1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Căn cứ áp dụng biện pháp khám xét theo luật tố tụng hình sự việt nam

64 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Căn Cứ Áp Dụng Biện Pháp Khám Xét Theo Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam
Tác giả Đỗ Thị Thu Trang
Người hướng dẫn Ts. Lê Nguyên Thanh
Trường học Trường Đại Học Luật Tp Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình Sự Và Tố Tụng Hình Sự
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,4 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. CĂN CỨ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHÁM XÉT CHỖ Ở THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM (12)
    • 1.1. Nhận thức và quy định của luật tố tụng hình sự về căn cứ áp dụng biện pháp khám xét chỗ ở (13)
      • 1.1.1. Nhận thức khái quát về căn cứ áp dụng biện pháp khám xét chỗ ở (13)
      • 1.1.2. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về căn cứ áp dụng biện pháp khám xét chỗ ở (16)
    • 1.2. Thực tiễn áp dụng căn cứ khám xét chỗ ở (20)
      • 1.2.1. Những kết quả đạt được trong áp dụng căn cứ khám xét chỗ ở (20)
      • 1.2.2. Những khó khăn, vướng mắc trong áp dụng căn cứ khám xét chỗ ở và nguyên nhân (25)
    • 1.3. Biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng căn cứ khám xét chỗ ở (29)
      • 1.3.1. Biện pháp hoàn thiện luật tố tụng hình sự về căn cứ áp dụng biện khám xét chỗ ở (29)
      • 1.3.2. Biện pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng căn cứ khám xét chỗ ở (30)
  • CHƯƠNG 2. CĂN CỨ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHÁM XÉT NGƯỜI THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM (12)
    • 2.1. Nhận thức và quy định của luật tố tụng hình sự về căn cứ áp dụng biện pháp khám xét người (33)
      • 2.1.1. Nhận thức và quy định của luật tố tụng hình sự về căn cứ áp dụng biện pháp khám xét người (33)
      • 2.1.2. Quy định của luật tố tụng hình sự về căn cứ áp dụng biện pháp khám xét người (35)
    • 2.2. Thực tiễn áp dụng căn cứ khám xét người (38)
      • 2.2.1. Những kết quả đạt được trong áp dụng căn cứ khám xét người (38)
    • 2.3. Biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng căn cứ khám xét người (45)
      • 2.3.1. Biện pháp hoàn thiện luật tố tụng hình sự về căn cứ áp dụng biện pháp khám xét người (45)
      • 2.3.2. Biện pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng căn cứ khám xét người (46)
  • KẾT LUẬN (32)
  • PHỤ LỤC (54)

Nội dung

CĂN CỨ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHÁM XÉT CHỖ Ở THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Nhận thức và quy định của luật tố tụng hình sự về căn cứ áp dụng biện pháp khám xét chỗ ở

1.1.1 Nhận thức khái quát về căn cứ áp dụng biện pháp khám xét chỗ ở

Khám xét là một biện pháp điều tra quan trọng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, được thực hiện bởi cơ quan điều tra thông qua việc lục soát các địa điểm như chỗ ở, nơi làm việc, và các đồ vật liên quan Mục đích của việc khám xét là nhằm phát hiện và thu giữ công cụ, phương tiện phạm tội, tài sản có được từ hành vi phạm tội, cũng như các tài liệu và chứng cứ liên quan đến vụ án hoặc tìm kiếm người đang bị truy nã.

Chỗ ở là nơi cư trú của cá nhân hoặc gia đình, bao gồm nhà riêng, căn hộ Nhà nước, phòng trọ, khách sạn, và các phương tiện giao thông như tàu, thuyền Theo Điều 12 Luật cư trú năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013), chỗ ở hợp pháp là nhà ở hoặc phương tiện mà công dân sử dụng để cư trú, có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cho thuê, cho mượn, hoặc ở nhờ theo quy định của pháp luật Chỗ ở cũng bao gồm các khu vực phụ cận như vườn, đất đai, và công trình vệ sinh.

Căn cứ có nghĩa là dựa vào, lấy làm tiền đề hoặc cơ sở 3

Từ sự phân tích trên và quy định tại Khoản 1 Điều 192 BLTTHS năm 2015, tác giả đưa ra khái niệm về căn cứ khám xét chỗ ở như sau:

Căn cứ khám xét chỗ ở là cơ sở pháp lý quan trọng trong Bộ luật tố tụng hình sự, cho phép các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Việc này được thực hiện dựa trên việc đánh giá tài liệu và chứng cứ thu thập được, nhằm quyết định việc lục soát, tìm kiếm tại nhà ở, phương tiện hoặc địa điểm khác mà công dân sử dụng để cư trú Mục tiêu của việc khám xét là phát hiện, tạm giữ và thu giữ công cụ, phương tiện phạm tội, cũng như tài sản và đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội.

