Hình thức, nội dung đơn kháng cáo, thủ tục giải quyết đơn kháng cáo khi đương sự không trực tiếp làm thủ tục tại tòa
Hiện nay, người có quyền kháng cáo có thể thực hiện quyền này qua ba phương thức chính: thứ nhất, tự mình hoặc thông qua người đại diện theo ủy quyền, người đại diện theo pháp luật để nộp đơn trực tiếp tại Tòa án; thứ hai, gửi đơn kháng cáo đến Tòa án qua dịch vụ bưu chính; và thứ ba, nếu đang bị giam giữ, người kháng cáo có thể nhờ giám thị trại giam gửi đơn kháng cáo đến Tòa án.
Pháp luật đã quy định nhiều phương thức để đương sự thực hiện quyền kháng cáo một cách dễ dàng, bao gồm cả việc gửi đơn kháng cáo qua dịch vụ bưu chính Điều này đặc biệt thuận lợi cho những người ở xa hoặc gặp khó khăn trong việc đến tòa án Đương sự chỉ cần viết đơn và chuẩn bị tài liệu kháng cáo trong thời hạn quy định, sau đó đến địa điểm cung cấp dịch vụ bưu chính vào thời gian phù hợp, kể cả vào cuối tuần Thời hạn kháng cáo được xác định theo dấu ngày của tổ chức bưu chính, giúp quy trình này nhanh chóng và tiện lợi hơn so với việc nộp trực tiếp tại tòa án trong giờ hành chính hoặc ủy quyền cho người khác.
Mặc dù có những quy định hiện hành, nhưng vẫn còn hạn chế so với thủ tục nộp đơn khởi kiện dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự Người nộp đơn kháng cáo không được phép sử dụng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án như đối với đơn khởi kiện Pháp luật cũng quy định rằng những cá nhân không biết chữ, người khuyết tật nhìn, hoặc những người không thể tự làm đơn khởi kiện có thể nhờ người khác hỗ trợ, miễn là có người có đủ năng lực tố tụng dân sự chứng kiến và ký xác nhận vào đơn.
10 Xem khoản 3 Điều 273 BLTTDS năm 2015
Theo điểm c khoản 1 Điều 190 BLTTDS năm 2015, việc khởi kiện được chấp nhận, tuy nhiên, trong quy định về đơn kháng cáo lại thiếu hướng dẫn cho tình huống tương tự Do đó, nếu đương sự không thể ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn kháng cáo và nhờ người khác làm hộ, thì việc người đó ký tên xác nhận vào đơn và nộp cho Tòa án sẽ gặp khó khăn trong việc chấp nhận đơn kháng cáo.
Hiện nay, một vấn đề thường gặp tại Tòa án là đương sự không đến nhận lại đơn kháng cáo và tài liệu chứng cứ mà Tòa án đã trả lại Điều này xảy ra khi đương sự không thực hiện việc thay đổi hoặc bổ sung đơn kháng cáo theo yêu cầu của Tòa án, hoặc mặc dù đã sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn chưa đúng và đủ về hình thức, nội dung theo quy định tại Điều 272 BLTTDS.
Năm 2015, quy định về cách thức trả đơn kháng cáo và tài liệu, chứng cứ kèm theo vẫn chưa được làm rõ trong Bộ luật Tố tụng Dân sự Bộ luật chỉ nêu các trường hợp phải trả lại đơn kháng cáo mà chưa hướng dẫn chi tiết quy trình thực hiện Thông thường, khi đương sự hoặc đại diện hợp pháp nộp đơn kháng cáo tại Tòa án, công chức hoặc thẩm phán sẽ ngay lập tức tiếp nhận và xem xét hồ sơ Nếu đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án sẽ thông báo về việc đóng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm Trong trường hợp cần sửa đổi, Tòa án có thể yêu cầu đương sự sửa đổi ngay tại chỗ hoặc gửi thông báo yêu cầu làm lại đơn Đương sự sẽ nhận thông báo và ký xác nhận vào biên bản giao nhận Nếu việc sửa đổi không đúng theo yêu cầu, đơn kháng cáo có thể trở nên không hợp lệ.
12 Xem điểm c khoản 2 Điều 189 BLTTDS năm 2015
13 Xem khoản 4 Điều 274 BLTTDS năm 2015
Mẫu số 56 – DS Thông báo yêu cầu sửa đổi hoặc làm lại đơn kháng cáo, văn bản được ban hành kèm theo Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng thẩm phán TANDTC Thông báo này sẽ được sử dụng để trả lại đơn kháng cáo cùng với tài liệu chứng cứ, và việc trả lại sẽ được thực hiện ngay tại trụ sở Tòa án.
