LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG
Nguồn gốc hình thành và lịch sử phát triển của chế tài phạt vi phạm hợp đồng
Kể từ khi ra đời, phạt vi phạm hợp đồng đã trở thành công cụ quan trọng được các bên trong quan hệ hợp đồng quan tâm và áp dụng nhiều Điều này xuất phát từ lợi ích mà chế tài này mang lại, vì nó chỉ yêu cầu chứng minh hành vi vi phạm mà không cần chứng minh thiệt hại như trong biện pháp bồi thường Phạt vi phạm không chỉ là giải pháp tạm thời trong khi chờ đợi bồi thường thiệt hại đầy đủ mà còn bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm trong trường hợp khó khăn trong việc xác định thiệt hại Do đó, pháp luật Việt Nam và nhiều quốc gia khác đều quy định về phạt vi phạm hợp đồng Bài viết này sẽ tập trung vào lịch sử hình thành và phát triển của chế tài phạt vi phạm trong pháp luật Việt Nam.
Từ năm 1986, Việt Nam khởi đầu công cuộc đổi mới, dẫn đến nhiều thay đổi trong xã hội, bao gồm cả lĩnh vực pháp luật Để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa đa dạng và quan hệ hợp đồng giữa các đơn vị kinh tế, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế đã được ban hành vào ngày 29 tháng 9 năm 1991.
Năm 1989, Pháp lệnh HĐKT được ban hành, cung cấp cơ sở pháp lý cho các quan hệ hợp đồng, bao gồm quy định về phạt vi phạm hợp đồng Theo Điều 29 của Pháp lệnh, phạt vi phạm là hình thức chế tài tiền tệ bắt buộc, áp dụng khi một bên vi phạm hợp đồng Nghị định 17/HĐBT cũng quy định cụ thể các tỷ lệ phạt cho từng trường hợp vi phạm, như phạt từ 3% đến 12% giá trị hợp đồng đối với vi phạm chất lượng và phạt 2% giá trị hợp đồng cho vi phạm thời hạn thực hiện.
Theo Điều 29 Pháp lệnh HĐKT 1989, các bên có trách nhiệm tài sản trực tiếp với nhau nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng kinh tế.
2 Bên vi phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm tiền phạt vi phạm hợp đồng và trong trường hợp có thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định sau đây: a) Mức tiền phạt vi phạm hợp đồng từ 2% đến 12% giá trị phần hợp đồng kinh tế bị vi phạm Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết mức tiền phạt theo loại vi phạm đối với từng loại hợp đồng kinh tế
Trong trường hợp vi phạm hợp đồng kinh tế, nếu thời gian thực hiện bị trễ 10 ngày đầu tiên, mức phạt sẽ từ 0,5% đến 1% cho mỗi đợt 10 ngày tiếp theo, tối đa không quá 8% giá trị phần hợp đồng vi phạm Nếu hợp đồng hoàn toàn không được thực hiện, mức phạt có thể lên tới 12% giá trị hợp đồng Đối với vi phạm nghĩa vụ không hoàn thành sản phẩm, hàng hóa, hoặc công việc một cách đồng bộ, mức phạt sẽ dao động từ 6% đến 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm.
Việc quy định can thiệp của Nhà nước vào quyền tự do thoả thuận trong hợp đồng thể hiện sự kiểm soát chặt chẽ Theo các Điều 31 đến 38 của Pháp lệnh 3, nếu một bên không thực hiện hợp đồng đúng hạn hoặc đơn phương đình chỉ hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại Do đó, bên vi phạm không chỉ phải đền bù cho những hậu quả do hành vi của mình gây ra mà còn phải chịu sự trừng phạt theo quy định của pháp luật.
Năm 1991, Pháp lệnh hợp đồng dân sự đã được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/7/1991, đánh dấu sự phân biệt giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự Pháp lệnh này quy định rõ ràng về việc phạt vi phạm hợp đồng, cụ thể tại Điều 55, nêu rõ rằng bên vi phạm phải nộp tiền phạt cho bên kia nếu có thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, và mức tiền phạt sẽ được các bên tự thỏa thuận.