Viện chiến lược và khoa học Công an (2005) đã xuất bản "Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam", do Ban nghiên cứu khoa học và biên soạn từ điển nghiệp vụ Công an thực hiện, được phát hành bởi Nxb Công an nhân dân, trang 674.

Vào ngày 07/3/2019, trang http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/C%C4%83n_c%E1%BB%A9 đã cung cấp thông tin quan trọng liên quan trực tiếp đến vụ án, giúp phát hiện người đang bị truy nã, từ đó hỗ trợ truy tìm và giải cứu nạn nhân.

Căn cứ khám xét chỗ ở có những đặc điểm sau đây:

Căn cứ theo Bộ luật Tố tụng hình sự, các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tuân thủ các quy định này khi quyết định việc lục soát, tìm kiếm tại chỗ ở, phương tiện hoặc nơi cư trú khác của công dân.

Căn cứ khám xét chỗ ở là những sự kiện thực tế mà cơ quan có thẩm quyền thu thập và đánh giá để xác định xem có thuộc các trường hợp quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự hay không Dựa trên những căn cứ này, cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định tiến hành lục soát, tìm kiếm tại nhà ở, phương tiện hoặc nơi cư trú khác của công dân.

Căn cứ khám xét chỗ ở có thể xuất hiện trong mọi giai đoạn của quá trình tố tụng, từ xác minh đến xét xử Việc xác định căn cứ này không hề đơn giản, do tài liệu liên quan thường hạn chế trong khi yêu cầu điều tra rất khẩn trương để ngăn chặn tội phạm tẩu tán chứng cứ Do đó, trước khi ra lệnh khám xét, các cơ quan có thẩm quyền cần tiến hành một cách nhanh chóng, thận trọng và khách quan, tổng hợp và phân tích tất cả tài liệu liên quan Nếu chưa đủ căn cứ, cần thu thập thêm tài liệu bổ sung và kiểm tra kỹ lưỡng Chỉ khi có đủ căn cứ, lệnh khám xét mới được ban hành nhằm phát hiện và thu thập chứng cứ quan trọng cho quá trình điều tra Quy định về căn cứ khám xét chỗ ở đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính hợp pháp và hiệu quả của hoạt động tố tụng.

Chỗ ở của mỗi người không chỉ là nơi sinh sống mà còn là không gian riêng tư, lưu giữ những bí mật cá nhân và gia đình Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở được ghi nhận trong Hiến pháp, thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ quyền riêng tư của mỗi cá nhân.

Hiến pháp năm 2013 quy định rằng mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, nghĩa là không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác mà không có sự đồng ý Tuy nhiên, một số cá nhân đã lợi dụng quyền này để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Do đó, việc lục soát chỗ ở của công dân là cần thiết để phát hiện và xử lý các hành vi phạm tội, cũng như tìm kiếm nạn nhân và người bị truy nã Để đảm bảo quy trình khám xét diễn ra thuận lợi và chính xác, cần có quy định cụ thể về chỗ ở hợp pháp của công dân Điều 12 Luật cư trú năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) đã định nghĩa chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú, có thể thuộc quyền sở hữu hoặc được cho thuê, cho mượn theo quy định của pháp luật Khi tiến hành khám xét, các cơ quan có thẩm quyền sẽ tìm kiếm tất cả đồ vật, động sản, bất động sản trong khu vực chỗ ở bị khám xét.

Chỗ ở của người thực hiện hành vi phạm tội có thể chứa đựng đồ vật, tài liệu, chứng cứ cần thu giữ để chứng minh tội phạm và làm rõ vụ án Để phát hiện và thu giữ những chứng cứ này, cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện lục soát tại chỗ ở, điều này có thể gây phản đối từ người phạm tội hoặc người cư trú tại đó Tuy nhiên, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở không phải là quyền tuyệt đối; Nhà nước bảo vệ quyền này để chống lại xâm phạm bất hợp pháp, nhưng không bảo vệ khi công dân lợi dụng quyền để che giấu hành vi vi phạm pháp luật Để đảm bảo việc khám xét không bị lạm dụng, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định rõ ràng về trình tự, thủ tục khám xét chỗ ở, yêu cầu phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tuân thủ các quy định pháp luật Hành vi khám xét chỗ ở bất hợp pháp, như tự ý vào nhà mà không có lệnh hoặc không tuân thủ quy trình pháp lý, sẽ bị coi là tội phạm theo Bộ luật hình sự.