Trong nhiều trường hợp, khi đơn kháng cáo được gửi qua dịch vụ bưu chính và đương sự không đến Tòa án để nhận, hiện tại Tòa án gặp khó khăn trong việc xử lý và trả lại đơn kháng cáo cho đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán TANDTC, khoản 5 Điều 3 hướng dẫn thi hành quy định trong phần "Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm" của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật mới Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ các quy định pháp lý trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm.
Theo Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012, khi đương sự nộp tài liệu chứng cứ kèm theo đơn kháng cáo hoặc bổ sung tài liệu chứng cứ, Tòa án phải lập biên bản giao nhận chứng cứ, ghi rõ chi tiết về tài liệu đã nhận, bao gồm loại bản sao hay bản chính và số lượng Tuy nhiên, hiện tại không có quy định nào hướng dẫn Tòa án về việc trả lại tài liệu chứng cứ một cách hợp lệ nếu đương sự không đến nhận lại.
Nhiều đương sự thường nhờ người thân thích đến Tòa nộp tài liệu chứng cứ kháng cáo mà không có văn bản ủy quyền, điều này vi phạm quy định pháp luật dân sự Việc người thân nộp tài liệu thay cho đương sự không được công nhận, dẫn đến biên bản giao nhận chứng cứ không hợp lệ Nếu Tòa từ chối nhận đơn kháng cáo và tài liệu do người không có ủy quyền cung cấp, điều này có thể làm mất quyền kháng cáo của đương sự, gây ra bức xúc và khiếu nại kéo dài trong vụ án dân sự.
Một vấn đề quan trọng là trường hợp người kháng cáo nộp đơn theo đúng hình thức và nội dung quy định của pháp luật dân sự, nhưng yêu cầu và lý do kháng cáo lại không rõ ràng hoặc không hợp lệ.
Mẫu số 58-DS Thông báo trả lại đơn kháng cáo, được ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP, quy định rằng kháng cáo không liên quan đến quyết định đình chỉ hoặc bản án bị kháng cáo Việc kháng cáo lên Tòa án phúc thẩm sẽ không thỏa mãn yêu cầu của đương sự nếu yêu cầu đó không nằm trong phạm vi quyền, nghĩa vụ, và lợi ích mà bản án hoặc quyết định đang bị kháng cáo điều chỉnh.
Vụ án dân sự số 88/2017/TLST-DS, thụ lý vào ngày 24/2/2017 tại TAND huyện Hóc Môn, Tp Hồ Chí Minh, liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cơ và bị đơn ông Tăng Khánh Hưng.
Vào ngày 31/8/2017, TAND huyện Hóc Môn đã ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 510/2017/QĐST-DS và giao cho Văn phòng Thừa phát lại huyện Hóc Môn thực hiện việc tống đạt cho bị đơn Tăng Khánh Hưng theo quy định pháp luật Đến ngày 25/9/2017, Văn phòng Thừa phát lại đã tống đạt hợp lệ quyết định này cho ông Hưng Ngày 26/09/2017, ông Hưng gửi đơn kháng cáo đến Chánh án TAND huyện Hóc Môn, nhưng nội dung đơn không phù hợp với quy định pháp luật về đơn kháng cáo Ông yêu cầu giám định sổ đỏ và đình chỉ vĩnh viễn vụ án Ngày 29/9/2017, đơn kháng cáo được chuyển đến Chánh án và sau đó đến thẩm phán Phạm Văn Huy để giải quyết Ngày 03/10/2017, TAND huyện Hóc Môn đã thông báo về việc yêu cầu sửa đổi hoặc bổ sung đơn kháng cáo, vì ông Hưng chỉ gửi đơn qua bưu điện mà không trực tiếp đến Tòa án nhận thông báo.