Theo Pháp lệnh HĐKT 1989, các điều khoản quy định rõ ràng về việc xử lý vi phạm hợp đồng Cụ thể, Điều 31 nêu rằng bên vi phạm sẽ bị phạt và phải bồi thường thiệt hại nếu hợp đồng không được thực hiện đúng thời hạn do sửa chữa sai sót Điều 32 quy định rằng nếu sai sót không được khắc phục kịp thời, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại Điều 33 cho phép bên bị vi phạm từ chối nhận sản phẩm nếu bên kia chậm thực hiện hợp đồng, đồng thời yêu cầu bồi thường Điều 34 khẳng định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên vi phạm do không thực hiện hợp đồng đúng hạn Điều 35 quy định quyền yêu cầu bồi thường cho các chi phí phát sinh khi bên từ chối nhận hàng hóa đã hoàn thành Cuối cùng, Điều 36 chỉ rõ rằng bên đơn phương đình chỉ hợp đồng không đúng quy định cũng sẽ bị phạt và bồi thường thiệt hại như trường hợp không thực hiện hợp đồng.
Theo Điều 37 của Pháp lệnh HĐKT 1989, bên ký hợp đồng kinh tế mà không thực hiện sẽ bị phạt vi phạm hợp đồng ở mức cao nhất theo quy định pháp luật và phải bồi thường thiệt hại do việc không thực hiện hợp đồng gây ra.
Mặc dù có quy định chung về phạt vi phạm, nhưng vẫn tồn tại sự thiếu cụ thể, dẫn đến mâu thuẫn giữa các bên Năm 1995, Bộ luật Dân sự (BLDS) đã được ban hành, kế thừa và phát triển từ pháp luật dân sự Việt Nam, nhằm cụ thể hóa Hiến pháp năm 1992 Theo BLDS 1995, phạt vi phạm được xác định là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, yêu cầu bên vi phạm phải nộp tiền cho bên có quyền Đặc biệt, thoả thuận về phạt vi phạm phải được lập thành văn bản, giúp tăng cường tính rõ ràng và minh bạch trong các giao dịch.
Năm 1995, việc thoả thuận bằng lời nói hay hành vi cụ thể dễ dẫn đến tranh chấp do liên quan đến lợi ích vật chất Tuy nhiên, điều khoản phạt vi phạm trong Bộ luật Dân sự (BLDS) 1995 vẫn còn chung chung và thiếu rõ ràng về các trường hợp áp dụng Đến năm 1997, với sự phát triển của hoạt động thương mại, Luật Thương mại (LTM) 1997 được thông qua, đánh dấu bước tiến mới trong hệ thống pháp luật thương mại Việt Nam, tạo sự tự do hơn trong quan hệ hợp đồng Mặc dù vậy, sự tồn tại song song của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989 và LTM 1997 dẫn đến tình trạng chồng chéo và mâu thuẫn trong thực tiễn áp dụng.
Năm 2005, Pháp lệnh HĐKT mới được bãi bỏ, đánh dấu một thời điểm quan trọng khi Việt Nam hoàn tất các bước gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Việc rà soát và điều chỉnh pháp luật để phù hợp với các cam kết trong khuôn khổ WTO là rất cần thiết, trong đó Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 được ban hành để thay thế BLDS 1995 BLDS 2005 không chỉ là đạo luật chung điều chỉnh các quan hệ tư mà còn xác định chế tài phạt vi phạm dựa trên sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, thay vì chỉ dựa vào quy định của pháp luật.
4 Điều 377 Bộ luật dân sự năm 1995 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 8, thông qua ngày 28 tháng 10 năm 1995
Với sự ra đời của Bộ luật Dân sự 2005, Luật Thương mại 2005 cũng được ban hành để thay thế Luật Thương mại 1997 Sự xuất hiện của chế tài phạt vi phạm trong Luật Thương mại 2005 đã tạo ra một cơ chế quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ thương mại.
BLDS 2005 và LTM 2005 đều quy định việc phạt vi phạm dựa trên thoả thuận giữa các bên, không còn áp dụng theo luật định một cách tự động Tuy nhiên, giữa hai văn bản pháp luật này vẫn tồn tại những khác biệt đáng chú ý, sẽ được phân tích trong mục 2.2.
Khái niệm và đặc điểm của chế tài phạt vi phạm hợp đồng
Ngày nay, phạt vi phạm hợp đồng đã trở thành một chế tài phổ biến trong hoạt động thương mại Các chế tài này không chỉ được quy định rõ ràng mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện hợp đồng Chúng ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng thương mại bằng cách điều tiết và định hướng hành vi của các bên liên quan trong quá trình thực hiện.