2015 tại Điều 158 Tội xâm phạm chỗ ở của người khác

1.1.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về căn cứ áp dụng biện pháp khám xét chỗ ở

Việc quy định căn cứ khám xét chỗ ở trong Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của công dân Pháp luật yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền phải thận trọng khi ra lệnh khám xét, xác định rõ các đồ vật và tài liệu liên quan đến vụ án để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả của việc khám xét Điều này giúp tránh những cuộc khám xét không cần thiết, đồng thời bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân Theo khoản 1, Điều 192 BLTTHS năm 2015, việc khám xét chỗ ở được thực hiện khi có căn cứ xác định sự hiện diện của công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, hoặc khi cần phát hiện người đang bị truy nã và giải cứu nạn nhân.

Khám xét chỗ ở được thực hiện khi có đủ căn cứ cho rằng nơi đó chứa đựng công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, hoặc tài sản có được từ hành vi phạm tội, cũng như các đồ vật, dữ liệu điện tử và tài liệu liên quan đến vụ án.

Nhận định có nghĩa là đưa ra ý kiến có tính chất đánh giá, kết luận, dự đoán về một đối tượng, một tình hình nào đó 4

Phương tiện phạm tội bao gồm các vật dụng mà người phạm tội sử dụng để thực hiện hành vi phạm pháp, trong đó có công cụ phạm tội và các vật chất khác liên quan.

Tài liệu là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân 6

Tài sản bao gồm vật chất, tiền tệ, giấy tờ có giá trị và quyền sở hữu Tài sản được phân loại thành bất động sản và động sản, trong đó cả hai loại này có thể là tài sản hiện tại hoặc tài sản hình thành trong tương lai.

Thực tiễn áp dụng căn cứ khám xét chỗ ở

1.2.1 Những kết quả đạt được trong áp dụng căn cứ khám xét chỗ ở

Giữa giai đoạn 2014 – 2018, tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau và Sóc Trăng ghi nhận 8.783 vụ phạm pháp hình sự với 10.112 đối tượng liên quan Trong quá trình điều tra, lực lượng chức năng đã tiến hành khám xét 1.557 vụ, thu giữ nhiều tài liệu và chứng cứ quan trọng, góp phần làm sáng tỏ nội dung vụ án và xác định người thực hiện hành vi phạm tội.

Bảng 1 Số vụ phạm pháp hình sự có tiến hành khám xét chỗ ở trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng giai đoạn 2014-2018

Số vụ phạm pháp hình sự

Số đối tượng bị khởi tố

Số vụ tiến hành khám xét chỗ ở

(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm của CQĐT các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng)

Trong 1.557 vụ có tiến hành khám xét chỗ ở tại tỉnh Bạc Liêu và các tỉnh lân cận Cà Mau, Sóc Trăng thì có 274 vụ khám xét trong trường hợp khẩn cấp 13 Những vụ khám xét khẩn cấp được thực hiện trước năm 2018 khi có các căn cứ quy định tại Điều 81 BLTTHS năm 2003, đây là những trường hợp không thể trì hoãn, từ năm 2018 những vụ được tiến hành khám xét chỗ ở trong trường hợp khẩn cấp khi có các căn cứ quy định Điều 192 BLTTHS năm 2015, cụ thể thuộc những trường hợp sau đây:

- Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Người chứng kiến tội phạm, bao gồm cả nạn nhân và những người có mặt tại hiện trường, có thể xác nhận danh tính của kẻ phạm tội Việc ngăn chặn kẻ phạm tội trốn thoát là rất cần thiết để đảm bảo công lý.

Có dấu vết tội phạm trên người, nơi ở, nơi làm việc hoặc phương tiện của nghi phạm, cần thiết phải ngăn chặn ngay hành vi trốn tránh hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Từ năm 2014 đến hết năm 2017, các cơ quan có thẩm quyền đã thực hiện khám xét chỗ ở theo quy định của pháp luật, đảm bảo quá trình tố tụng được tiến hành đúng cách và hiệu quả.

Theo quy định tại khoản 1, Điều 140 BLTTHS năm 2003, căn cứ khám xét chỗ ở được xác định, tuy nhiên từ ngày 01/01/2018, quy định này sẽ được thực hiện theo khoản 1, Điều 192 BLTTHS năm 2015 Điều này đánh dấu sự chuyển đổi trong quy trình khám xét chỗ ở theo luật hình sự.

Khoản 1 Điều 192 BLTTHS năm 2015 về căn cứ khám xét chỗ ở tương đồng với quy định trong năm 2003, tuy nhiên, điểm mới là việc bổ sung cụm từ “tài liệu” và “dữ liệu điện tử” trong các căn cứ khám xét.