16 Xem quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 510/2017/QĐST-DS ngày 31/8/2017 của TAND huyện Hóc Môn
17 Xem đơn kháng cáo ngày 26/9/2017 của ông Tăng Khánh Hưng
18 Xem khoản 1 Điều 272 BLTTDS năm 2015
19 Xem bìa thư kèm theo đơn kháng cáo ngày 26/9/2017
Thời hạn kháng cáo
Thời hạn kháng cáo, mặc dù không được định nghĩa trực tiếp trong Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015, có thể hiểu là khoảng thời gian mà pháp luật quy định để những người có quyền kháng cáo thực hiện quyền này đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án Khi thời hạn kháng cáo đã hết, các đương sự sẽ mất quyền kháng cáo, trừ trường hợp kháng cáo quá hạn theo quy định Thời gian này giúp người có quyền kháng cáo cân nhắc, chuẩn bị tài liệu chứng cứ cho thủ tục kháng cáo Trong bối cảnh kinh tế phát triển và các mối quan hệ xã hội ngày càng phức tạp, số lượng và mức độ phức tạp của các vụ án hôn nhân gia đình, án kinh doanh thương mại, án dân sự cũng tăng nhanh Ngành Tòa án hiện đang quá tải và thiếu nhân lực, dẫn đến khả năng xảy ra sai sót trong quá trình tố tụng Theo báo cáo của TANDTC, năm 2016, các Tòa án đã giải quyết 93,4% vụ việc, với tỷ lệ bản án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Tòa án là 1,27% Năm 2017, Tòa án các cấp đã giải quyết 438.625 vụ việc trong tổng số 491.384 vụ việc đã thụ lý.
(đạt tỷ lệ 89,3%); số vụ việc hiện đang tạm đình chỉ giải quyết là 9.622 vụ (bằng
35 TS.Nguyễn Ngọc Khánh (2005), bản dịch Bộ luật Tố tụng dân sự Liên Bang Nga, NXB Tư pháp, Tr.216
36 Nhà Pháp luật Việt Pháp (1998), bản dịch Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng Hòa Pháp, NXB Chính trị quốc gia, Tr.129
37 Viện Khoa học Pháp Lý (2006), Từ điển Luật Học, GS Hoàng Phê (chủ biên), NXB Tư pháp, Tr.721
Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức Hội nghị triển khai công tác năm 2017, nhằm đánh giá và định hướng các nhiệm vụ trọng tâm trong năm Sự kiện này không chỉ nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác tư pháp mà còn thể hiện cam kết của ngành đối với việc nâng cao hiệu quả hoạt động Thông tin chi tiết về hội nghị có thể được tìm thấy tại bài viết trên Báo Mới, truy cập ngày 01/8/2017.
Trong năm qua, số vụ việc đã thụ lý tăng 28.232 vụ, tương đương với mức tăng 6,1%, trong khi số vụ đã giải quyết cũng tăng 33.549 vụ, đạt 8,3% Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Tòa án là 1,3%, cho thấy có đến 4.000 vụ việc gặp sai sót do lỗi chủ quan Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phúc thẩm bản án, quyết định, đặc biệt khi giá trị của các tranh chấp là rất lớn.
Việc mất quyền kháng cáo do hết thời hạn kháng cáo có thể dẫn đến việc thi hành các bản án, quyết định sai sót, gây hậu quả nghiêm trọng cho đương sự và xã hội, làm giảm niềm tin vào công lý và nhà nước Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015 đã quy định một khoảng thời gian hợp lý để đương sự cân nhắc và chuẩn bị tài liệu chứng cứ cho thủ tục kháng cáo, điều này là vô cùng cần thiết Các quy định về thời hạn kháng cáo trong BLTTDS năm 2015 giúp đảm bảo quyền lợi của đương sự và nâng cao tính công bằng trong quá trình tố tụng.
Luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 kế thừa các quy định từ sửa đổi năm 2004 và bổ sung năm 2011, trong đó quy định thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày và đối với quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ là 7 ngày Điều 273 của BLTTDS năm 2015 đã cung cấp hướng dẫn chi tiết về cách xác định ngày bắt đầu thời hạn kháng cáo cho từng loại đối tượng kháng cáo khác nhau.
Trong trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng, thời hạn kháng cáo sẽ được tính từ ngày tuyên án.
Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc khi tuyên án nhưng có lý do chính đáng, thời hạn kháng cáo sẽ được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Thứ ba, đối với Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giam thì ngày kháng cáo là ngày đơn kháng cáo được giám thị trại giam xác nhận." 40
39 “10 nhiệm vụ trọng tâm năm 2018 của Tòa án nhân dân”, http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/12575921?p_page_id575921&pers_id51931&folder_id=
&item_id"9769575&p_details=1, truy cập ngày 22/01/2018
40 Trường Đại học Kinh tế - Luật (2017), Sách chuyên khảo Bình luận khoa học về những điểm mới trong Bộ
Luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Nguyễn Thị Hồng Nhung (chủ biên), NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ
Quy định mới trong BLTTDS là một giải pháp kịp thời cho thực trạng tại nhiều phiên toà hiện nay, khi nhiều đương sự và luật sư không hài lòng và rời khỏi phiên tòa trong quá trình xét hỏi và tranh tụng Hành động này gây khó khăn trong việc xác định thời hạn kháng cáo Mặc dù BLTTDS hiện hành đã đưa ra câu trả lời hợp lý, nhưng việc xác định ngày bắt đầu tính thời hạn niêm yết bản án vẫn còn chưa rõ ràng Theo quy định của BLTTDS năm 2015, thời hạn kháng cáo chỉ được tính từ ngày bản án, quyết định đình chỉ hoặc quyết định tạm đình chỉ được niêm yết.
Trước khi Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 có hiệu lực, Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 đã hướng dẫn về việc xác định ngày bắt đầu thời hạn kháng cáo theo BLTTDS năm 2004, đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2011.
Theo Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP, nếu Tòa án cấp sơ thẩm không thể giao trực tiếp bản án sơ thẩm cho đương sự, ngày niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của đương sự sẽ được xác định là ngày bắt đầu tính thời hạn kháng cáo, ví dụ như ngày 15-10-2013 Thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo mười lăm ngày sẽ là ngày 16-10-2013 Tuy nhiên, hiện nay chưa có quy định cụ thể về thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ và quyết định đình chỉ Quy trình niêm yết bản án bao gồm bốn giai đoạn với bốn loại biên bản khác nhau: biên bản không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp, biên bản niêm yết tại nhà đương sự, biên bản niêm yết tại UBND cấp phường xã và biên bản niêm yết tại Tòa án Nếu các biên bản này không được niêm yết cùng một ngày, cần xác định biên bản nào sẽ được sử dụng để tính ngày bắt đầu thời hạn niêm yết.
Theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thời hạn niêm yết công khai văn bản tố tụng là 15 ngày, bắt đầu từ ngày niêm yết.
41 Xem khoản 1, khoản 2 Điều 273 BLTTDS năm 2015
42 Khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012
Theo Khoản 2 Điều 179 BLTTDS năm 2015, không có quy định cụ thể về biên bản tính ngày và việc niêm yết văn bản tố tụng tại Tòa án, UBND và nhà đương sự không nhất thiết phải diễn ra cùng một ngày Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 quy định cách tính ngày bắt đầu thời hạn kháng cáo đối với bản án là ngày niêm yết tại UBND cấp xã nơi đương sự cư trú, nhưng quy định này chưa thật sự thuyết phục Hơn nữa, Nghị quyết này cũng không hướng dẫn cách tính ngày bắt đầu thời hạn kháng cáo cho quyết định đình chỉ và quyết định tạm đình chỉ, điều này cần được xem xét thêm.
Vào ngày 19/01/2017, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, TP Hồ Chí Minh đã ban hành bản án số 58/2017/HNGĐ-ST liên quan đến vụ ly hôn giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh Nhã và bị đơn ông Ngô Đức Nghĩa.
Trong vòng 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nhã có quyền kháng cáo lên TAND thành phố Hồ Chí Minh, trong khi ông Nghĩa cũng có quyền kháng cáo trong cùng thời hạn.
15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương."
Trong vụ án ly hôn, bà Nhã đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con chung Tại phiên Tòa ngày 19/01/2017, bà Nhã có mặt trong khi ông Nghĩa vắng mặt lần thứ hai mà không có lý do chính đáng Tòa án đã chấp nhận yêu cầu ly hôn và quyền nuôi con của bà Nhã Sau đó, ông Nghĩa đã kháng cáo, yêu cầu Tòa phúc thẩm bác đơn ly hôn vì ông vẫn còn tình cảm với bà Nhã.
Ngày được xác định để tính thời hạn bắt đầu niêm yết quyết định, bản án
Hiện nay, quy định về thời hạn kháng cáo và cách tống đạt bản án vẫn còn chung chung theo Điều 273 và Điều 177 BLTTDS năm 2015 Cụ thể, thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, và đối với những người không có mặt tại phiên tòa, thời hạn này được tính từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết Trong trường hợp tống đạt qua người thứ ba, người thực hiện phải lập biên bản và giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự hoặc tổ trưởng tổ dân phố để ký nhận, đồng thời yêu cầu cam kết giao lại bản án ngay cho người được tống đạt Biên bản này phải được lưu trong hồ sơ vụ án.