1.2.1 Khái niệm chế tài phạt vi phạm hợp đồng
Phạt vi phạm hợp đồng là một chế tài trong thương mại, nhằm áp dụng các biện pháp tác động và hậu quả bất lợi đối với bên vi phạm hợp đồng Các biện pháp này có thể được thỏa thuận giữa các bên hoặc được quy định bởi pháp luật, tùy thuộc vào từng loại chế tài cụ thể.
Lịch sử hình thành và phát triển chế tài phạt vi phạm hợp đồng trong pháp luật Việt Nam cho thấy có hai loại phạt vi phạm: thứ nhất, phạt vi phạm theo quy định của pháp luật, như Pháp lệnh HĐKT 1989; thứ hai, phạt vi phạm theo hợp đồng, được quy định trong các văn bản pháp luật sau này như Pháp lệnh Hợp đồng dân sự 1991 và Bộ luật Dân sự 1995.
Pháp luật hiện hành quy định rằng chế tài phạt vi phạm chỉ được áp dụng dựa trên thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng.
Theo Điều 422 Bộ luật Dân sự 2005, phạt vi phạm được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, trong đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
5 Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 33/2005/QH11 được QH khoá XI, kỳ họp thứ
7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006
Theo Điều 300 LTM 2005, việc phạt vi phạm chỉ được áp dụng khi các bên trong hợp đồng có thỏa thuận về vấn đề này Thỏa thuận này tạo ra quyền yêu cầu mới cho bên bị vi phạm và nghĩa vụ mới cho bên vi phạm, cụ thể là liên quan đến khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng Khoản tiền phạt không chỉ có tính chất răn đe, buộc các bên phải có trách nhiệm hơn trong việc tuân thủ hợp đồng, mà còn là biện pháp trừng phạt khi có hành vi vi phạm xảy ra Khác với chế tài bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm được áp dụng ngay cả khi không có thiệt hại phát sinh thực tế.
Bên bị vi phạm chỉ có quyền áp dụng chế tài phạt khi bên vi phạm thực hiện hành vi vi phạm đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng là đối tượng bị áp dụng chế tài.
Phạt vi phạm là một chế tài vật chất được áp dụng khi một bên vi phạm hợp đồng, và điều này đã được các bên thỏa thuận như một căn cứ để thực hiện chế tài này.
Từ khái niệm trên, chế tài phạt vi phạm hợp đồng có các đặc điểm sau:
Chủ thể áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng là bên bị vi phạm, có quyền quyết định việc áp dụng chế tài khi bên vi phạm có hành vi vi phạm hợp đồng Việc áp dụng chế tài này phụ thuộc vào quyền định đoạt của bên bị vi phạm, khác với các chế tài hình sự hay hành chính, nơi Nhà nước có nghĩa vụ áp dụng khi đủ điều kiện Điều này cho thấy sự linh hoạt trong việc áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng, chỉ được thực hiện khi bên bị vi phạm lựa chọn.
6 Luật Thương mại số 6/2005-QH11 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005
Dù hai bên đã thỏa thuận về chế tài phạt vi phạm, bên bị vi phạm vẫn có quyền không áp dụng hình thức phạt khi xảy ra hành vi vi phạm.
Điều kiện áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng là hành vi vi phạm đã được các bên thoả thuận trong hợp đồng Các bên có thể liệt kê cụ thể các hành vi vi phạm để áp dụng chế tài phạt, không nhất thiết phải áp dụng phạt cho mọi hành vi vi phạm Trong thực tế, một số hành vi vi phạm không ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng, và việc áp dụng chế tài phạt trong những trường hợp này có thể cản trở việc thực hiện hợp đồng của bên vi phạm.
Về khái niệm vi phạm hợp đồng, Khoản 12 Điều 3 LTM 2005 có quy định:
Vi phạm hợp đồng xảy ra khi một bên không thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng như quy định của pháp luật.
Theo quy định của pháp luật thương mại, có bốn trường hợp được coi là hành vi vi phạm hợp đồng, bao gồm: (i) không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng theo thỏa thuận; (ii) thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ; (iii) thực hiện không đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận; và (iv) vi phạm các quy định của Luật Thương mại.