Trong thực tiễn, các vụ khám xét chỗ ở trong trường hợp khẩn cấp chủ yếu diễn ra trong giai đoạn xác minh tin báo, khởi tố và điều tra, trong khi giai đoạn truy tố và xét xử không thực hiện khám xét này Một ví dụ điển hình là vụ án sau đây:

Vụ án của Quách Quang Phong, sinh năm 1992, trú tại Bạc Liêu, liên quan đến việc sử dụng và tàng trữ ma túy Ngày 23/11/2016, sau khi uống cà phê với Nguyễn Hữu Tiền, Phong đã mời Tiền về phòng trọ để sử dụng ma túy đá Trong khi lực lượng Công an kiểm tra hành chính, họ phát hiện Phong và Tiền đang phê ma túy, thu giữ 01 gói nylon chứa 4,1318 gram Methamphetamine Phong thừa nhận là chủ sở hữu số ma túy này và khai báo còn tàng trữ thêm ma túy tại nhà Dựa trên lời khai, Công an Bạc Liêu đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại địa chỉ của Phong, thu giữ thêm 01 gói nylon chứa 2,0854 gram Methamphetamine.

Vụ án thứ hai: Vụ Trộm cắp tài sản xảy ra từ ngày 07/02/2017 đến ngày

Vào ngày 19/4/2017, tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, bị can Trần Văn Thiện cùng đồng bọn đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản Do không có nghề nghiệp, từ ngày 07/02/2017 đến 19/4/2017, Trần Văn Thiện đã phối hợp với các bị can Lộ Minh Tân và Nguyễn Thành Công để thực hiện các hành vi phạm tội này.

Vào ngày 07/02/2017, Trần Văn Thiện và Lộ Minh Tân đã trộm cắp một xe máy Wave biển số 94K1 – 210.69 của anh Đàm Văn Nhâm tại thành phố Bạc Liêu Tiếp đó, vào ngày 23/02/2017, Thiện cùng Nguyễn Thành Công tiếp tục phá khóa lấy trộm xe Taurus biển số 94M – 2365 của anh Trương Trí Toàn Ngày 19/4/2017, Thiện và Tân lại thực hiện hành vi trộm cắp xe Wave ZX biển số 34L7 – 4584 của anh Lê Ngọc Huy, nhưng bị lực lượng Công an phát hiện và bắt giữ Thiện, trong khi Tân trốn thoát Ngày 07/5/2017, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bạc Liêu đã khởi tố vụ án và bị can, đồng thời phát lệnh truy nã đối với Lộ Minh Tân do hắn bỏ trốn Đến ngày 20/6/2017, nhờ thông tin từ quần chúng, Công an đã phát hiện Tân đang ẩn náu tại nhà trọ ở khóm 2, phường 7, thành phố Bạc Liêu và tiến hành khám xét khẩn cấp.

08 ngày 20/6/2017 đối với chỗ ở của Lộ Minh Tân tại nhà trọ thuộc khu vực nêu trên và tiến hành khám xét bắt giữ Lộ Minh Tân 15

Vụ án thứ ba: Khoảng 13 giờ ngày 26/11/2015 Đỗ Huỳnh Tiến (sinh năm

Vào ngày 26/11/2015, Đỗ Huỳnh Tiến đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 51Y9 – 2248 theo dõi chị Võ Thị Á đang di chuyển trên đường Trần Huỳnh, khi phát hiện chị có treo một ba lô Tiến đã nảy sinh ý định cướp giật ba lô của chị Á và khi đến ngã tư Trần Huỳnh – Lê Duẩn, hắn đã áp sát, giật ba lô chứa một điện thoại Iphone 4, một USB và 200.000 đồng của chị Á rồi bỏ chạy Ngày 28/11/2015, cơ quan điều tra Công an thành phố Bạc Liêu đã xác định Tiến là thủ phạm và mời hắn làm việc Tại cơ quan điều tra, Tiến đã thừa nhận hành vi cướp giật và khai rằng sau khi lấy được ba lô, hắn mang về phòng trọ tại số 67 đường Nguyễn Du để kiểm tra nhưng không thể sử dụng điện thoại do có mật khẩu, vì vậy đã để lại ba lô cùng tài sản của chị Á.

Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bạc Liêu đã tiến hành khám xét khẩn cấp phòng trọ của Tiến tại số 67 đường Nguyễn Du, phường 5, thành phố Bạc Liêu vào ngày 28/11/2015 Hành động này được thực hiện dựa trên lời khai của Tiến, cho thấy có tài liệu, đồ vật và tài sản do phạm tội mà có tại chỗ ở của anh Mục đích của cuộc khám xét là để thu giữ các đồ vật và tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của Tiến.

Thực tiễn cho thấy, việc xác định căn cứ khám xét chỗ ở liên quan đến công cụ, phương tiện phạm tội và tài liệu chứng cứ cần dựa vào nhiều nguồn khác nhau như lời khai của nhân chứng, người bị hại, và dữ liệu điện tử từ camera hay thiết bị ghi âm Các nguồn chứng cứ này phải được kiểm tra, xác minh và giám định, đảm bảo tính phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập trong vụ án Quy trình này được thực hiện bởi những người có thẩm quyền, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, và căn cứ khám xét sẽ được ghi rõ trong Lệnh khám xét.