Việc cấp tống đạt trực tiếp là một trong năm phương thức được quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Quy trình cấp tống đạt thông báo văn bản của Tòa án, bao gồm quyết định và bản án, chỉ được coi là hợp lệ nếu thực hiện theo quy định pháp luật Thời hạn kháng cáo của đương sự bắt đầu khi bản án, quyết định sơ thẩm đã được niêm yết hợp lệ, theo đúng thủ tục đã quy định Nếu việc cấp tống đạt và thông báo bản án, quyết định sơ thẩm không tuân thủ quy định pháp luật, thì coi như quyết định, bản án chưa bao giờ được niêm yết cho đương sự.
50 Xem khoản 1 Điều 173 BLTTDS năm 2015
Theo Điều 174 BLTTDS năm 2015, những đương sự không tham gia phiên tòa hoặc rời khỏi trước khi tuyên án nhưng có lý do chính đáng vẫn giữ quyền kháng cáo, và thời hạn kháng cáo sẽ không bao giờ hết Các nhà lập pháp cho phép người thân hoặc lãnh đạo địa phương nhận thay thông báo nhằm thích ứng với thực tế gia tăng tranh chấp, thể hiện qua số liệu thụ lý của Tòa án ngày càng tăng Trong nhiều trường hợp, khi đương sự vắng mặt tại nơi cư trú nhưng có người nhà hoặc chính quyền đồng ý nhận thay, việc này giúp đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian tống đạt, và thuận lợi hơn cho đương sự so với quy trình niêm yết kéo dài 15 ngày Những người gần gũi với đương sự hoặc chính quyền cơ sở sẽ dễ dàng thông báo cho đương sự, đảm bảo họ kịp thời nhận và biết được văn bản tố tụng của Tòa án.
Một vấn đề lớn trong việc xác định thời hạn kháng cáo là ngày nào được coi là ngày tống đạt quyết định, bản án cho người thân thích hoặc tổ trưởng tổ dân phố, khi BLTTDS năm 2015 và các văn bản dưới luật chưa có hướng dẫn cụ thể Trước đây, theo BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011, ngày người thân thích ký nhận tại cùng nơi cư trú được xem là ngày tống đạt Tuy nhiên, quy định này đã không còn hiệu lực trong BLTTDS năm 2015.
Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 không quy định rõ về cách tính ngày bắt đầu thời hạn kháng cáo khi tổ trưởng tổ dân phố nhận văn bản tố tụng của Tòa án để giao cho người được cấp Mặc dù nghị quyết này đưa ra một số quy định liên quan đến việc xác định ngày kháng cáo, nhưng vẫn chưa đầy đủ Khi Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 có hiệu lực, nghị quyết này đã hết hiệu lực thi hành.
52 Xem khoản 1 Điều 173 BLTTDS năm 2015
53 Xem khoản 2 Điều 152 BLTTDS năm 2015
54 Xem khoản 1, 2, 3 điều 4 Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012.
Vào ngày 16/6/2017, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên án và phát hành bản án số 02/2017/DSST Ngày 21/7/2017, anh Nguyễn Như B đã nộp đơn kháng cáo để xin xét xử phúc thẩm tại TAND thành phố Hải Phòng Tuy nhiên, vào ngày 21/8/2017, TAND thành phố Hải Phòng đã ra quyết định không chấp nhận đơn kháng cáo quá hạn của anh B, với lý do đã hết thời hạn kháng cáo và không có lý do chính đáng cho việc kháng cáo muộn Hội đồng xét đơn kháng cáo xác định rằng vào ngày 23/6/2017, Tòa án đã tống đạt bản án cho chị Phạm Thị Q, vợ của anh B, và chị Q đã xác nhận đã giao bản án cho anh B vào ngày 25/6/2017 Do đó, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày 25/6/2017.
Hiện nay, vấn đề này vẫn chưa có sự thống nhất trong quan điểm xử lý, dẫn đến việc các Tòa án ở địa phương áp dụng pháp luật không đồng nhất cho những vụ việc tương tự Dưới đây là những quan điểm thực tiễn trong việc giải quyết vấn đề này.