Vi phạm hợp đồng xảy ra khi một bên không thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng Ví dụ, công ty A ký hợp đồng bán hàng cho công ty B nhưng không giao hàng theo đúng cam kết.
B 200 tấn nhôm Đến thời điểm giao hàng, công ty A không giao hàng cho công ty
Công ty A đã vi phạm hợp đồng khi không thực hiện nghĩa vụ giao hàng như đã thỏa thuận, dẫn đến tranh chấp giữa hai bên.
Chức năng của chế tài phạt vi phạm hợp đồng
Mỗi quy định pháp luật đều mang những chức năng và tác động riêng đến đối tượng mà nó điều chỉnh Đối với chế tài phạt vi phạm hợp đồng, các chức năng này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan và duy trì trật tự trong các giao dịch thương mại.
Thứ nhất, phạt vi phạm hợp đồng là một chế tài mang tính chất răn đe, ngăn ngừa các hành vi vi phạm hợp đồng
Chế tài phạt vi phạm là một hình thức thỏa thuận, giúp tăng cường quyền yêu cầu và nghĩa vụ vật chất giữa các bên trong hợp đồng Việc quy định khoản tiền phạt khi vi phạm không chỉ nâng cao ý thức tuân thủ hợp đồng mà còn khuyến khích các bên có trách nhiệm hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ đã cam kết Nhờ đó, các bên sẽ có thái độ tích cực hơn trong việc tuân thủ các điều khoản đã thỏa thuận.
Phạt vi phạm hợp đồng có tác dụng giảm thiểu khả năng xảy ra tranh chấp giữa các bên Đây là một chế tài thương mại dựa trên thỏa thuận trong hợp đồng, cho phép các bên xác định rõ điều kiện áp dụng, hành vi vi phạm và mức phạt Khi xảy ra vi phạm, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu thực thi các điều khoản đã thỏa thuận.
10 http://plf.vn/vn/tin-tuc/51/mien-trach-trong-vi-pham-hop-dong-thuong-mai, truy cập vào 8:26, ngày 06/7/2014
11 Đại học Luật TP.HCM (2013), Giáo trình Pháp luật về thương mại, hàng hoá và dịch vụ, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr 423
Dựa trên những thỏa thuận đã ký kết, bên bị vi phạm có thể bị áp dụng các chế tài mà không cần phải tranh cãi về phương thức xử lý.
Nếu các bên trong hợp đồng có thỏa thuận không phù hợp với quy định pháp luật, việc áp dụng chế tài sẽ không tự động xảy ra Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, Tòa án hoặc Trọng tài sẽ là cơ quan có thẩm quyền giải quyết vấn đề này.
Thứ ba, phạt vi phạm hợp đồng có chức năng trừng phạt khi có hành vi vi phạm xảy ra trên thực tế
Khác với chế tài bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm không yêu cầu chứng minh thiệt hại thực tế Điều này cho phép phạt vi phạm hợp đồng không chỉ có chức năng răn đe và phòng ngừa mà còn mang tính chất trừng phạt đối với bên vi phạm, ngay cả khi hành vi đó không gây ra thiệt hại nào.
Chức năng của chế tài chỉ thực sự hiệu quả khi bên bị vi phạm thực hiện áp dụng các biện pháp xử lý Tuy nhiên, trong thực tế, các bên trong hợp đồng thường xuyên bỏ qua một số vi phạm lẫn nhau Đặc biệt trong quan hệ mua bán hàng hóa, bên bán và bên mua thường tỏ ra kiên nhẫn với những vấn đề như thanh toán chậm hoặc giao hàng trễ từ phía đối tác.
Thứ tƣ, phạt vi phạm là một chế tài có chức năng đền bù, khắc phục hậu quả đối với các thiệt hại khó chứng minh trên thực tế
Trong một số trường hợp, khi thiệt hại phát sinh từ hợp đồng khó chứng minh, việc thỏa thuận áp dụng chế tài phạt vi phạm sẽ bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm Khoản tiền phạt này giúp bên bị vi phạm khắc phục thiệt hại thực tế thay vì phải yêu cầu bồi thường, điều này đặc biệt quan trọng khi không thể chứng minh thiệt hại xảy ra.