Vào ngày 13/02/2018, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn Sơn tại khóm 2, phường Hộ Phòng Qua quá trình khám xét, cơ quan điều tra đã thu giữ nhiều đồ vật và tài liệu có liên quan đến vụ án.

CĂN CỨ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHÁM XÉT NGƯỜI THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Nhận thức và quy định của luật tố tụng hình sự về căn cứ áp dụng biện pháp khám xét người

2.1.1 Nhận thức và quy định của luật tố tụng hình sự về căn cứ áp dụng biện pháp khám xét người

Dựa trên quy định tại khoản 1 Điều 192 và Điều 194 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cùng với những phân tích trong Chương 1 của luận văn, tác giả định nghĩa căn cứ khám xét người như sau:

Căn cứ khám xét người được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, cho phép các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng dựa trên đánh giá tài liệu và chứng cứ đã thu thập Việc khám xét có thể diễn ra trong các trường hợp bắt giữ hoặc khám xét khác, nhằm phát hiện và thu giữ công cụ, phương tiện phạm tội, tài sản liên quan đến vụ án, cũng như yêu cầu người bị khám xét cung cấp tài liệu, đồ vật có liên quan.

Căn cứ khám xét người có những đặc điểm sau đây:

Căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần tuân thủ những quy định này khi quyết định việc lục soát và tìm kiếm trên người bị khám xét Mục đích của việc này là nhằm phát hiện và thu giữ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án.

Căn cứ khám xét người là những sự kiện thực tế đã xảy ra, được Cơ quan có thẩm quyền thu thập và đánh giá theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) Việc này nhằm xác định xem có thuộc các trường hợp được quy định hay không, từ đó quyết định khám xét người để phát hiện và thu giữ tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án.

Việc quy định căn cứ khám xét người là cần thiết để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả trong quá trình điều tra Các tài liệu, chứng cứ thu thập được sẽ giúp xác định sự hiện diện của công cụ, phương tiện phạm tội, cũng như tài sản và dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án Cơ quan có thẩm quyền khi tiến hành tố tụng có thể thực hiện việc khám xét tại chỗ ở, nơi làm việc, hoặc các phương tiện, nhằm tìm kiếm vũ khí, hung khí, và chứng cứ liên quan Điều này không chỉ bảo vệ quyền lợi của người bị khám xét mà còn hỗ trợ việc thu thập chứng cứ để phục vụ cho quá trình điều tra.

Hiến pháp quy định quyền bất khả xâm phạm về thân thể của mỗi người, đảm bảo mọi cá nhân có quyền được bảo vệ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm Theo đó, không ai được phép tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hoặc có bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm đến thân thể và danh dự của người khác Chỉ trong những trường hợp được pháp luật quy định và có căn cứ rõ ràng, cơ quan có thẩm quyền mới được thực hiện việc khám xét người, và quy trình này phải tuân theo trình tự, thủ tục mà pháp luật đã đặt ra.

Các hoạt động khám xét người của cơ quan có thẩm quyền phải tuân thủ quy định của pháp luật, chỉ những người được chỉ định theo Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) mới có quyền ra lệnh và tiến hành khám xét Quá trình này phải diễn ra theo trình tự thủ tục nhất định, với biên bản khám xét và thu giữ đồ vật, tài liệu được lập theo Điều 133 và Điều 178 của BLTTHS Điều này nhằm tránh các trường hợp khám xét tùy tiện, không có căn cứ, hoặc do người không có thẩm quyền thực hiện, gây xâm phạm đến thân thể, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của người khác.

Việc lục soát người để tìm kiếm đồ vật và tài liệu liên quan đến vụ án do cơ quan có thẩm quyền thực hiện là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân không phải là quyền tuyệt đối; Nhà nước chỉ bảo vệ quyền này nhằm ngăn chặn sự xâm phạm bất hợp pháp từ cá nhân hoặc tổ chức khác Tuy nhiên, nếu công dân lợi dụng quyền này để che giấu hành vi vi phạm pháp luật, quyền bất khả xâm phạm sẽ không còn hiệu lực.

Theo Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013, pháp luật bảo vệ quyền lợi của cá nhân trong quá trình tố tụng Cơ quan có thẩm quyền chỉ được tiến hành khám xét người khi có đủ căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Những hành vi cản trở hoặc gây khó khăn cho quá trình khám xét sẽ bị xử lý theo tính chất của hành vi đó Khám xét người là biện pháp điều tra cưỡng chế, và các quy định pháp luật liên quan giúp đảm bảo hoạt động điều tra chứng minh tội phạm diễn ra thuận lợi, nhanh chóng và chính xác.