Quan điểm thứ nhất cho rằng ngày mà người thứ ba có thẩm quyền nhận và giao lại cam kết cho người được cấp tống đạt theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sẽ được xác định là ngày bắt đầu tính thời hạn kháng cáo Điều này vì người nhà của đương sự hoặc tổ trưởng tổ dân phố là những người địa phương, có khoảng cách địa lý gần gũi và đáng tin cậy, có khả năng thông báo và giao nhận nhanh chóng cho đương sự Trong trường hợp cần thiết, họ có thể liên lạc với đương sự qua điện thoại, thư điện tử hoặc các kênh khác.
Quan điểm thứ hai: phân chia hai trường hợp cụ thể Trường hợp thứ nhất:
Nếu người nhận văn bản tố tụng vắng mặt, văn bản có thể được giao cho người thân thích đủ năng lực hành vi dân sự và cùng cư trú trong gia đình, với yêu cầu cam kết giao lại tận tay Ngày ký của người nhận sẽ được xem là ngày cấp, tống đạt, thông báo văn bản Thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo sẽ là ngày tiếp theo Trường hợp vắng mặt mà không có
Quyết định không chấp nhận đơn kháng cáo quá hạn số 05/2017/QĐ-PT của TAND Thành phố Hải Phòng đã được ban hành vào ngày 21/8/2017 Theo quy định, nếu người thân thích đủ năng lực hành vi không chịu nhận văn bản tố tụng, có thể chuyển giao cho tổ trưởng tổ dân phố nơi người đó cư trú Tổ trưởng có trách nhiệm giao tận tay các văn bản cho người nhận Trong trường hợp này, người có thẩm quyền cần gặp trực tiếp tổ trưởng để xác nhận ngày giao nhận quyết định, bản án.
Quan điểm thứ ba nhấn mạnh rằng, bất kể là người thân hay tổ trưởng tổ dân phố nhận thay, đều cần xác nhận ngày giao quyết định, bản án của Tòa án cho người được cấp tống đạt Việc này là cần thiết để xác định chính xác thời hạn kháng cáo.
Tác giả đồng tình rằng người thân thích cùng một nhà với đương sự có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi cho nhau Việc xác minh thời gian giao nhận giữa những người thân có thể dẫn đến gian lận nhằm bảo vệ quyền lợi cho đương sự Việc giám sát quá trình này giữa những người có quan hệ huyết thống cùng cư trú là rất khó khăn Những người này hoàn toàn có khả năng thông báo hoặc giao quyết định, bản án trong cùng một ngày Trong vụ kháng cáo của anh Nguyễn Như B, việc Tòa án triệu tập chị Phạm Thị Q, vợ anh B, để xác định ngày nhận bản án nhằm tính thời hạn kháng cáo là không hợp lý và chưa thuyết phục.
Q có khả năng thông báo ngay lập tức cho anh Q qua điện thoại, tin nhắn, thư điện tử hoặc các ứng dụng hiện đại Nếu chị Q khai nhận ngày giao bản án cho anh B theo hướng có lợi nhằm để Tòa án chấp nhận đơn kháng cáo quá hạn, liệu Tòa án có xem đó là căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo không? Phân tích cho thấy nhận định của TAND thành phố Hải Phòng là không thực tế Trong trường hợp tổ trưởng tổ dân phố cam kết giao lại, việc này cần được xem xét kỹ lưỡng.
Theo khoản 1 Điều 172 BLTTDS năm 2015, việc xác nhận lại ngày giao tài liệu cho đương sự là cần thiết, vì có thể không thực hiện ngay trong ngày hoặc không thông báo ngay cho đương sự Do đó, cần có một khoảng thời gian hợp lý để thực hiện việc cấp tống đạt thay Tòa án.
Theo phân tích trên, tác giả kiến nghị cần bổ sung quy định chi tiết về cách tính thời hạn trong việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng Cụ thể, nếu người nhận vắng mặt, văn bản có thể được giao cho người thân thích đủ năng lực hành vi dân sự và cùng địa chỉ cư trú, với yêu cầu cam kết giao lại tận tay cho người nhận Ngày ký của người thân sẽ được coi là ngày cấp, tống đạt văn bản Nếu không có người thân thích đủ năng lực, văn bản sẽ được giao cho tổ trưởng tổ dân phố, và người thực hiện việc cấp, tống đạt phải yêu cầu tổ trưởng cam kết giao lại tận tay cho người nhận Cần có biên bản xác nhận việc giao nhận này, và ngày ký xác nhận của tổ trưởng sẽ được xem là ngày cấp, tống đạt văn bản tố tụng.