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VỀ CHẾ TÀI PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG – THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
Chế tài phạt vi phạm hợp đồng theo pháp luật thương mại Việt Nam
2.1.1 Quy định cụ thể của Luật Thương mại 2005 về chế tài phạt vi phạm hợp đồng
2.1.1.1 Điều kiện áp dụng Điều 300 LTM 2005 quy định “Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận trừ các trường hợp miễn trừ trách nhiệm quy định tại Điều 294 Luật này”
Để áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng, cần thỏa mãn ba điều kiện quan trọng: đầu tiên, phải có sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng; thứ hai, phải xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng; và thứ ba, các hành vi vi phạm này không được nằm trong các trường hợp miễn trừ trách nhiệm theo quy định tại Điều 294 LTM 2005.
Về điều kiện thứ nhất, thoả thuận giữa các bên trong quan hệ hợp đồng
Theo Điều 300 LTM 2005, bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt chỉ khi có thoả thuận giữa các bên Nếu không có thoả thuận, bên bị vi phạm không thể áp dụng chế tài phạt vi phạm, dù có hành vi vi phạm xảy ra Đây là sự khác biệt lớn giữa chế tài phạt vi phạm và các chế tài khác trong thương mại, vì các chế tài khác được áp dụng tự động khi đủ điều kiện pháp luật quy định Việc phạt vi phạm chỉ áp dụng khi có thoả thuận, nhằm tránh gây bất lợi cho bên vi phạm trong trường hợp xảy ra vi phạm hợp đồng.
18 Điều 294 LTM 2005 quy định: “Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm
1 Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây: a) Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận; b) Xảy ra sự kiện bất khả kháng; c) Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia; d) Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng
2 Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm.”
Hành vi vi phạm hợp đồng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ giữa các bên, cả trong hiện tại lẫn tương lai Trong thực tế, có những vi phạm như chậm thanh toán hoặc giao hàng mà các bên có thể chấp nhận và bỏ qua cho nhau.
Theo LTM 2005, không có quy định cụ thể về thời điểm giao kết thoả thuận, mà chỉ quy định việc phạt vi phạm áp dụng nếu có thoả thuận trong hợp đồng Hợp đồng được hiểu là sự thoả thuận giữa các bên nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ pháp lý ràng buộc Điều này có nghĩa là các bên không bắt buộc phải thoả thuận về chế tài phạt vi phạm ngay từ đầu, mà có thể thoả thuận sau khi hợp đồng đã được ký kết, thậm chí sau khi xảy ra vi phạm, nếu có sự đồng ý của cả hai bên Tuy nhiên, theo quy định pháp luật hiện hành, thoả thuận này phải tồn tại tại thời điểm bên bị vi phạm yêu cầu áp dụng phạt vi phạm đối với bên vi phạm hợp đồng.
Về hình thức của thoả thuận phạt vi phạm, LTM 2005 chỉ quy định thoả thuận này là một phần của hợp đồng mà không có hướng dẫn cụ thể nào khác Điều này có thể gây khó khăn cho các bên trong việc xác định hình thức của thoả thuận khi áp dụng chế tài Theo pháp luật, hợp đồng có thể được giao kết bằng văn bản, lời nói hoặc hành vi cụ thể, do đó, thoả thuận phạt vi phạm cũng có thể được thực hiện theo một trong những hình thức này Nếu thoả thuận được ký kết sau khi hợp đồng chính đã được giao kết, nó có thể được lập dưới dạng phụ lục, trở thành một phần không tách rời của hợp đồng chính Tuy nhiên, do tính chất liên quan đến lợi ích vật chất, việc thoả thuận bằng lời nói hoặc hành vi có thể dẫn đến tranh chấp khi có vi phạm xảy ra Vì vậy, pháp luật nên yêu cầu các bên thỏa thuận phạt vi phạm bằng văn bản trong hợp đồng chính hoặc phụ lục hợp đồng nếu thoả thuận được lập sau khi ký hợp đồng chính.
Theo Giáo trình Pháp luật về thương mại hàng hoá và dịch vụ của Đại học Luật TP.HCM (2013), thoả thuận về việc phạt vi phạm phải tồn tại tại thời điểm một bên đưa ra yêu cầu, nhưng không nhất thiết phải có trước khi vi phạm xảy ra; các bên có thể thỏa thuận về điều này sau khi vi phạm đã diễn ra.