2.1.2 Quy định của luật tố tụng hình sự về căn cứ áp dụng biện pháp khám xét người

Khi có căn cứ cho rằng một người có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật hoặc tài sản liên quan đến hành vi phạm tội, việc khám xét người là cần thiết Điều này bao gồm cả việc tìm kiếm đồ vật, dữ liệu điện tử và tài liệu khác có liên quan đến vụ án, theo quy định tại khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Để tiến hành khám xét và thu giữ chứng cứ liên quan đến vụ án, người có thẩm quyền phải dựa trên các nhận định được xây dựng từ nguồn chứng cứ đã được kiểm chứng về tính chính xác và độ tin cậy Các thông tin, tài liệu này cần phải được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục quy định bởi Bộ luật Tố tụng hình sự Bên cạnh đó, việc sử dụng trang thiết bị kỹ thuật hiện đại như máy soi chiếu tại cửa khẩu hay máy chụp X-quang tại cơ sở y tế cũng hỗ trợ hiệu quả trong việc phát hiện những công cụ, phương tiện phạm tội mà đối tượng có thể cất giấu một cách tinh vi, thậm chí có thể nuốt vào cơ thể.

Việc xác định sự hiện diện của công cụ, phương tiện phạm tội và tài sản liên quan không chỉ giới hạn trong cơ thể cá nhân mà còn mở rộng ra các tư trang, hành lý và vật dụng như ba lô, túi xách, ví tiền.

Khi có cơ sở xác định cá nhân sở hữu công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do hành vi phạm tội tạo ra, hoặc dữ liệu điện tử, tài liệu liên quan đến vụ án, việc khám xét phải được thực hiện theo lệnh khám xét của cơ quan có thẩm quyền trong quá trình tố tụng.

Khám xét người có thể được thực hiện trong trường hợp bắt giữ hoặc khi có cơ sở xác định rằng người đó đang giấu vũ khí, hung khí, chứng cứ, tài liệu, hoặc đồ vật liên quan đến vụ án, theo quy định tại khoản 3 Điều 194 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Cơ quan có thẩm quyền và người tiến hành tố tụng có thể khám xét người mà không cần lệnh trong trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ cho thấy người đó giấu vũ khí, hung khí, chứng cứ hoặc tài liệu liên quan đến vụ án Bộ luật Tố tụng hình sự quy định những trường hợp này nhằm đảm bảo sự nhanh chóng trong việc thu giữ tài liệu và chứng cứ, đồng thời bảo vệ an toàn cho những người thực hiện nhiệm vụ tố tụng.

Thứ nhất, tiến hành khám xét người trong trường hợp bắt người

Thực tiễn áp dụng căn cứ khám xét người

2.2.1 Những kết quả đạt được trong áp dụng căn cứ khám xét người

Trong giai đoạn 2014 – 2018, theo thống kê của CQĐT, tỉnh Bạc Liêu cùng với các tỉnh lân cận như Cà Mau và Sóc Trăng đã tiến hành khám xét 6.695 đối tượng.

Bảng 2 Số vụ phạm pháp hình sự có tiến hành khám xét người trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng giai đoạn 2014-2018

Số vụ phạm pháp hình sự

Số đối tượng bị khởi tố

Số vụ tiến hành khám người

Theo báo cáo tổng kết năm của CQĐT các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, từ năm 2014 đến hết năm 2017, các cơ sở pháp lý đã được áp dụng để tiến hành khám xét người.

Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định tại Điều 140 và 142 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 Kể từ ngày 01/01/2018, việc thực hiện sẽ tuân theo quy định tại Điều 192 và 194 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ khám xét người theo Điều 140 và Điều 142 BLTTHS năm 2003 và Điều 192, Điều 194 BLTTHS năm 2015 có nhiều điểm tương đồng Điều 192 BLTTHS 2015 bổ sung cụm từ “tài liệu” và “dữ liệu điện tử” vào căn cứ khám xét người, trong khi Điều 194 BLTTHS 2015 thay thế nội dung cũ bằng “vũ khí, hung khí, chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án” so với quy định tại Điều 142 BLTTHS năm 2003 Việc xác định căn cứ khám xét người của cơ quan có thẩm quyền luôn tuân thủ quy định của BLTTHS.

BLTTHS năm 2003 quy định về bắt khẩn cấp, nhưng BLTTHS năm 2015 đã loại bỏ quy định này, dẫn đến sự thay đổi trong việc áp dụng căn cứ khám xét người Theo quy định hiện hành, có hai trường hợp khám xét người: khi có lệnh của cơ quan có thẩm quyền và không cần lệnh Tuy nhiên, thực tế tại Bạc Liêu và các tỉnh lân cận cho thấy, cơ quan có thẩm quyền chỉ thực hiện khám xét khi có căn cứ theo khoản 3 Điều 194 BLTTHS năm 2015, trong khi căn cứ theo khoản 1 Điều 192 hầu như không được áp dụng Khi có lệnh khám xét, nhiều khả năng tài liệu, chứng cứ đã không còn ở nơi đối tượng bị khám xét, do họ đã di chuyển đến địa điểm khác Thực tế từ năm 2014 đến 2018 cho thấy CQĐT không thực hiện khám xét người trong trường hợp có căn cứ cho rằng họ đang giữ công cụ, phương tiện phạm tội hay tài liệu liên quan đến vụ án.

