), Hồ sơ kiểm sát án hình sự vụ Nguyễn Thanh Hải “Giết người + Cướp tài sản”.Tài liệu từ Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giết người + Cướp tài sản”
Tác giả: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang
Năm: 2014
22. Đặng Văn Khanh (2014), “Những nội dung mới của Dự thảo Luật tổ chức VKSND (sửa đổi) về Kiểm sát viên VKSND”, http://vksndtc.gov.vn/tin-chi-tiet-4170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung mới của Dự thảo Luật tổ chức VKSND (sửa đổi) về Kiểm sát viên VKSND
Tác giả: Đặng Văn Khanh
Năm: 2014
23. “Khóa luận Chế định kiểm sát viên - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (2013), http://luanvan.net.vn/luan-van/khoa-luan-che-dinh-kiem-sat-vien-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-31046/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khóa luận Chế định kiểm sát viên - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: “Khóa luận Chế định kiểm sát viên - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
Năm: 2013
24. Loan Bảo (2017), “Viện trưởng VKSNDTC Lê Minh Trí: “Thay đổi đề thi tuyển Kiểm sát viên theo hướng mở””, http://kiemsat.vn/vien-truong-vksndtc-le-minh-tri-thay-doi-de-thi-tuyen-kiem-sat-vien-theo-huong-mo-45122.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện trưởng VKSNDTC Lê Minh Trí: “Thay đổi đề thi tuyển Kiểm sát viên theo hướng mở”
Tác giả: Loan Bảo
Năm: 2017
25. Phòng 15-VKSND tỉnh Bến Tre (2016), “Thi tuyển Kiểm sát viên - điểm nổi bật trong Luật Tổ chức VKSND năm 2014” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi tuyển Kiểm sát viên - điểm nổi bật trong Luật Tổ chức VKSND năm 2014
Tác giả: Phòng 15-VKSND tỉnh Bến Tre
Năm: 2016
1. Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Khác
3. Bộ luật tố tụng hình sự (Luật số 19/2003/QH11) ngày 26 tháng 11 năm 2003 Khác
4. Bộ luật tố tụng dân sự (Luật số 92/2015/QH13) ngày 25 tháng 11 năm 2015 5. Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (Luật số 63/2014/QH13) ngày24/11/2014 Khác
6. Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (Luật số 34/2002/QH10) ngày 02 tháng 04 năm 2002 Khác
9. Nghị quyết số 522e/NQ-UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày ngày 16 tháng 08 năm 2012 về tổng biên chế và số lượng Kiểm sát viên, Điều tra viên của Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát quân sự các cấp Khác
10. Pháp lệnh số 15/2011/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 19/02/2011 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát Khác
11. Nghị định số 24/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/3/2010 quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Khác
12. Nghị định số 74/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày ngày 09/9/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự Khác
13. Quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động, luân chuyển, biệt phái, từ chức, miễn nhiệm, cách chức đối với công chức, viên chức trong Ngành kiểm sát nhân dân (ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-VKSTC-V15 ngày 22/12/2015 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao) Khác
14. Quy chế tạm thời về thi tuyển Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên cao cấp (ban hành kèm theo Quyết định số 411/QĐ-VKSTC-V15 ngày 26/6/2015 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao) Khác
15. Quy định về tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý và chức danh tư pháp trong ngành Kiểm sát nhân dân (ban hành kèm theo Quyết định số 04/QĐ-VKSTC- V15 ngày 22/12/2015 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao) Khác
16. Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức ngành Kiểm sát nhân dân (ban hành kèm theo Quyết định số 296/2008/QĐ-VKSTC ngày 18/6/2008 của Viện trưởng VKSND tối cao)B. TÀI LIỆU THAM KHẢO Khác
18. Thống kê công tác tổ chức nhân sự, cán bộ của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, Bình Thuận năm 2015, 2016 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w