Về điều kiện thứ hai, đó là đã xảy ra các hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để áp dụng chế tài
Theo quy định của LTM 2005, việc phạt vi phạm được áp dụng cho các hành vi vi phạm đã được các bên trong hợp đồng thỏa thuận Các chủ thể có thể liệt kê cụ thể các hành vi vi phạm làm điều kiện áp dụng chế tài, hoặc đơn giản là thỏa thuận rằng bên vi phạm bất kỳ nghĩa vụ nào cũng có thể bị yêu cầu phạt vi phạm Tuy nhiên, thực tế cho thấy thỏa thuận phạt hợp đồng thường chỉ giới hạn ở các vi phạm nghĩa vụ chính của hợp đồng.
Theo phân tích tại mục 1.2 chương 1, có bốn trường hợp vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật thương mại, bao gồm: (i) không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng theo thỏa thuận; (ii) thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ; (iii) thực hiện không đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận; và (iv) các hành vi vi phạm theo quy định của Luật Thương mại.
Nếu một bên trong hợp đồng vi phạm một trong bốn hành vi đã được thỏa thuận là điều kiện áp dụng phạt vi phạm, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm trả khoản tiền phạt mà không cần chứng minh thiệt hại Sự khác biệt này giữa chế tài phạt vi phạm hợp đồng và chế tài bồi thường thiệt hại là rõ ràng Quy định này hợp lý vì chế tài phạt có chức năng răn đe, khuyến khích các bên thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ hợp đồng, từ đó ngăn ngừa hành vi vi phạm có thể xảy ra Nếu yêu cầu phải có thiệt hại mới có thể phạt vi phạm, sẽ làm giảm hiệu quả phòng ngừa của chế tài này.
Về điều kiện thứ ba, hành vi vi phạm không thuộc các trường hợp miễn trừ trách nhiệm quy định tại điều 294 LTM 2005
Các trường hợp miễn trừ trách nhiệm là ngoại lệ trong việc áp dụng chế tài thương mại và chế tài phạt vi phạm hợp đồng Mặc dù các bên có thể thỏa thuận về việc áp dụng chế tài phạt cho hành vi vi phạm hợp đồng, nhưng nếu hành vi đó thuộc các trường hợp miễn trừ trách nhiệm theo quy định pháp luật, bên bị vi phạm không có quyền yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt Điều này nhằm đảm bảo nguyên tắc công bằng trong các giao dịch thương mại.
20 Đại học Luật TP.HCM (2013), Giáo trình Pháp luật về thương mại hàng hoá và dịch vụ, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr 424
Theo Điều 294 LTM 2005, các trường hợp miễn trừ trách nhiệm bao gồm sự kiện bất khả kháng, hành vi vi phạm do lỗi của bên kia, hoặc quyết định của cơ quan quản lý nhà nước mà các bên không thể biết khi ký hợp đồng Trong những trường hợp này, yêu cầu bên vi phạm chịu trách nhiệm phạt sẽ vi phạm nguyên tắc công bằng trong quan hệ hợp đồng.
Theo Điều 301 LTM 2005, mức phạt vi phạm hợp đồng không được vượt quá 8% giá trị nghĩa vụ bị vi phạm, tuy nhiên, các bên có quyền thỏa thuận mức phạt trong giới hạn này Điều này tạo ra một khung pháp lý cho việc xử lý vi phạm, nhưng cũng hạn chế quyền tự do thỏa thuận của các bên trong quan hệ thương mại Một vấn đề khác là LTM 2005 không quy định biện pháp xử lý khi mức phạt thỏa thuận giữa các bên vượt quá mức tối đa 8%, dẫn đến những vướng mắc trong thực thi chế tài phạt vi phạm.
Ngoài ra, trong quy định này, cần có sự phân biệt rõ ràng giữa khái niệm
Giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm liên quan chặt chẽ đến khái niệm giá trị hợp đồng khi áp dụng chế tài Một ví dụ minh họa rõ ràng cho sự khác biệt giữa hai khái niệm này là vào ngày 12/4/2005, công ty A đã ký hợp đồng kinh tế bán hàng cho công ty B Sự vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng này có thể dẫn đến việc xác định giá trị bồi thường dựa trên giá trị hợp đồng ban đầu.