Hầu hết các vụ khám xét người do cơ quan có thẩm quyền thực hiện thường diễn ra trong trường hợp bắt giữ và khi có lý do xác đáng cho rằng người bị khám xét đang giấu vũ khí, hung khí, chứng cứ hoặc tài liệu liên quan đến vụ án Trong những tình huống này, việc khám xét không cần phải có lệnh Một số vụ án tiêu biểu đã minh chứng cho quy trình này.

Vụ thứ nhất: Nguyễn Chánh Nghĩa sinh năm 1988, ngụ số 53/263A, khóm

Nguyễn Chánh Nghĩa, cư trú tại phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, đã không có nghề nghiệp ổn định và đã bàn bạc cùng với Trần Thị Thu Lan (sinh năm 1987), Phạm Thị Hoàng Nhỏ (sinh năm 1986), và Trần Văn Thống (sinh năm 1994), tất cả đều ngụ tại khóm 9, phường 1, để thực hiện hành vi trộm cắp Họ đã lợi dụng sự sơ hở của người dân để đột nhập vào nhà, trộm cắp tài sản nhằm bán lấy tiền tiêu xài từ tháng 3 đến tháng 7.

Vào năm 2014, Nguyễn Chánh Nghĩa và đồng bọn đã thực hiện thành công 5 vụ trộm cắp tài sản tại thành phố Bạc Liêu, chủ yếu là tiền, vàng, điện thoại di động và laptop Vào ngày 04/7/2014, Trần Văn Thống cùng với Lan và Nhỏ đã lợi dụng trời mưa để đột nhập vào nhà chị Lê Ngọc Diễm, lấy trộm nhiều trang sức vàng, bao gồm 01 nhẫn vàng 24K và 01 nhẫn vàng 18K Khi đang bỏ trốn, nhóm trộm bị phát hiện và bị người dân bắt giữ, sau đó giao cho cơ quan điều tra Tại đây, tài sản trộm cắp đã được thu giữ, và trong quá trình điều tra, Thống, Lan, Nhỏ đã khai nhận đã cùng Nguyễn Chánh Nghĩa thực hiện thêm 5 vụ trộm khác trên địa bàn.

Trong vụ án này, việc khám xét người của Thống, Lan và Nhỏ đã giúp Công an thành phố Bạc Liêu thu giữ các tài liệu và chứng cứ quan trọng, tạo điều kiện khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với các đối tượng Thống, Lan, Nhỏ và Nghĩa Đồng thời, cơ quan chức năng cũng đã tiến hành trả lại tài sản cho người bị hại.

Vụ thứ hai: Do muốn kiếm thêm thu nhập nên từ đầu tháng 8/2018 Trương

Trương Thị Nà Ri, sinh năm 1971, cư trú tại số 2/405 ấp Biển Đông, xã Vĩnh Trạch Đông, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, đã bắt đầu hoạt động bán số đề bằng tiền tại nhà mình Vào ngày 18/9/2018, Đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố Bạc Liêu đã theo dõi và bắt quả tang hành vi đánh bạc của bà Nà Ri tại địa chỉ trên.

24 Nguồn: Bản kết luận điều tra của cơ quan CSĐT, Công an thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu

Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bạc Liêu đã tiến hành khám xét và thu giữ 11 tờ phơi đề cùng hơn 12 triệu đồng tiền mặt từ Trương Thị Nà Ri Trong quá trình khám xét, Nà Ri đã ném điện thoại Iphone 5S chứa thông tin về các con bạc ra ngoài cửa sổ, và con gái của cô, Ngô Thị Thu Trang, đã lượm điện thoại và giấu trong người Dù Cơ quan CSĐT yêu cầu Trang giao nộp điện thoại, nhưng cô không thực hiện Hành động ném điện thoại của Nà Ri và việc Trang cất giấu điện thoại đã được nhiều người chứng kiến trong lúc khám xét.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét người Ngô Thị Thu Trang để thu giữ điện thoại Iphone 5S, vì đây là đồ vật có liên quan đến vụ án.

Khám xét đối với Ngô Thị Thu Trang đã giúp cơ quan điều tra thu thập tài liệu chứng cứ quan trọng, làm căn cứ để khởi tố vụ án đánh bạc và bị can Trương Thị Nà Ri.

2.2.2 Những khó khăn, vướng mắc trong áp dụng căn cứ khám xét người và nguyên nhân

Theo quy định tại khoản 3 Điều 194, cơ quan có thẩm quyền có thể tiến hành khám xét người mà không cần lệnh trong trường hợp bắt người khi có đủ căn cứ Thực tế tại Bạc Liêu và các tỉnh lân cận cho thấy, khi bắt người, cơ quan điều tra thường tiến hành khám xét mà không thông báo cho người bị khám xét về căn cứ Tuy nhiên, cần lưu ý rằng căn cứ để bắt người và căn cứ để khám xét là hai quy định pháp lý khác nhau; có thể có căn cứ để bắt người nhưng không đồng nghĩa với việc có căn cứ để khám xét.

Từ năm 2014 đến hết năm 2017, các cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành tố tụng theo quy định của Điều 140 và Điều 142 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 Theo khoản 3, Điều 142 BLTTHS năm 2003, việc khám người có thể được thực hiện mà không cần có lệnh.

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Trần Văn Biên (2017), Bình luận Khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận Khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: Trần Văn Biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế Giới
Năm: 2017
13. Nguyễn Trung Chánh (2019), Khám xét người theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật, Trường đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khám xét người theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trung Chánh
Năm: 2019
14. Lê Ngọc Lâm (2018), Khám xét chỗ ở theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khám xét chỗ ở theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Ngọc Lâm
Năm: 2018
17. Học viện Khoa học xã hội (2011), Bình luận Khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận Khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
Tác giả: Học viện Khoa học xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2011
18. Lê Nguyên Thanh (2014), Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam – Đánh giá ở góc độ quyền con người, Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam – Đánh giá ở góc độ quyền con người
Tác giả: Lê Nguyên Thanh
Năm: 2014
20. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Hoàng Thị Minh Sơn, Nxb. Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2008
21. Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Khoa học điều tra hình sự, Bùi Kiên Điện, Nxb. Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Khoa học điều tra hình sự
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2017
22. Viện nghiên cứu khoa học Bộ Công an (1997), Từ điển nghiệp vụ phổ thông, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển nghiệp vụ phổ thông
Tác giả: Viện nghiên cứu khoa học Bộ Công an
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 1997
23. Viện chiến lược và khoa học Công an (2005), Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội.Tài liệu từ internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam", Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội
Tác giả: Viện chiến lược và khoa học Công an
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 2005
24. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang, “Các biện pháp điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và những vấn đề cần lưu ý khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm sát”, http://vksbacgiang.gov.vn/baiviet/71/7487 (truy cập ngày 05/9/2018) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và những vấn đề cần lưu ý khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm sát
25. Ngọc Lê, “Khám xét chỗ ở khi vắng mặt đương sự có được không?”, https://thanhnien.vn/thoi-su/kham-xet-cho-o-khi-vang-mat-duong-su-co-duoc-khong-912205.html (truy cập ngày 05/9/2018) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khám xét chỗ ở khi vắng mặt đương sự có được không
26. Đồng Xuân Thuận, “Công an được tiến hành khám xét nhà ở khi nào?”, http://www.doisongphapluat.com/phap-luat/tinh-huong-phap-luat/cong-an-duoc-tien-hanh-kham-xet-nha-o-khi-nao-a118112.html(truycậpngày10/9/2018) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công an được tiến hành khám xét nhà ở khi nào
1. Hiến pháp (Luật không số/2013/QH13) ngày 28/11/2013 2. Bộ luật dân sự (Luật số 91/2015/QH13) ngày 24/11/2015 3. Bộ luật Hình sự (Luật số: 100/2015/QH13) ngày 27/11/2015 Khác
4. Bộ luật tố tụng hình sự (Luật số: 19/2003/QH11) ngày 26/11/2003 Khác
5. Bộ luật tố tụng hình sự (Luật số: 101/2015/QH13) ngày 27/11/2015 Khác
6. Luật cư trú (Luật số: 81/2006/QH11) ngày 29/11/2006 (sửa đổi, bổ sung theo Luật số: 36/2013/QH13 ngày 20/6/2013) Khác
8. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 (Luật số: 12/2017/QH14) ngày 20/6/2017 Khác
9. Luật tổ chức Cơ quan Điều tra hình sự (Luật số: 99/2015/QH13) ngày 26/11/2015 Khác
11. Thông tư số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Công an – Bộ Quốc phòng Quy định về phối hợp giữa cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.B. Tài Liệu tham khảo Khác
15. Nguyễn Thị Minh (2008), Các biện pháp điều tra trong Tố tụng hình sự, Luận văn thạc sĩ luật, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Số vụ phạm pháp hình sự có tiến hành khám xét chỗ ở trên địa  bàn tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng giai đoạn 2014-2018 - Căn cứ áp dụng biện pháp khám xét theo luật tố tụng hình sự việt nam
Bảng 1. Số vụ phạm pháp hình sự có tiến hành khám xét chỗ ở trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng giai đoạn 2014-2018 (Trang 21)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w